Archives for: April 2010, 13

BÀI PHỎNG VẤN CỦA LUẬT SƯ LÊ THỊ CÔNG NHÂN VỚI RFI BỊ NGỤY TẠO


Luật sư Lê thị Công Nhân - Ảnh: DR

Bài phỏng vấn của luật sư Lê Thị Công Nhân với RFI bị ngụy tạo
Thanh Phương - RFI

Một bài phỏng vấn Lê Thị Công Nhân được lưu hành trên mạng, với một số đoạn bị sửa đổi hoặc một số đoạn thêm vào, với nội dung là luật sư Lê Thị Công Nhân đả kích Khối 8406 và các thành viên của phong trào. Trên thực tế, trả lời RFI cô đã bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với những lãnh đạo Khối 8406.

Ngày 7/4 vừa qua, nhân kỷ niệm 4 năm ngày thành lập Khối 8406, phong trào đấu tranh dân chủ ở Việt Nam, RFI đã phỏng vấn luật sư Lê Thị Công Nhân, vừa mãn hạn tù 3 năm và hiện đang thi hành án quản chế. Cô đã bị bắt và bị kết án chỉ một thời gian ngắn sau khi tham gia Khối 8406.

Bài phỏng vấn đã được ghi lại thành văn bản và vừa được đăng lên trang web của RFI Việt ngữ hôm qua. Nhưng cùng lúc đó, lại có một bài phỏng vấn Lê Thị Công Nhân được lưu hành trên mạng, với một số đoạn bị sửa đổi hoặc một số đoạn thêm vào, với nội dung là luật sư Lê Thị Công Nhân đả kích, chê bai Khối 8406 và các thành viên của phong trào này, trong khi trên thực tế, trong bài phỏng vấn với RFI, cô đã bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với những lãnh đạo Khối 8406 và tán thành đường lối đấu tranh của phong trào này.

Sau đây là nguyên văn bài phỏng vấn đăng trên website của Đài phát thanh RFI:

LUẬT SƯ LÊ THỊ CÔNG NHÂN VÀ KHỐI 8406


Các thành viên của khối 8406 (DR)

Thanh Phương

Cách đây 4 năm, ngày 8/4/ 2006, một phong trào đấu tranh dân chủ cho Việt Nam đã ra đời, mang tên Khối 8406, mà linh mục Nguyễn Văn Lý là một trong những người sáng lập.

Ban đầu có 118 thành viên, khối 8406 đã nhanh chóng nhận được sự ủng hộ và tham gia của hàng chục ngàn người trong nước lẫn hải ngoại, trong số này có luật sư Lê Thị Công Nhân, nhà bất đồng chính kiến vừa mãn hạn tù 3 năm và nay đang trong thời gian bị quản thúc 3 năm. Hôm nay, chúng tôi xin mời quý vị nghe phần phỏng vấn với luật sư LS Lê Thị Công Nhân:



RFI: RFI Việt ngữ xin kính chào chị Lê Thị Công Nhân. Thưa chị, hôm nay chúng tôi muốn nói chuyện với chị qua điện thoại nhân dịp kỷ niệm 4 năm ngày thành lập Khối 8406, coi như phong trào đầu tiên được hình thành một cách có tổ chức để đấu tranh một cách bất bạo động cho dân chủ ở Việt Nam. Nhưng trước khi nói về phong trào này thì hiện nay là chị vẫn tiếp tục thi hành án quản chế trong 3 năm sau khi mãn hạn tù, thế thì cuộc sống hiện nay của chị như thế nào?

LS Lê Thị Công Nhân: Chào quý vị. Sau khi ra tù thì thực ra cái án quản chế 3 năm này đối với tôi nó cũng không phải là quá quan trọng là bởi vì trước khi tôi bị bắt và bị đi tù một cách chính thức, tôi cũng đã bị quản chế một cách không chính thức.

Thậm chí trong thời gian mà APEC diễn ra tại Việt Nam năm 2006, tôi đã bị giam ngay tại nhà của mình, theo đúng nghĩa đen. Công an họ đã vây kín xung quanh nhà tôi, khu nhà tôi và cả phường của tôi. Riêng nhà tôi họ khóa cả cửa vào và nhốt tôi ở trong nhà. Và nếu so với lúc đó thì tâm trạng của tôi bây giờ có khi lại dễ chịu hơn rất là nhiều.

Ngay ngày mà tôi hết hạn tù, công an mật vụ Việt Nam áp tải tôi từ nhà tù số 5 ở Thanh Hóa về đến UBND phường Phương Mai, nơi tôi sống và bắt tôi ký vào một cái bản viết sẵn, nội dung là “giao trả phạm nhân cho địa phương quản lý” ( người hết hạn tù đấy ). Nó có 2 cái ý chính, ý thứ nhất là họ có quyền ra lệnh quản chế đối với tôi và điều thứ hai là tôi phải tuân thủ lệnh quản chế đấy của họ. Và tôi đã ký vào trong cái biên bản đó một câu ngắn gọn như sau: “Tôi không chấp nhận bản án mà tòa đã tuyên, trong đó có bổ sung lệnh quản chế.”, chấm hết và tôi ký tên vào đấy.

Sau khi ở phường, họ áp tải tôi về nhà. Khi tôi xuống xe thì tôi còn mệt tới mức độ tôi bị xỉu luôn, và công an họ xốc nách tôi đưa vào tận cửa nhà. Từ hôm ấy đến nay, họ vẫn canh gác tôi 24/24. Đặc biệt những ngày đầu thì vô cùng chặt chẽ, thậm chí canh gác ngay trong cầu thang luôn, tức là có vòng trong vòng ngoài.

Nhưng sau sự kiện họ bắt lại tôi vào ngày 19-3, vào lúc 1 giờ chiều hơn, tức là chưa đến 72 tiếng sau khi tôi hết hạn tù, việc canh giữ tôi đã thay đổi. Họ canh giữ một cách mà tôi gọi là “tế nhị”, tức là không đứng ngay bên cạnh tôi lúc tôi trả tiền ăn sáng – ví dụ như thế. Họ canh giữ tôi theo kiểu bớt đi cái áp lực khủng bố tinh thần tôi.

Từ phía tôi thì tôi vẫn cố gắng duy trì một cuộc sống bình thường trong mức độ mà tôi có thể, ví dụ như khi cần thiết phải đi đây đi đó, gặp gỡ người nọ người kia, hoặc là đi khám chữa bệnh, hoặc là đi lễ nhà thờ, vân vân, tôi vẫn đi như bình thường. Nhưng trong những chuyến đi đấy của tôi thì công an họ đều đi theo ngay bên cạnh. Còn về phía công an phường thì đã hai lần: một lần họ đến nhà tôi vào ngày 29-3, tôi không mời họ vào nhà, mà tôi mở cửa ra và tôi đi theo họ. Tôi đi ra hành lang và buộc họ cũng phải đi theo, thì họ đã cảnh cáo tôi một cách rất hằn học là tôi đã vi phạm lệnh quản chế này nọ kia. Họ yêu cầu tôi phải chấp hành cái điều đấy, thậm chí họ còn chửi tôi là “con người có học mà như vô học”. Nói chung gần đây tôi thấy họ rất hay xử dụng câu chửi rủa đấy.

Và ngày hôm qua, ngày 6-4, công an phường chặn tôi giữa đường, trên đường tôi ra chợ phiên. Ở Việt Nam, ở Hà Nội hay có những chợ phiên nho nhỏ. Tôi ra đấy để ăn sáng và mua vài thứ lặt vặt, thì họ chặn tôi ngay giữa đường. Họ đánh xe máy chặn ngay trước mặt tôi luôn, yêu cầu tôi quay về nhà, mặc dù nơi đó cách nhà tôi chưa đến 200 mét. Họ nói những câu rất là khó nghe, lại tiếp tục điệp khúc: “chị có học mà như vô học”, “chị có học thì chị phải tuân thủ quy định của pháp luật”, “chị phải chấp hành bản án”. Tôi không nói lại với họ điều gì hết. Sau khi họ nói những câu như vậy khoảng 10 phút, tôi vẫn kiên quyết là tôi đi thì họ vòng xe cản trước mặt tôi lần nữa và tôi đã la lên: “Chú thật là vớ vẩn!”. Tôi gọi ông ta là chú, ông ta lên là ông Sơn, công an ở phường nhà tôi. Và tôi tiếp tục đi thì ông ta trở nên khó khăn bởi vì ông ta đi xe máy còn tôi thì đi bộ, đâm ra ông ta không thể lẻo đẻo theo tôi mãi được. Sau một hồi rủa xả tôi là: “loại người đấu tranh dân chủ gì mà chẳng có nhận thức”, “có học mà như vô học”. Sau khi lải nhải như vậy thì ông ta đi mất.

Nhưng nói chung thì tôi không cảm thấy những việc này có gì là quá ảnh hưởng đến tinh thần của tôi trong việc tôi đấu tranh cho dân chủ cho Việt Nam, bởi vì lý tưởng của tôi không thể nào bị đánh đổi bởi những khó khăn nhỏ nhoi như vậy. Tôi đã hoàn toàn chuẩn bị tinh thần từ trước và đã được truyền đạt ý nguyện từ các thế hệ đi trước rất là nhiều.

RFI: Thưa chị Lê Thị Công Nhân, chị cũng là thành viên Khối 8406 và chính vì tham gia đấu tranh mà chị đã phải chịu án tù 3 năm và hiện nay đang tiếp tục thi hành án quản chế, vậy thì 4 năm nhìn lại chặng đường đã qua thì chị thấy rằng là Khối 8406 và nói chung là phong trào đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam đã có những thay đổi nào đáng kể ạ?

LS Lê Thị Công Nhân: Vâng. Khối 8406 là một điều đáng tự hào bởi vì rõ ràng trong lịch sử Việt Nam hiện đại sau năm 1975, Khối 8406 là một tổ chức mà theo tôi là công khai và đã đạt được kết quả rất đáng để khâm phục, trong thời gian rất là ngắn và trong hoàn cảnh đất nước thì ngày càng bị siết chặt bởi chính sách cai trị nhằm nắm giữ sự độc tôn độc quyền của Cộng sản Việt Nam.

Có thể là những hành vi đàn áp của họ khác đi một chút, đó là do thời thế, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của kinh tế, của toàn thế giới, chứ còn cái ý thức đàn áp của họ theo tôi thì ngày càng điên cuồng và quyết liệt. Khối 8406 đã ra đời trong hoàn cảnh như vậy và theo tôi là họ đã có những phương thức, những chính sách đúng đắn ngay từ đầu.

Sau khi Khối ra đời 3 tháng, tôi tình cờ được biết trên trang BBC tiếng Việt và tôi đã tham gia vào Khối. Sau đó thì tôi đã bị bắt đi tù và cho tới ngày hôm nay tôi trở về sau 3 năm. Kỷ niệm Khối 8406 4 năm thì trong đó hơn 3 năm tôi ở trong tù mất rồi ! Nhưng khi tôi về thì tôi thì tôi thực sự kinh ngạc bởi sự phát triển hết sức nhanh, vì chỉ có 4 năm thôi mà Khối đã tạo nên tiếng vang rất lớn về mặt danh tiếng cho phong trào đấu tranh dân chủ cho Việt Nam. So với những nước độc tài cộng sản khác như là Cuba, Bắc Hàn hay là Trung Quốc, thì dấu ấn của Khối 8406 theo tôi là một điều đáng tự hào.

Tôi ngạc nhiên nữa là không những về mặt danh tiếng, về mặt quốc tế, mà cái điều chúng ta cần nhất của phong trào đấu tranh cho dân chủ đó chính là quốc nội, đó chính là nhân dân chúng ta ở trong nước đang sống trong sự lầm than, nghèo khổ và mù mịt về thông tin, về kiến thức. Còn những người mà không quan tâm đến chính trị thì đang say sưa kiếm tiền, làm giàu, như là trong cơn lên đồng tập thể vậy. Mặc dù trong bối cảnh như thế, theo như nhận thức của tôi thì có rất là nhiều người Việt Nam đã bắt đầu biết đến Khối 8406 ở trong nước, và tôi nghĩ rằng đây là điều rất là đáng mừng và cho thấy cái nỗ lực tuyệt vời của một số cá nhân, tuy rất là ít ỏi so với cả dân tộc Việt Nam, hay là so với Đảng Cộng sản với 3 triệu đảng viên. Những người lãnh đạo Khối 8406 đã làm được một việc mà tôi cảm thấy như là không tưởng vậy. Trong vòng 4 năm ngắn ngủi với bao nhiêu sự đàn áp, mà cụ thể như trường hợp anh Đỗ Nam Hải, một người gần như bị giam lỏng hoàn toàn trong suốt những năm tháng vừa qua, thế mà Khối 8406 đã đưa được những chính sách và những cương lĩnh của mình đến với quần chúng nhân dân.

Và như tôi đã nói, những người sáng lập Khối 8406 đã có những chính sách, những đường hướng đúng đắn ngay từ đầu để dẫn dắt phong trào đấu tranh cho dân chủ - nhân quyền Việt Nam tiến về một cái hướng, mà tôi nghĩ rằng sẽ gặt hái được những thành công trong tương lai không phải quá xa. Nhưng mà về cá nhân tôi, tôi bất ngờ sau 3 năm đi tù về thấy kết quả như vậy.

Vâng, tôi cũng mong anh Thanh Phương cũng như quý vị hiểu cho hoàn cảnh của tôi khi mà nói lên cái hiểu biết của mình về Khối 8406 trong thời gian vừa qua, vì kỷ niệm 4 năm thì đã có 3 năm tôi ở trong tù mất rồi. Ở trong tù thì hoàn toàn không có thông tin gì về Khối 8406, ngoại trừ những lúc ôm hôn những người thân trong gia đình thì chỉ có bỏ nhỏ được vài câu, vài câu ngắn gọn vào tai thì tôi mới biết được một chút ít.

RFI: Vâng. Thưa chị Lê Thị Công Nhân, trong hoàn cảnh đó những người lãnh đạo Khối 8406 hoặc những thành viên nòng cốt của phong trào này thì họ cũng gặp khó khăn, như bản thân của chị thì cũng bị tù 3 năm, LM Nguyễn Văn Lý thì cũng bị xử án tù 8 năm và hiện nay được tạm thời thả ra để chữa bệnh nhưng vẫn sẽ tiếp tục phải thi hành bản án cho đến hết. Trong hoàn cảnh mà khi chúng ta xuất hiện công khai, hoặc là chúng ta có những hành động cụ thể, hoặc là có ý định muốn tập hợp lại thành một phong trào thì đều bị bắt bớ hoặc bị quản thúc, trong điều kiện đó chị có cảm thấy lạc quan cho tương lai của phong trào đấu tranh cho dân chủ hay không?

LS Lê Thị Công Nhân: Vâng. Cảm ơn câu hỏi của anh rất là hay. Nếu tôi không nhầm thì có một thông điệp rằng là lựa chọn con đường công khai bất bạo động thì theo tôi là có còn tiếp tục có hiệu quả hay không. Tôi hiểu thế có đúng không ạ?

RFI: Vâng.

LS Lê Thị Công Nhân: Vâng. Nếu nói riêng về cá nhân tôi thì giờ phút này tôi vẫn chưa nghĩ ra được cách thức nào hay hơn, một cái cương lĩnh đúng đắn hơn những điều mà Khối 8406 đã đưa ra. Còn riêng về kinh nghiệm bản thân tôi cũng như là tư tường của tôi đã xác định ngay từ đầu khi tham gia những hoạt động này, đó là khi anh đấu tranh thì phải chấp nhận hy sinh. Mà đã xác định hy sinh thì phải xác định hy sinh đến cùng. Còn hy sinh dang dở thì có lẽ cũng nên xem xét lại là có nên đấu tranh nữa hay không, bởi vì hy sinh dang dở thì sẽ mất rất nhiều, mà chẳng được bao nhiêu và thậm chí còn ngáng đường cho những người khác và giống như một sự phản bội vậy.

Đấu tranh trong bất kỳ một lãnh vực nào cũng vậy thôi chứ đừng nói là đấu tranh chính trị trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay. Là một người dân chủ, tôi tự hào và tự tin để nói với quý vị rằng, nếu như có ai đó có thể nghĩ ra, có thể có một sáng kiến nào khác về cách thức đấu tranh trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay để chống lại sự độc tài của Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi sẵn sàng nghe theo. Nhưng hiện giờ thì tôi thấy rằng con đường mà Khối 8406 đã lựa chọn, kiên định cho đến thời điểm này là hoàn toàn đúng đắn. Và sự hy sinh của những người tham gia trong phong trào, đặc biệt là những người lãnh đạo Khối 8406 và những thành viên nòng cốt. Riêng cá nhân tôi, một thành viên bình thường, tôi nghĩ rằng đó là sự hy sinh cần thiết. Chúng tôi đã xác định điều đó ngay từ đầu.

RFI: Vâng. Thưa chị, phong trào 8406 không chỉ phát triển mạnh trong nước mà nó cũng đã có sự ủng hộ của quốc tế, chủ yếu là từ các tổ chức bảo vệ nhân quyền và từ các nghị sĩ quốc hội của những nước Tây Phương, chẳng hạn như hôm qua thì bà Đại Sứ Canada có gọi điện thoại đến nói chuyện với LM Nguyễn Văn Lý để bày tỏ sự ủng hộ bà đối với LM Nguyễn Văn Lý, nhưng theo chị thấy thì cái áp lực của nước ngoài lên Việt Nam có thể mang lại hiệu qủa hay không trong bối cảnh mà đa số các nước đều muốn duy trì mối quan hệ tốt với Việt Nam để bảo vệ các quyền lợi kinh tế của mình?

LS Lê Thị Công Nhân: Câu chuyện đấu tranh dân chủ cho Việt Nam là câu chuyện của chúng ta, còn họ là những con người, là đồng loại của chúng ta về khía cạnh nhân loại trên toàn thế giới. Và đối với những cá nhân như chúng tôi, trong quá trình mà đang tiến đến một sự kiện lớn lao hơn là những cuộc xuống đường, hoặc những việc mà mình có thể gọi là dẫn đến việc thay đổi chính quyền này, tiếng nói của họ là góp phần vào sự an toàn cho chúng tôi, góp phần để đưa các thông tin về phong trào, về Khối 8406 quay trở lại với người dân trong quốc nội, vốn bị bưng bít thông tin hoàn toàn, mặc dù Việt Nam có gần 700 tờ báo.

Tôi vẫn khẳng định ngay từ đầu, những sự ủng hộ đó của các tổ chức nước ngoài, các chính phủ nước ngoài là vô cùng quý báu và tôi tin chắc rằng họ có đủ sự thông minh, có đủ bản lĩnh và tính nhân văn, cũng như sự trung thực, thẳng thắn, để có thể lựa chọn những hành động đúng đắn nhất đối với họ, cũng như mối quan hệ của họ đối với Việt Nam. Tôi tôn trọng những việc làm của họ bởi vì tôi luôn xác định phong trào đấu tranh này là của chúng ta, để giành lấy quyền cho chính chúng ta.

RFI: Chúng tôi xin cảm ơn LS Lê Thị Công Nhân đã trả lời phỏng vấn ngày hôm nay với RFI nhân dịp kỷ niệm 4 năm thành lập Khối 8406.

LS Lê Thị Công Nhân: Vâng. Cảm ơn anh. Xin cảm ơn quý vị.

XUNG ĐỘT 1979 LÀ TRÁCH NHIỆM CỦA AI? - ĐÃ CÓ NHỮNG HY SINH KHÔNG ĐƯỢC THỪA NHẬN


Ảnh từ trên xuống theo chiều kim đồng hồ: - Một toán lính thuộc đơn vị súng phun lửa của Tàu cộng - Một binh sĩ Việt cộng đang gác tù binh thuộc lực lượng đặc biệt của Tàu cộng - Một hàng tù binh Việt cộng - Lính Tàu cộng đang săn sóc thương binh tại mặt trận - Quân Tàu cộng đang tấn công vào thị xã Lạng Sơn. Ảnh: wikipedia
Nhấn vào hình để phóng lớn

XUNG ĐỘT 1979 LÀ TRÁCH NHIỆM CỦA AI?

Tiến sĩ Hoàng Kim Phúc
Đại học Oxford, Anh Quốc

Điều Trung Quốc không lường hết là cuộc chiến 79 giống như một nhát cuốc tàn bạo, lật thẳng "tấm ván thiên" chôn nỗi căm thù sâu thẳm và âm ỷ của các dân tộc Việt với kẻ xâm lược ngàn năm từ phương Bắc.

Năm tôi lên chín, Trung Quốc tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc.

Yếu tố chính trị trực tiếp nào đưa đến cuộc chiến năm 1979? Có phải là xu hướng "ly khai" của cộng đồng Hoa kiều phía Nam khi đòi giữ ngoại tịch và chối bỏ quốc tịch Việt Nam vào nửa cuối thập niên 70?

Hay là chính sách bài trừ tư bản mà cộng đồng Hoa kiều bị ảnh hưởng nhiều nhất? Hay đó là câu trả lời cho cuộc chiến của Việt Nam với Cambodia nhằm trừ khử Khme Đỏ, khi đó đang được Trung Quốc đỡ đầu?

Phải chăng Trung Quốc gây chiến để dằn mặt khi Việt Nam đang giao hảo chặt chẽ với Liên Xô và mở rộng ảnh hưởng tới Lào và Cambodia? Hay để Trung Quốc lấy điểm với Mỹ vì lúc đó chiến tranh lạnh vẫn đang căng thẳng?

Hay nó đơn thuần để giải quyết những xung đột nội bộ Trung Quốc để lại từ thời kì Tứ Nhân Bang ? Tất cả những khả năng trên các sử gia phương Tây cho tới nay vẫn chưa ai có số liệu thật đầy đủ và thuyết phục.

Vết thương khó lành

Nhưng cho dù với bất cứ lý do gì thì đây cũng là một cuộc chiến hết sức man rợ và vô nhân đạo, vì chưa đầy 30 ngày mà gần một trăm ngàn người (60-100 ngàn theo các số liệu khác nhau) của cả hai phía đã thương vong.

Chừng nào những ẩn số lịch sử về nguyên nhân cuộc chiến chưa được sáng tỏ trước cộng luận và lịch sử thế giới thì chừng đó nguy cơ để xảy ra những tranh chấp tương tự giữa Trung Quốc và các nước láng giềng còn có cơ hội tái diễn, đặc biệt khi nền chính trị tại quốc gia khổng lồ này còn dựa trên nền tảng độc tài toàn trị.

Mặc dù cuộc chiến đẫm máu chính thức diễn ra khá ngắn ngủi nhưng những đợt pháo kích dai dẳng dọc tuyến biên giới, kéo dài nhiều năm sau đó mới để lại những "vết thương" khó lành trong ký ức đương đại của dân chúng Việt Nam, đặc biệt là dân miền Bắc.

Làng tôi sống khi ấy gồm ba xóm, nay thuộc quận Ba Đình, vậy mà cũng có tới hai anh đi bộ đội bị pháo chết trên "chốt".

Từ "lên chốt" đã có lúc được nhiều thanh niên nhắc tới như "ác mộng". Dù mục tiêu chiến lược của việc tấn công Việt Nam vẫn còn nhiều uẩn khúc lịch sử nhưng về mặt nào đó Trung Quốc đã thành công trong việc gây nên một tâm lý lo lắng bất ổn, pha sự sợ hãi trong các thành phần dân chúng Việt Nam.

Tuy nhiên điều Trung Quốc không lường hết là cuộc chiến 79 giống như một nhát cuốc tàn bạo, lật thẳng "tấm ván thiên" chôn nỗi căm thù sâu thẳm và âm ỷ của các dân tộc Việt với kẻ xâm lược ngàn năm từ phương Bắc.


Các hướng tiến công của quân Tàu cộng trên toàn tuyến biên giới - Ảnh: wikipedia
Nhấn chuột vào hình để phóng lớn

Sự căm thù tưởng đã có lúc bị vùi lấp đi bởi "tấm tình đồng chí" môi hở răng lạnh, hay bởi những luận điệu tuyên truyền "Núi liền núi, sông liền sông" hữu hảo.

Xâm lăng 1979 đã đánh mạnh vào lòng tự hào của các dân tộc Việt, cái mà ở chừng mực nào đó đã giúp họ tồn tại anh dũng bên cạnh "đế quốc" Trung Hoa trong ngàn năm không bị đồng hóa, kể từ chiến thắng Bạch Đằng.

Mục đích Trung Quốc dạy cho Việt Nam một bài học bằng cuộc chiến 1979 có lẽ cũng man dại và phản tác dụng không khác gì việc trước đó quân đội Mỹ ném bom rải thảm nhằm đưa Hà Nội quay lại "thời kỳ đồ đá".

Về mặt lịch sử, chiến tranh 79 là một mũi tiêm chủng tái khởi động ý thức đề kháng mãnh liệt chống lại dã tâm tạo ảnh hưởng và "kiểm soát" của Trung Quốc với Việt Nam ở hiện tại và tương lai.

Với những ký ức và thông tin của riêng mình có được, tôi không hề nghĩ rằng cuộc chiến tranh 1979 chỉ dừng lại ở khẩu hiệu của Đặng là "dạy cho Việt Nam một bài học".

Cuộc chiến kéo dài

Cuộc chiến đã không thực sự kết thúc sau năm 1979. Hơn thế, nó là một tính toán lâu dài, thậm chí nó là một phần trong cả một chính sách lớn của Trung Quốc với Việt Nam mà hành động phát lộ đầu tiên là đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Mặc dù trước đó lính Trung Quốc đã lấn chiếm bằng cách di dời cột mốc biên giới khi giúp chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà làm đường.

Sự ngẫu nhiên của số phận và nghề nghiệp đã cho tôi thêm tư liệu và thông tin để nhìn nhận chi tiết mối quan hệ "vừa là đồng chí vừa là anh em" rất mai mỉa này.

Với quyết tâm tìm cho ra mối quan hệ của một số loài muỗi sốt rét chính ở Việt Nam và mối tương quan dẫn truyền của nó qua biên giới Việt-Trung, tôi đã đi hàng chục chuyến công tác tại dọc tuyến biên giới Việt Trung.


Dân binh Tàu cộng trong các đội tải thương. Ước tính có khoảng 4.000 lính Tàu cộng tử trận chỉ trong 2 ngày đầu của cuộc chiến. Ảnh: wikipedia
Nhấn chuột vào hình để phóng lớn

Ở nhiều nơi khi tôi đến, danh nghĩa là cuộc chiến đã qua 20 năm, ký ức về sự man rợ của cuộc chiến như vừa mới hôm qua. Lần đầu đến Hà Giang, ngồi cạnh bác lái già chạy xe Hà Giang-Vị Xuyên, ông kể. "Năm 79 nó sang, dân bên mình hoàn toàn bị bất ngờ, vì thế thiệt hại là vô kể.

''Nó rút đi đặt mìn giật sập bất cứ cái gì gọi là do tay con người tạo nên. Mìn nó còn gài lại vô số trong các khu dân cư, tỉnh lộ. Mà nào có yên, pháo nó còn "củng" sang đây liên tục tới năm 88-89.

''Thằng con tôi đi củi với hai thằng bé cùng lớp bị trúng mìn. Hai đứa chết, một đứa cụt hai chân, mù mắt". Phía Việt Nam đã hoàn toàn bị bất ngờ trong cuộc chiến 79.

''Khu vực "Hữu nghị Quan", dân các xã xung quanh kể lại là chiều hôm trước lính Tàu còn sang đá bóng với thanh niên địa phương và lính biên phòng Việt Nam. Tối hôm đó có chiếu bóng ngoài bãi, bọn lính Tàu còn sang chơi đầy, thế mà sáng hôm sau nó tấn công.''

Nhóm nghiên cứu của tôi đã "nằm" ở Cà Liểng, nơi có hẻm núi hẹp, độc đạo, mà xe tăng Trung Quốc đã vào Việt Nam ở ngả Cao Bằng. Một cô giáo bản, dân tộc Mèo "đen" sáng hôm đó chở ông bố xuống huyện khám bệnh.

Tự dưng thấy rất nhiều xe tăng với "bộ đội" ngồi trên ở phía sau tiến tới. Ông cụ giơ tay chào nhưng sau thấy xe tăng cứ tiến sát như muốn nghiến lên chiếc xe đạp, ông kêu ầm lên để các chú "bộ đội" nghe thấy.

Đột nhiên thằng ôn vật ngồi trên tháp pháo rút súng làm đánh đùng một cái vào đầu ông cụ.

Ông cụ lăn xuống chết tức khắc, cô con gái sợ quá quăng xe đạp lao vào rừng, chạy tắt xuống huyện đội. Lúc đó người ta mới ngã ngửa ra là Tàu đánh". Dân Thạch An, Cao Bằng mạnh ai nấy chạy, giạt hết lên núi.

Vào sâu trong rừng, người đồng bào sau đó tìm thấy những vạt rừng phủ kín quần áo, võng, bạt, vỏ đồ hộp và phân...của bọn lính sơn cước Tàu. Chúng đã ém quân từ khá lâu trước đó. Từ đỉnh núi đồng bào địa phương nhìn ngay xuống bản, thậm chí sân nhà mình. Nhiều người phải liều mạng lẻn về để lấy muối, lấy dao, quần áo...

Chiều đến họ thấy hàng chục thằng lính Tàu "vật nhau" với những chiếc xe đạp của dân bỏ lại.

Bọn lính này được tuyển mộ từ những vùng cực kỳ nghèo đói và lạc hậu của Hoa lục nên không biết ngay cả đi xe đạp.

Không ngạc nhiên rằng chúng hết sức tàn bạo và hung hãn. Đối với người dân tộc sống dọc các tỉnh biên giới phía Bắc, căn nhà và các vật dụng thiết thân như con dao, cái cối đá, ngọn đèn dầu là những vật vô cùng quý giá.

Nắm được tâm lý này, bọn lính Tàu được lệnh tàn phá mọi thứ dù là nhỏ nhất, trước khi rút đi.

Người dân các vùng từ Cao Bằng, Hà Giang, Lao Cai... đều kể cho tôi nghe những chi tiết khá tương tự rằng khi về lại nhà cũ, tất cả bị thiêu trụi. Những chiếc đèn dầu hỏa, vại dưa, chum nước, cối đá... đều bị đập vỡ, ngay cả những con dao bài giắt ở vách bếp cũng bị chặt vào nhau cho nát lưỡi dao, giếng nước bị sâp vì lựu đạn tống xuống.

Năm 1986, trong một chuyến thực tập hè ở Lương Sơn, Hòa Bình, tôi ở cùng những trung đoàn lính Việt nam đang tập đạn thật vì địa hình Lương Sơn tương tự Vị Xuyên, Hà Giang.

Sau một tháng họ sẽ đi Vị Xuyên. Những người lính trẻ âu lo vì những tin tức ác liệt từ Vị Xuyên và các điểm nóng khác vẫn truyền về trong suốt nhiều năm sau 1979.

Đầu năm 1988, Trung Quốc tấn công Trường Sa, 74 bộ đội Việt Nam đã bị thiệt mạng.

Năm 1995, theo anh bạn học làm kiểm dịch sinh vật, tôi lên cửa khẩu Chi Ma. Mặc dù hai nước lúc đó đã "bình thường hóa" và thông thương buôn bán nhưng những dãy đồi trùng điệp liền kề với cửa ải này vẫn dày đặc các trận địa mìn.

Xung đột lẻ tẻ trên đường biên vẫn liên tiếp xảy ra. Ban đêm, các cột mốc bị di dời vào đất Việt Nam như cơm bữa. Nhiều năm trở lại đây, trên biên giới bộ cột mốc vẫn bị di chuyển.

Trên biển, Trung Quốc nhiều lần dùng tàu chiến tấn công thuyền đánh cá và giết hại ngư dân Việt nam. Sự leo thang đã trắng trợn tới mức báo động khi Trung Quốc tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc huyện Tam Sa của Hải Nam cuối năm 2007, xua đuổi các công ty liên doanh thăm dò dầu khí ở vùng Nam Côn Sơn của Việt nam và vừa rồi quyết định đầu tư 29 tỷ đôla để khai thác dầu trong hải phận Việt Nam.

Tiền Việt Nam giả được in bằng những kỹ thuật tinh vi từ Trung Quốc, tràn ngập qua các ngả biên giới vào Việt Nam. In bạc giả là một loại tội phạm nghiêm trọng ở mọi quốc gia. Sản xuất tiền giả để tung vào quốc gia khác là vi phạm luật pháp và công ước quốc tế.

Chính quyền Trung Quốc hoàn toàn im lặng trước những hoạt động tội phạm quy mô lớn này. Rõ ràng sự tấn công Việt Nam bằng quân sự trên biển và đất liền, tấn công chính trị và ngoại giao, tấn công phá hoại kinh tế... kéo dài hàng chục năm sau cuộc chiến, qua nhiều đời Tổng bí thư của Trung Quốc ắt phải là mưu đồ làm cho nước láng giềng nhỏ bé phải "chảy máu" tới chết.

Người Mỹ từ lâu đã có trách nhiệm hỗ trợ rà gỡ bom mìn trong chiến tranh, sao tới nay người Trung Quốc vẫn tảng lờ những trận địa mìn nằm trên đất Việt?

Theo tính toán của Bộ Quốc Phòng Việt Nam, sẽ còn mất hàng chục năm nữa để giải phóng các trận địa mìn nằm trên đất Việt, dọc biên giới phía Bắc.

Những trái mìn Made in China đang nằm trên đất Việt chính là những bằng chứng hiển nhiên để mỗi người dân Việt nam có cơ hội để đánh giá sự thành thật, thiện chí theo phương châm "16 chữ vàng" từ phía nước láng giềng khổng lồ phía Bắc này.

********************************************************************


Hình đăng trên bài báo của Huy Đức trên tờ Sài Gòn Tiếp Thị (đã bị gỡ xuống - nhưng trước đó đã được copy lại và đăng lên đây). Nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên hoang vắng, quạnh quẽ - Photo by Lê Quang Nhật

ĐÃ CÓ NHỮNG HY SINH KHÔNG ĐƯỢC THỪA NHẬN

Thiện Giao, phóng viên RFA - 2009-02-17

Nếu có dịp hỏi những người Việt Nam đang sống trong nước, ngày 2-9 là ngày gì; ngày 30-4 là ngày gì? Chắc hẳn, nhiều người có thể trả lời được ngay những sự kiện đã xảy ra vào thời điểm ấy ở một năm nào đó trong lịch sử.

Và những thế hệ tiếp theo của Việt Nam, có thể sẽ còn có cơ hội nhớ nhiều hơn thế nữa. Chẳng hạn, theo tin tức từ báo chí trong nước, thì “chương trình giáo dục mầm non” được Bộ Giáo Dục đưa ra lấy ý kiến, và sẽ giảng dạy trong năm 2009 cho trẻ em từ 3 đến 6 tuổi, có yêu cầu là “trẻ em từ 4 đến 5 tuổi phải nhận ra hình ảnh Bác Hồ… thích và thuộc một số bài hát, bài thơ về Bác.”

Nhưng, sẽ có những ngày, những thời điểm trong lịch sử, mà các thế hệ đi sau phải tranh đấu, mới có thể, hoặc có quyền, được nhớ.

17 tháng Hai là một ngày như vậy!

TQ xua quân xâm chiếm VN

Vâng, 17 tháng Hai là một ngày như vậy.

Ngày này, tháng này, của năm này sẽ là thời điểm đánh dấu 30 năm một sự kiện xảy ra nơi vùng biên giới.

Hãy nghe nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo kể lại ngày ấy, “30 năm trước, lửa đã chảy và máu đã đổ…”

“…Nhớ thời Trung Quốc nổ súng tấn công 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước ta vào ngày 17 tháng Hai, 1979 người chết như rạ mà buồn.

Hồi đó, sau cái đêm đại họa láng giềng đó, tôi viết một bài thơ ca ngợi người lính của ta chiến đấu chống bành trướng nơi biên giới đưa ngay cho báo Văn Nghệ lên trang rồi cùng Chu Lai đeo ba lô và súng ngắn ra ga Hàng Cỏ lên Cao Bằng.

Chúng tôi đi ngược dòng người gồng gánh trẻ con chạy giặc. Hai bên đường đỏ loét hầm ếch khoét vào núi. Đói và rét. Cầu sông Bằng bị đánh sập.


Một trong những nơi mà quân Tàu cộng thảm sát thường dân Việt Nam - Ảnh của Lê Quang Nhật

Thị xã Cao Bằng chỉ còn đống đổ nát, các cột điện cao thế bị bộc phá đánh gục, xác người chết còn cuốn trong giây điện. Ruồi nhặng nhiều như trấu vì xác chết của người và súc vật. Hễ đưa máy ảnh lên là ruồi nhặng bu kín ống kính. Tôi phải dùng cành cây xua đưổi ruồi nhặng cho phóng viên nước ngoài quay phim...”

Nguyễn Trọng Tạo viết tiếp, rằng ông đã “đi và viết về những người dân, người lính anh hùng trụ lại chống trả bọn xâm lược để giữ vững biên cương Tổ Quốc.” Ông viết trên blog riêng của mình, rằng sau này bài thơ ông làm “vẫn còn đau đáu nỗi đau từ tháng Hai năm ấy.”

“Thời tôi sống thêm một lần súng nổ
Trái tim đau rỏ máu dọc biên thùy...”

Và đây, ký ức Nguyễn Trọng Tạo về tháng Hai năm ấy.

“Sau cái bắt tay xòe một lưỡi dao găm
Kẻ tình nguyện giữ nhà muốn chiếm nhà ta ở
Tấm ảnh Mao treo lẫn màu cờ đỏ
Tay ta treo đâu nghĩ có một lần
Như con chiên sùng đạo chợt bàng hoàng
Nhận ra chúa chỉ ghép bằng đất đá
Thời tôi sống thêm một lần súng nổ
Trái tim đau rỏ máu dọc biên thùy...”

Biên giới tháng Hai

Nguyễn Trọng Tạo đề cập đến bài thơ, nhắc đến cái ngày “đeo ba lô và súng ngắn ra ga Hàng Cỏ lên Cao Bằng” nhân dịp có một ai đó đã nhắc lại cái ngày 17 tháng Hai cách đây 30 năm.

Nhà báo Huy Đức đã nhắc đến ngày ấy, với tựa đề “Biên Giới Tháng Hai, 2009-1979.” Bài viết này đã được đăng trên tờ Sài Gòn Tiếp Thị, trên báo in cũng như trên trang mạng của tờ báo.

Những thông tin sau đó truyền đi trên thế giới ảo cho biết bài viết đã bị lấy xuống. Tờ Sài Gòn Tiếp Thị không cho biết lý do. Và người ta cũng không thấy có lý do gì để tờ báo tự lấy bài viết này xuống.

Tác giả Huy Đức mở đầu bài viết:

“Tháng Hai, những cây đào cổ thụ trước cổng đồn biên phòng Lũng Cú, Hà Giang, vẫn chưa có đủ hơi ấm để đâm hoa; những khúc quanh trên đèo Tài Hồ Sìn, Cao Bằng, vẫn mịt mù trong sương núi.

Sáng 7-2 nắng lạnh, vợ chồng ông Nguyễn Văn Quế, 82 tuổi, nhà ở khối Trần Quang Khải 1, thị xã Lạng Sơn, ngồi co ro kể lại cái chết 30 năm trước của con trai mình, anh Nguyễn Văn Đài. Năm ấy, Đài 22 tuổi. Ông Quế nói: “Để ghi nhớ ngày ấy, chúng tôi lấy Dương lịch, 17-2, làm đám giỗ cho con”.


Bản đồ trận chiến biên giới Việt Trung 1979 - Ảnh: wikipedia
Nhấn chuột vào hình để phóng lớn

Năm 1979, vào lúc 5giờ 25 phút sáng ngày 17-2, Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, đánh chiếm từ Phong Thổ, Lai Châu, tới địa đầu Móng Cái.”

Tác giả kể tiếp, rằng từ ngày 17 tháng Hai đến 5 tháng Ba, năm 1979, cuộc chiến 16 ngày đã để lại một Lào Cai, một Sapa, một Đồng Đăng, một Lạng Sơn… bị phá tan hoang, và rằng:

“Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện.

Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai.

Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.”

Hy sinh trong ngậm ngùi!

Trong một bài viết khác, được đăng tải trên rất nhiều trang mạng, trang blog trong và ngoài nước, tác giả Hoàng Kim Phúc, đang theo học chương trình hậu tiến sĩ tại đại học Oxford, viết rằng năm anh lên chín, “Trung Quốc tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc.”

Một cuộc chiến kéo dài chưa đầy 30 ngày “mà gần một trăm ngàn người của cả hai phía đã thương vong.”

Tác giả kể tiếp:

“Mặc dù cuộc chiến đẫm máu chính thức diễn ra khá ngắn ngủi nhưng những đợt pháo kích dai dẳng dọc tuyến biên giới, kéo dài nhiều năm sau đó mới để lại những “vết thương” khó lành trong kí ức đương đại của dân chúng Việt Nam, đặc biệt là dân miền Bắc.

Làng tôi sống khi ấy gồm ba xóm, nay thuộc quận Ba Đình, vậy mà cũng có tới hai anh đi bộ đội bị pháo chết trên “chốt”.

Từ “lên chốt” đã có lúc được nhiều thanh niên nhắc tới như “ác mộng”. Dù mục tiêu chiến lược của việc tấn công Việt Nam vẫn còn nhiều uẩn khúc lịch sử nhưng về mặt nào đó Trung Quốc đã thành công trong việc gây nên một tâm lý lo lắng bất ổn, pha sự sợ hãi trong các thành phần dân chúng Việt Nam.”

Trở lại với tác giả Huy Đức. Vào thời điểm truy cập vào blog của tác giả này, chúng tôi lại thấy một bài viết khác, có vẻ như là bài tiếp theo của “Biên Giới Tháng Hai, 2009-1979” đã bị “đục bỏ” trên trang web của báo Sài Gòn Tiếp Thị.

Trong bài thứ hai này, tác giả ghi thêm bên dưới: “bài này chưa đăng báo giấy.” Có nghĩa là sao? Chỉ suy đoán thôi, bài viết thứ hai này, với tựa đề “Cuộc Chiến 1979 và Hoàng Sa” rất có thể sẽ không được đăng trên báo giấy!

Dù sao, blog cũng là một nơi chuyển tải thông tin!

Chắc hẳn tác giả Huy Đức có những ngụ ý khi cho gắn cuộc chiến 1979 vào với địa danh Hoàng Sa. Quả vậy, tác giả viết ở đoạn cuối bài trên blog của anh:

“Tôi công bố bài viết này không chỉ vì sắp đến ngày 17-2 mà còn vì, muốn lưu ý, “người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán,” không nên đặt cuộc chiến tranh 17-2 ra ngoài âm mưu Biển Đông. Bản Giốc, Tục Lãm… giờ đã xong; nhưng, Hoàng Sa, Trường Sa thì vẫn đó.”

Nếu có dịp hỏi những người Việt Nam đang sống trong nước, ngày 2 tháng Chín là ngày gì; ngày 30 tháng Tư là ngày gì? Chắc hẳn, nhiều người có thể trả lời được ngay những sự kiện đã xảy ra vào thời điểm ấy ở một năm nào đó trong lịch sử.

Nhưng sẽ có những ngày, những thời điểm trong lịch sử, mà các thế hệ đi sau phải tranh đấu, mới có thể, hoặc có quyền được nhớ.

17 tháng Hai là một ngày như vậy!

“Chỉ có một điều ngậm ngùi,” một nhà báo Việt Nam nói với chúng tôi. “Đó là, 30 năm trước, một thế hệ thanh niên Việt Nam lao về biên giới để bảo vệ lãnh thổ. Bây giờ, 30 năm sau, họ không được nhắc tới; và những người khác cũng không được quyền nhắc đến họ, như thể họ chưa hề tồn tại.”

“Có cái gì như một sự phản bội!”

-----------------

Trên đây là những ghi nhận từ các blog cá nhân liên quan đến cuộc chiến biên giới Việt – Trung năm 1979.