Archives for: December 2008

LÀM THẾ NÀO ĐỂ SỐNG SÓT QUA CƠN ĐAU TIM KHI BẠN ĐƠN ĐỘC?

Source: Tổng hợp
Photo: web-books.com, Lost2Angels, Google

Bây giờ là 6:15pm và bạn đang lái xe để về nhà ( lẽ tất nhiên là bạn lái xe một mình ) sau một ngày dài làm việc ở sở. Bạn rất mệt mỏi và chán nản……Bạn đang căng thẳng và bối rối... Thình lình bạn cảm giác Cơn Đau Rất Khốc Liệt trong lồng ngực, lan tỏa ra xuống cánh tay và lên đến miệng. Bạn chỉ còn có 5 miles để đi đến bệnh viện gần nhà nhất. Rất tiếc là bạn không biết có thể tiếp tục lái xe đến đó hay không? Bạn phải làm gì?! Mặc dù bạn biết làm hô hấp nhân tạo, nhưng bạn không thể làm hô hấp nhân tạo riêng cho chính bạn! Làm thế nào để sống sót qua cơn đau tim khi bạn đơn độc?

Thông thường, nhiều người đang đơn độc khi trải qua cơn đau tim, không người giúp. Người có tim đập bất thường và bắt đầu có cảm giác đau, họ chỉ có 10 giây tỉnh táo trước khi mất nhận thức, vậy phải làm gì đây?

Trả lời:

Đừng hốt hoảng, nhưng bắt đầu ho liên tục và ho thật mạnh.

- Hít thật sâu trước khi ho, mỗi lần ho phải mạnh và kéo dài, như bạn đã từng ho mà nước miếng, nước dãi từ sâu trong lồng ngực chảy ra.

- Hơi thở và cơn ho phải thật mạnh và liên tục, được lập lại với khoảng cách mỗi 2 giây cho đến lúc có người săn sóc, hay đến lúc có cảm giác tim đập lại bình thường.

Hơi thở sâu nhận oxygen vào trong lồng ngực và chuyển động của ho ép trái tim và làm máu lưu thông. Sự nén áp suất trên trái tim còn giúp tim lấy lại nhịp đập bình thường. Trong thời gian này, nạn nhân có cơn đau tim có thể đến bệnh viện kịp thời.

Chuyển thông tin này đến người quen của quý vị và các bạn càng nhiều càng tốt. Nó có thể cứu được mạng sống. Cơn đau tim là một tai họa có thể xẩy ra với bất cứ ai và trong bất cứ lứa tuổi nào, vì vậy phải tự cứu mình trước.

(Tài liệu tham khảo số 240 của General Hospital Rochester)

10 ĐIỀU NÊN BIẾT VỀ LÊN CƠN TIM VÀ ĐỘT QUỴ

Lên cơn tim hay còn gọi là nhồi máu cơ tim xẩy ra khi một trong các động mạch mang máu tiếp tế cho cơ tim bị tắc nghẽn.

Tắc nghẽn động mạch có thể do động mạch co thắt hay động mạch bị xơ cứng với máu đông cục nghẽn trong mạch. Khi mảng xơ vữa bị nứt, vỡ ra (thường xảy ra trên nền của động mạch vành bị hẹp do mỡ tụ trong thành mạch máu và xơ vữa từ trước). Ngoài ra, tình trạng co thắt động mạch vành cũng có thể làm ngừng trệ dòng máu dẫn đến nuôi cơ tim. Sự tắc nghẽn làm tổn hại các mô, và phần cơ tim với các mô hư hại sẽ không còn khả năng co thắt đàn hồi nữa.

1- Lên cơn tim hay còn gọi là nhồi máu cơ tim và đột quỵ là một trong những nguyên nhân chính đưa đến cái chết ở khắp mọi nơi trên thế giới. Tuy nhiên chúng ta có thể ngăn ngừa được.

2- Quý vị có thể bảo vệ mình tránh khỏi lên cơn tim và đột quỵ bằng cách bỏ ra một số thời giờ và cố gắng.

3- Hút thuốc lá, ăn uống không đúng cách và không chịu hoạt động thân thể sẽ gia tăng mối nguy hiểm bị lên cơn tim và đột quỵ.

4- Ngưng việc hút thuốc lá ngay lúc nào thì nguy cơ bị lên cơn tim và đột quỵ sẽ lập tức giảm ngay lúc đó.

5- Mỗi ngày dành ra 30 phút để hoạt động thân thể là cách hay nhất để tránh lên cơn tim và đột quy.


Nên ăn rau quả thường xuyên và năng vận động thân thể. Photo: diabetes.org.nz

6- Mỗi ngày ăn rau quả tối thiểu là 5 mớ (5 servings - mỗi serving là một mớ nằm gọn trong lòng bàn tay ) và giới hạn việc dùng muối xuống ít hơn một muỗng trà một ngày sẽ giúp ngăn ngừa lên cơn tim và đột quỵ.

7- Cao huyết áp không xuất hiện triệu chứng nhưng có thể tạo nên những cơn tim và đột quỵ bất ngờ. Phải thường xuyên theo dõi huyết áp của quý vị.

8- Bệnh tiểu đường làm gia tăng nguy cơ bị lên cơn tim và đột quỵ, vì vậy nếu quý vị bị bệnh tiểu đường thì quý vị phải kiểm soát được áp huyết và lượng đường máu của quý vị để giảm bớt nguy cơ.

9- Chứng mập phì làm gia tăng nguy cơ bị lên cơn tim và đột quỵ. Để duy trì thể trọng lý tưởng, phải vận động thân thể thường xuyên và ăn uống đúng cách.

10- Lên cơn tim và đột quỵ có thể xẩy ra bất thình lình và chết người nếu không được cấp cứu kịp thời.

NHỮNG TRIỆU CHỨNG ĐIỂN HÌNH

Triệu chứng điển hình và thường gặp nhất của nhồi máu cơ tim là:

Đau ngực: với cảm giác đau như bị đè ép, bóp chặt ở giữa ngực, diễn ra trong khoảng 5-15 phút ( khác về thời hạn và độ đau với cơn đau ngực thông thường ), thường không quá 1 giờ.

Cơn đau có thể lan lên vai, cổ, hàm hoặc lan dọc theo cánh tay, đặc biệt là tay trái.



Các triệu chứng phụ như: vã mồ hôi, buồn nôn, chóng mặt, bất tỉnh, mệt nhọc, khó thở, tái nhợt, tim đập mạnh.

Nhiều trường hợp nhồi máu cơ tim lại có biểu hiện không rõ ràng như tiêu chảy, đau bụng, hoặc chẳng hề có triệu chứng (nhồi máu cơ tim thầm lặng - thấy nhiều trong các bệnh nhân đái tháo đường), hoặc lại hết sức đột ngột, biểu hiện bằng biến chứng hôn mê, rối loạn nhịp tim, ngừng tim hay chết bất ngờ...

7 CÁCH DÙNG SỮA CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT

7 cách dùng sữa có thể bạn chưa biết

Sữa có thể dùng để làm cho cá đông lạnh có mùi vị tươi ngon như vừa mới bắt. Sữa cũng có thể dùng để phục hồi vẻ đẹp cho đồ da hay gắn liền những vết nứt trên đồ sứ. Đó có thể là những cách xử dụng sữa mà bạn lần đầu tiên nghe nói.

*Làm cá đông lạnh có mùi vị tươi ngon: Khi lấy cá ra khỏi tủ lạnh để rã đông, thay vì dùng nước ấm hay lò vi sóng, bạn hãy ngâm cá trong sữa cho đến khi lớp đá tan hết. Làm như vậy, khi chế biến, món cá đông lạnh sẽ có vị ngọt, dai và mùi đặc trưng gần như cá tươi.

*Hàn vết nứt trên đồ sứ: Trước khi quyết định vứt bỏ các đồ sứ bị nứt, bạn hãy sửa chữa chúng bằng sữa. Đặt các đồ bị nứt vào nồi, đổ ngập sữa tươi. Đun cho đến khi sữa sôi thì vặn nhỏ lửa, tiếp tục đun liu riu trong khoảng 45 phút. Protein trong sữa sẽ làm liền các vết nứt trên bề mặt sứ. Phương pháp này đặc biệt hiệu quả với những vết nứt nhỏ và nông.

*Đánh bóng đồ bạc: Đồ dùng, đồ trang sức bạc để lâu bị xuống màu, vàng ố có thể sáng bóng trởlại như mới sau khi được xử lý bằng sữa tươi pha thêm một chút giấm. Ngâm đồ bạc vào dung dịch trên trong khoảng nửa giờ, sau đó rửa lại bằng nước ấm pha xà phòng. Cuối cùng đánh bóng bề mặt bạc bằng giẻ mềm.

*Làm dịu da bị cháy nắng và các vết côn trùng đốt: Có một phương pháp đơn giản làm dịu những vùng da bỏng rát vì phơi nắng quá lâu hoặc đau nhức do côn trùng cắn là dùng một phần sữa bột hoà với hai phần nước, thêm một vài hạt muối, trộn đều thành dạng bột nhão rồi đắp lên các vùng tổn thương. Các enzyme có trong sữa sẽ giúp trung hoà nọc độc của côn trùng, làm dịu mát những chỗ da bị cháy nắng.



*Tẩy trắng và làm mềm da: Sữa bột có thể dùng thay thế kem tẩy trắng trong những trường hợp đột xuất. Hòa 3 thìa sữa bột với một lượng nước ấm vừa đủ. Lắc đều cho đến khi thu được một hỗn hợp có độ đặc gần như kem trang điểm. Dùng bông tẩy trang xoa đều hỗn hợp lên mặt, sau đó rửa sạch bằng nước ấm. Để làm mềm da trong mùa đông, bạn có thể hoà thêm vào nước tắm nửa cốc sữa bột. Protein trong sữa có tác dụng nuôi dưỡng và giữ ẩm, tạo ra một làn da mềm mại.

*Làm mới đồ dùng bằng da: Để phục hồi vẻ đẹp cho ví hay giày da cũ, bạn hãy xoa nhẹ lên bề mặt da một chút sữa, để khô, sau đó đánh bóng bằng giẻ mềm.

*Tẩy vết mực trên vải: Ngâm qua chỗ có dính mực vào sữa rồi giặt như bình thường, vết bẩn sẽ biến mất.

by AI HUU NINH THUAN
12/31/08. 12:22:17 am. 813 words, 72 views. Categories: Góp nhặt, Khoa học và ðời sống, Liên kết blogs ,

QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN

Quyền tự do ngôn luận
Trả lời độc giả: Thế nào là quyền tự do ngôn luận

Source: Champaka

Po Dharma
(Tổng Biên Tập Champaka)

Gần mấy năm vừa qua, một số người Chăm thường lợi dụng «quyền tự do ngôn luận» để vu khống và phỉ báng lẫn nhau qua mạng Web và email nặc danh, đưa đẩy xã hội Chăm vào chiến trường tranh chấp triền miên mà không ai có thể tiên đoán được thế nào là hậu quả của nó trong những thập niên sắp tới.

Trước thực trạng này, một số độc giả yêu cầu Harak Champa cho biết một vài chi tiết thế nào là quyền tự do ngôn luận tại các nước tự do dân chủ. Chính đó là nguyên nhân mà chúng tôi cố gắng trình bày ngắn gọn trong bài khảo luận này.

Tự do ngôn luận là quyền cơ bản của con người, có một chiều dài lịch sử, ra đời sau cuộc vùng dậy của dân tộc Pháp đập phá ngục tù Bastille (Paris) vào ngày 14 tháng 7 năm 1789, lật đổ thể chế vương quyền để thành lập nền Cộng Hòa Pháp dựa trên 3 yếu tố: Tự do (liberté), Bình đẳng (égalité) và Tình nghĩa anh em (fraternité).

Sau ngày cách mạng thành công, dân tộc Pháp sáng lập một quyền cơ bản của con người đó là «quyền tự do ngôn luận» được ghi trong bản Tuyên Ngôn Quyền làm Người và Công Dân (Déclaration des droits de l’homme et de citoyen) biểu quyết vào ngày 26-8-1789. Ðiều 11 trong bản tuyên ngôn này công nhận rằng: «Mọi công dân có quyền tự do ngôn luận, sáng tác và ấn hành».

Nối gót ý thức hệ tự do ngôn luận mà cách mạng Pháp đã đề ra, quốc hội Hoa Kỳ cũng quyết định vào năm 1789 chỉnh lý hiến pháp lần đầu tiên gọi là «First amendment», công nhận quyền tự do ngôn luận tại quốc gia này.

Sau ngày ra đời Tuyên Ngôn Quyền làm Người và Công Dân của Cộng Hòa Pháp (1789) và sự chỉnh lý hiến pháp Hoa Kỳ vào năm 1789, quyền tự do ngôn luận bắt đầu lan tràn sang một số nước Âu Châu và Mỹ Châu. Nhưng phải chờ những biến cố tang thương đã xảy ra trong đệ nhất và đệ nhị thế chiến, quyền tự do ngôn luận mới trở thành một chủ đề chung của toàn thế giới.

Năm 1948 đánh dấu ngày ra đời của Liên Hiệp Quốc. Và cũng trong năm đó, Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc biểu quyết bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Toàn Cầu (Déclaration universelle des droits de l'homme) trong đó điều 19 nhấn mạnh rằng: «Tất cả mọi người đều hưởng quyền tự do ngôn luận không giới hạn». Tiếp theo đó là Quy Ước Nhân Quyền Âu Châu (Convention européenne des droits de l'homme) ra đời vào năm 1950, cũng xác định lại quyền tự do ngôn luận trong điều số 10 có nội dung tương tự như bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc. Sau cùng, Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị (Pacte international relatif aux droits civils et politiques) được biểu quyết tại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc vào năm 1966 cũng công nhận tự do ngôn luận là quyền cơ bản của con người: «Tự do ngôn luận bao gồm quyền nghiên cứu, quyền tiếp thu hay loan tải những tin tức và quan điểm không giới hạn biên giới»

I. Biên giới của quyền tự do ngôn luận

Ðứng trên pháp lý mà định nghĩa, tự do ngôn luận là quyền lên tiếng, phát biểu, đưa ra quan điểm, bày tỏ tư duy, v.v. nhưng không sợ bị bắt bớ, tra tấn hay giam cầm. Tiếc rằng quyền này có thể bị một số người lợi dụng hành động theo sở thích của mình để làm đảo lộn cả một hệ thống tổ chức xã hội, gây xáo trộn tình hình an ninh quốc gia, phá tan luân lý và đạo đức, chà đạp lên danh dự và nhân phẩm của người khác. Chính vì thế, quyền tự do ngôn luận tại một số quốc gia dân chủ trở thành một yếu tố bị kiềm chế vào một khuôn khổ được quy định trong luật hình sự, có nghĩa là bất cứ cá nhân nào xử dụng quyền tự do ngôn luận nhưng không tôn trọng biên chế mà luật pháp đã đưa ra, đều xếp vào hành vi phạm pháp (délit) và đưa ra tòa xét xử cũng như một số tội phạm khác.

Ðiều 11 của Bản Tuyên Ngôn Quyền Làm Người và Công Dân của Cộng Hòa Pháp vào năm 1789 cũng xác định rằng tự do ngôn luận là quyền cho phép mọi người tự do nói, tự do viết và tự do ấn loát, nhưng: «Ngăn cấm mọi hành động vi phạm đến quy chế tự do ngôn luận mà luật pháp đã ấn định».

Trong Quy Ước Nhân Quyền Âu Châu ra đời vào năm 1950, điều 10-2 có một nội dung nghiêm khắc hơn: «Quyền tự do ngôn luận lúc nào cũng bị hạn chế bởi một số thể thức, một số điều kiện và hình phạt mà luật pháp đã qui định».

Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc ra đời vào năm 1966 công nhận rằng quyền tự do ngôn luận là quyền ăn nói, nói bất cứ những gì mà mình muốn nói, nói thế nào cũng được, trong bất cứ trường hợp nào, nơi nào và lúc nào, nhưng không làm tổn thương đến danh dự và nhân phẩm người khác. Chính vì thế, Công Ước Quốc Tế của Liên Hiệp Quốc đã giới hạn biên giới của quyền này trong điều 19-3: «Quyền tự do ngôn luận phải ghép vào khuôn khổ giới hạn được quy định trong luật pháp».

Bên cạnh các quy chế này, Quy Ước Nhân Quyền Âu Châu (Convention européenne des droits de l’Homme) được biểu quyết bởi Hội Ðồng Âu Châu vào năm 1980 có những điều lệ vô cùng khắt khe để ngăn chặn mọi hành động nhũng lạm đối với quyền tự do ngôn luận. Trong điều 10 của quy ước này nêu ra:

«Ðiều 10-1. Tất cả mọi người đều có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm quyền tự do phát biểu, quyền tiếp thu hay chuyển tải bất cứ thông tin nào, không bị giới hạn trong một biên giới cố định hay không sợ bị ngăn cấm bởi chính quyền. Tuy nhiên, nhưng quốc gia đó có quyền thiết kế một quy ước pháp lý rõ ràng dành cho thể chế của các đài phát thanh, truyền hình, cinéma».

«Ðiều 10-2. Xử dụng quyền tự do ngôn luận lúc nào cũng đi đôi với bổn phận và nghĩa vụ đã được quy định trong một số thể thức, điều kiện và sự trừng phạt mà luật pháp đã đề ra. Trong một xã hội tự do và dân chủ, thiết kế những điều lệ nhằm giới hạn một số quyền tự do ngôn luận là biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ an ninh trật tự, luân lý và đạo đức; tôn trọng danh dự và nhân phẩm của người khác, v.v.».

Tóm lại, tự do ngôn luận là quyền cơ bản của con người, nhưng quyền này lúc nào cũng bị hạn chế trong khuôn khổ nghiêm nhặt được qui định rõ ràng trong luật hình sự.

Vào cuối thế kỷ thứ 20, trước làn sóng thông tin bùng cháy qua mạng Web và Email, các quốc gia dân chủ tự do phải đương đầu với bao khó khăn để kiểm soát những trường hợp lạm dụng kỹ thuật tân tiến này nhằm làm đảo lộn cả một hệ thống xã hội từ luân lý đạo đức ( mạng khiêu dâm lõa thể ) đến danh dự và nhân phẩm con người (email nặc danh bôi nhọ người khác). Cũng vì nguyên nhân đó, chính quyền phải hình thành một đội ngũ công an kỹ thuật chuyên về mạng Web hầu tìm ra nguồn gốc, nhất là bản tin nặc danh, phát xuất từ cổng nào, một khi cơ quan tư pháp cần đến.

Ðể giải quyết vấn đề này, luật pháp quy định tất cả các cổng Web, như Yahoo, Google, Hotmail, v.v. phải lưu trữ hồ sơ trong bộ trí nhớ kéo dài trong một thời gian rất dài. Một số quốc gia ấn định quyền lưu trữ hồ sơ cho tới 10 năm hầu giúp ngành tư pháp truy tố một số vấn đề đã xảy ra trong quá khứ.

Mặc dù đã hình thành một đội ngũ công an mạng Web, nhưng một số trường hợp vẫn còn là vấn đề nan giải, nhất là tội phạm xử dụng máy vi tính công cộng để chuyển tin tức. Trong trường hợp này, công an kỹ thuật mạng Web tìm ra dễ dàng tin tức phát xuất từ nước nào và từ máy vi tinh nào, nhưng không biết được ai là thủ phạm dùng máy công cộng để loan tin. Kể từ đó, ngành tư pháp chỉ trừng trị chủ nhân của máy vi tính hơn là tội phạm dùng máy vi tính để vu khống và lăng nhục người khác.

II. Những điều cấm kỵ trong biên giới của quyền tự do ngôn luận

Ngôn luận là diễn đàn ý kiến thông qua nhiều hình thức, dù là phát ngôn trước quần chúng, trên đài truyền thanh, truyền hình hay đăng trên sách báo, tờ quảng cáo, bích chương và gần đây là mạng web hay email .v.v...

Ðứng trên phương diện pháp lý, tự do ngôn luận là quyền phát biểu ý kiến, đưa ra quan điểm, phân tích hiện tượng liên quan đến biến cố đã xảy ra trong không gian liên đới của một tổ chức xã hội, nhưng quyền này bị giới hạn trong một số quy chế được ấn định rõ ràng trong luật pháp.

Mỗi quốc gia tự do và dân chủ hôm nay đều có những điều lệ riêng về quyền tự do ngôn luận ấn định trong bộ luật hình sự chứa đựng hàng ngàn trường hợp hình phạt khác nhau, tùy theo mỗi quốc gia. Trong giới hạn bài này, chúng tôi không đưa ra chi tiết tất cả những hành vi liên quan đến quyền tự do ngôn luận bị luật hình sự ngăn cấm tại các nước tự do dân chủ, mà chỉ nêu ra một vài trường hợp thường xảy ra trong bối cảnh xã hội Chăm hôm nay mà thôi.

Năm trường hợp của luật hình sự mà một số người Chăm thường vi phạm, đó là đời tư, vu khống và lăng nhục, gây hận thù tôn giáo, phỉ báng dân tộc và đả phá di sản lịch sử.

1. Tội vi phạm đời tư

Luật pháp ngăn cấm bất cứ ai xử dụng quyền tự do ngôn luận để bàn đến đời tư của một cá nhân (vie privée), tức là vấn đề tình cảm, tình yêu, gia đình con cái, tài sản, tôn giáo, màu da chủng tộc .v.v... của họ.

Ngược lại pháp luật cho phép đưa vấn đề đời công của một cá nhân (vie publique) ra bàn bạc. Ðời công của một cá nhân là những gì có liên hệ đến cuộc sống xã hội của cá nhân này mang tính chất chính thức và công khai, thông qua chức vụ và vai trò của họ trong một tổ chức xã hội. Thí dụ điễn hình: Abd. Karim đưa vấn đề Inrasara ra bàn bạc, phản đối quan điểm sai lầm về xã hội Chăm mà tác giả này đã viết trong tác phẩm Chân Dung Cát (xem H. Champaka 30). Trong trường hợp này, Abd. Karim không phê bình đời tư của Inrasara mà là đời công của tác giả này liên quan đến nội dung của tác phẩm mà ông ta đã xuất bản.

Vi phạm đời tư cá nhân người khác là hành động phạm pháp được quy định trong luật hình sự tại các nước tự do dân chủ. Ðây là vài thí dụ điển hình:

1). Cuối tháng 9 năm 2008, ba người đàn ông PD (loạn dâm đồng giới) tố cáo mạng Web Wikipedia trước pháp lý về tội đăng một bài nặc danh cho rằng «nếu 3 người PD này được phép nhận đứa trẻ làm con nuôi cũng nhờ có hậu thuẫn từ bên ngoài».

Mặc dù bài viết này chỉ nằm trên mạng vài ngày thôi, tòa án Paris vẫn kết án Web Wikipedia 69.000 euros về tội đăng bài viết có nội dung vi phạm đến đời tư người khác.

2). Ngày 9-2-2008, Web của tuần san Nouvelle Observateur lên tiếng cho rằng Tổng Thống Pháp là Nicolas Sarkozy có viết email cho bà Cécilia, vợ cũ của ông ta: «Nếu ngày đám cưới của tôi mà bà đến tham dự, tôi sẽ hủy bỏ chương trình tiệc cưới».

Trước dữ kiện này, Tổng Thống Pháp đưa mạng Web này ra pháp lý về tội đăng nội dung email cá nhân ông ta trên báo chí, tức là vi phạm đời tư của ông ta.

2. Tội vu khống và lăng nhục

Tự do ngôn luận là quyền phát biểu ý kiến, đưa ra quan điểm, nhưng không hàm chứa một nội dung vu khống, lăng nhục người khác. Vu khống và lăng nhục là một hành vi phạm pháp (délit), vì mục tiêu của nó chỉ làm tổn thương đến danh dự và nhân phẩm người khác.
Vu khống (diffamation) là hành động bịa đặt ra một câu chuyện để qui tội cho người khác.

Lăng nhục (injure) là hành vi xử dụng những lời thóa mạ hay những câu văn chứa đựng mục tiêu châm biếm để qui tội cho đối tượng của mình.

Mỗi quốc gia dân chủ tự do đều có những hình phạt khác nhau về tội vu khống và lăng nhục. Thí dụ, tại Cộng Hòa Pháp, vu khống và lăng nhục người khác là hành vi làm tổn thương đến danh dự và nhân phẩm của họ, được xếp vào tội phạm của luật hình sự ấn định trong đạo luật biểu quyết ngày 29-7-1881 liên quan đến quyền tự do báo chí, điều 29.

Theo luật hình sự của Pháp, vu khống và lăng nhục phải xảy trước công chúng có người làm chứng, đăng tải trên sách báo, mạng web hay qua mạng email gởi cho nhiều người khác.

Nếu sự vu khống và lăng nhục nhau chỉ xảy ra giữa hai cá nhân không ai biết cả, luật hình sự chỉ ghép hành vi này vào «lỗi vi cảnh» (contravention), tức là lập biên bản cảnh cáo mà thôi.

Tại Cộng Hòa Pháp, vu khống và lăng nhục cá nhân người khác có thể bị phạt cho đến 45.000 euros và một năm tù. Nhưng nếu vu khống và lăng nhục một tổ chức, như cơ quan xí nghiệp, báo chí, hội đoàn v.v. tội phạm phải trả hàng triệu euros để bồi thường sự thiệt hại cho tổ chức này.

a). Vu khống làm tổn thương danh dự cá nhân

Những vụ án vu khống làm tổn thương người khác thường xảy ra trong các quốc gia tân tiến, nhưng tòa án thường phạt tội phạm này một vài tháng tù treo hay «một đồng danh dự» mà thôi. Ðây là thí dụ điển hình.

Thí du 1: Vu khống cá nhân

Vào tháng 2 năm 2006, ông B. Delanoe, Thị Trưởng thủ đô Paris, tuyên bố trong bài diễn văn cho rằng ông Christian Vannestre, dân biểu hạ viện Pháp là nhân vật «phạm tội» (délinquant), không xứng đáng đại diện cho dân.

Ngày 16-10-2008, ông Christian Vannestre tố cáo Thị Trưởng Paris trước pháp lý về tội vu khống ông ta là người «phạm tội», nhưng không đưa ra bằng chứng nào.

Thí du 2: Nhục mạ cá nhân

Năm 2005, ông Harry Nicolaides, một nhà văn Úc Ðại Lợi xuất bản một tác phẩm tiểu thuyết mang tên «Virisimilitude», trong đó ông có viết vài câu chê bai Hoàng Tử Thái Lan là «người kém học thức».

Ngày 31 tháng 8 năm 2008, ông sang viếng thăm Thái Lan. Vừa đến phi trường, ông bị cảnh sát Thái bắt giam về tội «mạ nhục và chê bai» người khác dựa vào luật hình sự, điều 112. Tại vương quốc Thái Lan, mạ nhục và chê bai gia đình hoàng gia là tội phạm có thể bị tù từ 3 cho đến 15 năm.

Mặc dù ông Harry Nicolaides đã đứng ra xin lỗi gia đình hoàng gia, nhưng cho đến hôm nay, Thái Lan vẫn chưa trả tự do cho ông ta.

b). Vu khống làm thiệt hại quyền lợi của một cơ quan khác

Những vụ án làm thiệt hại quyền lợi của một tổ chức xí nghiệp, cơ quan báo chí, tổ chức hội đoàn, v.v. thường xảy ra hàng ngày tại các nước tân tiến và tiền bồi thường có thể tính ra hàng triệu đô la. Ðây là một thí dụ điển hình.

Ngày 4-4-2007, Web cá nhân (Blog) của ông Ahirundin Attan và Jeff Oi, công dân Mã, viết bài có nội dung cho rằng New Strait Time là tờ báo lớn nhất ở Mã Lai, «không trung thực, lúc nào cũng đứng về phe chính quyền».

Ðối với New Strait Time, lời tuyên bố này là vu khống, làm giảm đi số lượng độc giả của tờ báo và gây thiệt hại quyền lợi cho cơ quan này.

Dựa vào yếu tố trên, tờ New Strait Time tố cáo hai Web cá nhân này trước pháp lý gây chấn động trong quần chúng và đưa chính quyền Mã phải tìm mọi biện pháp để ngăn chặn những Web cá nhân lợi dụng tự do ngôn luận để vu khống cơ quan khác.

3. Tội gây hận thù tôn giáo

Tôn giáo là niềm tin giữa con người sống trên trần tục đối với các bậc thần linh hay Ðấng Tạo Hóa qua các lễ nghi, phong tục tập quán cấu thành một di sản tinh thần của tập thể đó. Chính vì thế, tôn giáo trở thành một lòng tin thiêng liêng của mỗi cá nhân và được luật pháp che chở.

Thí dụ: Ngày 14-2-1984, ông Jean-Mairie Le Pen, chủ tịch đảng mang tên là Mặt Trận Quốc Gia, tuyên bố trong đài truyền hình Pháp cho rằng: «Thế giới Ả Rập Hồi Giáo là thế giới nguy hiểm nhất». Tòa án Paris kết tội ông Le Pen 5000 france tiền phạt về tội «hành động gây hận thù tôn giáo và chủng tộc».

4. Tội làm tổn thương đến danh dự của một dân tộc

Hành động làm tổn thương đến danh dự của một dân tộc thường phát sinh những biến cố vô cùng nguy hiểm, có thể đưa đến đẫm máu.

Chỉ cần nêu ra 3 biến cố sau đây đã xảy ra tại Pháp và Mã Lai để độc giả có thể hình dung được thế nào là hậu quả của hành động này:

1). Vào tháng 11 năn 2005, ông Nicolas Sarkozy, Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Pháp chỉ vô tình tuyên bố trước báo chí cho rằng giới trẻ Pháp sống ở ngoại ô Paris mà đa số là người Pháp gốc dân tộc Châu Phi chỉ là những nhóm người «mạt hạng và cặn bã» (racaille).

Lời tuyên bố này đã gây ra cuộc vùng dậy kinh hoàng của giới trẻ Pháp gốc Châu Phi, đốt phá nhà cửa, trường học, cơ sở nhà nước, v.v. trong xuốt hai tuần lễ để yêu cầu ông Nicolas Sarkozy phải từ chức và đứng ra xin lỗi về tội làm tổn thương danh dự dân tộc Châu Phi.

2). Vào năm 1990, phóng viên báo chí Úc Ðại Lợi viết một bài bình luận về kinh tế Mã Lai, trong đó ông ta nêu ra một câu: «Người Mã là dân tộc lười biếng, chỉ biết dùng con khỉ để trèo lên cây hái dừa».

Chỉ vì cụm từ «dân tộc lười biếng», chính quyền Mã Lai vô cùng phẫn nộ, đứng ra phản đối Úc Ðại Lợi về tội lăng nhục dân tộc Mã và yêu cầu Úc Ðại Lợi phải đứng ra xin lỗi chính thức, nếu không chính phủ Mã Lai sẽ cắt đứt mối liên hệ ngoại giao với quốc gia này.

3). Trong bài phỏng vấn đăng trong báo Le Monde, ông Jean-Marie Le Pen, chủ tịch Mặt Trận Quốc Gia tại Pháp tuyên bố rằng: «Có một ngày nào đó, người Hồi Giáo sẽ cai trị quốc gia này. Lúc đó, dân tộc Pháp sẽ trở thành nhóm người chỉ biết làm thợ phá tường và đi trên lề phố nhắm mắt lại không giám nhìn ai».

Ngày 2-4-2004, tòa án Paris kết tội ông Le Pen 10.000 euros về hành vi mạ nhục và gây hận thù dân tộc, và 5.000 euros tiền bồi thường cho Hội Nhân Quyền tại Pháp đã đứng ra tố cáo vụ án này.

5. Tội làm tổn thương đến di sản thiêng liêng của lịch sử

Lịch sử là tổng thể của những biến cố đã xảy ra trong quá khứ cấu thành một tờ di chúc bất di bất dịch được xem như là di sản thiêng liêng của một dân tộc. Chính vì thế, luật hình sự tại các nước tự do và dân chủ ngăn cấm gắt gao mọi hành vi làm tổn thương đến di sản thiêng liêng này.

Ðây là một vài thí dụ điển hình để độc giả hình dung được thế nào là luật hình sự có những điều lệ rất là khắc khe để trừng phạt những ai có hành động làm tổn thương di sản lịch của một dân tộc tại Âu Châu.

Năm 2005, Jean-Mairie Le Pen, Chủ Tịch Mặt Trận Quốc Gia Pháp tuyên bố với tuần báo Rivarol rằng dưới thời đệ nhị thế chiến, quân đội Ðức đâu có làm gì mà lịch sử Pháp cho đó là «hành động tiêu diệt chủng tộc, chống phá nhân loại».

Dựa vào lời tuyên bố này, Hội Nhân Quyền Pháp đưa ông Le Pen ra pháp lý. Ngày 8-2-2008, tòa án Pháp kết tội ông Le Pen 3 tháng tù treo và 10.000 euros tiền bồi thường về tội không tôn trọng di sản lịch sử của Cộng Hòa Pháp.

Tại các quốc gia tân tiến có một nền dân trí cao, «quyền tự do ngôn luận» trở thành một yếu tố quan trọng trong nền giáo dục của gia đình dành cho trẻ con ngay từ buổi ban đầu. Một khi đã hiểu rõ thế nào là quyền tự do ngôn luận và đâu là biên giới của quyền này mà luật pháp ngăn cấm, những hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận vẫn còn xảy ra trong xã hội tân tiến, nhưng số lượng của nó ít hơn so với người Chăm, một dân tộc chỉ nghe nói đến «quyền tự do ngôn luận», nhưng không ai giải thích với họ thế nào là biên giới của quyền này. Ðó là nguyên nhân chính yếu để giải thích tại sao xã hội Chăm hôm nay đang lâm vào tình trạng thoái hóa trong đó vu khống và phỉ báng lẫn nhau đã trở thành một thông lệ mà không ai biết được thế nào là hậu quả của nó.

From : Harak Champaka 32

by AI HUU NINH THUAN
12/31/08. 12:04:43 am. 6036 words, 232 views. Categories: Nối vòng tay lớn, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn ,

AMAZING GRACE

Turn your speakers on, and click on "Replay"!

AMAZING GRACE: THE STORY OF JOHN NEWTON
by Al Rogers

Source: http://www.texasfasola.org/biographies/johnnewton.html

This article is reprinted from the July-August 1996 issue of Away Here in Texas.

"Amazing grace, how sweet the sound..." So begins one of the most beloved hymns of all times, a staple in the hymnals of many denominations, New Britain or "45 on the top" in Sacred Harp. The author of the words was John Newton, the self-proclaimed wretch who once was lost but then was found, saved by amazing grace.

Newton was born in London July 24, 1725, the son of a commander of a merchant ship which sailed the Mediterranean. When John was eleven, he went to sea with his father and made six voyages with him before the elder Newton retired. In 1744 John was impressed into service on a man-of-war, the H. M. S. Harwich. Finding conditions on board intolerable, he deserted but was soon recaptured and publicly flogged and demoted from midshipman to common seaman.

Finally at his own request he was exchanged into service on a slave ship, which took him to the coast of Sierra Leone. He then became the servant of a slave trader and was brutally abused. Early in 1748 he was rescued by a sea captain who had known John's father. John Newton ultimately became captain of his own ship, one which plied the slave trade.

Although he had had some early religious instruction from his mother, who had died when he was a child, he had long since given up any religious convictions. However, on a homeward voyage, while he was attempting to steer the ship through a violent storm, he experienced what he was to refer to later as his "great deliverance." He recorded in his journal that when all seemed lost and the ship would surely sink, he exclaimed, "Lord, have mercy upon us." Later in his cabin he reflected on what he had said and began to believe that God had addressed him through the storm and that grace had begun to work for him.

For the rest of his life he observed the anniversary of May 10, 1748 as the day of his conversion, a day of humiliation in which he subjected his will to a higher power. "Thro' many dangers, toils and snares, I have already come; 'tis grace has bro't me safe thus far, and grace will lead me home." He continued in the slave trade for a time after his conversion; however, he saw to it that the slaves under his care were treated humanely.

In 1750 he married Mary Catlett, with whom he had been in love for many years. By 1755, after a serious illness, he had given up seafaring forever. During his days as a sailor he had begun to educate himself, teaching himself Latin, among other subjects. From 1755 to 1760 Newton was surveyor of tides at Liverpool, where he came to know George Whitefield, deacon in the Church of England, evangelistic preacher, and leader of the Calvinistic Methodist Church. Newton became Whitefield's enthusiastic disciple. During this period Newton also met and came to admire John Wesley, founder of Methodism. Newton's self-education continued, and he learned Greek and Hebrew.

He decided to become a minister and applied to the Archbishop of York for ordination. The Archbishop refused his request, but Newton persisted in his goal, and he was subsequently ordained by the Bishop of Lincoln and accepted the curacy of Olney, Buckinghamshire. Newton's church became so crowded during services that it had to be enlarged. He preached not only in Olney but in other parts of the country. In 1767 the poet William Cowper settled at Olney, and he and Newton became friends.

Cowper helped Newton with his religious services and on his tours to other places. They held not only a regular weekly church service but also began a series of weekly prayer meetings, for which their goal was to write a new hymn for each one. They collaborated on several editions of Olney Hymns, which achieved lasting popularity. The first edition, published in 1779, contained 68 pieces by Cowper and 280 by Newton.

Among Newton's contributions which are still loved and sung today are "How Sweet the Name of Jesus Sounds" and "Glorious Things of Thee Are Spoken," as well as "Amazing Grace." Composed probably between 1760 and 1770 in Olney, "Amazing Grace" was possibly one of the hymns written for a weekly service. Through the years other writers have composed additional verses to the hymn which came to be known as "Amazing Grace" (it was not thus entitled in Olney Hymns), and possibly verses from other Newton hymns have been added. However, these are the six stanzas that appeared, with minor spelling variations, in both the first edition in 1779 and the 1808 edition, the one nearest the date of Newton's death. It appeared under the heading Faith's Review and Expectation, along with a reference to First Chronicles, chapter 17, verses 16 and 17.

Amazing grace! (how sweet the sound)
That sav'd a wretch like me!
I once was lost, but now am found,
Was blind, but now I see.

'Twas grace that taught my heart to fear,
And grace my fears reliev'd;
How precious did that grace appear,
The hour I first believ'd!

Thro' many dangers, toils and snares,
I have already come;
'Tis grace has brought me safe thus far,
And grace will lead me home.

The Lord has promis'd good to me,
His word my hope secures;
He will my shield and portion be,
As long as life endures.

Yes, when this flesh and heart shall fail,
And mortal life shall cease;
I shall possess, within the veil,
A life of joy and peace.

The earth shall soon dissolve like snow,
The sun forbear to shine;
But God, who call'd me here below,
Will be forever mine.


The origin of the melody is unknown. Most hymnals attribute it to an early American folk melody. The Bill Moyers special on "Amazing Grace" speculated that it may have originated as the tune of a song the slaves sang.

Newton was not only a prolific hymn writer but also kept extensive journals and wrote many letters. Historians accredit his journals and letters for much of what is known today about the eighteenth century slave trade. In Cardiphonia, or the Utterance of the Heart, a series of devotional letters, he aligned himself with the Evangelical revival, reflecting the sentiments of his friend John Wesley and Methodism.

In 1780 Newton left Olney to become rector of St. Mary Woolnoth, St. Mary Woolchurch, in London. There he drew large congregations and influenced many, among them William Wilberforce, who would one day become a leader in the campaign for the abolition of slavery. Newton continued to preach until the last year of life, although he was blind by that time. He died in London December 21, 1807. Infidel and libertine turned minister in the Church of England, he was secure in his faith that amazing grace would lead him home.

--------------------------------------------------------------------------------

Author's Note

I was able to consult the 1779 edition of Olney Hymns in the Harry Ransom Humanities Research Center of the University of Texas at Austin. Printed in London by W. Oliver, it was in beautiful condition. The paper was almost as white and supple as it was when it came off the printing press. Those were the days before acid became a part of the papermaking process. Acidic paper, used in most books since sometime in the nineteenth century, has a relatively short life span, ultimately becoming brittle and crumbling. The 1779 Olney Hymns, on the other hand, will be in excellent condition for many future generations of Newton and Cowper scholars.

It was a thrill to handle the edition of Olney Hymns in which the hymn that came to be known as Amazing Grace was first published. But it was an even greater thrill when I opened the front cover and saw the inscription, "Rev. Wm. Smith, the gift of the author." The "Wm." is unclear, but "Rev." and "Smith" are very distinct. Of course, both Newton and Cowper contributed to Olney Hymns, but considering that Newton's contributions were far greater in number than Cowper's, it is likely that Newton himself was the author mentioned in the inscription.

I consulted other editions of Olney Hymns in microprint in the University General Libraries Microforms Unit. Mircoforms are very necessary adjuncts to scholarship, since no library can possibly have all the hundreds of thousands of rare and not so rare books available in microform, but those microprint editions of Olney Hymns were cold and sterile compared with the 1779 edition that I had held and that John Newton had held over two hundred years before me.

by AI HUU NINH THUAN
12/30/08. 10:51:49 pm. 1446 words, 536 views. Categories: Uncategorized, Nhạc chọn lọc, Liên kết blogs, Tôn giáo và tín ngưỡng ,

SEASON'S GREETINGS



TERRORISM * NO WAR - WE WANT PEACE (AP Photo)

by AI HUU NINH THUAN
12/25/08. 02:24:28 am. 8 words, 129 views. Categories: Liên kết blogs ,

THƯ MỜI DỰ LỄ HỘI MỪNG XUÂN KỶ SỬU 2009 CỦA HỘI THÂN HỮU NINH THUẬN

HỘI THÂN HỮU NINH THUẬN
P.O. BOX 4083
GARDEN GROVE, CA 92842

THƯ MỜI DỰ LỄ HỘI MỪNG XUÂN KỶ SỬU 2009

Kính gởi:

Quý Đồng Hương Thân Hữu Ninh Thuận,

Nhân dịp đầu Xuân Kỷ Sửu 2009, Hội Thân Hữu Ninh Thuận kính chúc quý vị và gia quyến một năm mới an khang và thịnh vượng.
Nhằm mục đích để đánh dấu một bước đường phát triển và nhìn lại dòng thời gian viễn xứ. Năm nay, nhân dịp kỷ niệm 15 năm ngày thành lập Hội, Lễ Hội mừng Xuân Kỷ Sửu sẽ được tổ chức vào ngày 8-2-2009 (14 -1 âm lịch) lúc 10 giờ đến 3 giờ chiều.

Địa điểm:

Emeral Bay Seafood Restaurant
5015 W. Edinger Ave Ste 5
Santa Ana CA, 92704


Điện thoại: (714)775-5161

Trân trọng kính mời quý đồng hương và thân hữu xa gần đến tham dự đông đủ để thể hiện lòng tương thân, tương ái trong tinh thần xây dựng và hợp nhất.

Chương trình gồm có những tiết mục:

- Vinh danh các cựu Hội Trưởng và đồng hương có công.
- Chúc thọ các bậc Trưỏng Thượng.
- Tặng thưởng các tác giả có những bản nhạc hay về tình tự quê hương Phan Rang.
- Phát thưởng học sinh xuất sắc.
- Xổ số lấy lộc đầu Xuân.
- Phát hành Đặc San kỷ niệm 15 năm lập Hội.

Ngoài phần ẩm thực còn có văn nghệ giúp vui.
Sự hiện diện đông đủ của quý đồng hương thân hữu và gia đình là niềm vinh hạnh chung cho Hội chúng ta.

Trân trọng kính mời.

California ngày 24 tháng 12 năm 2008

TM Hội Thân Hữu Ninh Thuận
Hội Trưởng
Trần Thái Ất

Điện thoại liên lạc:

Trần Thái Ất: (714) 277-5191
Trần Phú Trắc: (714) 823-5208

Bản đồ nhà hàng:

Click trên bản đồ để phóng lớn. Khi đã ở trên bản đồ phóng lớn thì click vào "Street View" để xem cảnh chụp đường phố rõ ràng hơn.

by AI HUU NINH THUAN
12/24/08. 05:54:15 am. 475 words, 374 views. Categories: Thông báo (A), Nối vòng tay lớn, Thông báo, Thông báo (A), Thông báo (F) ,

1 2 >>