Archives for: October 2009, 31
CHUYỆN MÙA DỊCH CÚM: ÔNG GIÀ 112 TUỔI CƯỚI VỢ 17 TUỔI Ở SOMALIA

Ahmed Dhore, 112 tuổi và cô vợ mới Safia Abdulleh, 17 tuổi - Ảnh BBC
Chuyện mùa dịch cúm: ông già 112 tuổi cưới vợ 17 tuổi ở Somalia... và tính sinh con đẻ cháu
Source: BBC, AP, AFP, dailymail
Một ông già gân người Somalia đã cưới một cô gái trẻ hơn ông 95 tuổi... và đang dự tính có con với nhau. Chuyện cưới hỏi giữa quý cụ già và "gái tơ" trẻ hơn mình rất nhiều là chuyện thường xẩy ra ở Somalia, xứ sở của bọn hải tặc nổi tiếng hiện tại. Nếu so sánh với Methuselah trong Cựu Ước (sống đến 969 tuổi), cụ già gân này có lẽ đang chạy theo đuôi đây.
Hàng trăm khách đã tham dự lễ cưới giữa Ahmed Muhamed Dhore, người tuyên bố là 112 tuổi, và cô dâu Safia Abdulleh, trong tuổi 17. Lễ cưới tổ chức tại Galguduud, miền trung Somalia vào tối hôm Thứ Tư vừa rồi, cụ Dhore đã có 114 người con và cháu chắt, và 5 bà vợ, trong đó có 3 bà đã cỡi ngựa gỗ chầu trời. Người con già nhất của cụ năm nay đã 80 tuổi. Đây là đám cưới đầu tiên trở lại với cụ sau ba phần tư thế kỷ! Trong lễ cưới, cụ Dhore tuyên bố là muốn có thêm con cháu với cô vợ trẻ này. Cụ nói: "Hôm nay, Trời đã giúp giấc mơ của tôi trở thành hiện thực". Gia đình cô dâu nói rằng "cô gái rất hạnh phúc với người chồng mới của cô".
Cụ Dhore nói rằng mình và cô dâu mới - tuổi bằng hàng chắt của mình - ở cùng làng, và cụ đã chờ đợi người đẹp lý tưởng lớn lên để xin cưới (có nghĩa là "con quỷ râu xanh" của cụ đã ngắm nghía em bé từ hồi còn.."mang tã"!).
Lễ cưới này diễn ra trong thành phố Guriceel được các nhà sử học Somalia mô tả là hi hữu, lần đầu tiên diễn ra trong hơn một thế kỷ, trong vùng Sừng Châu Phi (Horn of Africa).
"Tôi không hề ép cô ấy lấy tôi, nhưng tôi đã dùng kinh nghiệm của tôi để thuyết phục nàng yêu tôi; và nàng đã đồng ý lấy tôi", cụ Dhore tuyên bố.
Cụ cho biết là các con cháu và hai bà vợ còn sống đều đồng ý, cha mẹ của cô dâu Abdulleh cũng vậy.
Cụ Dhore cho biết là đã 112 tuổi nhưng không có nguồn nào kiểm chứng về con số tuổi này. Tại các nước theo Hồi giáo như Somalia thì chuyện đa thê là đúng theo luật đạo. Tiên tri Muhammad là người có rất nhiều vợ, trong số đó có cả người mà ông cưới năm cô ta mới có 6 tuổi, và phải đợi đến năm cô lên 9 tuổi thì... mới đưa "đại pháo và xe tăng vào thành được"!!!
Ahmed Mohamed Dhore nói với AFP rằng: "Vợ tôi là mười lần trẻ hơn tôi, nhưng chúng tôi hết sức yêu nhau, và tôi có thể cho nàng tình yêu mà không một người trai trẻ nào có thể cho nàng được". Cụ lại nói: " Đời sống hôn nhân chính là tình yêu và đam mê, chứ không phải là tuổi tác và cái đẹp". Cụ cho biết bí quyết kéo dài tuổi thọ là "dùng thực phẩm giàu dinh đưỡng khi còn trẻ", lại nói: "Tôi nay 112 tuổi và có thể sống như một người trẻ... Ý kiến về việc lập gia đình trở lại là do các con cháu của tôi đề nghị", vì bà vợ già của ông đã 90 tuổi và đau yếu bệnh hoạn...
Theo các thống kê của các cơ quan cứu trợ thế giới thì tại Somalia, tuổi thọ trung bình của đàn ông là 47 tuổi, không hiểu sao cụ Dhore lại sống lâu và dai đến thế!!! Cụ Dhore sinh vào năm 1897, là năm mà nữ hoàng Victoria mừng tuổi thọ kim cương của bà, có nghĩa là cụ Dhore đã sống trải qua 3 thế kỷ, mà vẫn còn hung hăng con bọ xít không thua gì bọn trai trẻ!!!
Việc giao phối giữa các thế hệ tuổi tác khác nhau đã làm gia tăng truyền nhiễm vi khuẩn HIV tại Phi châu. Vào năm 2007, tại Uganda, tổ chức Dân số Thế giới đã phát động chiến dịch chống lại khuynh hướng làm tình giữa các thế hệ khác nhau tại Kampala, để chống lại nguy cơ truyền nhiễm HIV cho phái nữ.
KDĐN tổng hợp
10/31/09. 06:07:25 pm. 1079 words, 543 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Góp nhặt, Chuyện lạ ðó ðây, Chuyện vui, Những chuyện ỡm ờ, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn ,
TÌNH HÌNH CHIẾN SỰ SÔI ĐỘNG TẠI AFGHANISTAN - NHỚ LẠI CHƯƠNG TRÌNH ẤP CHIẾN LƯỢC TRONG CHIẾN TRANH VN

Bà Ngô đình Nhu đang thị sát vòng đai phòng thủ của một Ấp Chiến Lược vào tháng 7/1962
Lời của ký giả thân cộng người Úc Wilfred G. Burchett phát biểu khi nghe tin T.T Diệm bị lật đổ: “Thật là không thể tin được: chúng nó đã giết người duy nhất có tư tưởng và tổ chức có thể chặn chúng tôi (tức là phe cộng sản)".
Đỗ Ngọc Nhận
Tình hình cuộc chiến Afghanistan mỗi ngày thêm sôi động. Thương vong của quân lực Hoa kỳ trong tháng 10 - 2009 đã trở thành số thương vong cao nhất trong một tháng kể từ ngày cuộc chiến bộc phát cách đây 8 năm. Về chính trị, quốc gia Afghanistan đang ráo riết chuẩn bị cho cuộc bầu cử tổng thống vòng 2 vào 7-11-2009 sắp tới trong khi phiến quân Taliban quyết phá bầu cử cho bằng được. Đề nghị tăng quân số của tướng tư lệnh chiến trường Stanley A. Chrystal vẫn còn đang trong vòng tranh cãi. Thượng nghị sĩ John Kerry, chủ tịch Ủy Ban Đối Ngoại Thương Viện Hoa kỳ cho rằng: “đề nghị tăng 40,000 quân cho Afghanistan đi quá xa và quá nhanh” (VOA, 10-27-2009). Dư luận ủng hộ cuộc chiến của dân chúng Hoa kỳ giảm sút. Tình hình chung cho thấy, dường như Hoa kỳ vẫn chưa tìm được một chiến lược hữu hiệu cho cuộc chiến chống khủng bố. Những diễn biến tại Afghanistan hiện nay làm tôi nhớ lại thời kỳ khủng hoảng về đường lối chỉ đạo chiến lược của Hoa kỳ và VNCH trong chiến tranh tại VN.
Sau biến cố CS tấn công căn cứ Trảng Sụp tại Tây Ninh vào ngày 20-01-1960, gây thiệt hại nặng nề cho bộ chỉ huy Trung Đoàn 32 thuộc sư đoàn 21 BB, tình hình chiến sự trở nên sôi động hẳn, bộc lộ sự bất đồng quan điểm giữa Hoa kỳ và chính phủ VNCH về quan điểm chiến lược của cuộc chiến. Ít tháng sau biến cố Trảng Sụp, tôi được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám Đốc Nha Quân Cụ. Quân cụ là một ngành chuyên môn phụ trách quản trị quân xa, cơ giới, vũ khí và đạn dược trực thuộc Bộ Quốc Phòng và Bộ Tổng Tham Mưu. Vì là một sĩ quan bộ binh không được đào tạo về chuyên môn quân cụ, cho nên tôi hết sức bối rối với lệnh bổ nhiệm này. Bởi vậy khi được lệnh trình diện Tổng Thống Ngô đình Diệm trước khi đáo nhậm nhiệm sở mới, tôi thỉnh cầu Tổng Thống chọn một sĩ quan chuyên môn thay vì sĩ quan gốc bộ binh như tôi để đứng đầu ngành chuyên môn quan trọng hàng đầu của quân lực. Tổng Thống Diệm nghiêm sắc mặt nói với tôi: “Thế ai bày tôi làm tổng thống”. Sau đó tôi nhận được chỉ thị của tổng thống thực hiện công tác đặc biệt với chức vụ mới, đó là cố gắng tìm hoặc biên chế vũ khí và đạn dược nhằm trang bị cho lực lượng Dân Vệ hiện không được Mỹ đặt trong chương trình viện trợ. Dân vệ là tổ chức võ trang để bảo vệ an ninh nông thôn đang bị du kích cộng sản chĩa mũi dùi ra sức đánh phá.
Công tác đặc biệt mà Tổng Thống trao cho tôi lúc ấy phần nào phản ảnh sự mâu thuẫn giữa chính phủ Mỹ và VNCH về đường lối chỉ đạo chiến lược chống lại cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam (MNVN) của cộng sản Bắc Việt (CSBV).
Nhắc lại bối cảnh chính trị phức tạp.
Hiệp định ngưng bắn Genève 21-07-1954 chia đôi Việt Nam, phía Bắc vĩ tuyến 17 do cộng sản (CS) kiểm soát. Chính phủ quốc gia kiểm soát phía Nam do chí sĩ Ngô đình Diệm mới từ ngoại quốc trở về nước lãnh đạo. Tình hình chính trị tại MNVN lúc ấy vô cùng đen tối: trên một triệu người rời bỏ quê cha đất tổ miền Bắc lánh nạn CS di cư vào miền Nam, các đảng phái quốc gia ở trong tình trạng phân hoá, tướng Nguyễn văn Hinh Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội và một số sĩ quan thân Pháp công khai chống chính phủ, lực lượng võ trang giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo và “đảng cướp” Bình Xuyên quyết liệt chống lại quyết định thống nhất quân đội của chính phủ. Tình hình chính trị chỉ ổn định sau khi Tổng Thống Diệm loại trừ dược tướng Hinh, dùng võ lực dẹp bỏ các lực lượng phản nghịch, dành lại nền độc lập trong tay thực dân Pháp, trưng cầu dân ý truất phế quốc trưởng Bảo Đại và thành lập nền Cộng Hoà vào ngày 26-10-1955. Nhiều chính khách cho rằng sự thành công của Tổng Thống Diệm trong việc ổn định tình hình rối ren tại Saigon sau Hiệp định Genève 1954 là một phép lạ chính trị.
Với nền tảng chính trị củng cố, chính nghĩa tỏ rạng, Hoa kỳ được yêu cầu viện trợ giúp chính phủ Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) cải tổ QĐVNCH, xây dựng phát triển một MNVN tự do và dân chủ . Theo đề nghị của Hoa kỳ, Tổng Thống Diệm gởi các sĩ quan cao cấp kể cả hàng tướng lãnh sang Hoa kỳ thụ huấn. Trong chương trình này, năm 1957, tôi được gởi đi thụ huấn khóa học Chỉ Huy và Tham Mưu tại trường Fort Leavenworth, Kansas. Mặt khác, để giải quyết tình trạng thiếu thốn về nhân sự của một quốc gia vừa thoát khỏi ách nô lệ, tổng thống Diệm đặc biệt chú ý đến việc đào tạo các cán bộ tương lai. Nổi bật nhất là thiết lập chương trình huấn luyện 4 năm đào tạo các sĩ quan hiện dịch tại Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN), tổ chức trường Quốc Gia Hành Chánh để đào tạo các cán bộ hành chánh dân sự với trình độ đại học. Để đối phó với các cán bộ cộng sản nằm vùng do CS để lại sau Hiệp Định Genève, chính phủ tổ chức chiến dịch Tố Cộng. Qua chiến dịch này, nhiều cán bộ hạ tầng CS bị bắt giữ hoặc quy thuận với chính quyền. Tổng Thống Diệm cũng thường tiếp kiến các tướng lãnh, những sĩ quan cao cấp và những giới chức dân sự giữ những chức vụ then chốt, vừa để giáo huấn khích lệ, vừa để trực tiếp lượng định hiệu quả thi hành công tác. Mặc dầu có dư luận phê bình về cách làm việc đi ra ngoài hệ thống chỉ huy thông thường của Tổng Thống Diệm, nhưng chính dưới chính thể Đệ Nhất Cộng Hoà, MNVN đã phát triển toàn diện các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá xã hội… phục vụ và nâng cao mức sống của người dân. Từ cảnh hỗn loạn sau Hiệp định Genève, chính phủ Ngô đình Diệm đã vượt qua được mọi khó khăn để xây dựng MNVN thành một quốc gia vững mạnh, phát triển kinh tế ngang bằng các quốc gia lân bang như: Thái Lan, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Đại Hàn, Đài Loan… Miền Bắc không còn hy vọng vào sự sụp đổ của MNVN sau Hiệp định Genève như Hồ chí Minh dự kiến để thôn tính MNVN bằng thủ đoạn chính trị.
Mâu thuẫn giữa Hoa Kỳ và chính phủ VNCH về chỉ đạo chiến lược chiến tranh
Vào tháng 11-1957, trong cuộc hành quân ở Ô Môn, Cần Thơ, VNCH bắt được một số cán binh Việt cộng (VC), tịch thu nhiều vũ khí mà về phẩm chất tối tân hơn hẳn những vũ khí cổ điển thế chiến thứ hai của QĐVNCH. Đây là bằng chứng cụ thể CSBV đã trang bị và lén lút đưa cán bộ tập kết trở lại MNVN. Trước đó một tháng, tháng 10-1957, CSBV đã quyết định cho thành lập 37 đại đội võ trang tại vùng đồng bằng sông Cửu Long và khơi động chiến dịch bắt cóc, ám sát, thủ tiêu các viên chức xã ấp VNCH. Riêng năm 1957 có khoảng 400 người bị sát hại. Năm 1958, sau cuộc tham quan bí mật tại MNVN, Lê Duẫn, một ủy viên trung ương đảng CS báo cáo với Trung Ương đảng bộ rằng chính phủ Ngô đình Diệm chẳng những không sụp đổ mà càng ngày càng vững mạnh. Do đó, năm 1959, CSBV quyết định chính thức phát động chiến tranh nhằm thôn tính MNVN dưới hình thức Chiến Tranh Nhân Dân với chiêu bài chống Mỹ Diệm, thành lập đoàn 559 để vận chuyển người và quân dụng vào MNVN qua đường mòn Hồ chí Minh. Về mặt chính trị, ngày 20-12-1960 Hà nội cho ra đời Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN) để ngụy trang như là phong trào tự phát của nhân dân MNVN chống chế dộ Ngô đình Diệm.
Trong chiến tranh VN, có hai hình thức chiến tranh tiêu biểu: Hình thức Chiến Tranh Quy Ước (CTQU) và hình thức Chiến Tranh Nhân Dân (CTND):
- CTQU mang bản chất quân sự. Cứu cánh CTQU nhằm tiêu diệt lực lượng võ trang và chiếm đóng lãnh thổ của địch, đòn bẫy để thành đạt mục đích chính trị. Lượng giá kết quả các cuộc hành quân của Hoa kỳ và VNCH bằng số lượng địch bị tiêu diệt và võ khí địch bị tịch thâu, xuất phát từ tư tưởng chiến tranh quy ước của Carl Von Clausewitz với định nghĩa: Chiến tranh là sự kế tục của chính trị.
- Khác với CTQU, cứu cánh CTND của CS mang bản chất chính trị nhằm tranh thủ (hay kiểm soát) nhân dân từ cấp bộ hạ tầng thấp nhất. Trọng tâm chủ lực địch nằm trong tổ chức chính trị hạ tầng cơ sở quần chúng chứ không phải lực lượng võ trang. Cộng sản chẳng những không phủ nhận định nghĩa chính trị là mục đích của chiến tranh mà còn đi xa hơn nữa bằng tư tưởng của Mao trạch Đông với định nghĩa: Chính trị là chiến tranh không đổ máu và chiến tranh là chính trị có đổ máu.
Phản ứng của Hoa kỳ đối với tình trạng nông thôn ung thối lúc ấy là thành lập tổ chức mang danh National Intelligence Estimate. Nhưng thay vì theo dõi đánh giá chiến lược chiến thuật của CS, tổ chức này lại đặt trọng tâm công tác vào việc đánh giá chính quyền VNCH. Họ đưa ra nhận định rằng chính quyền Diệm đã không thỏa mãn những đòi hỏi của giới trí thức về tự do, dân chủ và đối lập rồi đưa ra kết luận: chính sách của chính phủ ông Diệm ngăn cản phát triển sự ủng hộ chế độ của đa số quần chúng (Lost Victory, Williams Colby, trang 56). Thực ra, hoạt động CS khủng bố, bắt cóc, thủ tiêu các viên chức xã ấp VNCH nằm trong khuôn khổ đường lối chiến lược CTND của CS, chứ không phải là hậu quả của phong trào nhân dân bất mãn đối với chính quyền.
Bất đồng quan điểm giữa chính phủ VNCH và Hoa kỳ về sự nhận thức chủ trương chiến lược CTND của CS thể hiện rõ qua chương trình viện trợ của Hoa kỳ lúc bấy giờ. Trong khi lực lượng Dân Vệ trở thành mục tiêu chiến lược bị CS ra sức đánh phá, thì Hoa kỳ lại đặt ưu tiên viện trợ cải tổ QĐVNCH theo mô thức tổ chức quy ước mà quân lực Hoa kỳ đã thành công trong chiến tranh Cao Ly. Chính phủ VNCH đành phải tự xoay xở với những phương tiện nghèo nàn cổ hủ để trang bị cho tổ chức Dân Vệ. Sự bổ nhiệm cá nhân tôi làm giám đốc Nha Quân Cụ với công tác ủy nhiệm tìm hoặc biên chế vũ khí đạn dược cho Dân Vệ xẩy ra vào thời điểm này. Mãi cho đến đầu năm 1961, tức bốn năm sau kể từ khi cuộc chiến khởi sự (1957), Hoa kỳ mới đồng ý viện trợ các lực lượng diện địa với kế hoạch 68,000 Bảo An và 40,000 Dân Vệ.
Chương Trình Ấp Chiến Lược, chiến lược chống lại CTND của CS
CTND của CS lấy nhân dân và lúa gạo tại MNVN làm nguồn cung cấp về nhân lực và lương thực để phát động, tổ chức, nuôi dưỡng và phát triển chiến tranh. Cán binh CS không những có nhiều kinh nghiệm về hoạt động khuynh đảo, mà còn thừa hưởng kinh nghiệm đấu tranh chính trị và võ trang của toàn khối CS quốc tế. Họ xử dụng bất cứ thủ đọạn bạo lực nào miễn là phục vụ cho mục đích theo phương châm: Cứu cánh biện minh cho phương tiện. Trong khi đó, phía quốc gia mặc dầu có ưu thế chiến thuật về di động và hoả lực, gây cho địch nhiều tổn thất về nhân mạng và vũ khí trong các cuộc hành quân lớn nhỏ, nhưng tựu trung vẫn không dành được thế chủ động tại chiến trường. Tại nông thôn, CS tiếp tục nới rộng vùng kiểm soát, lực lượng võ trang địch mỗi ngày thêm lớn mạnh. Rõ ràng CS giữ được ưu thế chủ động về chiến lược. Trong chiến tranh, phe nào có ưu thế chiến lược, phe đó sẽ thành đạt thắng lợi cuối cùng. Đó là quy luật. Theo nhận xét của tướng Lionel C. McGarr, trưởng phái bộ quân sự Mỹ tại Saigon thì vào đầu năm1961, CS đã kiểm soát được 40% nông thôn, mặc dầu trong khi ấy phía CS cũng chẳng mấy khả quan, vì theo Lê Duẫn lực lượng quân sự của Diệm vẫn còn nguyên vẹn.
Để dành lại quyền chủ động trong chiến tranh, cuối năm 1961, chính phủ VNCH ban hành quốc sách Ấp Chiến Lược (ACL), một chương trình có quy mô lớn nhằm đối phó với chiến lược CTND của CS. Chương trình do ông Ngô đình Nhu, cố vấn chính phủ khởi xướng và được ủy nhiệm lãnh đạo thực hiện.
Giải pháp ACL là kết quả công trình nghiên cứu những kinh nghiệm của cuộc CTVN lần thứ nhất (1946-1954), những ý kiến của các chuyên gia Hoa kỳ và nhất là của Phái Bộ Anh Quốc tại Saigon do Sir Robert Thompson hướng dẫn. Ông Thompson đã từng thành công trong việc tiễu trừ phiến loạn CS tại Malysia. CT/ACL chủ trương vận dụng mọi khả năng quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội để vãn hồi an ninh tại nông thôn, ngõ hầu nâng cao mức sống của quảng đại quần chúng. CT/ACL lấy đơn vị ấp làm địa bàn hoạt động.
“ACL là một ấp mà nhà cửa của dân chúng ở vào cùng một khu đất, có hàng rào bảo vệ, có chính quyền được bầu cử, dưới sự kiểm soát của chính phủ VNCH. Một ấp được coi là ACL khi hội đủ 6 tiêu chuẩn:
1. Có hàng rào bảo vệ
2. Có Ban Trị Sự do dân bầu ra
3. Có lực lượng Thanh Niên Chiến Đấu được huấn luyện và võ trang an ninh
4. Có kề hoạch phát triển kinh tế
5. Dân chúng được đoàn ngũ hoá
6. Có hương ước
Ngoài ra tuỳ theo khả năng yểm trợ của quận, tỉnh và trung ương, mỗi ấp còn có trường học, trạm y tế, phòng thông tin.
Về quân sự, mỗi ấp tiến tới chỗ có thể tự bảo vệ chống lại hoạt động của du kích CS cấp nhỏ, xây dựng hệ thống tình báo trong dân chúng, triệt hạ mạng lưới tình báo và hạ tầng cơ sở của VC, ngăn chặn VC thu thuế và thu góp thực phẩm cũng như phẩm vật khác dùng cho du kích.
Về chính trị, chính sách ACL nhằm mục tiêu xây dựng dân chủ ở xã ấp, chống nạn cường hào ác bá, nâng cao ý thức chính trị, củng cố tinh thần và ý chí chống cộng để phát triển kinh tế, xã hội, tự do, hoà bình. Các ban Trị Sự ACL do dân chúng bầu cử trực tiếp.
Về kinh tế, mỗi ấp phải có môt số dự án phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá. Mục tiêu tối thiểu là tự túc về lương thực căn bản (lúa, bắp, sắn) sau 2 năm. Ngoài ra còn có những dự án trồng cây công nghiệp nhỏ (cao su, kénaf, đay, bông, mía, cà phê…), các dự án ngư nghiệp, nhà máy chế biến thực phẩm do trung ương tài trợ. Một ấp mà vì điều kiện kém thuận lợi không có dự án kinh tế nào sẽ chỉ được coi là Ấp Chiến Đấu.
Về văn hoá, ACL còn có mục tiêu chống nạn mù chữ, xây dựng các trường sơ học, phát huy truyền thống dân tộc qua việc thực hiện hương ước giống như trong xã ấp thời xưa
Chính sách ACL đề ra mục tiêu hoàn thành việc xây dựng 2/3 trong hơn 8000 ấp của VNCH thành ACL vào năm 1964, và tiến tới xây dựng xong ¾ vào cuối năm 1964. Lúc đó, mục tiêu quân sự được quy định là trao toàn bộ trách nhiệm an ninh phòng vệ lãnh thổ cho Địa Phương Quân. Các bộ tư lệnh Vùng Chiến Thuật, Khu Chiến Thuật và Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu sẽ do Địa Phương Quân đảm trách. Các đại đơn vị quân đoàn, sư đoàn sẽ lưu động 100% trong nhiệm vụ tìm và diệt địch tạì các căn cứ địa của chúng”
(Tài liệu do Nguyễn công Luận, UBPHLB/ACL cung cấp).
Để thực hiện CT/ACL, ông Nhu đưa ra một loạt những chương trình phụ thuộc, nhưng không kém phần quan trọng như:
- Thành lập Ủy Ban Phối Hợp Liên Bộ tại Trung Ương và các Ủy Ban Phối Hợp tại các địa phương để điều hành.
- Tổ chức phong trào học tập trên toàn quốc để hướng dẫn tư tưởng chiến tranh qua quốc sách ACL.
- Tổ chức phong trào Thanh Niên Cộng Hoà có võ trang để vận động chính trị cũng như bảo vệ thôn ấp.
- Áp dụng chính sách chiêu hồi đối với các cán binh CS muốn trở về hợp tác với chính quyền quốc gia.
CT/ACL mới thực hiện được khoảng 2 năm và dĩ nhiên còn nhiều khiếm khuyết cần cải tiến thì bị hủy bỏ sau chính biến 1-11-1963. Tuy vậy, theo ông Williams Colby, cựu Giám Đốc Trung Ương Tình Báo HK: “Đây là lần đầu tiên, CT/ACL đã dành lại thế chủ động chiến lược trong cuộc chiến đương đầu với CS” (Lost Victory, Williams Colby, p.102). Wilfred G. Burchett, một ký giả Úc đại Lợi thân cộng, từng sống trong chiến khu CS và đã có dịp tiếp xúc với nhiều lãnh tụ VC viết như sau về ACL: “Về lãnh thổ cũng như về dân số, Diệm đã lấy lại được một phần đáng kể năm 1962.” Burchett ghi nhận:”Quân đội chính phủ đã dành lại được quyền chủ động về chiến lược và chiến thuật…. Năm 1962 là năm của Diệm.” (Triumph Forsaken, Mark Moyar, p.185)
CT/ACL và vấn đề chủ động chiến lược
Trong một buổi hội thảo về phòng thủ ấp tại Trung Tâm Hội Thảo ACL Suối Lồ Ô dành cho các viên chức cao cấp dân sự và quân sự, chúng tôi đặt vấn đề phải tổ chức phòng thủ chống lại các cuộc tấn kích ACL của VC như thế nào để vừa giữ được ấp, vừa bảo vệ được sinh mạng và tài sản của nhân dân, đáp ứng mục tiêu chính trị của CT/ACL là tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân trong ấp. Các hội thảo viên đề ra một số nguyên tắc:
- Về quân sự, chính sách ACL không đòi hỏi các ACL có khả năng chống trả các cuộc tấn công của lực lượng quân sự địch cấp địa phương. Trên lý thuyết, một tiểu đội hoặc một trung đội thanh niên chiến đấu để giữ an ninh ấp chỉ có thể làm nhiệm vụ chống du kích VC quấy rối, thâu thập tin tức, chiến đấu trì hoãn chờ lực lượng xung kích đến tiếp cứu.
- Bảo vệ an ninh ACL là trách nhiệm của các cấp bộ chỉ huy lãnh thổ địa phương.
- Các đơn vị giữ an ninh ấp và những đơn vị xung kích đến tiếp cứu phải luôn luôn nắm vững tư tưởng chiến lược là bảo vệ sinh mạng và tài sản của nhân dân.
- Đơn vị tiếp cứu chỉ có thể phát huy sở trường về ưu thế di động và hoả lực của mình bằng cách chặn đánh bẻ gẫy quy luật tác chiến của địch như tấn kích căn cứ xuất phát, phục kích đường tiến sát và rút lui của chúng bên ngoài hàng rào ấp, tránh tối đa giao tranh xử dụng pháo binh và súng cối trong nội vi hàng rào ấp.
- Hàng rào ấp không thể được coi là hệ thống phòng thủ chu vi của ấp. Rào kín ấp chỉ giúp cho việc tập trung dân cư để dễ kiểm soát và cản trở địch len lỏi tiếp xúc với các nông dân thâu góp thực phẩm và tiền bạc. Hàng rào ấp còn tạo tác dụng tâm lý an toàn trong ấp.
Như vậy, mấu chốt để dành quyền chủ động chiến lược của CT/ACL tuỳ thuộc vào hai yếu tố:
(1) Toàn bộ các hoạt động quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong CT/ACL phải phục vụ cho mục tiêu chính trị là tranh thủ và bảo vệ nhân dân
(2) Khả năng chiến thuật bẻ gẫy quy luật tác chiến địch của các đơn vị xung kích hành quân bảo vệ an ninh ấp, tuyệt đối tránh làm phương hại đến sinh mạng và tài sản của nhân dân trong ấp.
Chính biến 1-11-1963 và những hậu quả
Bất hạnh thay, CT/ACL đang tiến hành có kết quả hết sức khả quan thì xảy ra chính biến. Cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963 do tướng Dương văn Minh cầm đầu được Hoa kỳ cổ võ, lật đổ chính phủ hợp pháp hợp hiến VNCH, sát hại TT Ngô đình Diệm và người em là ông cố vấn Ngô đình Nhu đã làm sụp đổ nền cộng hoà và chương trình ACL. Sau chính biến, các tướng lãnh lo gây phe cánh để tạo uy thế chính trị làm hàng ngũ quân đội chia rẽ, tệ trạng tham nhũng lan tràn, lòng dân ly tán. Sự chỉ đạo chiến tranh từ nay do Hoa kỳ quyết định, tạo cớ để CSBV giương cao được ngọn cờ chính nghĩa dưới “chiêu bài” Chống Mỹ Cứu Nước, ồ ạt đưa quân tăng viện MTDTGPMN trong mưu đồ thôn tính MNVN. Tình trạng bất ổn này kéo dài mãi cho đến khi Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu ổn định được tình hình chính trị vào năm 1967. Mặc dầu sau này CT/ACL được tiếp nối bởi các chương trình Ấp Tân Sinh, Ấp Đời Mới… nhưng vì mất đi yếu tố chính nghĩa, cho nên về phẩm chất đã không thể đạt được mục đích chính trị ở mức độ cao như CT/ACL nguyên thủy.

Tổng thống Ngô Đình Diệm được Tổng Thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower và Ngoại Trưởng John Foster Dulles đón tiếp tại Phi trường Quốc gia Washington (Washington National Airport) vào ngày 8 tháng 5/1957 - Ảnh ARC
Ký giả thân cộng Wilfred G. Burchett phát biểu khi nghe tin TT Diệm bị lật đổ: “Thật là không thể tin được: chúng nó đã giết người duy nhất có tư tưởng và tổ chức có thể chặn chúng tôi”.
Về phía các lãnh tụ MTDTGPMN thì họ không ngờ là họ lại may mắn như thế. Nguyễn hữu Thọ nói với báo Nhân Dân: “Sự lật đổ Diệm là món quà mà trời ban cho chúng tôi”
Hồ chí Minh thì nói với một nhóm cán bộ: “…Ông Diệm là kẻ thù ghê gớm nhất của Bác. Nay Ông đã bị loại rồi, thì chiến thắng chắc chắn về ta rồi.” ( Trích bài: Phe CS nghĩ sao về TT Ngô đình Diệm - Tôn thất Thiện - Lễ tưởng niệm cố TT N Đ D 2006 )
Nói tóm lại, sự sụp đổ chính phủ Ngô đình Diệm đã dẫn đến nhiều hậu quả vô cùng tai hại cho Hoa kỳ và MNVN:
- Sai lầm nghiêm trọng khi quyết định xoá bỏ CT/ACL sau chính biến 1-11-1963.
- VNCH mất đi yếu tố chính nghĩa, quân lực Hoa kỳ phải thay thế QLVNCH bình định chống lại quân CSBV. Vai trò QLVNCH xuống cấp trở thành đoàn quân phụ thuộc cho quân lực Hoa kỳ.
- Khủng hoảng lãnh đạo chính trị tại MNVN đã vô phương cứu vãn.
- Hoa kỳ phải trả giá quá mắc về sinh mạng, tiền bạc và uy tín quốc tế do sự thất bại tại MNVN.
- MNVN bị CSBV cưỡng chiếm.
Những điểm tương đồng và khác biệt giữa CTVN và CT Afghanistan
Trở lại trường hợp chiến tranh Afghanistan, có nhiều điểm tương đồng và khác biệt so với chiến tranh VN:
Những điểm tương đồng:
- Xét về mặt bản chất thì CSVN và phiến quân Taliban đều dựa trên nền tảng nhân dân để tiến hành cuộc chiến tranh, cho nên cả hai cuộc chiến đều mang bản chất chính trị dưới hình thức CTND được áp dụng tại VN. CSVN lấy chủ nghĩa CS và sự khát khao nền độc lập cho xứ sở để vận dụng sự đồng tình tham gia của quần chúng. Phiến quân Taliban lợi dụng bản chất cực đoan sẵn có của một hệ phái Hồi giáo để vận động tín đồ.
- Cả CSVN lẫn phiến quân Taliban đều nêu cao ngọn cờ chính nghĩa dựa trên chiêu bài tranh đấu chống ngoại bang dành lại chủ quyền quốc gia để vận dụng lòng yêu nước và khí thế đấu tranh.
- Cả CSVN lẫn phiến quân Taliban đều áp dụng thủ đoạn bạo lực khủng bố không giới hạn theo phương châm: cứu cánh biện minh cho phương tiện.
- Cả CSVN lẫn phiến quân Taliban đều dùng biên giới với địa thế hiểm trở làm căn cứ xuất phát cho các hoạt động khủng bố.
- Cả hai cuộc chiến đều mang tính chất trường kỳ và toàn diện. Yếu tố thời gian thuận lợi cho phía CSVN và phiến quân Taliban, trong lúc đó Hoa kỳ và đồng minh rất khó khắc phục nhược điểm của một quốc gia tự do dân chủ dễ nản lòng đối với cuộc chiến kéo dài với nhiều thương vong.
- Cũng như trong CTVN, Hoa kỳ và VNCH đã mất thời gian dài trước khi đề ra chiến lược hữu hiệu cho cuộc chiến. Tại VN, Hoa kỳ và VNCH đã mất thời gian 4 năm, còn tại Afghanistan, Hoa kỳ và NATO đã mất thời gian 8 năm. Thời gian là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong chiến tranh và chiến đấu.
- Chỉ có chính quyền hợp pháp được nhân dân bản xứ ủng hộ mới có thể đối phó hữu hiệu với chiến tranh khuynh đảo.
Những điểm khác biệt:
- Cuộc chiến tại Afghanistan phục vụ cho quyền lợi và nền an ninh của Hoa kỳ.
- CSVN có hậu phương rất vững chắc và to lớn là Cộng Sản Bắc Việt và toàn khối cộng sản quốc tế, đặc biệt là Nga sô và Trung cộng hỗ trợ về các mặt chính trị, tâm lý, kinh tế, võ khí, quân dụng, nhân sự… và kinh nghiệm đấu tranh khuynh đảo. Phiến quân Taliban chỉ nhận được sự hỗ trợ giới hạn của thế giới Hồi Giáo.
- Phiến quân Taliban không có (hoặc chưa có) khả năng tiến hành hình thức chiến tranh CTQU kết hợp với chiến tranh du kích ở quy mô lớn như CSVN.
- Chính phủ Afghanistan không có sẵn tổ chức quân đội và cơ cấu hành chánh quy mô như chính phủ VNCH.
Sự bổ nhiệm Đại tướng Stanley A. McChrystal làm tư lệnh chiến trường Afghanistan với khuynh hướng chiến lược bảo vệ sinh mạng và tài sản nhân dân Afghanistan của quân lực Hoa kỳ và NATO dường như phản ảnh chiến lược CT/ACL của VNCH trước đây.
Để dành lại quyền chủ động chiến lược, kinh nghiệm về CT/ACL trong CTVN cho thấy, vấn đề quan trọng hàng đầu khi có sự thay đổi chiến lược trong chiến tranh là toàn thể các giới chức lãnh đạo dân sự, quân sự, các cơ cấu và các tổ chức quân dân chính liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến chiến trường cần đạt được sự thống nhất về tư tưởng chỉ đạo chiến lược. Phương pháp hữu hiệu nhất là phát động một phong trào học tập ở mọi cấp bộ về tư tưởng chiến lược mới. Bản thân tôi đã tham dự một khóa hội thảo về CT/ACL do Ủy Ban Phối Hợp Liên Bộ Trung Ương của CT/ACL tổ chức vào năm 1962, cho nên tôi nhận thức được nhu cầu và lợi ích của phong trào học tập thống nhất tư tưởng chỉ đạo.
Hiện nay Hoa kỳ và NATO tại Afghanistan đang nắm ưu thế về quân sự tại chiến trường, thế nhưng trong chiến tranh khuynh đảo, chính trị mới là nền tảng, bởi vậy sự thành công hay thất bại của cuộc chiến lại tùy thuộc vào yếu tố hình thành một chính quyền hợp pháp và vững mạnh tại địa phương. Chính quyền ấy không những phải đáp ứng quyền lợi và khát vọng của nhân dân Afghanistan mà còn phải phù hợp với quyền lợi và mục tiêu của Hoa Kỳ và đồng minh. Đó là một vấn đề hết sức khó khăn, nhưng nếu không khai thông được vấn đề chính trị, thì rất có thể Hoa kỳ sẽ đi vào vết xe lầy như trong chiến tranh VN.
Viết nhân ngày giỗ cố tổng thống Ngô Đình Diệm năm 2009
BỌN ÁC ÔN CÔN ĐỒ
Những tướng tá dơ bẩn đã phản bội cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm để nhận $42,000 USD tiền công từ Lucien Conien. Hình chụp vào ngày quốc khánh Việt Nam Cộng Hòa 26/10/1963, 5 ngày trước khi đảo chánh.

Tướng Dương văn Minh, Lê văn Kim, một đại tá không rõ tên, tướng Trần văn Đôn

Tướng Kim, Đính, Đôn, Vỹ, và Xuân bị tướng Khánh ra lệnh bắt tại nhà ở Đà Lạt năm 1964
Saigon ngày 8.11.2003
Tú Gàn
Trong cuốn băng dài 30 tiếng đồng hồ do thư viện Johson Library ở Austin, Texas, công bố ngày 28.2.2003, Tổng Thống Johnson đã gọi các tướng miền Nam Việt Nam được Hoa Kỳ thuê làm đảo chánh lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm là “một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” (a goddam bunch of thugs). Họ là ai và đã làm gì mà bị Tổng Thống Johnson miệt thị như vậy?
NHẬN DIỆN BỌN ÁC ÔN CÔN ĐỒ
Tướng Trần Văn Đôn cho biết các sĩ quan sau đây đã nằm trong nhóm đứng ra tổ chức đảo chánh: Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Trần Văn Đôn, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, Thiếu Tướng Nguyễn Khánh, Thiếu Tướng Lê Văn Kim, Thiếu Tướng Trần Văn Minh, Thiếu Tướng Phạm Xuân Chiểu, Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm, Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, Đại Tá Đỗ Mậu, Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Tá Nguyễn Văn Quan, Đại Tá Nguyễn Hữu Có, Đại Tá Trần Ngọc Huyến, Đại Tá Nguyễn Khương và Đại Tá Đỗ Cao Trí.
Trong một cuộc phỏng vấn, Tướng Khánh có nói với chúng tôi rằng ông là người được CIA tiếp xúc trước tiên khi muốn làm đảo chánh. Nhưng theo tài liệu, CIA đã cho hai điệp viên khác nhau đến gặp Tướng Khiêm và Tướng Khánh cùng một lúc. Điệp viên Lucien Emile Conein đến gặp Tướng Khiêm, một nhân viên CIA, lúc đó là Tham Mưu Trưởng Liên Quân, và cho biết quyết định của Hoa Kỳ muốn lật đổ Tống Thống Ngô Đình Diệm. Tướng Khiêm đồng ý nhận thực hiện kế hoạch đó, nhưng gợi ý nên đi gặp Tướng Dương Văn Minh và Tướng Trần Văn Đôn. Trong khi đó, một điệp viên khác là Al Spera, cố vấn chính trị Bộ Tổng Tham Mưu, đi Pleiku gặp Tướng Nguyễn Khánh, một cộng tác viên khác của CIA, để thảo luận về việc này. Khi Al Spera hỏi Tướng Khánh về tướng Khiêm, Tướng Khánh đã nắm chặt hai bàn tay của mình lại và nói: “Chúng tôi như thế này”.
Sau khi Tướng Khiêm và Lucien Conein phác xong họa kế hoạch hành động, ngày 2.10.1963 khi Tướng Đôn lên phi trường đi Nha Trang thì Lucien Conein đến gặp và hẹn sẽ nói chuyện với nhau ở Nha Trang. Tối hôm đó, tại Nha Trang, Lucien Conein thuyết phục Tướng Đôn làm đảo chánh và Tướng Đôn đã đồng ý. Ngày 5.10.1963, Lucien Conein lại đến bàn chuyện này với Tướng Dương Văn Minh. Tướng Minh cũng đồng ý. Tướng Đôn được giao cho phối trí lực lượng, còn Tướng Minh lãnh đạo Hội Đồng Cách Mạng. Tất cả nằm dưới sự chỉ đạo của Lucien Conein và Tướng Khiêm.
1.- Vai trò của Lucien Emile Conein
Chúng tôi chưa tìm được tài liệu nào nói về điệp viên Al Spera, nhưng chúng tôi có khá nhiều tài liệu về điệp viên Lucien Emile Conein. Ông sinh năm 1919 tại Paris, mồ côi cha sớm, lúc mới 5 tuổi được mẹ gởi sang Hoa Kỳ sống với bà dì tại Kansas City thuộc tiểu bang Kansas, nhưng vẫn giữ quốc tịch Pháp. Ông đã từng làm điệp viên cho OSS (tiền thân của CIA) từ năm 1943 với cấp bậc Trung Úy, hoạt động chống Đức Quốc Xả trong Đệ Nhị Thế Chiến ở Âu Châu, rồi qua Bắc Việt khi chiến tranh chấm dứt. Từ 1954 đến 1956 ông đến Việt Nam hoạt động trong toán đặc nhiệm dưới quyền của Đại Tá Edward Lansdale, người đã giúp Tổng Thống Ngô Đình Diệm chống lại nhóm Bảy Viễn và Tướng Nguyễn Văn Hinh. Sau đó, ông trở về Mỹ và tham gia Lực Lượng Đặc Biệt (Special Force), nhưng vẫn còn làm việc cho CIA.
Năm 1961 ông đã xin về hưu, nhưng năm 1962 ông được CIA gọi làm việc trở lại và phong cho chức Trung Tá với bí danh là Lulu hay Black Luigi, rồi gởi qua Sài Gòn làm cố vấn cho Bộ Nội Vụ. Nhưng trong thực tế, Lucien Conein có nhiệm vụ móc nối với các tướng Việt Nam mà ông đã có dịp quen biết khi phục vụ dưới quyền của Đại Tá Lansdale, để chuẩn bị tổ chức đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Đại Sứ Henry Cabot Lodge gọi Lucien Conein là “the indispensable man” (con người rất cần thiết). Còn trong cuốn "Vietnam: A History," sử gia Stanley Karnow nói rằng Lucien Conein là “một người lập dị, một người náo nhiệt, một nhân viên tình báo rất nhạy cảm và hoàn toàn chuyên nghiệp, thường không thể kiểm soát được” Sau này, Everette E. Howard Hunt cũng đã dự tính dùng Lucien Conein trong vụ Watergate.
Mỗi lần được phỏng vấn, Lucien Conein thường mở đầu câu chuyện bằng câu: “Bây giờ, đây là sự thật hai mặt, là thứ danh dự của hướng đạo sinh, là sự thật hai mặt” hay “Đừng tin bất cứ điều gì tôi nói; tôi là một tên nói dối chuyên nghiệp”
Khi cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963 xẩy ra, Lucien Conein đến Bộ Tổng Tham Mưu chỉ đạo trực tiếp. Ông ngồi trên ghế của Tướng Lê Văn Tỵ, đặt hai túi bạc dưới ghế, hai chân gác lên bàn, bên cạnh có khẩu 375 Magnum, chỉ huy các tướng Việt Nam thực hiện. Trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng, Tướng Trần Văn Đôn cho biết khi hay tin ông Diệm và ông Nhu đã ra khỏi Dinh Gia Long, Lucien Conein đã hỏi: “Hai ông ấy đi đâu? Phải bắt lại cho kỳ được, vì rất quan trọng”. Lucien Conein đã nói với các tướng đảo chánh bằng tiến Pháp: “On ne fait pas d'omelette sans casser les oeufs.” (Người ta không thể làm món trứng rán mà không đập bể những cái trứng.) (trang 228)
Khi bước xuống thuyền đài ngày 3.6.1998 tại Virginia, Lucien Conein đã ôm theo khá nhiều bí mật của cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963.
2.- Tướng Trần Thiện Khiêm
Trong cuốn “Việt Nam nhân chứng”, Tướng Trần Văn Đôn nói rằng trong kế hoạch đảo chánh, ông rất dè dặt với Tướng Khiêm vì tướng này rất được ông Diệm và ông Nhu tin cậy. Vợ ông, bà Đinh Thị Yến, lại có chân trong ban chấp hành Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới Trung Ương của bà Nhu và là dân biểu Quốc Hội, thường đi sát với bà Nhu. Ông nhờ Tướng Minh thăm dò. Qua một người Mỹ “cam kết và tìm hiểu”, Tướng Minh cho biết Tướng Khiêm đồng ý tham gia đảo chánh.
Khi viết như vậy, Tướng Đôn không biết gì nhiều về sự sắp xếp của CIA trong cuộc đảo chánh này. Ngay cả khi lệnh giết ông Diệm và ông Nhu được CIA truyền xuống, Tướng Đôn cũng không hề được cho biết. Một vài câu chuyện sau đây do một nhân chứng có mặt tại Bộ Tổng Tham Mưu trong suốt thời gian cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963 xẩy ra, cũng đủ cho chúng ta thấy vài trò của Tướng Khiêm quan trọng như thế nào:
- Khoảng 1 giờ 25 trưa ngày 1.11.1963, Tướng Khiêm bước ra bước vào nơi ông làm việc. Đúng 1 giờ 30, tin đảo chánh được phổ biến, các tướng lãnh liên miên ra vào văn phòng Tướng Khiêm.
- Sáng 2.11.1963, có người đem bộ complet màu xám sậm đến đứng ở lầu ba chờ. Tuy phái của Tướng Khiêm ra hỏi thì được biết người này được gọi đem áo tới cho Tổng Thống Diệm. Khoảng 9 giờ, một đại tá bước vào phòng Tướng Khiêm. Hai phút sau, đại tá này bước ra và bảo người kia đem bộ đồ complet về, vì Tổng Thống đã chết! Trên lầu, nhiều tướng lãnh ra vào phòng Tướng Khiêm rất nhộn dịp. Buổi tối, sau khi xác ông Diệm và ông Nhu được liệm xong, một báo cáo đã được trình lên cho Tướng Khiêm biết.
- Khuya 3.11.1963, khi mọi việc đã xong xuôi, Tướng Khiêm cho gọi Đại Tá Trần Văn Trung, Tham Mưu Phó Nhân Viên, và Đại Tá Đặng Văn Quang, Tham Mưu Phó Tiếp Vận, vào văn phòng ông và ra lệnh: “Hai ‘toi’ trực ở đây đêm nay, ‘moi’ về nghỉ.
- Một tuần lễ sau, Tướng Khiêm bước vào ban văn thư và hỏi Đại Úy Phạm Bá Hoa, chánh văn phòng của ông: “Có cho anh em mỗi người lên một cấp chưa? Nếu có gì xảy ra, ‘moi’ bay đầu thì các anh em cũng không được yên đâu.”
Đọc thêm cuốn “Đôi dòng ghi nhớ” của Đại Tá Nguyễn Bá Hoa, đọc giả sẽ thấy rõ hơn quyền hành của Tướng Khiêm trong cuộc đảo chánh này.
LỆNH HÀNH QUYẾT
Từ trước đến nay, chúng ta thường tranh luận về ai đã ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Nay cuốn băng của Tổng Thống Johnson đã chính thức xác nhận rằng chính quyền Kennedy (Kennedy administration) đã ra lệnh giết, nên vấn đề này không cần phải tranh luận nữa.
Lệnh hành quyết do Washington truyền cho Đại Sứ Lodge ở Sài Gòn. Ông này truyền cho Trần Thiện Khiêm và Dương Văn Minh qua Lucien Conein. Tướng Minh giao cho cận vệ của mình là Đại Úy Nguyễn Văn Nhung thi hành dưới sự chỉ đạo của Tướng Mai Hữu Xuân. Các sĩ quan khác, kể cả Tướng Đôn, đều không biết gì hết.
Như đã nói ở trước, ngoài Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu, Đại Sứ Henry Cabot Lodge đã quyết định giết thêm Ngô Đình Cẩn và Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt. Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh cho Nguyễn Văn Nhung đưa Đại Tá Lê Quang Tung ra nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế phía sau Bộ Tổng Tham Mưu đâm chết và vùi thây ở đó. Muốn giết ông Ngô Đình Cẩn, CIA phải lừa ông vào Tòa Lãnh Sự Mỹ ở Huế, nói rằng sẽ cho đi ngoại quốc, sau đó dùng công điện báo cáo láo về Washington nói rằng trong nhà ông Cẩn có hầm chôn người và súng, dân chúng đang biểu tình, rồi giao ông Cẩn cho Tướng Khánh giết. Trơng cuốn “Việt Nam Nhân Chứng”, Tướng Đôn xác nhận trong nhà ông Cẩn không hề có hầm chôn người hay súng.
Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng sở dĩ Tổng Thống Johson đã gọi nhóm tướng lãnh được thuê làm đảo chánh là “một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” vì hai lý do: Lý do thứ nhất là cách thức giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu. Chưa một nhà lãnh đạo nào trên thế giới đã bị bọn tay chân bộ hạ thân tín, được hưởng nhiều ơn mưa móc, giết một cách thê thảm như thế trong một cuộc đảo chánh. Lý do thứ hai là sự tham nhũng và bất tài của nhóm này.
HÀNH ĐỘNG ÁC ÔN CÔN ĐỒ
Khoảng 10 giờ ngày 2.11.1963, khi chiếc M113 chở xác ông Diệm và ông Nhu về đến Bộ Tổng Tham Mưu, đậu trên sân cỏ phía tay phải. Mở cửa xe phía sau ra, người ta thấy ông Diệm mặc bộ complet màu xám sậm, ông Nhu mặc bộ complet màu hơi nâu tím. Cả hai bị trói thúc ké tay sau lưng, nằm nghiêng trên sàn xe, máu me dầm dề. Một quân cảnh đứng gác tại đó cho biết, Tướng Dương Văn Minh đã xuống và tự tay vạch quần ông Diệm ra xem có “chim” không!
Với các dấu vết trên hai xác chết như vậy, nhiều người đã đặt câu hỏi: Hai ông đã bị giết như thế nào? Cách tường thuật của mỗi người mỗi khác.
Trong cuốn “Assassin in our Time” (Kẻ sát nhân trong thời đại chúng ta) xuất bản năm 1976, ở trang 142, Sandy Lesberg đã mô tả như sau: Ông Diệm và ông Nhu ngồi với hai tay trói sau lưng. Trong khi ông Diệm giữ im lặng, bất thình lình viên thiếu tá dùng dao găm (bayonet) đâm ông Nhu 15 hay 20 lần. Sau đó, hắn ta rút súng lục bắn vào sau đầu ông Diệm. Thấy ông Nhu còn quằn quại trên sàn, viên thiếu tá ban cho ông ta một cú ân huệ bằng cách cũng bắn vào đầu ông ta.
Sandy Lesberg không cho biết ông đã lấy tin này từ ai. Thật ra, lúc đó Nguyễn Văn Nhung còn là Đại Úy, sau này mới được thăng Thiếu Tá.
Với cuốn “Les Guerres du Vietnam” (Chiến tranh Việt Nam” xuất bản năm 1985, Tướng Trần Văn Đôn không hề mô tả gì đến cách giết ông Diệm và ông Nhu, mà chỉ mô tả về sự tàn ác của sát thủ Nguyễn Văn Nhung mà thôi.
Bà Ellen J. Hammer, tác giả của cuốn “A Death in November” (Cái chết vào tháng mười một), nói rằng khi chiếc xe chở ông Diệm và ông Nhu dừng lại ở cổng xe lửa đường Hồng Thập Tự, Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa từ trên miệng cửa xe lia một tràng tiểu liên vào hai ông Diệm và Nhu. Đại Úy Nhung rút súng Colt ra bồi thêm mấy phát vào đầu. Nhưng thấy chưa thỏa lòng, Nhung rút dao găm đâm tới tấp vào ngực hai anh em ông Diệm.
Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa phủ nhận lời tường thuật này, ông nói rằng ông không ngồi trên xe chở ông Diệm và ông Nhu lúc đó. Nếu chính ông đã giết ông Diệm và ông Nhu, người ta cũng đã giết ông như giết Nguyễn Văn Nhung rồi.
Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa là một đảng viên đảng Đại Việt, thuộc vào loại căm thù nhà Ngô, sau này đã được Tướng Nguyễn Khánh cho ngồi ghế phụ thẩm quân nhân của Tòa Án Các Mạng, xét xứ và tuyên án tử hình ông Ngô Đình Cẩn theo lệnh của Henry Cabot Lodge, mặc dù không có bằng chứng xác thực. Do đó, nhiều người vẫn tin vào lời tường thuật của bà Sandy Lesberg.
Có lẽ Tướng Nguyễn Chánh Thi là người biết rõ Đại Úy Nguyễn Văn Nhung đã giết ông Diệm và ông Nhu như thế nào, vì sau cuộc “chỉnh lý” ngày 30.1.1964, trước khi ra lệnh giết Đại Úy Nhung để phi tang một nhân chứng quan trọng (có lẽ theo lệnh của CIA), ông đã đích thân lấy lời khai của Nhung và còn bắt Nhung ngồi viết lời khai về vụ này. Ông có cho tôi nhìn qua tờ khai này năm 1968 khi đang ở Washington D.C. Nhưng rất tiếc, khi xuất bản cuốn “Việt Nam: Một trời tâm sự”, ông đã không cho in nguyên văn tờ khai này, mà tự ý sửa đổi và cắt bớt đi. Tướng Mai Hữu Xuân được đổi thành Tướng Thu, mặc dầu trong Quân Lực VNCH lúc đó không có tướng nào tên là Tướng Thu cả. Theo tờ khai mà Tương Thi công bố trong cuốn sách nói trên, Đại Úy Nhung đã khai như sau:
Khi xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu chạy được chừng 500 thước, Thiếu Tướng Thu (tức Mai Hữu Xuân) chạy xe ngược chiều trở lại và đưa lên một ngón tay trỏ. Đang còn ú ớ chưa biết giết ai, ông Diệm hay ông Nhu, họ định chạy qua để hỏi lại cho rõ thì dân chúng ùa ra xem rất đông, không chạy qua được. Bổng Thiếu Tướng Thu đưa hai ngón tay, họ hiểu rằng ông ra lệnh bắn cả hai người. Thiếu tá Nhung liền rút súng Colt 12 bắn mỗi người 5 phát, và sau đó bắn ông Nhu thêm ba phát vào ngực nữa.
Tướng Lê Minh Đảo, lúc đó là Đại Úy tùy viên của Tướng Lê Văn Kim, đã cho biết như sau: Sau khi ông Diệm và ông Nhu bị hạ sát ít lâu, Nguyễn Văn Nhung có kể lại chuyện này cho ông nghe. Nhung nói rằng khi được lệnh giết cả hai ông, Nhung đã bắn ông Nhu trước. Ông Diệm thấy thế đã nhắm mắt lại. Nhung liền bắn ông Diệm 5 phát. Sau đó quay qua bắn ông Nhu thêm 3 phát nữa. Điều này phù hợp với lời khai mà Tướng Nguyễn Chánh Thi đã công bố.
Tuy nhiên, sự thật không phải chỉ có thế. Xác ông Diệm và ông Nhu đã được đưa vào bệnh xá của Bộ Tổng Tham Mưu để khám nghiệm. Bác sĩ Huỳnh Văn Hưỡn (hiện nay ở New York), giám đốc bệnh xá này lúc đó, đã khám nghiệm và chứng nhận rằng cả ông Diệm lẫn ông Nhu đã bị bắn từ sau ót ra trước. Xác ông Diệm có nhiều vết bầm, chứng tỏ đã bị đánh đập trước khi bắn. Xác ông Nhu bị đâm nhiều nhát, áo rách nát và đầy máu. Vậy ông Diệm và ông Nhu đã bị trói, đánh đập và đâm lúc nào?
Một nhân chứng rất quan trọng hiện đang ở Melbourne, Úc Châu, cho biết ông là người đi trên chiết M113 chở ông Diệm và ông Nhu từ nhà thờ cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu, nên đã chứng kiến những sự việc xẩy ra. Câu chuyện ông kể lại có vẽ hợp lý hơn cả.
Theo nhân chứng này, vào trưa 1.11.1963, chi đoàn thiết giáp của ông được lệnh vào Sài Gòn để tăng cường bảo vệ thủ đô. Khi đến Sài Gòn, chi đội này được chia làm hai toán, một toán hợp lực với quân bạn bao vây Dinh Gia Long, một toán làm vòng đai an ninh cho Bộ Tổng Tham Mưu. Nhân chứng ở trong toán đóng tại Bộ Tổng Tham Mưu.
Sáng 2.11.1963, khoảng 6 giờ 15 phút, toán ông được lệnh di chuyển ra khỏi Bộ Tổng Tham Mưu. Khi vừa ra khỏi cổng chính thì thấy có 3 chiếc xe Jeep đang chờ. Chiếc thứ nhất có Tướng Mai Hữu Xuân và 3 cận vệ. Chiếc thứ hai chở Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Úy Nguyễn Văn Nhung và Đại Úy Dương Hiếu Nghĩa. Chiếc thứ ba chở 4 người, trong đó có Đại Úy Phan Hòa Hiệp. Sau đó là hai chiếc M113. Nhân chứng ngồi ở chiếc thứ nhì. Cuối cùng là 2 chiếc GMC chở đầy lính có vũ trang đầy đủ.
Khi đến Chợ Lớn, gần một nhà thờ, xe chạy chậm lại, các binh sĩ trên hai chiếc GMC được lệnh nhảy xuống, một số bố trí xung quanh nhà thờ, số còn lại bố trí ở vòng ngoài. Xe Tướng Xuân chạy một vòng rồi đậu lại bên kia đường.
Sau cái phất tay của Đại Tá Dương Ngọc Lắm, ba đại úy Nhung, Nghĩa và Hiệp nhảy xuống xe. Đại Tá Lắm ngoắc chiếc M113 có nhân chứng ngồi trên đó đi theo. Nhân chứng cũng nhảy xuống xe. Khi cách Đại Tá Lắm khoảng 2 thước, nhân chứng thấy có 4 người từ trong nhà thờ đi ra. Người đi đầu là Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Người đi tiếp theo là ông Ngô Đình Nhu. Sau cùng là hai tùy viên (Đại Úy Đỗ Thọ và ông Nguyễn Đắc Khá). Đại Tá Lắm đến chào ông Diệm:
- Thừa lệnh Trung Tướng Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, chúng tôi đến đón cụ và ông cố vấn.
Ông Diệm:
- Ông Đôn và ông Minh đâu hè?
Đại Tá Lắm:
- Thưa cụ, hai ông còn đang bận việc ở Tổng Tham Mưu.
- Thôi được. Thế tôi và ông cố vấn đi cùng xe kia với ông.
Đại Tá Lắm quay người lại chỉ vào chiếc M113 và nói:
- Thưa cụ, xin cụ lên xe này cho.
Ông Nhu khẻ nhíu mày lên tiếng:
- Không thể đón Tổng Thống bằng một chiếc xe như vậy. Để tôi liên lạc với ông Đôn, ông Đính coi xem.
Đại Tá Lắm khẽ nhún vai:
- Tôi không biết. Đây là lệnh của Trung Tướng Chủ Tịch.
Đại Úy Nhung liền oang oang:
- Xin mời hai ông lên xe ngay cho đi.
Mặt ông Nhu đỏ bừng, giọng rất quyết liệt:
- Không được. Để tôi hỏi lại ông Minh, ông Đôn. Tôi đi xe nào cũng được, nhưng còn Tổng Thống...
Đại Úy Nhung:
- Ở đây không còn Tổng Thống nào cả.
Ngay lập tức, nhung bảo hai quân nhân chạy đến đẩy hai ông lên xe và hạ cửa xe xuống...
Xe đi hết đường Nguyễn Trải, vào đường Võ Tánh đến trước Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia thì ngừng lại. Tổng Nha này đã bị chiếm từ ngày hôm trước nên không còn một cảnh sát nào lui tới. Chung quanh, các binh sĩ thuộc Sư Đoàn 5 của Đại Tá Ngưyễn Văn Thiệu canh gác rất cẩn mật.
Một Đại Tá từ trên xe Jeep nhảy xuống, bảo các binh sĩ trên xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu xuống xe hết. Bảy người trên xe nhảy xuống, nhưng tài xế và anh hạ sĩ xạ thủ được ra lệnh ở lại. Xe được lệnh đi vào Tổng Nha.
Khoảng 20 phút sau, chiếc M113 lại từ Tổng Nha chạy ra. Các binh sĩ lúc nảy được lệnh leo lên xe lại. Xe chạy ngược đường Võ Tánh trở lại đường Cộng Hòa. Nhân chứng hỏi hạ sĩ xạ thủ:
- Ông Diệm và ông Nhu đâu?
- Ở dưới.
- Sao rồi?
- Ông Nhu bị tra tấn khủng khiếp rồi bị xiết cổ chết bằng dây điện. Người ta hỏi ông ta nhiều lần: Vàng, bạc, tiền của cất đâu? Ai giữ? Cơ sở kinh tài gồm những cơ sở nào? Ông Nhu trả lời không biết.
- Còn ông Diệm?
- Ông Diệm bị đè cổ ra trói thúc ké rồi ném vào hầm xe.
- Chết hay sống?
- Không biết.
Xe qua khỏi trường Petrus Ký rồi quẹo phải vào đường Hồng Thập Tự thì gặp lại 2 xe Jeep và hai xe chở binh sĩ lúc xuất hành buổi sáng. Xe Đại Tá Dương Ngọc Lắm đi đầu, xe thứ hai có Đại Úy Nhung. Khi đến đường Cao Thắng, bên hông bệnh viện Từ Dũ, xe ngừng lại vì bên kia đang có xe của Tướng Xuân chạy ngược trở lại. Dân chúng ra xem rất đông. Tướng Xuân nhìn Đại Úy Nhung và đưa hai ngón tay trái lên hai lần. Sau đó, ông đưa ngón tay trỏ lên khỏi đầu và co vào duỗi ra đến 4 lần (gióng như bóp cò). Đại Úy Nhung gật đầu rồi đưa tay lên chào.
Khi xe đến gần đường rầy xe lửa thì dừng lại trước cổng xe đã được đóng lại vì đang có đoàn xe lửa đi qua. Đại Úy Nhung từ chiếc xe Jeep nhảy qua chiến M113 có chở ông Diệm và ông Nhu và la lớn: “Xuống! Xuống!” Các binh sĩ trên xe M113 nhảy xuống hết. Nhân chứng vừa nhảy xuống đất thì nghe nhiều tiếng súng nổ...
Những lời tiết lộ của nhân chứng này cho chúng ta thêm những yếu tố mới, nhất là đoạn hai ông bị đưa vào Tổng Nha Cảnh Sát để tra tấn và khảo của. Trò khảo của này là một “sở trường” của Tướng Mai Hữu Xuân. Sự tiết lộ này đã giúp giải thích tại sao hai ông bị trót tay ra phía sau lưng, trên mặt ông Diệm có nhiều vết bầm và trên người ông Nhu có nhiều lát dao đâm. Nguyễn Văn Nhung chỉ leo lên xe M113 trong một thời gian ngắn, không thể gây ra tất cả những thứ đó được.
Sau khi thi hành xong lệnh của chủ và lãnh tiền công, “bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” cấu xé nhau về chức quyền và tiền bạc, đưa tới mất mất chủ quyền quốc gia, rồi đến mất nước.
Bây giờ ở nơi các địa tầng “naraca”, Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim, Đỗ Mậu, Nguyễn Văn Thiệu, Dương Ngọc Lắm, Nguyễn Văn Quan, Nguyễn Văn Nhung... đang cùng với hai “ông thầy” Henry Cabot Lodge, Lucien Emile Conein nghiền ngẩm về lời nguyền rủa của Tổng Thống Johnson. Nghe nói trong những năm cuối cùng, Mai Hữu Xuân đã phát điên, thỉnh thoảng quỳ quay vào tường, chấp tay van lạy: “Xin cụ tha cho con!”.
Nơi chốn luân hồi, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang... không dám bước ra nhìn ánh sáng, Tôn Thất Đính thất thểu như một bóng ma...
Tú Gàn

Gia đình Tổng Thống Ngô Đình Diệm
BÀI HỌC TỪ MỘT SỰ TUẨN TIẾT
Lâm Lễ Trinh
http://www.centralstation.net/lamletrinh
LTS: Dưới đây là bài phát biểu được ghi âm của Luật sư Lâm Lễ Trinh, nguyên Bộ trưởng Nội Vụ và Đại sứ tại Trung Đông thời Đệ nhứt VNCH, hiện là chủ bút tạp chi Anh- Pháp Human Rights / Droits de l'Homme, trong buổi dạ tiệc tở chức ngày 2.11.2001 tại nhà hàng Seafood World, Westminster, Little Saigon, Californie, để kỷ niệm 100 năm của chí sĩ Ngô Đình Diệm (1901-2001).
Suốt 38 năm nay, mỗi khi ngày 1 tháng 11 trở lại, hình ảnh tuẫn tiết của Tổng thống Ngô Đình Diệm vẫn khơi dậy trong tâm thức quần chúng những âm vang chua xót nhưng đồng thời, cũng nhắc nhở những kinh nghiệm bổ ích cho cuộc đấu tranh tương lai.
Chiều nay, chúng ta, những người dân Việt lưu lạc ở hải ngoại, cùng ngồi với nhau để tưởng niệm vị nguyên thủ đã khai sinh nền Đệ nhứt Cọng hòa. Chúng ta sẽ không phí thời giờ để tố giác, một cách tiêu cực, những sai lầm của Hoa kỳ, hành vi bội phản của các người đội lốt quốc gia và sự phá hoại của Cộng sản. Thật vậy, cho đến giờ phút này, vô số văn khố giải mật của chính quyền Mỹ, công trình nghiên cứu của các thức giả, những lời thú nhận của một số nhân chứng liên hệ và, đặc biệt, tình trạng khánh tận của xã hội chủ nghĩa đã và đang làm chuyện đó trước công luận quốc tế.
Lịch sử cận đại Việt Nam sẽ mãi ghi lại một điều sáng tỏ:
Quyết định của TT Diệm tiếp xúc vào giờ chót với quân đảo chính chứng minh ông muốn tìm một giải pháp dân tộc ôn hòa.
Sự hy sinh dũng cảm của Tổng thống Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu đã tránh cho miền Nam VN cảnh nồi da xáo thịt giữa người quốc gia và bảo toàn tiềm năng kháng cộng trong giai đoạn cực kỳ nguy kịch. Sự hy sinh ấy còn là một lời kêu gọi thống thiết gởi đến cho cấp chỉ huy Quân đội đừng vong bổn, vọng ngoại và chễnh mảng trong cuộc chống cộng cứu nước. Tiếc thay, lời kêu này không được lắng nghe. Nhóm tạo phản bị ngoại bang mua chuộc. Với một giá rẻ mạt - 42 ngàn đô, theo lời thú nhận trong Hồi ký của tướng Trần Văn Đôn, một trong những người chủ mưu đảo chính - họ đã giết lãnh tụ và bán đứng tự do của ba chục triệu đồng bào miền Nam. Họ đã giúp Hoa kỳ thay toàn diện một thế cờ. Với 42 ngàn đô.
Trong những giờ phút cuối cùng cuộc đời, Tổng thống Diệm hoàn toàn cô đơn: đồng minh bội bạc, dân tộc hiểu lầm, người thân trở mặt và kẻ thù cộng sản reo mừng. Cầu nguyện lần chót sáng ngày 1.11.1963 tại thánh đường Cha Tam Chợ Lớn, với ông Nhu quỳ bên cạnh nhưng không chắc đồng một tâm tư, TT Diệm hẳn vô cùng xót xa cho đất nước. Rõ là một tâm trạng chán chường ngút trời, lẻ loi vô tận. Nỗi cô đơn ray rứt của một chiến sĩ cùng đường. Của một dân tộc bị chèn ép. Loại cô đơn từng được nhà đại văn hào Gabriel Garcia Marquez diễn tả sâu sắc trong tuyệt phẩm "One Hundred years of Solitude, Một trăm năm tịch liêu."

Tổng thống Ngô Dình Diệm và đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge
Hồ sơ giải mật của Bộ Ngoại giao Hoa kỳ ghi lại như sau nội dung điện đàm lần chót giữa Diệm và Cabot Lodge:
Diệm: "Vài đơn vị đã nổi loạn và tôi muốn biết thái độ của Chính phủ Mỹ."
Lodge: " Tôi không có đủ tin tức để trả lời cho Ngài. Tôi có nghe súng nổ nhưng không biết rõ tất cả các sự kiện. Bây giờ là 4:30 sáng tại Hoa Thịnh Đốn và Chính phủ Hoa kỳ không có quan điểm gì."
Diệm: "Tôi đã cố gắng làm bổn phận của tôi."
Lodge: "Như tôi đã thưa với Ngài sáng nay, tôi khâm phục can đảm của Ngài và những đóng góp to lớn của Ngài cho quý quốc. Nếu tôi có thể làm gì được cho sự an toàn của bản thân Ngài, xin kêu tôi."
Tổng thống Diệm liền gác điện thoại. Ông giữ vững khí phách đến cùng. Dù có những sơ hở khó thể tránh trong lúc cầm quyền - lịch sử về sau sẽ phân tích công và tội - ông quyết không làm nhục quốc thể, J.F. Kennedy lẫn Hồ Chí Minh không dám coi thường. Trước sau như một, TT Diệm không nhân nhượng, không đầu hàng. Làm sao có thể ngẩng đầu cao nếu đi bằng đầu gối?
Di nghiệp chính trị của Tổng thống Diệm lưu cho hậu thế là một thông điệp nóng cháy: Triệt để bảo vệ chủ quyền và thể thống quốc gia trong mọi hoàn cảnh. Ngay từ đầu cuộc chiến, Hoa kỳ và VNCH quan niệm khác nhau mối liên hệ đồng minh giữa hai nước. Từ đó sinh ra những bất đồng dẫn đến bất hòa và kết thúc bằng sự bức tử của Miền Nam. Đúng vậy, quyền lợi của Mỹ và VN chênh lệch: Chính phủ Sàigòn chống Bắc Việt để bảo toàn dân chủ và độc lập, trong khi Hoa kỳ dùng VNCH như con cờ thí trong kế hoạch quân bình thế lực tại Á châu, chống Bắc kinh bành trường và gây chia rẽ giữa Nga – Tàu. Quốc hội Mỹ không bao giờ tuyên chiến công khai với Hà Nội, tránh né bảo đảm an ninh của VNCH bằng một hiệp ước như tại Nam Hàn, không cho Quân dội miền Nam vượt vỹ tuyến 17, khóa tay Hành pháp bằng đạo luật War Power Act và, cuối cùng, không bận tâm thông qua theo thủ tục hiến định Hiệp ước đình chiến Paris.
Sau tháng 11.1963, Mỹ đã dành hết trách nhiệm điều khiển cuộc chiến để đễ bề thao túng. Tùy theo nhu cầu chính sách, Hoa Thịnh Đốn đã ngạo mạn Mỹ hóa, sau đó Việt nam hoá chiến tranh để rồi, năm 1973, hối hả rút khỏi vũng lầy Việt Nam, một erra incognita, xa lạ với Mỹ về tâm lý và tập quán. Đại cường Hoa kỳ thiếu kiên nhẩn, đánh không muốn thắng, không thông hiểu chiến tranh nhân dân, đoán sai quyết tâm của Cộng sản và bỏ rơi Chính phủ miền Nam.
Âm mưu giết hại Tổng thống Diệm là một vết nhơ, một "mối ám ảnh đeo đuổi dai dẵng lương tâm nước Mỹ, quần chúng và nhà lãnh đạo xứ này, tạo ra hội chứng Việt Nam." ("Anne Blair trong tác phẩm Lodge in VN, nhà xuất bản Yale University Press, New Haven, 1995, trang 190)
Tại Hoa kỳ, có một câu thông dụng "Người quá cố không kể chuyện hoang đường, Dead men tell no tales." Cái chết của Tổng thống Diệm, tự nó, đã lớn tiếng tố cáo, mang nặng ý nghĩa và dạy nhiều bài học. Về bạn và thù. Về nhân tình, thế thái. Về Điểm và Diện trong chiến lược trường kỳ, và bao nhiêu chuyện khác. Ít nữa có hai bài học không thể quên:
Trước hết, một quốc gia không có thân hữu, chỉ có quyền lợi. Không một xứ nào liều chết bảo vệ quyền sống còn của một nước khác. Không thể ủy quyền yêu nước cho ngoại bang. Các đại cường dùng chiêu bài Dân chủ, Tự do và Nhân quyền để mặc cả và gây áp lực. Không tự lực tranh thủ kiên trì, quả cảm và có kế hoạch thì không hưởng được Dân chủ và nhân quyền thật sự.
Bài học thứ hai là bất luận sự liên minh nào với một thế lực bên ngoài, dù mạnh ra sao, rồi cũng sẽ đưa đất nước vào ngõ cụt, nếu không có nhân dân hậu thuẫn. Cái thế dân tộc vô địch và vô song. Không tin tưởng, không tạo ra và tận dụng "thế dân tộc" thì thất bại đương nhiên. Thất bại thê thảm. Chủ thuyết, chế độ, quyền lực..., tất cả đều là phù du, rốt cuộc sẽ tan biến với thời gian. Hư danh, mọi việc chỉ là hư danh! Chỉ có Dân tộc mới trường tồn và vĩnh cửu. Dân tộc bất diệt!
Cộng sản đã thiết lập ở Việt Nam một chế độ quản chế hành chính, khủng bố điển hình: khủng bố tôn giáo, khủng bố sắc tộc thiểu số, khủng bố đối lập và khủng bố quần chúng. Xã hội chù nghĩa, trên đà mạt vận, trước sau gì cũng chấm dứt. Vấn đề cốt yếu không phải là chừng nào CS ra đi mà là chúng ta đã và đang làm gì để xúc tiến việc ấy và, đặc biệt, để thay thế họ? Thay thế cách nào? Bằng một thể chế khá hơn, sạch sẽ hơn hay không? Chính sự chia rẽ và thiếu quyết tâm của cánh quốc gia giúp cho Cộng sản tồn tại.
***********************************************************************
Để kết luận, thay vì lạc quan tếu hay bi quan thái quá, thiển nghĩ chúng ta nên bình tĩnh, khách quan nhận thức các biến chuyển trọng đại trong nước và bên ngoài, để hành động thích ứng. Thế giới hiện đang lâm vào một sự khủng hoảng vô tiền khoáng hậu. Hoa kỳ đang trực diện một thách thức mới, hiểm độc hơn chiến tranh Việt Nam, vì không có trận địa rõ ràng, kẻ thù vô danh nhưng hiện diện khắp nơi.
Căn nguyên của mọi vấn đề là siêu cường Hoa kỳ quá mạnh nên coi thường đồng minh, hành động đơn phương, tạo khoảng cách nghèo giàu quá sâu và gây bất mãn trong khối quốc gia nhược tiểu.
Thánh chiến có thể bùng nổ, gây điêu linh cho địa cầu. Với tinh thần quyết tử, võ khí thô sơ và chiến lược du kích tinh vi, dùng "gậy ông đập lưng ông" (còn được mệnh danh chiến lược boomerang), khối Hồi giáo cuồng tín đe dọa người Mỹ ngay trên đất Mỹ. Võ lực suông không đem lại bòa bình. Không thể dùng búa tạ để đập ruồi muỗi. Mỹ cần tái xét toàn bộ, trong đường hướng thực tế và từ tốn, chính sách đối ngoại, quân sự và viện trơ... Mỹ cần chứng minh với thế giới quốc gia này là một quốc gia biết thương xót, a compassionate country, như Tổng thống Bush đã hứa khi ra ứng cử. Nếp sống quần chúng không bao giờ trở lại như trước. Hoa kỳ, thức tỉnh, sẽ hồi sinh.
Cuộc chiến hiện nay được các chiến thuật gia mệnh danh "cuộc chiến không đối xứng, assymetric war",vào dễ, ra khó, như một mê hồn trận... Lần đầu tiên, một siêu cường dồn hết sức mạnh để tiêu diệt một cá nhân, Ben Laden, vô quốc tịch, và hệ thống khủng bố của y, thay vì chống lại một nước. Bằng mọi giá, thế giới tự do phải thắng. Để cứu nền văn minh nhân loại và lý tưởng dân chủ. Không có sự chọn lựa nào khác. Tổng thống George W. Bush nói chí lý: " Tự do và sợ hãi đang tử chiến. Thượng đế không trung lập giữa hai bên."
Cơn lốc toàn cầu sẽ cuốn hút nước Việt Nam hậu tiến để lập một thế quân bình mới. Cuộc diện Việt Nam, bởi vậy, có cơ thay đổi. Sớm hơn chúng ta dự đoán.
Cầu xin hồn thiêng các tiền nhân và chí sĩ Ngô Đình Diệm trợ sức cho các lực lượng quốc gia khai thác vận hội mớI để giật sập Xã hội chủ nghĩa. Lần này, không thể và không có quyền thất bại. Vì nếu thất bại thì đó sẽ là sự thất bại chung của Đất Nước Việt Nam, của tất cả chúng ta là người dân Việt, bất luận thuộc phía nào.
Xin cám ơn sự chú ý của quý vị.
Đọc những bài tiếng Việt, Anh và Pháp của tác giả Lâm Lễ Trinh hoặc trong tạp chí Anh- Pháp Human Rights / Droits de l'Homme hoặc trên Internet website http://www.centralstation.net/lamletrinh

Anh Mâm chia nắm nhang cắm trước mộ ông Ngô Đình Diệm
BÍ ẨN MỘ ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM, NGÔ ĐÌNH NHU
Source: VietnamNet
Sau khi bị lực lượng đảo chính giết vào tháng 11/1963, hai anh em ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu được chôn ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Áo quan của ông Ngô Đình Diệm hình hộp, áo quan của ông Ngô Đình Nhu có nắp tròn. Một nhân chứng thời kỳ này giải thích, người thân của hai ông đi mua vội quan tài nên chỉ mua được một chiếc hạng tốt dành cho ông Diệm, còn chiếc hạng vừa dành cho ông Nhu.
Mộ hai ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu khá đặc biệt: không có nấm mộ, bia, chỉ có tấm đan (bê - tông) đặt bên trên cao hơn mặt đất vài chục phân. Suốt từng ấy năm trước giải phóng, hai ngôi mộ nằm lọt thỏm, đìu hiu giữa nghĩa trang bộn bề mộ kiên cố. Những kẻ cơ hội xưa vụt quay lưng với gia đình họ Ngô đã đành, những người thân tín cũng ngại đến thăm viếng vì sợ chính quyền Sài Gòn cũ dòm ngó. Năm 1964, bà Phạm Thị Thân, thân mẫu của hai ông mất, đám tang không người đưa tang.
Một nhân chứng trong Ban di dời sau này kể: Hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu được chôn trong kim tĩnh (hộp bê tông dày và kín) rất khô ráo. Khi cải lên, thi thể của cả hai ông chỉ khô lại chứ không tan rữa, vẫn có thể nhận ra từng người. Đầu hai người đều quấn băng trắng in dấu máu đen từ những vết thương trước khi chết. Khi băng được mở, vết máu vẫn còn cứng. Sau gáy ông Nhu có một vết thương khá lớn, có thể do va đập.
Trong thời gian di dời, có một người phụ nữ tên là Hạnh từ Huế vào, xưng là cháu, nhận thi hài hai ông. Bà Hạnh quá khó khăn nên chính quyền thành phố phải lo toàn bộ chi phí ăn, ở, chi phí cải táng và xây mộ mới.
Thi hài ông Diệm, ông Nhu được chôn lại tại nghĩa trang Lái Thiêu (Bình Hòa, Thuận An, Bình Dương), với áo quan loại tốt và kim tĩnh. Mộ ông Ngô Đình Cẩn được chôn tại nghĩa trang sân bay Tân Sơn Nhất sau khi bị xử bắn vào năm 1965, và mộ bà thân mẫu Phạm Thị Thân cũng được quy tụ về đây. Trong khu đất rộng hàng nghìn hecta với những rặng cây lớn xanh và mát, mộ gia đình họ Ngô nằm cùng một dãy. Mộ bà Phạm Thị Thân nằm ở giữa, mộ hai ông Diệm, Nhu hai bên. Cách mộ ông Nhu một quãng là mộ ông Cẩn. Trước đây, theo yêu cầu của gia đình, mộ không đề tên, mà chỉ đề "mẫu", "huynh", "đệ". Sau, theo đề nghị của một số người, trong đó có Việt kiều về thăm, mộ được đề đích danh.
Anh Mâm, anh Chẩy - hai trong số hàng chục người trông coi mướn mộ phần tại đây, cho hay: Thời gian đầu, mộ gia đình họ Ngô không có người chăm nom, trong khi đa số ngôi mộ khác có thân nhân thường xuyên lui tới và thuê người chăm nom. Thấy những ngôi mộ đó cỏ mọc tốt, nhiều rêu phong, anh em bảo nhau dọn cỏ, dùng bàn chải chà rêu như những ngôi mộ khác. "Lẽ nào mình quanh quẩn ở đây cả ngày mà lỡ để cho ngôi mộ ngay gần mình lạnh lẽo!" - Mâm nói, sau khi chia đều nắm hương ngút khói, cắm vào từng bát nhang trước bốn ngôi mộ gia đình họ Ngô.

Ba ngôi mộ của gia đình họ Ngô nằm thẳng hàng. Mộ bà Phạm Thị Thân nằm giữa, mộ hai ông Diệm, Nhu hai bên.
Lúc trước, khi chúng tôi không giới thiệu danh tính, hỏi mộ gia đình họ Ngô, anh quản lý nghĩa trang Lái Thiêu tưởng người đến thăm viếng, bèn chỉ lối.
Quả thật khó tìm mộ gia đình họ Ngô, nếu không có người chỉ đường. Bởi hai ngôi mộ của anh em Ngô Đình Diệm không có nét dị biệt: nằm sệt đất như trước, mà được xây cao ráo như bao ngôi mộ khác. Cỏ xung quanh được dọn sạch, mộ nhẵn bóng, rêu xanh chỉ có thể đóng thành những vệt mỏng manh trong những kẽ bê tông mà bàn chải không len vào được.
Một thời gian sau ngày mộ được hoàn thành, thỉnh thoảng có một số Việt kiều tới thăm viếng, đọc kinh cầu nguyện, cho tiền những người trông nom. Có người để lại cả tên tuổi. Thỉnh thoảng, đại diện Công giáo cũng đến thăm viếng.
Theo ban quản lý nghĩa trang Lái Thiêu, những người đến viếng các ngôi mộ quanh đó thường nhân tiện đặt luôn mấy bông hoa huệ trước mộ gia đình họ Ngô. "Nhiều người trong số họ chỉ biết đó là người đã chết. Cũng giống như tôi, mãi về sau tôi mới biết đó là mộ ông Ngô Đình Diệm, ban đầu chỉ nghĩ đó là ngôi mộ của người dân bình thường nào đó. Tiếc gì nén hương, cây bông (cành hoa - NV), mà ai cấm chuyện này!" - Mâm nói.
Source: VietnamNet
10/31/09. 01:27:59 am. 18381 words, 589 views. Categories: Không ðề, Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Thời cuộc, Chiến tranh và hòa bình, Hậu trường, Liên kết blogs, Ôn cố nhi tri tân, Xã hội và nhân văn ,
