Archives for: April 2008
THÔNG BÁO THU NHẬN HỘI VIÊN CỦA NHÓM ÁI HỮU NINH THUẬN

Nhóm ÁI HỮU NINH THUẬN gồm quý thân hữu và đồng hương Ninh Thuận trên toàn thế giới liên kết với nhau, tạo thành chiếc cầu thân hữu nối kết giữa hải ngoại và quê nhà, bảo tồn và duy trì văn hóa địa phương và đóng góp vào công cuộc xây dựng một tổ quốc Việt Nam tự do, dân chủ và phú cường.
Quý vị và các bạn tuy chưa từng sống hoặc làm việc tại Ninh Thuận nhưng muốn gia nhập nhóm, chúng tôi nồng nhiệt chào đón quý vị và các bạn vào gia đình ÁI HỮU NINH THUẬN.
Kính mời quý vị và các bạn ghi danh làm hội viên của nhóm ÁI HỮU NINH THUẬN để cùng tham gia hoạt động, trao đổi thông tin và thảo luận trên DIỄN ÐÀN ÁI HỮU NINH THUẬN.
Trân trọng kính mời,
NỘI QUY:
Nhóm ÁI HỮU NINH THUẬN là một nhóm hoàn toàn bất vụ lợi, và là một tập thể phi chính phủ.
Không phân biệt tuổi tác hoặc thành phần xã hội.
Không phân biệt tôn giáo hoặc xu hướng chính trị.
Không tham gia các hoạt động mang tính khủng bố hoặc bôi lọ cá nhân.
Không lợi dụng diễn đàn làm nơi đấu đá tranh chấp hoặc mưu lợi riêng tư.
Không lợi dụng danh nghĩa của nhóm hoặc của Diễn Ðàn Ái Hữu Ninh Thuận để làm những việc phạm pháp.
Không kêu gọi đóng góp tiền bạc, chỉ kêu gọi đóng góp thiện chí và nhiệt tình.
Các hội viên toàn quyền quyết định gia nhập hoặc rời bỏ nhóm.
Thông báo cho người điều hành nhóm 20 ngày trước khi ly khai hoặc rời bỏ khỏi nhóm.
Người phụ trách điều hành nhóm cùng với các cố vấn có toàn quyền đi đến quyết định trong mọi khía cạnh liên quan đến nhóm bao gồm quyết định thu nhận hoặc khai trừ hội viên.
ÁI HỮU NINH THUẬN
Xin quý vị và các bạn click vào dưới đây để ghi danh gia nhập nhóm. Nếu quý vị và các bạn muốn gia nhập nhóm thì ở phần chọn tên login (tức là user name) xin khởi đầu bằng chữ AHNT( tức là chữ tắt của Ái Hữu Ninh Thuận )rồi nối liền vào với tên mà quý vị và các bạn muốn chọn, lấy ví dụ như AHNTphuongthao, AHNTcongly .v.v... Điều này sẽ phân biệt ai muốn gia nhập nhóm với những ai chỉ muốn vào diễn đàn để đóng góp ý kiến mà thôi. Cũng xin lưu ý là quý vị và các bạn phải cung cấp địa chỉ email chính xác để chúng tôi liên lạc được với quý vị và các bạn hầu thu thập thêm các chi tiết cần thiết khác.
CLICK VÀO ĐÂY ĐỂ GHI DANH GIA NHẬP NHÓM
Xin chân thành cảm ơn quý vị và các bạn, kính chúc quý vị nhiều may mắn.
Thay mặt nhóm AHNT
Peter Le
04/28/08. 07:36:21 am. 787 words, 642 views. Categories: Không ðề, Thông báo (A), Thông báo (A), Liên kết blogs ,
VÒNG VÒNG ÐUỔI BẮT, NHỮNG DÒNG CODE THÚ VỊ

Những dòng code thú vị
Chúa nhật này tặng quý vị và các bạn vài dòng code để đùa với mấy cái website, đặc biệt các website có nhiều hình ảnh sẽ vui nhộn hơn nhiều:
Quý vị và các bạn thử copy dòng code dưới đây rồi paste vào chỗ "internet address bar" ( Nơi quý vị thường đánh vào địa chỉ http://www......... để đến các website ):
Sau khi paste vào rồi thì bấm "Enter" trên bàn phím ( Keyboard ), để xem tất cả các hình ảnh bị lấy đi và chơi trò chạy vòng vòng! Rồi quý vị thử paste nó vào http://vietnetlinks.com xem thử nó có chạy được không? Nhờ những dòng code nói trên quý vị sẽ phát hiện được tất cả những hình ảnh trên một trang web, chẳng sót cái nào cả. Tuy nhiên có một số trang web mà các dòng code này sẽ không có tác dụng. Bạn có đoán được lý do tại sao không? Nếu đoán được xin vui lòng click vào "leave a comment" bên dưới bài này để cho ý kiến, nếu cần tôi trả lời cũng xin cho biết.
Khi nào chơi chán thì chỉ việc bấm vào "Esc" (Escape) trên bàn phím rồi bấm "Enter" để trở lại tình trạng cũ! Nếu không được thì bấm mũi tên ngược ( back ), nó sẽ ngưng trò chơi và trở về trang trước đó.
Xin lưu ý: trò chơi này chỉ hoạt động hoàn hảo trên Internet Explorer, còn trên Mozilla FireFox nó chỉ làm xê dịch vị trí của tất cả các hình mà thôi, khi muốn trở về lại tình trạng cũ phải bấm mũi tên ngược (back).
Chúc quý vị cuối tuần vui vẻ với trò nghịch mới.
Lê Tự Do sưu tầm
Đặt mouse vào bảng dưới đây, bấm nhẹ mouse phải để highlight rồi copy mấy dòng code sau đây:
04/27/08. 05:24:57 am. 485 words, 246 views. Categories: Khoa học kỹ thuật, Liên kết blogs, Thế giới ðiện toán ,
TRÊN THẾ GIỚI CÓ BAO NHIÊU LOẠI LỊCH

Một dạng mỹ thuật của lịch Mayas
Có bao nhiêu loại lịch
Source: ueh.edu.vn
Lịch là một sản phẩm từ ngàn xưa có mặt cùng với nền văn minh của các dân tộc. Công dụng chính của lịch dùng xác định ngày tháng, lễ hội của dân tộc, của tôn giáo và các ngày kỷ niệm của cá nhân v.v… Chúng ta hãy thử tìm hiểu có bao nhiêu loại lịch đã xuất hiện cùng với sự tồn tại của con người, từ những cách tính lịch từ buổi sơ khai cho đến lịch chính xác từng giờ của ngày hôm nay. Lịch thường dựa trên chu kỳ của mặt trời, mặt trăng, kết hợp cả hai hay tính toán theo toán học.
Bảng số của người Mayas
Lịch tính theo trăng
Các ngày của lịch này dựa vào một chu kỳ của mặt trăng. Tuy nhiên ngày không phải lúc nào cũng chia đều cho các chu kỳ vì vậy chúng nhanh chóng sai lệch đi với mùa vụ và vài năm lại có một tháng nhuần. Lịch này tính chính xác các thông số về thủy triều. Theo các nhà thiên văn thì lịch này xuất hiện lâu nhất trên thế giới, cách đây 32.000 năm trước Công nguyên, từ thời đại Cro-Magnon (45.000-10.000 trước Công nguyên). Lịch này được một số nước theo đạo Hồi, Trung Quốc hay âm lịch mà nước ta xử dụng. Lịch Trung Quốc (âm lịch) do hoàng đế Huang Ti ( Hoàng Đế ) đưa ra năm 2600 trước công nguyên. Cứ 60 năm là hoàn tất một chu kỳ, từng năm được ứng vào can và chi. 10 can gồm có Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý và 12 chi như Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Ví dụ như năm 1945 là năm Ất Dậu và năm 2005 cũng là năm Ất Dậu. Những ngày đầu năm của năm Âm lịch (Tết âm lịch) sẽ trùng với ngày dương lịch như : 1.2.2003, 22.1.2004, 9.2.2005, 29.1.2006, 18.2.2007...

Lịch của người Mayas dựa vào cách tính chu kỳ của sao Venus cực kỳ chính xác của họ. Sao Venus tức là sao Kim, là ngôi sao sáng nhất trên bầu trời mà đầu đêm ta gọi là sao Hôm và về sáng ta gọi là sao Mai (chẳng qua chỉ là một con sao duy nhất mà có đến 2 tên gọi mới lạ! ).
Lịch Tính Ngày Dài của người Mayas (Mayan Long Count calendar) khởi đầu từ ngày 11 tháng 8 năm 3114 Trước Công Nguyên (B.C.E.) và kết thúc vào ngày 21 tháng 12 năm 2012 ( rơi đúng vào ngày Đông chí ) thì không còn tính nữa; tức là tất cả chỉ có khoảng 5125 năm mặt trời ( tức là năm dương lịch ) được ghi trên lịch. Một số nhà nghiên cứu cho rằng đây có thể là ngày tận thế, hoặc là ngày có biến chuyển lớn trong vũ trụ; một số khác cho rằng đó là ngày khởi đầu một thời đại hoàng kim mới của nhân loại với những thay đổi lớn về mặt siêu nhiên và tâm linh. Hãy chờ xem! Nhân đây cũng mời quý vị và các bạn xem các lời tiên tri của bà Vanga, được xem như một trong những thánh sống của thời đại.- LTD ghi chú.
Lịch tính theo mặt trời
Lịch tính theo sự chuyển động của mặt trời như lịch của người Ba Tư trước đây xử dụng. Lịch tính dựa vào ngày mặt trời, một ngày được định nghĩa là từ lúc mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn, với thời gian ban đêm theo sau đó, hoặc tính thời gian từ lúc mặt trời lặn ngày hôm nay đến mặt trời lặn ngày hôm sau. Dĩ nhiên nếu tính như vậy thì ngày cũng có chút đỉnh khác biệt tùy theo mùa do vậy sau này dùng cách tính trung bình cho một ngày của lịch mặt trời. Có 2 loại lịch mặt trời thông dụng.
Lịch Julian và Gregorian
Dưới triều đại La Mã lịch Julian được xử dụng, số ngày trong tháng lại dài hơn chu kỳ tháng theo mặt trăng. Tuy vậy xử dụng lịch này cho mùa vụ rất thuận tiện và nó hơi bất tiện trong quá trình theo dõi chu kỳ của mặt trăng. Mỗi năm có 365, 25 ngày (365 và ¼ ngày) do vậy năm thứ 4 có 366 ngày gọi là năm nhuận.
Nhưng một năm tính tại vị trí ở xích đạo (hay còn gọi dương lịch) thì ít hơn 365 ngày và ¼ một chút (chính xác 365,242 ngày) chính vì vậy mà lịch Gregorian sau này được xử dụng rộng rãi ở phương Tây mà ta thường gọi là dương lịch. Lịch này bắt đầu xử dụng năm 1582 có ưu thế vượt trội ở các đô thị. Nga bắt đầu xử dụng sau cuộc cách mạng năm 1917. Do vậy lịch sử Nga thường ghi hai từ O.S. (old style) và N.S. (new style) thay cho hai loại lịch Julian và Gregorian để tránh nhầm lẫn.
Các loại lịch khác
Lịch tính theo sự chuyển động của mặt trăng và mặt trời như lịch của Do thái. Mặc dù lịch Hebrew được chính phủ Israel xem là lịch chính của công sở, tuy vậy họ vẫn xử dụng kèm lịch Gregorian (dương lịch) .
Lịch tính theo toán học lại không phụ thuộc vào sự chuyển động của mặt trăng và mặt trời, cách tính tuần và ngày như của lịch Julian loại lịch này được các nhà thiên văn học xử dụng.
Ngoài ra còn có một số lịch dựa vào sự chuyển động của sao Kim như những loại lịch cổ của người Ả Rập. Lịch này xuất hiện đồng lúc với những nền văn minh các vùng gần xích đạo.
Lịch cải tiến
Có nhiều đề xuất cải tiến lịch, như “lịch thế giới” (World calendar) và “lịch quốc tế cố định” (International Fixed Calendar). Trong thập niên 1950 Liên Hiệp Quốc cũng đã đề xuất một ý định làm loại lịch như trên nhưng không được mọi người hưởng ứng. Bởi vì phần lớn lịch ảnh hưởng đến những ngày lễ, hội hay những ngày thuộc về tôn giáo của các dân tộc xử dụng.
Lịch tài chính
Lịch tài chính thường gọi lịch 5/4/4 cố định từng tháng đặc biệt là số tuần giúp dễ dàng so sánh từng tháng với các năm. Tháng giêng luôn luôn có 5 tuần, tháng 2 có 4 tuần và tháng 3 có 4 tuần. Mỗi tuần bắt đầu từ chủ nhật đến thứ bảy. Lịch này cứ 5 hoặc 6 năm lại có một tuần thứ 53, tuần thứ 53 này được đưa vào tháng 12. Ngoài ra cũng có một loại lịch giống như lịch này nhưng cách tính ngày lại bắt đầu tuần lễ từ thứ 2 đến chủ nhật có tên gọi là lịch tuần ISO (ISO week). Lịch tuần ISO với tuần đầu tiên ngày thứ hai luôn luôn là ngày 4 tháng giêng dương lịch.
Lịch hiện đang xử dụng:
Lịch 53 tuần, lịch Bahai, lịch Trung Quốc, lịch Discordian, lịch Ethiopian, lịch tài chính (Fiscal year), lịch Gregorian (dương lịch), lịch Do Thái (Hebrew calendar), lịch Hindu (lịch của Ấn giáo) lịch Iran (Iranian calendar), lịch Irish, lịch Islamic (lịch đạo Hồi), lịch ISO (ISO Week-Date calendar), lịch Julian, lịch Nhật Bản, lịch Malayalam ( xử dụng ở miền nam Ấn Độ ), lịch Metonic, lịch tính theo mặt trời Thái (Thai solar calendar), lịch Bái hỏa giáo ( lịch Zoroastrian bao gồm cả Ba Tư )
Một trong hai ngày xưa nhất trong lịch của người Mayas được tạc trên đá trong khu khảo cổ Olmec, đó là số 7.16.6.16.18 chuyển sang lịch Gregorian là ngày August 11, 3114 BCE.
Lịch cổ
Lịch Aztec, lịch cổ Babylonian, lịch cổ Ai Cập, lịch Cách mạng Pháp, lịch cổ của người Đức, lịch Hy Lạp cổ (Hellenic calendar), lịch Maya, lịch Positivist, lịch cổ La Mã, lịch Runic, lịch cách mạng Soviet, lịch tính theo trăng của Thái (Thai lunar calendar).
Lịch vũ trụ
Lịch Darian xử dụng để tính ngày trên sao Hỏa, 4 vệ tinh Galilean sao Mộc và vệ tinh Titan.
Lịch giả tưởng
Lịch này chỉ có trong văn chương hay phim ảnh như: lịch Discworld, lịch Middle-earth, lịch Stardates (phim Star Trek).
Ngô Được
04/27/08. 03:16:06 am. 2158 words, 225 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Thiên văn và vũ trụ, Khảo cổ và nhân chủng, Chiêm tinh lý số, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn ,
10 BLOG MIỄN PHÍ HÀNG ĐẦU

Wordpress (http://wordpress.com/)
Top 10 dịch vụ blog thông dụng nhất
Source: TPO
Có hai yếu tố rất quan trọng trước khi bạn chọn cho mình một dịch vụ blog trong vô số các dịch vụ miễn phí hiện nay. Đó là, đối tượng đọc blog là ai và nội dung định cung cấp là gì.
Dựa trên hai tiêu chí này mà bạn có thể phân loại và chọn lựa một dịch vụ blog phù hợp nhất.
Xuất hiện từ cuối thập niên 90, đến nay blog đang trở thành một trào lưu của giới trẻ nói chung. Nhờ có blog mà việc chia xẻ kiến thức, kinh nghiệm và quan điểm cá nhân được mở rộng.
Blog cho phép mỗi cá nhân có thể tự do sáng tạo trên “mảnh đất” riêng của mình, và việc blog của bạn có được nhiều người biết đến hay không hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng sáng tạo và chất lượng thông tin mà bạn cung cấp.
Dưới đây là các dịch vụ blog miễn phí thông dụng nhất hiện nay. Bạn có thể tự tìm cho mình một dịch vụ phù hợp dựa trên những thông tin về chúng.
1. Blogger (http://www.blogger.com)
Có lẽ “cây đa cây đề” đầu tiên trong “làng blog” phải kể đến là Blogger. Nền tảng blog này chính là nhân tố giúp cho khái niệm blog trở nên thông dụng như hiện nay.
Blogger là sản phẩm của Google, hoàn toàn miễn phí và vận hành cũng rất dễ dàng. Người dùng có thể dễ dàng chỉnh sửa HTML, thay đổi các theme tùy ý, bổ sung nhiều tiện ích nhỏ (widget) và thoải mái sáng tạo trên blog của mình. Blogger được đánh giá là đơn giản, nhẹ và nhiều tính năng phụ.
2. Wordpress (http://wordpress.com/)
Wordpress (WP) có cộng đồng người xử dụng đông nhất thế giới hiện nay, vì vậy bất cứ cái gì bạn cần về WP đều có thể dễ dàng được tìm thấy hoặc được hỗ trợ.
Với WP, bạn hầu như không gặp một rắc rối lớn nào bởi tài liệu hướng dẫn của nó rất phong phú và đa dạng. WP vận hành khá nhẹ nhàng và thuận tiện cho người dùng. Mã nguồn của WP mở nên bất cứ ai cũng tự mình viết nên các plug-in hay những công cụ riêng theo ý thích.

3. Yahoo 360 (http://360.yahoo.com)
Từng rất thông dụng tại Việt Nam nhưng hiện nay nền tảng blog này gần như bị “bỏ hoang” bởi nhà phát triển Yahoo không còn quan tâm tới nó nữa.
Yahoo 360 được giới blogger Việt đánh giá khá tốt bởi sự tiện lợi, cập nhật, và dễ xử dụng. Yahoo 360 hướng chủ yếu tới các đối tượng viết blog không chuyên, còn đối với các blogger chuyên nghiệp thì nền tảng này không phải là lựa chọn hàng đầu.
4. Yahoo Mash (http://blog.mash.yahoo.com/)
Hiện Mash vẫn trong giai đoạn thử nghiệm (beta) và việc đăng ký xử dụng vẫn theo dạng thư mời (invite).
Thời kỳ đầu ra mắt, Mash cũng được cộng đồng blogger Việt đón nhận, chủ yếu là tò mò và háo hức về một “ngôi nhà mới” của Yahoo trong lúc Yahoo 360 đang chập chờn.
Vì là thử nghiệm nên sự chuẩn của bị Mash vẫn chưa thực sự được tốt, và nền tảng này nghiêng về mạng xã hội nhiều hơn, chứ không chuyên về viết blog như Yahoo 360.
5. Yahoo 360 Plus
Dịch vụ này vừa được đại diện Yahoo giới thiệu tới cộng đồng blogger Việt hồi giữa tháng 4/2008. Yahoo! 360 Plus sẽ đi vào hoạt động trong thời gian ngắn sắp tới, và hoàn toàn chỉ dành cho người Việt Nam. Blog có giao diện mới bằng tiếng Việt, và được cho là Việt hóa từ blog của Yahoo tại Hồng Kông.
Yahoo! 360 Plus có một số tính năng mới, chẳng hạn như cho phép upload trực tiếp album ảnh vào entry, xử dụng các biểu tượng cảm xúc, đồng nhất trong việc xử dụng font chữ (chỉ dùng Unicode - Uni F8). Trong khi đó, các tính năng cơ bản còn lại vẫn giống như Yahoo 360.
6. Opera (http://my.opera.com)
Opera có khả năng tùy biến rất cao nhằm mang lại cho người dùng khả năng làm chủ blog của mình. Không gian lưu trữ lớn ( 300MB ), hỗ trợ nhiều định dạng file, vận hành nhẹ, tốc độ tải nhanh - đó là những điểm thuyết phục của Opera.
Tuy nhiên, việc xử dụng Opera đòi hỏi người dùng phải có kiến thức về Web, đặc biệt là CSS.
7. MSN Spaces (http://home.services.spaces.live.com/)
MSN Spaces tuy có nhiều tính năng nhưng lại không hỗ trợ tốt cho việc viết blog, thay vào đó nó nghiêng về mặt giao tiếp cộng đồng và cá nhân hóa nhiều hơn.
MSN Spaces được tích hợp sẵn nhiều dịch vụ của Microsoft, chẳng hạn như MSN Messenger, MyMSN, và cả thư viện ảnh. Tuy nhiên, nền tảng blog này chạy khá nặng và không được giới blogger đánh giá cao.
8. Drupal (http://drupal.org/)
Nền tảng blog này có rất nhiều theme và plug-in được thiết kế cực mạnh. Chính vì thế cộng đồng xử dụng Drupal rất đông và chuyên nghiệp.
Ngoài mục đích viết blog, Drupal còn có nhiều module hữu ích cho website, thương mại điện tử, thư viện ảnh, và cả quản lý mailing list. Tuy nhiên, nếu bạn là “lính mới” thì không nên dùng Drupal vì nó có mức độ khá phức tạp.
9. Blog City (http://www.blog-city.com/)
Đơn giản và dễ xử dụng - đó là 2 điểm mạnh nhất của Blog City. Chính vì đơn giản mà Blog City không có nhiều tính năng, không có thư viện ảnh lẫn theme bắt mắt.
Đổi lại, nền tảng blog này lại rất thân thiện với người dùng. Tuy nhiên, cũng có vài điểm mà bạn chắc chắn sẽ không thích về Blog City, đó là bị áp đặt quảng cáo và blog chạy chậm.
10. Live Journal (http://www.livejournal.com/)
Đây là một trong những nền tảng blog thông dụng của Six Apart, một công ty chuyên về phát triển nền tảng blog. Live Journal hoàn toàn miễn phí và có rất nhiều người xử dụng (gần 100 triệu tài khoản đăng ký).
Có thể bạn không tin nhưng mỗi giờ trên Live Journal có khoảng hơn 18 nghìn bài viết mới được thực hiện.
Gia Nguyễn
04/26/08. 02:23:15 pm. 1620 words, 163 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Trên liên mạng, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs ,
ĐỂ THIỀN ĐỊNH TIẾN BỘ NHANH HƠN
Để thiền định tiến bộ nhanh hơn
Source: Câu lạc bộ Yoga, Đông tác
Sau nhiều năm hoạt động hướng ngoại, thật không dễ cho bạn đột nhiên bỏ qua thế giới bên ngoài và tập trung hoàn toàn vào thế giới bên trong. Do vậy đừng nản chí nếu như bạn không tập trung được ngay, thậm chí còn có nhiều suy nghĩ hơn trước kia!
Tránh bị quấy rầy
Hãy ngắt chuông điện thoại. Hãy để bạn bè và gia đình bạn biết rằng đây là quãng thời gian mà bạn không muốn bị quấy rầy. Hãy đóng cửa và để thế giới thường nhật ở bên ngoài. Cuối cùng gia đình bạn sẽ tôn trọng mong muốn của bạn được yên tĩnh và một mình trong khoảng thời gian này.
Tập hai lần một ngày
Để có thể đạt trạng thái ý thức cao hơn, điều quan trọng là bạn cần xây dựng thói quen thiền định thường xuyên hàng ngày. Thậm chí ngay khi bạn thiếu thời gian, hãy thiền tối thiểu vài ba phút, hai lần một ngày không thay đổi.
Tập đúng giờ trong ngày
Hãy thiền định thường xuyên hàng ngày vào cùng một thời gian, nhờ vậy đến giờ thiền, tâm trí bạn sẽ tự nhiên hướng tới việc thiền. Thời gian tốt nhất cho thiền định là vào lúc mặt trời mọc và mặt trời lặn (trước khi ăn sáng và ăn tối). Thời gian vào khoảng nửa đêm, trong sự yên tĩnh của buổi tối cũng rất tốt cho thiền định, trước khi bạn đi ngủ.
Thiền định khi bụng rỗng
Sau khi ăn, năng lượng của cơ thể tập trung vào các cơ quan tiêu hoá, tâm trí trở nên trì trệ và khó tập trung hơn. Do vậy luôn tập thiền khi bụng đói. Một cách tốt nhất để duy trì việc tập thiền thường xuyên đó là tuân thủ qui tắc “chưa thiền, chưa ăn”. Chỉ ăn sáng và ăn tối sau khi thiền định.
Thiền định nơi đẹp đẽ

Dù phòng của bạn chật, hãy dành một góc cho việc thiền. Giữ nó sạch sẽ và tươi mát (có thể bằng cây cảnh, các tranh ảnh tạo cảm hứng, thảm hoặc đệm để thiền...). Cố gắng thiền định ở đó thường xuyên, bạn sẽ nhanh chóng thấy rằng chính không khí (“sóng rung”) của nơi đó giúp bạn trong thiền định.
Giữ cột sống lưng thẳng
Trong khi thiền sâu có một luồng năng lượng mạnh mẽ chạy dọc cột sống lên não. Nếu ngồi cong hoặc gập người sẽ ngăn cản luồng năng lượng này, cản trở hơi thở và giảm sự tập trung của tâm trí. Do đó điều quan trọng là bạn phải ngồi càng thẳng càng tốt. Ngồi trên mặt cứng như sàn nhà, chứ không phải trên giường đệm. Đặt một cái đệm nhỏ dưới mông có thể giúp bạn ngồi thẳng lúc ban đầu; nhưng cách tốt nhất là tập asana. Các bài tập co giãn, vặn mình của asana giúp cho cột sống khoẻ và linh hoạt, nhờ vậy bạn có thể ngồi thẳng người một cách thoải mái.
Thiền tập thể thường xuyên
Vài tuần đầu tiên khi tập thiền là quãng thời gian khó nhất, khi tâm trí vẫn hướng ngoại do thói quen, người tập thiền cảm thấy khó kiểm soát tâm trí bất an và hướng nó vào bên trong. Do vậy, các thiền sư của mọi thời đại đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết giao với những người tập thiền khác, đặc biệt là tham gia thiền tập thể, nơi mà năng lượng tâm trí tập thể sẽ giúp cá nhân nâng cao tâm trí của bản thân. Thiền tập thể ít nhất một tuần một lần là thiết yếu với những ai thực sự muốn tiến bộ nhanh.
Đọc những sách tinh thần
Để giữ tâm trí được nâng cao trước những ảnh hưởng thường là tiêu cực của thế giới vật chất xung quanh, điều cần thiết là hàng ngày phải đọc những sách có tác dụng nâng cao tinh thần – có thể là sau khi thiền, khi mà tâm trí sáng sủa và yên tĩnh.
Tắm sơ trước khi thiền
Kỹ thuật này của yoga giúp làm mát cơ thể và làm trong sạch tâm trí. Nó nạp lại năng lượng ngay lập tức và cũng làm tâm trí yên tĩnh và sẵn sàng cho việc thiền định sâu. Đầu tiên dội nước mát vào bộ phận sinh dục; sau đó vào hai chân từ đầu gối trở xuống; sau đó vào hai tay từ khuỷu tay trở xuống. Sau đó, ngậm một ít nước vào miệng, tạt nước sạch mát vào mắt mở mười hai lần. Uống nước “bằng mũi”: giữ một ít nước trong lòng bàn tay và ngửa đầu ra phía sau và cho nước chảy vào mũi; sau đó nhổ nó ra bằng miệng. Rửa sạch miệng bằng nước và họng bằng ngón tay giữa. Rửa tai và phía sau tai; sau đó rửa sau cổ (dùng nước mát, không dùng xà phòng). Khi có thể, hãy tắm nước mát toàn thân trước khi thiền.
Kiên nhẫn chờ tiến bộ
Hãy nhớ rằng sau nhiều năm hoạt động hướng ngoại, thật không dễ cho bạn đột nhiên bỏ qua thế giới bên ngoài và tập trung hoàn toàn vào thế giới bên trong. Do vậy đừng nản chí nếu bạn chưa đạt kết quả ngay trong thiền định - nếu như bạn không tập trung được ngay, thậm chí còn có nhiều suy nghĩ hơn trước kia! Điều này hoàn toàn tự nhiên. Thực ra, bạn đang tiến bộ dù bạn có nhận ra điều đó hay không: chính cố gắng ngồi và tập trung làm tâm trí của bạn mạnh lên từng ngày. Do vậy hãy thiền đều đặn: bạn sẽ nhận ra những thay đổi trong cuộc sống của bạn nhờ sự cố gắng đó... bạn sẽ cảm nhận được sự yên tĩnh ngọt ngào và hạnh phúc bên trong.
04/26/08. 12:15:52 pm. 1611 words, 128 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Văn chương triết lý, Thể thao và võ thuật, Liên kết blogs, Tôn giáo và tín ngưỡng, Yoga và thiền ,
SỨC TƯỞNG TƯỢNG QUÁ PHONG PHÚ
Surreal Images ( some nudity )
Nếu nhạc làm ồn, xin vui lòng click trên màn hình hay vào nút tắt, hay tạm ngưng (II) để ngưng show.
Nếu quý vị và các bạn muốn xem slideshow phóng lớn hơn, xin vui lòng click vào dưới đây:
XEM SLIDESHOW PHÓNG LỚN
Trong một vài trường hợp, nếu thấy xuất hiện một bảng nhỏ như dưới đây thì hãy ckick vào chữ "No" để tiếp tục xem:

04/26/08. 12:05:57 pm. 112 words, 114 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Âm nhạc và nghệ thuật, Mỹ thuật, nhiếp ảnh và hội họa, Liên kết blogs ,
QUẦN KỲ CỤC KIỂU MỚI RẤT HẤP DẪN, MỘT PHỐI HỢP TÀI TÌNH: JEANS BIKINI

Thiết kế kỳ cục nhất: Quần bò bikini
Source: Dailymail, Dân trí
Một nhà thiết kế của Brazil vừa tung ra một loại quần bò với kiểu dáng hoàn toàn mới lạ: quần bò bikini. Sản phẩm mới này đang trở thành chủ đề bàn luận sôi nổi trong giới thiết kế thời trang.
Sandra Tanimura, nhà thiết cho công ty thời trang Sanna (Brazil), đã cho ra mắt chiếc quần jeans mông xệ xuống nhất từ trước tới nay khi chỉ che được... nửa bộ mông. Nhưng nó được bổ sung bằng một chiếc quần lót buộc dây khiến thiết kế của Sandra không giống với bất kỳ chiếc quần jeans nào từ trước tới nay.
Tuy nhiên, loại quần bò bikini mới này chỉ phù hợp với những phụ nữ mảnh mai, eo thon và mông nở. Chắc chắn họ cũng phải là người rất dũng cảm mới dám mặc chúng.

Sandra Tanimura đã nảy ra ý tưởng thiết kế ra loại quần bò bikini sau khi các khách hàng của cô cho biết họ thích những chiếc quần mông cực xệ nhưng rất khó để giữ sao cho chúng không bị tụt xuống quá sâu. Về cơ bản, quần bò bikini của cô đã khắc phục được nhược điểm này.
Sandra nói: “Chúng tôi chỉ chuyên thiết kế quần mông xệ. Nhưng khách hàng của chúng tôi còn muốn những chiếc quần xệ hơn nữa. Rất khó có thể đáp ứng yêu cầu này, vì vậy mà tôi đã nảy ra ý tưởng thiết kế những quần jeans biniki mông rất xệ mà lại không bị tụt”.
Quần jeans biniki đang được bán trên mạng với giá $90 USD.
Lưu Ly
04/26/08. 07:23:16 am. 434 words, 202 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Liên kết blogs, Thời trang ,
LỊCH SỬ CHỮ THẬP NGOẶC

Lịch sử chữ thập ngoặc
History of Swastika
Source: Đông Tác
Phạm Việt Hưng
Rất nhiều người thắc mắc không hiểu tại sao chữ Vạn của Phật giáo lại có hình thức trùng lặp với “chữ thập ngoặc” của Đức quốc xã.
Gọi là “chữ”, nhưng thực ra cả hai đều là những biểu tượng. Người Việt Nam đã khéo léo phân biệt 2 biểu tượng này bằng cách dùng hai tên gọi khác nhau. Nhưng với người tây phương, cả 2 biểu tượng đều được gọi là Swastika, vì hình thức của chúng hoàn toàn như nhau.
Trước đây, trong bài “Lịch sử lần theo chữ Vạn” trên Văn Nghệ ngày 15-06-2002, tôi đã nêu lên nhận xét cho rằng đây không phải là một sự trùng lặp ngẫu nhiên, mà phải có chủ ý – chủ nghĩa quốc xã Đức đã cố tình lợi dụng Swastika để làm biểu tượng của chúng. Tuy nhiên, mọi nhận định trong bài viết đó vẫn mang tính chất suy luận cá nhân, chưa thể hiện đánh giá chính thức của lịch sử thế giới.
Hôm nay tôi đã có đủ tài liệu để giới thiệu với đọc giả những sự thật lịch sử được ghi chép trên các tài liệu chính thức, trong đó cho biết đích thân Hitler đã chọn Swastika làm biểu tượng của đảng quốc xã, nhà nước quốc xã và quân đội quốc xã.
Trước khi tìm hiểu cụ thể, xin chú ý rằng:
· Swastika không phải là biểu tượng của riêng Phật giáo, mà là biểu tượng của rất nhiều nền văn hoá và tôn giáo khác nhau.
· Swastika của Đức quốc xã hoàn toàn không liên quan gì đến chữ Vạn của Phật giáo, mà chỉ liên quan đến Swastika của người Aryan.
Vì thế để tránh nhầm lẫn, bài viết này sẽ xử dụng tên gọi chung của biểu tượng này là “Swastika”. “Chữ Vạn” sẽ chỉ được dùng cho Swastika của Phật giáo.
Vậy Swastika có xuất xứ từ đâu? Ý nghĩa nguyên thuỷ của nó là gì? Người Aryan là ai? Tại sao Hitler lại xử dụng Swastika của người Aryan? Đó là những câu hỏi sẽ được trả lời trong bài viết này.
1- Hành trình và ý nghĩa nguyên thuỷ của Swastika

Bản đồ 1
Swastika là một trong những biểu tượng cổ xưa nhất mà loài người đã xử dụng. Nó đã được phát hiện trên những di chỉ khảo cổ có độ tuổi ít nhất hơn 3000 năm tại khu vực thung lũng nằm giữa hai con sông Euphrates và Tigris và một số vùng trong thung lũng sông Indus (Bản đồ 1). Swastika cũng xuất hiện trên các bình gốm và những đồng xu cổ trên đống đổ nát của thành Troy (Bản đồ 2), chứng tỏ nó đã được xử dụng ít nhất từ 1000 năm trước C.N.
Bản đồ 2
Mặc dù chưa ai vẽ ra được một “lộ trình di cư” chính xác của Swastika qua các thời đại, nhưng có thể biết chắc chắn rằng trải qua hàng ngàn năm, Swastika đã có mặt ở hầu khắp các lục địa Á, Âu, Mỹ. Vì thế, Swastika có rất nhiều tên gọi khác nhau. Tiếng Hán gọi là “wan” (Vạn), tiếng Hy Lạp – tetraskelion, tiếng Pháp – croix gammé, tiếng Anh – fylfot, tiếng Đức – hakenkreuz, tiếng Ý – croce uncinata, v.v… Nhưng tên gọi phổ biến nhất vẫn là swastika, bắt nguồn từ chữ svastika (đọc là suastika) trong tiếng Sanscrit – ngôn ngữ cổ Ấn Độ.
Trong tiếng Sanscrit: Sv, đọc là su, có nghĩa là tốt lành (good, well); asti có nghĩa là tồn tại (to be); ka là một tiếp vĩ ngữ thể hiện một sự vật hay sự việc nào đó. Vậy swastika là một sự vật hay một sự việc tồn tại tốt lành, hoặc có trạng thái tốt lành (well-being).
Charles Messenger trong cuốn “Lịch sử Thế Chiến II bằng hình” (The Pictorial History of World War II) nói rằng Swastika thể hiện sự phồn thịnh (prosperity) và sáng tạo (creativity).
Swastika trong nghệ thuật của người Hindu có các dấu chấm trong các cung phần tư (Hình 1-1), nhưng Swastika của Hindu giáo (Ấn giáo) không có những dấu chấm này, thể hiện sự thiêng liêng cao cả.
Hình 1-1
Phật giáo đã thừa hưởng Swastika của Hindu giáo. Trong các kinh Phật, Swastika thường xuất hiện ngay ở phần mở đầu. Trong tiếng Hán, chữ Vạn (wan) biểu thị cái bao trùm tất cả (all) và sự vĩnh hằng (eternality).
Cuốn “Phật Học Quần Nghi” xuất bản tại Đài Loan viết:
Theo truyền thuyết cổ Ấn Độ, phàm là thánh vương chuyển luân cai trị thế giới đều có 32 tướng tốt. Phật là một thánh vương trong Pháp nên cũng có 32 tướng tốt. Điều này được ghi trong kinh Kim Cương Bát Nhã. Chữ Vạn là một trong 32 tướng tốt của Phật. Theo kinh Trường A Hàm thì đó là tướng tốt thứ 16 nằm trước ngực của Phật.
Tại Nhật Bản, chữ Vạn của Phật giáo được gọi là manji, thể hiện Dharma – sự hài hoà và cân bằng âm dương trong vũ trụ (giống tư tưởng của Dịch và Lão học) – trong đó manji quay trái được gọi là một omote manji, thể hiện tình yêu và lòng nhân từ, khoan dung; manji quay phải được gọi là ura manji, thể hiện sức mạnh và trí thông minh.
Tại Nam Âu, khu vực tiếp giáp với châu Á, dấu vết Swastika cũng đã được tìm thấy trong các công trình kiến trúc thuộc nền văn hoá Byzantine – nền văn hoá thuộc khu vực Biển Đen và Địa Trung Hải kéo dài từ thế kỷ thứ 7 trước CN đến tận thời trung cổ.
Dấu vết Swastika cũng xuất hiện trong các đền đài thuộc nền văn hoá Celtic (đọc là Seltic hoặc Keltic) – nền văn hoá đậm nét Âu châu phi Địa Trung Hải, có xuất xứ từ Tây và Trung Âu từ khoảng 1000 năm trước CN kéo dài mãi đến nhiều thế kỷ sau CN, ảnh hưởng sâu rộng khắp Âu châu. Chủ nhân của nền văn hoá này là người Celt – người nói tiếng Celtic – những người nổi tiếng thông minh, yêu tự do, dũng cảm trong chiến đấu.
Cần đặc biệt chú ý rằng ngôn ngữ Celtic là một bộ phận của một nhóm ngôn ngữ rộng lớn hơn được gọi là ngôn ngữ Aryan hoặc ngôn ngữ Ấn-Âu. Vậy ngôn ngữ Aryan và ngôn ngữ Ấn-Âu là gì?
2- Ngôn ngữ Aryan và người Aryan
Những người ít quan tâm đến ngôn ngữ học có thể sẽ rất ngạc nhiên khi biết rằng hầu hết các thứ tiếng Âu châu ngày nay hoá ra lại có chung một thuỷ tổ với tiếng Hindi ( tiếng Ấn Độ ).
Thuỷ tổ ấy là ngôn ngữ Aryan, hoặc ngôn ngữ Ấn-Âu (Indo-European languages) – ngôn ngữ của những cư dân sinh sống từ xa xưa trên vùng cao nguyên Iran ở Nam Á, giữa vùng biển Caspian và vùng núi Hindu Kush ngày nay (Bản đồ 3). Những cư dân này tự gọi mình là người Aryan.
Bản đồ 3
Vào khoảng 1500 năm trước CN, người Aryan đã xâm chiếm vùng tây bắc Ấn Độ. Họ mang theo một nhánh ngôn ngữ của họ đến đó, và trong suốt 1000 năm đầu tiên tại Ấn, họ đã hoàn thiện ngôn ngữ này đến mức tìm ra cách để viết. Đó chính là ngôn ngữ Sanscrit mà ngày nay ta gọi là tiếng Ấn Độ cổ. Tiếng Hindi, ngôn ngữ chính của Ấn Độ ngày nay, cũng bắt nguồn từ ngôn ngữ Sanscrit. Chính nhờ các văn bản cổ viết bằng tiếng Sanscrit vẫn còn lưu giữ được trong các di tích tôn giáo và văn hoá của người Hindu mà ngày nay ta biết được lịch sử của người Aryan. Những văn bản này mô tả người Aryan có nước da sáng mầu (fair-skinned), có máu mê chiến tranh (warlike), và bản thân chữ Aryan trong tiếng Sanscrit có nghĩa là người phú quý (nobleman) hoặc chúa tể đất đai (lords of land)!
Một nhánh khác của người Aryan đã di cư sang xâm chiếm Âu châu và truyền bá ngôn ngữ của họ ở đó. Vì thế ngôn ngữ của phần lớn người Âu châu ngày nay rất giống nhau – thực ra hầu hết người Âu đều nói một thứ ngôn ngữ có nguồn gốc Aryan (trừ tiếng Thổ, Hung, xứ Basques, Phần Lan, Latvia, Estonia, và một vài nhóm nhỏ ở Nga).
Vì thế ngôn ngữ Aryan được gọi là ngôn ngữ Ấn-Âu, người Aryan được gọi là người Ấn-Âu tiền sử (proto-Indo-European). Người Ấn ở miền bắc Ấn Độ còn được gọi là người Ấn-Âu. Họ cao lớn, nước da sáng mầu, trong khi người Ấn ở miền nam có nguồn gốc Dravidian, vóc dáng nhỏ bé hơn, nước da tối mầu hơn.
Việc khám phá ra ngôn ngữ Aryan vào những năm 1790 được coi là một trong những khám phá vĩ đại nhất của ngôn ngữ học. Người Âu châu thời đó đã sửng sốt khi biết rằng không chỉ các dân tộc ở Âu châu, mà ngay cả một xứ “xa tít mù tắp” vào thời đó như Bắc Ấn, hoá ra cũng có chung một nguồn gốc ngôn ngữ với họ, thậm chí chung một tổ tiên với họ. Từ đó, các nhà khảo cổ học lao vào nghiên cứu mối liên hệ giữa người Âu châu tiền sử với người Aryan cổ đại.
Trong bài “Lịch sử lần theo chữ Vạn” (đã dẫn), tôi đã đặt dấu hỏi: “Dân tộc Iran ngày nay và người Aryan xưa kia có liên hệ gì với nhau không? Về mặt âm ngữ, hai từ Iran và Aryan rất giống nhau. Về mặt lịch sử, chẳng lẽ người Aryan đi chinh phục Ấn Độ và Âu châu hết mà không để lại một chi nhánh nào của dòng họ ở nơi xuất xứ là cao nguyên Iran hay sao?”.
Và tôi đã tìm thấy câu trả lời. Bách khoa toàn thư Wikipedia viết: “Vào khoảng nửa đầu của thiên niên kỷ thứ nhất trước CN, người Aryan đã có mặt trên cao nguyên Iran và tiểu lục địa Ấn Độ. Thực ra, thuật ngữ Iran là kết quả của thuật ngữ Ariana (Airyana) có nghĩa là xứ sở của người Aryan. Nhóm ngôn ngữ Aryan có hai nhánh chủ yếu: Ngôn ngữ Sanskrit và ngôn ngữ cổ-Iran … trong tiếng Ba-Tư thời trung cổ, chúng ta thấy chữ Ariana được gọi là Eran, và cuối cùng trong tiếng Ba-Tư hiện đại, được gọi là Iran”.
Nhà triết học nổi tiếng Hegel từng viết trong cuốn Triết học Lịch sử (The Philosophy of history) rằng: "Lịch sử của loài người bắt đầu từ lịch sử của Iran”. Các di chỉ khảo cổ tại Tây Nam Á cho thấy nền văn minh Iran có trước nền văn minh Ai Cập quãng 3000 năm, khởi đầu ít nhất từ 12000 năm trước đây.
Tóm lại, người Aryan một phần đã chinh phục Bắc Ấn, một phần ở lại Iran, và một phần đã di cư sang Âu châu và chinh phục hầu khắp Âu châu, lai tạp với cư dân bản địa Âu châu cổ đại để dần dà trở thành người Âu Mỹ như ngày nay.
Tuy nhiên, khái niệm “người Aryan” dần dần đã bị những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc biến tướng thành khái niệm “chủng tộc Aryan”, từ đó dẫn tới những hậu quả chính trị xã hội vô cùng tệ hại.
3- Về cái gọi là “chủng tộc Aryan”
Như đọc giả đã thấy, những văn bản cổ mô tả người Aryan là những người có những “ưu điểm vượt trội”: những người “phú quý” hoặc “chúa tể đất đai”! Trong thực tế, người Aryan đã chinh phục một dải đất vô cùng rộng lớn từ Á sang Âu! “Thành tích vượt trội” của người Aryan đã làm nức lòng những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc ở châu Âu cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Trong con mắt của họ, “người Aryan” đồng nghĩa với “chủng tộc Aryan” (Aryan race) – một “chủng tộc ưu tú hơn” (superior race) so với bất kỳ chủng tộc nào khác. Ngay từ thời đó, tư tưởng này đã bị phê phán. Nhà Sanscrit học lỗi lạc Max Muller từng nhấn mạnh: “Khi tôi nói đến chữ Aryan, tôi không hề có ý định đề cập đến những khái niệm liên quan đến hộp sọ”. Nói cách khác, theo những tiêu chuẩn của chủng tộc học, không hề có cái gọi là “chủng tộc Aryan”, mà chỉ có người Aryan mà thôi. Nhưng bất chấp mọi giải thích, những kẻ có đầu óc dân tộc tiếp tục truyền bá khái niệm “chủng tộc Aryan” như một sự thật lịch sử và khoa học.
Đến những năm 1920, chủ nghĩa quốc xã Đức đã nâng lý thuyết “chủng tộc Aryan lên đến mức cực kỳ phản động: “Chủng tộc Aryan là chủng tộc thượng đẳng (master race) có quyền thống trị thế giới”. Lý thuyết này dựa trên nền tảng của một học thuyết được coi là “khoa học” vào thời đó: Học thuyết Đác-uyn-xã-hội (Social-Darwinist Ideology) – một học thuyết chủ trương áp dụng nguyên lý đấu tranh sinh tồn của Darwin vào trong xã hội loài người.
Nhưng tại sao Đức quốc xã lại chọn Swastika làm biểu tượng của chúng?
Trước khi biết rõ bối cảnh nào đã dẫn Hitler tới chỗ đích thân hắn chọn Swastika làm biểu tượng cho đảng quốc xã, đọc giả cần biết rõ sự kiện sau đây:
Cuối thế kỷ 19, nhà khảo cổ học nổi tiếng Heinrich Schliemann, người đã khám phá ra Swastika trên đống đổ nát của thành Troy, trong một công trình nghiên cứu công phu kết hợp khảo cổ học với Sanscrit học, đã đi đến một kết luận vô cùng quan trọng rằng Swastika là một biểu tượng đặc trưng Ấn-Âu. Nói cách khác:
Swastika là biểu tượng đặc trưng của người Aryan!
Muốn biết Swastika của người Aryan đã bị Hitler lợi dụng ra sao, xem bài kỳ sau sẽ rõ.
(Kỳ 2: Chủ nghĩa chủng tộc)
Chú thích minh hoạ:
Bản đồ 1: Khu vực thung lũng nằm giữa hai con sông Euphrates và Tigris và một số vùng trong thung lũng sông Indus, một trong những cái nôi văn minh của loài người. Tại đó tìm thấy những chữ Swastika có độ tuổi khoảng 3000 năm.
Bản đồ 2: Vị trí Thành Troy trên bản đồ. Swastika cũng được tìm thấy trên các bình gốm và những đồng xu cổ trên đống đổ nát của thành Troy, chứng tỏ nó đã được sử dụng ít nhất từ 1000 năm trước C.N.
Bản đồ 3: Vùng cao nguyên Iran ở Nam Á, giữa vùng biển Caspian và vùng núi Hindu Kush ngày nay, nơi xuất xứ của người Aryan. Từ đây, một bộ phận người Aryan di cư đến Bắc Ấn, một bộ phận ở lại Iran, một bộ phận chinh phục châu Âu, trở thành người Ấn-Âu tiền sử.
Hình 1-1: Swastika trong nghệ thuật và văn hoá của người Hindi, trong đó có 4 dấu chấm ở các cung phần tư, nhưng Swastika của Hindu giáo không có 4 dấu chấm đó, thể hiện sự thiêng liêng.
04/26/08. 07:20:23 am. 3780 words, 129 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Khảo cổ và nhân chủng, Văn chương triết lý, Liên kết blogs, Tôn giáo và tín ngưỡng, Xã hội và nhân văn ,
CHỦ NGHĨA CHỦNG TỘC

Chủ nghĩa chủng tộc
Racism
Source: Đông Tác
Phạm Việt Hưng
Lý thuyết “chủng tộc thượng đẳng” (master race) của chủ nghĩa quốc xã (nazism) là một quái thai trong lịch sử loài người, nhưng quái thai ấy không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên.
Nó là con đẻ của một “bà mẹ bệnh hoạn” – Học thuyết Darwin-xã-hội (Social-Darwinist Ideology) – và một “ông bố điên rồ” – Tư tưởng phục thù (Feeling of Revenge) trong xã hội Đức sau Thế Chiến I.
Khi đã có Học thuyết Darwin-xã-hội làm cơ sở “khoa học” để suy tôn “chủng tộc Đức” thành “chủng tộc thượng đẳng có quyền thống trị thế giới”, chủ nghĩa quốc xã chỉ còn thiếu một lá cờ với biểu tượng thích hợp. Nhưng đích thân Hitler đã tìm thấy biểu tượng đó: Swastika của người Aryan!
Vậy trước hết hãy tìm hiểu xem Học thuyết Darwin-xã-hội là gì?
1- Học thuyết Darwin-xã-hội
Học thuyết Darwin-xã-hội là lý thuyết cho rằng xã hội loài người tiến hoá thông qua quá trình đấu tranh sinh tồn, trong đó chủng tộc nào thông minh hơn, khoẻ mạnh hơn, thích nghi với môi trường tốt hơn sẽ là chủng tộc có quyền tồn tại; chủng tộc nào dốt nát, ốm yếu, kém thích nghi với môi trường sẽ bị đào thải. Đây là kết quả của việc áp dụng một cách máy móc Thuyết tiến hoá của Darwin vào trong xã hội loài người.
Không phải ngẫu nhiên mà có sự áp dụng máy móc đó. Đây là hệ quả của việc áp dụng tràn lan chủ nghĩa thực chứng (positivism) vào trong xã hội học.
Chủ nghĩa thực chứng do Auguste Comte (1798-1887) nêu lên từ những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 19, trong đó cho rằng một hệ thống lý thuyết chỉ trở thành khoa học thực sự khi nó có thể kiểm chứng được bằng thực nghiệm trong thực tế.
Với thắng lợi trong khoa học tự nhiên, chủ nghĩa thực chứng đã tạo ra tinh thần lạc quan mạnh mẽ trong thế kỷ 19, thúc đẩy các nhà xã hội học tìm cách giải thích hành vi của số đông (en masse behaviour) bằng những quy luật của tự nhiên.
Đúng lúc đó, Thuyết tiến hoá của Darwin ra đời. Những kẻ có đầu óc chủng tộc lập tức áp dụng Thuyết tiến hoá của Darwin để giải thích sự tiến hoá của xã hội loài người, khẳng định rằng về cơ bản xã hội loại người cũng phải tiến hoá theo quy luật của sinh giới nói chung. Đó chính là Học thuyết Darwin-xã-hội.
Học thuyết Darwin-xã-hội có liên quan gì đến cá nhân Darwin không?
Trước đây tôi luôn luôn nghĩ rằng Darwin chỉ nêu lên quy luật tiến hoá trong xã hội loài vật mà thôi. Việc đem lý thuyết của ông áp dụng một cách máy móc vào xã hội loài người là việc làm của những kẻ có đầu óc kỳ thị chủng tộc. Nhưng gần đây, tôi phải suy nghĩ rất nhiều khi đọc bài báo “What Darwin taught Hitler?” (Darwin đã dạy Hitler cái gì?) của Grenville Kent, trên tạp chí SIGNS of the Times của Mỹ-Úc, số tháng 10 năm 1996, trong đó tác giả đã trích nguyên văn một phát biểu của Darwin như sau:
“Trong một tương lai không xa lắm, có thể đo bằng số thế kỷ, các chủng tộc văn minh của loài người hầu như sẽ tiêu diệt và thay thế các chủng tộc dã man trên thế giới”.
Kent đã trích câu nói này trong tác phẩm nổi tiếng của Darwin, On the Origin of Species (Về nguồn gốc các loài) [Tôi chưa có điều kiện liên lạc với Grenville Kent để kiểm phối tính xác thực của thông tin, nhưng tôi sẽ cố gắng thực hiện việc kiểm phối đó trong tương lai sắp tới].
Nhưng dù câu nói trên xuất phát từ cửa miệng của bất kỳ ai chăng nữa thì chắc chắn đó là một phát ngôn của Học thuyết Darwin-xã-hội.
Kent đặt dấu hỏi chua chát “Nếu Darwin đúng thì tại sao Hitler lại không được bào chữa về mặt khoa học?”, rồi ông cho biết chủ nghĩa quốc xã Đức đã từng lý luận rằng “Nếu chúng ta xuất thân từ động vật thì tại sao chúng ta không hành động theo quy luật (đấu tranh sinh tồn) đó?”. Thế đấy, dưới con mắt của chủ nghĩa quốc xã, con người trước hết là một sinh vật, do đó mọi hành vi trước hết phải tuân theo quy luật đấu tranh sinh tồn – một quy luật bất khả kháng của tự nhiên (!!!).
Ngày nay, khi Học thuyết Darwin-xã-hội đã lộ nguyên hình là một học thuyết bệnh hoạn, không ai có thể chấp nhận sự vay mượn tư tưởng từ một học thuyết thuần tuý sinh học để đem áp dụng vào xã hội loài người một cách thô thiển và đơn giản đến như thế. Nhưng than ôi, đó lại là một sự thật đã diễn ra vào những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20, chúng ta không thể được phép quên!
Thật vậy, vào đầu thế kỷ 20, trường Đại học tổng hợp Berlin chặt cứng sinh viên ngồi nghe các giáo sư trình bầy Học thuyết Darwin-xã-hội. Trong đám thính giả có rất nhiều nhà ngoại giao, nhà quân sự, thương gia và các lãnh tụ của nhà nước Đức. Một trong số đó là Heinrich Himmler, kẻ sau này trở thành cánh tay phải của Hitler, đứng đầu bộ máy SS – bộ máy tàn sát chủng tộc khét tiếng của Nazi.
Bối cảnh ấy thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và chủ nghĩa phục thù ở Đức phát triển mạnh mẽ, tạo nên một cơ sở xã hội để đảng quốc xã thắng thế vào cuối những năm 1920, đầu 1930, dẫn tới sự ra đời của Đế chế Thứ III (The Third Reich) với việc Adolf Hitler lên cầm quyền ở Đức năm 1933, thực hành một chính sách chủng tộc thảm khốc chưa từng có trong lịch sử.
2- Chủ nghĩa chủng tộc và phục thù
Bước vào thế kỷ 19, trong khi các nước như Anh, Pháp đã trở thành những đế quốc lớn, hùng mạnh, thì Đức lúc đó vẫn bao gồm các tiểu vương quốc rời rạc. Mãi đến năm 1871 mới thống nhất thành một quốc gia. Sự tụt hậu này tạo cho giới trẻ Đức thời đó một cảm giác tủi hổ, bất mãn. Từ đó nước Đức có xu thế muốn vươn lên, chứng tỏ cho thế giới thấy mình không những không thua kém ai, mà còn vượt trội so với kẻ khác. Xu thế ấy là một trong những nguyên nhân dẫn tới cuộc Thế Chiến I. Nhưng thất bại thảm hại của Đức trong cuộc thế chiến này lại càng đẩy thanh niên Đức lún sâu vào tâm trạng tủi hổ và bất mãn sâu sắc hơn nữa. Đễ chống lại căn bệnh tủi hổ này, những nhà lý luận có đầu óc chủng tộc đã cố gắng xới lên những học thuyết đề cao chủng tộc Đức, trong khi các nhà chính trị theo chủ nghĩa dân tộc lại tuyên truyền cho chủ nghĩa phục thù, hứa hẹn sẽ lấy lại sức mạnh cho nước Đức, đưa nước Đức lên vị trí lãnh đạo thế giới.
Trong bối cảnh ấy, lịch sử người Aryan và Swastika cùng với Học thuyết Darwin-xã-hội đã trở thành “những nguyên liệu quý giá” để những nhà lý thuyết và chính trị theo chủ nghĩa chủng tộc ở Đức chế biến nên một chủ thuyết chủng tộc trong đó khẳng định rằng người Aryan chính là thuỷ tổ của người Đức, người Đức chính là hậu duệ thuần chủng nhất và tinh tuý nhất của người Aryan, và do đó xứng đáng để lãnh đạo thế giới.
Một trong những kẻ đi tiên phong trong học thuyết này là Alfred Rosenberg. Rosenberg coi “chủng tộc Aryan là chủng tộc nằm ở bậc thang cao nhất trong “hệ thống các bậc thang chủng tộc” (racial hierarchy), trong khi “chung tộc Do Thái” nằm ở tầng dưới cùng và là một mối đe doạ đến “nền văn minh thuần nhất Aryan của Đức”, do đó cần phải bị đào thải. Hơn thế nữa, “chủng tộc Aryan” là chủng tộc duy nhất có khả năng sáng tạo nên những nền văn hoá và văn minh đích thực, trong khi các chủng tộc khác chỉ có khả năng giữ gìn hoặc phá hoại những nền văn hoá đó mà thôi. Rosenberg sau này đã trở thành cánh tay phải của Hitler về tuyền truyền và giáo dục tư tưởng quốc xã, đồng thời làm bộ trưởng quốc xã phụ trách khu vực chiếm đóng ở Liên Xô, cuối cùng bị đồng minh bắt năm 1945, bị xử tử hình tại toà án tội phạm chiến tranh Nuremberg ngày 16-10-1946.
Từ điển Lịch sử thế giới (Dictionary of World History) do Chambers của Anh xuất bản năm 1994 viết: “Nước Đức đã ôm lấy cái khái niệm phi khoa học về chủng tộc Đức như là bộ phận tinh tuý nhất trong chủng tộc Aryan, trong số những người cùng nói thứ ngôn ngữ Ấn-Âu, và rằng họ có trách nhiệm với tiến bộ của nhân loại (trang 60), … Chủ nghĩa quốc xã khẳng định rằng thế giới được chia thành một hệ thống nhiều thang bậc chủng tộc: Người Aryan, trong đó người Đức là đại diện thuần chủng nhất, là chủng tộc thượng đẳng về văn hoá, trong khi người Do Thái là thấp kém nhất. Điều đó cũng có nghĩa là người Do Thái sẽ bị người Aryan tiêu diệt loại bỏ khỏi thế giới …(trang 661)”.
Một khi đã tự nhận mình là hậu duệ tinh túy nhất của người Aryan thì đương nhiên, những kẻ theo chủ thuyết chủng tộc Đức cũng sẽ tự nhận Swastika là biểu tượng của họ, bởi như chúng ta đã biết trong bài kỳ trước: Nhà khảo cổ học Heinrich Schliemann đã khám phá ra rằng Swastika là một biểu tượng đặc trưng Ấn-Âu, tức đặc trưng của người Aryan. Đó là lý do để chủ nghĩa quốc xã đã chộp lấy Swastika để biến thành biểu tượng của chúng.
3- Swastika rơi vào tay quỷ dữ
Bách khoa toàn thư Wikipedia cho biết:
Cuối thế kỷ 19, Swastika của người Aryan đã xuất hiện trong tạp chí về chủng tộc xuất bản định kỳ của những người Đức theo chủ nghĩa quốc gia và là biểu tượng chính thức của những vận động viên thể thao Đức.
Đầu thế kỷ 20, Swastika của người Aryan đã trở thành một biểu tượng chung của chủ nghĩa dân tộc Đức (German nationalism) và có thể tìm thấy ở nhiều nơi như biểu tượng của Wandervogelb - một phong trào tuổi trẻ Đức; trên tạp chí Ostarra, một tạp chí định kỳ bài Do Thái của Joerg Lanz von Liebenfels; trên nhiều đơn vị Freikorps khác nhau; và như một biểu tượng của Hội Thule.
Nhưng Swastika chỉ chính thức trở thành biểu tượng của quỷ dữ kể từ khi Hitler chính thức xử dụng biểu tượng đó.
Sau hai lần thi trượt vào Đại học Mỹ thuật vì bị phê là “thiếu tài năng”, Hitler rất hậm hực bất mãn. Năm 1909, Hitler rơi vào cảnh nghèo túng, nhưng được một người Do Thái là Hanisch giúp kiếm sống bằng cách vẽ bưu ảnh để bán cho du khách (tổng cộng trước Thế Chiến I, hắn đã bán được 2000 bưu thiếp). Trớ trêu thay, chẳng bao lâu sau Hitler đã phản bội lại người giúp đỡ mình khi hắn say mê với những lý thuyết về chủng tộc Aryan, coi người Do Thái là kẻ thù của người Aryan và phải chịu trách nhiệm về những khủng hoảng trong nền kinh tế Đức.
Đến những năm 1920, khi Hitler trở thành lãnh tụ đảng quốc xã, hắn thấy đảng này cần phải có một lá cờ và biểu tượng riêng của nó.
Năm 1923, Hitler bị phạt tù 5 năm vì một hành động chống chính phủ. Trong tù, hắn viết tác phẩm “Mein Kampf” (Cuộc đấu tranh của tôi), trong đó viết: “Lá cờ mới phải là một biểu tượng của cuộc đấu tranh riêng của chúng ta, đồng thời có hiệu quả cao như một áp-phích tuyên truyền”. Không những thế, vốn xuất thân là một thợ vẽ, Hitler còn thiết kế ra hình ảnh cụ thể của lá cờ đó, trong đó Swastika của người Aryan được đặt chính giữa trên một hình tròn mầu trắng. Hắn viết trong Mein Kampf: “Mầu trắng thể hiện tư tưởng dân tộc, biểu tượng Sawstika thể hiện sứ mạng đấu tranh vì thắng lợi của người Aryan, đồng thời nói lên sự chiến thắng của tinh thần sáng tạo, một tinh thần đã và sẽ mãi mãi chống lại bọn Do Thái”.
Chẳng bao lâu sau, Mein Kampf đã nhanh chóng trở thành cuốn “kinh thánh” của đảng quốc xã, chứa đựng tất cả các giáo điều của chủ nghĩa quốc xã, bao gồm cả những kỹ thuật tuyên truyền và kế hoạch làm thế nào để trước tiên chiếm lĩnh nước Đức, sau đó là chiếm lĩnh châu Âu.
4- Kết
Như độc giả đã thấy, đich thân Hitler đã chọn Swastika của người Aryan làm biểu tượng cho đảng quốc xã. Từ năm 1933, khi đảng quốc xã thắng cử ở Đức, Hitler trở thành quốc trưởng của Đế Chế Thứ III, thì Swastika trở thành biểu tượng của cả nhà nước quốc xã và quân đội quốc xã. Kể từ đó, Swastika bị coi là biểu tượng của quỷ dữ. Sau Thế Chiến II, Swastika bị cấm phô bầy tại rất nhiều nước Âu châu.
Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay, khi sự giao lưu trao đổi văn hoá giữa các quốc gia, các sắc tộc, các vùng địa lý, các truyền thống văn hoá khác nhau ngày một phát triển, thì hai nhận thức khác nhau về Swastika đã gây nên những hiểu lầm và va chạm rất đáng tiếc, thậm chí có nơi đã xẩy ra xung đột.
Một đằng, Swastika là biểu tượng của cái Thiện. Đó là Swastika của Ấn Độ giáo, của Phật giáo. Đó là ý nghĩa nguyên thuỷ của Swastika. Một đằng, Swastika là biểu tượng của quỷ dữ từ khi nó rơi vào tay Đức quốc xã.
Chỉ có một cách duy nhất thanh toán sự hiểu lầm và xung đột này là mọi người phải biết rõ lịch sử của Swastika, để có thể phân biệt được đâu là Swastika của cái Thiện, đâu là Swastika của quỷ dữ.
Trước khi kết thúc, bài viết này xin lưu ý:
Có những người cố gắng chứng minh rằng chữ Vạn của Phật giáo và chữ thập ngoặc của phát xít Đức có hình thức khác nhau. Cụ thể: Chiều quay khác nhau, và tư thế khách nhau: chữ Vạn thẳng đứng, chữ thập ngoặc đổ nghiêng.
Trong bài “Lịch sử lần theo chữ Vạn” trên Văn nghệ ngày 15-06-2002, tôi đã chứng minh cả hai nhận xét đó đều sai. Xin khẳng định lại, về hình thức bề ngoài, Swastika của Phật giáo và Swastika của người Aryan mà Đức quốc xã đã lợi dụng, hoàn toàn giống nhau. Xin cung cấp thêm bằng chứng:

a· Ngay trên 2 cánh cổng chùa Pháp Hoa, Q 3, TP HCM, bạn có thể thấy 2 chữ Vạn có chiều quay trái ngược nhau, đối xứng với nhau (Hình 2-1). Điều đó có nghĩa là trong Phật giáo, chữ Vạn có thể có cả 2 chiều quay, một trong 2 chiều quay này trùng với chiều quay của Swastika của Đức quốc xã. Do đó không thể căn cứ vào chiều quay để phân biệt chữ Vạn với chữ thập ngoặc.
b· Trong Hình 2-2, hình ảnh Hitler đang được tiền hô hậu ủng thời mới lên cầm quyền, có thể thấy chữ thập ngoặc thẳng đứng, không đổ nghiêng. Điều đó có nghĩa là không thể phân biệt Swastika của Phật giáo với Swastika của Đức quốc xã bởi tư thế thẳng đứng hoặc đổ nghiêng.
Chỉ có thể phân biệt các Swastika bằng cách hiểu rõ ý nghĩa lịch sử của nó. Vì thế, lịch sử là một khoa học rất cần thiết đối với nhận thức nói chung.
(Xem kỳ 1: Lịch sử chữ thập ngoặc)
04/26/08. 07:11:25 am. 4158 words, 225 views. Categories: Văn chương triết lý, Liên kết blogs, Học thuyết, Tôn giáo và tín ngưỡng, Xã hội và nhân văn ,
LỜI TIÊN TRI CỦA "VANGA HUYỀN THOẠI" CHO TƯƠNG LAI

Nữ tiên tri huyền thoại Vanga
Lời tiên tri của huyền thoại Vanga cho tương lai
Source: Dni.ru, Vitinfo
Đêm mùa đông tháng 1/1941, bóng tối bao phủ làng Rupite hẻo lánh ở vùng biên giới Bulgary bỗng chốc bị xé toang bởi sự xuất hiện của một người lạ mặt có ánh sáng mờ ảo vây quanh. Bóng ma đi thẳng tới ngôi nhà của cô gái mù Vanga và nói như ra lệnh: “Thế giới đang đứng trước nguy cơ hủy diệt. Con phải mách bảo nhân loại cần làm gì”.
Kể từ đó Vanga (Vangelia Pandeva Dimitrova) chính thức bắt đầu sự nghiệp “cứu nhân độ thế” bằng những lời tiên tri huyền thoại.

Khi Vanga còn sống, bà được dân tộc Bulgary ngưỡng mộ và kính trọng.
Nữ tiên tri Vanga đã từng có những lời tiên đoán về thảm hoạ toàn cầu hay số phận của các nguyên thủ. Cả cuộc đời bà đã quá mệt mỏi bởi việc chứng kiến hàng loạt thảm hoạ, tham vọng, tranh chấp quyền lực...
Theo lời của Vanga, trong tương lai không xa sẽ xảy ra các vụ mưu sát 4 nhà lãnh đạo chính phủ. Những cuộc xung đột ở Indostan (phần đất ở Nam Á bao gồm Ấn Độ, Afghanistan, Pakistan, Trung Quốc, Tây Tạng) sẽ là một trong những nguyên nhân chính mở màn cho cuộc chiến tranh thế giới thứ 3.

Chân dung của Baba Vanga
Năm 2010 - Năm bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ 3. Cuộc chiến tranh này sẽ bắt đầu vào tháng 11/2010 và kết thúc vào tháng 10/2014. Ban đầu, cuộc chiến tranh diễn ra bình thường, tiếp đó sẽ xuất hiện hàng loạt vũ khí hạt nhân và cuối cùng là vũ khí hóa học.
Năm 2011 - Không một loài động vật, thực vật nào ở Bắc bán cầu có thể sống được do kết quả của quá trình lắng cặn chất phóng xạ. Tiếp đó, những người Hồi giáo (người theo Đạo Hồi) sẽ bắt đầu một cuộc chiến tranh hóa học chống lại người Châu Âu.
Năm 2014 - Phần lớn loài người sẽ bị mắc chứng bệnh mưng mủ, ung thư da và các loại bệnh khác về da do hậu quả cuộc chiến tranh hóa học.
Năm 2016 - Châu Âu gần như không có người sinh sống.
Năm 2018 - Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc thế giới mới. Những nước phát triển sẽ trở thành kẻ bóc lột các nước khác từ việc khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản.
Năm 2023 - Quỹ đạo Trái đất thay đổi.
Năm 2025 - Xuất hiện một bộ phận nhỏ người di cư đến Châu Âu.
Năm 2028 - Loài người sẽ tạo ra một nguồn năng lượng mới, kiểm soát được các phản ứng nhiệt hạch và nạn đói dần dần được khắc phục. Cũng trong thời gian này, con tàu vũ trụ có người lái lần đầu tiên sẽ đổ bộ lên sao Kim.
Năm 2033 - Băng ở các vùng cực sẽ tan chảy. Mực nước ở Thái Bình Dương sẽ dâng cao.
Năm 2043 - Nền kinh tế thế giới phát triển rất phồn thịnh. Người Hồi giáo sẽ cai trị toàn bộ lãnh thổ Châu Âu.
Năm 2046 - Bất kỳ cơ quan nào trong cơ thể người điều có thể được tiến hành cấy ghép. Việc thay thế các cơ quan trong cơ thể sẽ trở thành một trong những phương pháp chữa bệnh hữu hiệu nhất.
Năm 2066 - Trong lúc tấn công thành Roma của người hồi giáo, Mỹ sẽ lợi dụng một loại hình vũ khí mới - vũ khí thời tiết. Trong thời gian này, trời trở lạnh đột ngột.
Năm 2076 - Xã hội không giai cấp hay còn gọi là Chủ nghĩa Cộng sản hình thành.
Năm 2084 - Loài người Sẽ khôi phục lại thiên nhiên.
Năm 2088 - Xuất hiện một căn bệnh lạ “lão hóa chỉ trong vài giây!!!”.
Năm 2097 - Căn bệnh lão hóa khủng khiếp này sẽ lan tràn trên toàn cầu.
Năm 2100 - Loài người sẽ tạo ra những mặt trời nhân tạo chiếu sáng phần tối của quả đất.
Năm 2111 - Con người sẽ trở nên kiệt sức.
Theo lời nữ tiên tri Vanga, vào năm 2123 sẽ xảy ra các cuộc chiến tranh giữa những nước nhỏ.
Năm 2125 - Tại Hung-ga-ri, người ta sẽ nhận được những tín hiệu lạ từ vũ trụ. Cùng thời gian này, loài người lại một lần nữa tưởng nhớ về nữ tiên tri Vanga.
Năm 2130 - Nhiều vùng đất sẽ bị ngập trong nước.
Năm 2164 - Con người sẽ biến thành một loài động vật kinh dị (nửa người, nửa thú).
Năm 2167 - Xuất hiện tôn giáo mới.
Năm 2170 - Xảy ra một đợt hạn hán kéo dài trên Trái đất.
Năm 2187 - Hai miệng núi lửa lớn nhất thế giới sẽ ngừng quá trình phun trào nham thạch.
Năm 2195 - Những quốc gia dọc bờ biển sẽ trở nên khá giả cả về năng lượng lẫn lương thực.
Năm 2196 - Người Châu Á và Châu Âu sẽ sinh sống trà trộn nhau.
Năm 2201 - Quá trình phản ứng nhiệt hạch trên Mặt trời sẽ chấm dứt và bắt đầu thời kỳ nguội lạnh.
Năm 2221 - Trong quá trình tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất, loài người sẽ có cuộc chạm trán rùng rợn.
Năm 2256 - Tàu vũ trụ mang một căn bệnh khủng khiếp về Trái đất.
Năm 2262 - Quỹ đạo của các hành tinh dần bị thay đổi. Cũng thời gian này, sao Chổi sẽ đe dọa đến sự sống còn của sao Hỏa.
Năm 2271 - Các hằng số vật lý lại một lần nữa bị thay đổi.
Năm 2273 - Xảy ra sự xáo trộn giữa các chủng tộc da màu: da vàng, da trắng và da đen. Tiếp đó sẽ xuất hiện các chủng tộc mới.
Năm 2279 - Loài người sẽ lấy năng lượng từ khoảng chân không hoặc từ những lỗ đen.
Năm 2288 - Xuất hiện những cuộc va chạm với người ngoài hành tinh.
Năm 2291 - Mặt trời trở nên nguội lạnh và sau đó lại bùng cháy trở lại.
Năm 2296 - Mặt trời hoạt động mạnh hơn, lực hút vũ trụ bị thay đổi làm cho các trạm vũ trụ và vệ tinh rơi vào tình trạng hỗn loạn, mất phương hướng.
Năm 2299 - Tại Pháp xuất hiện một Đảng mới chống lại người theo Đạo hồi.
Năm 2302 - Phát hiện quy luật và bí mật mới của vũ trụ.
Năm 2304 - Khám phá bí mật Mặt trăng
Năm 2341 - Xuất hiện một thiên thể vô cùng nguy hiểm tiến gần Trái đất.
Năm 2354 - Một trong những mặt trời nhân tạo bị hỏng, kết quả dẫn tới đợt hạn hán kéo dài.
Năm 2371 - Xẩy ra nạn đói lớn.
Năm 2378 - Các bộ tộc mới nhanh chóng được hình thành.
Năm 2480 - Hai mặt trời nhân tạo va vào nhau. Trái đất bị rơi vào tình trạng hỗn loạn.
Năm 3005 - Xuất hiện các “cuộc chiến” mới trên sao Hỏa, quỹ đạo của các hành tinh bị rối loạn.
Năm 3010 - Sao chổi sẽ va vào Mặt trăng, quanh Trái đất lúc này xuất hiện một vành đai toàn đá và bụi.
Năm 3797 - Đây là thời kỳ kết thúc sự sống trên Trái đất. Thời gian này cũng là cơ sở để loài người bắt đầu cuộc sống mới trên một “hệ Mặt trời” khác.
Thu Hiền
04/20/08. 08:50:19 am. 1917 words, 600 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Thiên hạ sự, Chiêm tinh lý số, Liên kết blogs, Khoa học huyền bí, Chuyện huyền bí ,
ĐỌC CHUYỆN HAY: NGÔN NGỮ CÁC LOÀI HOA
Ngôn ngữ của các loài hoa
(Ce que disent les fleurs - George Sand)
Rource: sinhvien aevn
Lan Tử Viên dịch
Thuở tôi còn là cô bé Aurore nhỏ dại, tôi vẫn thường thắc mắc không biết những bông hoa trò chuyện với nhau điều gì. Thầy giáo dạy Sinh có lẽ bị lãng tai, hay có lẽ không muốn tiết lộ sự thật nên thầy quả quyết với tôi rằng chúng không bao giờ nói chuyện.
Riêng tôi vẫn mang trong mình một niềm tin. Tôi mơ hồ nghe tiếng những bông hoa trò chuyện, nhất là khi màn đêm thả những giọt sương êm đềm buông xuống; nhưng chúng nói khẽ lắm, đến nỗi tôi khó có thể nghe thấy tiếng. Khi tôi nhón chân trên lối mòn của khu vườn hay trên con đường nhỏ chạy giữa cánh đồng, những bông hoa giật mình, chúng báo hiệu cho nhau: Suỵt! Yên lặng nào các cậu. Có một con bé tò mò đang lắng nghe chúng ta đấy.
Tôi cố gắng bước đi thật nhẹ, không chạm tới một cọng cỏ để chúng không còn nghe thấy tiếng động nữa, và để tôi có thể tiến thật gần, thật gần, núp dưới bóng cây rậm rạp mà những bông hoa khó phát hiện ra, tôi lắng nghe, lắng nghe...
Cần phải đặc biệt chú ý. Đó là những thanh âm mơ hồ đến nỗi có thể tan loãng trong một làn gió nhẹ và chìm khuất giữa tiếng vỗ cánh của côn trùng.
Tôi không biết những bông hoa xử dụng ngôn ngữ nào. Đó không phải Tiếng Pháp, cũng không phải tiếng La Tinh mà chúng ta được học. Nhưng dù sao tôi vẫn hiểu những lời nói ấy, hiểu hơn bất cứ điều gì tôi từng được nghe.
Một buổi tối, khi tôi đang nằm dài trên cát vì chẳng có việc gì làm cả, tôi đã nghe thấy xung quanh mình dậy lên những âm thanh lao xao. Và đây là điều những bông hoa Mỹ Nhân nói:
- Thưa quý ông, quý bà. Đã đến lúc chúng ta kết thúc tháng ngày nhạt nhẽo này. Tất cả thực vật đều cao quý và dòng họ tôi sẽ không nhường sự cao quý đó cho một dòng họ nào khác. Chúng tôi hoan nghênh những vị muốn đọat chiếc vương miện của nữ hoàng Hoa Hồng. Tôi phải thú thực rằng mình đã chán sự ngự trị của bà ấy rồi. Và tôi nghĩ chẳng kẻ nào có quyền tự nhận chúng có giáo dục và phẩm tước cao hơn tôi.
Những bông hoa cúc đồng thanh cho rằng nhà hùng biện Mỹ Nhân phát biểu thật chí lí. Một bông cúc lớn nhất và đẹp nhất xin phát biểu ý kiến, nó nói:
- Tôi chưa bao giờ cảm thụ được vẻ đẹp của dòng họ Hoa Hồng. Đẹp gì cơ chứ, tôi hỏi các vị nhé, một bông hồng thì rực rỡ hơn tôi, và làm được nhiều việc hơn tôi hay không? Giới tự nhiên và các nhà nghệ thuật đều nhất trí nhân số lượng cánh hoa và màu sắc dòng họ chúng tôi lên nhiều lần nữa cơ. Chúng tôi giàu có hơn cả, vì bông hồng đẹp nhất cũng chỉ có hai trăm cánh, còn chúng tôi có đến hẳn năm trăm cánh. Về màu sắc nhé, chúng tôi mang màu tím và màu ngà xanh mà ở dòng họ hoa hồng có bói cũng chẳng tìm ra được.
- Một bông hoa La lét nói, tôi là hoàng tử Delphinium, tràng hoa của tôi mang màu xanh thẳm bầu trời và bố mẹ tôi có tất cả vẻ đẹp của hoa hồng. Vì thế mà nữ hoàng luôn mong muốn được như dòng họ chúng tôi. Còn hương thơm của bà ấy thì quá là kiêu kỳ...
- Thôi bác đừng nói về điều ấy nữa, bông hoa Mỹ Nhân chép miệng. Kẻo tôi lại cảm thấy cái mùi khó chịu đó bây giờ. Mà tôi hỏi bác nhé, hương thơm là gì nào? - Đó là quy ước giữa ông thợ làm vườn và lũ bướm ong. Mà mùi hoa hồng chẳng ra làm sao cả, chỉ có hương thơm của tôi thôi.
- Chúng tôi chẳng có hương, một bông Mỹ Nhân nói, và tôi nghĩ chúng ta sẽ tổ chức một cuộc thi xem mùi hương nào quý phái nhất vào dịp nào đó. Một bông hoa sang trọng không cần đến hương thơm. Vẻ đẹp của nó đã quá đủ rồi.
- Tôi không tán thành ý kiến của bác chút nào cả, bác Mỹ Nhân ạ, một bông hoa anh túc có mùi hương rất đậm kêu lên. Hương thơm thể hiện cho tinh thần và sức khỏe.
Khắp vườn rộn lên tiếng cười chế giễu câu nói của hoa Anh Túc. Những bông cẩm chướng đứng ngạo nghễ còn cây cỏ Mộc Tế thì cười suýt ngất. Nhưng thay vì nổi giận, Anh Túc bắt đầu phê phán hình dáng và màu sắc của Hoa Hồng. Bụi Hồng vừa được cắt tỉa, những đám rêu tí xíu đã len lỏi trong từng đài hoa nên chúng chẳng phản bác được gì. Một bông Tử La Lan diêm dúa bình phẩm gay gắt những bông hoa kép cứ như thể giống hoa tầm thường này đã độc chiếm khu vườn. Cả bọn bắt đầu giận dữ, tiếp tục cười nhạo và ghen ghét hoa hồng. Păng xê đã thành công khi so sánh bông hồng với cây bắp cải. Tất cả những lời nói ngốc nghếch ấy làm tôi nổi giận và đột nhiên tôi nói ngôn ngữ của chúng:
Im đi những bông hoa ngu ngốc, tôi kêu lên và giẫm lên chúng. Các ngươi chẳng nói được điều gì hay ho cả. Thế mà ta cứ tưởng sẽ được nghe thấy những lời nói đẹp đẽ đầy chất thơ cơ đấy. Chao ôi, sự kiêu hãnh, lố bịch, hèn hạ của các ngươi làm ta thất vọng biết chừng nào!
Khu vườn đột ngột im lặng và tôi rời khỏi chỗ cát ấy.
- Thấy chưa, tôi tự nhủ, đám hoa đồng nội thơm hương này chẳng khác gì lũ bà cô lắm điều, thứ chỉ mang đến cho ta vẻ đẹp giả tạo.
Tôi trượt qua bóng râm hàng rào rậm rạp, tiến về phía thảm cỏ. Tôi muốn biết những cây cúc thúng mà người ta thường gọi là nữ hoàng của đồng nội, kiêu kỳ và tham vọng đến chừng nào. Nhưng tôi đã dừng lại gần một bụi dã tường vi lớn để lắng nghe tất cả những bông tường vi nói với nhau:
Tôi nghĩ : Để xem những bông hồng hoang chế giễu hàng trăm chiếc lá và phê phán bông cúc thúng như thế nào!
Cần phải nói với các bạn rằng, ở thời của tôi không phải chỉ những người thợ làm vườn tài năng mới chế tạo ra nhiều giống hoa hồng đẹp đẽ bằng phương pháp cấy ghép, mà chính thiên nhiên cũng tự làm được điều đó. Có rất nhiều loại hoa hồng đồng nội tuyệt đẹp như là Canina, còn có tên gọi là hoa mõm chó, hoa hồng quế, xạ hương, rubiginosa hoặc là loại rouillé đáng yêu nhất. Cây địa du, tomentosa hay là cây bông, hoa hồng ở dãy núi Alpes... Rồi trong nhiều khu vườn ta tìm thấy những loại hồng mà ngày nay không còn nữa, cánh của chúng có màu đỏ rực rỡ và màu trắng tinh khiết, nhị màu vàngtươi và thơm mùi kẹo cam. Tất nhiên chúng đều là hoa đồng nội nên không hề phàn nàn về mùa hạ khô nóng hay mùa đông khắc khiệt; Bông cúc thúng nhỏ li ti bây giờ đã trở nên cực kỳ hiếm hoi, bông hồng tháng năm bé bỏng nở sớm nhất và tỏa hương thơm ngào ngạt. Ngày nay người ta cứ tiếp tục kiếm tìm vô vọng bông hồng của Damas hay là Provins mà chúng ta đã từng nghe nói đến và chúng chỉ mọc ở Miền Nam nước Pháp thôi. Cuối cùng, là loài hồng một trăm lá, hay là một trăm cánh rất lạ lùng.
Chính cây hồng một trăm lá ấy là loại hồng thú vị nhất. Tôi chẳng đồng ý chút nào khi thầy giáo nói rằng nó là sinh vật kỳ quái do các bác thợ làm vườn tạo ra. Những nhà thơ thường viết, hoa hồng tượng trưng cho vẻ đẹp cổ điển và hương thơm dịu dàng. Nhưng họ không biết bông Hồng Trà của chúng ta không hề thơm mùi hồng, và tất cả những loại hồng yêu kiều nhất giờ đây đều đã biến đổi ít nhiều so với giống thuần túy. Ở trường, tôi được học môn thực vật học; nhưng tôi có cách tiếp cận riêng của mình. Tôi nghĩ hương thơm là một trong những bản sắc của cây cối. Vậy mà thầy giáo - người luôn luôn phì phèo điếu thuốc lá lại phản đối cách phân loại này của tôi. Ông ấy chẳng ngửi thấy mùi gì ngoài thuốc lá, và khi ông thử đánh hơi một loại cây khác, hình như mũi ông đã hoàn toàn vô tác dụng.
Tôi cố gắng nghe những bông hoa dã tường vi kể chuyện với nhau vì chúng đang nói về nguồn gốc của Hoa Hồng.
- Ngồi đây nào bác gió ơi, chúng nói, chúng tôi đang nở rộ đấy. Những bông hồng đẹp nhất vẫn còn ở trong nhụy xanh xanh kia. Bác thấy không, bọn tôi thật tươi mát và trong trẻo, chỉ cần bác lay nhẹ, chúng tôi sẽ tỏa ra mùi hương dịu dàng như nữ hoàng của loài hoa hồng vậy.
- Im lặng đi, các ngươi chỉ là hàng con cháu của Miền Bắc. Ta rất muốn chơi với các ngươi một lúc, nhưng đừng có mà kiêu kỳ khi dám đem so sánh với nữ hoàng của các loài hoa.
- Vâng ạ thưa bác gió thân mến. Chúng tôi rất tôn trọng nữ hoàng và yêu quý cô ấy lắm, những bông dã tường vi trả lời; chúng tôi biết trong khu vườn này có nhiều loài hoa ghen tị với vẻ đẹp của Hoa Hồng. Cô ấy thừa nhận rằng cô ấy chẳng khác gì chúng tôi cả. Cô ấy nói mình là con gái của dã tường vi và vẻ đẹp mà Hoa Hồng có đựơc là do lai tạo và do thiên nhiên bồi đắp. Chúng tôi là những kẻ chẳng biết gì và chẳng biết trả lời như thế nào. Còn bác, bác lớn tuổi hơn chúng tôi nhiều, bác có thể kể cho chúng tôi nghe nguồn gốc của hoa hồng được chứ?
Và cơn gió bắt đầu kể:
- Ngày xưa... cái thời mà muôn loài và tạo vật trên thế gian còn nói ngôn ngữ của thánh thần, ta là con trai cả của đức vua Giông Bão. Đôi cánh đen thẫm của ta vươn tới những chân trời xa xôi nhất, bộ tóc rậm rạp của ta làm rối tung những đám mây. Ta có khuôn mặt đáng sợ và cao quý, ta tập hợp những đám mây trôi nổi về một điểm chân trời và trải chúng thành tấm màn ngăn cách giữa trái đất và vầng dương.
Một thời gian dài ta cùng vua cha và những người anh em cai trị trên hành tinh cằn cỗi. Nhiệm vụ của chúng ta là phá hủy và làm đảo lộn. Giận dữ vì mọi điều tẻ nhạt của thế giới nghèo khổ này, chúng ta không bao giờ để cho sự sống nảy nở và sinh sôi nơi hành tinh mà ngày nay mọi người gọi là Trái Đất. Ta là kẻ khỏe nhất, và điên cuồng nhất trong số những anh em. Khi vua cha ở đó, ông thường nằm dài trên những đỉnh mây mù, và để cho ta tiếp tục hoàn thiện tác phẩm Tàn phá khủng khiếp của mình. Nhưng mặc dù thế, giữa lòng Trái Đất vẫn tồn tại một lực lượng khác, một sức mạnh thánh thần có khả năng bẻ núi, lấp biển, gom nhặt những hạt bụi; vì vậy cội nguồn của sự sống vẫn ra đời và hiện hữu khắp nơi. Chúng ta lại nỗ lực gấp đôi để ngăn chặn sự xuất hiện của lũ sinh vật bé nhỏ chỉ biết chạy trốn hoặc cầu xin chúng ta mủi lòng thương hại cho kiếp phù du của mình; những con ốc mảnh dẻ trôi nổi tìm cách bám vào lớp vỏ cây vẫn còn ẩm đất, len lỏi vào đám bùn hay nguồn nước, hoặc trong đống rác vụn vặt. Chúng ta vùi dập vô vọng những làn sóng tái sinh mạnh mẽ. Cuộc sống vẫn từng ngày, từng ngày nảy nở dưới những hình hài mới, cứ như thể có một thiên tài kiên nhẫn đã sáng tạo ra ngôn ngữ và nhào nặn ra muôn loài.
Chúng ta bắt đầu cảm thấy mệt mỏi vì sức chiụ đựng bền bỉ và không thể nào tàn phá được trên thực tế. Chúng ta đã tiêu diệt rất nhiều nòi giống, và rồi những sinh vật khác lại xuất hiện một cách có tổ chức. Anh em ta cạn kiệt sức lực, bèn bay lên đỉnh mây mù cầu xin vua cha ban cho sức mạnh mới.
Trong khi đức vua gia thêm quyền lực, trái đất không còn sự cai trị hà khắc nữa đã từng phút, từng phút sinh sôi muôn vàn cây cối và động vật dưới những hình dáng khác nhau; Chúng tìm nơi trú ẩn và nguồn thức ăn trong những khu rừng rộng mênh mông hay trên dãy núi dựng đứng, thậm chí cả trong nguồn nước tinh khiết của ao hồ.
- Hãy đi đi, đức vua Giông Bão nói với chúng ta, Trái Đất đã trang điểm như một thiếu nữ chuẩn bị kết hôn với Mặt Trời. Các con hãy bước đến, đổ những cuộn mây thật lớn, khuấy động và thổi tung những cánh rừng, san bằng đỉnh núi, làm đại dương nổi sóng. Hãy đi đi, và đừng bao giờ trở lại chừng nào vẫn còn có một bóng dáng sinh vật tồn tại, chừng nào vẫn còn sót một cái cây đứng giữa cấm địa nơi cuộc sống dám sinh sôi dưới sự cai trị của chúng ta.
Những đứa con của Giông Bão đã bay đi khắp nơi, reo rắc mầm mống cái chết trên toàn Trái Đất; và ta, như một con đại bàng tung cánh qua dải mây, ta đáp xuống vùng Cực Đông nơi những cao nguyên Châu Á hạ gần sát mặt biển dưới một chân trời rực lửa và làm cho nó bùng nổ ngay giữa đám cây cối rậm rạp cùng nhiều thú dữ. Ta cảm thấy một sức mạnh khủng khiếp tuôn chảy trong người, ta kiêu hãnh ban phát sự hỗn độn và cái chết cho tất cả những loài vật yếu đuối dường như sinh ra chỉ để ta thấy mình mạnh mẽ biết bao. Chỉ một lần vẫy cánh, ta đã san phẳng cả vùng, chỉ một hơi thở, ta đã làm trụi lá khu rừng, một niềm vui mù quáng khiến ta choáng váng, ngất ngây..., sự thích thú còn lớn hơn tất cả sức mạnh của tự nhiên.
Đột nhiên không gian dậy lên hương thơm thoảng nhẹ như hơi thở lạ lùng; sững sờ bởi cảm giác vô cùng mới mẻ, ta đã dừng lại để quan sát. Lần đầu tiên ta thấy một sinh vật dám xuất hiện ngay gần mình, một sinh vật dịu dàng, tế nhị và nhỏ tí xíu, Bông hoa hồng!
Ta tiến đến định bóp nát bông hoa đó. Nhưng cô ấy đã khép cánh, nghiêng mình xuống thảm cỏ và nói:
- Xin hãy thương tôi! Tôi dịu dàng và mong manh biết nhường nào! Bạn đừng làm hại tôi nhé!
Ta thổi một luồng gió và bất chợt cảm thấy mình như kẻ say. Ta nằm xuống thảm cỏ thiếp ngủ ngay bên cạnh bông hoa.
Khi ta tỉnh giấc, hoa hồng đang thức. Cô ấy đung đưa những cánh hoa mềm mại để ru ngủ hơi thở của ta.
- Hãy làm bạn của tôi nhé, cô ấy nói. Bạn đừng rời bỏ tôi. Khi đôi cánh khủng khiếp của bạn khép lại, tôi thấy yêu quý bạn lắm, bạn thật đẹp. Bạn chính là chúa tể của khu rừng này. Hơi thở của bạn xoa dịu những khúc ca du dương. Hãy ở lại với tôi, hoặc mang tôi đi theo, để tôi được chiêm ngưỡng gần hơn mặt trời và những đám mây.
Ta đặt cô ấy lên ngực và bay đi. Nhưng dường như cô ấy nhanh chóng tàn lụi, cô ấy không thể nói chuyện được nữa; tuy vậy hương thơm của hoa hồng vẫn làm ta ngất ngây; còn ta lại sợ sẽ làm đau cô ấy, ta bay thật nhẹ, vuốt ve những ngọn cây và cố tránh những va đập mạnh. Ta cứ lướt êm như thế đến tận lâu đài u ám mây nơi vua cha đang đợi.
- Con muốn gì? đức vua nói, Tại sao con dừng lại trước khu rừng bên bờ biển Ấn Độ Dương. Hãy quay về tàn sát nó ngay cho ta.
- Vâng thưa cha, ta trả lời và chỉ cho ông ấy bông hồng; nhưng cha hãy cứu giúp bông hồng này.
- Cứu giúp! Ông ấy kêu lên giận dữ; con muốn cứu cái gì?
Bằng một hơi thở mạnh, ông ấy giật lấy Hoa Hồng trong tay ta, xé thành những mảnh vụn
Ta lao tới để chộp những mẩu hoa còn sót lại, nhưng đức vua đã nổi giận, ta đành quay về chỗ của mình, ngồi buồn rầu sải đôi cánh tỏa ra trong không gian để hứng những chiếc lá Hồng tản mác.
- Ôi đứa con tội nghiệp của ta, ông ấy nói, con đã biết đến niềm tiếc thương rồi sao, vậy thì ngươi không còn là con trai ta nữa. Hãy sống giữa thế giới thảm hại ấy đi, để ta xem ngươi làm nên trò trống gì, còn giờ đây, ngươi không là gì cả.
Rồi ông ấy ném ta xuống vực thẳm, và chẳng bao giờ ngó ngàng đến ta nữa.
Ta lang thang trên đồng cỏ và bất ngờ chạm phải bông hoa hồng chưa khi nào đẹp và thơm hương đến thế.
- Chúa ơi, điều kỳ diệu gì xảy ra vậy? Ta tưởng rằng bạn đã chết, ta đã khóc thương bạn rất nhiều. Làm sao mà bạn hồi sinh được?
- Vâng, cô ấy trả lời, tôi cũng như tất cả muôn loài mà Cuộc sống tạo ra thôi bạn ạ. Bạn hãy nhìn những nụ hoa xung quanh đi. Tối nay tôi sẽ tàn úa, nhưng những anh chị của tôi sẽ ban tặng vẻ đẹp và hương thơm ngày lễ hội của họ để tôi tái sinh. Hãy ở lại với chúng tôi, bạn không phải là người bạn đồng hành thân thiết của chúng tôi hay sao?
Ta cảm thấy xấu hổ vì sự kém cỏi của mình, những giọt nước mắt cứ lã chã rơi rơi. Cuộc Sống đón nhận nước mắt của ta và cảm động. Người hiện thân dưới hình dáng một thiên thần rực rỡ để nói với ta:
- Con đã biết đến tình thương, con đã khóc thương cho bông hoa hồng, ta biết điều đó. Cha của con là vị thần sức mạnh. Nhưng ta còn mạnh mẽ hơn ông ấy nhiều. Vì ông ta chỉ biết hủy diệt, còn ta, ta có thể tái sinh.
Rồi vầng hào quang lan tỏa khắp cơ thể, ta thấy mình mang hình hài một đứa trẻ tuyệt đẹp với khuôn mặt sáng tươi như hoa hồng. Những cánh bướm không còn trên vai nữa, ta có thể tự bay phấp phới với niềm hạnh phúc vô bờ.
- Hãy ở lại với những bông hoa, trú ngụ dưới bóng râm mát của khu rừng, Cuộc sống nói. Bây giờ vòm trời này sẽ che chở và bảo vệ con. Không bao lâu nữa, ta sẽ chiến thắng mọi sự thù nghịch, ta sẽ bay đi khắp thế giới, nơi con được loài người ngợi ca và các thi sĩ hát tặng. - Còn con, bông hồng dịu dàng, con là sinh vật đầu tiên đã cảm hóa được sự cuồng nộ nhờ vào vẻ đẹp của mình, con là sứ giả của hòa bình. Con hãy dạy cho các thế hệ mai sau biết điều đó.
Những món quà quý giá nhất của ta chính là sự duyên dáng, mềm mại, là vẻ đẹp có giá trị hơn nhiều so với sự giàu có và quyền lực.
Hãy dạy cho con cháu biết, bông hồng đáng yêu ạ, rằng trên thế giới này sức mạnh vĩ đại và kiên cường nhất chính là sự khả ái và nền hòa bình. Ta ban tặng cho con tước hiệu mà nhiều thế kỷ sau không bao giờ dám quên: Nữ hoàng của muôn hoa.
Rồi từ đó, ta sống hòa bình với bầu trời, với loài người, động vật và cây cối; ta rất hài lòng vì tự do của mình. Ở đây ta có vô vàn bạn bè, và ta nguyện là đầy tớ của Cuộc Sống, đem những cơn gió lành thổi mát vạn vật. Ta sẽ không bao giờ rời xa trái đất, nơi tình yêu đầu tiên và vĩnh cửu của ta nảy nở. Đúng vậy, những bông hoa thân mến, ta là người yêu chung thủy của Hoa Hồng và tất nhiên cũng là người anh, là bạn bè của các ngươi.
- Bây giờ thì bác gió ơi, tất cả những bông dã tường vi đồng thanh nói, bác hãy xoay chúng tôi những vũ điệu vui nhộn nhất để cùng hát ngợi ca nữ hoàng của chúng ta, hoa hồng một trăm lá miền Cực Đông.
Ngọn gió khẽ động đậy đôi cánh xinh đẹp và trên đầu tôi rung rinh vũ điệu phóng túng của cành lá thay vì nhịp trống và nhịp phách: Có một vài bông dã tường vi phấn khích đến nỗi còn xé toạc một mẩu váy dạ hội và thả những cánh hoa xinh đẹp lên mái tóc của tôi, nhưng mà chúng chẳng chú ý đến điều đó, vẫn say sưa nhảy và say sưa hát:
- Hoan hô nữ hoàng Hoa Hồng, sự dịu dàng của nàng đã khuất phục người con thần Bão! Hoan hô bác gió, người bạn tuyệt vời của muôn hoa!
Khi tôi kể câu chuyện này cho thầy giáo, ông ấy bảo rằng tôi đã bị ốm rồi, rằng tôi phải uống một liều thuốc cảm ngay thôi. Còn bà tôi ôm tôi vào lòng và nói với thầy:
- Tôi sợ rằng ngài chẳng bao giờ nghe được điều muôn hoa nói đâu. Còn tôi, tôi thấy tiếc cái thuở vẫn còn hiểu được ngôn ngữ các loài hoa. Đó chính là thời thơ ấu. Ngài đừng bao giờ nhầm lẫn tuổi trẻ và những căn bệnh hoang tưởng.
Bản tiếng Pháp
Ce que disent les fleurs
George Sand
Quand j’étais enfant, ma chère Aurore, j’étais très tourmentée de ne pouvoir saisir ce que les fleurs se disaient entre elles. Mon professeur de botanique m’assurait qu’elles ne disaient rien ; soit qu’il fût sourd, soit qu’il ne voulût pas me dire la vérité, il jurait qu’elles ne disaient rien du tout. Je savais bien le contraire. Je les entendais babiller confusément, surtout à la rosée du soir ; mais elles parlaient trop bas pour que je pusse distinguer leurs paroles ; et puis elles étaient méfiantes, et, quand je passais près des plates-bandes du jardin ou sur le sentier du pré, elles s’avertissaient par une espèce de psitt, qui courait de l’une à l’autre. C’était comme si l’on eût dit sur toute la ligne : « Attention, taisons-nous ! voilà l’enfant curieux qui nous écoute ». Je m’y obstinai. Je m’exerçai à marcher si doucement, sans frôler le plus petit brin d’herbe, qu’elles ne m’entendirent plus et que je pus m’avancer tout près, tout près ; alors, en me baissant sous l’ombre des arbres pour qu’elles ne vissent pas la mienne, je saisis enfin des paroles articulées. Il fallait beaucoup d’attention ; c’était de si petites voix, si douces, si fines, que la moindre brise les emportait et que le bourdonnement des sphinx et des noctuelles les couvrait absolument. Je ne sais pas quelle langue elles parlaient. Ce n’était ni le français, ni le latin qu’on m’apprenait alors ; mais il se trouva que je comprenais fort bien. Il me sembla même que je comprenais mieux ce langage que tout ce que j’avais entendu jusqu’alors. Un soir, je réussis à me coucher sur le sable et à ne plus rien perdre de ce qui se disait auprès de moi dans un coin bien abrité du parterre. Comme tout le monde parlait dans tout le jardin, il ne fallait pas s’amuser à vouloir surprendre plus d’un secret en une fois. Je me tins donc là bien tranquille, et voici ce que j’entendis dans les coquelicots:
- Mesdames et messieurs, il est temps d’en finir avec cette platitude. Toutes les plantes sont également nobles ; notre famille ne le cède à aucune autre, et, accepte qui voudra la royauté de la rose, je déclare que j’en ai assez et que je ne reconnais à personne le droit de se dire mieux né et plus titré que moi. A quoi les marguerites répondirent toutes ensemble que l’orateur coquelicot avait raison. Une d’elles, qui était plus grande que les autres et fort belle, demanda la parole et dit:
- Je n’ai jamais compris les grands airs que prend la famille des roses. En quoi, je vous le demande, une rose est-elle plus jolie et mieux faite que moi ? La nature et l’art se sont entendus pour multiplier le nombre de nos pétales et l’éclat de nos couleurs. Nous sommes même beaucoup plus riches, car la plus belle rose n’a guère plus de deux cents pétales et nous en avons jusqu’à cinq cents. Quant aux couleurs, nous avons le violet et presque le bleu pur que la rose ne trouvera jamais.
- Moi, dit un grand pied d’alouette vivace, moi le prince Delphinium, j’ai l’azur des cieux dans ma corolle, et mes nombreux parents ont toutes les nuances du rose. La prétendue reine des fleurs a donc beaucoup à nous envier, et, quant à son parfum si vanté...
- Ne parlez pas de cela, reprit vivement le coquelicot. Les hâbleries du parfum me portent sur les nerfs. Qu’est-ce, je vous prie, que le parfum ? Une convention établie par les jardiniers et les papillons. Moi, je trouve que la rose sent mauvais et que c’est moi qui embaume.
- Nous ne sentons rien, dit la marguerite, et je crois que par là nous faisons preuve de tenue et de bon goût. Les odeurs sont des indiscrétions ou des vanteries. Une plante qui se respecte ne s’annonce point par des émanations. Sa beauté doit lui suffire.
- Je ne suis pas de votre avis, s’écria un gros pavot qui sentait très fort. Les odeurs annoncent l’esprit et la santé. Les rires couvrirent la voix du gros pavot. Les oeillets s’en tenaient les côtes et les résédas se pâmaient. Mais, au lieu de se fâcher, il se remit à critiquer la forme et la couleur de la rose qui ne pouvait répondre ; tous les rosiers venaient d’être taillés et les pousses remontantes n’avaient encore que de petits boutons bien serrés dans leurs langes verts. Une pensée fort richement vêtue critiqua amèrement les fleurs doubles, et, comme celles-ci étaient en majorité dans le parterre, on commença à se fâcher. Mais il y avait tant de jalousie contre la rose, qu’on se réconcilia pour la railler et la dénigrer. La pensée eut même du succès quand elle compara la rose à un gros chou pommé, donnant la préférence à celui-ci à cause de sa taille et de son utilité. Les sottises que j’entendais m’exaspérèrent et, tout à coup, parlant leur langue :
- Taisez-vous, m’écriai-je en donnant un coup de pied à ces sottes fleurs. Vous ne dites rien qui vaille. Moi qui m’imaginais entendre ici des merveilles de poésie, quelle déception vous me causez avec vos rivalités, vos vanités et votre basse envie ! Il se fit un profond silence et je sortis du parterre.
- Voyons donc, me disais-je, si les plantes rustiques ont plus de bon sens que ces péronnelles cultivées, qui en recevant de nous une beauté d’emprunt, semblent avoir pris nos préjugés et nos travers. Je me glissai dans l’ombre de la haie touffue, me dirigeant vers la prairie ; je voulais savoir si les spirées qu’on appelle reine des prés avaient aussi de l’orgueil et de l’envie. Mais je m’arrêtai auprès d’un grand églantier dont toutes les fleurs parlaient ensemble.
- Tâchons de savoir, pensai-je, si la rose sauvage dénigre la rose à cent feuilles et méprise la rose pompon. Il faut vous dire que, dans mon enfance, on n’avait pas créé toutes ces variétés de roses que les jardiniers savants ont réussi à produire depuis, par la greffe et les semis. La nature n’en était pas plus pauvre pour cela. Nos buissons étaient remplis de variétés nombreuses de roses à l’état rustique : la canina, ainsi nommée parce qu’on la croyait un remède contre la morsure des chiens enragés ; la rose canelle, la musquée, la rubiginosa ou rouillée, qui est une des plus jolies ; la rose pimprenelle, la tomentosa ou cotonneuse, la rose alpine, etc., etc. Puis, dans les jardins nous avions des espèces charmantes à peu près perdues aujourd’hui, une panachée rouge et blanc qui n’était pas très fournie en pétales, mais qui montrait sa couronne d’étamines d’un beau jaune vif et qui avait le parfum de la bergamote. Elle était rustique au possible, ne craignant ni les étés secs ni les hivers rudes ; la rose pompon, grand et petit modèle, qui est devenue excessivement rare ; la petite rose de mai, la plus précoce et peut-être la plus parfumée de toutes, qu’on demanderait en vain aujourd’hui dans le commerce, la rose de Damas ou de Provins que nous savions utiliser et qu’on est obligé, à présent, de demander au midi de la France ; enfin, la rose à cent feuilles ou, pour mieux dire, à cent pétales, dont la patrie est inconnue et que l’on attribue généralement à la culture.
C’est cette rose centifolia qui était alors, pour moi comme pour tout le monde, l’idéal de la rose, et je n’étais pas persuadée, comme l’était mon précepteur, qu’elle fût un monstre dû à la science des jardiniers. Je lisais dans mes poètes que la rose était de toute antiquité le type de la beauté et du parfum. A coup sûr, ils ne connaissaient pas nos roses thé qui ne sentent plus la rose, et toutes ces variétés charmantes qui, de nos jours, ont diversifié à l’infini, mais en l’altérant essentiellement, le vrai type de la rose. On m’enseignait alors la botanique. Je n’y mordais qu’à ma façon. J’avais l’odorat fin et je voulais que le parfum fût un des caractères essentiels de la plante ; mon professeur, qui prenait du tabac, ne m’accordait pas ce critérium de classification. Il ne sentait plus que le tabac, et, quand il flairait une autre plante, il lui communiquait des propriétés sternutatoires tout à fait avilissantes. J’écoutai donc de toutes mes oreilles ce que disaient les églantiers au-dessus de ma tête, car, dès les premiers mots que je pus saisir, je vis qu’ils parlaient des origines de la rose.
- Reste ici, doux zéphyr, disaient-ils, nous sommes fleuris. Les belles roses du parterre dorment encore dans leurs boutons verts. Vois, nous sommes fraîches et riantes, et, si tu nous berces un peu, nous allons répandre des parfums aussi suaves que ceux de notre illustre reine. J’entendis alors le zéphyr qui disait:
- Taisez-vous, vous n’êtes que des enfants du Nord. Je veux bien causer un instant avec vous, mais n’ayez pas l’orgueil de vous égaler à la reine des fleurs.
- Cher zéphyr, nous la respectons et nous l’adorons, répondirent les fleurs de l’églantier ; nous savons comme les autres fleurs du jardin en sont jalouses. Elles prétendent qu’elle n’est rien de plus que nous, qu’elle est fille de l’églantier et ne doit sa beauté qu’à la greffe et à la culture. Nous sommes des ignorantes et ne savons pas répondre. Dis-nous, toi qui es plus ancien que nous sur la terre, si tu connais la véritable origine de la rose.
- Je vous la dirai, car c’est ma propre histoire ; écoutez-la, et ne l’oubliez jamais. Et le zéphyr raconta ceci:
- Au temps où les êtres et les choses de l’univers parlaient encore la langue des dieux, j’étais le fils aîné du roi des orages. Mes ailes noires touchaient les deux extrémités des plus vastes horizons, ma chevelure immense s’emmêlait aux nuages. Mon aspect était épouvantable et sublime, j’avais le pouvoir de rassembler les nuées du couchant et de les étendre comme un voile impénétrable entre la terre et le soleil.»
Longtemps je régnai avec mon père et mes frères sur la planète inféconde. Notre mission était de détruire et de bouleverser. Mes frères et moi, déchaînés sur tous les points de ce misérable petit monde, nous semblions ne devoir jamais permettre à la vie de paraître sur cette scorie informe que nous appelons aujourd’hui la terre des vivants. J’étais le plus robuste et le plus furieux de tous. Quand le roi mon père était las, il s’étendait sur le sommet des nuées et se reposait sur moi du soin de continuer l’oeuvre de l’implacable destruction. Mais, au sein de cette terre, inerte encore, s’agitait un esprit, une divinité puissante, l’esprit de la vie, qui voulait être, et qui, brisant les montagnes, comblant les mers, entassant les poussières, se mit un jour à surgir de toutes parts. Nos efforts redoublèrent et ne servirent qu’à hâter l’éclosion d’une foule d’êtres qui nous échappaient par leur petitesse ou nous résistaient par leur faiblesse même ; d’humbles plantes flexibles, de minces coquillages flottants prenaient place sur la croûte encore tiède de l’écorce terrestre, dans les limons, dans les eaux, dans les détritus de tout genre. Nous roulions en vain les flots furieux sur ces créations ébauchées. La vie naissait et apparaissait sans cesse sous des formes nouvelles, comme si le génie patient et inventif de la création eût résolu d’adapter les organes et les besoins de tous les êtres au milieu tourmenté que nous leur faisions. » Nous commencions à nous lasser de cette résistance passive en apparence, irréductible en réalité. Nous détruisons des races entières d’êtres vivants, d’autres apparaissaient organisés pour nous subir sans mourir. Nous étions épuisés de rage. Nous nous retirâmes sur le sommet des nuées pour délibérer et demander à notre père des forces nouvelles. » Pendant qu’il nous donnait de nouveaux ordres, la terre un instant délivrée de nos fureurs se couvrit de plantes innombrables où des myriades d’animaux, ingénieusement conformés dans leurs différents types, cherchèrent leur abri et leur nourriture dans d’immenses forêts ou sur les flancs de puissantes montagnes, ainsi que dans les eaux épurées de lacs immenses. » - Allez, nous dit mon père, le roi des orages, voici la terre qui s’est parée comme une fiancée pour épouser le soleil. Mettez-vous entre eux. Entassez les nuées énormes, mugissez, et que votre souffle renverse les forêts, aplanisse les monts et déchaîne les mers. Allez, et ne revenez pas, tant qu’il y aura encore un être vivant, une plante debout sur cette arène maudite où la vie prétend s’établir en dépit de nous. » Nous nous dispersâmes comme une semence de mort sur les deux hémisphères, et moi, fendant comme un aigle le rideau des nuages, je m’abattis sur les antiques contrées de l’extrême Orient, là où de profondes dépressions du haut plateau asiatique s’abaissant vers la mer sous un ciel de feu, font éclore, au sein d’une humidité énergique, les plantes gigantesques et les animaux redoutables. J’étais reposé des fatigues subies, je me sentais doué d’une force incommensurable, j’étais fier d’apporter le désordre et la mort à tous ces faibles qui semblaient me braver. D’un coup d’aile, je rasais toute une contrée ; d’un souffle, j’abattais toute une forêt, et je sentais en moi une joie aveugle, enivrée, la joie d’être plus fort que toutes les forces de la nature. » Tout à coup un parfum passa en moi comme par une aspiration inconnue à mes organes, et, surpris d’une sensation si nouvelle, je m’arrêtai pour m’en rendre compte. Je vis alors pour la première fois un être qui était apparu sur la terre en mon absence, un être frais, délicat, imperceptible, la rose ! » Je fondis sur elle pour l’écraser. Elle plia, se coucha sur l’herbe et me dit : » - Prends pitié ! je suis si belle et si douce ! respire-moi, tu m’épargneras. » Je la respirai et une ivresse soudaine abattit ma fureur. Je me couchai sur l’herbe et je m’endormis auprès d’elle. » Quand je m’éveillai, la rose s’était relevée et se balançait mollement, bercée par mon haleine apaisée. » - Sois mon ami, me dit-elle. Ne me quitte plus. Quand tes ailes terribles sont pliées, je t’aime et te trouve beau. Sans doute tu es le roi de la forêt. Ton souffle adouci est un chant délicieux. Reste avec moi, ou prends-moi avec toi, afin que j’aille voir de plus près le soleil et les nuages. » Je mis la rose dans mon sein et je m’envolai avec elle. Mais bientôt il me sembla qu’elle se flétrissait ; alanguie, elle ne pouvait plus me parler ; son parfum, cependant, continuait à me charmer, et moi, craignant de l’anéantir, je volais doucement, je caressais la cime des arbres, j’évitais le moindre choc. Je remontai ainsi avec précaution jusqu’au palais de nuées sombres où m’attendait mon père. » - Que veux-tu ? me dit-il, et pourquoi as-tu laissé debout cette forêt que je vois encore sur les rivages de l’Inde ? Retourne l’exterminer au plus vite. » - Oui, répondis-je en lui montrant la rose, mais laisse-moi te confier ce trésor que je veux sauver. » - Sauver ! s’écria-t-il en rugissant de colère ; tu veux sauver quelque chose ? » Et, d’un souffle, il arracha de ma main la rose, qui disparut dans l’espace en semant ses pétales flétries. » Je m’élançai pour ressaisir au moins un vestige ; mais le roi, irrité et implacable, me saisit à mon tour, me coucha, la poitrine sur mon genou, et, avec violence, m’arracha mes ailes, dont les plumes allèrent dans l’espace rejoindre les feuilles dispersées de la rose. » - Misérable enfant, me dit-il, tu as connu la pitié, tu n’es plus mon fils. Va-t’en rejoindre sur la terre le funeste esprit de la vie qui me brave, nous verrons s’il fera de toi quelque chose, à présent que, grâce à moi, tu n’es plus rien. « Et, me lançant dans les abîmes du vide, il m’oublia à jamais. » Je roulai jusqu’à la clairière et me trouvai anéanti à côté de la rose, plus riante et plus embaumée que jamais. » - Quel est ce prodige ? Je te croyais morte et je te pleurais. As-tu le don de renaître après la mort ? » - Oui, répondit-elle, comme toutes les créatures que l’esprit de vie féconde. Vois ces boutons qui m’environnent. Ce soir, j’aurai perdu mon éclat et je travaillerai à mon renouvellement, tandis que mes sœurs te charmeront de leur beauté et te verseront les parfums de leur journée de fête. Reste avec nous ; n’es-tu pas notre compagnon et notre ami ? » J’étais si humilié de ma déchéance, que j’arrosais de mes larmes cette terre à laquelle je me sentais à jamais rivé. L’esprit de la vie sentit mes pleurs et s’en émut. Il m’apparut sous la forme d’un ange radieux et me dit : » - Tu as connu la pitié, tu as eu pitié de la rose, je veux avoir pitié de toi. Ton père est puissant, mais je le suis plus que lui, car il peut détruire et, moi, je peux créer. » En parlant ainsi, l’être brillant me toucha et mon corps devint celui d’un bel enfant avec un visage semblable au coloris de la rose. Des ailes de papillon sortirent de mes épaules et je me mis à voltiger avec délices. » - Reste avec les fleurs, sous le frais abri des forêts, me dit la fée. A présent, ces dômes de verdure te cacheront et te protégeront. Plus tard, quand j’aurai vaincu la rage des éléments, tu pourras parcourir la terre, où tu seras béni par les hommes et chanté par les poètes. - Quant à toi, rose charmante qui, la première as su désarmer la fureur par la beauté, sois le signe de la future réconciliation des forces aujourd’hui ennemies de la nature. Tu seras aussi l’enseignement des races futures, car ces races civilisées voudront faire servir toutes choses à leurs besoins. Mes dons les plus précieux, la grâce, la douceur et la beauté risqueront de leur sembler d’une moindre valeur que la richesse et la force. Apprends-leur, aimable rose, que la plus grande et la plus légitime puissance est celle qui charme et réconcilie. Je te donne ici un titre que les siècles futurs n’oseront pas t’ôter. Je te proclame reine des fleurs ; les royautés que j’institue sont divines et n’ont qu’un moyen d’action, le charme. » Depuis ce jour, j’ai vécu en paix avec le ciel, chéri des hommes, des animaux et des plantes ; ma libre et divine origine me laisse le choix de résider où il me plaît mais je suis trop l’ami de la terre et le serviteur de la vie à laquelle mon souffle bienfaisant contribue, pour quitter cette terre chérie où mon premier et éternel amour me retient. Oui mes chères petites, je suis le fidèle amant de la rose et par conséquent votre frère et votre ami ».
- En ce cas, s’écrièrent toutes les petites roses de l’églantier, donne-nous le bal et réjouissons-nous en chantant les louanges de madame la reine, la rose à cent feuilles de l’Orient. Le zéphyr agita ses jolies ailes et ce fut au-dessus de ma tête une danse effrénée, accompagnée de frôlements de branches et de claquement de feuilles en guise de timbales et de castagnettes : il arriva bien à quelques petites folles de déchirer leur robe de bal et de semer leurs pétales dans mes cheveux ; mais elles n’y firent pas attention et dansèrent de plus belle en chantant:
- Vive la belle rose dont la douceur a vaincu le fils des orages! vive le bon zéphyr qui est resté l’ami des fleurs! Quand je racontai à mon précepteur ce que j’avais entendu, il déclara que j’étais malade et qu’il fallait m’administrer un purgatif. Mais ma grand’mère m’en préserva en lui disant:
- Je vous plains si vous n’avez jamais entendu ce que disent les roses. Quant à moi, je regrette le temps où je l’entendais. C’est une faculté de l’enfance. Prenez garde de confondre les facultés avec les maladies!
04/20/08. 06:42:15 am. 9831 words, 321 views. Categories: Thơ văn, Văn chương triết lý, Liên kết blogs, Ðọc sách hay, Xã hội và nhân văn ,
ÐƯA TOÀN BỘ BẢN GỐC HỌC THUYẾT DARWIN LÊN MẠNG INTERNET

Ảnh: AFP
Đưa toàn bộ bản gốc Học thuyết Darwin lên mạng internet
Source: AFP, TTXVN
Toàn bộ bản gốc của Học thuyết tiến hóa của nhà khoa học lỗi lạc người Anh Charles Darwin đã được công bố lên mạng internet ngày 17.4, cùng với nó là một kho tàng chứa hàng nghìn tài liệu nghiên cứu khoa học, các hình ảnh và tài liệu ghi chép quan trọng khác trong suốt cuộc đời nghiên cứu của ông.
Người phát ngôn trường Đại học Cambridge, nơi Darwin từng làm việc và nghiên cứu, thông báo khoảng 90.000 bức ảnh chụp bản gốc các công trình nghiên cứu của Darwin đã được đưa lên mạng internet, trong đó đáng chú ý nhất là những bản thảo đầu tiên của Darwin vào những năm 1840, bước khởi đầu cho việc ra đời công trình nghiên cứu vỹ đại "Nguồn gốc các loài" (The Origin of Species) của Darwin vào năm 1859, đặt nền móng vững chắc cho học thuyết Tiến hóa.

Trang web darwin-online.org.uk
Ông John van Wyhe, Giám đốc dự án "The Complete Work of Charles Darwin Online" cho biết việc đưa lên mạng internet toàn bộ các tài liệu gốc nghiên cứu của Darwin giúp cả thế giới có thể tiếp cận và tìm hiểu về những tài liệu nghiên cứu cá nhân, các bản ghi chép, các công trình nghiên cứu và thử nghiệm của Darwin. Việc làm này cũng nhằm để thế giới đánh giá đúng giá trị của một trong những tuyển tập tài liệu khoa học quan trọng nhất trong lịch sử khoa học thế giới và là một kho tàng nghiên cứu cho nhân loại.

Hí họa giáo sư Darwin đang ôm con vượn người anh em, đăng trên báo Figaro tại Luân Đôn năm 1874
Cùng với "Nguồn gốc các loài" và các tài liệu nghiên cứu khác, tuyển tập nói trên còn có các bức ảnh của Darwin, gia đình ông, những bài viết nhận xét và đánh giá về các công trình nghiên cứu của ông. Ngoài ra, trong tuyển tập này còn có những bản ghi chép về chuyến thám hiểm nổi tiếng của ông trên tàu HMS Beagle, kéo dài 5 năm bắt đầu từ năm 1831, đưa Darwin từ Nam Mỹ tới Úc, nơi ông đã sưu tầm được rất nhiều mẫu hóa thạch và sinh vật sống. Những sưu tầm này đã giúp ông rất nhiều trong các công trình nghiên cứu sau này khi ông trở về Anh.
Học thuyết tiến hóa của Darwin giải thích sự tiến hóa của các loài thông qua sự biến đổi về lượng dẫn tới sự biến đổi về chất. Những phát hiện của ông cho đến nay vẫn được coi là những căn cứ khoa học căn bản để phục vụ những nghiên cứu về sinh học.
Toàn bộ tuyển tập này được đăng tải trên trang web http://www.darwin-online.org.uk, bằng tiếng Anh, Đan Mạch, Đức, Na Uy và Nga.
04/19/08. 10:35:45 pm. 784 words, 115 views. Categories: Khảo cổ và nhân chủng, Văn chương triết lý, Liên kết blogs, Học thuyết ,
NGÀY TÀN
NGÀY TÀN CỦA TRÁI ÐẤT

Mặt trời - Ảnh: AFP
Source: AFP, thanhnien
Tin xấu: trái đất sẽ bị sức nóng mặt trời tiêu diệt và sau đó bị nuốt chửng. Tin tốt: ngày tận thế đó còn cách đây... 7,6 tỉ năm.
Robert Smith, phó giáo sư danh dự Đại học Sussex (Anh), trước đó đã tính toán rằng, khi mặt trời hết nhiên liệu, nó sẽ nở phồng thành một ngôi sao khổng lồ màu đỏ đầy nguy hiểm. Dù vậy ông cho rằng trái đất có thể thoát khỏi sự tận diệt hoàn toàn.
Thế nhưng, ông Smith đã thay đổi kết luận sau các cuộc nghiên cứu với giáo sư Klaus-Peter Schroeder tại Đại học Guanajuato (Mexico). Các dữ liệu phân tích cho thấy tầng khí quyển mỏng manh bên ngoài của mặt trời kéo dài khỏi bề mặt hữu hình của nó. Kết quả là trái đất thật sự xoay bên trong các lớp khí loãng này và lực kéo xuất phát từ lớp khí đủ mạnh để trái đất trượt về hướng mặt trời. Cuối cùng trái đất sẽ bốc hơi hoàn toàn khi bị mặt trời "tóm" được.NÚI LỬA ÐÃ GIẾT CHẾT KHỦNG LONG

Ảnh: AFP
Source: AFP, science, thanhnien
Đó là giả thuyết mới của các chuyên gia ở Đại học Mở tại Anh sau khi nghiên cứu các chứng cứ mới được tìm thấy tại Deccan Traps, Ấn Độ. Những vụ núi lửa phun vĩ đại, hình thành nên cái gọi là "dòng chảy Basalt", là một trong 2 giả thuyết chính về sự diệt vong của nhiều loại sinh vật trên diện rộng trong từng giai đoạn lịch sử của trái đất.
Giả thuyết còn lại chính là vụ thiên thạch rơi xuống trái đất, gây biến đổi lớn về khí hậu. Sau khi tìm được những hình dạng hiếm của thủy tinh trong đá ở Deccan, các nhà khoa học Anh phát hiện một thông tin vô cùng quan trọng.
Theo bản báo cáo đăng trên Tạp chí Science, nhóm khoa học gia kết luận rằng một chuỗi các vụ núi lửa phun, hình thành nên Deccan Traps, đã thải một lượng khí sulphur và chlorine cực lớn vào khí quyển cách đây 65 triệu năm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường.
Hậu quả là những cơn mưa a-xít diễn ra triền miên và những vụ khí a-xít sulphuric bị phun vào không khí, làm nguội bề mặt trái đất. Đây là lý do gây nên sự hủy diệt hàng loạt các giống nòi trên trái đất, bao gồm cả loài khủng long.
VỤ NỔ KHỦNG KHIẾP TRONG VŨ TRỤ

Ảnh: AFP
Source: NASA, thanhnien
Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) đã phát hiện một vụ nổ vũ trụ phát ra ánh sáng mạnh nhất được ghi nhận từ trước đến nay. Vụ nổ năng lượng khủng khiếp đã xảy ra vào thời điểm trước khi trái đất được sinh ra, nhưng nay có thể nhìn thấy bằng mắt thường từ trái đất.
Toàn bộ quá trình vụ nổ tia gamma đã được vệ tinh Swift theo dõi vào hôm 19.3 mà không cần sự trợ giúp về phương tiện thị giác nào. Theo quan chức NASA, nếu một người nào đó bất chợt nhìn lên trời vào đúng thời điểm và đúng vị trí, họ có thể nhìn thấy vụ nổ trên. Cho đến nay, vật thể trong không gian có thể nhìn thấy bằng mắt thường là thiên hà M33, có khoảng cách "khá gần" trái đất là 2,9 triệu năm ánh sáng.
Các vụ nổ tia gamma được đánh giá là một trong những hiện tượng mãnh liệt nhất xảy ra trong vũ trụ. Thậm chí NASA còn miêu tả chúng là những vụ nổ dữ dội nhất kể từ sự kiện Big Bang. Những vụ nổ trên xảy ra khi các ngôi sao cực lớn sử dụng hết nhiên liệu và phần nhân của chúng sụp đổ, hình thành nên những lỗ đen hoặc các ngôi sao neutron. Những ngôi sao này phát ra các tia gamma, tống các phân tử ra không gian với tốc độ gần bằng vận tốc ánh sáng.T.M
04/19/08. 10:26:11 pm. 1054 words, 103 views. Categories: Góp nhặt, Khoa học và ðời sống, Thiên văn và vũ trụ, Liên kết blogs ,
KHÍ CÔNG TÂY TẠNG VÀ NHẬT BẢN
Khí công Tây Tạng
The Wondrous World of Chi Power
Thế giới tuyệt diệu của khí công
Wa-Jutsu - Ki projection by Jacques-Jean Quéro
Khí công Wa-Jutsu do Jacques-Jean Quéro biểu diễn
Về môn Oguri Ryu Wajutsu, gọi vắn tắt là Wajutsu (tạm dịch là Hòa Thuật)
Ông Oguri Niemon Masanobu (1582-?), con của Oguri Mataichi Nobuyasu và là người sáng lập ra môn Oguri Ryu, trong thời trẻ đã học từ ông Yagyu Shinkage Ryu là học trò của nhà kiếm đạo nổi tiếng Yagyu Sekishusai Muneyoshi. Sau trận chiến tại Osaka, vào khoảng năm 1616, ông Oguri Niemon Masanobu đã đi đến Nagasaki và phát triển nên một hệ thống võ thuật mà ông lấy tên dựa vào một nguyên lý của nó: Wajutsu hay là "Hòa Thuật" (Nghệ thuật hòa bình). Môn Wajutsu có hai hệ thống chính, một gọi là Urawaza (Nội Hòa Thuật), và một là Omotewaza (Ngoại Hòa Thuật) bao gồm kiếm thuật. Vào năm 1623, Yamanouchi Tadatoya là sứ quân của vùng Tosa đã mời Oguri Niemon về dạy môn Oguri Ryu trong vùng. Suốt ba thế hệ đã dạy ở trường Tosa-Daimyo, truyền thống tiếp tục truyền thụ đến thời Asahina Enzaemon. Dựa vào mối liên hệ với vùng Tosa, môn Oguri Ryu đôi khi được gọi là Tosa Han Wajutsu. Một ngôi trường khác cũng nổi danh về môn Wajutsu (Hoà Thuật) là trường Horikuchi Ryu ở vùng Yato, Okayama của Nhật.
Quý vị và các bạn có thể click vào dưới đây để xem thêm chi tiết:
http://www.tenshukaku.de/kumi2.htm
Lê Tự Do
04/18/08. 12:38:46 pm. 384 words, 408 views. Categories: Thể thao và võ thuật, Liên kết blogs, Video tài liệu, Video chuyên ðề ,
CÓ THỂ CÓ NỀN VĂN MINH KHÁC TRONG RUỘT QUẢ ÐẤT KHÔNG?

Nền văn minh khác của nhân loại có thể nằm sâu trong lòng quả đất - Agartha, thành phố huyền thoại nằm trong lõi trái đất
Ảnh: crystalinks.com
Có thể có nền văn minh khác trong lòng quả đất
Source: Pravda.Ru
Kể từ thời cổ đại, việc thám hiểm phương bắc là một điều hấp dẫn vô kể đối với loài người, nó thúc đẩy các nhà thám hiểm và nghiên cứu đi kiếm tìm những khu vực huyền bí và những hòn đảo chưa hề được phát hiện.

Nhiều người tin rằng UFO không những chỉ đến từ ngoài không gian mà đến cả từ ruột trái đất nữa
Huyền thoại kể lại rằng ở đâu đó nơi phương Bắc có một lối vào vương quốc trong ruột trái đất, và những bộ lạc cổ trong huyền thoại sống trên hành tinh này nhiều thế kỷ trước đã xử dụng lối vào đó làm nơi cư trú trong lòng đất. Huyền thoại tin rằng lối vào các khu vực huyền bí Hyperboria, cung trời Sambala và Plutonia là được che giấu cẩn thận để người ngoài không thể thấy được, những nơi đó nằm rất gần Bắc cực. Vừa qua, một báo cáo rất đáng tin cậy cho biết rằng những vật thể lạ không gian UFO đến hành tinh này không phải khởi hành từ không gian, nhưng phóng ra từ những lỗ lớn nằm bên dưới Bắc Cực.

Cung trời Shambala
Trong thời Plato, thoạt tiên người ta phỏng đoán rằng có lẽ có sự sống hiện hữu bên trong lòng trái đất. Plato tin rằng trong lòng trái đất là chằng chịt đầy dẫy những đường hầm và hang động. Nhà nghiên cứu Edmond Halley khi tìm hiểu về từ trường của quả đất, ông để ý thấy nó có những biến thiên nhẹ mà ông cho rằng có nhiều từ trường một lúc. Nhà nghiên cứu giả định rằng có một quả cầu khác với từ trường riêng của nó nằm ở trong lòng quả đất. Ý tưởng về một hành tinh rỗng là rất phổ biến trong giới những người viết chuyện khoa học giả tưởng trong một thời gian dài. Và một số nhà nghiên cứu thậm chí còn đưa ra những ước tính và thí nghiệm khác nhau để chứng minh rằng địa cầu thực ra là rỗng ruột.
Bánh xe thời gian Kalachakra Mandala của Phật giáo Tây Tạng, cung trời Shambala nằm ở vị trí trung tâm
Nên biết rằng cái ý nghĩ về những hố sâu trong lòng quả đất đã có từ thời cổ đại. Bảy chục năm trước đây, bản đồ phương Bắc cho thấy là một phần ba lãnh địa vẫn chưa có ai thám hiểm cả, và như vậy là chỉ có Trời mới biết được những điều về phương Bắc huyền bí có thể đã hiện hữu lúc đó.
Tiến sĩ về khoa học địa cầu và khoáng sản, Viện sĩ Mark Sadikov thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Tự Nhiên Nga quả quyết rằng ở phương Bắc không hề có cái lỗ nào có thể dẫn vào những vùng trong lòng đất cả. Lãnh thổ phương Bắc là một vùng biển sâu gọi là Ðại Dương Bắc Cực với những nếp lằn và những trũng sâu nằm giữa chúng.
Maria Gavrilo, làm việc trong ngành địa dư các nước vùng cực thuộc Viện Nghiên Cứu Nam và Bắc Cực, cho biết là đã nhìn thấy tận mắt những cái lỗ trong vùng Bắc Cực khi mình ở đó. Chuyên gia này còn thêm rằng Bắc Cực là một đại dương che phủ bỡi băng, và đây là một dữ kiện tuyệt đối có thể chứng minh được. Ðã có rất nhiều cố gắng đi tìm đất ở đó nhưng đều vô vọng. Bây giờ là thế kỷ 21, người ta đã dùng nhiều phương pháp khác nhau để nghiên cứu kỹ lưỡng vùng này.
Các chuyên gia về lý thuyết quả đất lõm thì lại quả quyết rằng hành tinh chúng ta có nhiều từ trường khác nhau. Họ cũng cho rằng hiện tượng cực quang hay còn gọi là bình minh địa cực là những hơi thoát ra từ lớp vỏ mỏng của trái đất trong vùng địa cực. Hơn thế nữa, những người theo ý tưởng này còn nhấn mạnh rằng các la bàn đưa đến càng gần địa cực thì càng rối loạn. Nhiều nhà nghiên cứu còn thêm rằng các luồng gió ấm thổi từ phương Bắc xuống chứng tỏ rằng có những hố rỗng lớn hiện hữu nơi đó.
Bắc cực quang
Viện sĩ Mark Sadikov nói rằng quả thực có nhiều từ trường. Kể cả một vài từ trường thuộc về các dàn khoan cũ. Còn về gió là do sự thay đổi về thời tiết và khí hậu mà sinh ra. Có hai từ trường, của Bắc Cực và Nam Cực, Maria Gavrilo cho biết. Cả hai cực đều chênh lệch khá nhiều. Những nghiên cứu kỹ lưỡng cho thấy lực từ ở mỗi cực đều không ổn định, và có thể di chuyển sang nơi khác. Các chuyên gia cho rằng hiện tượng bình minh địa cực hay còn gọi là cực quang ( Aurora ) là hiện tượng duy nhất phát sinh từ ánh sáng của các nguyên tử bị kích động ở trên những tầng khí quyển cao, tập trung thành một vòng cung nằm ở bên trên các vùng cực, vì vậy người ta có thể nhìn thấy nó từ xa. Các phi hành gia không gian đã nhìn thấy toàn bộ trái đất được ánh sáng bao quanh như hào quang, nhưng cư dân địa cầu thì chỉ có thể nhìn thấy được ánh sáng trên địa cực mà thôi. Cực quang là rất mạnh, nó có thể có tác động đối với tâm thần con người và làm nhiễu loạn tần số radio.
Nam cực quang
Các nhà nghiên cứu nói rằng hiện tượng la bàn bị nhiễu loạn khi tiến gần tới địa cực là chuyện bình thường. Quả thật, từ trường ở bên trong cực là mạnh nhất, vì vậy nó làm cho la bàn di chuyển rối loạn.
Ðại đa số giả thuyết liên quan đến ý tưởng về hành tinh rỗng là dựa vào phỏng đoán chứ không phải dữ kiện khoa học. Ðó là lý do tại sao những nhà nghiên cứu nghiêm chỉnh đương thời không có ý kiến về những lý thuyết này. Bắc Cực đã được nghiên cứu tỉ mỉ. Các cuộc thám hiểm khoa học hướng về Cực Bắc hàng tháng, hơn thế nữa các nhà du lịch cũng thường có những chuyến hành trình bắc cực theo các tàu phá băng.
Theo các nhà nghiên cứu, những hố rỗng có thể thật ra chỉ là những cái hang đá vôi ngầm. Trong khi đó những người hỗ trợ cho giả thuyết hành tinh rỗng thì cho rằng trong lượng quả đất lẽ ra phải nặng hơn nhiều nếu nó không rỗng. Nhưng Maria Gavrilo cho rằng khi tính toán trọng lượng của quả đất cần phải nhớ rằng khối lương bên trong quả đất không phải bất động mà là di dộng, nếu sự kiện này mà bỏ qua thì kết quả tính toán sẽ sai.
Ðời sống bên trong quả đất không thể có được trước hết là vì lòng đất quá chật hẹp, thứ hai, sức ép và nhiệt độ càng xuống sâu càng gia tăng đáng kể. Khi mà người ta đào một cái mỏ bên Phi Châu xuống sâu hơn một cây số ( km ) người ta mới biết là những người xuống và lưu lại ở đó phải ở trong những khu được làm lạnh vì nhiệt độ ở đó quá cao.
Vì vậy, giả thuyết về địa cầu rỗng là rất phổ thông trong giai đoạn khoa học chưa phát triển. Những điều huyền bí trên mặt địa cầu là vẫn chưa đủ cho con người, vì vậy người ta liên tục kiếm tìm những cái mới trong ruột quả đất. Tầng sâu hơn tầng thạch quyển ( lithosphere ) của quả đất tuyệt đối còn là một điều huyền bí đối với chúng ta, và không ai biết ở dưới tầng sâu hơn nữa có cái gì. Có thể còn có rất nhiều bí mật ngoài sự mong đợi mà con người hằng mơ khám phá nó.
Theo Ufolog
Lê Tự Do dịch từ bản của Maria Gousseva
04/18/08. 07:26:39 am. 2144 words, 137 views. Categories: Khoa học kỹ thuật, Thiên văn và vũ trụ, Khảo cổ và nhân chủng, Liên kết blogs, Khoa học huyền bí ,
DIỄN ĐÀN ĐANG XÂY DỰNG LẠI

DIỄN ĐÀN ÁI HỮU NINH THUẬN BLOGS/FORUMS đang trong giai đoạn xây dựng lại để phù hợp với sự phát triển về kỹ thuật và nhu cầu của quý vị và các bạn, vì vậy mong quý vị và các bạn hãy kiên nhẫn đợi xem. Chúng tôi xin chân thành mong quý vị và các bạn thông cảm cho.
Ái Hữu Ninh Thuận
04/11/08. 10:05:00 pm. 96 words, 729 views. Categories: Không ðề, Thơ văn, Thông báo (A), Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Uncategorized, Nhạc chọn lọc, Tin tức ðó ðây, Thế giới ði về ðâu, Thông báo (A) ,