Archives for: July 2009
CHƯƠNG TRÌNH TRỢ CẤP LIÊN BANG CHO $3,500 USD HOẶC $4,500 USD ĐỂ ĐỔI XE CŨ MUA XE MỚI

Một chiếc Jeep Grand Cherokee, trước, một chiếc GMC Jimmy, giữa, và một chiếc Mercury Villager GS, phía sau, đưa ra bán tại một đại lý Toyota ở Palo Alto, Calif. theo chương trình trợ cấp mới của Liên bang gọi là "Hệ Thống Trợ Cấp Giảm Giá Xe" (Car Allowance Rebate System, hay còn gọi là chương trình "CARS"). Ảnh AP/Paul Sakuma.
Chương trình trợ cấp liên bang cho $3,500 USD hoặc $4,500 USD để đổi xe cũ mua xe mới
Source: CARS
"Hệ Thống Trợ Cấp Giảm Giá Xe" (Car Allowance Rebate System, hay còn gọi là chương trình "CARS" là chương trình trợ cấp 1 tỷ đô-la của chính phủ liên bang để giúp người tiêu thụ mua hay thuê một chiếc xe mới thân thiện với môi trường hơn từ những đại lý bán xe tham dự vào chương trình, khi quý vị mang những chiếc xe cũ đến để đổi lấy xe mới dưới giá $45,000 USD (MSRP). Tùy theo loại xe và mức độ giảm tiêu thụ nhiên liệu của xe mới so với xe cũ đem đổi vào, quý vị có thể được hưởng trợ cấp $3,500 USD hoặc $4,500 USD. Chương trình toàn quốc này không liên quan gì đến các chương trình trợ cấp mua xe riêng của mỗi tiểu bang. Chương trình này được áp dụng để mua cả xe Mỹ và xe do nước ngoài sản xuất bán tại Mỹ, và sẽ chấm dứt vào ngày 1 tháng 11/2009.
Điều kiện:
Xe cũ của quý vị phải dưới 25 năm tính đến ngày đem vào đổi mua xe mới.
Chỉ áp dụng để mua hay thuê xe mới tinh, không áp dụng để mua xe đã dùng rồi.
Xe đem vào đổi phải được đăng bộ và có bảo hiểm liên tục trong 1 năm trước ngày đem vào đổi.
Quý vị không cần phiếu trợ cấp trước, chỉ việc đem xe cũ đến, đại lý bán xe sẽ lo cho quý vị.
Chương trình chỉ tiếp tục cho đến ngày 1 tháng 11, 2009.
Trị giá xe cũ của quý vị không bị ảnh hưởng đến trợ cấp.
Mỗi người đứng tên chỉ được mua 1 xe mới mà thôi.
Thông thường, xe cũ đưa vào đổi phải từ 18 MPG (Mile Per Gallon) trở xuống, có nghĩa là rất hao xăng. Xe van và pick-up lớn theo tiêu chuẩn khác.
Xe mới mua nếu là loại xe nhỏ thì tiêu chuẩn kết hợp tiêu thụ xăng tối thiểu là 22 miles/gallon, xe truck loại 1 thì tiêu chuẩn kết hợp tiêu thụ xăng tối thiểu là 18 miles/gallon, xe truck loại 2 thì tiêu chuẩn kết hợp tiêu thụ xăng tối thiểu là 15 miles/gallon, xe truck loại 3 thì không ấn định mức tiêu thụ xăng, tuy nhiên có những đòi hỏi đặc biệt khác.
Nếu là loại xe thông thường, xe mới phải ít tốn xăng hơn xe cũ từ 10 miles/galon trở lên thì được trợ cấp $4,500 USD, nếu ít tốn xăng hơn xe cũ từ 4 đến 10 miles/gallon thì chỉ được trợ cấp $3,500 USD.
Xe truck loại 1 mới (bao gồm các loại xe SUV và Van gia đình) phải ít tốn xăng hơn xe cũ từ 5 miles/galon trở lên mới được trợ cấp $4,500 USD, nếu chỉ ít tốn xăng hơn từ 2 đến 5 miles/gallon thì chỉ được hưởng trợ cấp $3,500 USD.
Xe truck loại 2 mới phải ít tốn xăng hơn xe cũ từ 2 miles/galon trở lên mới được trợ cấp $4,500 USD, nếu chỉ ít tốn xăng hơn từ 1 đến 2 miles/gallon thì chỉ được hưởng trợ cấp $3,500 USD.
Xe truck loại 3 (work truck) mới chỉ nhận được $3,500 USD nhưng với điều kiện là xe đem vào đổi phải dưới 25 năm tính đến ngày mua xe mới và là đời cũ từ 2001 trở về trước mà thôi, như vậy là mới quá hay cũ quá đều không đổi được.
Nếu quý vị đã đem đổi xe cũ để mua xe mới trước ngày 1 tháng 7/2009 thì sẽ không được tham dự vào chương trình này, nếu đã đổi xe cũ để mua xe mới sau ngày 1 tháng 7/2009 thì được vào chương trình này.
Cho đến lúc lên bản tin này thì số tiền chỉ còn $858 triệu USD mà thôi, vậy quý vị phải nhanh tay để chọn được xe vừa ý và kịp thời kẻo tiền sẽ cạn.
Muốn biết thêm chi tiết xin vào website sau đây:
07/30/09. 10:42:06 am. 1040 words, 519 views. Categories: Thông báo, Thông báo (A), Thời trang ,
MẤY VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CẤP BÁCH LIÊN QUAN ĐẾN MỐI QUAN HỆ DÂN TỘC HIỆN NAY

Gs. Po Dharma
Mấy vấn đề lý luận và thực tiển cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay
Source: Champaka
Phân tích bởi P. Gs. Po Dharma
(Viện Viễn Ðông Pháp)
Mấy vấn đề lý luận và thực tiển cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay là một đề tài do Phan Hữu Dật làm chủ biên, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia ấn hành tại Hà Nội vào năm 2001. Tác phẩm này dày 356 trang do 23 vị giáo sư-tiến sĩ Việt Nam thực hiện, trong đó có Gs. Mạc Ðường, Phan An, Phan Xuân Biên là những chuyên gia về dân tộc Chăm và thường viết về dân tộc Chăm. Trong tác phẩm này, chúng tôi chỉ chú tâm đến chương số 4 với nhan đề “Mấy vấn đề về quan hệ ở một số vùng dân tộc thiểu số.” II.- “Vùng dân tộc Chàm” (trang 200-223), một đề tài mà chúng tôi muốn đưa ra để phân tích và bình luận ở đây.

Ðứng trên bình diện khoa học mà nói, tác phẩm này chỉ là một bài nhận định về những nhân tố tác động từ bên ngoài đã đưa mối quan hệ dân tộc Kinh-Chăm thành hai đối tượng thù nghịch hiềm khích lẫn nhau.
Theo tập thể tác giả này, đối tượng thù nghịch dân tộc Kinh-Chăm phát xuất từ những âm mưu của các “thế lực thù địch” chống Nhà Nước Việt Nam, trong đó có nhóm Fulro của Huỳnh Ngọc Sắn, Trung Tâm Văn Hóa Chăm của cha G. Moussay, nhóm Thanh Niên Chí Nguyện Quốc Tế của ông Jay Scarborough, hội IOC-Champa, hội Muslim Champa, hội Liên Minh Ty Nạn Chăm ở Hoa Kỳ và một số đối tượng Chăm lưu vong. Các “thế lực thù địch” này luôn luôn nuôi dưỡng kích động tinh thần dân tộc và ý chí phục quốc Champa, chờ thời gian gây phản loạn ly khai.
Cũng trong bài này, tập thể tác giả đưa ra những nhận định về tình hình phức tạp trong sự sinh hoạt của các tôn giáo người Chăm, về ảnh hưởng nặng nề của tôn giáo đối với quan hệ giữa các dân tộc. Sau cùng, tập thể tác giả cũng không quên trình bày các tác động của Hồi Giáo Quốc Tế, của tổ chức ngoại giao nước Hồi Giáo ở Việt Nam với cộng đồng Hồi Giáo người Chăm.
Hiện tượng Fulro
Liên quan đến hiện tượng Fulro, các vị giáo sư-tiến sĩ cho rằng (tr. 213): “tổ chức Fulro trong người Chàm ở Việt Nam được nhen nhóm hình thành từ năm 1966, do tay chân của Leskossem (sic) từ Campuchea về móc nối và giao cho Huỳnh Ngọc Sắng cầm đầu (...). Trong các năm 1972-1973, Sắng và đồng bọn lén lút về lại vùng Chàm bí mật hoạt động gây dựng cơ sở (...) chuẩn bị đối phó với cách mạng khi miền nam giải phóng”. Trang 211, tác giả cũng nêu ra: “một trong những sản phẩm nguy hiểm nhất trong âm mưu của các thế lực thù địch đối với dân tộc Chàm là Fulro Chàm do chúng nặn ra và nuôi dưỡng, sử dụng”. Sau cùng, trang 213-214, tác giả còn nhấn mạnh rằng “tháng 4 năm 1975, khi quân ta tổng tiến công giải phóng miền Nam, bọn cầm đầu Fulro Chàm tự xưng là “lực lượng thứ ba đòi được đứng ra tiếp quản vùng Chàm. Nhưng do không được chấp thuận, bọn chúng đã tuyên truyền kích động (...) chia rẽ người Kinh với người Chàm, kêu gọi hạ cờ cách mạng, treo cờ Fulro (...) phát động chiến dịch “Chế Bồng Nga”, tập hợp lực lượng chống lại cách mạng (...). Trong quá trình tồn tại và hoạt động chống phá cách mạng, Fulro Chàm đã gây cho ta nhiều tổn thất (...). Ðặc biệt chúng đã gây tác hại nghiêm trọng về mặt chính trị, gây thêm hận thù (...) tác động nuôi dưỡng tư tưởng phục quốc Chăm Pa”.
Nhìn qua nội dung phần này, độc giả có cảm tưởng rằng 23 vị giáo sư-tiến sĩ không nắm vững lịch sử của tổ chức Fulro, ngay cả quá trình hoạt động Fulro sau ngày chiếm đóng Miền Nam Việt Nam vào tháng 4 năm 1975. Một thí dụ điển hình, danh xưng của một lãnh tụ Fulro tên là Les Kosem, tác giả ghi thành Leskossem. Các tác giả này cũng cho rằng Huỳnh Ngọc Sắng (tên thật Huỳnh Ngọc Sắn) lén lút về vùng Chăm vào năm 1972-1973 thì càng sai lầm thêm nữa. Vì năm 1971, Huỳnh Ngọc Sắn đã xin trở về Việt Nam để hợp tác với chính phủ Sài Gòn. Tác giả cho rằng nhóm Fulro Huỳnh Ngọc Sắn kêu gọi dân chúng hạ cờ cách mạng để treo cờ Fulro vào tháng 4 năm 1975 lại càng đi ngược lại với sự thật. Trên thực tế, nhóm Huỳnh Ngọc Sắn chỉ hạ cờ Việt Nam Cộng Hòa để treo cờ Fulro thì đúng hơn, vì lúc đó quân giải phóng chưa chiếm Phan Rang, thế thì có cờ cách mạng ở đâu mà hạ xuống.
Ai cũng biết, ngày 20 tháng 4 năm 1975 đánh dấu sự sụp đổ của Fulro, vì toàn diện thành viên trung ương của tổ chức này kể cả nhà lãnh đạo Y Bham Enuôl đều bị Khmer Ðỏ tiêu diệt. Trong khi đó, thiếu tướng Les Kosem, là nhân vật chính của Fulro-Champa chạy sang Pháp lánh nạn và từ trần vào năm 1976 tại Mã Lai. Chính vì thế, Fulro của Huỳnh Ngọc Sắn không thể dựa vào các “thế lực thù địch” của Fulro từ bên ngoài như tập thể tác giả này đã nêu ra.
Nếu có sự vùng dậy Fulro do Huỳnh Ngọc Sắn chủ trương vào ngày 8 tháng 4 năm 1975 ở khu vực Phan Rang và Phan Rí, tức là trước vài ngày của sự sụp đổ miền nam vào 29 tháng 4 năm 1975, có chăng đây chỉ là một truyền thống đấu tranh của dân tộc Champa trước sự thay đổi chủ thuyết chính trị ở Việt Nam quá bất ngờ, từ chế độ Việt Nam Cộng Hòa biến thành Chủ Nghĩa Xã Hội, mà người Chăm chẳng biết gì về đường lối chính trị của Chủ Nghĩa Xã Hội này sẽ dành cho họ những gì trong tương lai. Fulro của Huỳnh Ngọc Sắn chỉ là một sự tiếp nối trong lịch sử Champa. Vì rằng truyền thống vùng dậy này đã từng diễn ra trong quá khứ, đó là sự ra đời của phong trào Bajaraka sau ngày Ngô Ðình Diệm lên nắm chính quyền ở Sài Gòn năm 1954; sự vùng dậy của Fulro vào tháng 9 năm 1964 cũng sau ngày tướng Nguyễn Khánh lật đổ chính quyền Dương Văn Minh ở Sài Gòn. Và hiện tượng này cũng từng đã xảy trước thế kỷ 20 đó là sự vùng dậy của Katip Sumat và Ja Thak Wa vào năm 1833-1835 khi triều đình Huế xâm chiếm Champa và xóa tên vương quốc này trên bản đồ vào năm 1832; sự vùng dậy của nhân dân Champa vào năm 1693 chống lại chính quyền nhà Nguyễn xâm chiếm Panduranga để biến vương quốc này thành phủ Bình Thuận vào năm 1692.
Sau năm 1975, Fulro của Huỳnh Ngọc Sắn vẫn tiếp tục đấu tranh và sự đấu tranh này có thể phát xuất từ một nguyên nhân khác nữa. Vì sau ngày giải phóng, đồng bào Chăm cực kỳ hoang mang dao động qua các vụ bắt bớ, giam cầm, trả thù những ai làm việc cho chế độ ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn. Vụ ám sát ông Nại Hùng ở thôn Hữu Ðức và Ðàng Linh ở Hậu Sanh là một trong những thí dụ điển hình. Có chăng vì tình thế dao động này, một số người Chăm phải bỏ thôn xóm ra đi để thoát thân, hơn là họ ra đi để tiếp tay cho “thế lực thù địch” bên ngoài như tập thể tác giả này suy đoán. Hai người uy tín của cộng đồng Chăm cũng tham gia vào phong trào của Huỳnh Ngọc Sắn đó là ông Từ Công Xuân, cựu dân biểu và Thiên Thiện, xã trưởng. Nhưng hai người này cũng không phải là thành viên Fulro.
Sau ngày 20 tháng 4 năm 1975, Fulro không còn mang ý nghĩa là tổ chức của “Mặt Trận Thống Nhất Ðấu Tranh Các Dân Tộc Bị Áp Bức” mà trung ương đặt tại thủ đô Nam Vang, nhưng là ý thức hệ của một tập thể dân tộc bị áp bức thì đúng hơn. Nhận diện mình là Fulro, có nghĩa là tự xác nhận mình là người thiểu số bị áp bức. Và “ý thức hệ” này bắt đầu định hình trong tiềm thức của các dân tộc thiểu số ở miền trung Việt Nam, để rồi trở thành một thành ngữ: “Còn áp bức thì còn Fulro, hết áp bức thì hết Fulro”. Thế thì, muốn giải quyết vấn đề Fulro nhanh chóng, 23 vị giáo sư-tiến sĩ này nên đưa ra những đề nghị nhằm xóa bỏ chế độ áp bức đối với dân tộc Chăm, chấm dứt sự nghi ky và kiềm chế dân tộc Chăm mà các nghị quyết của Ðảng và Nhà Nước Việt Nam đã từng nêu ra, hơn là đi tìm phương cách kết tội dân tộc này có liên hệ với “các thế lực thù địch” từ bên ngoài, tức là Fulro, một tổ chức đã bị sụp đổ, trên phương diện pháp lý, từ tháng 4 năm 1975. Thế thì, “thế lực thù địch” của Fulro trong bài nhận định này có chăng chỉ là một câu chuyện hão huyền do tập thể tác giả này dàn dựng để có cớ hầu áp đảo và chụp mũ dân tộc Chăm?
Trung Tâm Văn Hóa Chàm
Trang 210-211, tác giả đưa ra vấn đề Trung Tâm Văn Hóa Chàm ở Phan Rang như sau: “bằng nguồn tiền tài trợ nước ngoài, chúng đã dựng lên “Trung tâm văn hóa Chàm” ở Phan Rang (...) để tuyên truyền tư tưởng dân tộc hẹp hòi, gây kỳ thị chia rẽ dân tộc, tập hợp lực lượng phục vụ ý đồ về lâu về dài là chống phá cách mạng. Trung tâm này đã đào tạo, tập hợp được nhiều trí thức (...) tham gia tích cực hoặc ủng hộ, hậu thuẫn cho Fulro. “Trung tâm văn hóa Chàm” còn là đầu mối liên lạc, cung cấp lực lượng cho tổ chức Fulro Chàm, tuyển chọn giới thiệu người của Fulro để đưa ra nước ngoài huấn luyện, chỉ đạo hoạt động của lực lượng Fulro ở vùng dân tộc Chàm”.
Ai cũng biết, Trung Tâm Văn Hóa Chàm ở Phan Rang do Cha G. Moussay thành lập vào năm 1969 chỉ có 7 người Chăm làm việc đắc lực cho trung tâm này. Trong danh sách 7 người, có ba người cộng tác viên Trung Tâm Văn Hóa Chàm trở thành cán bộ đắc lực của cách mạng sau ngày giải phóng và 4 người khác không ai là thành viên Fulro cả.
Thêm vào đó, Trung Tâm Văn Hóa Chàm của G. Moussay thu hút rất nhiều thiện cảm của đồng bào Chăm, vì trung tâm này đã giúp đỡ thật sự người Chăm nhằm phát triển văn hóa Chăm và có chương trình từ thiện dành cho con em người Chăm nghèo được may mắn tiếp tục học hành. Chuyện có thật nữa đó là Cha Moussay, nhân danh người làm từ thiện, có giúp đỡ vợ chồng Thuận Thị Trụ và Ðàng Năng Giáo là hai thành viên Fulro trong thời gian họ ở Pháp. Cha Moussay không đưa ai đi nước ngoài để làm việc cho Fulro cả. Ngược lại cha Moussay lại đưa thành viên Fulro về Việt Nam thì có, đó là cô Thuận Thị Trụ vào tháng 7 năm 1973. Sau này, cô Thuận Thị Trụ trở thành một cộng tác viên rất đắc lực của nhóm công an Ngôn Vĩnh để thực hiện tác phẩm mang tên “Fulro: tập đoàn tội phạm” do Nhà Xuất Bản Công An Nhân Dân ấn hành vào năm 1983.
Nếu kết luận rằng Trung Tâm Văn Hóa Chàm của Cha Moussay là trung tâm đào tạo, tuyên truyền ý thức hệ chia rẽ, cung cấp lực lượng cho Fulro, thì ít ra các nhà nghiên cứu này cũng phải đưa ra một bằng chứng cụ thể để minh chứng cho lý luận của mình. Nếu không, độc giả có cảm tưởng rằng đây là một loại văn chương chụp mũ, chứ không phải là lý luận theo chiều hướng khoa học.
Thanh niên chí nguyện quốc tế
Liên quan đến Thanh niên chí nguyện quốc tế, tác giả nhấn mạnh rằng: “các thế lực thù địch còn đưa người vào xây dựng cơ sở, tập hợp lực lượng trong dân tộc Chàm thông qua hoạt động văn hóa, thông qua hoạt động của tổ chức “Thanh niên chí nguyện quốc tế” để xuyên tạc, bóp méo lịch sử nhằm kích động nuôi dưỡng tư tưởng kỳ thị dân tộc, chống phá cách mạng quyết liệt sau ngày miền Nam giải phóng”. (tr. 211)
Một người duy nhất trong tổ chức thanh niên chí nguyện quốc tế có liên hệ với dân tộc Chăm đó là ông Jay Scarborough. Tiếc rằng, ông ta chỉ là một giáo viên dạy tiếng Anh và hướng dẫn thực hành tiếng Anh ở trường trung học Po Klaong mà thôi. Nếu cho rằng Jay Scarborough là người chống phá cách mạng, tại sao chính quyền Việt Nam không truy nã ông ta? Ngược lại Ðảng và Nhà Nước vẫn xem ông Jay Scarborough là một người tốt, vì chính quyền Việt Nam đã cho phép ông ta sang viếng thăm Việt Nam thường xuyên sau năm 1975 ?
Hội đoàn phản động người Chăm ở Hoa Kỳ
Hội đoàn người Chăm ở Hoa Kỳ đã trở thành một đối tượng thù địch nguy hiểm mà tập thể tác giả cũng không quên đưa ra bàn thảo: “một số đối tượng người Chàm lưu vong đã thành lập tổ chức “Văn phòng Chăm Pa quốc tế” (IOC) và hội “Muslim Chăm Pa” nhằm tập hợp cộng đồng Chàm ở nước ngoài (...) hoạt động tuyên truyền kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, phục quốc Chăm Pa trong người Chàm ở nước ngoài và tác động vào trong nước”. Trang 215, tác giả lại đưa ra thêm quan điểm “đáng chú ý (...) là “Văn phòng Chăm Pa quốc tế” (IOC), “Hội Muslim Chăm Pa” và “Liên minh người Chàm ty nạn”. Các tổ chức dù mang danh xưng khác nhau nhưng đều do những đối tượng theo chủ nghĩa dân tộc và có hận thù với cách mạng cầm đầu, như: bọn cầm đầu Fulro, những quan chức cao cấp trong bộ máy ngụy quyền Sài Gòn trước đây. Hoạt động của chúng rất là tinh vi, bên cạnh núp dưới các hình thức ái hữu, tương trợ, bảo tồn văn hóa dân tộc (...), nhiều đối tượng chống đối cực đoan trong số cầm đầu đã bộc lộ rõ ý đồ tập hợp lực lượng, nuôi dưỡng và kích động “tinh thần dân tộc”, ý chí “phục quốc Chăm Pa” trong cộng đồng người Chăm ở nước ngoài và tác động vào vùng dân tộc Chăm trong nước thông qua quan hệ dân tộc, tôn giáo, để gây ảnh hưởng, tập hợp lực lượng, chờ thời gian gây phản loạn ly khai” (tr. 203).
Ơ hải ngọai, nhất là ở Hoa Kỳ, có rất nhiều hội đoàn người Chăm, tiêu biểu nhất là Văn Phòng Champa Quốc Tế-IOC, Hội Muslim Champa, Liên Minh Người Chăm Ty Nạn, Hội Bảo Tồn Văn Hoá Champa có trụ sở ở San Jose và Hội Bảo Tồn Văn Hóa Cổ Truyền Champa tập trung một số người Chăm Ahier (tạm gọi là Bà La Môn) ở Sacramento và Modesto.
Ai cũng biết, tất cả hội đoàn Chăm này không phải là tổ chức chính trị, nhưng chỉ là hội đoàn phi chính phủ có mục tiêu duy nhất là phát triển chương trình văn hóa, ái hữu, tương thân tương trợ hay sinh hoạt tôn giáo người Chăm mà thôi. Không biết 23 vị giáo sư-tiến sĩ này dựa trên tư liệu nào để kết luận các hội đoàn này muốn vùng dậy phục hưng Champa, chờ thời gian gây phản loạn ly khai. Chỉ nhận định về một tổ chức rất là nhỏ nhoi như hội đoàn người Chăm ở Hoa Kỳ mà tập thể tác giả này không nắm vững thông tin, thế thì làm sao độc giả tin được những quan điểm khác mà tác phẩm này đưa ra.
Ðiều đáng ngạc nhiên đó là trong 5 hội đoàn này, 23 vị giáo sư-tiến sĩ chỉ tố cáo 3 hội:
- Văn Phòng Champa Quốc Tế (IOC-Champa)
- Hội Muslim Champa
- Liên Minh Người Chăm Ty Nạn
là những tổ chức làm tay sai cho các “thế lực thù địch” bên ngoài để kích động ý chí phục quốc Champa. Ðiều mà độc giả tự đặt nghi vấn ở đây, nếu 3 hội đoàn này bị xếp vào thành phần “gây phản loạn ly khai”, có chăng là vì một số thành viên của 3 hội này, vì lý do gì đó, không muốn trở về Việt Nam thăm quê hương, để rồi họ bị xếp vào thành phần là những “Chăm kiều phản động” chứ không phải “Chăm kiều yêu nước”, tức là nhóm người Chăm thường về Việt Nam thăm quê hương.
Ðiều đáng ngạc nhiên thêm nữa đó là trong số 5 hội đoàn của người Chăm lưu vong ở Hoa Kỳ, 23 vị giáo sư-tiến sĩ này không nhắc đến hai hội, đó là:
- Hội Bảo Tồn Văn Hoá Champa cũng là nhà xuất bản tập san Vijaya
- Hội Bảo Tồn Văn Hóa Cổ Truyền Champa ở Sacramento-Modesto.
Có chăng tập thể tác giả không biết sự hiện hữu của 2 hội đoàn này hay là tác giả có một ẩn ý khác muốn xếp 2 hội đoàn này vào thành phần “Chăm kiều yêu nước”, với mục tiêu để biến người Chăm lưu vong ở hải ngoại này thành hai đối tượng thù nghịch nhau: “Chăm kiều phản động” và “Chăm kiều yêu nước”. Có chăng đây chỉ là một chính sách chia để trị?
Theo tác giả, 3 hội đoàn “gây phản loạn ly khai” này đều do những đối tượng chống Cộng Sản có liên hệ với bọn cầm đầu Fulro và những quan chức ngụy quyền Sài Gòn lưu vong ở hải ngoại. Ðây là nhận định hoàn toàn sai lầm và phi khoa học. Vì rằng, sau năm 1975, ở hải ngoại chỉ còn 5 thành viên Fulro người Chăm đó là Po Dharma, Ðàng Văn Tấn, Nara Vija, Từ Công Thị Lộc và Châu Văn Tần. Trong 5 nhân vật này, không có tư liệu nào chứng minh họ đang hoạt động trong tổ chức chính trị chống Ðảng và Nhà Nước như các tập thể tác giả này đã phỏng đoán. Số còn lại, đó là các cựu công chức, sĩ quan và dân biểu của chính quyền Sài Gòn hiện đang định cư ở nước ngoài. Ða số các nhân vật này, kể cả cựu sĩ quan và cựu dân biểu Chăm, thường xuyên trở về Việt Nam thăm quê hương. Tiếc rằng, không có một dữ kiện nào để chứng minh rằng một số người không muốn về Việt Nam thăm quê huơng là những người Chăm phản động?
Cũng trong phần này, 23 vị giáo sư-tiến sĩ cho rằng người Chăm ở hải ngoại đang kích động “tinh thần dân tộc, ý chí phục quốc Chăm Pa”. Chúng tôi tin rằng hiện tượng này có thể xảy ra, nhưng đó chỉ là tư tưởng của một vài người Chăm quá khích chứ không phải là chủ trương chung của cộng đồng người Chăm lưu vong.
Ngoại trừ một số dân tộc “man rợ” đang sống trong thời kỳ ăn lông ở lổ, tất cả dân tộc vong quốc trên thế giới, dù họ là người Chăm hay dân tộc nào đi nữa, đều biết đau xót và tủi hận cho thân phận quê hương họ bị chiếm đóng hay bị xâm lược. Ðây là tâm lý chung của một tập thể nhân loại, chứ không phải tâm lý riêng tư của người Chăm. Người Việt cũng có một tâm lý tương tự nếu một ngày nào đó đất nước Việt Nam bị xâm chiếm bởi ngoại lai.
Nhưng không phải vì quá đau xót và tủi hận cho quê hương Champa vong quốc mà người Chăm ở hải ngoại đang kích động tinh thần dân tộc nhằm phục quốc Champa. Ðó là hai vấn đề khác nhau mà tập thể tác giả này không nhận diện ra được, hay không muốn phân biệt sự khác biệt giữa hai khái niệm này.
Qua các cuộc điều tra và nghiên cứu, chúng tôi tạm kết luận rằng người Chăm ở hải ngoại thường xuyên đưa vấn đề Champa vào cuộc đối thoại hàng ngày của họ. Tiếc rằng, tư tưởng phục quốc Champa là một vấn đề quá trọng đại, quá to tát và quá khổng lồ mà người Chăm ở hải ngoại không dám nghĩ đến, chứ không phải họ không muốn nghĩ đến. Một số người Chăm ở hải ngoại còn cho rằng chờ năm 3000 để rồi nói chuyện phục quốc, giải phóng quê hương. Thế thì, nhóm người Chăm nào ở hải ngoại này đang kích động tinh thần để phục quốc Champa mà 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã đưa ra?
Ða số người trí thức Chăm ở hải ngoại mà chúng tôi tiếp xúc đã nhận thức rằng dân tộc Chăm hôm nay với dân số khoảng 100.000 người chỉ là một “hạt cát bụi” đang chìm đắm nhấp nhô chờ ngày tắt thở trong một tập thể khổng lồ của 80 triệu người Việt. Trước hiện tượng này, họ tự đặt câu hỏi rằng liệu dân tộc Chăm hôm nay có đủ năng lực để thoát thân ra khỏi sức ép của ảnh hưởng ngôn ngữ, văn hóa và nền văn minh Việt Nam hay không? Họ có đủ ý chí để khỏi bị đồng hóa thành người Việt một cách tự nhiên, vì sự bành trướng văn hóa Việt Nam quá mạnh mẽ, chứ không phải vì sự ép buộc của Ðảng và Nhà Nước nữa? Trong thập niên sắp tới, họ có còn hy vọng nói được tiếng Chăm của họ, nhận diện được đâu là phong tục tập quán của họ, truyền thống văn hóa tín ngưỡng của họ, đâu là lịch sử của họ, một di sản quí báu của nền văn minh nhân loại đáng được bảo tồn và được duy trì dù trong hoàn cảnh nào đi nữa. Có chăng người Chăm vẫn còn tồn tại trong thế kỷ thứ 21 này, nhưng họ không còn biết họ là ai nữa, không còn nhận diện nguồn gốc chủng tộc và yếu tố văn hóa, lịch sử của họ nữa? Hay nói một cách khác, họ chỉ còn thể xác không hồn trong thế kỷ thứ 21 này !
Qua các cuộc tiếp xúc với một số trí thức người Chăm ở hải ngoại, họ cho rằng sự sống còn của dân tộc Chăm trong thế kỷ thứ 21 này với tư cách là một loài người có nguồn gốc riêng, tiếng nói riêng, văn hóa riêng và truyền thống riêng đã trở thành một chủ đề chính yếu mà cộng đồng người Chăm ở hải ngoại hôm nay thường bàn bạc đến, chứ không phải là vấn đề phục quốc Champa như 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã lập luận. Vì ý thức đến sự nguy cơ này, người Chăm ở hải ngoại thường kích động “tinh thần dân tộc” để bảo tồn văn hóa và nền văn minh của họ, chứ không phải kích động “tinh thần dân tộc” để khôi phục lại quốc gia hay giải phóng Champa như tập thể tác giả này đã đưa ra.
Một số trí thức Chăm còn cho rằng trong vòng 50 năm sắp đến, người Chăm không còn nói tiếng Chăm của họ nữa, không còn nhận diện đâu là tín ngưỡng truyền thống, văn hóa cổ truyền, tôn ti trật tự của xã hội của họ nữa v.v... Ðó là một vấn đề trọng đại, một thực tiễn cấp bách mà cộng đồng Chăm hôm nay đang thao thức, đang đắn đo và đang suy nghĩ. Ðiều mong ước của họ không phải là phục quốc Champa, nhưng chỉ là làm thế nào để dân tộc này còn được tồn tại trong thế kỷ thứ 21 như những dân tộc khác trên thế giới, chứ không phải tồn tại như một loài người chỉ có thể xác, tức là chỉ biết tìm kế sinh nhai, lấy văn hóa ngoại lai làm tôn chỉ, để rồi họ không còn biết nguồn gốc họ là người Chăm, có lịch sử, văn hóa và nền văn minh riêng biệt.
Lợi dụng chính sách mở
Trang 215, tác giả viết rằng : “lợi dụng chính sách mở cửa của nhà nước ta, (...) người Chàm lưu vong (...) tăng cường thâm nhập vào vùng Chàm, phổ biến là dưới hình thức thăm thân nhân, du lịch, viện trợ từ thiện, nhân đạo và đặc biệt là trên lĩnh vực nghiên cứu văn hóa và lịch sử dân tộc Chàm”.
Ðây là lối suy luận mờ ám, nhằm chụp mũ người Chăm trong nước thì đúng hơn. Tất cả người Chăm về Việt Nam đều được chính quyền địa phương cho phép và có khi còn tiếp đãi một số “Chăm kiều” này rất nồng hậu để vuốt ve, tìm hiểu tin tức. Mỗi lần có Chăm kiều về thăm Việt Nam, công an thường đến gặp họ tại nhà để bàn chuyện nhằm thu thập một số thông tin. Thế thì làm sao “Chăm kiều” về nước lọt ra khỏi mạng lưới của chính quyền Việt Nam, để làm việc phi pháp như tập thể tác giả đã đưa ra. Trước khi kết tội, ít ra các tập thể tác giả này cũng phải cho biết ai là “người Chàm lưu vong” sang Việt Nam để hoạt động chống cách mạng? Tại sao Nhà Nước không bắt họ đưa ra tòa để truy tố theo luật lệ hiện hành?
Quốc tế hóa vấn đề Champa
Trang 216, tập thể tác giả cũng nêu ra : “chúng lợi dụng danh nghĩa nghiên cứu văn hóa để móc nối lại các quan hệ cũ với người Chàm, nhằm thu thập tin tức, tác động tư tưởng, kể cả tuyên truyền gây hoài nghi, chia rẽ dân tộc, kích động tư tưởng và tâm lý hoài cổ (...). Chúng cố tình xuyên tạc lịch sử, kích động hận thù dân tộc Kinh-Chàm nhằm phục vụ ý đồ quốc tế hóa vấn đề Chàm ở Việt Nam”
Có chăng tác giả muốn ám chỉ ông Po Dharma? Tiếc rằng, ông ta là một nhà nghiên cứu trong Viện Viễn Ðông Pháp, chuyên về lịch sử và nền văn minh Champa. Chính vì thế, ông ta không cần lợi dụng danh nghĩa nghiên cứu để phổ biến văn hóa Champa như tập thể tác giả này đưa ra, nhưng là người phải có nghĩa vụ nghiên cứu và phát triển văn hóa và lịch sử Champa này trong cộng đồng khoa học thế giới. Quốc tế hóa chương trình nghiên cứu Champa là một dự án khoa học của viện nghiên cứu và đại học Pháp, chứ không phải công trình riêng tư của ông Po Dharma nữa. Có chăng, các vị giáo sư-tiến sĩ này muốn nói đến nội dung của một số tác phẩm Po Dharma chứa đựng một văn chương nhằm tác động tư tưởng, tuyên truyền gây hoài nghi, chia rẽ dân tộc Kinh-Chăm? Nếu thế, thì ít ra các vị tác giả này phải đưa ra bằng chứng cụ thể: trong tác phẩm nào và trang nào?
Các ý đồ “quốc tế hóa vấn đề Chàm ở Việt Nam” mà tập thể tác giả đã nêu ra không liên hệ gì với “người Chăm lưu vong”. Hàng loạt đại hội hay triển lãm quốc tế về Champa được tổ chức tại các quốc gia như Pháp, Ðan Mạch, Nga, Ðức, Mỹ, Gia Nã Ðại, Nhật, Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan, Kampuchia .v.v... Nhưng đó chỉ là chương trình giáo dục và nghiên cứu của các đại học hay viện nghiên cứu trong mỗi quốc gia này. Việt Nam cũng thường tổ chức đại hội và triển lãm về Champa. Ðại hội hay triển lãm quốc tế về Champa là chương trình khoa học nhằm tăng cường thêm kiến thức về lịch sử và nền văn minh của vương quốc này, chứ không phải là công trình phục quốc Champa như các vị giáo sư-tiến sĩ hiểu lầm. Trong các đại hội Champa này cũng có sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu người Kinh, như Gs. Mạc Ðường, Phan An, Phan Xuân Biên, v.v... Có chăng các giáo sư người Kinh này cũng có ý đồ “quốc tế hóa vấn đề Chàm” hay phục quốc Champa?
Trang 216 tác giả dẫn chứng: “một số đối tượng tài trợ tiền cho số ở trong nước hình thành nhóm nghiên cứu Chàm nhưng thực chất là cố tình gieo rắc tư tưởng mặc cảm, hận thù người Kinh”.
Ðây là một lối suy diễn thiếu khoa học. Vì người Chăm ở nước ngoài không có phương tiện để tài trợ cho nhóm nghiên cứu Chăm trong nước. Nếu có sự hình thành nhóm nghiên cứu Chăm ở Việt Nam do người Chăm ở hải ngoại nuôi dưỡng, thì ít ra tập thể tác giả này phải cho biết họ là ai? và làm sao nhóm nghiên cứu Chăm này lọt ra khỏi màng lưới tinh vi của công an, của Ðảng và Nhà nước.
Trang 217, tập thể tác giả đưa ra một dữ kiện khôi hài đó là: “một vấn đề cần chú ý là một số đối tượng Chàm lưu vong đang tìm cách thu thập tư liệu để chứng minh rằng nhà nước Chăm Pa mới bị diệt vong vào thế kỷ XIX, chứ không phải là thế kỷ XVII như các nhà sử học đã nêu, nhằm từng bước tạo cơ sở pháp lý phục vụ mưu đồ tìm sự ủng hộ của quốc tế trong việc phục hồi nước Chăm Pa”.
Ơ đây, các vị giáo sư-tiến sĩ này muốn ám chỉ Po Dharma là người Chăm lưu vong. Tiếc rằng, Po Dharma không đang đi tìm tư liệu này như tác giả đã nêu ra, vì ông ta đã dùng tư liệu này để chứng minh rằng Champa chỉ diệt vong vào năm 1832 trong tác phẩm của ông ta với nhan đề là Vương Quốc Panduranga Campa. Sự liên hệ chính trị với Việt Nam từ năm 1802-1835, do Viện Viễn Ðông Pháp xuất bản tại Paris vào năm 1987. Có chăng các vị giáo sư-tiến sĩ chưa đọc tác phẩm này?
Nhìn qua nội dung của phần này, độc giả có cảm giác rằng các vị giáo sư-tiến sĩ này đang khoác áo nhà khoa học để làm cán bộ của một đảng phái chính trị thì đúng hơn. Nhân danh một nhà khoa học, nếu tác giả không chấp nhận Champa bị diệt vong vào năm 1832 do Po Dharma đưa ra, thì ít ra các tác giả này phải đi tìm những dữ kiện hợp lý khác để minh chứng rằng nhà nước Champa đã bị diệt vong vào thế kỷ thứ XVII. Ơ đây, tác giả chỉ phóng đại rồi kết tội Po Dharma đang tạo cơ sở pháp lý nhằm phục hồi vương quốc Champa. Ðây không phải là văn chương khoa học nữa, nhưng là một văn chương chính trị nhằm chụp mũ và khủng bố nhà khoa học ở nước ngoài.
Huấn luyện ở nước ngoài
Trang 216, nhằm kết tội “thế lực thù địch” của người Chăm lưu vong, tác giả nhận định rằng: “chúng cũng tìm mọi cách nhằm lôi kéo người Chàm, nhất là trí thức và cán bộ Chàm ra nước ngoài dưới hình thức tài trợ cho đi đào tạo, nghiên cứu, bảo lãnh đi nước ngoài thăm quan, học tập, nhằm mục đích tiếp cận và lôi kéo”
So với hàng ngàn người Kinh sang ngoại quốc trong chương trình trao đổi văn hóa và khoa học, nhóm trí thức Chăm được may mắn đi ra nước ngoài chỉ có 12 người. Ðó là Lâm Gia Tịnh, Nguyễn Văn Tỷ, Thành Phú Bá, Ðàng Năng Quạ, Thành Công Sưởng, Thành Phần, Bá Trung Phụ, Lộ Minh Trại, Phú Văn Hẳn, Trượng Văn Tốn, Thuận Thị Trụ, Nguyễn Thị Bạch Cúc. Trong số 12 trí thức này, một người sang Thái Lan đó là Lâm Gia Tịnh. Số còn lại sang Mã Lai trong chương trình Po Dharma. Nhưng đây chỉ là chương trình của viện nghiên cứu của Pháp và Mã Lai giúp đỡ một số nhà nghiên cứu hay trí thức Chăm nhằm mở rộng kiến thức về văn hóa và văn học Chăm mà thôi. Nếu 12 người Chăm này bị Po Dharma lôi kéo để chống Ðảng và Nhà Nước, tại sao tập thể tác giả không đưa ra một minh chứng nào, trước khi kết tội hay chụp mũ họ?
Ngoài 12 nhà trí thức Chăm, Po Dharma cũng mời một số người Kinh sang Mã Lai trong chương trình nghiên cứu khoa học và văn hóa Champa, trong đó có Lưu Trần Tiêu (thứ trưởng Văn Hóa), các nhà nghiên cứu như Mạc Ðường, Phan Xuân Biên, Phan An, Hải Liên, Nguyễn Văn Lịch, Võ Công Nguyện, Trần Kỳ Phương, Trương Hiến Mai. Tại sao tác giả không đặt vấn đề gì về 9 người này, có chăng vì họ là người Kinh?
Nhóm đối lập trong nước
Trang 217, tập thể tác giả nêu ra vấn đề nhóm đối lập trong nước và cho rằng: “trước sự tác động của các thế lực thù địch bên ngoài và ảnh hưởng của nhân tố tiêu cực bên trong, ở vùng dân tộc Chàm trong nước cũng xuất hiện những đối tượng có tư tưởng, hoạt động đối lập với chế độ ta, tiếp tay cho các đối tượng bên ngoài dưới nhiều hình thức”.
Ðảng và Nhà Nước có mạng lưới công an vô cùng tinh vi so với các quốc gia ở Ðông Nam Á. Nếu có những tổ chức phá hoại này của người Chăm, thì ít ra công an phải biết và đã dùng biện pháp tiêu diệt họ đi. Có chăng các vị giáo sư-tiến sĩ này đang tạo dựng ra những hiện tượng hư ảo hầu chụp mũ kết tội những người Chăm vô tội?
Tôn giáo
Ðề cập đến tôn giáo, tập thể tác giả này đã nêu ra trong trang 219 : “đến năm 1997, tại Việt Nam có 10 đại sứ quán của các quốc gia Hồi giáo. Các cơ quan này đã có nhiều hoạt động liên hệ và chỉ đạo, hỗ trợ cho các chức sắc Hồi giáo người Chàm (...) bảo trợ, cấp học bổng cho một số thanh niên Chàm ra nước ngoài đào tạo và cho tiền xây dựng thánh đường Hồi giáo (...). Năm 1990, các thánh đường Hồi giáo ở An Giang đã nhận được của nước ngoài số tiền trị giá hơn 2.500 triệu đồng Việt Nam để phục vụ cho hoạt động tôn giáo”.
Nếu cho rằng đại sứ quán của các quốc gia Hồi Giáo ở Việt Nam cấp học bổng cho sinh viên Chăm ra nước ngoài và giúp tiền cho thánh đường Hồi Giáo ở An Giang là việc phi pháp thì ít ra Ðảng và Nhà Nước phải trục xuất họ ra khỏi Việt Nam thể theo quy luật ngoại giao hiện hành. Người Chăm có tội gì là phi pháp trong chương trình giúp đỡ này?
Trang 219, tác giả cho rằng: “một số chức sắc cầm đầu Hồi Giáo lấy danh xưng tôn giáo đẩy mạnh hoạt động móc nối với các cá nhân, tổ chức Hồi Giáo quốc tế để liên hệ xin kinh sách, tiền tài trợ”.
Ðây cũng là một nhận định ẩn ý những lời lẽ mang tính cách kỳ thị tôn giáo. Hàng triệu người Kinh theo Phật Giáo, Kitô Giáo cũng xin kinh sách và tiền tài trợ nước ngoài để phát triển tôn giáo của mình, tại sao các vị giáo sư-tiến sĩ này không đặt vấn đề?
Trang 220, tác giả còn cho rằng, Chăm Hồi Giáo còn lập ra: “tổ chức bịp bợm hợp pháp, như: “Liên minh các thánh đường Islam tại Việt Nam” để quan hệ (...) một số tổ chức đại diện ngoại giao ở Việt Nam nhằm yêu cầu can thiệp với chính phủ Việt Nam cho người Chàm tín đồ Islam được công nhận là ngoại kiều. Ðặc biệt nghiêm trọng, một số tên cầm đầu trong Hồi giáo Islam đã kích động dấy lên chiến dịch đăng ký xin “phục hồi quốc tịch Malaixia”, “xin xuất cảnh tập thể sang Malaixia”.
Hiện tượng này cũng thường xảy ra ở những nước độc tài đảng trị mà quần chúng không còn tin tưởng vào tập đoàn lãnh đạo của họ nữa. Nếu người Chăm xin xuất cảnh tập thể như các vị tác giả đã nêu ra, có chăng vì cộng đồng người Chăm Hồi Giáo không còn tự do để hành đạo của họ nữa, hay là họ không còn tin vào chính quyền Việt Nam nữa? Tại sao dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, người Chăm Hồi Giáo không bao giờ xin chạy trốn ra nước ngoài? Ðó cũng là điều đáng suy nghĩ.
Trang 220, tác giả viết rằng: “đạo Kitô (Thiên chúa và Tin lành) đang đẩy mạnh hoạt động xâm nhập, phát triển vào vùng dân tộc Chàm. Giáo hội Thiên chúa giáo chủ trương cho một số giáo sĩ học tiếng Chàm để phục vụ cho việc phát triển đạo này (...), đầu tư kinh phí tài trợ (...) để lôi kéo lớp trẻ trong người Chàm theo đạo của họ. Bằng thủ đoạn trên, trong thời gian qua họ đã lôi kéo được gần 6.000 người Chàm ( chiếm 5% dân số ) theo Thiên chúa và Tin lành”.
Theo luật pháp hiện hành ở Việt Nam, ai cũng có quyền học và nói tiếng Chăm. Một số giáo sĩ Thiên Chúa học tiếng Chăm là một vinh dự lớn cho ngôn ngữ này chứ không phải là một thái độ thù địch.
Theo tập thể tác giả, chưa đầy 20 năm sau ngày giải phóng, gần 6.000 người Chăm đã bỏ tín ngưỡng cha ông của mình để theo Công Giáo và Tin Lành. Ðây là một hiện tượng đáng suy nghĩ. Vì không thể đi sâu vào chi tiết của vấn đề quá khó khăn này, chúng tôi chỉ đặt ra hai nghi vấn ở đây. Có chăng vì quá nghèo đói dưới chế độ Chủ Nghĩa Xã Hội, một số người Chăm (chứ không phải tất cả người Chăm) phải bỏ tín ngưỡng tổ tiên của mình để theo một tín ngưỡng khác hầu tìm một ít lương thực, một vài chén cơm để sống qua ngày? Có chăng vì mọi giá trị cơ bản của tổ chức xã hội và gia đình người Chăm hoàn toàn bị sụp đổ, hoàn toàn thay đổi sang một trạng thái khác sau ngày giải phóng 1975, là nguyên nhân chính đáng đã đưa đẩy dân tộc Chăm phải bỏ đạo truyền thống của mình?
Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, không nghe ai nói người Chăm bỏ tín ngưỡng của mình đi theo đạo khác. Và hơn mười mấy năm ở Việt Nam, linh mục Moussay, cũng là nhân vật có ảnh hứởng lớn trong cộng đồng người Chăm, chưa bao giờ chinh phục được người Chăm nào theo Công Giáo của mình. Tại sao dưới chế độ Chủ Nghĩa Xã Hội, tập thể tác giả cho rằng có gần 6.000 người Chăm đã bỏ tín ngưỡng cha ông của mình để theo tôn giáo khác. Ðó mới là vấn đề cấp bách cần đặt ra.
Ý thức quan hệ dân tộc Kinh-Chăm
Trang 221-222, các vị giáo sư-tiến sĩ cho rằng : “hơn 70 năm qua (...) những mặc cảm trong mối quan hệ dân tộc, nhất là quan hệ Kinh-Chàm (...) vẫn còn tồn tại trong tâm khảm một bộ phận người Chăm. Nó tạo ra một sự nhạy cảm đặc biệt ở dân tộc này (...). Nó khuyếch đại những mâu thuẫn xích mích và cả những tai nạn rủi ro trong đời sống thường ngày trở thành vấn đề quan hệ dân tộc, vấn đề chính trị. Một số vụ bắn nhằm trong lúc đi săn hay cướp bóc làm thiệt mạng người Chăm, đều bị xuyên tạc là do người Kinh cố ý giết hại. Các vụ đào bới mồ mã để lấy tài sản, các vụ mất cổ vật hay di sản văn hóa ở các tháp Chàm (...) cũng bị xuyên tạc, kích động, cho thủ phạm là người Kinh”.
Ðây là một vấn đề thực tiễn duy nhất mà 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã nhìn thấy trong tác phẩm này. Tiếc rằng, tác giả cho đây là vấn đề khủng hoảng giữa người Chăm và người Kinh. Ðối với chúng tôi, đó là sự mâu thuẫn và nghi kỵ trong mối quan hệ giữa dân tộc Chăm và chính quyền Việt Nam thì đúng hơn.
Một khi chung sống trong một khu vực Phan Rang và Phan Rí, vừa chật hẹp vừa khô cằn sỏi đá, sự xích mích và hiểu lầm nhỏ nhoi giữa người Chăm và Việt, hai dân tộc không cùng một nền văn hóa và văn minh, là một điều không thể tránh khỏi trong qui luật xã hội. Nhưng không vì thế mà hai dân tộc Chăm-Việt lại hận thù nhau. Bằng chứng cụ thể là người Chăm và Việt vẫn sống trà trộn với nhau, có sự liên hệ mật thiết với nhau trên mặt tình cảm và cùng chung sống với nhau trong một không khí rất là bình thường. Người ta còn ghi nhận rằng là có nhiều cặp vợ chồng Chăm-Việt đã từng xãy ra và người Chăm có rất nhiều bạn bè người Việt, ăn cơm Việt, nói tiếng Việt. Một số người Chăm, nhất là giới trẻ, còn thích ăn mặc theo người Việt, nghe câu thơ lời hát bằng tiếng Việt còn hơn tiếng Chăm của họ.
Những hiện tượng mà chúng tôi vừa trình bày đã cho độc giả thấy rõ là không có sự hận thù, nghi kỵ và mâu thuẫn giữa dân tộc Chăm và dân tộc Việt như 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã mô tả. Ngược lại, môi trường chính trị sau ngày giải phóng 1975 đã tạo ra mối quan hệ vô cùng căng thẳng giữa chính sách dân tộc của Ðảng và Nhà Nước đối với người Chăm, mà chúng tôi xin tạm gọi đó là “mối quan hệ Chăm-chính quyền Việt Nam”.
Lúc ban đầu, sự khủng hoảng này chỉ thể hiện qua sự nghi kỵ và ngờ vực của người Chăm đối với chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa đến với họ quá bất ngờ, trong một thời điểm vô cùng hoang mang và sợ sệt vì sự thay ngôi đổi chúa ở miền nam vào năm 1975. Sự nghi kỵ và ngờ vực này càng khuyếch đại lên thành những mối mâu thuẫn và đối nghịch, một khi Ðảng và Nhà Nước áp dụng chính sách biến dân tộc Chăm thành một “công dân mới” của Xã Hội Chủ Nghĩa qua chương trình cải tạo, tịch thu tài sản, trưng dụng đất đai, ngăn cấm việc hành đạo, đào thải văn hóa truyền thống mà Ðảng và Nhà Nước cho đó là mê tín dị đoan, bãi bỏ biên giới đất đai thần quyền (đất đai của đền tháp chẳng hạn) .v.v... Kể từ đó, mối quan hệ giữa người Chăm và chính quyền Việt Nam trở thành hai “đối tượng thù địch”, không phải vì vấn đề chủng tộc Chăm-Việt như 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã đưa ra, mà vì một số điểm trong chủ thuyết chính trị Xã Hội Chủ Nghĩa không phù hợp với cơ cấu tổ chức cổ truyền người Chăm, nhất là không phù hợp với tâm tính người Chăm, một dân tộc đã ý thức rõ rệt rằng họ là người vong quốc, nhưng họ không bao giờ chấp nhận với bất cứ giá nào quyền thống trị của dân tộc khác trên định mệnh của mình. Ðể định nghĩa cho hiện tượng này, chúng tôi tạm gọi đó là “ý thức hệ chống áp bức” của người Chăm hơn là “ý thức hệ quốc gia” đòi quyền tự trị hay phục hưng vương quốc Champa như 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã đề cập.
Ngoài một số điểm trong chủ thuyết Xã Hội Chủ Nghĩa không phù hợp với truyền thống cơ bản người Chăm, Ðảng và Nhà Nước lại giao cho giai cấp lãnh đạo người Việt ở địa phương toàn quyền để thống trị người Chăm qua nhiều hình thức và trong nhiều mô hình khác nhau, từ hâm dọa đến nghi ngờ chụp mũ dân tộc này một các tùy tiện, dù họ là người vô tội. Các lực lượng công an và giới lãnh đạo này có quyền quyết định truy nã và bắt bớ giam cầm người Chăm trong bất cứ lúc nào khi họ cần, không phải vì người Chăm vi phạm luật pháp Việt Nam hay chống Ðảng và Nhà Nước, nhưng vì người Chăm này không chấp nhận thái độ hách dịch của họ, lối tham nhũng trắng trợn của họ hay là phương cách lợi dụng danh nghĩa của Ðảng và Nhà Nước để đàn áp người Chăm vô tội. Kể cả 23 vị giáo sư-tiến sĩ, dù họ không phải là thẩm phán quan tòa, cũng có chức năng để vu khống và chụp mũ người Chăm là nhóm nuôi dưỡng tư tưởng phục quốc Champa, kết tội dân tộc Chăm là dân tộc phản động !. Nhưng rồi, người Chăm vô tội này tìm thấy ở đâu là bóng hình của Ðảng và Nhà Nước để mà cầu cứu.
Một số trí thức người Chăm ở hải ngoại cho chúng tôi biết rằng mọi thống khổ cơ cực, mọi sự bất công và áp bức mà dân tộc Chăm đang gánh chịu sau ngày giải phóng không bao giờ được Ðảng và Nhà Nước lắng tai nghe, nghĩ đến hay biết đến. Mặc dù người Chăm đã kêu van về sự bất công, áp bức tại địa phương, từ vụ giết hại người Chăm, cướp bóc làm thiệt mạng người Chăm, vụ đào bới mồ mã người Chăm, vụ xe cán người Chăm, đến vụ một số nhà lãnh đạo địa phương vu khống và kết tội người Chăm không bằng chứng .v.v..., mà 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã đưa ra, nhưng Ðảng và Nhà Nước chỉ biết làm ngơ, không trả lời và cũng không giải quyết.
Ðiều mà chúng tôi xin khẳng định ở đây, đó là không có tư liệu nào chứng minh rằng Ðảng và Nhà Nước ra lệnh cho 23 vị giáo sư-tiến sĩ kết tội dân tộc Chăm. Ngược lại cơ quan kiểm duyệt của Ðảng và Nhà Nước cho phép xuất bản bài nhận định của 23 vị giáo sư-tiến sĩ này. Giấy phép xuất bản đăng trong tác phẩm này là một bằng chứng cụ thể. Ðối với độc giả, nếu cơ quan kiểm duyệt của Ðảng và Nhà Nước cho phép xuất bản tác phẩm này có nghĩa là Ðảng và Nhà Nước cũng đã chấp thuận, dù là gián tiếp, quan điểm bôi nhọ người Chăm của 23 vị giáo sư-tiến sĩ là đúng sự thật, không đi ngược lại với quy luật nhân quyền và pháp lý ở Việt Nam. Sự đồng ý của cơ quan kiểm duyệt của Ðảng và Nhà Nước đã đưa độc giả đặt lại bao nghi vấn ở đây: có chăng người Chăm này chỉ là công dân ngoại lệ của đất nước Việt Nam, thành vậy bất cứ ai thuộc thành viên của Ðảng, dù họ là nhà khoa học hay người viết lách, đều có quyền kết tội, chụp mũ và bôi nhọ dân tộc Chăm theo thiển ý của mình?
Sự im lặng của luật pháp Việt Nam đối với nội dung tác phẩm này càng gây thêm sự mâu thuẫn, nghi kỵ trong mối quan hệ dân tộc Chăm-Ðảng và Nhà Nước. Nó càng khuyếch đại thêm bao sự uất ức trong tâm khảm của giới trí thức người Chăm, vì quá tủi thân và đau buồn cho số mệnh của một dân tộc vong quốc. Sự kiềm chế và áp bức qua nhiều hình thức khác nhau sau ngày giải phóng càng châm ngòi thêm sự thù hằn, mất lòng tin hay yếu tố nghi kỵ của người Chăm đối với Xã Hội Chủ Nghĩa, càng làm tăng thêm lòng nuối tiếc của dân tộc Chăm đối với chế độ Việt Nam Cộng Hòa, một chế độ dù sao đi nữa, cũng hiểu được tâm tính người Chăm, giải quyết nguyện vọng của người Chăm, luôn luôn cho người Chăm một tiếng nói thật sự trong mọi tổ chức xã hội và chính trị ở Việt Nam thời đó.
* * *
Mấy vấn đề về quan hệ ở một số vùng dân tộc thiểu số. II.- Vùng dân tộc Chàm đúng ra phải là một bài nhận định khoa học về mối quan hệ dân tộc Chăm-Kinh. Tiếc rằng, bài nhận định này trở thành một văn chương thù hằn và khiêu khích, nhằm chỉ mặt đặt tên cho dân tộc Chăm mà tác giả gọi đó là “các thế lực thù địch”. Tác giả dùng bao cụm từ vô cùng khắt khe để ám chỉ tâm tính người Chăm, ẩn chứa bao lý luận vừa thách đố vừa khinh bỉ dân tộc này, bộc lộ lối hành văn vô cùng thô bạo để phản ảnh quyền lực của dân tộc Kinh đa số.
Sau năm 1975, mọi định mệnh tương lai của dân tộc Chăm không còn trong bàn tay họ nữa. Sống trong một đất nước Việt Nam “độc lập, tự do và dân chủ”, trong một quốc gia Xã Hội Chũ Nghĩa, người Chăm chỉ là một “công dân ngoại lệ”. Mọi nguyện vọng của họ, dù đó là vấn đề chỉ liên quan đến đời sống kinh tế, giáo dục, xã hội, tôn giáo hay tinh thần, cũng bị hiểu lầm, chụp mũ hay gạt bỏ. Họ là công dân Việt Nam, nhưng họ không được luật pháp Việt Nam che chở dù họ không có tội gì, và cũng không được Ðảng và Nhà Nước đùm bọc, dù họ có than van bao nhiêu đi nữa. Nếu có một pháp lý rõ ràng ở Việt Nam về luật nhân quyền của một công dân và nếu pháp lý này cho rằng danh dự của một dân tộc hay của một cá nhân là quyền bất khả xâm phạm, chúng tôi tin rằng tác phẩm của 23 vị tiến sĩ-giáo sư không thể ra mắt với độc giả được.
Bài nhận định còn có một mục tiêu khác đó thông tin rằng dân tộc Chăm có tư tưởng cực đoan, kỳ thị dân tộc Kinh, là một trong “bốn dân tộc phản động” có sự liên hệ mật thiết với các “thế lực thù địch” bên ngoài nhằm chống Ðảng và Nhà Nước, tìm cách lật đổ chính quyền Việt Nam. Tiếc rằng đây chỉ là một lối suy diễn để kết tội một cách tùy tiện cho dân tộc Chăm, chứ không phải là quan điểm nghiêm túc hay nhận định khách quan của các nhà nghiên cứu về xã hội người Chăm nữa. Mặc dù trong ban biên tập này có một số giáo sư như Mạc Ðường, Phan An, Phan Xuân Biên, được xem như là chuyên gia về văn hóa và xã hội của dân tộc Chăm, nhưng tác phẩm này đã đưa ra bao quan điểm hoàn toàn đi ngược lại với lịch sử hiện đại của dân tộc Chăm trong buổi ban đầu của thế kỷ thứ 21 này.
Cũng nhìn qua nội dung bài nhận định, độc giả có cảm tưởng rằng tập thể tác giả đang viết một bản tuyên cáo chống người Chăm, chứ không phải là bài viết khách quan về người Chăm. Lợi dụng ngòi bút và dựa vào “thế lực khoa học”, tập thể tác giả này đánh giá tư tưởng và hành động của người Chăm một cách tùy tiện, không đi tìm nguyên nhân sâu xa để giải thích tại sao mối quan hệ giữa dân tộc Chăm và nhà nước Việt Nam trở thành hai “đối tượng thù nghịch”, và tại sao dân tộc Chăm không còn tin vào chính sách của Ðảng và Nhà Nước nữa? Tác giả đưa ra bao quan điểm sai lầm về tổ chức “người Chăm lưu vong”, coi đó là những đối tượng chống cách mạng, muốn phục quốc Champa, nhưng tác giả không đưa ra một minh chứng nào để giải thích cho lý luận của mình. Tác giả chỉ lấy hiện tượng làm bản chất, dùng bao cụm từ vừa tinh vi vừa thô bạo để chụp mũ và khủng bố người Chăm hơn là đi tìm minh chứng cụ thể để phân tích hiện tượng mất lòng tin của dân tộc Chăm đối với Ðảng và Nhà Nước.
Ðối với người Chăm, vì bị kết tội, bị vu khống và bị chụp mũ, bài nhận định này có chăng chỉ làm bùng cháy thêm lòng câm hờn của họ đối với Ðảng và Nhà Nước? Tăng cường thêm bản chất hận thù giữa hai dân tộc Kinh-Chăm? Qua phong cách hành văn thô bạo, dùng cụm từ khắt khe để kết tội người Chăm một cách phi khoa học, độc giả có cảm tưởng rằng có chăng các vị giáo sư-tiến sĩ này đang lột bỏ đi bộ áo khoa học để ôm ấp tư tưởng dân tộc lớn của người Kinh và thái độ tự cao trịch thượng của người Kinh để đánh giá tâm lý người Chăm vong quốc hôm nay. Có chăng thái độ này chỉ làm cho người Chăm càng có tư tưởng khép kín trong sự tự ti mặc cảm đối với Ðảng và Nhà Nước?
Người Chăm rất thật thà nhưng rất là nhạy cảm. Họ không bao giờ hiểu nổi tại sao Ðảng và Nhà Nước luôn luôn chủ trương đoàn kết dân tộc, nhưng ngược lại Ðảng và Nhà Nước cũng cho phép xuất bản tác phẩm này với mục tiêu để bôi nhọ và chụp mũ dân tộc Chăm vô bằng chứng. Có chăng chủ trương đoàn kết và hoà đồng dân tộc của Ðảng và Nhà Nước chỉ là một chính sách mị dân?
Bài nhận định này còn có một tác hại khác, đó là đưa độc giả người Kinh càng câm thù người Chăm thêm nữa, càng nghi nghờ người Chăm là những kẻ phản bội Ðảng và Nhà Nước đã cưu mang đùm bọc dân tộc này, là những kẻ theo “các thế lực thù địch” bên ngoài chống lại cách mạng.
Ở các nước tự do trên thế giới, dùng ngòi bút để chụp mũ hay bôi nhọ một cá nhân hay một tập thể dân tộc khác là điều cấm kỵ trong luật pháp. Không ai dám làm chuyện này. Chính vì thế, sự ra đời của tác phẩm này càng làm tăng cường thêm số lượng độc giả đứng ra bênh vực dân tộc Chăm hơn là lên án người Chăm vô tội. Và sự ra đời của tác phẩm này còn có một tác hại quan trọng khác đó là tập thể tác giả này, vì vô tình hay cố ý, tự đứng ra để mô tả lại chính sách thống trị của Ðảng và Nhà Nước đối với dân tộc thiểu số ở miền trung Việt Nam.
Dựa trên những dữ kiện mà tập thể tác giả này đã đưa ra trong tác phẩm này, chúng tôi cho rằng hiện tượng thù nghịch giữa người Chăm và Chủ Nghĩa Xã Hội đã bộc phát từ ngày giải phóng 1975. Và sự bộc phát này không phải vì người Chăm là dân tộc phản động, nhưng vì họ không hiểu một chút gì về vai trò của Ðảng và Nhà Nước trong “chính sách hòa đồng dân tộc” hay khẩu hiệu “Ðộc Lập, Tự Do và Dân Chủ” mà Xã Hội Chủ Nghĩa đã đưa ra. Một bằng chứng cụ thể đó là cùng chung sống trong đất nước Việt Nam, người Chăm có cảm tưởng rằng họ chỉ là “công nhân ngoại lệ, một nhóm tội phạm hay một khối thù địch”.
Nếu công nhận người Chăm là công dân thật sự của một nước Việt Nam dân chủ và luôn luôn được luật pháp Việt Nam che chở, chúng tôi tin rằng 23 vị giáo sư-tiến sĩ này không dám tạo dựng ra một hiện tượng hoàn toàn hư ảo để lên án dân tộc Chăm hoàn toàn vô tội, một dân tộc chỉ có 100.000 người, không nhà lãnh đạo và cũng không có một tổ chức tập thể vững chắc, đang trôi dạt nhấp nhô trên sóng bể đại dương mà người ta sẽ không còn biết họ là ai nữa trong thế kỷ thứ 21 này. Ðó mới là vấn đề thực tiễn cấp bách của người Chăm hôm nay.
PGs. Po Dharma
Viện Viễn Ðông Pháp
07/29/09. 09:18:35 am. 14917 words, 921 views. Categories: Không ðề, Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Liên kết blogs, Lịch sử và ðịa dư Việt Nam, Phan Rang kỷ niệm, Luận bàn văn chương, Xã hội và nhân văn ,
HAI CUỘC ĐIỆN THOẠI BẤT NGỜ

Nọc độc của XHCN - Ảnh babui, DCV Online
Hai Cuộc Điện Thoại Bất Ngờ
Đăng bởi vantuyen.net
Tháng Bảy 28, 2009
13h ngày 28/07/2009 tôi nhận được cú điện thoại số 0979633002 vang lên bên đầu dây kia là giọng thanh niên người bắc đang còn ngái ngủ, đối thoại với tôi mà không nói rõ họ tên,
0979633002: A lô có phải chị Nguyễn Thu Trâm không?
TT: vâng tôi đây xin hỏi ai vậy?
0979633002: tôi là một người yêu nước, tôi có đọc tin tức chị trên trang web.
TT: cảm ơn bạn. Nhưng bạn là ai vậy? bạn là công an mạng phải không?
0979633002: tôi không phải công an mạng.
TT: cho dù bạn là công an mạng tôi cũng không sợ đâu.
0979633002: tôi chỉ là một người yêu nước.
TT: nếu bạn là người yêu nước, bạn có tham gia phòng trào đấu tranh chưa?
0979633002: tôi không có tham gia phong trào. tôi muốn khuyên chị đừng có hoài bão về một Việt Nam Cộng Hòa.
TT: tôi không hoài bão về VNCH, tôi đang hoài bão cho hiện tại và tương lai thôi, tôi cám ơn bạn công an mang đã nhắc nhở tôi nhé!! Là người yêu nước với hiện tình đất nước như ngày hôm nay. Tôi đấu tranh góp bàn tay cùng quý anh chị đấu tranh dành lại tự do thật sự cho quê hương mình. Không như những kẻ hèn nhát không dám lên tiếng nói, những kẻ thật hèn…
Tôi cúp máy, liền lúc đó tiếng điện thoại vang lên, luật sư Bùi Kim Thành một nữ luật sư đấu tranh miễn phí vì dân oan vang lên, tôi và cô BKT sau vài phúc trao đổi, tôi và cô BKT tạm biệt nhau, điện thoại tôi lại reo liên tục, lần nầy là điện thoại giấu số cũng là tiếng thanh niên vang lên bên đầu dây kia.
Kẻ Dấu Mặt: A-lô cô Trâm phải không, tôi khuyên cô nên dừng lại nếu không cô sẽ không được yên đâu!
Chưa đợi tôi trả lời kẻ lạ mặt cúp máy, kẻ lạ mặt xử dụng số điện thoại ảo kia là ai?? Là người trong nước xử dụng số điện thoại cố định của thuê bao trả sau mới có thể giấu số như vậy? nhưng hắn ta là ai? Làm cán bộ ngành an ninh? Hay một tên lưu manh nào đó đã bị mua chuộc để đe dọa tôi??? Tôi còn đang phân vân suy nghĩ thì nhận được tin nhắn của điện thoại số 0979633002, nội dung tin nhắn như sau.
Tin thứ nhất: "tôi là người dân bình thường, tôi cũng thuộc thế hệ 8x cũng có ước mơ hoài bão của mình, cũng đang ra sức xây dựng đất nước văn minh giàu mạnh, trong khi đó thì có một bộ phận nhỏ những kẻ cơ hội như Chị, Lê Công Định, Lê Thi Công Nhân, lại ra sức hò hét và cổ vũ cho cái gọi là dân chủ, tự do vớ vẫn theo nhận thức của các người, tôi chỉ tình cờ vào trang mạng, phải đễ bẩn mắt vì những dòng phát ngôn của mấy người"...
Dòng tin thứ hai: "tôi là người phải tỉnh ra hay là Chị, một kẻ được thế lực phản động lưu vong nhồi nhét vào đầu những tư tưởng không bình thường! xin lỗi người như các người không đáng để tôi ( nc)."
Sau đây là vài lời muốn gửi gắm đến bạn có số điện thoại 0979633002, tôi không biết bạn là ai? Công an mạng hay an ninh gì gì đó, tôi xin hỏi bạn nếu bạn nói bạn thuộc thế hệ 8X, bạn đang xây dựng đất nước nơi đâu ?? Bạn yêu nước thật sự bạn nghĩ gì với việc Đảng Cộng Sản Việt Nam, giao Ải Nam Quan cho Tàu phù? Cảm nghĩ của bạn như thế nào khi nhà cầm quyền nô bộc không dám lên tiếng bảo vệ Ngư Dân trên Biển Đông? Tôi hỏi bạn, Trường Sa Hoàng Sa của VN hay TQ?? Hoàng Sa Trường Sa do ai, vì ai mà nước anh em theo lời của bác Hồ Chủ Tịch của bạn đã gọi một cách thân thương đến không biết xấu hổ... ai giao cho Trung Quốc vậy thưa bạn có số điện thoại trên??
Bạn yêu nước! vậy tôi hỏi bạn, bạn có lo lắng cho nhân dân Tây nguyên không?? Từ an sinh đến đời sống, nhân dân Tây nguyên theo tôi quanh năm sống bằng nghề trồng tiêu, trồng café, trồng chè, nghề trồng trọt trên đã là nghề gắn bó quanh năm với bà con vùng cao, nhờ vào cây tiêu, cây café mà bà con quanh vùng cải thiện được đời sống, bây giờ cho khai thác boxit có phải trái nghề với nhân dân hay không?? Và sẽ tao nên bầu không khí ô nhiễm môi trường do khói bụi, ban có suy nghĩ gì đến điều đó chăng? Bạn chỉ cần trả lời tôi qua những trang web miễn nhắn tin qua điện thoại bạn nhé
Nhân đây tôi cũng xin trả lời bạn rằng, tôi không bị người Việt phản động nào theo cách nhắn tin của bạn và Nhà cầm quyền cộng sản thường gọi bằng một cách (trìu mến) là bọn phản động lưu vong, nào lôi kéo hay nhồi nhét cả, nếu bạn biết bọn phản động lưu vong ở đâu, và có những tổ chức gì, đảng phái gì xin bạn giới thiệu cho tôi nhé vì tôi củng đang muốn tham gia với họ...
Câu trả lời thứ hai ? Tôi không phải là người sống cho quá khứ, nên tôi không có hoài bão về một VNCH, như lời bạn nói, nếu là VNCH hay CSVN đảng nào lo được cho nhân dân thì đâu có cuộc đấu tranh vớ vẫn như bạn nhắn tin cho tôi đúng không bạn, chúng tôi theo bạn nhắn tin là anh Lê Công Định, chị Lê Thị Công Nhân, là kẻ cơ hội hay là những tên chóp bu những tên tay sai cộng sản cơ hội cái đó để dư luận lên tiếng, thế giới lên tiếng. bạn thật là hèn, và ngay cả đảng cộng sản của bạn cũng thật là hèn, Nhà cầm quyền cộng sản dám đối thoại trực tiếp với các nhà dân chủ không? Tại sao các nhà dân chủ dám công khai đấu tranh, công khai khiêu khích có một cuộc đối thoại, thì phía lãnh đạo cộng sản lại làm thinh chứ, tôi mong các anh công an mạng, các anh tay sai công sản, các anh đảng viên sai đường lạc lối, hãy quay về chính nghĩa bảo vệ non sông, và thả các nhà dân chủ ra khỏi nhà tù nhỏ đễ tiếp tục công việc đấu tranh chống lại bạo quyền cộng sản Việt nam, cứu nhân dân thoát khỏi nhà tù lớn...
Việt Nam, Bình Dương, Thủ Dầu Một
Nguyễn Thu Trâm
07/29/09. 07:35:27 am. 1807 words, 74 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Thiên hạ sự, Nối vòng tay lớn, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn ,
ĐỌC LẠI BÀI "UNESCO PHỦ NHẬN HỒ CHÍ MINH LÀ NHÀ VĂN HÓA THẾ GIỚI" ĐỂ RÚT KINH NGHIỆM

Hồ chí Minh tên cáo già gian ác - Trích một phần hí họa của Uluschak, Edd - SFU
--------------------------------
Không bao giờ chờ nước đến chân mới nhảy
Không để bị đặt trước một việc đã rồi
Ngủ say trên chiến thắng tạm thời, khi tỉnh dậy đã thành hậu họa
Ngày nào còn cộng sản, còn phải lo toan kế sách trường kỳ chiến đấu.
-------------------------------------------
UNESCO phủ nhận Hồ Chí Minh là nhà văn hóa thế giới
Saturday, 8 September 2007, 11:01:07
Mười năm sau, báo An ninh thế giới, số 177 xuất bản tại Hà nội cho đăng một bài với tựa "Bảo vệ lể kỷ niệm 100 ngày sinh của bác Hồ ở trụ sở UNESCO (Pháp)."
Tại sao ‘bảo vệ’? Nếu lễ sanh nhựt 100 năm của HCM được UNESCO tổ chức thì không cần phải bảo vệ bởi phía Tòa Đại sứ Hà nội, bởi vấn đề an ninh đã thường xuyên được UNESCO đảm trách.
Phải bảo vệ như lời tựa của bài báo viết ( báo công an) vì buổi lể kỷ niệm ấy thật sự không được UNESCO tổ chức mà hoàn toàn do Tòa Đại sứ Hà nội tự lo liệu.
Diễn tiến sự việc:
Năm 1987, Đại hội đồng UNESCO đã chấp thuận một quyết nghị tôn vinh Hồ Chí Minh là danh nhơn thế giới (nhà giải phóng dân tộc, nhà văn hóa). Theo quyết nghị này, UNESCO sẽ trợ cấp cho Hà nội một ngân khoản để tổ chức lể kỷ niệm 100 năm taị trụ sở UNESCO. Hà nội, ấn hành tranh ảnh, sách báo nói về sự nghiệp văn hóa và giải phóng của lão. Riêng UNESCO tại Paris cũng sẽ tổ chức lể kỷ niệm tại trụ sở với sự tham dự của Ban lãnh đạo UNESCO, đại diện chánh phủ Pháp và Thị xã Paris.
Sở dỉ Quyết nghị này được thông qua dễ dàng ở Đại hội đồng vì ông M’Bow, một người Phi châu da đen, làm Tổng Giám đốc UNESCO có xu hướng thân Cộng sản đã tích cực vận động các thành viên trong UNESCO.
Ngay khi Quyết nghị vừa được phổ biến, cộng đồng người Việt tại Paris liền lập tức họp nhau lại để tìm phương cách phản đối UNESCO.
Một tổ chức thành hình: ỦY BAN TỐ CÁO TÔI ÁC HỒ CHÍ MINH gồm một Tổng Thư Ký và nhiều Ủy Viên. Ông Nguyễn Văn Trần được các thân hữu ủy nhiệm làm Tổng Thư Ký với sự hợp tác trợ lực tích cực của các ông Trần Văn Ngô, Chu Vũ Hoan, Nguyễn Thừa Thính, Nghiêm Văn Thạch, Vũ Hạ ... Ủy Ban Vận động kiều bào ở khắp nơi: Hoa Kỳ, Úc, Canada và Âu Châu, viết thư cho UNESCO phản đối Quyết nghị sai lầm kia và vạch trần tội ác Hồ Chí Minh từ khi nắm chánh quyền ở Hà nội và của chế độ qua các biến cố cụ thể như các vụ: Nhân Văn Giai Phẩm, Cải Cách Ruộng Đất, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, vụ thảm sát Mậu Thân Huế và ở miền Nam sau 1975, việc tập trung cải tạo, đánh tư sản mại bản, đày dân đi kinh tế mới, tổ chức vượt biển thu vàng, thảm nạn vượt biển ...
Đồng thời Ủy ban cũng kêu gọi báo chí Việt ngữ hải ngoại phổ biến tội ác của Hồ Chí Minh và chế độ cộng sản Hà nội, viết lại và phổ biến để ngăn chận ảnh hưởng của Nghị quyết UNESCO này.
Ông Nguyễn Văn Trần liên hệ với tướng Simon, chủ tịch Ủy Ban Tương trợ Việt-Miên-Lào và chủ tịch Hội cựu Đông Dương ANAI, để kêu gọi Hội cựu chiến binh Pháp lên tiếng tố cáo tội ác của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản đã vi phạm Nhơn quyền đối với tù binh pháp sau chiến tranh Đông Dương.
Ông Nguyễn Văn Trần liên hệ với Thị xã Paris và một số dân biểu, nghị sĩ Pháp am hiểu về chế độ cộng sản Hà nội để yêu cầu họ đặt những câu hỏi với chánh phủ Pháp tại Quốc hội Pháp để có thái độ đối với Quyết nghị UNESCO, bởi Pháp là quốc gia đón nhận trụ sở UNESCO.
Bức tường Bá linh sụp đổ kéo theo khối Cộng sản Đông Âu đã ảnh hưởng sâu đậm đến nếp suy nghĩ về Cộng sản của các nước Âu châu và của thế giới. Ông Frédéric Mayer, người Tây Ban Nha vừa đắc cử Tổng giám đốc UNESCO. Ông nầy am hiểu cộng sản nên không có xu hướng ủng hộ phe khuynh tả trong UNESCO như ông M'Bow trước kia. Kiều bào Việt nam ở khắp nơi viết thư gởi về UNESCO, có đến hàng hai mươi ngàn thư phản đối, yêu cầu hủy bỏ Quyết nghị. Số thư này được ông Giám đôc trách nhiệm vùng Đông Nam Á ở UNESCO cứ tuần tự đến cuối tuần chuyển đến đại diện Hà nội tại UNESCO.
Ông Nguyễn Văn Trần sưu tầm tài liệu tại các thư viện và văn khố Pháp chứng minh sự đề cao HCM của Hà nội như là một vĩ nhơn là hoàn toàn dối trá. Thân phụ của Hồ Chí Minh say rượu phạt đòn làm chết oan một tội nhơn nên bị mất chức chứ hoàn toàn không vì chống Pháp mà từ quan. Vì không còn nguồn lợi tức để sanh sống và học hành, HCM bỏ vào Phan Thiết nhờ Hội Liên Thành nhận cho dạy học sanh sống qua ngày. Nhưng số học sanh của một tỉnh lẽ lúc bấy giờ không đủ bảo đảm cho y một mức sống ổn định nên năm sau đó y rời Phan Thiết vào Sài gòn để xuống tàu Pháp xin làm phụ bếp cho có đồng lương đều đặn và khá giả hơn.
Hồ Chí Minh xuống tàu Pháp tại bến Nhà Rồng ở Sài gòn hoàn toàn chỉ nhằm tìm kế sanh nhai cho bàn thân và gởi tiền về nước giúp phụ thân thôi.
Vì cha y thuộc diện hành chánh của chánh quyền thuộc địa nên Hồ Chí Minh làm đơn xin ban học bổng để mong sau này "giúp ích Nhà nước Pháp". Đơn xin bị từ chối. Qua các văn kiện do HCM viết và khai báo ghi nhận: HCM có nhiều ngày sanh khác nhau. Ngày chết của y cũng bị Đảng Cộng sản thay đổi: ngày 2 tháng 9 năm 1969 biến thành ngày 3 tháng 9.
Những chi tiết hộ tịch này đã phơi bày sự thiếu chính xác và sự dối trá đã giúp Ủy ban Tố cáo tội ác Hồ Chí Minh thuyết phục UNESCO không thể chấp nhận ngày 19/5 là ngày sanh của HCM. Một cơ quan văn hóa và khoa học của Liên Hiệp Quốc không thể chấp nhận sự dối trá được.
Từ đấy, UNESCO bắt đầu nghi ngờ thành tích của Hồ Chí Minh là "nhà văn hóa" và tin những lời phản kháng của cộng đồng người Việt nam ở hải ngoại, bởi không ai hiểu rõ HCM hơn người Việt Nam và đặc biệt những người Việt Nam nạn nhơn của chế độ Hồ Chí Minh.
Thế là trước ngày 19 tháng 5 năm 1990, ông Nguyễn Văn Trần được mời đến UNESCO cùng với Tướng Simon để UNESCO cho biết quyết định của họ là không thi hành Quyết nghị. UNESCO giải thích là không thể hủy bỏ Quyết nghị được, bởi muốn hủy bỏ phải thông qua Đại Hội dồng, với nhiều thủ tục phiền toái.
Tiếp theo đó, UNESCO thông báo cho Hà nội biết quyết định với những chi tiết như sau:
1/- UNESCO không tổ chức lễ 100 năm của HCM tại Paris và Hà nội.
2/- Cho Tòa Đại sứ Hà nội ở Paris mướn một phòng trong trụ sở UNESCO Paris để tự tổ chức ( Hà nội muốn thuê hai phòng, nhưng không được phòng thứ hai vì bị Ủy ban Tố cáo Tội ác HCM can thiệp ngăn chặn).
3/- UNESCO và chánh quyền Pháp, kể cả Thị xã Paris không tham dự lễ.
4/- Ban tổ chức không được lạm dụng để tuyên truyền chánh trị và đề cao HCM là "nhà văn hóa" theo tinh thần Quyết nghị.
6/- Thiệp mời không được in hình HCM và ghi lễ "sanh nhựt HCM và nhà văn hóa" .. mà chỉ ghi mời " tham dự buổi văn nghệ".
Quyết định không thi hành Quyết nghị của UNESCO với những ngăn cấm như trên đây đã được Văn Chấn, tác giả bài báo của An ninh thế giới, số 177 thừa nhận nguyên văn như sau:
" ... Điển hình là một số người Việt nam lưu vong ở Pháp, Mỹ và một số nước đã tụ tập nhau ở Paris thành lập cái gọi là "Ủy ban chống tôn vinh HCM" ( thật sự là Ủy ban tố cáo tội ác HCM, nhưng tác giả sợ phạm húy nên cải " tố cáo tội ác" thành " chống tôn vinh") do các tên Nguyễn Văn Trần, Nguyễn Thừa Thính, Chu Vũ Hoan.. Chúng tích cực vận động một số nhơn vật hữu phái trong chánh quyền các nước ký tên vào thư yêu cầu Tổng Thư ký UNESCO hủy bỏ quyết định kỷ niệm ngày sanh của bác. Chúng viết bài cho các báo phản động người Việt nam xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời bác...
Đã sắp đến ngày kỷ niệm, nhưng Ban lãnh đạo UNESCO vẫn chưa dứt khoát lại còn gây sức ép thuyết phục ta đồng ý tổ chức kỷ niệm ở bên ngoài trụ sở UNESCO vớí lý do nhiều ý kiến phản đối. Với thái độ kiên quyết của phía ta, lãnh đạo UNESCO chấp nhận một thỏa hiệp: bỏ một vài hoạt động hình thức tuyên truyền chánh trị, không treo ảnh bác trong hội trường, không triển lãm ảnh bác ở hành lang UNESCO, trong giấy mời phải ghi là đến xem văn nghệ,...
Ba ngày trước lễ kỷ niệm, tình hình lại không diễn ra như ta mong muốn. Tổng Thư ký Unesco mời đại diện phía ta đến gặp và yêu cầu hoãn lễ kỷ niệm với lý do ta không giữ đúng lời hứa vì trong giấy mời có in hình bác và ghi " Nhơn dịp kỷ niệm 100 ngày sanh HCM, danh nhơn thế giới" ( Đúng là VẹM )... Cuối cùng ta trả lời với ông Tổng Thư ký là đã thay đổi ... Tuy nhiên ta cho in 100 giấy mời mới thôi (để mời người ngoại quốc) còn giấy cũ gởi cho Liên hiệp Việt kiều yêu nước - hội ngoại vi của Hà nội - phân phối.
Về phần nội dung buổi lễ ta có thay đổi chút ít. Đồng chí Đại sứ của ta không đọc bài diển văn đã dọn sẳn mà thay vào đó Đồng chí Nguyễn Kinh Tài, Đại sứ bên cạnh UNESCO đọc bài diển văn ngắn nói về ý nghĩa lễ kỷ niệm, đọc Quyết định của Đại Hội đồng UNESCO về kỷ niệm 100 ngày sanh của bác. Chủ tịch Hội đồng người Việt tại Pháp ( Hội Liên hiệp Việt kiều yêu nước) phát biểu ý kiến về công lao của bác đối với dân tộc và thế giới, cuối cùng là chương trình xem văn nghệ do đoàn cải lương trong nước phục vụ "
( An ninh thế giới - số 177 trang 14 )
Trong phần cuối Văn Chấn khoác loác hôm ấy có đến "2000 người tham dự nhờ các võ sĩ ngăn chận những người đến phá". Sự thật là hôm ấy không quá 70 người tham dự và hoàn toàn không có ai muốn đánh phá và ngăn chận nhóm "Việt kiều yêu nước " tham dự.
Nhận xét:
- Buổi lễ 19 /5 /1990 hoàn toàn do Tòa Đại sứ Hà nội tại Paris tổ chức trong một căn phòng của UNESCO do họ thuê mướn.
- Không có đại diện của UNESCO và chánh quyền Pháp đến dự.
- Buổi lễ đã không được thực hiện đúng theo tinh thần Quyết Nghị " Hồ Chí Minh là một danh nhơn thế giới" mà chỉ là một buổi trình diển văn nghệ bình thường. ( Đại sứ Phạm Bình của Hà nội không được quyền đọc diển văn và không được quyền nói về HCM như là một danh nhơn).
- Đảng cộng sản Việt nam và nhà cầm quỳên Hà nội đã không biết lấy làm xấu hổ về những hành động lật lọng và gian trá của mình đối với một cơ quan văn hóa quốc tế (vụ tráo trở thiệp mời): đừng nghe những gì CS nói... nhìn những gì CS làm ) mà lại còn khoe khoang đề cao như là một thành tích thắng lợi.
Điểm thiếu sót đáng tiếc của Ủy ban Tố cáo tội ác Hồ Chí Minh là đã không quảng bá sâu rộng thành quả tranh đãu là UNESCO không thi hành Quyết nghị, bởi nghỉ rằng đã thắng lợi như vậy là đủ rồi.
Do đó mà 10 năm sau, Hà nội mới dám lên tiếng khoe thành tích " bảo vệ" lễ kỷ niệm 100 ngày sanh của HCM.
Hồi Nhơn Sơn 31 tháng 5 năm 2003
(một thành viên của Ủy Ban Tố cáo Tội ác Hồ Chí Minh) thuật
07/29/09. 07:24:52 am. 3286 words, 129 views. Categories: Thiên hạ sự, Hậu trường, Liên kết blogs, Ôn cố nhi tri tân, Xã hội và nhân văn ,
GIẢ THIẾT VỀ NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI ĐANG LUNG LAY

TS - Nhà nhân chủng học Chris Beard - Ảnh: AP
Giả thiết về nguồn gốc loài người đang lung lay
Source: AP, VLOS
Cho đến nay, người ta vẫn cho rằng tổ tiên của loài người tiến hoá từ loài vượn ở châu Phi, nhưng từ những hoá thạch khai quật ở Myanmar (Diến Điện), nhà nhân chủng học Chris Beard lại cho rằng quá trình này xảy ra tại Châu Á.
Những hoá thạch mới phát hiện ở Myamar có thể chứng minh rằng tố tiên chung của loài người, khỉ và vượn người đều tiến hoá từ loài linh trưởng ở Châu Á chứ không phải Châu Phi. Phát hiện này được tuyên bố ngày 3/7/2009 vừa qua.
Tuy nhiên, những nhà khoa học khác tuyên bố, tuy phát hiện mới này có ý nghĩa rất lớn nhưng chưa đủ “mạnh” để kết thúc cuộc tranh cãi về nguồn gốc của vượn người – nhóm linh trưởng bao gồm những loài khỉ cổ xưa và con người hiện đại.
TS Chris Beard, một nhà nhân chủng học tại Viện Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Carnegie tại Pittsburgh ( Hoa Kỳ ) và các thành viên trong Đoan khảo cổ đã tìm được các hoá thạch cho biết: Những mảnh hoá thạch gồm xương hàm và răng 38 triệu năm tuổi tìm thấy gần Bagan, miền Trung Myanmar vào năm 2005, thể hiện những nét đặc trưng của loài linh trưởng.
"Khi tìm thấy những hoá thạch này, chúng tôi biết ngay rằng chúng tôi đã phát hiện một loài linh trưởng mới, đồng thời xác định ngay được về cơ bản đó là loài linh trưởng nào” - TS Beard nói trong cuộc phỏng vấn qua điện thoại tại Pittsburgh - “Hàm và răng chứa đầy những thông tin đặc trưng... Chúng giống như những dấu vân tay vậy”.
Các phát hiện này được công bố trên Tạp chí Proceedings of The Royal Society B tại London. TS Beard và Đội khai quật của ông gồm những thành viên từ Pháp, Thái Lan và Myanmar đã kết luận rằng các hoá thạch ấy là di vật của 10 đến 15 cá thể của một loài linh trưởng có tên khoa học là Ganlea megacanina, một loài mới trong họ linh trưởng dạng người ở châu Á đã tuyệt chủng, có tên là Amphipithecidae.
Theo TS Beard, những chiếc răng nanh tìm được đã bị hư hại ít nhiều cho thấy đây là răng của một loài vật giống như khỉ sống ở trên cây có đuôi dài, dùng để cắn vỡ các quả nhiệt đới để ăn thịt, quả và nhân của hạt – cách sinh hoạt ấy tương tự như loài khỉ saki ở Nam Mỹ ngày nay, sống tại lưu vực sông Amazon.
"Không những loài Ganlea trông có dạng người mà còn có cách sinh hoạt tựa như vượn người 38 triệu năm về trước với cách sống rất đặc trưng”, TS Beard nói thêm. 38 triệu năm tuổi – như họ xác định – là trước những hoá thạch dạng người được tìm thấy ở châu Phi và châu Á nhiều triệu năm.

Đoàn khảo cổ tại Myanmar - Ảnh: Carnegiemuseums.org
Vào năm 1994, Beard và các đồng nghiệp Trung Quốc đã tìm thấy xương chân của hoá thạch dạng người Eosimias, một trong những loài linh trưởng nhỏ nhất thế giới, có mặt trên Trái đất từ 40 đến 45 triệu năm về trước và sông lang thang trong những khu rừng ở bờ biển phía đông Trung Quốc. TS Beard cho rằng tuổi của hai loại hoá thạch là dẫn chứng thuyết phục cho giả thuyết của ông nhằm bác bỏ những giả thuyết trước đây cho rằng loài người tiến hoá từ châu Phi, nơi năm 1974 người ta phát hiện ra hoá thạch Lucy chỉ mới 3,2 triệu năm (được khẳng định là “bà tổ” của loài người).
"Hoá thạch Ganlea vừa phát hiện cho phép chúng tôi giả định tổ tiên chung của loài người, khỉ và vượn người ở châu Á chứ không phải ở châu Phi”, TS Beard quả quyết.
Vào tháng 5, các nhà nghiên cứu cũng phát hiện một bộ xương loài linh trưởng có 47 triệu năm tuổi ở Đức, gọi là "Ida" đã khiến người ta bắt đầu có cái nhìn mới vào tổ tiên xa xưa của loài người.
"Chúng tôi vẫn tin rằng Ganlea liên quan nhiều đến tổ tiên của chúng ta hơn là Ida, chỉ tiếc rằng chúng tôi không có cả một bộ xương hoàn chỉnh như Ida”, ông nói.
Jorn Hurum, người đã mang Ida về Viện Bảo tàng Lịch sử tự nhiên thuộc Trường ĐH Oslo, nói rằng kết luận này là quá sớm vì chứng cớ mới chỉ là xương răng và xương hàm. Theo Hurm "Dẫn chứng như vậy là chưa đầy đủ đối với một cuộc tranh luận khoa học. Phải tìm được cả một bộ xương hoàn chỉnh như Ida, mà chắc điều này phải mất hàng trăm năm nữa”. Trong khi đó giáo sư John G. Fleagle, một nhà nhân chủng học tại ĐH Stony Brook, cho rằng việc phát hiện ra Ganlea là rất quan trọng, có thể làm cơ sở cho những giả thuyết mới, song vẫn chưa đủ để nói loài người xuất xứ từ Châu Phi hay Châu Á, thậm chí Ganlea là tiền thân của loài người hay chỉ là họ hàng đầu tiên của vượn cáo (còn gọi là khỉ lemur, hiện sống ở Madagascar).
Ông nói: "Dẫn chứng thuyết phục phải là xương sọ. Nếu không có xương sọ đặc trưng cho khỉ dạng người ở vùng mắt và tai, thì các nhà khoa học vẫn phải tiếp tục tranh luận quanh những sự tương đồng về răng để chỉ ra những thức ăn chung...”
TS Beard tiếp nhận tất cả những ý kiến tranh luận. Tháng Mười một này, ông và Đội khai quật sẽ quay lại Myanmar để tiếp tục tìm kiếm các hoá thạch và các dẫn chứng vượn người tiến hoá ở Châu Á ra sao và di cư sang Châu Phi bằng cách nào. Ông cho biết "Vấn đề là cuộc tiến hoá vĩ đại này khi nào chuyển từ Châu Á sang Châu Phi và chuyển như thế nào. Chúng tôi đang cố gắng chứng minh. Chúng tôi có một đơn vị làm việc ở Myanmar, và đội này đã có kế hoạch về các địa điểm chúng tôi sẽ đến ở Châu Phi và từ đây, chúng tôi sẽ tìm ra một đường dây”.
Tuấn Hà (Theo AP. org)
07/28/09. 08:33:37 am. 1638 words, 267 views. Categories: Khoa học và ðời sống, Khảo cổ và nhân chủng, Liên kết blogs ,
SỰ THẬT VỀ VỤ CÁN BỘ SỨ QUÁN CSVN TẠI BANGKOK GỌI ĐIỆN THOẠI ĐE DỌA GIẾT CÔ PHƯƠNG ANH

Chuồng chó săn - tòa đại sứ của Việt cộng ở Bangkok.
Cán bộ sứ quán CSVN tại Bangkok gọi điện thoại sách nhiễu đe dọa người tỵ nạn.
Source: mylinhng.blogspot.com, TNTDDC, luyenchuong.net
Cô Vũ Phương Anh (xin đừng lầm lẫn với ca sĩ Phương Anh), một nạn nhân của chính sách XUẤT KHẨU LAO NÔ của cộng sản Việt Nam, sau nhiều năm tháng bị đọa đày, đánh đập bởi cảnh sát Jordan, cuối cùng Phương Anh đã đến Thái Lan xin tỵ nạn chính trị. Ðược Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, Giám đốc Điều hành Boatpeople SOS can thiệp giúp đỡ, hiện nay, Phương Anh đã được Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) tại Bangkok cấp cho quy chế tỵ nạn chính trị, nhưng cô vẫn chưa được bình yên, vì bọn chó săn cộng sản Việt nam tại Thái Lan đóng đô ở sứ quán của chúng ở Bangkok tiếp tục đe dọa xé xác Phương Anh ra từng mảnh.
Phương Anh 1982 trả lời điện thoại một tên TĐS CSVN
Vũ Phương Anh: Lê Thị Công Nhân thứ 2
Tưởng cũng nên nhắc lại cô Vũ Phương Anh là một cô gái kiên cường bất khuất, chỉ 27 tuổi, bảo đảm rất xứng đáng là một Lê Thị Công Nhân thứ 2. Phương Anh đã tự động làm ra 1,000 đĩa VCD để gởi về quê nhà tố cáo tội ác của nhà cầm quyền VC qua việc lường gạt chị em phụ nữ qua làm lao động tại Jordan. Tên Nguyễn Xuân Việt đã hăm dọa sẽ băm cô Phương Anh ra từng mảnh nếu bắt được cô PA. Những trang links dưới đây để qúy vị có thể tìm hiểu về Lê Thị Công Nhân thứ 2 này:
http://mylinhng.blogspot.com/2009/05...rong-ngay.html
http://mylinhng.blogspot.com/2009/04...huong-anh.html
http://mylinhng.blogspot.com/2009/04...i-em-cong.html
Tin Đặc Biệt Về Cô Phương Anh
Tưởng cũng cần nhắc lại cho qúy vị được rõ, Vũ Phương Anh, một cô gái trẻ khoảng 26-28, được Hà Nội và các tổ chức môi giới đưa sang Jordan làm việc tại hãng W & D Apparel. Theo những bản hợp đồng mà cô ta đã ký tên, nhưng không được phép có bản sao, mỗi ngày làm việc 8 tiếng với lương bổng $220 trở lên. Cho đến khi qua Jordan làm việc, họ bị đẩy vào những chỗ ở rất tồi tệ, ăn uống thiếu thốn, làm việc 16 đến 18 tiếng mỗi ngày. Thế là trên 200 công nhân đã cùng nhau đứng dậy đình công vào ngày 19 tháng 2 năm 2008, năm ngoái. Đây cũng là một đêm kinh hoàng của các chị em phụ nữ Việt Nam làm việc tại Jordan. Vì cảnh sát Jordan đã được điều động tới, có luôn sự tham dự của một số người làm việc trong sứ quán Hà Nội như:
1) Trương Xuân Thanh, Phó Cục Lãnh Sự, thuộc Bộ Ngoại Giao.
2) Trần Việt Tú, Phó Tổng Lãnh Sự tại Tòa Đại Sứ Ai Cập.
3) Ông Trang, đại diện Bộ Lao Động.
4) Ông Tạo, đại diện Bộ Lao Động.
5) Ông Trịnh Quang Trung, giám đốc công ty da giày.
6) Bà La Thanh Khương, giám đốc môi giới, xuất khẩu lao động.
7) Phan Ông Việt, giám đốc công tý dạ
8) Ông Phương, trợ lý giám đốc cho ông Việt.

8 tên này chẳng khác như những con chó săn hùa theo bọn cảnh sát Jordan, họ dùng hơi cay, dùi cui đánh đập các chị em đang đình công, kể cả việc nắm tóc các nữ công nhân như ông Phương đã nắm tóc cô Trần Thị Ánh. Rất may mắn, tin tức này lọt đến tai tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, giám đốc của BPSOS (Boat People SOS, Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển). TS Thắng gọi ngay cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và được giới thiệu với tổ chức International Organization for Migration. IOM là một tổ chức liên quốc gia, lo về di dân, đã lên tiếng với chính quyền Jordan, và chính quyền Jordan cử người của Bộ Lao Động đến giám sát và giải quyết sự việc. Nhờ sự lên tiếng này, một số chị em đang bị thương tích vì cảnh sát đánh đập, được đưa vào bệnh viện cấp cứu. Trong số chị em công nhân bị đánh đập và nằm nhà thương có cô Vũ Phương Anh, và cũng là người đã giao toàn bộ cuộn băng video đàn áp biểu tình thô bạo của cảnh sát Jordan cho TS Nguyễn Đình Thắng. Thế là TS Thắng đưa lên mạng Youtube.com với 2 cuộn, với sự đàn áp kinh hoàng như sau:
Video 1 - Vietnamese workers in Jordan: Story to be told 1
Video 2 - Vietnamese workers in Jordan: Story to be told - 2
Vì lý do những cuộn băng video này cộng với những bài viết của Linh, được tung lên những mạng YahooGroups, Social.Culture.Vietnamese, và các báo điện tử, nên trong suốt 2-3 tuần qua, bọn tình báo gián điệp VC quyết truy tầm cho bằng được chỗ ở của cô Vũ Phương Anh. Không biết có phải vì lý do những người bạn bên Việt Nam của cô đã nhận được 100 đô từ một người có nick Hominh3 gởi cho Trần Trường (người bị đồng bào ta biểu tình 53 ngày đêm tại Nam Cali), và chính TT đa mang đến $100 đô cho 2 người bạn của VPA. Sau đó thì nơi ở của Phương Anh đã bị lộ, cùng số điện thoại (theo cô Phương Anh kể, bọn công an Hà Nội đã áp đảo bạn của PA để có số phone của cô ta), kể cả cái nick trên Paltalk. Một người đàn ông tự nhận là Nguyễn Xuân Việt đã gọi điện thoại cho cô ta hăm dọa đủ điều và buộc cô ta phải ra trình diện vào đúng 9PM ngày 17 tháng 4 năm 2009. Nếu không giữ đúng lời, chúng sẽ giết luôn cả mẹ cô ta ở Việt Nam, vì biết cô ta rất có hiếu. Chúng cũng tìm được nick trong Paltalk của cô và cũng hăm dọa tương tự. Linh liền Post lên các diễn đàn ngay thời điểm đó, tức vào khoảng 8PM giờ địa phương chỗ ở của PA, để cứu cô ta và mẹ cô ta. Vì Linh nghĩ rằng đưa tin ra trước 9PM, thì chắc chắn chúng không dám đụng đến sinh mạng của cô ta và mẹ cô ta.
Khi nghe xong lời hăm dọa, cô PA ra khỏi phòng thì thấy ngay 5 nam 1 nữ phía dưới, cô biết ngay là bọn xấu, đóng cửa lên diễn đàn kêu cứu. Sau này cô được biết không phải chỉ có 6 tên, mà tổng cộng 20 tên cộng với 10 tên công an sở tại tìm bắt cô. Nơi cô ở có 180 hộ, và chúng đã xin được lệnh của tòa án để vào khám xét toàn bộ 180 hộ, với lý do là tìm bắt một người Việt Nam mang tội phạm bán nước. Điều kiện được đặt ra: Nếu bọn VC không tìm ra được Phương Anh, bọn VC sẽ trả cho mỗi hộ một số tiền $100 đô. Vị chi, họ đã ăn cướp tiền dân 18,000 đô để tìm bắt cho được một người con nít như cô:
- Cháu chưa đầy 28 tuổi, và cũng chưa học hết cấp 1, thế mà chúng gọi cháu "bán nước" ư ??? Cháu bán nước trà đá thì có.
Nghe VPA kể lại rằng bọn VC còn lục cả toillet, phòng quần áo, bất cứ chỗ nào họ có nghi ngờ, nhưng thật may mắn, VPA được che chở bởi nhóm bảo về ở đó trốn ra trước mặt một số bọn công an đang vui chơi trong 1 quán bia ôm gần đó. Nhục nhã thấy cho lũ cộng này.
Ngày 24 tháng 4 năm 2009
Mylinhng@aol.com
(Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó. Xin phổ biến tự do.)
PS: Một đoạn audio của Vũ Phương Anh
Phương Anh's Audio 1:
Phương Anh's Audio 2:
Profits from Tears: Labor Trafficking by an Electronics Giant -- A True Story
Những Tiếng Kêu Cứu Của Chị Em Công Nhân Tại Amman, Jordan

Hình người phụ nữ nằm phía trong, kế bức tường loang lổ, nếu không muốn nói gọi là dơ bẩn, với song cửa xem giống như những chuồng nuôi súc vật do công ty W & D Apparel
cấp, chủ nhân là James Shen (http://www.importgenius.com/shipments/w-d-apparel-jordan-corp.html), đó là chị Nguyễn Thị Lâm, quê ở Thanh Hóa. Chị Lâm vì qúa tuyệt vọng, đã 2 lần toan tính tự tử bằng thuốc diệt cỏ nhưng được cứu sống. Đó cũng là tình cảnh nói chung của khoảng 265 công nhân đang Việt Nam đang lao động tại Jordan, trong đó chỉ có 4 nam, số còn lại là những phụ nữ nằm trong hạng tuổi thanh xuân khoảng từ 20 đến 32 tuổi. Những viễn cảnh huy hoàng của cuộc sống qua những hứa hẹn của bọn môi giới, bọn làm trong Bộ Lao Động, và bọn làm trong Bộ Thương Binh Xã Hội, trong đó có Trung Tâm Xuất Khẩu Lao Động V-Coalimax (hình trên). Khi công nhân còn ở Việt Nam, bọn này chắc chắn rằng mỗi công nhân khi sang Jordan làm việc sẽ lãnh được 300 đô một tháng, còn theo hợp đồng chỉ có 220 đô một tháng. Ấy thế, khi người công nhân đã đặt chân tới Jordan, mọi việc đã đổi khác, họ chỉ còn lãnh chỉ có 80 đô, người nào làm giỏi lắm, được 120 đô là tối đa. Cộng thêm việc ăn ở vô cùng khắc nghiệt, chỗ ở tồi tệ thiếu vệ sinh, vòi nước nhỏ giọt, không đủ nước tắm rửa. Một phòng rất chật hẹp, hôi hám mà phải chứa đến 8 công nhân. Phải nói khí hậu tại Jordan thay đổi rất bất thường, hôm nay có thể nóng nực lên đến 42 độ C, nhưng ngày mai lại có tuyết lạnh, và việc này cũng làm khó khăn đối với các công nhân. Đồ ăn tanh tưởi, cơm thiếu, ăn không đủ no. Còn làm việc từ 7:30 sáng, làm thẳng không nghỉ cho đến 12 giờ trưa, xong được nghỉ 30 phút ăn uống rồi vào lại làm việc cho đến 11, 12 giờ đêm, có khi làm đến 1 giờ sáng luôn, vị chi, mỗi công nhân bị buộc phải làm việc từ 16-18 tiếng mỗi ngày. Làm việc cực khổ thế mà chẳng công nhân nào có dư để gởi tiền về nuôi chồng con hay nuôi gia đình. Nhận thấy rõ mình bị bóc lột sức lao động qúa tàn nhẫn, nên hầu hết tất cả công nhân Việt Nam đều đứng lên một lượt để đình công, sự việc xảy ra vào 19 tháng 2 năm 2008. Đây là đêm kinh hoàng của công nhân Việt Nam tại Jordan, có nhiều chị em công nhân đã bị ngất xỉu.
Thế là cảnh sát Jordan được điều động tới để đàn áp cuộc biểu tình bằng cách xịt hơi cay và đánh đập tàn nhẫn. Tin tức cuộc đàn áp may mắn được đến tai tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, giám đốc của BPSOS (Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển). TS Thắng gọi ngay cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và được giới thiệu với tổ chức International Organization for Migration. IOM là một tổ chức liên quốc gia, lo về di dân, có trang nhà tại http://www.iom.int/jahia/jsp/index.jsp, đã lên tiếng với chính quyền Jordan, và chính quyền Jordan cử người của Bộ Lao Động đến giám sát và giải quyết sự việc. Nhờ sự lên tiếng này, một số chị em đang bị thương tích vì cảnh sát đánh đập, được đưa vào bệnh viện cấp cứu. Vào thời điểm đó, nhà cầm quyền Hà Nội cũng cử một phải đoàn người Việt gồm các ông như sau:
1) Trương Xuân Thanh, Phó Cục Lãnh Sự, thuộc Bộ Ngoại Giao.
2) Trần Việt Tú, Phó Tổng Lãnh Sự tại Tòa Đại Sứ Ai Cập.
3) Ông Trang, đại diện cho Bộ Lao Động.
4) Ông Tạo, đại diện cho Bộ Lao Động.
5) Trịnh Quang Trung, giám đốc công ty da giày.
6) Bà La Thanh Khương, giám đốc môi giới, xuất khẩu lao động.
7) Phan Ông Việt, giám đốc công ty da.
8) Ông Phương, trợ lý giám đốc cho ông Việt.
Những tên này được xem như bọn chó săn, chúng cùng đồng hùa với cảnh sát Jordan để đánh đập các chị em công nhân. Chính ông Phương (8) này đã nắm tóc chị Trương Thị Ánh, bẻ quặp tay chị, kéo chị lôi đi. Trước đó, chị Ánh cũng là người bị cảnh sát Jordan đánh đến bất tỉnh. Hiện tại chị luôn bị mê sảng như người mất trí. Chị Trần Thị Giang cũng là một nạn nhân tương tự, cũng bị nắm tóc và đánh đập (tất cả nằm trong Video 1).
http://www.youtube.com/watch?v=ilxAMVvratk&feature=related
Bọn chúng vì những đồng tiền dơ bẩn bóc lột sức lao động của công nhân Việt Nam, nên chúng mới đứng về phía cảnh sát Jordan như thế. Trong khi đó các công nhân Việt Nam đang bị bỏ đói, đang sống trong những điều kiện tồi tệ nhất của một con người. Khi sự việc đã xảy ra như thế, đa số công nhân đều mong muốn trở về quê nhà vì làm việc không đủ tiền để sống và gởi về cho gia đình. Công nhân nào muốn về nhà thì phải viết vào biên bản là "Không Đủ Sức Khỏe Để Làm Việc". Đây là một việc làm lừa bịp, bất nhân của bọn chó săn đại diện cho nhà cầm quyền Việt Nam. Vì nếu về nước vì lý do đó, người công nhân phải trả hết 25 triệu cho tiền đi xuất khẩu lao động và phải chịu trả $1,000 đô cho tiền vé máy bay về VN. Thành ra, nhiều công nhân đi về nước bị mang nợ ngập đầu, lãi mẹ đẽ lãi con với tiền lời cá mập. Trước khi ra đi, có người phải cầm luôn cả sổ đỏ (giấy nhà đất) vì họ mong rằng mỗi tháng họ được ít ra $220 đô như hợp đồng để họ có thể trả nợ và dư ra tí đỉnh. Qua đoạn audio đính kèm với bài viết này, chúng ta có thể nghe giọng nói của chị Nguyễn Thị Luyến, quê ở Phú Thọ, chị đã về nước, nhưng hiện tại mang nợ ngập đầu, trong tình trạng sống không ra sống, chết không ra chết. Chị đã đi khắp mọi nơi, từ những văn phòng Bộ Lao Động cho tới văn phòng Thủ Tướng để khiếu kiện, nhưng vẫn không có một ai ngó ngàng đến. Đã vậy, chị còn bị bọn công an hăm dọa đủ điều nếu chị muốn tiếp tục kiện cáo bọn lường gạt. Lúc đầu, chị bị giựt mất bóp giấy tờ và điện thoại, bọn chúng nói đó chỉ là cảnh cáo. Nếu chị tiếp tục thưa kiện, bọn chúng có thể làm những việc tồi tệ hơn. Cuối cùng bọn công an cho xã hội đen đâm xe vào chị làm gẫy mất 4 chiếc răng. Đây không phải là tình cảnh đau thương của một người mà là tình cảnh đau thương chung của 167 chị em công nhân Jordan đã về nước. Trong sự việc lường gạt, bóc lột sức lao động của công nhân, còn có việc lường gạt nơi chốn đi lao động. Cô Nguyễn Thị Hồng Gấm, quê ở Sơn La tưởng mình được đi lao động tại Mã Lai, cuối cùng bị chuyển qua Jordan mà cô chẳng hay biết. Trường hợp thứ hai, 2 chị em tên Cấn Thị Lan và Cấn Thị Hạnh, quê tại Thạch Thất, Hà Tây, tưởng qua Đài Loan làm việc, ai dè cũng bị đưa qua Jordan.

Có một trường hợp rất đặc biệt và thương tâm, cô Vũ Phương Anh, 28 tuổi, đã bị đá bầm trán, nay vẫn còn ho ra máu và bụng cứ trương phình lên, da tái mét. Chính cô là người bị tên Trương Xuân Thanh hăm dọa rằng về Việt Nam sẽ bị bắt giam vì họ nghĩ rằng cô cầm đầu cuộc biểu tình. Hiện tại cô còn đang ở lại Jordan với ước mơ sẽ được sống một cuộc sống tự do, và chăm chỉ làm việc để gởi tiền về nuôi mẹ gìa còn ở Việt Nam. Hỏi chị có muốn qua Mỹ sống ??? chị nói chị rất thích nước Mỹ được sự tự do. Không hiểu rằng những người bị đàn áp như chị có quyền xin tị nạn chính trị tại Mỹ không ???
Thật là khốn nạn cho bọn công an phi trường Nội Bài, 167 chị em công nhân về nước, lại bị đưa vào phòng cách ly để bị hăm dọa đủ điều. Qúy vị có thể nhìn những gương mặt thiểu não dưới đây cũng biết được sự việc gì đã xảy ra.

Ra khỏi phòng cách ly, mấy chị em vẫn còn khóc nức nở với những vẻ mặt thật là khủng hoảng.
Phải nói bọn VC này không còn nhân tính của con người. Các chị em công nhân đã bị bóc lột sức lao động qúa tàn nhẫn, đã vậy còn bị chúng hùa theo cảnh sát Jordan đánh đập không nương tay. Nay về nước lại bị thêm một lần khủng hoảng nữa. Rồi đây cuộc sống của các nữ công nhân này sẽ ra sao ??? 167 chị em công nhân này dĩ nhiên trở thành những dân oan, suốt ngày phải lo cầm đơn đi thưa kiện để đòi lại tiền bạc, đòi lại công lý, đòi lại sự công bằng. Lẽ dĩ nhiên, máu và nước mắt sẽ tiếp tục rơi. Hiện tại, nhiều chị em trong số công nhân trở về này quyết định đòi lấy công lý cho bằng được, dù có phải hy sinh đến ti'nh mạng. Chắc chắn, câu chuyện không dừng lại nơi đây, có tin gì thêm, Mỹ Linh sẽ tường trình đến cho qúy độc gỉa, mong rằng qúy độc giả khi đọc xong, hãy tiếp tay cùng qúy chị em công nhân, lên tiếng với nhà cầm quyền Hà Nội, hoặc những luật sư nếu có thể được hãy bào chữa miễn phí cho những nạn nhân đáng thương này, cũng như vạch mặt những tên buôn bán nô lệ, đánh đập, hay lừa bịp các chị em công nhân.
Ở đây, phải nói Tiến Sĩ Nguyễn Đình Thắng là người rất sốt sắng trong việc giải cứu những công nhân Việt Nam tại Jordan. Chúng ta có thể xem tiếp theo Video 2 với sự trình bày của TS Thắng.
http://www.youtube.com/watch?v=bxhELP8GOok&feature=related

Ngoài những lời hăm dọa của Bộ Ngoại Giao qua ông Trường Xuân Thanh, Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Nguyễn Thanh Hòa cũng cảnh cáo tương tự rằng công nhân khi về nước sẽ bị bị trừng phạt vì vi phạm luật. Cái khốn nạn của bọn chó săn này đã đàn áp, bênh vực cho bọn chủ nhân bóc lột sức lao động của chị em công nhân, còn bày đặt đưa ra luật lệ gì ở đây. Đây chẳng qua là một cuộc buôn người qúa tàn nhẫn, bóc lột cạn kiệt sức lao động của chị em công nhân Việt Nam. Tại sao mức lương trong hợp đồng 220 đô một tháng, trong khi chị em công nhân chỉ lãnh từ 80 đô cho tới 120 đô, không một bài báo nào ở trong nước nhắc đến lý do tại sao các công nhân biểu tình đình công ??? mà chỉ tố cáo bừa bãi TS Nguyễn Đình Thắng kích động. TS Thắng kích động gì, khi mà cuộc biểu tình đã xảy ra trước đó. Qúy vị tìm thấy gì nếu đọc qua tờ Công An Nhân Dân dưới đây:
http://www.cand.com.vn/vi-VN/binhluan/2008/3/87382.cand
http://ca.cand.com.vn/vi-VN/thoisuxa.../3/124541.cand
Ngay cả những tờ báo trong nước cũng không bênh vực cho lẽ phải, cho công lý. Lệnh của lãnh đạo luôn luôn cao hơn quyền tự do báo chí, khi trang nhà của Bộ Ngoại Giao, qua phát ngôn nhân Lê Dũng đã lên tiếng rồi thì tất cả báo chí đều im re, đồng hành với những điều sai trái ( http://www.mofa.gov.vn/en/tt_baochi/..._print_preview ).
Bởi vậy cái chế độ này nó chỉ lo cho đời sống của Đảng và các đảng viên. Chế độ này không phải vì dân và lo cho dân. Một chế độ hành xử đối đãi với đồng bào ruột thịt mình như thế này rất đáng bị khinh bỉ và phải bị sụp đổ.
Ngày 3 tháng 4 năm 2009
Mylinhng@aol.com

Tiếng Khóc Của Vũ Phương Anh Trong Ngày Lễ Mẹ
Nhân Ngày Lễ Mẹ, trong phòng 250 người, Diễn Đàn Chính Trị Tranh Luận Dân Chủ của http://paltalk.com, có một cô gái mang nick TrangGiayTrang đã cầm mic (microphone) lên chia xẻ cái cảm giác nỗi buồn mới mất mẹ trong thời gian gần đây. Với giọng run, với tiếng sụt sùi, cô TGT nhắc lại bàn tay trìu mến của mẹ hiền nắm chặt tay cô khi cô phải trải qua những giờ phút sanh tử trong bệnh viện. Phải chi còn có mẹ, cô sẽ dẫn mẹ đi đến bất cứ nơi nào mẹ thích trong Ngày Lễ Mẹ này như bao nhiêu năm qua, nhưng giờ đây, tất cả đã trở thành dĩ vãng. Những cảm xúc càng dâng tràn hơn, khi trên màn hình hiện ra rất nhiều những hình ảnh (icon) của bộ mặt khóc của những người tham dự, thảy lên diễn đàn khi người ta nghe được tiếng sáo có xen tiếng lòng nức nở, ai oán của cô TrangGiayTrang qua bản Lòng Mẹ của nhạc sĩ Y Vân. Những cảm xúc chưa lắng đọng dưới đáy tâm hồn, người ta lại nghe tiếng khóc nức nở của cô Vũ Phương Anh qua cái nick Cao Nguyen Xanh_1. VPA là một cô gái được đưa đi làm lao động bên Jordan. Với niềm mơ ước đơn giản kiếm được 300 đô một tháng để sửa lại mái nhà dột cho mẹ qua chánh sách Xóa Đói Giảm Nghèo của Nhà nước CHXHCNVN, nhưng ước mơ bình dị nhỏ bé đó đã không thực hiện được còn làm chia cắt tình mẫu tử. Muốn tìm hiểu thêm về cuộc đời gian truân của VPA, mời qúy vị ghé vào trang nhà sau:
http://mylinhng.blogspot.com/2009/04/tin-ac-biet-ve-co-phuong-anh.html . Một cô bé chưa học qua lớp năm, mẹ cô chưa từng biết chữ, mà nắm bắt những tư tưởng vượt trội, nếu không nói là phi thường. Qúy vị cần phải lắng nghe từng lời nói vàng ngọc của cô gái nhỏ bé này. Linh mong rằng những lời nói của VPA được dịch ra bằng tiếng Anh vì nó cũng là bằng chứng nói lên tội ác của nhà cầm quyền Việt Nam.
Dưới đây là những đoạn trong phần ghi âm với tiếng khóc nức nở, được đánh máy ra để qúy vị có thể tham khảo:
"Mẹ cháu ở bên cạnh cũng không có. Vì đâu mà có cái bức tường nào đã ngăn cách mẹ cháu với cháu như thế này. Bây giờ mẹ cháu chẳng có ở nhà. Cái bọn công an đó, nó đi lùng cháu không được bây giờ nó lùng mẹ cháu. Mẹ cháu bây giờ sống chui sống lủi, nhưng mà vẫn phải sống ở Việt Nam, không có về nhà. Càng như thế này, cháu càng cố gắng phấn đấu. Làm thế nào cháu biết, cháu có lỗi với mẹ nhiều lắm. Mẹ đã sinh ra cháu mà không gặp một bàn tay của một người đàn ông. Mẹ cháu 18 tuổi lấy chồng, 20 tuổi sinh ra cháu, 22 tuổi thì bố cháu mất. Cũng vì nghèo qúa không có tiền chữa bịnh nên bố cháu ra đi để lại 2 mẹ con. Mẹ cháu cố gắng lắm để cho cháu ăn học nhưng chưa hết lớp 5. Cháu lại không được mẹ dạy cho học, vì mẹ cháu có biết chữ đâu mà dạy. Nhưng cái lòng của mẹ cháu dạy mà cháu đã ghi mãi ở trong lòng, không bao giờ quên cho được: 'Nghèo cho sạch, rách cho thơm.' Dù mình không biết chữ, nhưng mình phải biết nghĩ, mình phải biết sống cho có một cái tâm: 'Mình nên sống vì mọi người, đừng nên sống bằng bản thân.' Mẹ đã dạy cháu được từng đấy điều. Nghe lời mẹ dặn, cháu quên bản thân mình, cháu cứu hơn 100 lao động về nước. Bây giờ, tiền thì mất, con thì chẳng thấy về. Mẹ sống mà bị công an lùng suốt. Cháu lên đây cháu hỏi các cô các chú, cháu lên đây cháu có nói cái gì mà không đúng sự thật đâu, cháu nói đúng sự thật. Tại sao bọn người ấy lại làm bức tường ngăn cản mẹ con cháu như thế này. Mẹ cháu năm nay chỉ có 48 tuổi, là một người phụ nữ không có học, sự hiểu biết rất là chậm, nhưng với lòng sống chân thành. Đến bây giờ mẹ con cách xa nhau, mẹ trốn chui trốn nhủi ở Việt Nam, con thì sống trốn chui trốn nhủi ở xứ người. Nói đến đây, thật làm cho cháu càng uất ức và căm phẫn. Căm phẫn những người đã chia cách mẹ con cháu. Bây giờ cháu ốm, nằm một chỗ, ói ra máu, ước mong làm sao mẹ mình ở bên cạnh mình, chỉ nhìn thấy mẹ thôi, nhưng lại không có. Trong lòng chỉ mong làm sao mình nhắm mắt vào, khi mở mắt ra thì có mẹ bên cạnh. Cứ nhắm cứ mở, cứ nhắm cứ mở một năm nay rồi mà chẳng thấy mẹ đâu. Thử hỏi vì ai ??? Vì sao ??? Tại vì sao mà cháu phải như thế này ??? Hỏi các cô các chú tại vì sao mà cháu phải khổ như thế này ??? Cháu có mộng ước nhà cao cửa rộng gì đâu ??? Nhà cháu bị dột nát, mỗi lần mưa nó dột, mà mẹ thì yếu chẳng làm được, bố mất sớm. Cháu là con gái không có học, không giúp gì cho bố mẹ, nên làm thuê làm mướn chỉ đủ ăn. Cái nhà thì dột nát, cho nên nghe theo xóa đói giảm nghèo đi lao động mỗi tháng làm thêm được 300 đô. Chỉ mong làm sao đi làm 3 năm lấy tiền về lo cho mẹ để sửa lại cái nhà cho mưa nó khỏi dột. Thế mà bây giờ lại như thế này ngồi đây. Chúa ơi sao con lại khổ qúa ??? Mẹ ơi, con nhớ mẹ, con không biết còn có cơ hội mà gặp lại mẹ không ??? Cuộc sống như thế này, mỗi lúc như thế này, cháu chỉ mong bom bô cái mặt các tên quan chức chính phủ Việt Nam. Tại sao những người khổ như thế này mà lại không che chở cho người ta mà còn đàn áp dọa nạt người ta. Cháu đã bị bịnh, sống chui sống nhủi, cũng hè công an đi mà tìm. Đi tìm một người vô tội, một người mà là nạn nhân mà chúng nó đi tìm. Đau đầu lắm, cháu đau đầu lắm, nhưng không sao, cháu đã hứa với bản thân mình. Trong lòng cháu cầu Chúa, cháu xin lỗi mẹ, rồi cháu cũng mất mẹ, không bao giờ nhìn thấy mẹ. Cháu hy sinh bản thân cháu, hy sinh bản thân mẹ. Hai mẹ con cháu sẽ hy sinh. Làm thế nào để làm một cái bằng chứng sống để cho cái bọn quan chức ở Việt Nam nó trắng mắt ra. Làm thế nào cho tất cả các bạn trẻ trên thế giới nghe thấy cái lời của Phương Anh, cùng các cô các chú làm thế nào để vạch trần cái bộ mặt Jordan. Và Phương Anh hy vọng một ngày rất gần, một ngày không xa nữa, chúng ta không phải nghe tới một Phương Anh thứ hai. Nhớ mẹ mà phải lên đây khóc, Phương Anh không muốn như thế. Phương Anh chỉ muốn là, mọi người làm thế nào để cho đất nước Việt Nam mình không còn những giọt nước mắt phẫn hận như cháu nữa. Không còn một người nào nhớ mẹ. Nhớ mẹ đây không phải là mẹ bị bệnh, không phải mẹ chết, vẫn còn mẹ, nhưng mà bây giờ là có một bức tường chắn cao lên không còn nhìn thấy mẹ nữa, không thể nào nhìn thấy. Cháu lúc khỏe lúc yếu, cháu sẽ cố gắng, cháu sẽ vượt qua được, cháu sẽ làm thế nào. Dù mẹ không còn nằm bên cạnh, nhưng dầu sao cháu cũng tự hào, cháu rất tự hào, vì ở trong này có rất nhiều bố nhiều mẹ, nhiều các cô các chú che chở cho Phương Anh. Cháu chỉ có một người mẹ sinh ra cháu, nhưng rất có nhiều các cô các chú ở trong này cũng là cha là mẹ tinh thần của cháu, che chở, giúp đỡ cháu, động viên cháu trong lúc cháu như thế này, làm cháu không biết nói gì hơn, chỉ mong cháu có lời khuyên nho nhỏ đối với các bạn trẻ trên toàn thế giới: 'Các bạn còn mẹ thì sống thế nào đừng để cho mẹ buồn. Mình làm thế nào để mang lại niềm vui cho mẹ.' Không như Phương Anh bây giờ, Phương Anh từ ngày xưa là người con rất có hiếu với mẹ. Và bây giờ chỉ cần, nếu có một phép nhuộm mầu nào, chỉ cần đưa mẹ hiện diện trước mặt Phương Anh, để Phương Anh nói lời xin lỗi mẹ, chỉ thế thôi. Khó lắm, có chăng chỉ ở trong giấc mơ. Phương Anh mơ thấy mẹ, cùng mẹ đi làm, cùng mẹ ở nhà, cùng mẹ ăn cơm. Tất cả chỉ ở trong giấc mơ, mẹ chỉ hiện diện lên như thế thôi, còn không có, không có. Bây giờ ốm đau như thế, chỉ mong mẹ làm sao mẹ cầm tay Phương Anh như mẹ yêu cô Trang Giấy Trắng thì có lẽ sức khỏe của Phương Anh, cũng sẽ bớt đi phần nào, nhưng không có. Cháu chỉ mong mẹ lấy cho cháu cốc nước lọc thôi 'uống đi', chỉ nói: 'uống đi con', chỉ cần nghe mẹ nói thế thì Phương Anh cũng có thể nguôi ngoai phần nào. Nhưng bây giờ, vì ai ??? vì ai mà Phương Anh phải bịnh như thế này ??? Vì ai mà Phương Anh phải giam mình trong bốn bức tường, không bước ra ngoài. Bây giờ Phương Anh ở trong này nếu có mẹ, thì Phương Anh cũng sẽ ở nhà nguyên ngày với mẹ. Khi còn mẹ, Phương Anh chưa bao giờ làm cho mẹ buồn, chưa bao giờ để cho mẹ phải thất vọng. Nhưng mà đến bây giờ, Phương Anh nghĩ mình là một người con bất hiếu. Bất hiếu ở đây cũng chỉ vì Phương Anh muốn hy sinh bản thân mình để cho không còn ai mà bị như Phương Anh nữa, rơi vào cái bẫy xe đổ này. Mệt quá, cháu xin trả lại mic ạ, cháu nhớ mẹ cháu vô cùng."
Có thể đây là một Lê Thị Công Nhân thứ 2. Cô Vũ Phương Anh, không chỉ đấu tranh cho cá nhân mà cho tập thể 176 nữ dân oan Jordan đang ở trong nước. 176 dân oan này khi về nước họ đã bị đối xử rất tàn bạo. Có một người bị chết, có nhiều người vẫn còn bị thương, có nhiều người bị công an hăm dọa nếu họ cứ tiếp tục thưa kiện, khiếu nại, có nhiều người bị dàn cảnh đụng xe,... Đa số các dân oan này hiện trong tình trạng dở sống dở chết vì bị mắc nợ 2000-4000 đô mà họ không cách nào trả nỗi. Linh mong rằng chúng ta không ai có thể làm ngơ đối với niềm mơ ước nhỏ bé của cô bé này. Hãy làm trong khã năng của qúy vị. Hãy đưa tin này vào trang nhà của qúy vị, hãy thông dịch bản tin này, hãy gởi cho đến các nhà đấu tranh cho nhân quyền, cũng như các cơ quan quốc tế về nhân quyền, tranh đấu để đòi hỏi Vũ Phương Anh được đoàn tụ với mẹ của mình, một cô bé biết vâng lời và hiếu thảo với mẹ hiền. Hãy nhớ lời của VPA: "Cháu hy sinh bản thân cháu, hy sinh bản thân mẹ. Hai mẹ con cháu sẽ hy sinh. Làm thế nào để làm một cái bằng chứng sống để cho cái bọn quan chức ở Việt Nam nó trắng mắt ra." quả là một phát súng thần công, sẵn sàng tuyên chiến một mất một còn với bạo quyền Hà Nội.
Ngày 10 tháng 5 năm 2009
Mylinhng@aol.com
PS: 2 phần thâu âm tiếng nói của Vũ Phương Anh:
Audio1:
Audio 2:
07/28/09. 06:10:06 am. 8224 words, 161 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Những chuyện khó tin nhưng có thật, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn ,
