Archives for: January 2010
NHÂN CHỨNG ĐỒNG CHIÊM: TÂM THƯ TẠ ƠN CỦA ANH J.B NGUYỄN HỮU VINH

Nhân chứng Đông Chiêm: Tâm thư tạ ơn của Anh J.B Nguyễn Hữu Vinh
Source: VietCatholic News
Kính gửi:
- Tất cả các cộng đoàn, đoàn thể, tổ chức, các đấng bậc trong Giáo hội.
- Anh chị em giáo hữu, bạn bè trong, ngoài công giáo, trong, ngoài nước và những người đã quan tâm.
Đã hơn nửa tháng, kể từ ngày bản thân tôi “được” nhận thông phần chia xẻ với anh chị em giáo hữu Đồng Chiêm bằng trận đòn tấn công và cướp vào chiều ngày 11/1/2010 khi đến thăm và hiệp thông với Giáo xứ để tận mắt nhìn thấy những gì đang diễn ra tại đó.
Tôi đã tận mắt chứng kiến những khổ đau mà anh chị em giáo hữu Đồng Chiêm phải chịu khi mọi con đường vào Đồng Chiêm dày đặc các lực lượng công an, cán bộ đủ loại.
Tôi đã tận mắt chứng kiến những cuộc xét hỏi giấy tờ “theo chỉ thị” cách vô lý của các loại cảnh sát, công an trên đoạn đường ngắn dẫn vào Đồng Chiêm.
Tôi đã chứng kiến các ụ đất được đổ ra vội vã trên những con đường vào Đồng Chiêm và bên cạnh đó là những gương mặt gầm ghè, hăm họa khách hành hương phương xa đến.
Tôi đã tận mắt chứng kiến những em nhỏ với ánh mắt trong veo nhìn lên đỉnh Núi Thờ, nơi Thánh giá đã bị đập tan mà ngấn lệ, những cụ già tóc bạc, da nhăn nheo ngồi bên cửa nhà âm thầm trong bóng tối ngước nhìn về Núi Thờ đọc kinh và dâng những lời nguyện xin.
Tôi đã được thấy, được nghe những tiếng loa chõ vào nhà thờ Đồng Chiêm từ mọi hướng ở khoảng cách rất gần và sự tăng cường những loa ấy khi tôi đang đứng trong nhà thờ như một sự nhạo báng nền văn hóa lâu đời của người dân Việt Nam.

Tôi đã chứng kiến những vành khăn tang trên đầu mọi giáo dân nơi đây trắng cả nhà thờ và mọi ngõ xóm để hiểu nỗi đớn đau trong họ.
Nhưng trên hết, tôi đã chứng kiến nỗi đau đớn, tủi nhục khi Thánh Giá – biểu tượng linh thiêng nhất của mọi Kitô hữu - bị đập vụn vương vãi nhiều nơi trên Núi Thờ. Tôi cảm nhận được tội ác đã gây ra với cộng đồng tôn giáo là lớn lao và nặng nề biết bao nhiêu.


Và tại Đồng Chiêm, tôi cũng đã chứng kiến và cảm nhận được sự lộng hành bất chấp luật pháp của lũ côn đồ đang tác oai tác quái trong xã hội hiện nay hành động ngang nhiên hoặc được bao che như thế nào. Cũng qua đó, tôi đã hiểu hành động đập phá Thánh Giá vào ban đêm dưới sự bảo trợ của hàng trăm cảnh sát có ý nghĩa gì và những người làm việc đó tự họ biết chính nghĩa có đang nằm trong tay họ khi họ hành động lén lút như vậy hay không.
Tôi đã chứng kiến tất cả những điều đó và tôi không ân hận khi đến chia xẻ nỗi đau với giáo dân Giáo xứ Đồng Chiêm. Chỉ tiếc rằng, những ngày căng thẳng, khó khăn nhất tôi đã không thể có mặt cùng với họ.

Kính thưa tất cả mọi người,
Những ngày qua, sau biến cố đối với bản thân tôi, tôi cảm nhận được sự hiệp thông của cộng đồng dân Chúa khắp nơi lớn lao biết nhường nào. Các Giám mục, các linh mục, tu sĩ và anh chị em giáo dân đã dành cho tôi những sự động viên, thăm hỏi quý báu chân thành và kịp thời.
Tôi xúc động nhiều khi các Giám mục, linh mục và các tu sĩ đã bày tỏ sự quan tâm đến cá nhân bé nhỏ của tôi khi lâm nạn, tôi càng xúc động hơn khi những giọt nước mắt nhòe lệ trên gương mặt các cụ già đến xẻ chia và những gương mặt ngơ ngác, như muốn hỏi, muốn tìm nguyên nhân của tội ác khi đến thăm tôi.
Tất cả những điều đó để nói lên rằng: Có rất nhiều những tấm lòng, những thao thức của mọi người, mọi tín hữu đã và đang quan tâm đến vận mệnh của Giáo hội và những cá nhân bé nhỏ trong Giáo hội. Dù đó là những giáo dân đang sống trong đất nước Việt Nam nhiều gian khó hôm nay hay những tín hữu đang sống xa đất nước vẫn luôn mong ngóng hướng về Giáo hội quê hương. Đó chính là sức mạnh của Giáo hội để vươt qua tất cả những khó khăn, những vướng mắc nhất định phải có trên con đường phát triển của Giáo hội, dù đang trong những giai đoạn bi thương.
Qua bức tâm thư này, tôi muốn gửi lời tạ ơn sâu sắc của bản thân cá nhân và gia đình tôi đến tất cả các đấng bậc, tất cả mọi người, mọi đoàn thể, tổ chức, cộng đoàn đã quan tâm chia xẻ với tôi trong những ngày qua.
Xin tạ ơn các các linh mục, tu sĩ và anh chị em có mặt ở Đồng Chiêm hôm đó đã nhanh chóng giúp đỡ và cứu chữa kịp thời khi tôi bị tấn công, bị cướp.
Xin tạ ơn hàng ngàn giáo dân xứ Đồng Chiêm và giáo dân xứ Nghĩa Ải đã vất vả đêm hôm đưa chúng tôi ra khỏi khu vực nguy hiểm trong đêm đó để về cứu chữa và điều trị. Suốt đời tôi không thể quên cảnh hàng ngàn giáo dân với cuốc, cào, xẻng và mọi thứ dụng cụ mang theo trong đêm để san đường giúp chúng tôi đi ra khỏi khu vực đang bị phong tỏa.
Xin tạ ơn các hãng truyền thông đã gần như ngay lập tức thăm hỏi và đưa tin về sự kiện này. Nhất là Liên hiệp truyền thông Công giáo đã kịp thời ra tuyên cáo về vụ việc. Xin tạ ơn tất cả những tiếng nói ủng hộ bản thân tôi và lên án bạo lực, lên án sự dã man vốn được dùng để hành xử trong xã hội sẽ tạo nên những tiền lệ hết sức nguy hiểm cho một xã hội, một nhà nước pháp quyền.
Xin tạ ơn tất cả các Giám mục, linh mục, các tu sĩ và các cộng đoàn gần xa đã hiệp thông, đã dâng Thánh lễ cầu nguyện cho bản thân tôi được mọi sự lành.
Xin tạ ơn tất cả những ân nhân, bạn bè trong và ngoài Công giáo, trong và ngoài nước… đã quan tâm thăm hỏi và động viên giúp đỡ tôi những ngày tôi đau ốm.
Xin được nói lên lời tạ ơn với các anh chị em tín hữu, linh mục quê hương tôi đã động viên chia xẻ kịp thời với gia đình tôi khi khó khăn.
Xin tạ ơn Thiên Chúa là Cha toàn năng quan phòng và gìn giữ tất cả chúng ta trước mọi sự dữ và những khó khăn, thử thách để Giáo hội đã và sẽ vượt qua những cơn bách hại cuồng nộ của bất cứ thế lực thế gian nào mà đi tới vinh quang.
Những khó khăn, những đau đớn mà bản thân tôi phải chịu là quá nhỏ nhoi so với những gì anh chị em chúng ta đang phải chịu bằng nhiều cách tinh vi và trắng trợn tại Thái Hà, Tam Tòa, Đồng Chiêm,... và nhiều nơi khác trong Giáo hội và xã hội chúng ta đang sống.

Xin mọi người nói lên tình hiệp nhất với họ và xin nguyện cầu cho họ nhiều hơn để được Thiên Chúa và mẹ Maria che chở. Là một tín hữu Kitô, chúng ta có một sứ mệnh làm chứng và rao giảng sự thật với vai trò “ngôn sứ” của mình. Thiên Chúa đã dạy chúng ta: "Các con đừng sợ những người đó, vì không có gì che giấu mà không bị thố lộ; và không có gì kín nhiệm mà không hề hay biết. Ðiều Thầy nói với các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng; và điều các con nghe rỉ tai, hãy rao giảng trên mái nhà”.
Dù sự thật có bị bóp méo, xuyên tạc tạm thời, thì vẫn nguyên giá trị và không có bất cứ sự lừa bịp nào thay thế được những giá trị của sự thật.
Đến nay, dù sức khỏe chưa hồi phục, nhưng với tâm tình biết ơn sâu sắc, xin gửi đến tất cả mọi người lời tạ ơn chân thành tha thiết nhất.
Cuối cùng, xin tất cả mọi người hãy tin tưởng vào Đấng Toàn năng vì có thể trên bước đường làm chứng cho Thiên Chúa, cho sự thật, công lý, Giáo hội chúng ta còn gặp nhiều đau thương và bách hại. Nhưng chúng ta tin tưởng vào lời Thiên Chúa đã dạy: “Ðừng sợ kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn; nhưng thà sợ Ðấng làm cho mất được linh hồn và thân thể trong địa ngục”. (Mac 1:22-28)
Xin hiệp ý cầu nguyện cho Giáo hội chúng ta ngày càng vững vàng và hiệp nhất, cầu cho đất nước chúng ta tiến bộ đi lên, tiến tới một xã hội mà ở đó, quyền tự do, dân chủ, nhân quyền cho mọi người được tôn trọng.
Xin chúc quý vị đón chào một năm mới tràn đầy Hồng ân Thiên Chúa, an lành, hạnh phúc và thịnh vượng.
Xin Thiên Chúa là Cha Toàn năng, đấng công bằng vô cùng sẽ trả ơn bội hậu cho quý vị.
Hà Nội, Ngày 30 tháng 1 năm 2010.
Vinh1962@gmail.com
J.B Nguyễn Hữu Vinh
01/31/10. 04:08:16 pm. 2522 words, 707 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Thiên hạ sự, Văn chương triết lý, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Liên kết blogs, Lịch sử và ðịa dư Việt Nam, Ôn cố nhi tri tân, Tôn giáo và tín ngưỡng, Xã hội và nhân văn ,
NGỤY KÍNH SINH: TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM, NHỮNG THẾ LỰC KINH TẾ KHỔNG LỒ BÊN BỜ VỰC CỦA SỰ THAY ĐỔI HAY SỤP ĐỔ

Kinh tế và quân sự phát triển cùng lúc nhưng chế độ chính trị độc tài áp bức không thay đổi, là căn nguồn của sự sụp đổ. Ảnh Asianews
Ngụy Kính Sinh: Trung Quốc và Việt Nam, những thế lực kinh tế khổng lồ bên bờ vực của sự thay đổi hay sụp đổ
Source: VietCatholic News, Asianews
Asia News: Một nhà bất đồng chính kiến vĩ đại của Trung Quốc đã so sánh hai con cọp của Sự Phát triển Châu Á và cảnh báo: phe đối lập trong nước đang gia tăng, và ngày càng quyết tâm. Ngay cả Tây phương còn thất vọng: chính sách nhân nhượng của họ với những vi phạm về nhân quyền, đã không dẫn đến bất cứ điều gì, thậm chí chẳng cả những lợi ích lớn hơn về kinh tế.
Los Angeles (AsiaNews) - Ngụy Kính Sinh, cha đẻ "của nền dân chủ" tại Trung Quốc, đã tấn công mạnh mẽ những ai nghĩ rằng chúng ta có thể đạt được sự phát triển kinh tế mà không có nhân quyền. Và, trong một bài phát biểu tại một hội nghị chuyên đề về nhân quyền và sự phát triển dân chủ ở Trung Quốc và Việt Nam, đã vạch ra một lằn song song thú vị giữa hai nước. Dưới ách thống trị của một chế độ độc đảng, cả hai (nước) đều thiên hẳn về hướng phát triển, nhưng sự thiếu vắng của những tiếng nói mâu thuẫn đã dẫn đưa họ đến một cuộc cách mạng xã hội không thể lay chuyển được. Cùng lúc đó, thế giới tư bản, nơi đang cố gắng thu hút cả hai (nước) trong dây chuyền sản xuất, đã nhắm mắt lại trước những vi phạm nhân quyền, giờ lại thấy chính mình vướng vào cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay. Dưới đây là nguyên bản của sự can thiệp đã được đưa ra tại Los Angeles vào tuần trước.
Để tìm hiểu về tương lai dân chủ của Trung Quốc và Việt Nam, chúng ta cần phải thực hiện cuộc phân tích trên cả hai nước, cũng như hiểu được môi trường quốc tế của cả hai. Sau đó chúng ta mới có thể có thể tìm hiểu cả hai điều kiện thuận lợi và khó khăn trước đã, rồi sau đó mới định hướng cho hành động của chúng ta.
Các đặc tính xã hội hiện nay cho cả Việt Nam và Trung Quốc là mặc dù cả nước đã chuyển biến sang những nước tư bản độc quyền quan liêu, họ vẫn còn khác biệt phần nào so với Nga và Đông Âu. Sự khác biệt lớn nhất là họ vẫn còn bị trị bởi chế độ độc tài độc đảng là Đảng Cộng sản. Nếu không có sự cạnh tranh trong một hệ thống đa đảng, cả hai nước đều thiếu vắng một môi trường thoải mái hơn cho ngôn luận và các ấn phẩm mà cả Nga và Đông Âu có. Ở Việt Nam và Trung Quốc, rất khó khăn cho phe đối lập để tồn tại bên trong nước, và phe đối lập ở nước ngoài càng gặp nhiều khó khăn nhiều hơn nữa trong việc tham gia vào chính trường trong nước. Do đó, nó tạo một tình trạng khó khăn lớn lao cho chúng ta.
Các cơ quan đặc biệt của Đảng Cộng sản đã trở nên rất hiệu quả. Với kế hoạch cắt rời (người) trong (nước) với bên ngoài, họ cài cấy người của họ, làm chệch hướng đi của chúng ta, gieo rắc sự chia rẽ, ngay cả việc dẫn đưa luôn phe đối lập vào bẫy của họ. Hành động này khiến cho một biến chuyển hay cuộc cách mạng được điều hành bởi phe đối lập đoàn kết có tổ chức chặt chẽ và có kế hoạch tỉ mỉ trở nên rất khó khăn. Ở giai đoạn hiện nay, hình thức chính của phe đối lập là những người dân với hành động tự phát chống lại bạo quyền và sự bóc lột cực kỳ về kinh tế. Các phương tiện truyền thông công cộng là những công cụ chính để huy động người dân. Những tổ chức bí mật truyền thống chỉ có thể hoạt động trong quy mô nhỏ. Việc huy động toàn thể người dân chỉ có thể phụ thuộc vào các công cụ truyền thông đại chúng. Đây là lý do tại sao chế độ Cộng sản Trung Quốc quan tâm rất lớn vào việc ngăn chặn các thông tin trên cả báo chí lẫn Internet.
Mặt khác, do thiếu các quyền cơ bản của con người, việc bóc lột, đàn áp bởi các nỗ lực kết hợp của cán bộ nhà nước và doanh nghiệp càng trở nên tàn tệ hơn bao giờ hết, vì thế càng dẫn đến việc chống đối mạnh mẽ hơn nữa. Vì vậy,những lực lượng chuyển biến của các nước như Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Triều Tiên chủ yếu phát xuất từ thành phần trung lưu hoặc thấp hơn. Những phương thức chuyển biến không chỉ giới hạn ở hình thức ôn hòa. Hình thức đối lập bạo động thường trở thành lực lượng chính trong việc hối thúc xã hội phải thay đổi. Ngoài ra do sự liên kết chặt chẽ của cán bộ nhà nước và các doanh nghiệp, nhà cầm quyền đã đánh mất vị thế định đoạt của mình trên các tranh chấp kinh doanh. Những tranh chấp nội bộ trong nội bộ nhà cầm quyền đã trở nên hung bạo hơn nhiều hơn tại bất kỳ thời điểm và hoàn cảnh nào khác. Sự xuất hiện của bọn xã hội đen và dân quân tội phạm đã trở thành thông lệ mới trong việc hỗ trợ cuộc đấu tranh chính trị càng làm cho xã hội thiếu ổn định và thậm chí còn trở nên phức tạp hơn.
Trong một vài thập kỷ qua, môi trường quốc tế đã rất bất lợi cho các lực lượng đối lập của các nước như Trung Quốc và Việt Nam. Các "Mô hìnhTrung Quốc" do Đặng Tiểu Bình phát minh đã có thể mua đứt các nhà tư bản Tây phương trong cách chia xẻ lao động rẻ tiền, do đó đã gián tiếp kiểm soát chính trị và các viện nghiên cứu của Tây phương. Họ đã có thể ép các xã hội dòng chính của Tây phương phải quy hàng cho lợi ích của Đảng Cộng sản và bỏ rơi các hệ thống giá trị của họ. Điều này đã dẫn đến việc Tây phương tiếp tục truyền máu kinh tế của mình cho các nước cộng sản và áp dụng chính sách khoan nhượng và mềm mỏng trước những nhà tư bản đỏ quan liêu của đảng CS.
Trong suốt 16 năm tại chức của Tổng thống Mỹ Bill Clinton và George W. Bush, chính sách nhân nhượng của họ đã đạt đến cao điểm của nó. Mối quan hệ giữa các nền dân chủ Tây phương và các chế độ độc tài châu Á đã chuyển từ đối đầu, sang khoan nhượng và hợp tác. Các lực lượng đối lập ở nước ngoài của Trung Quốc và Việt Nam trở thành cái gai trong mắt của các chính trị gia của các nước dân chủ. Xử dụng từ ngữ của một học giả người Mỹ thiên tả nổi tiếng: "những nhà hoạt động dân chủ chống cộng sản không đáp ứng các dòng tư tưởng chính của Mỹ".
Tuy nhiên, hiện nay tình hình này đang thay đổi. Mặc dù chính sách khoan nhượng vẫn chiếm chủ đạo, nền kinh tế Tây phương đang trên đà suy thoái bởi việc truyền máu của mình cho các nước cộng sản trong suốt hơn một thập kỷ. Cái được gọi là lý thuyết "nền kinh tế thị trường tự do" đang thua trận trước nền kinh tế thị trường không miễn phí. Trong khi những nhà kinh doanh của cả hai phía Tây và Đông thu về mức lợi nhuận siêu phàm, người ăn lương giờ hay lương năm lại chẳng hưởng được lợi ích gì của sự phát triển kinh tế. Thay vì mở rộng, thị trường giảm mạnh, đó là nguyên nhân gốc rễ của sự suy thoái kinh tế toàn cầu. Vì vậy, các nước Tây phương bắt đầu nhận ra sai lầm lịch sử này và tự nhiên là sẽ có biện pháp sửa chữa mà thôi. Họ phải từ bỏ chính sách khoan nhượng của họ với chính quyền Cộng sản, và khởi động lại một cuộc đối đầu và cạnh tranh mới. Họ nên bắt đầu cuộc đối đầu của họ bằng việc bảo vệ thị trường trước đã.
Sự thay đổi này là điều kiện bên ngoài, điều có thể ép buộc hệ thống quan liêu tư bản mới của Đảng Cộng sản phải cải cách, hoặc sẽ bị sụp đổ. Thành phần đối lập ở nước ngoài có nhiệm vụ chính ngoài việc liên tục xử dụng các phương tiện truyền thông để tích cực cổ động cho nền dân chủ và tự do. Nhiệm vụ mới này, trong khi sự hợp tác với một chính sách bảo vệ thị trường của các nước dân chủ, sẽ chống lại chủ nghĩa dân tộc được huy động bởi Đảng Cộng sản một cách tự nhiên. Bởi vay mượn sức mạnh của quốc tế, chúng ta có thể thúc đẩy công cuộc cải cách của hệ thống tái phân phối, hay cuộc cách mạng chính trị tại mỗi quốc gia của chúng ta. Trận chiến mậu dịch này sẽ không có lợi cho hệ thống tư bản quan liêu; nhưng sẽ chỉ có lợi cho những người lao động ăn lương giờ và lương năm, hay những nguồn vốn tư nhân của các nước, đó là biện pháp tốt nhất để đẩy mạnh cho cuộc cách mạng dân chủ và để tránh các cuộc nổi dậy bị rối loạn.
Sau cùng, để tôi nói rõ điều này, dưới một môi trường không có các quyền tự do ngôn luận và truyền thông cơ bản, nhưng với một hệ thống kinh tế lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản quan liêu, những cái gọi là "cuộc cách mạng sắc màu của hòa bình, hợp lý và phi bạo lực" có thể chỉ là một mưu mẹo của gian dối; với những người tin vào nó nhất thì cũng chỉ là một cơn mộng tưởng không thể nhận ra được.
Asia-News
*********************************************************
Toàn văn bằng Anh ngữ:
Wei Jingsheng: China and Vietnam, economic giants on the brink of change or collapse
by Wei Jingsheng
The great Chinese dissident compares the two tigers of Asian Development and warns: the domestic opposition is increasing, and is increasingly determined. Even the West is disappointed: its policy of tolerance towards human rights violations, has not led to anything, not even greater economic benefits
Los Angeles (AsiaNews) - Wei Jingsheng, the "father of democracy" in China, strongly attacks those who think that we can achieve economic development without human rights. And, in a speech at a symposium on human rights and democracy development in China and Vietnam, traces an interesting parallel between the two nations. Dominated by a single party regime, they are both in full swing of development, but the absence of conflicting voices brings them inexorably towards a social revolution. At the same time, the capitalist world, which has tried to absorb both in the production chain, closing its eyes to human rights violations, finds itself in the present economic crisis. Here is the full text of the intervention, delivered in Los Angeles last week.
To learn about the democratic future of China and Vietnam, we need to make an analysis of both countries, as well as to understand the international environment of both of them. Then we could learn both favourable and disadvantaged conditions for us, thus to guide our actions.
The current social characteristic for both Vietnam and China is that although both countries have transformed into bureaucratic monopoly capitalist states, they are somehow different from Russia and Eastern Europe. The biggest difference is that they are still under the Communist Party's one-party dictatorship. Without competition in a multi-party system, both countries lack the more relaxed environment for speech and publications that both Russia and East Europe have. In Vietnam and China, it is very hard for the opposition to survive inside the country, and the opposition overseas has much more difficulty to participate in the politics inside. Thus, it produces a big predicament for us.
The special agencies of the Communist Party have become very effective. With the disjunction of inside and outside, it plants their agents, misguides our directions, sows dissension, and even leads the opposition into its traps. This makes a transformation or revolution facilitated by a united opposition that is well organized and well planned very difficult. At the current stage, the main form of opposition is by the people on their own with their decentralized action against the tyranny and economic ultra-exploitation. The public media are the main tool to mobilize the people. Traditional secretive organizations could only have small-scale operations. The overall mobilization of the people could only depend on mass communication tools. This is why the Chinese Communist regime pays great attention to block the information of both news media and the Internet.
On the other side, due to the lack of basic human rights, the exploitation and suppression by the combined effort from the government officials and business become ever more stark, thus resulting in even stronger opposition. So the transformation forces of countries such as China, Vietnam and North Korea are mainly from the middle and lower classes. The ways of transformation are not just limited to peaceful ones. Violent opposition often becomes the main force that impels societies to change. Also due to the intimate connection of government officials and business, the government has lost its judging position over business disputes. The internal fights within the governments have become even more violent than at any other times and circumstances. The surfacing of the criminal underworld and personal military have become a new routine in assisting political struggle, thus making the society even less stable and more complicated.
In the past a few decades, the international environment has been very unfavourable to the opposition forces of countries such as China and Vietnam. The "China Model" invented by Deng XiaoPing was able to buy out the Western capitalists in the way of sharing the cheap labour, thus indirectly controlling the politics and academics of the West. It was able to force the mainstream society of the West to surrender themselves to the interests of the Communist Party and give up their value systems. This has resulted in the West continuing its economic blood transfusion to the Communist countries and taking tolerant and appeasement policies toward the new style bureaucratic capitalists of the Communist Parties. During the 16 years of US President Bill Clinton and George W. Bush, this policy of appeasement reached its peak. The relationship between the Western democracy and Asian dictatorship transformed from confrontation, to tolerance, to open cooperation. The overseas opposition forces of China and Vietnam became thorns in the eyes of the politicians of these democratic countries. Using the words of a well-known American scholar on the left: "these anti-Communist pro-democracy activists do not meet the main ideology stream of America".
However, now the situation is changing. Although the appeasement policy still occupies the mainstream, the west economy is in recession due to its blood transfusion to the Communist countries over more than one decade. The so-called "free market economy" theory lost its battle against the not free market economy. While the business people of both West and East made super profits, the wage and salary earners did not get the benefit of the economic development. Instead of expansion, the market shrank, which is the root cause of the global economic recession. Thus, the Western countries started to realize this historic mistake and naturally will take measures to correct it. They should give up their appeasement policies with the Communist government, and restart a new confrontation and competition. They should start their confrontation from market protection first.
This change is the exterior condition that may force the new bureaucratic capitalist system of the Communist Party to reform, or to collapse. The overseas opposition has a main task beyond continuously using the media for positive mobilization of democracy and freedom. This new task, in cooperation with a market protection policy by the democratic countries, will be opposing the nationalism that will be mobilized by the Communist Party naturally. By borrowing the power from the international society, we could push for the reforms of the redistribution system, or political revolution in our own countries. This trade battle will not benefit the bureaucratic capitalism; yet will only be beneficial to the waged and salary workers and private capital of our countries, which is the best measure to push for democratic revolution and to avoid the disordered insurrection.
Finally, let me make it clear, under an environment without basic free speech and free media, yet with a matured economic system of bureaucratic capitalism, the so called "colour revolution of peace, rational and non-violence" could be only a trick of deceive; to the best is a good fantasy that cannot be realized.
http://www.asianews.it/news-en/Wei-Jingsheng:-China-and-Vietnam,-economic-giants-on-the-brink-of-change-or-collapse-17482.html
01/31/10. 06:10:03 am. 3886 words, 376 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Thiên hạ sự, Lịch sử thế giới, Thời cuộc, Thế giới ði về ðâu, Chiến tranh và hòa bình, Hậu trường, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn ,
TIN KHẨN CẤP: 3 SINH VIÊN CÔNG GIÁO VINH Ở HÀ NỘI ĐẾN THĂM ĐỒNG CHIÊM BỊ CÔNG AN ĐÁNH ĐẬP VÀ BẮT ĐI LÚC 11:30 TỐI (GIỜ VIỆT NAM) NGÀY 30/01/2010

Khổ nạn mà người công giáo Việt Nam đang gánh chịu. Thế giới bất lực trước sự lộng hành của bè lũ vô thần gian ác!.
3 sinh viên Công giáo Vinh ở Hà Nội đến thăm Đồng Chiêm bị công an đánh đập và bắt đi
VietCatholic News
30 Jan 2010
HÀ NỘI - Thông tin chúng tôi mới nhận được cho biết hồi 11h30 đêm 30/1/2010, công an Hà Nội đã dẫn anh Antôn Trần Văn Sơn về phòng trọ để lục soát phòng trọ và đồ đạc. Tiếp theo đó, công an đã chụp ảnh, quay phim những phòng ở của sinh viên này, đồng thời bắt đi tiếp hai người ở cùng phòng với anh Sơn.
Hà Nội, ngày 30/1/2010
THÔNG BÁO KHẨN CẤP
Cộng đoàn Vinh tại Hà Nội xin thông báo: Sinh viên An tôn Trần Văn Sơn bị CAHN bắt giữ và đánh đập vô cớ vào khoảng 10 h sáng nay 30/1/2010, tại xã An Tiến, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, trên đường thăm viếng Đồng Chiêm trở về.
Sinh viên An tôn Trần Văn Sơn, tu sinh Dòng Thánh Antôn Padua, quê ở xứ Kim Lâm, xã Vượng Lộc – huyện Can Lộc – tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang học tại Trường Trung cấp Y-Dược Lê Hữu Trác, quận Hoàng Mai, Hà Nội.
Khoảng 8 h sáng 30/1/2010 ba tu sinh sang thăm giáo xứ Đồng Chiêm. Sau khi viếng Mình Thánh Chúa và cầu nguyện tại nhà thờ các bạn lên đường trở về Hà Nội. Khi đến khu vực xã An Tiến, cách Đồng Chiêm khoảng 1 km, thì bị Công an chặn bắt và đánh đập. Anh Antôn Trần Văn Sơn đã chạy xuống bờ mương để tránh đòn, nhưng CA tiếp tục huy động nhân viên để chặn bắt rồi đưa về UBND xã An Tiến.
Công an yêu cầu xuất trình giấy tờ và khi các bạn đưa giấy tờ ra UBND xã thì công an đã đưa anh Sơn đi đâu mất. Nghe nói công an đã đưa bạn Sơn lên huyện Mỹ Đức. Hiện nay chúng tôi không thể liên lạc được với anh.
Trong tình hiệp thông liên đới của các sinh viên trong Cộng đoàn Vinh tại Hà Nội, chúng ta ra sức cầu nguyện cho anh Antôn Trần Văn Sơn, một thành viên hiền lành và đức độ của Cộng đoàn Vinh, được bình an và can đảm làm chứng cho Chúa, đồng thời chúng ta sẽ cùng nhau làm những gì cần thiết cho anh Antôn Trần Văn Sơn, được an toàn và sớm được trả tự do.
ĐẠI DIỆN CỘNG ĐOÀN VINH TẠI HÀ NỘI
Lm Gioan Lưu Ngọc Quỳnh, Linh hướng Cộng đoàn Vinh tại Hà Nội
Giuse Nguyễn Văn Thống, Trưởng Cộng đoàn Vinh
Sau đây là Tuyên cáo phản đối bắt người trái phép của Cộng Đoàn Vinh tại Hà Nội:

01/30/10. 06:49:53 pm. 714 words, 557 views. Categories: Không ðề, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Tin tức ðó ðây, Thông báo, Tin quan trọng, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Tôn giáo và tín ngưỡng, Xã hội và nhân văn ,
XEM VIDEO CUỐI TUẦN GIẢI TRÍ
Hai lão già thất bại!
Triết Học và Lễ Cưới: Con Vẹt
Diễm xưa - Lee Kirby
01/30/10. 04:41:47 pm. 25 words, 350 views. Categories: Góp nhặt, Âm nhạc và nghệ thuật, Văn chương triết lý, Video tếu, Chuyện vui, Những chuyện ỡm ờ, Liên kết blogs, Video chuyên ðề, Xã hội và nhân văn ,
CẢNH KINH HOÀNG, ĂN THỊT CON CÁ CÒN SỐNG - KỸ THUẬT CHẾ BIẾN GÀ CHẾT CỦA NGƯỜI HOA LỤC - CƯỚP GÀ DỊCH TẠI VIỆT NAM

Con cá đang nằm trên đĩa có phần đầu còn đang sống và thở, được người Hoa ăn ngon lành! Ảnh trích từ Youtube video kèm theo dưới đây.
CẢNH KINH HOÀNG: ĂN THỊT CON CÁ CÒN SỐNG
By Ben Leach - Telegraph.co.uk
http://www.telegraph.co.uk/news/newstopics/howaboutthat/6595481/Chinese-diners-eat-live-fish-in-YouTube-video.html
Người Tàu nổi tiếng về nhiều cách ăn uống nhiêu khê, kỳ quặc như ăn não khỉ sống, thịt chuột, thịt chó, rắn, kỳ đà, hay nuốt sống chuột bao tử v.v...; sau đây là điển hình được ghi nhận tại các nhà hàng của người Hoa.
Đoạn phim dưới đây ghi lại cảnh con cá bị nấu chín phần giữa nhưng phần đầu vẫn còn sống và vẫn còn thở, được đặt trên một đĩa lớn có nước chấm. Con cá đang được thực khách gắp ăn và cười đùa tỉnh bơ. Các tay đầu bếp cho biết là phải rất khéo léo bọc đầu con cá vào vải ướt nhúng nước đá, nấu sơ qua, rồi lại nhúng đầu cá vào nước đá một lần nữa trước khi nêm nếm tẩm ướp phần thân cá, và cuối cùng thì chiên con cá sao cho đầu cá vẫn còn sống!!!
Đoạn video này sau khi được đưa lên Internet đã thu hút trên 120,000 lần người xem trong ngay tuần lễ đầu tiên, và đã bị các hội bảo vệ động vật trên thế giới lên án kịch liệt vì sự dã man của nó, tuy nhiên người Hoa vẫn tỉnh bơ và cho đó là nét đặc biệt của văn hóa Trung Hoa!!!
**********************************************************************************
KỸ THUẬT CHẾ BIẾN GÀ CHẾT CỦA NGƯỜI HOA LỤC

Rạng sáng sớm, người đàn ông này ngày ngày lái xe máy đi thu mua gà chết

Đang hỏi xem có gà "chết" không?

Tổng cộng có khoảng 5 người lái xe đi thu mua gà chết cho 1 ông chủ như thế này

Mỗi con gà chết được thu mua với giá 1 tệ và sẽ được bán với giá 9 tệ sau khi chế biến

Nơi để gà là "sân"

Ngổn ngang mọi nơi
trên sàn nhà thì....

Có 4 người chuyên nhúng gà vào nước sôi và vặt lông

Vặt lại lông măng

Dùng xà phòng và thuốc tẩy để làm sạch

Đi dép trên sàn nhà, gà thì đang được tẩm mầu

Trông gà đã khá là đẹp sau khi tẩm mầu

Và đã sẵn sàng để rán và thưởng thức!
TRANH NHAU CƯỚP GÀ DỊCH ĐEM ĐI TIÊU HỦY
Còn tại Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa thì cũng xẩy ra những cảnh hết sức đau lòng do cuộc sống của người dân quá sức bần cùng, đói khổ dưới cái thiên đường cộng sản! May thay, dù sao thì những người dân Việt đói khổ này cũng chỉ cướp lấy gà sống còn gà chết thì bỏ lại cho nhà nước tiêu hủy, chứ không đến nỗi ăn cả gà chết như Tàu cộng, xin đọc bản tin sau đây sẽ rõ.
Đổ xô đi cướp gà tiêu hủy
Source: anninhthudo
Chi cục Thú y Hà Nội cho biết, vào 4h sáng 5-2-2009, chốt kiểm dịch liên ngành tại Ba La (Hà Đông) đã phát hiện và bắt giữ 1 xe ôtô BKS: 34L-7612 vận chuyển gia cầm không có giấy kiểm dịch. Lực lượng liên ngành tiến hành kiểm tra phát hiện, trên xe có 1.500 con gà thịt, trọng lượng khoảng 3 tấn, giấy kiểm dịch đã bị chữa ngày tháng. Lực lượng liên ngành đã quyết định tiêu hủy số gà này.

Nhảy cả xuống hố chôn gà để cướp gà!
Chiều cùng ngày, số gia cầm bị bắt giữ trên đã được chở đến bãi cát xã Hồng Vân (Thường Tín) để tổ chức tiêu hủy. Tuy nhiên, tại đây, khi lực lượng chuyên ngành bắt đầu đưa gà xuống hố để chôn theo quy định thì người dân địa phương đã đổ xô vào cướp gà. Do lực lượng chức năng quá ít, trong khi người dân lại đông nên đành… bó tay.

Leo cả lên xe để cướp gà trước sự bất lực của lực lượng chức năng…
Người ta nhảy cả xuống hố để lấy gà, ném lên cho người bên trên cho vào bao tải. Tiếp đến, người dân đổ xô vây lấy xe chở gà và trèo lên xe để cướp. Thậm chí, để tiện cho việc lấy gà, có người dân đã leo lên ca bin và lái luôn chiếc xe chở gà ra giữa bãi cát. Và, 1.500 con gà không giấy tờ kiểm dịch bị bắt giữ đi tiêu hủy nhưng lượng tiêu hủy không được 20%. Khắp nơi, những con gà chết bị bỏ lại vương vãi.
Việc tiêu hủy gia súc, gia cầm mang bệnh rất cần sự vào cuộc của chính quyền sở tại. Song, chính quyền địa phương lại không có động thái nào trước sự việc này.
(Anninhthudo)
01/30/10. 03:13:11 am. 1218 words, 117 views. Categories: Góp nhặt, Chuyện lạ ðó ðây, Những chuyện khó tin nhưng có thật, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn ,
GIỜ HÀNH ĐỘNG ĐỂ GIẢI TRỪ QUỐC NẠN CỘNG SẢN: NĂM HẾT TẾT ĐẾN TINH SỔ KIỀU HỐI VỚI CSVN

Mỗi đồng bạc chúng ta gởi về nước có thể trở thành những viên đạn bắn vào đồng bào của chúng ta và nuôi dưỡng sự tồn tại của một chế độ độc tài tàn bạo, phản dân hại nước. Ảnh blingcheese
GIỜ HÀNH ĐỘNG ĐỂ GIẢI TRỪ QUỐC NẠN CỘNG SẢN: Năm hết Tết đến tính sổ kiều hối với CSVN
Source: lyhuong.net
Năm Dương lịch 2009 vừa mới đi qua, Tết Âm lịch sắp đến, chúng ta hãy xem xét lại yếu tố kiều hối đã tuồn về Việt Nam trong những năm qua.
Chữ “kiều hối” ở trong nước được dùng phổ biến và được hiểu là tiền từ nước ngoài gửi về cho người trong nước, thông thường là tiền của Việt kiều gởi về cho thân nhân. Những năm sau này kiều hối được bơm về nước còn do lực lượng xuất cảng lao động, hoặc gửi về hoặc mang theo khi về thăm nhà.
Lượng kiều hối chuyển về VN hàng năm tăng liên tục và tăng rõ rệt trong 10 năm qua. Năm 2000 được 1 tỷ USD, năm 2001 tăng lên 1.5 tỷ USD, năm 2002 lên hơn 2 tỷ USD, năm 2003 2.6 tỷ USD, năm 2004 3.8 tỷ USD, năm 2005 lên gần 4 tỷ USD, năm 2006 nhảy vọt lên 5.2 tỷ USD, năm 2007 lên trên 6 tỷ USD và năm 2008 đạt kỷ lục 7.2 tỷ USD.
Đó mới chỉ là lượng tiền chuyển về qua các cơ quan chính thức như ngân hàng hay các tổ chức chuyển tiền đúc kết được. Trên thực tế, con số thực lượng tiền gửi còn lớn hơn nhiều vì không ít người Việt ở nước ngoài chuyển tiền về VN qua các con đường không chính thức.
Nhưng năm 2009 là năm khó khăn chung cho thế giới và cho chính quyền CSVN. Khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và toàn cầu đã làm tác động đến nguồn ngoại tệ gửi về nước. Tình hình đưa người dân đi làm nô lệ ở nước ngoài mà VC gọi từ hoa mỹ là “xuất khẩu lao động” cũng gặp nhiều khó khăn trong năm qua. Theo Ngân hàng nhà nước của VC, tính đến ngày cuối tháng 12 năm 2009 lượng kiều hối chuyển về VN chỉ được 6.283 tỉ USD, giảm 12,8% so với năm 2008. Còn đối với thành phố HCM thì ông Nguyễn Hoàng Minh, phó thống đốc phía Nam của Ngân hàng Nhà nước cho biết kiều hối gởi qua các ngân hàng và đại lý chuyển tiền ở thành phố này chỉ vào khoảng 3.2 tỉ USD trong năm qua, giảm 20% so với năm trước.
Nhìn lại 19 năm qua, từ khi những đồng tiền đầu tiên của kiều bào được gửi về VN qua đường chính thức kể từ năm 1991, đến nay con số này đã vượt quá 30 tỷ USD chiếm hơn 70% số vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài (FDI - Foreign Direct Investment) tính từ năm 1988 và cao gấp rưỡi nguồn vốn Viện Trợ Phát Triển Kinh Tế (ODA - Official Development Assistance) được giải ngân từ năm 1993.
Những con số này mang một ý nghĩa rất lớn. Hàng tỷ đô la được chuyển vào VN hàng năm mà nhà cầm quyền CSVN hầu như chẳng tốn một đồng nào. Điều này khác hẳn với hoạt động xuất cảng được xem là nguồn thu ngoại tệ lớn cho quốc gia. Thống kê của Bộ Kế họach và Ðầu tư của CSVN cho hay kim ngạch xuất cảng cả nước trong năm 2009 đạt gần 57 tỷ Mỹ kim, nhưng để thu được khoản ngoại tệ này, VN tốn biết bao nhiêu là công sức và chi phí. Nếu loại bỏ những chi phí này, liệu ngành xuất cảng của VN thu được bao nhiêu lợi nhuận từ con số 57 tỷ Mỹ kim đó?
Nhận thức được giá trị của kiều hối, Đại Sứ Quán CSVN tại Mỹ đã không ngần ngại xác nhận: “Kiều hối là một nguồn lực quý giá theo nhiều nghĩa, là một kênh mang lại ngoại tệ mạnh cho đất nước mà không một kênh nào có thể sánh nổi về hiệu quả. Bởi vì ngoại tệ thu được từ xuất khẩu tuy rất quý nhưng xuất khẩu thì phải mất chi phí để sản xuất hàng, chi phí vận chuyển mang ra nước ngoài, lại còn phải chịu thuế nhập khẩu, chịu hạn ngạch, chịu kiện bán phá giá, chi phí tiếp thị, quảng cáo …” [*]
Đại Sứ Quán ngớ ngẩn ‘thành thật khai báo’: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ta được lợi về thuế, giải quyết được công ăn việc làm, tiếp thu công nghệ tiên tiến, học được kinh nghiệm quản lý... nhưng vốn là của nhà tư bản nước ngoài, lãi họ hưởng, nếu họ không xuất khẩu thì còn cạnh tranh với hàng hóa cùng loại sản xuất trong nước. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cũng rất quý, nhưng hơn 90% là vốn vay, dù được vay trong thời gian dài, lãi suất thấp, lại có thời gian ân hạn, nhưng việc giải ngân không đơn giản, hơn nữa nếu xử dụng không hiệu quả thì vay mới sẽ cũng chỉ để trả nợ cũ và không chỉ để lại gánh nặng nợ nần cho con cháu mà ngay từ bây giờ đã phải trả những khoản lãi của những khoản nợ đầu tiên...” [*]
Rồi Đại Sứ Quán ma mãnh, môi miếng, không ngượng nghịu đánh động tình cảm của người Việt xa xứ: “Quan trọng hơn, nguồn kiều hối còn là tình cảm sâu nặng của bà con Việt kiều đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài đối với thân nhân và quê hương, đất nước” [*]
Người mình thường có câu “Đồng tiền liền khúc ruột”. Giờ đây CSVN thêm vào hai chữ nữa thành “Đồng tiền liền khúc ruột ngàn dặm”. Đúng vậy! Đồng tiền bây giờ đã đi liền với người Việt hải ngoại, đã không thể thiếu của hàng triệu “khúc ruột ngàn dặm” trên thế giới! Biết người quốc gia tự do đầy tình người, dù ở đâu cũng nghĩ đến bà con ruột thịt, chia xẻ miếng cơm manh áo với thân nhân đang sống khó khăn và vất vả ở quê nhà nên CSVN những năm gần đây đã rất tích cực trong việc khai triển nhiều biện pháp nhằm ra sức chiêu dụ.
Trước đây nguồn kiều hối gởi về nước chủ yếu là từ những người vượt biên nhằm giúp đỡ thân nhân, đáp ứng nhu cầu mưu sinh, giờ đây nó tăng mạnh vì nhiều nguyên nhân khác. Trước nhất, là do lực lương lao động xuất cảng ngày càng tăng. Thứ đến, đó là sự phát triển của các hoạt động kinh tế như thị trường làm ăn buôn bán, thị trường nhà đất, thị trường chứng khoán, … với mức lợi nhuận tăng cao đã dẫn dụ kiều bào nhẹ dạ gửi tiền về đầu tư, thông qua thân nhân trong nước. Lượng tiền do người Việt định cư ở nước ngoài gửi về đang có xu hướng giảm, trong khi đó người đi xuất cảng lao động gửi về lại tăng lên. Việc đẩy mạnh hoạt động xuất cảng lao động cũng giúp nguồn tiền này gửi về nước ngày một nhiều. Việt kiều ở hải ngoại phần lớn trước kia sống ở thành phố nên tiền chuyển về đổ về các đô thị lớn. Trong khi đó, thành phần xuất cảng lao động thường là những người ở xa thành phố nên tiền gởi về được đổ vào khu vực nông thôn, “cải thiện” đời sống và “Xoá Đói Giảm Nghèo” những khu vực này.
Hiện có khoảng 4 triệu Việt kiều sinh sống ở nước ngoài. Trong số này, có 1.5 triệu ở Hoa Kỳ, 300 ngàn ở Pháp, 250 ngàn ở Úc và 200 ngàn ở Canada. Theo Cục quản lý Lao động ngoài nước của CSVN, hiện có gần 500 ngàn người Việt đang lao động tại hơn 30 quốc gia trên thế giới. Ở một số nước mới có người Việt lao động bắt đầu từ năm 2005 như Đài Loan, Nhật Bản, Đại Hàn và Mã Lai thì kiều hối chủ yếu tập trung chuyển về những khu vực nông thôn. Đây là những thị trường “xuất cảng lao động” lớn của VN trong những năm gần đây. Kiều hối từ những thị trường này trực tiếp giúp đời sống gia đình của người đi xuất cảng lao động. Với những thị trường lâu năm như Mỹ, Canada, Pháp, Đức và Úc thì kiều hối lại đóng vai trò dẫn vốn đầu tư vào những lãnh vực kinh doanh trong nước.
Dựa theo phúc trình của Vụ tổng hợp kinh tế Bộ Ngoại Giao, một bản tin trên báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 28 tháng 5 năm 2009 xác nhận con số thống kê lúc nào cũng ít hơn con số thực và ước đoán tiền Việt kiều gửi về năm 2007 có thể là tới 10 tỷ Mỹ kim, vượt xa 3 tỷ Mỹ kim tiền ODA và 5 tỷ Mỹ kim vốn FDI. Bài báo sửng sốt xác nhận “người ta phải kinh ngạc về tiềm lực kinh tế của người Việt Nam đang sinh sống tại nước ngoài”. Nói như vậy để thấy tiềm năng của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại vô cùng to lớn!
Hàng năm số ngoại tệ tuôn về VN tính ra là một con số khổng lồ. Hàng tỷ đô la chui về đều đặn và tăng dần hàng năm ấy trước sau gì cũng chạy tọt vào túi riêng của các quan chức nhà nước. Số tiền khổng lồ không thể tưởng tượng nổi này như từ trên trời rơi xuống nuôi dưỡng chế độ. Lượng tiền gởi về mỗi năm mỗi tăng mà vẫn chưa vừa lòng tham của tập đoàn lãnh đạo. Chúng vẫn bằng cách này hay cách khác ra sức bòn rút và ngang nhiên ngồi hưởng trên mồ hôi và công sức làm việc ngày đêm của đồng bào hải ngoại.
Nếu không có ngoại tệ của “khúc ruột ngàn dặm” thì chế độ CSVN đã chết từ lâu. Người Việt hải ngoại biết vậy nhưng giải quyết bằng cách nào đây? Làm cách nào để thắt hầu bao và bóp họng chúng đây?

1. Không du lịch Việt Nam?
Không ai về VN du lịch, du hý và ăn chơi thì làm gì VC thâu được hàng tỷ đô la một năm? Không có con số công bố chính thức và cũng không thể thống kê chính xác nhưng theo ước đoán, mỗi năm có khoảng 1 triệu người về. Cứ đổ đồng mỗi người mang về chừng 10 ngàn đô để chi tiêu và cho thân nhân thì chúng sẽ mất số doanh thu hàng năm là 10 tỷ Mỹ kim.
2. Hạn chế tối đa việc giúp đỡ gia đình?
Vấn đề này thật đau lòng, nhức nhối và nan giải. Chúng ta không thể một sớm một chiều chấm dứt việc gởi tiền về giúp đỡ gia đình nhưng phải xét lại. Phải xét làm sao vừa đủ để cha mẹ già, anh em ruột thịt tạm sống qua ngày và hy sinh bóp bụng trong một thời gian. Tuyệt đối không bơm tiền cho thân nhân có phương tiện để phí phạm, vung vãi, đua đòi và ăn chơi ở các nơi suy đồi. Tùy theo hoàn cảnh của từng gia đình, nếu tất cả mọi người ở hải ngoại cùng một lòng cắt bớt một phần thì CSVN sẽ mất ngay một số ngoại tệ rất lớn. Làm được điều này là chúng ta đã thắng được sự dẫn dụ, khẩn khoản, van nài và cầu xin của CSVN nhằm móc hầu bao của người Việt hải ngoại rồi vậy.
3. Không làm việc thiện mù quáng
Không nhắm mắt, nhẹ dạ, thiếu suy nghĩ và thiếu suy xét làm việc thiện để tiền của và mồ hôi của những tấm lòng nhân ái của người Việt xa xứ tuồn vào túi của loài quỷ đỏ. Trường hợp cần thiết phải giúp một cá nhân hay một tổ chức nào, phải cân nhắc và đoan chắc việc làm của mình được thông qua người thân trong gia đình hay các nhà tu hành tin cẩn tại VN.
4. Tẩy chay các cơ sở kinh tài của Việt Cộng
Tẩy chay các văn phòng du lịch, các công ty xuất nhập cảng, các cửa tiệm bán thực phẩm, quần áo, đồ mỹ nghệ, … vì những cơ sở này huy động ngoại tệ cho CS Hà Nội, tạo điều kiện cho chế độ sống còn.
Vấn đề gởi tiền về VN là một việc tế nhị và khó giải quyết. Tuyệt đối không làm lợi cho CS nghe qua thì dễ nhưng chấm dứt một sớm một chiều lại không dễ thực hiện. Vậy phải làm thế nào? Tiếp tục gởi tiền về nuôi chế độ hay ngừng nuôi thân nhân? Tiền của người Việt hải ngoại chúng ta chuyển về VN dưới bất cứ hình thức hình thức nào, bằng cách này hay cách khác, hay qua các cơ sở kinh tài của tập đoàn CSVN đều làm làm lợi cho bọn chúng. Tiền của của chúng ta như bạch phiến và đảng CSVN như người nghiện. Nếu chúng ta dứt khoát và đồng loạt ngưng tiếp thuốc thì chúng sẽ dãy chết. Vũ khí lợi hại để đánh bại CSVN là đồng tiền của chúng ta. Vũ khí này cần phải đi kèm với sự đoàn kết của tất cả các thành phần trong cộng động người Việt hải ngoại. Hai hành động kinh tế và chính trị nầy nếu được phối hợp chặt chẽ, đồng loạt, quy mô và bằng tất cả sự quyết tâm của mọi người thì đảng CSVN sẽ, không sớm thì muộn, đi tới chỗ tiêu vong. Chúng ta cần phải ý thức sức mạnh của mình. Sức mạnh đó nếu được xử dụng đúng đắn sẽ mang lại kết quả thiết thực, chắc chắn sẽ góp phần vào việc thay đổi vận mệnh của đất nước theo đúng nguyện vọng của toàn dân.
Trần Việt Trình
23 tháng 1, 2010
[*] Kiều hối - Việt Nam đổi mới
http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20041013173232
*****************************************
BÀI ĐỌC THÊM:
1- Kiều hối chuyển về Việt Nam có nguy cơ sụt giảm trong năm 2009
Source: RFI
Trọng Nghĩa
Bài đăng ngày 07/09/2009

Các công ty chuyển ngân quốc tế đều có mặt tại Việt Nam như Western Union hay Moneygram
Năm 2008, Việt Nam đứng thứ 10 trên thế giới về kiều hối nhận được, với ít nhất 7,2 tỷ đô la. Năm 2009 lượng ngoại tệ ''cho không'' này có thể giảm từ 10% đến 20%. Một trong những nguyên nhân quan trọng là khủng hoảng kinh tế tác động mạnh đến Hoa Kỳ, nguồn kiếu hối chính gởi về Việt Nam. Từ California, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa phân tích về vai trò của kiều hối trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay.
*****************************************************
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới công bố vào trung tuần tháng 7/2009, Việt Nam đứng thứ 10 trong số các nước nhận được lượng kiều hối nhiều nhất trên thế giới vào năm 2008. Với tổng tri giá ước lượng là 7,2 tỷ đô la. Mức tăng này được đánh giá là đáng kể so với năm 2007, khi lượng kiều hối gởi về Việt Nam cũng đã rất khả quan, đạt 5,5 tỷ đô la, một khoản tiền mà theo Ngân hàng Thế giới tương đương với 8% GDP của Việt Nam.
Tuy nhiên trong năm 2009 này, tình hình sẽ xấu đi hơn do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động nặng nề đến các nước Âu Mỹ, nơi xuất phát của nguồn kiều hối gởi về các quốc gia đang phát triển. Ngân hàng Thế giới dự báo là tổng trị giá kiều hối nói chung sẽ giảm từ 7% đến 10%, trước khi vươn lên trở lại vào năm 2010 và 2011.
Ngân hàng Thế giới không đưa ra dự báo cụ thể cho Việt Nam, nhưng theo Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam thì tỷ lệ sụt giảm của kiều hối trong năm nay có thể xuống tới 20% so với năm ngoái. Trung tuần tháng 7 vừa qua, theo hãng Reuters, ông Nguyễn Quang Huy, Vụ trưởng Vụ Quản lý Ngoại hối thuộc Ngân hàng Trung Ương Việt Nam đã dự đoán là trong năm 2009, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam sẽ chỉ đạt từ 5,8 tỷ đến 6 tỷ đô la.
Dự báo của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam xuất phát từ tình hình thực tế là trong 6 tháng đầu năm nay, lượng kiều hối mà Việt Nam nhận được chỉ là 2,83 tỷ đô la.
Giải thích về nguyên nhân khiến cho kiều hối chuyển về Việt Nam giảm sút, giới quan sát đã nêu bật yếu tố khủng hoảng toàn cầu. Kiều hối nói chung xuất phát từ hai nguồn chính : tiền dành dụm của người Việt Nam trong nước đi xuất khẩu lao động gởi về cho gia đình, và tiền của người Việt định cư ở nước ngoài gởi về giúp đỡ thân nhân trong nước.
Do khủng hoảng kinh tế, nhiều nước trước đây thu nhận nhiều lao động Việt Nam đã bắt đầu sa thải nhân viên có sẵn, hay đình chỉ việc thu nhận nhân công mới. Hệ quả là nguồn kiều hối đến từ giới này cạn dần. Theo một ghi nhận của chính bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam vào đầu tháng 9, thì trong 8 tháng đầu năm nay, mới chỉ có hơn 45.000 lao động Việt Nam được gởi ra nước ngoài làm việc, trong lúc chỉ tiêu toàn năm của Nhà nước là xuất khẩu được 90.000 lao động. Trước đó, báo chí Việt Nam liên tục loan tin về những trường hợp công nhân Việt Nam từ Malaysia, Đài Loan, Nhật Bản, Cộng Hoà Séc, Slovakia... phải hồi hương vì bị mất công ăn việc làm.
Tuy nhiên, số tiền gởi về nước của các lao động Việt Nam hiện ở nước ngoài chỉ chiếm một phần nhỏ trong số kiều hối gởi về nước. Theo nhật báo Mỹ Wall Street Journal, gần 2 phần ba lượng kiều hối mà Việt Nam nhận được trong thời gian qua đến từ Hoa Kỳ, nơi có một cộng đồng người Việt hải ngoại đông đảo. Kinh tế Hoa Kỳ đang trải qua một giai đoạn khó khăn, nạn thất nghiệp gia tăng, các yếu tố này tất nhiên tác động đến lượng tiền gởi về Việt Nam. Theo Wall Street Journal, chính quyền Mỹ đã ước tính là kiều hối mà cộng đồng người Việt tại Mỹ chuyển về Việt Nam trong năm nay có thể giảm khoảng 10%.
Cho dù sút giảm, nhưng kiều hối vẫn được xem là một nguồn ngoại tệ quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam hiện nay, đặc biệt là trong bối cảnh đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam được dự báo sẽ sút giảm mạnh. Chỉ tiêu chính phủ Việt Nam đề ra cho năm 2009 này là 20 tỷ đô la đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép, không bằng 1/3 số liệu của năm ngoái (hơn 66 tỷ đô la).
Trong tình hình như vừa kể, khả năng kiều hối giảm sút trong năm nay không chỉ gây khó khăn cho những gia đình ở Việt Nam là người nhận số tiền này, mà còn có thể ảnh hưởng đến nguồn ngoại tệ mà nền kinh tế Việt Nam đang cần. Trả lời phỏng vấn của Ban Việt ngữ RFI, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại California đã giải thích rõ hơn về ích lợI và vị trí của kiều hối trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay.
Nghe phỏng vấn chuyên gia Kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại California
Trọng Nghĩa: Thân chào anh Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa anh, theo các số liệu của Ngân hàng Thế giới thì từ năm 2001 đến nay, lượng kiều hồi gởi về Việt Nam đã tăng thường xuyên, đạt 7,2 tỷ đô la Mỹ trong năm 2008. Nhưng năm 2009 này, cũng theo Ngân Hàng Thế Giới thì lượng tiền này có thể giảm sụt. Trước hết, xin anh cho biết kiều hối là gì và giúp ích gì cho kinh tế Việt Nam?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Có ba cách nhìn vào sự việc Việt Nam vẫn nhận được một nguồn ngoại tệ do thân nhân gửi về cho mà không đòi hoàn lại.
- Thứ nhất, trong quan hệ giữa các nền kinh tế, Việt Nam có thể thu ngoại tệ nhờ ba ngả chính là thứ nhất qua xuất nhập khẩu; thứ hai là do đầu tư từ nước ngoài đổ vào với hy vọng kiếm lời; thứ ba là do người Việt từ bên ngoài gửi về cho gia đình mà không chờ đợi sẽ được hoàn lại, tức là một hình thức kinh tế gọi là “tặng dữ”.
- Cách nhìn thứ hai là về các khoản tiền từ ngoài đem vào Việt Nam với tính cách tặng dữ này. Việt Nam được nhiều quốc gia viện trợ, tiền viện trợ ấy có thể là cho không vì mục tiêu nhân đạo nhưng không nhiều; hoặc có thể là cho vay dài hạn và nhẹ lãi, gọi là viện trợ phát triển như ODA - viện trợ chính thức - khi yếu tố cho không này phải tối thiểu là 25%. Người ta tính ra "yếu tố tặng dữ" đó khi so sánh lãi suất rất thấp, thời hạn cho vay rất lâu với sự mất giá của đồng bạc trong thời hạn hoàn trả này. Bây giờ, không phải là một quốc gia mà là cộng đồng người Việt gửi tiền về nhà với mục đích tặng dữ coi như 100%. Trong số này, ta không kể loại tiền bạc người Việt đem về giúp thân nhân mở cơ sở làm ăn, là một hình thức đầu tư từ nước ngoài.
Nói chung trên toàn thế giới thì từ năm 1996 trở về sau, lượng tiền tặng dữ ấy đã vượt qua số tiền viện trợ chính thức của các nước giàu cho các nước nghèo. Cho nên các nước giàu đã quan tâm theo dõi và đặt ra chính sách nâng đỡ vì là tiền viện trợ của tư nhân cho tư nhân thay vì chính phủ phải lấy tiền thuế của dân viện trợ cho xứ khác thì bị ràng buộc rất nhiều.
- Cách nhìn thứ ba là khi ta so sánh với nhiều xứ khác. Đa số các nước trên thế giới mà nhận được tiền gọi là "kiều hối" là do người bản xứ đi lao động ở nước ngoài rồi gửi về cho gia đình. Riêng lực lượng lao động ở nước ngoài của Việt Nam, tại vài nước như Đông Á, Trung Đông hay Đông Âu, thật ra không đông. Khoản tiền họ gửi về không nhiều và suốt năm qua, cuộc sống và việc làm của họ còn bấp bênh, và nhiều người đã bị trả về. Cho nên nguồn tiền gửi về chủ yếu là do cộng đồng người Việt, đa số là dân tỵ nạn đã thụ đắc quốc tịch nước ngoài và sẽ sống vĩnh viễn tại nước ngoài nên không thể gọi họ là "Việt kiều" được.
Trọng Nghĩa: Vị trí của nguồn tiền do người Việt ở nước ngoài gởi về cho thân nhân ở trong nước như thế nào so với các nguồn ngoại tệ khác dồn vào Việt Nam?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Về ngoại thương, Việt Nam đang bị nhập siêu đến hơn 16%, tức là nhập nhiều hơn là xuất cảng, nên bị thiếu hụt ngoại tệ. Trong sáu tháng đầu năm thì hụt mất ba tỷ tư. Tình trạng này đang bào mỏng khối dự trữ ngoại tệ của ViệtNam và gây khó khăn về ngoại hối làm đồng bạc bị sụt giá. Thứ hai, lượng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào cũng giảm mạnh và số cam kết trong sáu tháng đầu năm chỉ còn chừng 10 tỷ, quy ra cả năm thì được hơn 17 tỷ, chỉ bằng 26% của năm ngoái. Cam kết rồi, nhà đầu tư mới bỏ tiền khởi công sau đó thì tiền giải ngân trong sáu tháng đầu năm mới chỉ có bốn tỷ sáu, quy ra toàn năm thì được tám tỷ là may, so với năm ngoái thì sụt hơn 30%. Thứ ba, Việt Nam có được các nước cam kết viện trợ chừng năm tỷ đô la, nhưng vì ách tắc của mình nên sổ giải ngân nhận được chỉ bằng phân nửa, tức là hơn hai tỷ đô la. Bây giờ, người Việt ở ngoài mà gửi về sáu bảy tỷ đô la như một khoản viện trợ miễn phí, thì đấy là một nguồn lợi đáng kể về kinh tế.
- Nhìn cách khác, khi Việt Nam nói là đã đạt tốc độ tăng trưởng là 7% cho một nền kinh tế có sản lượng chừng 90 tỷ đô la theo cách tính mới nhất của Quỹ Tiền tệ Quốc tế FMI - tức là làm giàu thêm được hơn sáu tỷ đô la - thì sự giàu có phụ trội này xuất phát từ nguồn viện trợ miễn phí của người nước ngoài gửi về cho thân nhân ở nhà!
Trọng Nghĩa: Nhiều người cho rằng lượng kiều hối chính thức thống kê được thấp hơn so với thực tế. Nhận xét này có đúng không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Đúng như vậy. Số liệu ước lượng cho năm ngoái có thể đã lên tới tám tỷ đô la chứ không phải bảy tỷ hai như Ngân hàng Thế giới mới công bố hôm 13 tháng Bảy. Thứ nữa, đấy là những khoản tiền gửi chính thức qua nhiều ngả khác nhau có được bút ghi hẳn hoi, chứ ta không quên nhiều cách chuyển khác qua ngả không chính thức và càng không quên là hàng năm, mấy trăm ngàn người từ bên ngoài về thăm nhà cũng trực tiếp đem tiền làm quà cho thân nhân, giả dụ như mỗi người chừng ngàn đô la chia cho cả đại gia đình. Những số tiền ấy tất không được ghi trong sổ sách ngân hàng hay thống kê nhà nước, cho nên số tiền tặng dữ này thật ra rất cao, năm ngoái thì xấp xỉ 10 tỷ chứ không ít và tối thiểu cũng hơn 10% Tổng sản lượng Nội địa PIB hay GDP.
Trọng Nghĩa: Xin anh nói về xuất xứ của nguồn tiền đó. Nơi nào gửi tiền về nhiều nhất, có phải là Hoa Kỳ không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Theo số ước lượng của các ngân hàng hay công ty chuyển tiền chính thức thì từ 75 đến 80% số tặng dữ xuất phát từ cộng đồng người Việt tại Mỹ. Người Việt tại Mỹ có dân số gần hai triệu, bằng hai phần ba dân số người Việt ở nước ngoài, họ lại có lợi tức trung bình ngang ngửa với người Mỹ da trắng và như vậy là khá cao so với người Việt nơi khác. Trong thành phần người Việt tại Mỹ thì có lẽ dân Việt ở California - tiểu bang có mật độ cao nhất - gửi về bằng gần 80% số tiền từ Mỹ gửi về, là hơn 60% tổng số tặng dữ gửi từ nước ngoài về.
- Cũng nói về xuất xứ, đa số lượng tiền tặng dữ không gửi qua hệ thống ngân hàng mà qua các hãng chuyển tiền quốc tế, tư nhân gốc Việt hay đường dây riêng nên thường cao hơn con số chính thức. Thành phần lao động ở nước ngoài có thể vẫn gửi qua hệ thống ngân hàng và bị kiểm soát kỹ từ gốc, chứ các thành phần kia thì không mấy tin vào ngân hàng trong nước nên tìm ngả nhanh gọn, kín đáo và đáng tin hơn, chưa kể là hoa hồng còn rẻ hơn.
Trọng Nghĩa: Số tiền viện trợ ấy tất nhiên có ích cho nền kinh tế và xã hội, nhưng một cách cụ thể thì ích lợi như thế nào?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ta không quên Việt Nam vẫn là một nước nghèo, có những địa phương chậm phát triển, và nói chung còn thiếu nhiều dịch vụ an sinh, y tế hay xã hội. Về mặt xã hội đó, ta cũng cần phân biệt là tiền của giới lao động ở nước ngoài gửi về có thể ít hơn mà phân tán rộng hơn tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam, trong khi tặng dữ nhiều gấp bội của người Việt hải ngoại lại tập trung vào các tỉnh miền Nam và các thành phố lớn. Hiện tượng ấy có góp phần đào sâu hơn nữa dị biệt về lợi tức của từng vùng là một việc ta cần nghiên cứu thêm. Bây giờ, khi dân trong nước bị sụt lương, thất nghiệp hoặc đau ốm, lao động ở nước ngoài lại mất việc hoặc bị trả về thì nguồn tiền của cộng đồng ở hải ngoại mới là sự cấp cứu nhanh gọn và cấp thiết nhất.
Trọng Nghĩa: Trong hoàn cảnh khó khăn kinh tế hiện nay trên toàn thế giới, lượng kiều hối gởi về Việt Nam chắc chắn sẽ giảm sút, mức giảm có thể là bao nhiêu?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ta khó biết trước được con số của năm 2009, nhưng cứ theo tình hình kinh tế sa sút của các nước xuất xứ như Mỹ, Âu hay Úc hay Canada và hoàn cảnh khó khăn của người Việt tại đó thì lượng tiền tặng dữ có thể giảm ít ra phân nửa. Riêng tại Mỹ thì tính đến nay đã giảm chừng 40% so với cả năm ngoái. Nếu tổng cộng được năm tỷ đô la là mừng vì kinh tế của các xứ này, nhất là tại Mỹ, phải hồi phục trước thì năm sáu tháng sau cộng đồng người Việt tại đấy mới dễ thở, kiếm ra việc làm để rồi tiếp tục gửi tiền về cho thân nhân. Vì vậy, từ nay đến cuối năm, tiền tặng dữ qua ngả chính thức sẽ còn giảm, nhưng đấy chưa là vấn đề.
Trọng Nghĩa: Thế vấn đề là gì ?Phải chăng vì nhà nước Việt Nam định giá đồng bạc quá thấp cho hàng rẻ để dễ xuất khẩu nên người ở nhà nhận đối giá tiền Việt quá ít làm cho người ta ngần ngại trong vấn đề gởi tiền về Việt Nam?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ tỷ giá đồng bạc chỉ là vấn đề nhỏ thôi vì đô la Mỹ vẫn còn lên giá. Vấn đề nó nằm ở chỗ luồng tư bản biết chảy ngược và xuôi - chảy vào rồi chảy ra.
- Một thí dụ là khi gửi tiền về nhà, ở ngoài phải trả hoa hồng chừng 1%, từ Việt Nam gửi ra thì mất 5% trị giá số tiền gửi. Điều ấy cho thấy là vẫn có người gửi tiền ra ngoài. Họ là ai? Tất nhiên không là bà con vất vả của những người có từ tâm ở hải ngoại gửi tiền về. Họ là đại gia có tiền. Ta cần thấy nhiều trường hợp mà tiền gửi về nhà chỉ được bút ghi trong sổ mà vẫn nằm ở ngoài vì cơ sở trung gian không bỏ tiền ấy vào cặp đem về đưa người thừa hưởng ở nhà. Trong khi đó, đối tác ở nhà của cơ sở trung gian lại nhận tiền của ai khác để trao lại cho người thừa hưởng. Vì thế, nghiệp vụ chuyển tiền có hai chiều, tiền gửi về nhà cũng là cơ hội cho người ở nhà chuyển tiền ra ngoài! Ở nhà, người nhận và người gửi tiền ra ngoài là hai thành phần khác nhau. Con số bảy tám tỷ gửi về có thể là tặng dữ cho nhiều gia đình đỡ khổ, nhưng đối giá của nó lại là tiền mà kinh tế học gọi là "tẩu tán tư bản" hay "fuite des capitaux", là tiền được rút chạy khỏi Việt Nam. Bây giờ, khi kinh tế bên ngoài sa sút, một số gia đình ở nhà có thể bị lao đao chứ người có chức có quyền, tức là có tiền, thì vẫn không thiếu cách đem tiền ra ngoài, có khi gọi đó là đầu tư! Nhìn lại thì nếu sản lượng kinh tế Việt Nam có gia tăng 6-7% mà lại chỉ bằng với số tiền tặng dữ từ ngoài gửi về thì ta thấy ra một lượng thất thoát tư bản cũng ở khoảng đó. Và đấy mới là vấn đề!
***********************************************************************
2- Kiều hối về VN năm qua giảm
Source: BBC Vietnamese
Tiền kiều hối gửi về Việt Nam năm 2009 giảm đi 20% sau năm kỷ lục 2008 vì kinh tế toàn cầu tác động đến các nước có người Việt sinh sống và làm ăn.
Theo nguồn tin của Thông tấn xã Việt Nam trích quan chức nhà nước Việt Nam, tổng kết năm 2009 cho thấy kiều hối về Việt Nam giảm nhiều so với 2008.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thuý được trích lời nói việc sút giảm này là không tránh khỏi, một phần vì tỉ lệ thất nghiệp tăng tại các nước có kiều dân Việt Nam sinh sống.
Còn ông Nguyễn Hoàng Minh, phó thống đốc phía Nam của Ngân hàng Nhà nước tại TP Hồ Chí Minh nói kiều hối qua các ngân hàng và đại lý chuyển tiền ở thành phố này chỉ vào khoảng 3,2 tỉ USD trong năm qua, giảm 20% so với 2008.
Truyền thông Việt Nam đưa ra là trong cả năm 2009, kiều hối về nước chỉ đạt 6-6,8 tỉ USD, thấp hơn so với con số ước tính từ 7,2 đến 8 tỉ năm 2008.
Tuy nhiên, hiện chưa có con số kiều hối gửi theo đường không chính thức tăng hay giảm bao nhiêu trong năm.
Tin vừa qua chỉ xác nhận những gì giới ngân hàng Việt Nam đã đưa ra hồi tháng 10 năm qua, rằng Bấm kiều hối giảm mạnh.
Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước ở TP HCM trong tháng 10 tiếp tục giảm 8,07% so với tháng 9, chỉ đạt gần 260 triệu USD.
Cũng vào thời điểm đó, tuy kiều hối chuyển qua hệ thống ngân hàng giảm 16,1% nhưng tiền chuyển qua các công ty lại tăng nhẹ.
Theo ngân hàng, mười tháng đầu năm 2009 lượng kiều hối chuyển về TP.HCM đạt gần 2,6 tỉ USD, bằng 60% so với năm 2008.
Tác động toàn cầu
Các nước có đông Việt kiều, chủ yếu gửi tiền về các tỉnh Nam Việt Nam là Hoa Kỳ, Úc, Canada và khu vực Tây Âu.
Có vẻ như năm 2008 lượng kiều hồi gửi về Việt Nam là cao nhất từ trước đệ́n nay.
Tính đến tháng 12/2008, lượng kiều hối gửi về Việt Nam đạt chừng 8 tỉ USD, tăng 2.5 tỉ USD so với năm 2007.
Nhưng năm 2009 là năm khó khăn và Việt Nam đã vất vả để giữ mức tăng trưởng kinh tế.
Hồi tháng 9/2009, khi loan báo cho Việt Nam vay 500 triệu USD để kích thích kinh tế, Ngân hàng Phát triển châu Á ( ADB ) nói khoản vay sẽ giúp Việt Nam đối phó với ảnh hưởng của tình trạng khó khăn kinh tế toàn cầu.
Thông cáo của ngân hàng nói Việt Nam đang chịu hậu quả nặng nề khi đầu tư trực tiếp từ nước ngoài giảm, xuất khẩu và kiều hối cũng đi xuống.
Một điều tra của đài BBC công bố tháng 9/2009 cho thấy cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu đã tác động đến dòng kiều hối gửi về các nước như Mexico hay Moldova.
Ấn Độ là nước nhận kiều hối lớn nhất với người Ấn Độ trên toàn cầu gửi về nước khoảng 45 tỉ USD năm 2008.
Sau Ấn Độ là Trung Quốc và Mexico, nếu xét về tổng mức tiền gửi về những nước này.
Việt Nam cũng đứng cao tại châu Á trong số các nước nhận kiều hối, cả từ các Việt kiều lẫn lao động Việt Nam ở nước ngoài, chủ yếu tại châu Á.
Kinh tế nhiều quốc gia đang phát triển phụ thuộc nhiều vào nguồn kiều hối.
Kinh tế gia từ Ngân hàng Thế giới, ông Dilip Ratha nói tại Trung Á, Tajikistan đứng đầu bảng các nước phụ thuộc vào tiền gửi về quê trong năm 2008, với 45% kinh tế địa phương là do kiều hối hỗ trợ.
Nước nhỏ ở Đông Âu là Moldova có gần 40% dòng tiền mặt là kiều hối, và Lesotho ở nam Phi nhận gần 30%.
***********************************************************************
3- Kiều hối về TP.HCM tiếp tục giảm
Source: BBC Vietnamese
Ngân hàng Nhà nước TP.HCM cho biết kiều hối chuyển về thành phố trong tháng 10 tiếp tục giảm 8,07% so với tháng 9, chỉ đạt gần 260 triệu USD.
Trong đó kiều hối chuyển qua hệ thống ngân hàng giảm 16,1% nhưng chuyển qua các công ty lại tăng nhẹ.
Theo ngân hàng, mười tháng đầu năm 2009 kiều hối chuyển về TP.HCM đạt gần 2,6 tỉ USD, bằng 60% so với năm 2008.
Cũng theo ngân hàng này, nếu so với con số kiều hối thông qua các ngân hàng trên địa bàn TP.HCM đạt được năm ngoái là trên 4 tỷ USD thì khả năng năm nay sẽ khó đạt được con số này.
Nguyên nhân theo các chuyên gia do khủng hoảng kinh tế khiến thu nhập của Việt kiều và lao động Việt Nam tại nước ngoài giảm sút nên kiều hối cũng bị ảnh hưởng.
Tuy vậy nhiều người tin rằng kiều hối trên thị trường “ngầm” vẫn lớn hơn rất nhiều so với con số mà Nhà nước đã thống kê được.
Nhu cầu thay đổi
Giới chức ngân hàng tin rằng bên cạnh lý do khách quan làm giảm, kiều hối chỉ có thể phát triển mạnh khi có hệ thống chi trả rộng khắp và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân.
Thực tế cho thấy, đối với những người nước ngoài đi du lịch hoặc đang sinh sống tại Việt Nam cũng có nhu cầu nhận kiều hối từ thân nhân.
Tại nhiều nơi trên thế giới, dỉ nhiên điều họ mong muốn là nhận tiền tại bất kỳ điểm giao dịch nào thuận tiện như khách sạn, nhà hàng, siêu thị v.v...
Các ngân hàng ở Việt Nam cũng đã bung ra nhiều điểm giao dịch nhưng chưa đủ mạnh, theo các nhà quan sát.
Từ chỗ giúp người thân còn ở quê nhà trong những năm trước, người Việt ở nước ngoài nay chuyển sang giúp khai thác các thế mạnh của nhau để cùng làm ăn, làm giàu.
Đối với một số người đó cũng là để chuẩn bị cho lúc về hưu nếu họ có ý định quay về lại Việt Nam.
************************************
4- Kiều hối và mâu thuẫn của Ngân hàng Thế giới
Source: VOA News
Trần Vinh Dự
Kiều hối là một phần hết sức quan trọng trong cán cân tài khoản vãng lai ở Việt Nam. Ý nghĩa đặc biệt của nó còn nằm ở chỗ Việt Nam trong nhiều năm gần đây luôn là một nước nhập siêu và vì thế cần nguồn ngoại tệ mạnh để bù vào khoảng trống trong cán cân thương mại.
Báo chí Việt Nam hồi giữa tháng 7 mới đưa tin cho biết lượng kiều hối đổ vào Việt Nam năm nay có thể lên tới khoảng $5.8 tỉ tới $6 tỉ Mỹ kim. So với lượng kiều hối của năm ngoái ( $7.2 tỉ ) thì kiều hối đổ vào Việt Nam năm nay giảm khoảng 20% .

Hình: Việt Nam là một trong 10 nước nhận nhiều kiều hối nhất thế giới. Nguồn: World Bank
Ngân hàng Thế giới trong một báo cáo hồi giữa tháng 6 nhận xét về khoản kiều hối này như sau:
“Ở các nước Đông Á khác, kiều hối thường do lao động làm việc ở nước ngoài gửi về cho gia đình. Sinh kế của nhiều người lao động như vậy đang gặp rủi ro do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, và do đó kiều hối dự báo sẽ bị ảnh hưởng theo. Ở Việt Nam, kiều hối phần nhiều do cộng đồng người Việt sinh sống ở nước ngoài lâu năm gửi về, những người này tương đối khá giả và hiện nay đang đầu tư về nước, đôi khi gắn với kế hoạch nghỉ hưu của họ. Do vậy dòng kiều hối có thể sẽ giảm ít hơn so với các quốc gia khác trong khu vực.”
Thế nhưng cũng theo số liệu của ngân hàng thế giới thì kiều hối đổ vào các nước đang phát triển trong năm 2009 sẽ vào khoảng $304 tỉ Mỹ kim, giảm từ 7% tới 10% so với năm ngoái (báo cáo Migration and Development Brief, July 2009 ). Báo cáo này cũng nhìn nhận:
“Kiều hối không giảm nhiều vì mặc dù luồng lưu chuyển lao động mới đã giảm đi nhưng số lao động di cư từ trước hầu như không bị ảnh hưởng gì từ cuộc khủng hoảng.”
Rõ ràng là 2 báo cáo nêu trên của Ngân hàng thế giới có sự mâu thuẫn. Kết hợp với số liệu về kiều hối mà Việt Nam vừa công bố thì:
1. Hai báo cáo này nhận định ngược nhau. Báo cáo số một thì nói “kiều hối thường do lao động làm việc ở nước ngoài gửi về cho gia đình. Sinh kế của nhiều người lao động như vậy đang gặp rủi ro do khủng hoảng kinh tế toàn cầu” trong khi đó báo cáo số 2 thì lại nói “Kiều hối không giảm nhiều vì mặc dù luồng lưu chuyển lao động mới đã giảm đi nhưng số lao động di cư từ trước hầu như không bị ảnh hưởng gì từ cuộc khủng hoảng.” Thế mới biết dân nghiên cứu kinh tế đôi khi cũng hay ăn ốc (nói mò) và thi thoảng kiêm luôn nghề thày bói xem voi.
2. Kiều hối vào Việt Nam trong năm 2009 giảm sâu hơn nhiều so với mức trung bình của thế giới (20% so với từ 7% tới 10%). Sự chênh lệch này có lẽ là một sự bí ẩn khó giải thích?
*********************************************
Kiều hối
Source: vietnamembassy.us
Kiều hối là một nguồn lực quý giá theo nhiều nghĩa, là một kênh mang lại ngoại tệ mạnh cho đất nước mà không một kênh nào có thể sánh nổi về hiệu quả. Bởi vì ngoại tệ thu được từ xuất khẩu tuy rất quý nhưng xuất khẩu thì phải mất chi phí để sản xuất hàng, chi phí vận chuyển mang ra nước ngoài, lại còn phải chịu thuế nhập khẩu, chịu hạn ngạch, chịu kiện bán phá giá, chi phí tiếp thị, quảng cáo...
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ta được lợi về thuế, giải quyết được công ăn việc làm, tiếp thu công nghệ tiên tiến, học được kinh nghiệm quản lý... nhưng vốn là của nhà tư bản nước ngoài, lãi họ hưởng, nếu họ không xuất khẩu thì còn cạnh tranh với hàng hóa cùng loại sản xuất trong nước. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cũng rất quý, nhưng hơn 90% là vốn vay, dù được vay trong thời gian dài, lãi suất thấp, lại có thời gian ân hạn, nhưng việc giải ngân không đơn giản, hơn nữa nếu sử dụng không hiệu quả thì vay mới sẽ cũng chỉ để trả nợ cũ và không chỉ để lại gánh nặng nợ nần cho con cháu mà ngay từ bây giờ đã phải trả những khoản lãi của những khoản nợ đầu tiên...
Kiều hối còn là một nguồn lực lớn và gần như tăng liên tục trong thời gian qua (năm 1991 có 35 triệu USD, năm 1992 có 136,6 triệu, năm 1993 có 141 triệu, năm 1994 có 249,5 triệu, năm 1995 có 285 triệu, năm 1996 có 469 triệu, năm 1997 có 400 triệu, năm 1998 có 950 triệu, năm 1999 có 1.200 triệu, năm 2000 có 1.757 triệu, năm 2001 có 1.820 triệu, năm 2002 có 2.200 triệu, năm 2003 có 2.600 triệu, ước năm 2004 sẽ vượt 3.000 triệu USD, gấp 85,7 lần năm 1991, tăng tới 40,8%/năm - một tốc độ tăng gần như không có chỉ tiêu nào đạt được trong thời gian tương ứng). Tổng cộng trong 14 năm qua đã có 15 tỉ 243 triệu USD, bằng 59% tổng vốn FDI thực hiện và lớn hơn cả tổng số vốn ODA giải ngân từ 1993 đến nay.
Quan trọng hơn, nguồn kiều hối còn là tình cảm sâu nặng của bà con Việt kiều đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài đối với thân nhân và quê hương, đất nước. Điều đó còn chứng tỏ chính sách của Đảng và Nhà nước cởi mở thông thoáng khuyến khích và tạo điều kiện cho kiều bào ở nước ngoài gửi tiền về giúp gia đình; tạo điều kiện bảo đảm an toàn cho số tiền này; người thân được nhận bằng ngoại tệ không hạn chế,…
Nguồn kiều hối này cộng với các nguồn ngoại tệ khác còn góp phần cải thiện cán cân tổng thể, góp phần ổn định giá USD trong mấy năm gần đây.
Bởi vậy cần tạo điều kiện để nguồn lực quý này gia tăng hơn nữa.
Ngọc Minh
***********************************************************************
10 tháng, vốn FDI giải ngân đạt 8 tỉ đô la
(VNA) Theo Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn giải ngân của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong 10 tháng đầu năm nay đạt 8 tỉ đô la Mỹ, bằng 87,9% so với cùng kỳ năm 2008.
Cũng theo Cục Đầu tư nước ngoài, tổng vốn FDI đăng ký 10 tháng năm 2009 (tính đến ngày 21-10-2009) đã đạt hơn 18,9 tỉ đô la Mỹ.
Kết quả này chưa cập nhật hết vì trong tháng 10 có ít nhất 3 dự án lớn được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 7,8 tỉ đô la Mỹ, cộng với 12,54 tỉ đô la Mỹ của 9 tháng trước đó thì tổng vốn đăng ký trong 10 tháng đầu năm 2009 đã vướt 20 tỉ đô la Mỹ.
Với tổng số tổng vốn đăng ký trên thì 4,87 tỉ đô la Mỹ là vốn đăng ký tăng thêm của 179 dự án, bằng 95,2% so với cùng kỳ năm 2008. Số vốn còn lại là từ gần 658 dự án mới được cấp phép.
Lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống tiếp tục dẫn đầu nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong 10 tháng qua, đạt hơn 8,7 tỉ đô la Mỹ thông qua 26 dự án được cáp phép mới và 7 dự án đang hoạt động tăng thêm vốn đầu tư.
Kế đến là lĩnh vực bất động sản đạt gần 5,67 tỉ đô la Mỹ thông qua 34 dự án được cấp phép mới và 3 dự án đang hoạt động tăng thêm vốn mở rộng đầu tư. Lĩnh vực công nghiệp chế biến và chế tạo có 182 dự án mới và 103 dự án tăng thêm vốn với tổng vốn đăng ký đạt hơn 2,65 tỉ đô la Mỹ...
***********************************************************************
Kiều hối: Nguồn lực "kép" cho nền kinh tế
Để tăng trưởng kinh tế cao thì vốn đầu tư là yếu tố vật chất có tính quyết định. Trong các nguồn lực thì kiều hối là kênh ngoại tệ mạnh cho đất nước mà không có một kênh thu hút nào có thể sánh nổi.
Xuất khẩu thì phải mất chi phí để sản xuất hàng hoá, tốn chi phí để vận chuyển mang ra nước ngoài, lại còn phải chịu thuế nhập khẩu, chịu hạn ngạch, chịu bị kiện bán phá giá của nước ngoài, lại còn chi phí tiếp thị, quảng cáo... Đó là chưa kể còn phải tốn một lượng ngoại tệ không nhỏ, thậm chí còn nhiều hơn (nhập siêu) để nhập nguyên nhiên vật liệu để sản xuất và tiêu dùng.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thì vốn là của nhà tư bản nước ngoài, vốn họ thu hồi, lãi họ hưởng, nếu họ không xuất khẩu được thì còn cạnh tranh với hàng hoá cùng loại sản xuất trong nước (tất nhiên ta có lợi nhờ thu được thuế, giải quyết được việc làm, tiếp thu được khoa học- công nghệ, học tập được kinh nghiệm quản lý, nâng cao tay nghề...).
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cũng rất quý, vừa được vay trong thời gian dài, vừa có lãi suất thấp, lại có thời gian ân hạn tới 10 năm và có một phần (khoảng 10%) là viện trợ không hoàn lại, nhưng việc giải ngân không đơn giản, phần lớn vẫn là vốn vay, đặc biệt nếu sử dụng không hiệu quả thì vay mới sẽ cũng chỉ để trả nợ cũ và không chỉ để lại gánh nặng nợ nần cho con cháu mà ngay từ bây giờ đã phải trả những khoản lãi của những khoản nợ đầu tiên.
Kiều hối còn là một nguồn lực lớn và gần như tăng nhanh, tăng liên tục trong thời gian qua: năm 2004 nhiều gấp 85,7 lần năm 1991, tăng tới 40,8%/năm- một tốc độ tăng gần như không có chỉ tiêu nào đạt được trong thời gian tương ứng. Tổng cộng trong 14 năm qua đã có 15.243 triệu USD, bằng khoảng 59% tổng vốn FDI thực hiện tính từ năm 1988 và lớn hơn cả tổng số vốn ODA được giải ngân từ 1993 đến nay.
Quan trọng hơn, nguồn kiều hối là tình cảm sâu nặng của bà con Việt kiều đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài đối với thân nhân và quê hương, đất nước.
Nguồn kiều hối này cộng với các nguồn ngoại tệ khác thu được từ các kênh khác (xã hội, FDI, ODA, lao động xuất khẩu, du lịch...) đã góp phần cải thiện cán cân tổng thể của nước nhà, mặc dù nhập siêu mấy năm nay khá lớn (năm 1999 mới có 201 triệu USD, năm 2000 là 1.154 triệu, năm 2001 là 1.189 triệu, năm 2002 là 3.039 triệu, năm 2003 là 5.051 triệu, 11 tháng đầu năm 2004 là 4.461 triệu).
Đây cũng là yếu tố góp phần làm cho giá USD trong mấy năm gần đây tương đối ổn định (năm 1991 còn tăng tới 103,1%, năm 1992 giảm 25,8%, năm 1993 tăng 0,3%, năm 1994 tăng 1,7%, năm 1995 giảm 0,6%, năm 1996 tăng 1,2%, năm 1997 tăng 14,2%, năm 1998 tăng 9,6%, năm 1999 tăng 1,1%, năm 2000 tăng 3,4%, năm 2001 tăng 3,8%, năm 2002 tăng 2,1%, năm 2003 tăng 2,2%). Tháng 12/2003 so với tháng 12/1990, tỷ giá tăng 119,1%, bình quân tăng 6,2%/năm, thấp hơn nhiều so với giá tiêu dùng (tăng 229,1% hay bình quân 9,8%/năm trong thời gian tương ứng).
Đạt được quy mô lớn và gia tăng về kiều hối như trên là nhờ chính sách thông thoáng của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực này. Trước hết là chính sách tạo điều kiện cho người Việt Nam được đoàn tụ với gia định đang định cư ở nước ngoài nếu được gia đình bảo lãnh, cho Việt kiều về nước thăm thân nhân, thăm quê hương, đất nước (ngoài mục đích du lịch, công việc hoặc mục đích khác, lượng Việt kiều về thăm thân nhân qua các năm có quy mô khá: năm 1996 có 274 nghìn lượt người, năm 1997 có 372 nghìn, năm 1998 có 301 nghìn, năm 1999 có 337 nghìn, năm 2000 có 400 nghìn, năm 2001 có 390 nghìn, năm 2002 có 425 nghìn, năm 2003 có 375 nghìn, 11 tháng năm 2004 có trên 421 nghìn).
Lượng kiều hối gửi về nước hoàn toàn do người gửi lựa chọn hình thức, lựa chọn đơn vị là dịch vụ nhận gửi, không hạn chế số tiền (trừ việc mang theo người nếu vượt quá 3.000 USD phải khai báo để thống kê); người nhận được trực tiếp nhận bằng ngoại tệ, không bị ép buộc phải đổi ra VND- một sự khuyến khích thông thoáng hiếm có so với nhiều nước trên thế giới.
Việc xử dụng lượng kiều hối này cũng hoàn toàn do những người nhận quyết định, trong đó Nhà nước khuyến khích việc dành cho đầu tư. Những đơn vị làm dịch vụ nhận chuyển kiều hối bảo đảm ngày một an toàn, tiện lợi, nhanh chóng, với chi phí ngày một giảm.
Hiện có hơn 2 triệu Việt kiều ở nước ngoài, chủ yếu lại ở các nước có nền kinh tế phát triển, có thu nhập cao và hầu hết bà con các thế hệ vẫn giữ được truyền thống yêu quê hương, đất nước. Vì vậy cần có chính sách để phát triển hơn nữa đất nước, đồng thời làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền để các thế hệ Việt kiều trở về thăm quê hương và chuyển tiền về giúp đỡ cho thân nhân, xây dựng quê hương đất nước.
Thời báo Kinh tế Việt Nam, 27/12/2004
****************************************************************
Bắt đầu vào mùa kiều hối!
12/07/2004
Các ngân hàng cho biết đã vào mùa kiều hối và sẽ kéo dài đến sát tết âm lịch. Hiện bình quân mỗi ngày Ngân hàng Đông Á chi trả trên 2 triệu USD, Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín chi gần 2 triệu USD, Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) gần 1 triệu USD.
Theo Eximbank, phần lớn người nhận kiều hối vẫn thích nhận bằng USD trong khi với những người nhận kiều hối bằng các đồng tiền khác (đôla Úc, đôla Canada, EUR...) đều bán lại cho ngân hàng để lấy VND.
Ngân hàng Nhà nước Tp.HCM cho biết ngoài việc xử dụng lượng USD tiền mặt thu đổi được ở trong nước, trong tháng mười một các ngân hàng đã nhập thêm 18 triệu USD tiền mặt để đáp ứng nhu cầu nhận kiều hối bằng USD tiền mặt của người dân. Trước đó trong tháng mười các ngân hàng chỉ nhập thêm có 7 triệu.
Do đồng EUR được giá, người dân đã đưa EUR bán cho ngân hàng nhiều hơn thay vì cất giữ. Lượng bán tăng dần theo tốc độ tăng của tỉ giá EUR: tháng chín chỉ có 21 triệu EUR, tháng mười tăng lên 22,7 triệu EUR, tháng mười một tăng lên gần 31 triệu EUR.
Trước đó, trong quí I/2004, bình quân mỗi tháng chỉ khoảng 14 triệu EUR. Tỉ giá VND/EUR đã tăng mạnh qua các tháng, nếu đầu năm bán 1 EUR thu được 19.340 đồng thì thời điểm này bán được trên 21.000 đồng..
Tuổi Trẻ, 7/12/2004
01/29/10. 09:14:01 pm. 13842 words, 237 views. Categories: Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Ôn cố nhi tri tân, Xã hội và nhân văn ,
