Archives for: August 2009

ĐIỀM GÌ ĐÂY?!

Điềm Gì Đây?!

Cơn giông đánh ngã hàng trăm cây Trắc cổ thụ tại Công Viên Quốc Gia, New York.
Source: AP, Hồn-Việt UK

Ngày 20 tháng 8 năm 2009

By SUZANNE MA, Associated Press

Hàng trăm cây cổ thụ có trên hàng trăm tuổi thọ đã bị bẻ gãy và bứng trốc gốc tại công viên Quốc Gia ở thành phố New York trong đêm thứ Tư ngày 19 tháng 8, 2009, hàng trăm cây Trắc cao 125 feet tính từ trên đỉnh có tàng rộng 65 feet bề ngang. Rạng sáng Thứ Tư, ông Adrian Benepe nhân viên bảo trì công viên nói: Tôi chưa từng thấy cơn giông nào với vận tốc kinh hoàng như thế ( 80 dặm 1 giờ ). Thật là một cảnh hoang tàn như có ai đem bom đạn rải lên rừng cây đã làm bật gốc, tả tơi các cây cổ thụ chỉ trong một đêm, rừng cây Trắc nổi tiếng của Hoa Kỳ tại thành phố New York đã bị nghiến vỡ. Rạng sáng ngày thứ tư nhiều người đã sửng sốt nhìn thấy những cây đổ ngổn ngang trên sân Tennis ở góc đường West 96th Street, các cây trụ đèn cũng bị ngã theo và hư hại một số xe đậu gần đó vì bị các cành cây gãy đánh trúng.

Sau cơn giông đi qua Steve Sherman, một nhiếp ảnh gia 50 tuổi đi xe đạp đến nơi cho biết là anh đếm được cũng như các nhân viên của công viên đếm được hàng trăm cây gãy đổ giống như cảnh tượng của con lốc lớn tàn phá.Ông nói: đây là vườn địa đàng duy nhất của thành phố New York. Nhiều người đến đây để tìm lại những giờ phút yên tĩnh, cùng thiên nhiên. Không ai có thể ngờ được là ở một nơi thị tứ như giữa New York lại có hiện tượng lạ lùng này xảy ra cho mọi người chứng kiến được cơn thịnh nộ của trời cao giáng xuống đất thật là kinh hoàng.

Họa sĩ Dorothy London đã nhiều năm miệt mài vẽ lại phong cảnh thiên nhiên của tòa tháp và rừng cây Trắc, bà đứng nhìn ra cửa sổ từ căn chung cư và thấy những tàng cây lớn bị xé ra trong gió. Bà kể lại: tôi nghe tiếng thét gào lẫn trong tiếng gió, rồi tôi nghe tiếng đổ ầm vang lại làm cho tôi lo sợ là những cây Trắc thiên nhiên hùng vĩ hàng trăm năm sẽ chết đi.

Sáng hôm sau khi cơn giông tạnh bà vội đi một vòng trong rừng cây, và dừng lại trước một cây Trắc đẹp nhất của Hoa Kỳ đã bị đánh tách ra làm đôi, bà đã bật khóc và thầm nói: “tôi rất lo sợ khi thấy các cây cổ thụ đã chết rồi!”.

Các nhân viên dọn dẹp trong công viên cho biết các cành cây gãy vẫn còn treo lủng lẳng trên cao, họ báo động rằng rất nguy hiểm cho những ai đi vào công viên.

Ông Sherman nói là, nếu có trồng lại cây mới thì con cháu chúng tôi cũng sẽ không còn cơ hội được ngắm những hình ảnh cây Trắc hùng vĩ của thiên nhiên như tôi đã nhìn được. Chúng tôi xem những rừng cây này quen thuộc như những người bạn

Trung tâm dự báo thời tiết đã cho biết cơn giông đã đi qua sau 2 ngày nóng nực nhiệt độ đã lên đến 90 độ. Sẽ còn có mưa rào và nhiều cơn giông nữa vào tối thứ Tư.

------------------------------------------------------------------------------------

Storm fells hundreds of trees in NY's Central Park


AP – A tree lies snapped at its base in Central Park after last night's fast moving storm of rain, wind and …

By SUZANNE MA, Associated Press Writer Suzanne Ma, Associated Press Writer – 1 hr 46 mins ago

NEW YORK – Hundreds of century-old trees lay snapped in half and uprooted throughout Central Park on Wednesday after a severe thunderstorm with winds as high as 80 mph barreled through the city overnight.

"I've never seen a wind of that velocity in New York City," Parks Commissioner Adrian Benepe said. "It looks like pictures that I've seen of war zones where artillery shells have shredded trees."

The storm swept through the area Tuesday night, snapping the park's famous American elm trees in half while uprooting others. One tree lay across the tennis courts at West 96th Street, and a few lampposts stood at a slant after trees crashed into them.

Several parked cars were also destroyed when branches hurtled through the air and landed on them.

Steve Sherman, a 50-year-old photographer, cycled through Central Park on Wednesday morning and counted dozens of fallen trees around him. He compared the devastation to the aftermath of a tornado.

"Central Park is our oasis. It's our only saving grace living in an urban center like New York," Sherman said. "To see Mother Nature up front and realize her power, it's phenomenal. You just don't expect it in an urban setting."

Dorothy London has spent years sketching the area's towering American elm trees. On Tuesday night, the artist stood by her apartment window worrying about how the trees were faring in the fierce storm.

"I heard the screaming of the wind. I heard crashing," London said. "I was worried if all those beautiful trees were all dying."

On Wednesday morning, she toured the park, looking for her favorite American elm near the tennis courts. She found the elm split in two.

"It's dead," she said, bursting into tears.

Parks employees were cleaning up streets and travel lanes Wednesday and identifying any hazardous areas of trees with hanging limbs that could still come down. The Central Park Conservancy also brought in emergency contractors.

Benepe urged the public to stay away from any trees in the park marked hazardous. He said some of the heavier-hit sections, like the North Meadow and the area around the tennis courts, might have to be cordoned off.

"The landscape has changed forever," he said.

The American elm can grow up to 125 feet tall, with a spread spanning 65 feet at the top. Benepe said he wasn't sure if new saplings would ever be able to reach the size and maturity of the trees that were lost.

"My grandchildren might be able to enjoy those trees in time," Sherman said. "But they won't be able to see the tree I just looked at yesterday. We've lost friends here."

The storm swept in after two sweltering days of temperatures above 90 degrees. According to the National Weather Service, there is a chance of showers and thunderstorms Wednesday evening.

by AI HUU NINH THUAN
08/31/09. 09:15:44 am. 1409 words, 651 views. Categories: Góp nhặt, Phong thủy, Chiêm tinh lý số, Chuyện lạ ðó ðây, Liên kết blogs, Phong cảnh ,

ĐƠN XIN Ở TÙ VÀ ĐƠN XIN THÚ TỘI

ĐƠN XIN Ở TÙ

Click trên hình chụp để phóng lớn.

ĐƠN XIN THÚ TỘI
http://blackyblog.multiply.com/journal/item/19

CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI CỘNG SẢN VIỆT NAM

BẠO LỰC - PHI NHÂN - DỐI TRÁ

ĐƠN XIN THÚ TỘI


Kính gởi đồng bào cả nước đang đau khổ dưới ách đô hộ Cộng Sản.

Tôi tên là Lê Trung Thành.

Thời gian vừa qua tôi có theo dõi những đoạn phim thú tội của những chiến sĩ dân chủ, và cũng theo dõi luôn cả những dư luận xì xào xung quanh. Còn riêng về phần mình, tôi không dám xét đoán bất kỳ ai, hay tôi thấy mình chưa có đủ tư cách để đánh giá về một người khác khi mà những việc họ làm thì tôi chưa làm được.

Khi xem đoạn băng hình thú tội của Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Anh Kim, Lê Công Định, lòng tôi nóng như lửa đốt, nhưng ngay sau đó là cảm giác ăn năn day dứt vì thấy chính mình mới là kẻ có tội:

TỘI THỨ NHẤT LÀ: khi thấy người dân trăm họ lâm vào cảnh lầm than, tự do bị bóp nghẹt, công lý bị tước đoạt, đời sống bị bần cùng khó khăn, dối trá lên ngôi, đạo đức suy đồi, con người cư xử với nhau như một con thú thì tôi đã không dám mở mồm nói lên tiếng nói sự thật, tôi không dám đứng thẳng người dơ cánh tay của mình ra che chở cho những anh em bị bức hại, tôi đã hèn nhát không dám hy sinh mạng sống của mình cho người khác được sống.

TỘI THỨ HAI LÀ: khi thấy Đất Nước đang bị đè đầu cưỡi cổ của đám giặc nội xâm Cộng Sản, đất đai biển đảo bị mất dần vào tay Tàu Cộng thì tôi đã một lần nữa chọn giải pháp "thằng hèn" là im lặng luẫn quẫn đầu đường xó chợ kiếm ngày 2 bữa cơm sống qua ngày đoạn tháng mặc kệ Nước mất nhà tan.Tôi đã hèn nhát không dám hy sinh mạng sống của mình cho Đất Nước được sống.

TỘI THỨ BA LÀ: khi thấy người anh em của mình lao vào chốn lao tù để đấu tranh dành tự do dân chủ, đáng lý ra với tình nghĩa giữa người với người thì tôi phải xuống đường giương cao biểu ngữ ĐÒI TRẢ TỰ DO CHO NGƯỜI ANH EM, TRẢ TỰ DO CHO DÂN TỘC, thì tôi lại hèn nhát đóng cửa ngồi trong nhà chửi đổng cho bốn bức tường nghe. Khi xem họ thú tội trên truyền hình chưa rõ đầu đuôi nội tình câu chuyện ra sao mà tôi đã dám chê họ là hèn nhát trong khi mình thì chẳng làm được gì. Tôi đã mất hết tính người khi đồng loại mình bị đem ra làm trò hề còn mình cười khẩy chê bai, tôi đã tự cho mình cái thẩm quyền yêu cầu người này phải nên nói như thế này, người kia phải nên nói như thế kia trong khi chính mình còn chưa sống cho ra con người ... Tôi đã hèn nhát không dám hy sinh mạng sống của mình cho lương tâm mình được sống.

Đó là 3 trọng tội mà tôi khó có thể tự tha thứ cho mình, nay tôi đã nhận thấy hành vi sai trái của mình là vô cùng nghiêm trọng, gây tổn hại đến tính mệnh của Dân Tộc, gây nguy hại đến sự tồn vong của Giống Nòi, và đi ngược lại truyền thống nghĩa tình tốt đẹp ngàn đời của Người Việt .

Nay tôi đã biết tội của mình, tôi kính xin đồng bào cả nước hãy tha thứ cho tôi để từ nay tôi có thể làm một con người mới, người biết sống biết chết cho anh em của mình, có như thế mới mong có một bình minh ấm áp tình người sẽ đến trên Quê Hương Việt Nam.

20/8/2009

Lê Trung Thành

LINH MỤC NGUYỄN VĂN LÝ BẤT ỔN SỨC KHỎE TRONG LAO TÙ CỘNG SẢN

Linh mục Nguyễn Văn Lý bất ổn sức khỏe trong lao tù CS
Source: mylinhng.blogpost
(Bản tin ngày 28-08-2009)

Ngày 24-08-2009 vừa qua, chị ruột của linh mục Nguyễn Văn Lý là bà Nguyễn Thị Hiểu và một cháu trai gọi linh mục bằng cậu ruột đã đến trại giam Ba Sao, Nam Hà thăm cha. Đây là cuộc thăm viếng sớm hơn thường lệ, vì lẽ ra phải là đầu tháng lẻ.

Linh mục Lý xuất hiện, chân đi hơi cà nhắc nhưng sắc mặt vẫn bình thường, trong bộ đồ tù sọc dưa mà ngài luôn cảm thấy khó chịu. Sau khi hỏi thăm gia đình bè bạn, cha nói ngay về tình hình sức khỏe bản thân, vốn đang bị cao huyết áp (xin xem lại bản tin ngày 13-07-2009). Vị tù nhân lương tâm cho bà chị biết nhiều điều mà trong chuyến thăm ngày 09-07, cha chưa nói:

“Hôm 13-05, đang đi lui đi tới trong căn phòng biệt giam chật hẹp, em tự nhiên thấy máu chảy đầy sàn nhà. Nhìn kỹ thì thấy máu xuất ra từ phần hạ thể, từ bàng quang. Toàn là máu bầm. Em kêu y tá bác sĩ. Họ liền tới xức thuốc và cho uống thuốc cầm máu. Vết thương nay đã lành. Ngày 25-05, em lại bị té trong phòng, lủng một lỗ nhỏ phía sau đầu. Trại cũng lại cho uống thuốc. Hôm 12-07, ba ngày sau chuyến thăm của gia đình, tự nhiên em cảm thấy tay phải và chân phải bị cứng đờ, không cử động được. Trại cũng cho uống thuốc chứ không chích. Thấy chuyện bất thường, ngày 14-7, em đã viết một lá thư, yêu cầu gia đình thăm đầu tháng 08. Vì tay không cử động bình thường, thành ra chữ viết rất nguệch ngoạc. Thấy chẳng có hồi âm, nên ngày 03-08 em viết thêm một lá thư nữa để gia đình biết. Lần này thì chữ viết đẹp hơn, vì phải cố gắng nhiều. Nay thì sức khỏe tạm ổn” (xin xem hình chụp bức thư bên dưới).

Bà Hiểu trả lời: “Lá thư ngày 14-07 của cậu, gia đình không nhận được. Còn lá thư viết ngày 03-08 thì mới nhận hôm 22-08. Trước đó, ngày 15-08, cháu Quyên ( gọi cha Lý bằng chú, đi tu dòng Đức Bà Đi Viếng tại Huế ) khi gặp cha Nguyễn Hữu Giải tại La Vang thì đã được cha cho biết sức khỏe của cậu không ổn và cha đã nhận được tin cấp báo này từ Hà Nội”.

Linh mục Lý đáp: “Em mong từ nay được thăm nuôi hàng tháng để kịp thời thông báo về sức khỏe. Chị không đủ sức thì nhờ mấy đứa cháu. Rồi còn Tòa Tổng giám mục Huế nữa, vốn có trách nhiệm chính về em”. Đoạn cha Lý quay sang nói về chuyện khác: “Thời gian gần đây, em có yêu cầu trại để cho em có quyền chia sẻ đồ ăn thuốc uống cho các tù nhân nghèo khổ. Ban đầu trại không cho. Sau đó em tranh đấu: Nếu không cho phép tôi san sẻ thì những món quà gia đình gởi, tôi sẽ không nhận nữa, gởi trả lui hết. Là linh mục, tôi không có thể hưởng một mình được. Lương tâm của tôi không cho phép. Rất nhiều anh em tù nhân túng thiếu thức ăn thuốc uống trong trại này, tôi phải chia sẻ cho họ. Nay thì trại đã bằng lòng! Vậy xin gia đình ráng gởi ra đều đặn, để em có thể giúp cho những bạn tù không ai thăm nuôi giúp đỡ. Họ rất tội nghiệp. Nhà tù CS ra sao thì Chị biết rồi!”

Quay sang viên trung tá công an tên Nam, người đặc trách “quản lý” mình từ bao năm nay, cha Lý nói một cách thẳng thừng: “Các ông giết Đức cha Nguyễn Kim Điền là sai rồi, lộn rồi! Phải giết Nguyễn Văn Lý này mới đúng! Tôi nay như người bị bệnh Sida (Aids), hết thuốc chữa rồi. Các ông bắt tôi kiểm điểm 3 tháng một lần để mong tôi thay đổi tư tưởng! Có gì mà kiểm điểm, mà thay đổi chứ! Tôi kiểm điểm các ông, kiểm điểm nhà nước này thì có. Bao nhiêu điều sai lầm và tội ác, các ông đang phạm ở Tây Nguyên, ở Thái Hà, ở Tam Tòa... Ngày nào ra khỏi đây, tôi sẽ tới những chỗ đó để hỗ trợ đồng bào, để tố cáo và phản đối tội ác của nhà cầm quyền Cộng sản…”

Kết thúc cuộc nói chuyện dài hai giờ (ở đây chúng tôi chỉ tóm tắt), bà Hiểu đã để lại cho ông trung tá Nam ba số điện thoại: một của Tòa TGM Huế, một của gia đình ở Quảng Biên, một của cô em họ tại Thừa Thiên, với lời dặn: “Em tôi có chuyện gì thì xin ông báo tin ngay để gia đình và Tòa Giám mục ra gấp. Cha Lý mà chết trong tù thì mấy ông chịu trách nhiệm đó!” Cha Lý cũng xin cho mình 3 số điện thoại ấy, phòng khi ra tù thì có thể liên lạc ngay được.

Trở về Huế, bà Hiểu và người cháu sáng ngày 27-08 lại đến Tòa TGM Huế, nơi bà đã ghé qua chiều ngày 23-08 để lấy bộ sách kinh cho cha Lý nơi linh mục Quản lý Nhà Chung. Bà mong gặp Đức TGM Nguyễn Như Thể để thông báo tình hình. Linh mục Quản lý cho biết Đức TGM đi vắng nên bà hãy đến gặp Đức Giám mục Phụ tá Lê Văn Hồng. Gặp ĐGM Phụ tá, bà Hiểu thẳng thắn nêu ra hai điểm: “1- Xin Tòa TGM Huế yêu cầu nhà cầm quyền CS không được biệt giam cha Lý nữa. Việc biệt giam là một hình phạt kỷ luật trong nhà tù. Với tình trạng sức khỏe hiện tại, nếu tiếp tục bị biệt giam, cha Lý có thể lâm cơn nguy tử mà không ai biết, không ai cứu kịp. 2- Tòa TGM có trách nhiệm chính đối với cha Lý, con cái của Giáo phận Huế. Gia đình đi thăm là chỉ vì lý do máu mủ thôi! Với lại gia đình ở quá xa, không thể mỗi tháng đi thăm nuôi một lần. Đức Cha biết rồi đó, Ủy hội Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ, trong chuyến thăm cha Lý ngày 13-05-2009, đã chê rằng gia đình đi thăm nuôi cha Lý 2 tháng một lần là quá ít. Trong khi đó Tòa TGM mỗi năm chỉ thăm cha Lý một lần duy nhất”!?!

Đức Giám mục Phụ tá lắng nghe, ghi nhận ý kiến. Ta hãy chờ xem!

Bà Hiểu cũng cho biết là khi trở về nhà, bà sẽ làm đơn yêu cầu trại giam không được biệt giam linh mục Nguyễn Văn Lý nữa. Ta cũng hãy chờ xem!

Xin Đồng bào và Thân hữu quốc tế tiếp tục quan tâm theo dõi, thông báo và cầu nguyện cho sức khỏe của vị tù nhân lương tâm, biểu tượng đấu tranh bất khuất cho Dân chủ Nhân quyền và Tự do tôn giáo tại VN.

Nhóm Phóng viên FNA Khối 8406 tường trình theo lời kể của bà Nguyễn Thị Hiểu.

Huế ngày 28-08-2009, lúc 15g30

NỀN VĂN MINH CSVN


Original Photo © 2007 R.E.S. Recreated by Anh Ðào Kolbe/wwww.adkfoto.com

Nền văn minh CSVN
Source: congdongnguoiviet.fr
Doanh Doanh

Tom Cannon là một trong những giáo sư xuất sắc về chuyên ngành Phát triển Chiến lược của trường đại học Liverpool (Anh Quốc), giám đốc điều hành của công ty Ideopolis International Ltd. Ông từng làm cố vấn cho nhiều chính phủ của nhiều quốc gia và cố vấn cao cấp của trên 30 tập đoàn xuyên quốc gia lớn. Trong lần viếng thăm Việt Nam vào đầu Tháng Tám vừa qua, Giáo Sư Cannon đã phát biểu với VNExpress.net: “Nhật Bản có Panasonic hay Sony, Hàn Quốc nổi tiếng vì Daewoo và Samsung. Nhưng nói đến Việt Nam, người ta không nhớ ra bất cứ thương hiệu nào”.

Không văn minh tiến bộ như Nhật Bản, Ðại Hàn sản xuất xe hơi, TV, điện thoại thì Việt Nam cũng phát triển được công nghệ làm nước mắm, tôm khô, bánh tráng... “xuất khẩu” qua đến Cali. Từ thời mở cửa, có giao thương đến nay, người Việt về thăm quê hương, khi trở lại Mỹ cũng đã “bê” theo nhiêu thứ hàng “độc” “Made in Vietnam” (theo nghĩa là vừa quý hiếm, vừa có thể “độc” chết người). Chúng ta thấy Việt Nam sản xuất nhiều món hàng lạ. Ngoài các món mít, xoài, thơm, chuối... phơi khô, bắp, ổi, chùm ruột, mãng cầu, vú sữa... đông lạnh, chúng ta thấy dân ta rất nhiều sáng kiến hái ra tiền rất độc đáo, như mướp đắng xắt nhỏ phơi khô, cá cơm rang và nhất là món cơm cháy, nghe nói là nhà sản xuất đi gom mua cơm thừa ở các nhà hàng ăn về tẩy màu, trộn gia vị, sấy khô, đóng bao bì để xuất cảng. Rồi bao nhiêu thứ trà, như trà đinh, trà đắng, trà xanh, trà nhàu, trà rong biển, trà gừng, trà hà thủ ô... Tất cả các con, cây, lá, mọi vật chung quanh đều có thể pha chế, vô bao bì dưới cái mác “Made in Vietnam ”, không thiếu độc tố để chi viện cho ba triệu núm ruột ở xa đang nhớ món ăn quê hương. Chỉ thiếu có thứ lá sắn (khoai mì) mà báo Nhân Dân Hà Nội sau Tháng Tư 1975 đã viết bài nghiên cứu “ba ký lá sắn bằng một ký thịt bò” là chưa sấy khô, đóng gói “xuất khẩu” mà thôi.

Thật ra Tom Cannon phải biết đến món hàng “Made in Vietnam” nổi tiếng nhất là thứ “bê tông” cốt tre, chưa có một quốc gia nào trên thế giới theo kịp về mẫu mã, chất lượng, có thể tiết kiệm cho quốc gia hàng chục tỷ đồng trong các công tác xây dựng từ cầu cống đến nhà cửa.

Nhưng đó chỉ là những món hàng xuất khẩu nhỏ, theo đúng quốc sách thì hiện nay món hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là phụ nữ, một món trời cho không cần phải nuôi như cá ba sa, trồng như cây cà phê hay vỗ béo như gà vịt để xuất cảng... Trong một cuộc hội thảo do Thời Báo Kinh Tế Việt Nam và Hội Phụ Nữ Việt Nam tổ chức ngày 18 Tháng Sáu 2006 đã đề cập đến việc cần xây dựng “thương hiệu” cho phụ nữ Việt Nam, nghĩa là một thứ “Marque Deposé” trong tiếng Pháp hay “Trade Mark” trong tiếng Anh, tên của món hàng “Made in Vietnam” bán ra thị trường. Phụ nữ được bán ra thì phụ nữ cũng cần có thương hiệu. Cuộc hội thảo cho biết, lịch sử Việt Nam không thiếu những hình ảnh phụ nữ tuyệt đẹp để làm biểu tượng, đó là Âu Cơ, Tiên Dung Công Chúa, Huyền Trân hay tệ lắm thì cũng là những nhân vật tưởng tượng như “Võ Thị Sáu”, “Cô gái Bến Tre”, “Bà Mẹ Bàn Cờ” thời chống Mỹ. Vậy thì hội phụ nữ và chính phủ Việt Nam sẽ chọn logo nào đây cho món hàng tươi xuất cảng hàng năm, rất đắt giá và cũng làm người Việt khắp năm châu phải cúi mặt hổ thẹn.

Cù lao Tân Lộc nằm giữa sông Hậu thuộc huyện Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ từ lâu đã có tên gọi khác là “đảo Ðài Loan”, tổng số chỉ có 33,000 dân mà đã “xuất cảng” được 1,500 cô gái Ðài Loan, ngày nay lại chuyển hướng sang Ðại Hàn. Hội Phụ Nữ tỉnh Cần Thơ kết toán chỉ từ đầu năm 1995 đến Tháng Sáu 2003, tỉnh đã có 9,000 phụ nữ ghi tên kết hôn với người nước ngoài, trong đó có 6,000 sang Ðài Loan. Trong thời gian này tính chung cả nước có khoảng 60,000 cô gái từ 18 đến 25 tuổi đã được nhà nước đưa đi xuất ngoại (nhà nước không có chính sách, ai dám công khai kết hôn, cho lên máy bay). Ông Gow Wei Chiou, đại diện Ðài Loan ở Hà Nội, đã xác nhận trong 10 năm trở lại đây, đã có 100,000 gái Việt được “gả hay bán” sang nước ông. Theo một con số do Hội Liên Hiệp Phụ Nữ đưa ra, khoảng thời gian này cũng có chừng 28,000 cô đi Hàn Quốc.

Thời giá “xuất khẩu” gái Việt ra ngoại quốc hiện nay chừng $6,000 đô la, tuy vậy, qua bọn con buôn, trong đó có nhà nước Cộng Sản cấu kết với bọn môi giới để đưa “hàng” phụ nữ ra nước ngoài, đồng tiền buôn thịt đến tay gia đình chỉ còn khoảng vài trăm đô la, vì họ hy vọng, con gái khi sang được đất khách, sẽ tìm cách làm việc để gởi tiền về, đó mới là nguồn lợi chính thức và lâu dài. Số tiền $6,000 sẽ vào tay một mạng dịch vụ chằng chịt có cả công an, xã ấp như tiền huê hồng ma cô, giấy chứng nhận của chính quyền địa phương, học ngoại ngữ, khám sức khỏe, phí tổn đám cưới, tiền di chuyển...

Tại Ðài Loan, tờ Trung Hoa Thời Báo đã thẳng thắn đả kích việc quảng cáo bán gái Việt trên đất Ðài Loan như “cô dâu Việt gái $18,000 (tiền Ðài Loan). Bảo đảm gái trinh, nếu không trả tiền lại” - “người chưa vợ, chết vợ hay tật nguyền đều có thể lấy vợ Việt”. Tại Singapore, Hội Phụ Nữ nước này cũng bất bình công khai lên tiếng khi có cảnh ba cô gái Việt Nam được trưng bày trong thương xá Golden Mile Complex. Ở Malaysia hàng chục thiếu nữ Việt Nam được những người Mã môi giới đưa sang Malaysia được đưa ra trưng bày tại các quán cà phê để đàn ông nước này đến xem mắt. Một chính khách nước này, ông Michael Chong đã lên án tệ nạn ấy, và nói gia đình các cô gái, thường là nghèo, đã nhận từ 20,000 đến 30,000 ringgit (5,600 đến 8,500 đôla) tùy theo nhan sắc của họ. Các nhóm hoạt động vì nữ quyền ở Malaysia tỏ ra bất bình trước các việc đã xảy ra. Maria Chin Abdullah, đứng đầu một nhóm hoạt động vì phụ nữ, nói với tờ báo Star, như chửi vào mặt nhà cầm quyền Việt Nam: “Hành vi này chỉ có thể xem là hình thức nô lệ tình dục được tiến hành trong một khuôn khổ pháp lý giả tạo”.

Trong khi đó chính phủ Việt Nam câm miệng làm ngơ trước cảnh nhục nhã, khốn cùng của phụ nữ Việt Nam vì chính họ chủ trương phụ nữ Việt Nam là một món hàng cần xuất khẩu cũng như một thương hiệu để mời mọc khách du lịch đến Việt Nam. “Con gái Việt Nam đẹp lắm!”, đó là lời quảng cáo của Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết.

Trên đây chỉ là những món hàng được gởi đi theo con đường chính thức có hộ chiếu do các cơ quan công an cấp. Khi một món hàng cầu cao hơn cung, qua ngõ nhà nước thuế má nặng nề thì sinh ra tệ nạn buôn lậu. Những món hàng phụ nữ này thường xuyên được chuyển lậu ra ngoại quốc qua nhiều ngã như biên giới Trung Quốc hay Kampuchea. Năm 2008, cả nước phát hiện 375 vụ buôn bán, phụ nữ, trẻ em, với hơn 700 đối tượng, lừa bán hơn 900 nạn nhân. Tình hình buôn bán phụ nữ trẻ em ra nước ngoài rất quy mô và thủ đoạn hoạt động phạm tội ngày càng tinh vi, có tổ chức. Chúng ta đã nghe nói nhiều đến chuyện phụ nữ Việt Nam qua ngã Móng Cáy gã bán lậu cho Tàu hay đưa trẻ em sang làm đĩ ở Kampuchea..

Hiện nay, không có con số chính thức Hà Nội đã “xuất khẩu” bao nhiêu gái Việt ra nước ngoài... hiện tượng đã quá rõ ràng nhưng chính phủ vẫn tránh né hay vờ vịt không biết đến. Ngày nay nói đến đặc sản “Việt Nam”, người ta nghĩ gì, phải chăng là những điều dối trá, cùng với món hàng phụ nữ rẻ nhất thế giới. Thương hiệu danh tiếng “Ôm - Made in Vietnam” quả là độc đáo, không lẫn với ai, không có bất cứ đất nước nào sánh kịp. Từ “Bia Ôm”, tàn dư của Mỹ Ngụy năm xưa, với đầu óc sáng tạo, ngày nay trên đất xã hội chủ nghĩa có hàng trăm “mặt hàng” ôm mới lạ như karaoke ôm, hớt tóc ôm, ngủ trưa ôm...

Nếu không có sự tẩy chay, phản đối của cộng đồng người Việt ở quốc ngoại, thì gánh hát quảng cáo thương hiệu gái “Duyên Dáng Việt Nam” sẽ làm những cuộc lưu diễn bất tận ở nước ngoài để trình bày sản phẩm “Made in Vietnam” này.

Doanhdoanh

by AI HUU NINH THUAN
08/30/09. 06:43:06 am. 2434 words, 56 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Liên kết blogs ,

NHỮNG KẺ HÁM DANH


Những đồng đô-la từ máu của nhân dân Việt Nam dưới chế độ cộng sản - Credi: photobucket

Những kẻ hám danh!!!
Source: vietbao, vietland, canhthep, congdongnguoivie.fr

Thời đại nào cũng thế, những người có cấp bằng cao và có khả năng, đều được trọng dụng và tùy theo " nhân phẩm của họ ", họ có collabo (tiếng pháp gọi tắt là collabo để chỉ những kẻ cộng tác với Đức Quốc Xã trong Đệ Nhị Thế Chiến ) với các chế độ phi nhân hay không? Kết án họ hay chửi bới họ cũng bằng thừa, vì cho đến giờ phút nầy " họ vẫn chưa sáng mắt " ra, nhưng nhờ đó mà họ cũng hưởng được chút " hư danh " bánh vẽ " của CSVN ban bố cho. Giá trị của họ là chỉ có vậy thôi ! Tại sao họ không về sống luôn ở Việt Nam nhỉ? Yêu nước, yêu CSVN thì phải về chứ. Sống ở chế độ tư bản làm chi để cho nó bóc lột mình à?

Chúng tôi đăng bài viết dưới đây vì nhân thấy có nhiều chi tiết rất hay mà những người ở Âu Châu chưa hề biết đến.

Bạn thân mến,

Hẳn bạn đã nghe tin ngày 4 tháng 3 , CSVN làm lễ... Tổ Quốc Ghi Công cho 17 Việt... kìu có công với chế độ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội. Ban tuyển chọn và đề cử gồm có Ủy ban Trung Ương, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, Ủy Ban về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại Giao, Hội Liên Lạc người Việt Nam ở nước ngoài (mấy cái Ủy Ban này tên dài quá Bạn ơi!) và Ban lãnh đạo VNNet đã bình bầu và trao giải Vinh danh nước Việt 2006, cho những người có xú danh như sau:

01/- PGS. TS. Trần Nam Bình, (Việt kiều Úc), PGS của trường Đại Học New South Wales, Úc.
02/- TS. Lê Quang Bình, ( Việt kiều Mỹ ), chuyên viên của Advanced Micro Devices (AMD), Mỹ.
03/- GS. Nguyễn Văn Chuyển, (Việt kều Nhật Bản), GS. Đại Học Phụ Nữ Nhật Bản.
04/- TS. Đỗ Đức Cường, ( Việt kiều Mỹ ), chuyên gia cao cấp trong ngành Ngân Hàng tại Mỹ. Đại Sứ Thiện Chí Liên Hiệp Quốc, và Cố Vấn cao cấp của Ngân hàng tại Việt Nam.
05/- Trung Dung, ( Việt kiều Mỹ ), Giám Đốc điều hành V-Home Group, Mỹ.
06/- Bs. Hoàng Anh Dũng, ( Việt kiều Bỉ ), Bỉ.
07/- (*)BS. Quỳnh Kiều, ( Việt kiều Mỹ ), phụ nữ "xuất sắc" ở California, Mỹ.
08/- GS. TS. Thái Kim Lân, (Việt kiều Đức), Đại Học Munich, Đức.
09/- GS. TS. Trần Minh Tâm, ( Việt kiều Thụy Sĩ ), Thụy Sĩ.
10/- Họa Sĩ Dương Văn Thành, (Việt kiều Thụy Điển), ở Thụy Điển.
11/- Linh Mục Nguyễn Đình Thi, (Việt kiều Pháp), Chủ Tịch Hội Huynh Đệ tại Pháp.
12/- GS. TS. Phạm Gia Thụ, Đại Học Canada.
13/- KS. Đỗ Anh Thư, ( Việt kiều Mỹ ), Hội VNHelp ở Mỹ. TGĐ quỹ Y tế, Giáo dục, Văn hóa của CSVN.
14/- TS. Trương Nguyễn Trân, (Việt kiều Pháp), Giám đốc Nghiên Cứu Danh Dự (!) Trung tâm Vật Lý Lý Thuyết tại Đại Học Bách Khoa Paris, Pháp.
15/- GS. TS. Lê Dũng Tráng, (Việt kiều Pháp), Viện sĩ, Giám Đốc Trung Tâm Toán học của Hàn Lâm Viện Thế Giới tại Ý.
16/- GS. Huỳnh Hữu Tuệ, (Việt kiều Canada), Đại Học Canada.
17/- Vũ Đức Vượng, GS. ( Việt kiều Mỹ ), Đại Học ở San Francisco, Mỹ.

Trong số 17 người này, chúng ta thấy có 6 người là Mỹ kiều, 3 người Pháp kiều, 2 Canada kiều, 1 Úc kiều, 1 Nhật kiều, 1 Bỉ kiều, 1 Đức kiều, 1 Thụy Sĩ kiều và 1 Thụy Điển kiều. Điều đáng buồn là về khoản Việt gian này, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ chiếm nhiều nhất: 6 mạng. Cũng dễ hiểu thôi Bạn ạ! Vì rằng người Việt ở Mỹ cũng nhiều hơn ở các nước khác, cơm gạo và thực phẩm ở Mỹ cũng dồi dào hơn ở các nước khác, và... và Tự Do ở Mỹ cũng nhiều hơn ở các nước khác, nên sau khi định cư hoặc tỵ nạn yên ổn rồi, công thành danh toại rồi, nhà cao cửa rộng rồi, 6 con người Kiều bào sĩ nọ sĩ kia hư hỏng ấy, mới muốn quay về quê hương để thưởng thức chùm khế ngọt, kẻo mai một trút hơi thở trên quê người, không có chùm khế ngọt để dằn bụng, không có con diều biếc để chỉ đường và dẫn độ về Địa ngục gặp cha già HCM!

Trong danh sách 17 người này, nhân vật nữ bác sĩ Quỳnh Kiều cùng chồng là Bs. Kiều Quang Chẩn được báo chí gọi là Song Kiều và nhắc nhở nhiều trong năm qua về những thành tích chói sáng của 2 người là Kiều - vợ chuyên mượn danh nghĩa từ thiện để làm lợi cho bản thân và đem tiền về giúp chế độ. Còn Kiều - chồng thì đút lót Hải Quan VC để tuồn đồ cổ của Việt Nam ra nước ngoài buôn bán trục lợi làm giầu.

Nhân vật nữa cũng nổi cộm bởi thành tích thiện nguyện cứu trẻ mồ côi, cứu thương binh qua những hoạt động làm lợi cho chế độ CSVN là hội VNHelp ôm chân Đảng, đã từng bị báo chí và cộng đồng người Việt ty nạn CS lên án và xa lánh. Điều trớ trêu là vị Giám đốc nữ anh thư của hội này lại là con của một gia đình HO, cựu tù nhân chính trị CSVN, từng bị VC bắt tù đầy và được qua Mỹ trong thành phần tỵ nạn chính trị!!

Bạn đừng vội cười mà phán rằng thành phần đó thiếu gì trên đất Mỹ này. Vâng, chúng ta không phủ nhận điều đó. Thì ra chỉ tại Mỹ no cơm ấm áo, dồi dào Tự Do quá đấy thôi, vẫn tỵ nạn, vẫn vào Quốc Tịch Mỹ, vẫn đưa tay tuyên thệ không theo CS, nhưng vẫn... mê Cộng. Làm gì được nhau nào? Xem kìa, trong 17 xú danh đó, có tên nào là tỷ phú như những danh sách tư bản Đỏ tỷ phú đô la trong nước như Nguyễn Tấn Dũng, như Võ Văn Kiệt, như Nông Đức Mạnh v...v... chưa? Tại sao những tay tư bản Đỏ đó không nhón tay một chút tài sản của chúng để xóa đói, giảm nghèo, cứu bão lụt, giúp cô nhi quả phụ. Mà đã hơn 30 năm hết chinh chiến rồi, thương binh và cô nhi quả phụ ở đâu ra mà cứu nữa hở Bạn? Hay chính những tỷ phú cán bộ Đỏ, những Việt Kiều đú đởn, những đại gia, những cô gái chân dài, những siêu người mẫu của chế độ đó lại là tác giả của những cô nhi kia?

Bạn thấy không? Hỏi và trả lời cũng là một.

Chắc Bạn sẽ chán nản mà bảo rằng: Thôi, kệ họ. Muốn vinh danh ai thì vinh. Có ai được vinh danh, ca tụng, sùng bái bằng Hồ Chí Minh. Nhưng bây giờ theo thời gian, thâm cung bí sử'' hết còn bí mật, thì mới hay HCM chính là một tội đồ man rợ, hèn hạ, bán nước cầu vinh, dâm đãng, hãm hại người ái quốc và giết vợ, bỏ con, nghĩa là HCM làm tất cả những tội ác gì có trên thế gian này. Những gì gọi là tội lỗi, y cũng phạm được cả. Thì đã nói y là một con quỷ mà.

Nhưng, này Bạn, không biết 17 người được cộng sản vinh danh kia, có biết câu chuyện của nhà trí thức Trần Đức Thảo, yêu Mác-Xít, từ bỏ kinh đô ánh sáng để về nước, được Bác và Đảng đãi ngộ cho đi chăn dê, thân tàn ma dại cho đến cuối đời không nhỉ? Nhờ Bạn nhắc tuồng cho họ đi.

Riêng tên thứ 17 - Vượn họ Vũ - thì không cần nói đến, chắc Bạn cũng thấy nhờm tởm y rồi phải không? Hôm trước, biểu tình chống VC Tôn Nữ Thị Ninh tại San Jose, thấy bản mặt Việt gian của y khi đẩy mụ Ninh lên xe, mà thấy rằng tự điển Việt Nam chưa định nghĩa đủ hai chữ nhục nhã. Phải định nghĩa nhục nhã là Vượn Vũ! Cũng như báo chí trong nước đã định nghĩa hai chữ chôm chĩa bằng tên của ông nhạc sĩ Bảo Chấn vậy.

Thân mến chào Bạn.

Hẹn Bạn thư sau.

Tuyết-Lan

by AI HUU NINH THUAN
08/30/09. 06:31:17 am. 2063 words, 171 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Tin tức ðó ðây, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs ,

CHÚ GIẢI "CUỐN HẮC THƯ" CỦA ROBERT HUE


Chú giải "Cuốn Hắc Thư" của Robert Hue

Source: congdongnguoiviet.fr

Trần đoàn Kết

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm thành lập chế độ cộng sản tại Nga lãnh tụ Ðảng cộng sản Pháp, ông Robert Hue chú giải cuốn sách mới "Cuốn Hắc Thư".

THỜI SỰ - Ðảng cộng sản Nga mừng kỷ niệm 80 năm chế độ.

Ngày mồng 7 tháng 11 vừa qua, Ðảng cộng sản Nga do ông Gennadij Zjuganov lãnh dạo, đã tổ chức tại nhiều thành phố, cách riêng tại Moscova, những cuộc biểu tình mừng kỷ niệm 80 năm thành lập chế độ cộng sản tại Ðế quốc Nga (7.11.1917 - 1997). Số người tham dự các cuộc biểu tình được ước lượng khác nhau: theo Ðảng cộng sản, khoảng từ 100 tới 300 ngàn; trái lại theo cảnh sát Nhà Nước chỉ có 13 ngàn. Dù sao, đây là một cuộc biểu tình lớn nhất kể từ khi chế độ cộng sản Liên xô sụp đổ, cách đây 7 năm. Tại Moscova, cuộc biểu tình được tập trung vào hai địa điểm: Quảng trường Lubjanka, trước Tòa nhà đồ sộ, thời chế độ là trụ sở của Công an chính trị Liên xô (Ceka, Gpu, Nkvd, Kgb) và tại Cửa Kaluga, trước đây là Quảng trường tháng 10, nơi có tượng ông Lenin. Các người tham dự cuộc biểu tình phần lớn là những người có tuổi, họ mang theo cờ đỏ búa liềm, hình ông Lenin và Stalin, cả biểu ngữ chống chính phủ Boris Yeltsin nữa .Trong diễn văn đọc trước đoàn biểu tình, lãnh tụ Ðảng ông Zennadij Zjuganov khuyên các đảng viên và những người ủng hộ ông xử dụng những phương pháp tranh đấu trong và ngoài quốc hội; ông hứa với đoàn biểu tình rằng: "Bè lũ phản bội và bị mua chuộc" (tức ông Yeltsin và các người cộng tác của ông) sẽ bị trục xuất khỏi Ðiện Cẩûm Linh và Nước Nga sẽ trở thành vĩ đại theo chủ nghĩa xã hội. Các người biểu tình hát Quốc ca cũ của Liên xô và bài Ca Xã hội quốc tế. Ðoàn biểu tình cũng được nghe lại bài diễn văn của Ông Lenin đã được ghi băng.

Theo các quan sát viên , thì cuộc biểu tình, cho dù có 300 ngàn người tham dự, cũng không phải là một lực lượng đáng lo sợ. Theo cuộc thăm dò dân ý do một hãng thông tấn nghiêm chỉnh nhất tại Nga thì khoảng 15% dân chúng Nga ủng hộ thực sự các người cộng sản, nếu có cuộïc đảo chính. Còn 15% khác muốn trốn ra ngoại quốc, nếu người cộng sản trở lại nắm chính quyền như trước đây. Trở lại bằng lá phiếu qua các cuộc bầu cử tự do, người cộng sản biết rõ không có hy vọng. Chế độ cộng sản lỗi thời và cả người cộng sản ngày nay cũng không tin tưởng vào ý thức hệ mà họ rao giảng và nhồi sọ người dân. Làm sao nắm quyền và ở lại là mục tiêu tranh đấu duy nhất bằng mọi phương thế.

Ngoài Moscova, các cuộc biểu tình còn diễn ra tại San Pietroburg và Vladivostok. Trong tất cả các cuộc biểu tình lớn nhỏ vừa qua, theo Bộ Nội vụ có khoảng 57 ngàn người tham dự. Tại Ekaterinburg, nơi Vua Nicola đệ nhị và Hoàng gia bị Cộng sản sát hại năm 1918, số tham dự cuộc biểu tình chỉ có 1,500 người. Cuộc xô xát xẩy ra tại Leopoli (bên Ukraine): phe quốc gia tấn công 300 người cộng sản biểu tình: có 10 người bị thương.

Trái lại, Tổng thống Boris Eltsin muốn biến đổi ý nghĩa của ngày mồng 7 tháng 11 năm 1917 thành ngày "hòa hợp và hòa giải quốc gia". Trong ngày này trên đài truyền hình, ông kêu gọi dân Nga tiến đến mục tiêu ông đề nghị: hòa hợp và hòa giải. Ông nói:

"Ngày hôm nay chỉ phải nhớ lại tất cả những người đã chết trong cuộc nội chiến. Chúng ta phải hiểu nhau và tha thứ cho nhau: Tha thứ cho tất cả những ai đã phạm lầm lỗi tai hại này: đặt một ý thức hệ ảo tưởng trên mạng sống con người". Ông giải thích thêm: có nhiều người hành động vì lòng ngay. Họ tin vào "svetloje buduscheje", nghĩa là "tương lai sáng lạng" của nước Nga. Họ hãnh diện thực sự vì Nước Nga đã thành công trong việc thay đổi cục diện của thế kỷ 20 này. Ông nói: "Ngày nay cần phải tỏ ra rằng: chúng ta có khả năng không phải để cãi cọ nhau mà để đi đến một hòa hợp với nhau. Hay ít ra chúng ta đừng chia rẽ nước Nga thành "chúng ta" và "họ". Tổng thống Yeltsin còn đề nghị lập một đài kỷ niệm ghi nhớ tất cả các nạn nhân, không phân biệt ý thức hệ, của cuộc Cách mạng và của cuộc nội chiến tiếp sau đó kéo dài tới năm 1922, gây nên 13 triệu người chết.

Tại Pháp, nhân dịp kỷ niệm 80 năm thành lập chế độ cộng sản tại Nga, lãnh tụ Ðảng cộng sản Pháp, ông Robert Hue, chú giải cuốn sách mới xuất bản tại Pháp "Cuốn Hắc Thư " (ngược lại với "Cuốn Bạch Thư" của Ðảng Cộng sản Trung quốc về tự do tôn giáo, được tung ra trước khi chủ tịch Nhà Nước Trung quốc lên đường viếng thăm Hoa kỳ (26.10 đến 2.11.97), đã không ngần ngại công nhận những quả quyết trong cuốn sách này. Theo Cuốn Hắc thư, thì các chế độ Macxít-Lenin đã sát hại tới 100 triệu người trên thế giới. Ông tuyên bố: "Ðây là một thảm họa đã liên lụy nhiều dân tộc. Ðây là một tiến trình kinh khủng phải bị lên án cách tuyệt đối". Cuốn Hắc thư do một số nhà trí thức Pháp viết ra dưới sự phối kiểm của Stephane Courtois và được đề đầu là "Le livre noir du Communisme" (Cuốn hắc thư của chế độ cộng sản). Trong 864 trang các tác giả phác họa một bản tổng kê khiếp sợ của một thế kỷ dưới chế độ độc tài cộng sản: từ 85 đến 100 triệu người chết.

Dịp kỷ niệm 80 năm lập chế độ cộng sản tại Nga là đề tài thời cuộc rất hấp dẫn. Thế giới cần biết đến và phải ca ngợi sự can đảm, sự thành thực của ông Robert Hue, người thay thế ông Georges Marchais, lãnh đạo Ðảng cộng sản Pháp. Ông dám nói lên cái ông nghĩ và lên án tuyệt đối những vụ sát hại và lưu đầy thực hiện từ 1917 tới nay "nhân danh tín điều cộng sản". Ông tuyên bố: "Nhưng thực là điều phi lý, nếu không nói là lố bịch, trò hề, chỉ nêu lên các con số kinh khủng về nạn nhân. Ðảng cộng sản Pháp phải phân tích cái mà chúng ta gọi là chế độ Stalin trong nội bộ của Ðảng chúng ta. Các đồng chí, chúng ta đã sai lầm".

Cuốn Hắc thư được viết ra với mục đích trả lời cho câu hỏi khẩn cấp được đặt ra: "Tại sao cho đến lúc này không một tòa án nào theo kiểu Tòa án Nuernberg (Tòa án được thành lập tại thành phố này trong miền Baviera của Ðức, để xử các tội ác của chế độ Ðức quốc xã (1945-1946) được thành lập để xử và lên án các tội ác của chế độ cộng sản? Tại sao các nhà trí thức, triết học, sử học, xã hội học... nhắm mắt trước những thực tại, bằng cách lờ đi như không biết gì và nghĩ rằng chỉ có tội ác của chế độ Ðức quốc xã là một sự xấu xa tuyệt đối? Các tác giả Cuốn Hắc thư cũng biết rằng các vị "tai mắt này" không dám lên tiếng vì "há miệng mắc quai". Nhưng đây không phải chỉ là những ý thức hệ, nhưng là một chế độ cộng sản thực sự, cụ thể, hiện hữu trong thời đại rõ ràng, trong những quốc gia có tên trong bản đồ thế giới và được nhập thể nơi những lãnh tụ nổi tiếng thế giới: Lenin, Stalin, Mao Trạch Ðông, Hồ chí Minh, Kim nhật Thành, Fidel Castro v.v... và tại nước Pháp này như Maurice Thorez, Jacques Duclos, Georges Marchais.

Theo các tác giả Cuốn Hắc thư, tại Liên xô Stalin sát hại khoảng 20 triệu người dân - tại Trung quốc khoảng 65 triệu - tại Bắc Hàn: hai triệu - tại Việt nam: một triệu (thời kỳ cải cách ruộng đất) - tại Kampuchia: hai triệu (thời Pol Pot) - tại các nước Ðông Âu: một triệu - 150 ngàn tại Châu Mỹ Latinh - một triệu 700 ngàn tại Angola - Mozambic và Ethiopie. Ngoài ra còn có 10 ngàn thuộc nội bộ Phong trào cộng sản quốc tế bị thanh toán do lệnh của Stalin.

Roma ngày 10.11.97
Lm. P. Trần đoàn Kết

by AI HUU NINH THUAN
08/30/09. 06:04:46 am. 2262 words, 239 views. Categories: Văn chương triết lý, Chiến tranh và hòa bình, Liên kết blogs, Ôn cố nhi tri tân, Ðọc sách hay, Xã hội và nhân văn ,

CHUYỆN ỠM Ờ: CHÚC THƯ CHO VỢ


Như thế này thì ai mà không khiếp đảm! - Ảnh thực, Google

Chúc thư cho vợ,

…… Em yêu, ai mà sống ở đời được mãi. Ai chả có lúc phải nói lời vĩnh biệt. Khi anh ra đi, thì đây là di chúc – em hãy nhớ làm những điều sau đây anh dặn:

1) Mang cất ngay dàn Karaoke vào garage. Giọng em tối nào cũng rống lên hãi hùng như thế, không có anh, con mẹ Ấn Độ sau nhà nó nhẩy sang xé xác em ngay.

2) Tính em vốn không thích làm việc nhà, việc bếp. Em nên tái giá ngay để có kẻ hầu thay thế chỗ anh. Trong số bạn của anh, anh đề nghị em lấy thằng Long, vì khi còn sống, anh ghét thằng này nhất, lúc nào cũng vênh cái mặt lên cho rằng đời nó hơn anh mọi thứ. Lấy em xong là đời nó tàn, thử xem nó còn huyênh hoang được nữa không.

3) Nếu thằng Long không chịu lấy em, thì em lấy thằng Hoàng. Thằng này mang nữ tính, bảo gì nghe nấy, em đỡ phải quát tháo như em đã quát anh.

4) Nhưng em chớ có lấy thằng Dư. Nó có võ Bình Định. Hỗn như em thì nó uýnh chết, không chết cũng u đầu. Tội nghiệp mấy đứa con anh đã mất cha giờ thành không mẹ

5) Cũng đừng lấy thằng Phú mắc bệnh đau tim. Cứ mỗi tháng credit cards của em gửi bill về, nom thấy là nó đột quỵ ngay, em sẽ thành góa bụa lần nữa.

6) Nếu cả bốn thằng Long-Hoàng-Dư và Phú đều không chịu lấy em, thì em chớ có đi mỹ viện sửa sang hòng re-marry. Để dành tiền ấy mà nuôi con vì anh biết chắc là chúng nó sẽ chỉ còn da bọc xương trong vòng một tháng.

7) Em cũng đừng theo tục lệ Việt-Nam nấu cháo hay nấu cơm cúng giỗ cho anh. Cháo em hễ nấu là khét, mang xuống âm phủ chỉ làm Diêm Vương thêm nổi giận. Còn cơm em thì … thôi anh xin miễn. Em muốn cả địa ngục đi tiêu chảy vì ăn phải gạo sống, thì cứ việc nấu ….

Chúc thư này là do bà K. gởi đến cho bần đạo, có lẽ bà ấy bị bức thư này ám ảnh mãi, không ngủ được nên phải vấn kế bần đạo, tiếc thay, đọc xong thư này, bần đạo chỉ biết khóc ròng mà thương cho thân phận... "Mỹ đen" của mình, té ra cái lão này còn may mắn hơn bần đạo nhiều, vậy thì nặn đâu ra được lời khuyên đây thưa quý ngài!!!

Kình Dương Đạo Nhân

by AI HUU NINH THUAN
08/28/09. 10:11:45 pm. 653 words, 382 views. Categories: Góp nhặt, Văn chương triết lý, Chuyện vui, Những chuyện ỡm ờ, Liên kết blogs ,

BỨC TƯỜNG BERLIN


Một đoạn bức tường đang được xe cần cẩu kéo sập năm 1989

Tin BBC: Báo Sài Gòn Tiếp Thị xác nhận với BBC đã "ngừng hợp đồng" với nhà báo Huy Đức, vì cho rằng "tòa soạn không cùng quan điểm" với bài báo của ông.

Ông Trần Công Khanh, Tổng thư ký tòa soạn, giải thích quyết định của tòa soạn được đưa ra sau khi nhà báo Huy Đức đăng bài "Bức tường Berlin" trên blog Osin của mình ngày 23/08.

Bài viết kể về câu chuyện 20 năm ngày sụp đổ bức tường chia đôi nước Đức, bày tỏ một số nhận định bị cho là trái với quan điểm chính thống ở Việt Nam.

Trích: một lời góp ý trong Osin blog

Dạ em xin nói ít các bạn hiểu nhiều, sự việc em nói cũng liên quan đến Bức tường Berlin mà anh Huy Đức viết trên Blog đó là "sự thật". Trước đây em học lớp 9, có 1 đợt thanh tra giám sát của Sở Đào Tạo giáo dục về thăm trường để xem khả năng giảng dạy và môi trường học như thế nào.

Hic để khích động môi trường học tập, thầy giáo dạy vật lý "thân thương" của bọn em dặn dò học sinh rất kỹ. Khi thầy hỏi tất cả các em đều giơ tay, em nào biết thì giơ tay phải em nào không biết thì giơ tay trái. Kết thúc tiết học các bác thanh tra và thầy hiệu trưởng nắm tay bắt tay khen nhau nức nở rồi mời nhau đi ăn. Phong trào học tập của trường em luôn được xếp vào hạng cao của Thành Phố Hà Nội.

A Ky, Hà Nội

Dưới đây là toàn văn của bài này:

BỨC TƯỜNG BERLIN
Source: Blog Osin - August 23 2009

Huy Đức

Cái cây tìm sự cô đơn ở trên cao
Ngọn cỏ tìm sự đông đảo ở dưới đất

Blog Osin

Tuần trước, một người Đông Đức, bà Angela Merkel, vừa lên tiếng trên cương vị Thủ tướng nước Đức thống nhất cám ơn Hungary cách đây 20 năm, tháng 8-1989, đã mở cửa biên giới của mình, để cho hơn 60 nghìn người Đông Đức thoát ra, dẫn tới sự kiện bức tường Berlin sụp đổ.

Tháng 6-2004, Hoàng- một đồng đội cũ của tôi ở trường sĩ quan, cựu đại úy quân đội nhân dân Việt Nam, con trai một vị tư lệnh chiến trường nổi tiếng thời đánh Mỹ và đánh Pol Pot- lái xe chở tôi chạy từ Đông sang Tây và cuối cùng đến trước bức tường Berlin. Hoàng nằm trong số những người Việt Nam đầu tiên leo qua phía Tây, thay vì đủ kiên nhẫn để đập đổ cái mà Hoàng, cho đến ngày nay, vẫn coi là “bức tường ô nhục”.

Berlin cũng như nước Đức, sau Thế chiến thứ II, bị “xẻ làm tư” theo thỏa ước Potsdam. Cho dù Liên Xô phản đối, các nước Anh, Pháp, Mỹ sau đó vẫn trả lại quyền tự chủ cho người Đức trên phần lãnh thổ mà mình tiếp quản. “Kế hoạch Marshall” đã giúp Tây Đức phát triển rất nhanh dựa trên nền tảng tự do.

Năm 1948, Stalin ra lệnh phong tỏa, không cho vận chuyển lương thực thực phẩm từ Đông sang Tây. Nhưng vẫn không có người Tây Đức nào đi theo Stalin. Trong khi, trong suốt thập niên 50 đã có hơn 3,5 triệu người Đông Đức bỏ chạy sang Tây Đức. Ngày 1-8-1961, Tổng Bí thư Liên Xô, Krushchev, điện đàm với Ulbricht, Bí thư thứ nhất Đông Đức “đề nghị xây tường”. Ngày 12-8 năm đó, Ulbricht ký lệnh đóng cửa biên giới và “bức tường ô nhục” đã được người Đức cùng với “Hồng Quân Liên xô” nửa đêm “dựng lên lén lút”.


Một phần còn lại của Bức tường Berlin, được bảo tồn để tưởng niệm

Bảo tàng Bức tường Berlin là một trong những bảo tàng vô cùng ấn tượng. Có thể tìm thấy ở đây những sự kiện bi thảm; nhưng, cũng có thể tìm thấy ở đây những câu chuyện hết sức li kỳ. Chỉ có với khát khao tự do con người mới có thể bất chấp sự hiểm nguy mà vượt thoát mãnh liệt đến vậy. Lượng người dân Đông Đức bị bắn chết khi trèo qua bức tường Berlin không dừng lại ở con số 1.374; mới đây, Bảo tàng vừa cho bổ sung vào danh sách này những người không phải là dân “vượt biên” mà là lính biên phòng Đông Đức. Hàng chục lính biên phòng Đông Đức đã tự sát thay vì chấp hành lệnh chính quyền bắn vào nhân dân, những người tìm kiếm tự do.

Chỉ cần đến Bảo tàng Bức tường Berlin là có thể hiểu vì sao cả Đông Âu, tràn ngập xe tăng Liên Xô, thế mà vẫn đổ; có thể hiểu vì sao Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu lấy ngày “23 tháng Tám là ngày tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa Stalin và Phát xít”. Ngày 23-8-1939, Stalin đã bắt tay với Hitler, ký Hiệp ước phân chia Châu Âu. Chỉ một tuần sau, ngày 1-9-1939, Hitler đánh chiếm một phần Ba Lan; ngày 17-9-1939, Liên Xô xâm lược phần còn lại. Người của Stalin, ngay sau đó đã giết hại hàng trăm nghìn người Ba Lan và đưa hơn một triệu người Ba Lan khác lưu đày viễn xứ.

Nếu như, chủ nghĩa Hitler chỉ kịp gây tội ác trong những năm tháng chiến tranh thì chủ nghĩa Stalin lại tiếp tục hủy hoại con người ngay cả khi không còn tiếng súng. Sự hy sinh của hơn 20 triệu người Liên Xô, sự anh dũng của các tướng lĩnh, của Hồng quân là vô cùng vĩ đại. Nhưng, sự hy sinh ấy của nhân dân đã bị những người như Stalin tước đoạt. Liên Xô, quốc gia đóng vài trò quyết định trong cuộc chiến chống Phát xít, thay vì được ghi nhớ như là “giải phóng quân” đã trở thành một lực lượng chiếm đóng và đã áp đặt lên Đông Âu một chế độ tước đoạt hết của con người những quyền căn bản.



Tưởng nhớ các nạn nhân của Bức tường Berlin

Tại Đông Đức, sau 8 năm chiếm đóng, chính quyền do người Nga lập nên liên tục có những hoạt động thanh trừng nội bộ; khủng bố những người bất đồng; kiểm soát thanh niên; trong khi, thực phẩm thì khan hiếm và đắt đỏ. Sau khi Stalin chết, hơn 1 triệu người dân Đông Đức đã xuống đường biểu tình. Chính phủ Đông Đức rút chạy vào tổng hành dinh của Hồng quân Liên Xô. Chính họ đã cầu cứu và “ngoại bang” đã dùng xe tăng thẳng tay đàn áp cuộc chống đối đầu tiên của nhân dân ấy.

Tại Hungary, sau năm 1945, cuộc bầu cử dân chủ chỉ đem lại cho đảng cộng sản Hungary 17%. Nhưng ngay sau đó, “toàn quyền Liên xô”, tướng Kliment Voroshilov đã buộc một thành viên không đảng phái trao ghế Bộ trưởng Nội vụ cho László Rajk, người của đảng cộng sản Hungary. László Rajk đã lập ra cơ quan an ninh quốc gia sử dụng cách mà Hitler đã làm trong thập niên 30: vu cáo, bắt bớ, tra tấn… tiêu diệt dần đối lập. Ngày 23-10-1956, người Hungary đứng dậy hô to “không cam chịu làm nô lệ nữa”. Nhưng, ngày 4-11-1956, xe tăng Liên Xô nghiến nát cuộc chính biến sau khi máy bay ném bom xuống Thủ đô Budapest: 2.500 người Hung bị giết; 200 nghìn người khác phải trốn khỏi quê hương.

Sự ngột ngạt về chính trị và bế tắc về kinh tế trở thành tình trạng phổ biến ở Đông Âu. Năm 1967, sau khi trở thành Bí thư thứ Nhất Tiệp Khắc, Alexander Dubcek tiến hành cải cách. Dubcek cho phát triển kinh tế tự chủ hơn; các tù nhân chính trị được tha và báo chí bắt đầu có tiếng nói. Không chủ trương đa đảng, Dubcek chỉ có ý định xây dựng “chủ nghĩa xã hội nhân bản hơn”. Tuy nhiên, những nỗ lực của Dubcek càng mang lại sự thịnh vượng cho nhân dân thì lại càng gây lo lắng cho Liên Xô. Cho dù không có “nổi dậy”, đêm 20-8-1968, xe tăng Liên Xô vẫn tiến vào Praha theo sau bởi hơn 165 nghìn quân của khối Warsava.

Tại bảo tàng Bức tường Berlin, có một đoạn video gần như được liên tục phát, đó là trích đoạn phát biểu ngày 12-6-1987 của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan: “Mr. Gorbachev, hãy phá bỏ bức tường này”. Thật khó để xác định ai là người đóng vai trò chính để kết thúc chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, có thể bức tường Berlin đã không sụp đổ nếu như tháng 3-1989, Thủ tướng Hungary, Miklos Nemeth, khi có ý định “tháo gỡ hàng rào kẽm gai dọc theo biên giới” không nhận được tín hiệu từ ông Gorbachev: “Vấn đề an ninh biên giới là việc của ông Nemeth”.

Không có một dân tộc nào không nuôi khát vọng tự do ngay cả dưới họng súng của xe tăng và đại bác. Câu trả lời của ông Gorbachev đơn giản chỉ là trả cho người Hungary quyền tự quyết. Cái quyền mà người dân Đông Âu lẽ ra phải được hưởng kể từ 1945.

Cũng trong tháng 6-2004, tôi có đi qua một vài nghĩa trang quân Đồng Minh chết sau sự kiện Normandy. Những tấm bia ở đây nói rõ là nghĩa trang được lập bởi dân chúng địa phương góp đất và tiền để tưởng nhớ những người lính Anh, Mỹ, New Zeland, Australia… Những “nghĩa trang dân lập” ấy vẫn được gìn giữ cho đến ngày nay với hoa tươi quanh năm. Trong khi, năm 2007, Tổng thống Nga Putin bị các quốc gia lân bang đặt trước tình huống phải ký sắc lệnh lập 7 văn phòng đại diện tại Ba Lan, Hungary và các nước vùng Baltic để bảo vệ mộ của Hồng quân. Thật không phải khi đụng đến nơi tưởng niệm những người đã hy sinh. Nhưng, cái cách mà Putin cư xử với lân bang đã khiến họ nhớ lại thời Liên Xô và nhận thấy những tượng đài Hồng quân “không còn là một biểu tượng chống phát xít mà là biểu tượng của sự chiếm đóng”.

Bên cạnh những bao cát của Checkpoint Charlie, chốt gác giữa Đông và Tây Berlin, cũng luôn có hoa tươi. Có lẽ ngay chính người Mỹ, sau những chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Iraq, cũng thèm khát hình ảnh của chính mình trên bờ biển Normandy hay ở cái Checkpoint Charlie ấy. Từng là một người lính ở Campuchia tôi hiểu, không có người lính nào sẵn sàng hy sinh nếu không nghĩ, sứ mệnh của mình là giải phóng. Nhưng, không chỉ những người đã nằm xuống, người lính thường kết thúc sứ mệnh sau khi buông súng, mà những việc có ảnh hưởng tới “các giá trị thiêng liêng” khi ấy mới thực sự bắt đầu. Một cuộc chiến không còn được coi là “giải phóng” nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do.

Huy Đức

Và sau đây là thông báo chính thức của Huy Đức trên blog Osin của anh:

Làm Osin

Từ 25-8, tôi không còn là phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị. Trong 21 năm làm báo, tôi đã từng bị mất việc nhiều lần. Thất nghiệp không phải là một trạng thái nhẹ nhàng, nhất là mất việc ở nơi mà mình yêu thích. Nhưng, đôi khi người làm báo vẫn phải có những quyết định không phải do mình lựa chọn.

Tôi thừa nhận, đây là một thời kỳ khó khăn. Trên trang web BBC, GS Carlyle Thayer nói: “Từ khi ông Tô Huy Rứa vào Bộ Chính trị hồi đầu năm ngoái, người ta thấy có một sự mài giũa trông thấy đối với báo chí chính thống”. GS Thayer có lẽ gần đây chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với ông Rứa và tình hình Việt Nam. Tác giả bức tranh báo chí hiện nay không phải hoàn toàn là Ban Tuyên giáo.

Tôi không có ý định chia tay với nghề báo. Nhưng, đây là thời gian thích hợp để tôi viết lại một vài chương sách, làm một vài việc mà tôi cảm thấy như là món nợ với một người đã khuất. Tôi tin là mình sẽ có cơ hội trở lại với báo chí chính thống sau khi hoàn thành những công việc này. Báo chí, cho dù của nhà nước thì vẫn là một tài sản của xã hội. Báo chí phải là nơi chuyển tải những bài viết trung thực, những phân tích, phản biện; những bài viết mà người làm báo tin rằng nó phụng sự xã hội.

ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA?

Ðịnh Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa?
Source: Thông Luận
Thần Báo

Những biến chuyển dân chủ của thế giới, những cuộc vùng dậy của nhân dân bị trị, chống áp bức bất công đã khiến cho tập đoàn lãnh đạo cộng sản Việt Nam hoảng sợ, và cải tổ kinh tế. Giải toả nghèo đói bất mãn cũng đồng nghĩa là đảng muốn làm xoa dịu nhân dân để bảo toàn được quyền lực cai trị.

Người cộng sản thấy rằng nguyên lý độc tài áp bức không mang lại thịnh vượng quốc gia và hòa bình thế giới. Ngoài ra, độc tài áp bức làm xói mòn niềm tin quần chúng. Ðộc tài áp bức còn cản trở phát huy sáng tạo, khuyếch trương năng lực sản xuất và phát triển kinh tế xã hội. Nhất là vào thời nay, sự phát triển kinh tế xã hội lại đòi hỏi nhiều tính năng động sáng tạo và uyển chuyển của toàn dân.

Chế độ độc tài kinh tế lại trở thành phương tiện khủng bố đàn áp của nhà cầm quyền. Thành qủa phát triển kinh tế trong xã hội cộng sản không nhất thiết nhân dân được hưởng, vì bất cứ lúc nào nhà nước cũng có thể tước đoạt, thâu dụng toàn bộ tài sản của dân. Theo lý thuyết kinh tế, một cơ sở độc quyền có khả năng thâu dụng toàn bộ giá trị thặng dư. Một chế độ độc quyền cũng có khả năng đó. Bởi thế, phát triển kinh tế như tại Việt Nam hiện nay chưa phải là yếu tố bảo đảm cho người dân được hạnh phúc, cho nhân quyền được tôn trọng, và dân quyền được thực thi.

1. Ðịnh hướng xã hội chủ nghĩa là gì?

Có thể đảng cộng sản Việt Nam nghiên cứu phương pháp luận của Abraham Maslow (1908-1970), một ngành học khích lệ tổ chức (organizational motivation) phân loại nhu cầu con người (hierarchy of needs) trên 5 bậc thang thứ tự ưu tiên. Từ đó, ban chấp hành trung ương đảng mang ra áp dụng vào đường lối cai trị bằng những chính sách độc tài kìm kẹp nhân dân theo mô hình Maslow.

a. Mô hình Maslow là gì?


Maslow's pyramid

Người cộng sản lý luận rằng khi muốn cai trị được nhân dân, thì trước tiên cần sử dụng một chế độ mệnh danh là xiết hầu bao. Nhắm cái bao tử của dân mà chỉ huy lãnh đạo. Ðó là định hướng xã hội chủ nghĩa.

Cũng theo lý thuyết kinh tế, cái bụng bảo cái chân cái tay. Nhà cầm quyền cộng sản, hơn lúc nào hết, luôn buộc người dân lo nghĩ đến chuyện miếng ăn, cái mặc. Cái bụng lúc nào cũng phải cảm thấy còn đoi đói, chưa no. Và người dân thì thiếu thốn nhu yếu phẩm, lo chạy gạo từng bữa. Ðủ hôm nay thì thiếu ngày mai, hay được nồi cơm sáng, thì lại chưa có nồi cơm chiều. Cuộc đời cứ quần quật lo đói rách như thế, thì xin hỏi, còn chi thì giờ mà nhân dân nghĩ đến tranh đấu, hoặc đòi hỏi tự do dân chủ nhân quyền?

Căn cứ theo phân loại nhu cầu con người, Maslow đã giúp chúng ta giải thích kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên 5 nấc thang của ông. Bậc thang thấp nhất mà cũng là ưu tiên cao nhất của con người, đó là nhu cầu thể xác (physiological needs) gồm có đồ ăn, thức uống, áo quần, sinh lý cho đến không khí mà con người phải thở, hay sợ hãi khi bị đau đớn. Ưu tiên hai là nhu cầu cảm nhận an toàn (safety and security needs). Ưu tiên ba là nhu cầu được thương yêu và kết tình bạn hữu (love and belonging needs). Ưu tiên bốn là nhu cầu tôn trọng nhân phẩm (esteem needs), tức được tôn trọng từ chính bản thân và nhân quần xã hội. Ưu tiên năm là ưu tiên thấp nhất, tức nhu cầu tự thực hiện (self actualization needs).



b. Mô hình Maslow được đảng cộng sản Việt Nam áp dụng như thế nào?

Nhu cầu con người có thể nhận diện, có thể định nghĩa là ước muốn trở thành chính mình, và trở thành tất cả những gì mình muốn trở thành. Nhưng yếu tố cần thiết để đạt trình độ tự thực hiện, là con người cần làm chủ với đời sống của mình trong xã hội, và cũng làm chủ lấy cấu trúc chính trị chi phối đời sống của mình, tức đời sống dân chủ.

Học thuyết Maslow bao gồm hai hệ luận nhằm giải thích, tiên đoán hành vi của con người. Một là, con người cố gắng vượt qua những thứ tự ưu tiên để đạt đến mức độ cao, đó là có thể thực hiện. Hai là, trong trường hợp phải chọn lựa giữa nhiều nhu cầu, thường thường, nhu cầu thuộc ưu tiên cao thì được chọn trước.

Ví dụ, người thường dân thì phải lo ăn, lo uống, lo cho sự an toàn bản thân mình, trước khi nghĩ tới nhu cầu tự thực hiện.

Chính cái điểm trọng yếu trên đây trở quy luật làm khuôn vàng thước ngọc giúp cộng sản điều nghiên đưa vào đường hướng cai trị căn cứ theo nhu cầu thể xác, để có thể kìm kẹp nhân dân nằm trong nấc thang thấp nhất, và dễ thực hiện thành công nhất. Ðảng chỉ việc dùng kinh tế làm phương tiện đàn áp nhân dân, tức kinh tế chỉ huy chính trị. Từ đó đảng kìm hãm nhân dân trong những nhu cầu thể chất như cái ăn, cái mặc, cái ngủ… và những vấn đề sinh lý thường xuyên đòi hỏi của mọi con người. Vậy thì, còn hơi sức đâu, thời gian đâu mà nhân dân đứng lên đấu tranh dành lại nhân quyền tự do dân chủ, như bảng thang 5 gọi là nhu cầu thực hiện? Chế độ hộ khẩu là một ví dụ điển hình cho bảng thang một, mô hình Maslow.

Từ mô hình Maslow, đảng cộng sản Việt Nam đã nắm trọn hầu bao của toàn dân, thì kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ tiến nhanh tiến mạnh và tiến vững chắc lên thang hai. Thay vì nâng cao dân trí, thay vì giáo dục đào tạo, thay vì nâng cao đời sống dân nước, thì ngược lại, đảng dồn tài nguyên quốc gia vào việc củng cố quân sự quốc phòng, mua vũ khí.

Cũng theo bảng thang hai Maslow, người cộng sản Việt Nam tin tưởng rằng dân nghèo nước mạnh, và đảng phải có nhiệm vụ tạo ra sức mạnh bằng những dự án mua vũ khí, súng đạn hiện đại của Nga tới hàng tỷ Mỹ kim hàng năm. Theo tờ báo kinh tế The Economist, trong năm 2006, Hoa Kỳ có tổng thu nhập quốc dân (Gross National Product) là 13,18 ngàn tỷ US dollars, và chi tiêu 5.5% cho ngân sách quốc phòng; đang khi, Việt Nam chỉ có 57 tỷ USD GNP mà chi tới 10.6%. Lại có nguồn tin trong nước cho biết Việt Nam đã chi dùng gấp đôi cho ngân sách quốc phòng tức 20%, chớ không như con số báo cáo đưa ra.

Căn cứ bảng thang Maslow và qua bản tin Việt Nam mua vũ khí của Nga, chúng ta thừa nhận rằng đảng cộng sản có công dẫn dắt dân tộc đi lên từ thang một, nhu cầu thể xác, mà tiến tới thang hai là nhu cầu an toàn. Ðây cũng là thành quả to lớn mà toàn đảng, toàn quân, và toàn dân đã liên hoan ăn mừng trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Ðảng cộng sản xưa nay cai trị bằng ba biện pháp hỗ tương. Một là, đảng chủ trương việc vận động tâm lý quần chúng, phát động chiến tranh nhân dân và mang đến thành quả là cướp được chính quyền. Ngày nay, đảng vẫn chủ trương tiếp tục tác động tâm lý quần chúng nhân dân bằng khẩu hiệu, bằng hứa hẹn, và truyền bá chủ thuyết Mác Lê… Hai là, đảng phải khủng bố đe dọa quần chúng để hủy diệt những mầm mống chống đối. Ba là, đảng sẵn sàng mềm mỏng để xoa dịu những bất mãn của quần chúng. Ðảng thừa biết rằng những nhu cầu đòi hỏi của quần chúng nhân dân như tự do dân chủ nhân quyền là thang năm, nhu cầu thực hiện dân chủ của Maslow.

Vậy thì vẫn có những sự rình rập của công an khu vực, hay những vụ đấu tố thanh trừng của tòa án nhân dân, dầu rằng đảng có bước qua thang hai, nhu cầu an toàn. Ðảng lại phải đương đầu với thang ba là nhu cầu yêu thương, được yêu thương và có thân nhân bạn bè thân thuộc yêu thương. Nếu như người Hồi giáo dị ứng trước những biếm họa Mohamet, thì người cộng sản lại dị ứng mỗi khi nhắc tới chữ yêu thương.

Lịch sử chứng minh rằng những chiêu bài vì dân vì nước, độc lập tự do, giải phóng dân tộc, chống Mỹ cứu nước, thống nhất lãnh thổ… chẳng qua là để thực hiện mục tiêu cuối cùng là chủ nghĩa tam vô. Ðối với những người khi có chủ trương vô gia đình thì làm gì có dân tộc, có đồng bào, mà có yêu thương? Và đã chủ trương vô tổ quốc, thì làm gì có hy sinh để mà giải phóng?

Yêu thương là một cái tát vào mặt chế độ cộng sản, là thang ba của Maslow. Nhân dân Việt Nam từ ngàn xưa đã có nếp sống với tinh thần thể hiện Ðồng Bào, đồng là cùng và bào là bọc, tức anh em bình đẳng và thân thương trong Một Bọc Trăm Con. Một là trăm và trăm là một. Mình sống vì mọi người và mọi người cũng vì mỗi người là Bọc Mẹ Trăm Con thể hiện là Con Cháu Tiên Rồng.

Nhu cầu thang ba như nói trên, thì coi như Hồ Chí Minh và Cộng Ðảng rớt đài, đã thua dân tộc Việt Nam. Bởi vì trong một xã hội chỉ xây dựng trên nguyên lý đấu tranh giai cấp, trên hận thù nghi kỵ lẫn nhau, lừa đảo nhau… Hơn nửa thế kỷ cầm quyền mà đảng chưa lên được thang ba, thì muốn tiến tới thang năm Maslow chắc chắn đảng sẽ phải mất hàng nửa thiên niên kỷ. Không lên thang Maslow thì người cộng sản đành dùng ngón đòn tây độc Âu Dương Phong trong chuyện Kim Dung, vì tẩu hỏa nhập ma chóng mặt mà phải lộn ngược gọi là cáp mô công. Do đó mà có kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ðịnh hướng xã hội chủ nghĩa lại sinh ra quái thai “thắt lưng buôc bụng (tighten one’s belt).”

2. Thắt lưng buộc bụng

Lý thuyết kinh tế nói rằng, thắt lưng buộc bụng hôm nay, để ngày mai thế hệ con em sung sướng.

Chính sách phát triển kinh tế mà người cộng sản chủ trương, tiến hành theo hai giai đoạn. Một là, đảng chú tâm phát triển ngành kỹ nghệ nặng. Hai là, đảng sau đó từ từ chuyển sang các ngành như sản xuất tiêu thụ. Ðầu tiên đảng kêu gọi nhân dân thắt lưng buộc bụng, buộc cỡ nào cũng buộc để mà sau cùng là có thể có dư dật. Nếu qủa thật chính sách kinh tế cộng sản này thành công, thì trong giai đoạn phát triển kỹ nghệ nặng, toàn dân đã biến thành vô sản chân chính, thiếu thốn đủ mọi thứ, gọi là nhu yếu phẩm. Không gạo mà dùng bo bo mì lát bắp đá. Không giầy mà đi dép râu cụ hồ. Và không còn nhu yếu phẩm đến nỗi cán bộ cộng sản cao cấp cũng phải dùng băng vệ sinh nữ giới mà thay khẩu trang, bịt miệng chống bụi trong lúc chạy Honda.

Kinh tế cộng sản, đúng lẽ ra, vẫn tiến nhờ sự gia tăng sản xuất công nghiệp của toàn dân. Nhưng thực tế, tài liệu Hội Ðồng Tương Trợ Kinh Tế Cộng Sản (Council for Mutual Economic Assistance) thì sản lượng thuần tịnh quốc gia (net national product) chỉ tăng 3.2% trong giai đoạn 1981-1987. Vì hầu hết các tài liệu cộng sản báo cáo bớt đi mức độ lạm phát nhằm mục đích tuyên truyền; bởi thế, sự phát triển kinh tế thấp hơn hoặc đình trệ. Kết quả, người dân thắt lưng buộc bụng đã sống qua vài thế hệ mà vẫn chưa thấy ngày mai ăn no mặc ấm, chưa thấy làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu.

Theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc ước tính tổng sản lượng quốc gia chia đều theo đầu người tại Việt Nam từ năm 1989 là $175US đến năm 2005 là $475US. Thực tế, chính sách thắt lưng buộc bụng của kinh tế cộng sản được coi như không đúng.

3. Hy sinh đời bố củng cố đời con

Thi hào Nguyễn Du không biết sao lại thốt ra trong Kiều: “Một liều thì ba bảy cũng liều”. Ngay lập tức, người cộng sản chớp câu nói “liều” mà áp dung vào việc làm kinh tế xã hội chủ nghĩa là “hy sinh đời bố củng cố đời con.” Nhà kinh tế xã hội chủ nghĩa Mai Văn Dâu là một ví dụ điển hình. Vì mọi người thấy rằng phương pháp tổ chức kinh tế chỉ huy, và phủ nhận quyền tư hữu khó mà đạt được khả năng tối thuận (pareto efficiency). Trước sau gì định hướng kinh tế xã hội chủ nghĩa sẽ đi tới tình trạng hoang phí đình trệ. Thôi thì liều, hy sinh đời bố củng cố đời con… rồi trước sau cũng được đảng cho phép “hạ cánh an toàn”.

Vì phủ nhận quyền tư hữu, nên kinh tế phải song hành với chính trị. Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chính trị độc tài áp bức là một vấn đề bất khả phân. Bởi cứ hễ là người thì ai cũng có nhu cầu, có khuynh hướng tư hữu, có thành quả do chính mình sản xuất. Vì thế định hướng xã hội chủ nghĩa là nhằm tước đoạt tư hữu, kiểm soát không cho ai tư hữu để nhân dân sớm trở thành vô sản chuyên chính.

Công hữu, giờ đây lại sản sinh ra nhu cầu mới và cần có cơ năng điều hành, tức kinh tế tập trung do đảng chỉ đạo. Từ đó lại dẫn tới, bộ máy tập trung kinh tế và bộ máy lãnh đạo chính trị phải là một. Và khi có kinh tế nhiều, thì có phương tiện khủng bố đàn áp nhiều. Như lời Lenin từng nói “Tự do thì tốt nhưng độc tài tốt hơn” (Freedom is good but controll is better).

Ðiều này đã khiến cho nhiều nhà khoa bảng lầm tưởng rằng, hễ cứ phát triển kinh tế thì áp bức nhân quyền được giảm dần, có lẽ nó chỉ đúng với cái thể chế độc tài không cộng sản. Bởi kinh tế là phương tiện của nhà cầm quyền dùng trong đại cuộc thực hiện độc tài và áp bức nhân dân.

Qua những cuộc cải cách ruộng đất hay cải tạo thương nghiệp thì mục tiêu của đảng là phải phế bỏ quyền tư hữu mà dành lại khả năng quyền lực chính trị từ tay nhân dân. Từ đó, đảng có thể tập trung quyền lực chính trị trong một chế độ chuyên chính vô sản để tạo ra bạo lực. Những lớp nông dân, công nhân, hay trí thức tư sản bị mất hết của cải tài sản và quyền lực chính trị, thì dễ bị khống chế bởi các bí thư đảng ủy, trong hệ thống kiểm soát hộ khẩu và bình công chấm điểm. Toàn dân lúc này chỉ còn được ăn lưng lửng bao tử, và lúc nào hay bất cứ cái gì cũng thiếu thốn. Ðó là chế độ nắm hầu bao để chỉ huy.

Trong tay người dân giờ đây không còn có tài sản, không còn có tiền, không còn có vũ khí, cho nên họ dễ bị cô lập trong hệ thống công an. Ngược lại với chế độ dân chủ, nông dân hay công nhân dù có nghèo rớt mùng tơi thì vẫn còn chút vốn phòng thân, làm chủ bản thân. Nghĩa là họ còn có chút quyền lực chính trị, tự lực cánh sinh. Nếu ta thu góp những quyền lực chính trị nho nhỏ đó thì sẽ thành một thế lực lớn để có thể tự bênh vực cho mình. Hiểu được như thế thì mới hiểu được hậu quả của cuộc cải cách ruộng đất, hay cải tạo thương nghiệp đối với việc củng cố bộ máy đàn áp kềm kẹp của chế độ độc tài cộng sản là gì.

Tóm lại, những vấn đề bất tương xứng để phủ nhận quyền tư hữu và hiệu năng của một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã chẳng phải sự bắt đầu từ Việt Nam hôm nay, mà nó đã có từ thập niên 1920, Ludwig Von Mises và trường phái kinh tế Áo đã biện luận cho điều này. Tới thập niên 1930, Oscar Langa và Abba Lerner chứng minh rằng trên lý thuyết, một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa tản quyền vẫn có thể vận dụng được những điều kiện tối thuận của một nền kinh tế tự do. Và tiếp đến, Fredrick Hayek và Milton Friedman xác định rằng, mặc dầu trên lý thuyết, tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa tản quyền có thể đạt được hiệu năng tối thuận, nhưng trên thực tế guồng máy này không tạo được sự khích lệ (economic incentives) cần đủ để đáp ứng hữu hiệu và kịp thời đúng lúc với những biến chuyển của nền kinh tế. Vì nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã không đáp ứng được nhanh nhẹn, cho nên nó đã bị mắc nghẽn trì trệ, tạo ra hoang phí tài nguyên, và dẫn đến tình trạng hết sức nghiêm trọng như Việt Nam hôm nay.

4. Kết luận

Chúng ta đã giải thích được xã hội chậm tiến và nghèo đói trên nguyên lý định hướng xã hội chủ nghĩa hai nấc thang của mô hình Maslow, và cả hai đều dẫn tới một hệ quả duy nhất là đảng cộng sản không mang lại hạnh phúc ấm no cho dân tộc. Một tập đoàn cai trị đi ngược lại nguyện vọng của nhân dân thì trước sau gì cũng bị đào thải. Nhìn vào thời cận đại, nhân dân các nước cộng sản Ðông Âu đã vùng dậy làm cuộc lật đổ chế độ độc tài đảng trị, từng một thời nhân danh vô sản chuyên chính và dân chủ tập trung.

Nhân dân các nước trong khối cộng sản đã vượt thắng sự sợ hãi bị khủng bố đàn áp để mà đứng lên. Hôm nay, người dân Việt cũng đang ở trên con đường “vượt qua nỗi sợ”. Để có thể đến một ngày nào đó một người đứng lên, triệu người đứng lên, toàn dân đứng lên đạp đổ chế độ phi nhân để giành lại quyền sống, khôi phục nền văn minh nhân bản, và xây dựng lại đất nước.

Thần Báo

by AI HUU NINH THUAN
08/28/09. 08:13:21 pm. 5013 words, 63 views. Categories: Thiên hạ sự, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn ,

BÀI THU HOẠCH CHO NGÀY 19 THÁNG 8


The Lesson by Pablo Picasso

Bài Thu Hoạch Cho Ngày 19 Tháng 8
Source: dinhtanluc's blog

Đinh Tấn Lực & Lương Huy Lễ
-------------------------

ý thức chỉ có ở con người

hình thành trong lao động nó gắn liền với sự hình thành ngôn ngữ

sự phát triển của ý thức

gắn liền với quá trình phát triển của lao động và ngôn ngữ

trong sự nghiệp cải tạo con người và cả loài người

quá trình phát triển lao động

gắn liền với khẩu hiệu tính của ngôn ngữ

đó là nguyên nhân của đặc trưng khập khiễng gắn liền với cà giựt

còn sự nghiệp cải tạo con người và cả loài người

thì gắn liền với đáy vực

***

sự xuất hiện của con người

gắn liền với với sự hình thành xã hội loài người

mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp

thường gắn liền với mâu thuẫn dân tộc

và đấu tranh giải phóng dân tộc

đấu tranh giải phóng dân tộc

gắn liền với lực lượng công nông sản xuất

những bước nhảy trong phát triển của lực lượng sản xuất

gắn liền với những phát minh lớn về khoa học kỹ thuật

phát minh lớn nhất của ta

gắn liền với phạm trù nông nghiệp và khẩu nghiệp

người thay trâu gắn liền với cái cày

thủy lợi gắn liền nhân dân với ky cuốc

còng số tám gắn liền đầu mình và tứ chi

cùm mồm gắn chặt hai hàm răng

cùm sắt gắn liền con người với sàn xi măng

***

chính trị là biểu hiện của tập trung kinh tế

nền sản xuất hàng hóa ra đời

gắn liền với sự phân công lao động xã hội

công điểm gắn liền hợp tác xã

lúa ba trăng hai trời gắn liền với cải cách ruộng đất

đình làng gắn liền với bập bùng ngọn đuốc

cần cổ gắn liền với phầm phập lưỡi cày

phân công lao động xã hội

là sự tách biệt các loại lao động khác nhau trong xã hội

gắn liền với các hoạt động sản xuất dịch vụ

nhà nông gắn liền với thổ trạch

ngư dân gắn liền với sông lạch

tiểu thương gắn liền với quang gánh

sản xuất gắn liền với gian nan

dịch vụ gắn liền với thủ trưởng cơ quan

***

tích lũy nguyên thủy tư bản gắn liền với bạo lực và tội ác

nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

là nền kinh tế gắn liền với thị trường chiếm đoạt

bằng bất cứ thủ đoạn nào

kể cả gây chiến tranh xâm lược

nghĩa vụ quốc tế

gắn liền mười năm rường cột của nước nhà

với mìn cóc Kampuchia

chỉ để dân tộc bạn này khỏi gắn liền với nạn diệt chủng

còn ta thì gắn liền với trận chiến giáo trừng san bằng biên giới

***

giai cấp tư sản gắn liền với thống trị và bóc lột

giai cấp vô sản là đội ngũ gắn liền

những người lao động làm thuê bị bóc lột và nô dịch lại với nhau

giai cấp này đại diện cho tính tiên tiến của xã hội

và tiêu biểu cho tính xã hội hóa của lực lượng sản xuất

cách mạng gắn liền với đấu tranh giai cấp để triệt tiêu tư sản

do đó giai cấp vô sản đời đời gắn liền bởi khẩu hiệu đại đoàn kết

và chỉ phân tầng khi có sự xuất hiện của quyền lực

gắn liền với đảng tịch

như mác dạy trong giai cấp còn có chia tầng

vô sản tầng trên bèn gắn liền với bạo lực thống trị

vô sản tầng dưới đành gắn liền với nô dịch bị bóc lột

nhưng hai tầng vẫn gắn liền quan hệ hữu cơ máu thịt

tầng dưới lỏng bỏng là máu

gắn liền để nuôi dưỡng tầng trên lùng nhùng là thịt

xưa và nay nhân dân chỉ gắn liền với nạn nhân

***

chủ nghĩa tư bản là thủ phạm chính gây ra nạn ô nhiễm môi trường

việc chạy theo lợi nhuận tối đa

gắn liền với sự cạn kiệt nguồn tài nguyên và phá hoại sinh thái

bản chất của xã hội tư bản

gắn liền với sự giàu có cho một số ít người giàu

còn đại đa số người lao động gắn liền vào

sự thụ hưởng một phần vừa đủ

để vận hành được nền sản xuất hiện đại

tức hoàn toàn khác biệt

với xã hội búa liềm chủ nghĩa của chúng ta

duy nhất chỉ ở tính hiện đại

***

tính từ năm 1919 tới nay

hàng trăm nước đã giành độc lập

hàng trăm nước đã gắn liền vào phong trào không liên kết

ảnh hưởng của xã hội chủ nghĩa

từng đẩy lùi trận địa của chủ nghĩa đế quốc thực dân

trên bốn châu lục

gắn liền với sự thay đổi cục diện chính trị thế giới

là một thực tế không thể nào bác bỏ được

cao điểm sâu sắc tột đỉnh của ảnh hưởng này

gắn liền với hai năm 1990 và 1991

***

xã hội cộng sản nguyên thủy

gắn liền với không pháp luật và không chính phủ

xã hội xã hội chủ nghĩa hiện thực ngày nay

gắn liền với nền văn minh du thủ

tăng cường pháp chế gắn liền với tập trung dân chủ

công dân gắn liền với công cụ

tuổi đảng gắn liền với chức vụ

lãnh đạo gắn liền với bùa chú

thanh niên gắn liền với nghĩa vụ

nomenklatura thụ tinh trên mồ liệt sĩ

nhưng chỉ ưng gắn liền với quả phụ


Định hướng XHCN

***

định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với tương lai lâu dài

con đường quá độ tới xã hội chủ nghĩa

gắn liền với khó khăn miệt mài

chủ nghĩa gắn liền với ẩn số

giáo điều gắn liền với lưỡi gỗ

đất nước gắn liền với chất nổ

đảng viên gắn liền với tham ô

trung ương gắn liền với ma cô

dân gắn liền với hố

định hướng xã hội chủ nghĩa phải gắn liền với màu sắc dân tộc

nô bộc chức quyền tha hồ chia lộc

còn đời đời dân tộc thì gắn liền với mọi sửa sai

núi xương vời vợi gắn liền với sông máu khơi ngòi

khi quyền lực gắn liền ngu tối

nghị quyết gắn liền đại hội

đói gay gắt gắn liền với nghèo tuyệt đối

***

dân chủ không phải tự nhiên xác lập

dân chủ là thành quả của trường kỳ đấu tranh giai cấp

dân chủ tư bản đầy rẫy những khuyết tật

gắn liền với bóc lột đánh đập

dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn liền với độc lập dân tộc

đó là quá trình phát triển từ thấp đến cao gắn liền với lịch sử

gắn liền trình độ phát triển kinh tế và văn hóa của đất nước

định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với điều chưa có

hoặc với nỗi hoang mang ta chưa biết gì về nó

nhưng nghị quyết và thực tế đã cùng vạch rõ

dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn liền với công bằng ấm no

dân biểu xã hội chủ nghĩa gắn liền với lách xớt xì po

dân đen xã hội chủ nghĩa gắn liến với sắn lát bo bo

dân sinh xã hội chủ nghĩa gắn liền với vé số và vốn trời cho

dân quyền xã hội chủ nghĩa gắn liền với nửa thước sàn tù co

***

quá khứ đã gắn liền ngăn sông với cấm chợ

quá khứ cũng gắn liền mậu dịch với chợ đen

phải chi quá khứ gắn liền được

bạt ngàn chính sách với quota xuất khẩu

may mà quy luật tiến bộ gắn liền phe với phe cánh với cánh

hôm nay giá cả thị trường

và quy luật giá trị đã sửa soạn xuất hành

để gắn liền với quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh

phát triển kinh tế hàng hóa trong nước

gắn liền phân công hợp tác quốc tế

nên tất yếu phải xây dựng cơ cấu kinh tế mở

cung gắn liền với cầu

âu gắn liền với sầu

cửu vạn nhập khẩu gắn liền với trung ương xuất khẩu

quốc doanh chủ đạo gắn liền với phá sản tẩu tán

thanh hương gắn liền với nguyễn văn mười hai

cây số 11 sway-pak gắn liền với các bé gái

còn đảng đời đời gắn liền với thanh liêm nhân ái

chỉ có du kích buôn lậu

mới gắn liền được xu thế tham nhũng công khai

hải quan phiên hệ gắn liền trung ương đế hệ

nhờ vào sinh hoạt đảng gắn liền phê tự phê

trong hoạt động thị trường khả năng tự lựa chọn của mỗi chủ thể

đều gắn liền với mục tiêu tối đa hóa lợi ích

nhà nước cũng không vì điều gì khác hơn tối đa hóa lợi ích

nên xếch tua gắn liền du lịch

gắn liền cả nữ sinh hai đại học từ liêm với mai dịch

cũng không điều gì khác

kinh tế mở chợ chiều

điên gắn liền với liều

tiêu gắn liền với điều

thị trường là phạm trù kinh tế

gắn liền với nhiêu khê sản xuất đổi trao

nhà nước quản lý gắn liền với đảng lãnh đạo

thợ may rách áo gắn liền với nhà nông đói gạo

còn tài nguyên đất nước gắn liền với chiếu khán ngoại giao

kinh tế mở cả thị trường quyền hành gắn liền với tào lao danh dự

bởi mọi mơ ước riêng gắn liền với giấy phép đầu tư

nhà nước gắn liền điều tiết vĩ mô dính chặt vào hư vô

ba mươi năm chiến đấu là để có ngày được rao lớn mại dô

***

văn hóa là nguồn năng lượng của đời sống tinh thần

văn hóa với chính trị xã hội đời đời gắn liền

kháng chiến văn hóa với văn-hóa-hóa kháng chiến

đền đài lăng huế gắn liền chế độ xưa phong kiến

tháp rùa thăng long gắn liền với sao vàng tiên tiến

kỹ thuật lột da hạ long chưa gắn liền phát hiện

văn hóa việt nam là văn hóa con rồng cháu tiên

gắn liền bốn ngàn năm văn hiến

gắn liền con người việt nam với anh hùng chiến sĩ

cả hai đều được lãnh đạo y theo quyết nghị

gắn liền với văn hóa phong bì

quản lý là quản có lý gắn liền nguyên lý với đạo lý

qua tận bên ngân hàng thụy sĩ

chỉ riêng lãnh đạo không nhiệm kỳ mới gắn liền với i tờ bổ túc

tai nấm độc nào không gắn liền thân cây mục

nên văn học và đất nước gắn liền nhau chỗ nghèo hèn đớn nhục

văn hóa với cách mạng gắn liền như bản lề cửa ngục

thơ văn đành gắn liền với kính lúp công an

vững chắc lập trường gắn liền với ba lơn mỹ quan

trăng bắc kinh vẫn tròn hơn trăng oa sinh tơn

những giọt lệ gắn liền phiếu tem thịt lợn

cái giật mình gắn liền một câu gỗ chục câu sơn

mì ăn liền lơn tơn chạy dưới hàng cờ đỏ

rọ gà gắn liền với cũi chó

thống kê quốc tế gắn ta vào đáy giỏ

trước một thời anh hùng đầy ngõ

chỉ bọn thực dân ngu mới cho dân thuộc địa ra báo tư nhân

còn lề phải của ta bao giờ cũng an toàn cho kẻ lo thân

tổng biên tập gắn liền với trung ương tuyên giáo

thà thua kém chứ không gắn liền với làng bloggers dân báo

nên nhân dân không gắn liền với báo nhân dân

và an ninh thủ đô nhất quyết không gắn liền với chân trời mới

văn hóa ta là văn hóa dự án

từ xa lộ đông tây tới pmu 18

báo chí phải biết đến cấp thứ trưởng là đụng trần giới hạn

chống tham nhũng đích thị là chống đảng

ai bảo đảng trả thù đích thị là người mê nói sảng

văn hóa ta túm gọn bằng 16 chữ vàng

cuộc rước đuốc thiên triều phải gắn liền trọng thị với an toàn

tất nhiên cảnh giác bọn bá quyền

phải gắn liền với án tù thiếu thuế

cho rõ tính thiêng của cột đồng mã viện

văn hóa ta là văn hóa kim tiêm

kinh sách đều hiển thị búa liềm

nhà thờ đã gắn liền với công viên

làng mai không thể gắn liền công-tắc điện

linh mục ra tòa gắn liền với bàn tay công an bịt miệng

luật sư tin lành gắn liền với bản án ngũ niên

văn hóa ta tuyền là chính sách lớn

hải đảo gắn liền với công hàm

vườn rau sạch gắn liền với cột mốc biên

ngân phiếu 150 triệu đô gắn liền với bôxít tây nguyên

nghị quyết đời nào không gắn liền

đời sống ấm no với học hành nghiêm chỉnh

văn hóa xã hội chủ nghĩa

phải gắn liền với phát triển nhân cách và bản lĩnh

một người xả thân là cả họ xúng xính được nhờ

nên hàng hàng lớp lớp kinh tế người mở chợ

bia ôm gắn liền gái tơ

cà phê gắn liền đèn mờ

nhân phẩm lắng đáy bát phở

bản lĩnh lấy túi đong đo

giữa thời quá độ chờ đò

đại sứ gắn liền nghêu sò

tham tán gắn liền sừng to

phi công gắn liền hàng họ

***

bài thu hoạch:

trứng rồng lại nở ra rồng?

ngông!

có mẻ trứng hồng nở ma cà bông

tư duy gắn liền não bộ?

xộ!

tìm đâu tư duy trong óc rô bô

tô hô chứng cớ:

dăm thằng làm thơ bắt cả nước đừng thở

lãnh đạo ầu ơ cho nhân dân ở đợ

cái được cá thể gắn liền với cái thua cả chợ

thần tượng khói sương gắn liền với tà ma mọi rợ

mỗi cống hiến quốc tế gắn liền nhau cả triệu bàn thờ

ợ!

mọi thứ đều gắn liền

tất cả đều gắn liền

trừ lý luận với thực tiễn

trừ quyền lực với lòng thiện

trừ thí nghiệm với trách nhiệm

trừ tranh vẽ đại đồng với đất nước khủng hoảng

và trên hết của những ngoại trừ vấn tang

là lòng dân và ý đảng

dù vậy

dù thực tế lôi thôi rữa thối

dù chủ nghĩa xã hội đã gắn liền với quá khứ bèo trôi

cũng không ai muốn gắn liền giai cấp lãnh đạo với điếm ôi

vẫn không ai mong bắt tình bắt tội

người ta chỉ nhắc cái hậu quả của bao thập niên đen tối

và chờ đợi gắn liền những cơ hội nhỏ thành vận hội to

để vĩnh viễn cất đi mớ nghị quyết xóc lọ

từng gắn liền một chủ nghĩa xác khô lên quê hương nghèo khó

***

19-8-2009

Đinh Tấn Lực & Lương Huy Lễ cùng thu hoạch sau 12 bài “học tập lý luận chính trị phổ thông”, tài liệu của ban tư tưởng văn hóa trung ương, nhà xuất bản chính trị quốc gia phát hành tháng 7-94.

by AI HUU NINH THUAN
08/27/09. 03:31:25 am. 4129 words, 422 views. Categories: Thơ văn, Văn chương triết lý, Tổ quốc dấu yêu, Những chuyện ỡm ờ, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn ,

THẬT ĐÁNG ĐỂ NHỚ RẰNG CÁI CHẾT LUÔN THEO ĐUỔI CHÚNG TA


Three Ages of the Woman and the Death, tranh sơn dầu trên gỗ của BALDUNG GRIEN, Hans, 1510, Kunsthistorisches Museum, Vienna - Credit: wga.hu

Thật Đáng Để Nhớ Rằng Cái Chết Luôn Theo Đuổi Chúng Ta
Lê Tự Do viết theo bài của Froma Harrop, Providence RI

Để tưởng nhớ những bằng hữu đã chết và gởi đến những người bạn thân thiết sẽ cùng tôi đi đến cuối cuộc hành trình về cõi vĩnh hằng, và... thân tặng những người bạn trẻ đang phiêu lưu trên bờ vực hiện sinh.

Hồi năm ngoái hãng thông tấn AP (Associated Press) đã chuẩn bị sẵn một bài cáo phó cho Britney Spears để dự phòng trường hợp cô đột ngột về bên kia thế giới thì có sẵn để mà xài (Dĩ nhiên là cô ca sĩ có đời sống thác loạn này gần đây đã có vẻ tu tỉnh bớt chút đỉnh, và vẫn chưa chết!) Việc này phải chăng cũng giúp chúng ta nhắc nhở lại chính mình rằng đời người là cuộc hành trình đi về cõi chết, và cái chết chẳng chừa ai cả.


Ảnh của công ty Korea Life Consulting Co., cô Hwang Yun-jin, 29 tuổi, ngành kỹ sư cơ khí, nằm trong hòm dưới ánh sáng mờ trong lễ tang giả tại Chungju, Nam Hàn vào tháng 11/2007

Ở Nam Hàn có một số công ty bán đám tang giả tưởng cho các sinh viên cao đẳng và đại học. Những người bạn trẻ Hàn quốc đã viết sẵn di chúc và đọc trước khi chết, mặc vào bộ đồ trang phục truyền thống dành cho người chết rồi chui vào nằm trong quan tài sau đó đóng đinh lại, rắc đất lên quan tài và làm lễ tang. Họ nằm chết giả trong quan tài khoảng 15 phút mới được mở ra. Việc làm này giúp cho những người trẻ mường tượng được cái chết của họ, và từ đó giúp họ tự biết sắp đặt lại những thứ tự ưu tiên trong đời mình.

Người Mỹ, đặc biệt những người trẻ, ít khi nghĩ đến cái chết. Con em của chúng ta sinh ra và lớn lên ở Mỹ, hấp thụ văn hóa Mỹ, cho nên cũng không là ngoại lệ. Vì vậy cái tin hãng thông tấn AP viết sẵn cáo phó cho Britney Spears đã làm chấn động nhiều người. Một số người cho rằng làm như vậy có khác nào nói với cô gái mới 26 tuổi đầu rằng cô không còn lối thoát nào khác ngoài cái chết. Cô ngôi sao nhạc Pop này có thể có một tiểu sử "tự hủy diệt" mình, nhưng biết đâu một ngày nào đó cô có thể thay đổi đời mình. Có ai biết được? Rồi cô có thể trở lại cuộc sống bình thường như mọi người để chờ lãnh đủ khoản tiền an sinh xã hội của mình.

Những tổ chức thông tin báo chí lớn từ lâu đã có chứa sẵn những cáo phó soạn trước dành cho những nhân vật lớn tuổi và nổi tiếng như các nhà trúng giải Nobel, hay các ngài "lão thành" hưu trí gần đất xa trời v.v... Tuy nhiên cái chết rất đột ngột hồi năm 2007 của Anna Nicole Smith ở tuổi 39 đã làm mọi người "choáng váng, mất thăng bằng". Tiểu sử của cô gái Playboy chứa đầy những rắc rối và phiền toái cá nhân, cộng thêm với việc xử dụng ma túy bừa bãi có thể đã dẫn tử thần đến chân trời gần gũi hơn với cô. Việc hãng tin AP chủ ý soạn sẵn cáo phó cho Britney Spears vì vậy rất giản dị, chỉ nhằm để chuẩn bị sẵn, để khi cô Britney Spears chết bất tử thì có ngay để mà xài.


Philippe de Champaigne (1602-1674): Still-Life with a Skull, vanitas painting - Ảnh wikipedia

Điều rõ ràng, không phải người soạn ra loại cáo phó "tiền chế" này không biết rằng cô Britney Spears có thể sống thọ hơn để sánh vai cùng các "cụ" về hưu già tương lai, mà là do các vụ "chết yểu, chết non" càng ngày càng nhiều, cho nên họ phải lo tính trước cho chắc ăn. Năm 1970, ma túy đã giết chết hai tay nhạc Rock nổi tiếng là Janis Joplin và Jimi Hendrix, cả hai đều trong lứa tuổi 20. Internet và những đài truyền hình tin tức 24/24 thời nay đã thay đổi mọi sự, nó đòi hỏi những tin tức và những biến cố đây kịch tính cần phải được thông báo ngay đến mọi người, đặc biệt là những tin có liên quan đến những tay nổi tiếng trẻ; trong những trường hợp đó, bản tin cần đính kèm cả tiểu sử cuộc đời của người ra đi đột ngột. Nhờ sự phát triển của các phương tiện truyền thông hiện đại, chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại mà số người cùng khóc hoặc cùng cười trong cùng một lúc lại đông đến thế.

Càng ngày càng có nhiều ngôi sao "bạo phát - bạo tàn, le lói mấy năm rồi chợt tắt bất tử"! Vừa rồi cây đèn cầy của nghệ sĩ Heath Ledger mới cháy được 28 năm thì đã tắt! Cái chết của Ledger đã kéo theo sau đó cảnh lao tù của một ngôi sao trẻ đầy hứa hẹn, Brad Renfro bị bắt cách đây 3 năm trong khi đang tìm cách mua bạch phiến. Và gần đây nhất, cái chết đột ngột của Michael Jackson, vua nhạc pop , vua "giải phẫu thẩm mỹ", và là vua xài tiền phung phí... đã làm cho mọi người ngỡ ngàng... không ngờ chết sao mà nhanh đến thế, để lại cả một khoảng nợ kếch xù và mọi thứ phiền toái dài dài sau cái chết!

"Memento mori" là một câu ngạn ngữ La-Tinh, có nghĩa là "Hãy nhớ, bạn sẽ chết" được gởi đến các đại tướng La Mã thời cổ đại khi họ diễn hành chiến thắng qua Rome, như một nhắc nhở thực tại cho bất cứ kẻ chiến thắng nào được thổi phồng bằng cái ý nghĩ không bao giờ bị thất bại. Cái chết là sự thất bại lớn nhất của con người và là mẹ của tất cả mọi thất bại, và nó luôn luôn chờ đợi mọi người!


Frans Hals, Youth with a Skull - Credit: wga.hu

Các tu sĩ châu Âu chưng các sọ người thật trên bàn làm việc của họ để nhắc nhở họ về cái nơi mà họ không có cách nào không phải đến. "Chàng Thanh Niên Và Cái Sọ Người" là tên một bức tranh nổi tiếng của nhà danh họa Hòa Lan Frans Hals, vẽ hình một chàng thanh niên trong màu hồng tươi sống động đang cầm trên tay một cái sọ người. Nó ngụ ý nói lên tiến trình của đời người, cái mà người đông phương gọi là "Sinh - Bệnh - Lão - Tử".

Người Mỹ không chịu đối đầu với những vấn đề lớn này. Sự phản tỉnh đặc biệt rất hiếm xẩy ra trong giới có tiếng tăm, nơi mà ở chốn công khai chẳng có gì xấu tệ như cái chết cả. Thời gian phục hồi - ma túy, nghiện rượu, hay bất cứ thứ gì, đã trở thành một loại nghi lễ thực thụ trong hành trình dành cho những người trẻ và nổi tiếng, và nó đã trở thành một thứ văn hóa! Quả thật, thuật lại chuyện của người nào đó vươn lên từ tro bụi của nghiện ngập đã trở thành một chiến thuật trong nghề nghiệp phụ trội của những kẻ thuộc thế hệ lớn hơn.

Đã quen với tất cả hình ảnh các ngôi sao vui vẻ rời các trung tâm cai nghiện được chiếu trên truyền hình, những người trẻ có lẽ nghĩ rằng khi họ ngã xuống sẽ luôn luôn có cái lưới chờ sẵn để hứng đỡ họ. Họ quên đi mất những người không may mắn đến được các trung tâm phục hồi và phải đứt bóng giữa đường. Không phải ai cũng tiếp tục đóng tiếp được màn 2 hay màn 3 của vở tuồng!

Mặc dù hãng tin AP viết sẵn cáo phó cho Britnet Spears chỉ thuần vì mục đích thương mại, nó có thể cũng đã cống hiến cho các ngôi sao một dịch vụ. Cũng giống như những đám tang giả tưởng ở Đại Hàn, bài cáo phó có thể đã khiến Spears phải sửng sốt và hoảng hốt tưởng tượng đến ngày tận số của cô ấy, và vì vậy giúp cô vá lại con đường rách nát của mình. Trong một quan niệm tương tự, một tòa án Hoa Kỳ đã ra lệnh cho một tay quậy phá là nghệ sĩ Lindsay Lohan phải làm việc trong một nhà quàn sau khi đã gây ra tai nạn do say sưa trong khi lái xe.


Earthly Vanity and Divine Salvation by Hans Memling. Tranh gấp làm ba mô tả sự tương phản của cái đẹp và sự sang trọng với viễn cảnh của cái chết và địa ngục - Credit: wga.hu

Cái phút giây mà con người (và có lẽ cả muôn loài) được sinh ra, chính là lúc khởi đầu cuộc hành trình đi gần đến cái chết. Rõ ràng tạo hóa đã vẽ sẵn con đường ngắn ngủi mà mọi người phải đi qua mà ở đầu phải đến bên kia là cái chết. Tiếc thay, đời người tuy chỉ là một cuộc gởi gắm tạm thời nhưng lại quá sức đa đoan khiến người ta quên mất đi một điều quan trọng: sống tức là hiện chưa chết. Có lẽ đối với những người luôn có những thái độ cực kỳ nguy hiểm, nên cho họ mặc áo xác chết, tống vào quan tài làm đám táng và đọc điếu văn cho họ - mặc dù chỉ là đám chết giả - nghe giọng có vẻ dễ sợ quá phải không các bạn? Nhưng có lẽ đó sẽ là biến cố trọng đại nhất trong đời người để giúp họ thức tỉnh.

Lê Tự Do

CUỘC SỐNG NGẮN NGỦI - 51 seconds

Chỉ bằng một giấc mộng dài
Tỉnh ra mới biết đã ngoài... chín mươi
Phóng như hỏa tiễn thịt người
Đánh rầm một cái rơi ngay vào... hòm!!!

KDĐN

by AI HUU NINH THUAN
08/26/09. 10:30:28 am. 2574 words, 444 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Không ðề, Thơ văn, Văn chương triết lý, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn, Vòng quanh thế giới ,

LẠI THÊM MỘT TIN "DỎM" VỀ ĂN CÁNH GÀ... MỌC BƯỚU TỬ CUNG!


Cánh gà Mỹ nhậu với "rượu đế" whisky của Mỹ là 2 món bình dân rẻ tiền và... khoái khẩu, chỉ phiền cho vị nào bị "lủng củng răng hàm miệng" mà thôi!

Lại Thêm Tin Dỏm Về Ăn Cánh Gà... Mọc Bướu Tử Cung!
Source: FDA, USDA, NCBI, ICTSD, cgfi.org, beeftechnologies.com, vivo.colostate.edu, biomedcentral.com

Thời buổi quân khủng bố nhiều quá làm người ta cứ gặp gì cũng la hoảng và chuyền tay nhau những tin đồn thất thiệt từ mấy tay chuyên bịp thiên hạ. Lại thêm một cái email "hoax", tức là điện thư ba xạo được chuyền đi từ hồi tháng 4/2004, sau 5 năm bò mãi giờ đây đã đến được tay của "Việt kiều yêu nước" chúng ta, nội dung như thế này:

"Không nên ăn Cổ & Cánh Gà, nguy hiểm lắm quý vị ơi!"

CÁNH GÀ: MỘT MÓN ĂN KHÁ NGUY HIỂM VÀ ĐỘC HẠI

Hãy ngừng ngay việc ăn “cánh gà” thường xuyên... – thưa quý chị em phụ nữ – và dưới đây là một câu chuyện hoàn toàn có thật:

Gần đây, một người bạn của tôi qua khám nghiệm phát hiện là có một u nang đang phát triển trong dạ con của cô ấy, và cô đã vội thực hiện tiến hành phẫu thuật để cắt khối u đó. Khối u đã được loại bỏ và nó chỉ còn lại một vệt mầu sẫm. Cô tưởng rằng sẽ hồi phục sau phẫu thuật... nhưng cô đã nhầm!!!

Chỉ vài tháng sau ngày giải phẫu... hiện tượng cũ lại tái phát ! Cô rất đau khổ chạy tới gặp vị Bác sỹ phụ khoa để xin tư vấn. Trong quá trình tư vấn, Bác sỹ hỏi một câu làm cô rất bối rối.

Câu hỏi là: Có phải cô là khách hàng thường xuyên của món cánh gà hay không?

Cô trả lời “Đúng”. Nhưng... rất thắc mắc làm sao Bác sĩ có thể biết được thói quen của mình(?)

Như các bạn đều biết, trong thời đại này, hầu hết gà công nghiệp đều được tiêm chất hoóc-môn tăng trưởng để đẩy nhanh phát triển, nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường và xã hội tiêu thụ... nhu cầu đó không có gì khác ngoài thức ăn! Đương nhiên các con gà cần được tiêm hoóc-môn tăng trưởng (steroid = một trong số các hợp chất hữu cơ được sinh ra tự nhiên trong cơ thể, bao gồm những hoóc-môn và vitamin nào đó...)

Gà thường bị tiêm chất steroid này vào Cổ hoặc hai Cánh. Vì vậy, ở những bộ phận này, liều lượng hoóc-môn tập trung cao nhất. Các hoóc-môn này có tác dụng rất mạnh tới cơ thể gà... đương nhiên đẩy nhanh phát triển. Nhưng nguy hiểm hơn là khi nó xuất hiện trong các hoóc-môn nữ giới, có nghĩa là làm cho cơ thể người phụ nữ có xu hướng phát triển các u nang trong dạ con / tử cung !!! Vì vậy, lời khuyên chung mọi người là:

“Hãy xem lại chế độ ăn uống của mình, và giảm việc thường xuyên ăn cánh gà”

Nhận được email này... quý vị hãy phổ biến nó ngay, tới tất cả bạn bè thân hữu của mình, nhất là những người mà mình yêu quý. Chắc chắn một điều là chẳng ai trong chúng ta muốn gặp phải trường hợp như trên ./.

Hiệp hội Y tế Singapore

Và dưới đây là nguyên văn cái email xạo bằng tiếng Anh:

"Avoid eating chicken wings frequently - ladies, especially; a true story...!"

A friend of mine recently had a growth in her womb and she underwent an operation to remove the.
The cyst removed was filled with a dark colored blood. She thought that she would be recovered after the surgery but! she was terribly wrong.

A relapse occurred just a few months later. Distressed , she rushed down to her gynecologist for a consultation.

During her consultation, her doctor asked her a question that puzzled her.
He ask if she was a frequent consumer of chicken wings and she replied yes wondering as to how, he knew of her eating habits.
You see, the truth is in this modern day and age; chickens are injected with steroids to accelerate their growth so that the needs of this society can be met.
This need is none other than the need for food.

Chickens that are injected with steroids are usually given the shot at the neck or the wings.
Therefore, it is in these places that the highest concentration of steroids exists.
These steroids have terrifying effects on the body as it accelerates growth..
It has an even more dangerous effect in the presence of female hormones, this leads to women being more prone to the growth of a cyst in the womb. Therefore, I advise the people out there to watch their diets and to lower their frequency of consuming chicken wings!

People, who receive this email, please forward it to your friends and loved ones. I am sure no one wants to see him or her suffer!

Regards,
Sharon How

Singapore Medical Association
Tel: (65) 6223 1264, ext. 22
Fax: (65) 6224 7827
Email: sharon@sma.org.sg
Website: http://www.sma.org.sg

Và sau đây là cảnh báo từ website của Hiệp hội Y tế Singapore về cái tin trên:


Hình này trích phần nói về tin cánh gà, nằm ở bên phải của trang chính của website, quý vị và các bạn có thể vào trang chính của website này mà xem tận mắt thật hư:

http://www.sma.org.sg/index.html

Và dưới đây là sự thực về việc chích steroid cho gà:

Việc xử dụng các kích thích tố tăng trưởng (bao gồm các loại steroids) trong ngành chăn nuôi gia cầm là bất hợp pháp trên toàn nước Mỹ, Canada, và các nước châu Âu từ nhiều thập kỷ qua. Mặc dầu việc xử dụng nó có thể còn hiện hữu trong một số nơi khác trên thế giới, nhưng các chất loại này được trộn thêm chung với thức ăn của gia cầm chứ không dùng phương pháp tiêm chích. Cho nên, cho dù tàn dư của các loại kích thích tố này mà có bị phát hiện ở trong thịt gà nuôi theo phương pháp này đi nữa thì nó cũng không tập trung vào phần đặc biệt nào trong cơ thể gà như cánh hoặc cổ cả!

Tại Hoa Kỳ, một số loại "thuốc kích thích tố - steroid tác dụng tăng trưởng" nhất định được chấp thuận cho xử dụng trong ngành chăn nuôi trâu bò, được các cơ quan FDA và USDA cho là an toàn, mặc dù cũng không tránh khỏi những tranh cãi. Theo tài liệu do trường đại học Cornell ấn hành dưới dạng fact sheet thì "Cho đến nay, các nghiên cứu chưa đưa ra được bằng chứng nào cho thấy là các tàn dư kích thích tố sót lại trong thịt hay các sản phẩm sữa mang lại các ảnh hưởng cho sức khỏe con người" ... "Tuy nhiên, kết luận đối với ảnh hưởng cho sức khỏe con người chỉ có được sau khi đã xúc tiến những nghiên cứu trên quy mô rộng lớn khi so sánh sức khỏe của những người ăn thịt hay dùng sản phẩm từ sữa của động vật nuôi với kích thích tố và sức khỏe của những người ăn giống như vậy nhưng từ các động vật không nuôi bằng kích thích tố".

Theo một nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thực hiện tại Ai Cập đã kết luận là gia cầm nuôi theo phương pháp dùng kích thích tố tăng trưởng có chứa một lượng estradiol (estrogen) cao hơn, ghi nhận rằng theo một số nghiên cứu khoa học đã tìm thấy mối liên hệ giữa việc uống lâu dài các loại thuốc steroid ngừa thai với việc xuất hiện một dạng ung thư đặc biệt nơi phụ nữ. Nghiên cứu kết luận rằng "các loại tác nhân đồng hóa trong thịt bò và thịt gà đưa đến sự nguy hiểm đặc biệt cho sức khỏe công chúng".

Để kết luận, nếu sang châu Phi hay Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoặc một vài nơi nào đó mà ăn thịt gà hoặc thịt bò nuôi bằng kích thích tố tăng trưởng, lâu ngày có thể bị ảnh hưởng tác hại, chứ còn ở Hoa Kỳ, Canada, hay châu Âu thì làm gì có gà nuôi bằng kích thích tố tăng trưởng cho quý ngài ăn cánh hay cổ, ngay đến như bên châu Âu thì kể từ năm 1989 họ đã cấm chăn nuôi trâu bò bằng các loại kích thích tố tăng trưởng, chỉ riêng Mỹ và Canada thì còn cho phép dùng một số loại nhất định mà các nghiên cứu khoa học cho thấy là an toàn cho sức khỏe con người. Cho nên quý vị và các bạn cứ an tâm mà nhậu cánh gà với... "rượu đế" whisky của Mỹ là hai món bình dân rẻ tiền nhất ở xứ nầy, chỉ sợ nấu không kỹ thì bị... "cúm gà" mà thôi! Mà cúm gà thì không bao giờ làm sưng... tử cung hay tiền liệt tuyến cả!

Quý vị có thể vào các website sau đây để xem thêm tin tức về email xạo này:
http://urbanlegends.about.com/library/bl_chicken_wings.htm
http://www.snopes.com/food/tainted/wingcyst.asp
http://travel.thailandfriends.com/index.php?op=modload&name=Journal&view=journal&jid=64126&juid=69450

Kình Dương Đạo Nhân sưu tập

by AI HUU NINH THUAN
08/26/09. 08:13:58 am. 2290 words, 336 views. Categories: Góp nhặt, Khoa học và ðời sống, Thực phẩm và dinh dưỡng, Chuyện vui, Những chuyện ỡm ờ, Liên kết blogs ,

TIẾN TRÌNH BỊ MẤT ĐẤT


Cửa Ải Chi-lăng, yết hầu biên giới vào đồng bằng Bắc-bộ

Tiến trình bị mất đất
Lữ Giang
Source: Thông Luận

“… một số “sử gia” đời nay khi viết sử, thường không dựa theo chính sử như cụ Trần Trọng Kim, mà chỉ ghi lại những phần mình thích, bỏ đi những phần bị coi là mất “khí thế” hay không oai hùng, biến hoá nhiều đoạn và thêm huyền thoại vào làm cho sử không còn là thực sử nữa!…”

Chúng ta nhớ lại, nhân dịp Đại Hội Đảng Toàn Quân từ ngày 3 đến 11.1.2001, Lê Đức Anh đã đứng lên tố Lê Khả Phiêu 10 tội, trong đó có một tội rất quan trọng là “Bán đất, bán biển cho Trung Quốc” trong chuyến đi Trung Quốc chầu Giang Trạch Dân. Người đầu tiên đưa sự tố cáo này ra công luận là Đỗ Việt Sơn, một đảng viên đảng CSVN về hưu và có lẽ là đàn em của Lê Đức Anh. Sau đó, Luật sư Lê Chí Quang viết bài “Hãy cảnh giác Bắc Triều” nói rõ rằng phần đất bị “bán” là 720 cây số vuông. Nguyễn Chí Trung, thư ký của Lê Khả Phiêu, nói với báo chí rằng Lê Khả Phiêu là “nạn nhân của những âm mưu đánh phá của 3 vị cố vấn là các ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt”.

Dĩ nhiên, nhóm Lê Khả Phiêu phải phản pháo. Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh đã cho Thượng Tướng Nguyễn Nam Khánh dùng tài liệu vụ án chính trị T-4 tại Tổng Cục II thuộc Bộ Quốc Phòng để “chơi” lại nhóm Lê Đức Anh.

Khởi sự từ đó, một phong trào tố đảng CSVN làm mất đất mất biển được phát động ở hải ngoại, nhưng người Việt chống Cộng không dùng những chữ “Bán đất, bán biển cho Trung Quốc” của Lê Đức Anh, mà đổi thành “Dâng đất dâng biển cho Trung Quốc” . Chiến dịch này đã trở nên rầm rộ khi Trung Quốc thành lập huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, sau đó phong tỏa Biển Đông.

Thật ra, người Việt đã bị Tàu cướp đất dài dài trong tiến trình lịch sử, bắt đầu từ thời mới lập quốc cho đến ngày nay, do đó người Việt phải tiến dần xuống phía Nam. Tuy nhiên, cha ông chúng ta cũng đã chiếm đất của Lâm Ấp, Chiêm Thành và Chân Lạp để lập thành một nước mới.

Trong bài này chúng tôi chỉ nói về tiến trình bị mất đất trong lịch sử. Trong bài sau, chúng tôi sẽ bàn đến chuyện đòi đất của tiền nhân để rút kinh nghiệm.

Bài học lịch sử?

Chúng tôi xin nhắc lại, trong cuộc phỏng vấn của đài RFA ngày 24.7.2009 về đề tài “Việt Nam cần làm gì trước thái độ lấn lướt của Trung Quốc?”, Giáo sư Trần Văn Đoàn dạy học ở Đại Học Quốc Lập Đài Loan có nêu lên hai đề nghị: (1) Đọc lại bài học của tất cả những triều đại Việt Nam. Cái gì đã mất rồi thì không bao giờ đòi lại được. (2) Cách hay nhất, cái chiến lược của mình là làm thế nào để không mất đất nữa mà thôi.

Ông nói rõ: “Tôi không nói để bảo vệ nhà nước Việt Nam…”

Nhưng với nhiều người Việt chống cộng ở hải ngoại, đề nghị này rất khó nghe. Lý do thứ nhất: Người Tàu có “Tam thập lục kế” (với người Tàu, con số 36 có nghĩa là nhiều lắm), nhưng một số người Việt đấu tranh ở hải ngoại chủ trương chỉ có “biểu dương khí thế” là thượng sách, không cần biết kết quả như thế nào. Mọi kế khác gần như không được chấp nhận. Như vậy học sử để làm gì? Lý do thứ hai: Sử đâu mà học?

Trong bài Tựa của bộ Việt Nam Sử Lược, cụ Trần Trọng Kim (1882 – 1953) có than phiền: “Sử mình đã không hay, mà người mình lại không mấy người biết sử. Là vì cách học tập của mình làm cho người mình không có thể biết được sử của mình”.

Bài Tựa này được viết vào năm 1919, khi bộ Việt Nam Sử Lược lần đầu tiên được xuất bản, nhưng đến nay vẫn còn đúng. Không những thế, một số “sử gia” đời nay khi viết sử, thường không dựa theo chính sử như cụ Trần Trọng Kim, mà chỉ ghi lại những phần mình thích, bỏ đi những phần bị coi là mất “khí thế” hay không oai hùng, biến hoá nhiều đoạn và thêm huyền thoại vào làm cho sử không còn là thực sử nữa! Một vài thí dụ cụ thể:

(1) Khi viết về vua Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, các “sử gia” ta chỉ ghi lại “Bình Ngô Đại Cáo” và giấu đi tờ biểu thê thảm mà Lê Lợi dâng lên vua Minh xin phong vương. Trong vụ Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh, các “sử gia” ta cũng chỉ ghi lại “Hịch Đánh Trịnh” của Nguyễn Hữu Chỉnh và “Hịch Gọi Đò” của Nguyễn Huệ, còn tờ biểu được Nguyễn Huệ dâng lên vua Thanh năn nỉ xin ban sắc phong được coi như không có. Họ cho rằng những tờ biểu đó làm mất “khí thế” nên phải loại ra khỏi sử, không nên cho con cháu đọc.

(2) Thiền sư Lê Mạnh Thát đã sửa lại sử, cho rằng không có chuyện Bắc Thuộc lần thứ nhất và Mã Viện đem quân đánh hai Bà Trưng. Trái lại, các đời vua Hùng Vương đã kéo dài ra đến sau Công Nguyên, tức đến khi Phật giáo được truyền vào đất Việt! Việc sửa sử này nhắm mục tiêu chứng minh: “Phật giáo là dân tộc” vì đã du nhập vào Việt Nam từ đời Hùng Vương!

Pháp nạn kinh hoàng ( gần như làm cỏ ) mà Nguyễn Huệ đã gây ra cho Phật Giáo để có phương tiện tiến đánh quân Thanh, không được ai ghi lại một vài dòng, kể cả các “sử gia” Phật Giáo! Họ chỉ nói đến “Pháp nạn” dưới thời Ngô Đình Diệm!


Ải Nam Quan, click trên hình để phóng lớn.

(3) Tàu xây Ải Nam Quan như thế nào và các diễn biến về sau ra sao, đã được ghi rất tỉ mỉ trong chính sử của Tàu cũng như của ta. Công Ước Thiên Tân ngày 9.6.1885 giữa Pháp và Trung Hoa và các văn kiện đính theo đã gọi Ải Nam Quan là “Porte de Chine” (cửa của Trung Hoa) và vẽ nó nằm trên đất Trung Hoa. Ấy thế mà để “tố cộng”, các “sử gia” và các chiến sĩ chống cộng đã coi những văn kiện lịch sử và pháp lý đó như không có, cùng nhau ngồi “khóc Nam Quan”! Có “đại sử gia” còn biến hoá Ải Nam Quan ra hai phần, một phần nói là của Tàu và một phần nói là của ta, để cho “hợp với lòng dân”!

Bây giờ người Việt ở trong cũng như ngoài nước, gần như nhà nào cũng xem phim Đại Hàn, trong đó có nhiều phim lịch sử, chẳng hạn như Thời Đại Anh Hùng, Những Ngày Đen Tối, Jumong, Bài Ca Sơ Đông, Đại Hiệp Sĩ, v.v. Qua các bộ phim này, chúng ta thấy người Đại Hàn đã diễn tả rất trung thực lịch sử của họ: thời kỳ nào cường, thời kỳ nào nhược, những sự rối loại trong cung đình, những thủ đoạn gian ác áp chế dân lành của các quan lại phong kiến, những phương thức mà cha ông họ đã dùng để chống ngoại xâm… Nhờ diễn tả lịch sử một cách trung thực như vậy, người Đại Hàn ngày nay đã rút được kinh nghiệm lịch sử để xây dựng một đất nước Đại Hàn tốt đẹp hơn. Trái lại, sử của người Việt đã bị hai bên đối nghịch biến chế theo sở thích và theo nhu cầu chính trị, làm sao có thể dựa vào đó để rút kinh nghiệm của cha ông được?

Nước ta khởi từ bên Tàu?

Theo truyền thuyết và dã sử, thời kỳ Hồng Bàng bắt đầu từ năm 2879 trước Tây lịch, thuộc niên đại vua Kinh Dương Vương, với quốc hiệu Xích Quỷ. Địa bàn của Việt Nam dưới thời Kinh Dương Vương nằm ở tận bên Tàu, rất rộng lớn: Phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía đông là Đông Hải, phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên), và phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành).

Nước Chiêm Thành lúc đó nằm ở đâu? Bộ Phương Đình Dư Địa Chí của Nguyễn Văn Siêu đã ghi lại như sau:

“Chiêm Thành: phiá đông giáp bể, phía Tây đến Vân Nam, phía nam giáp Chân Lạp, phía bắc liền Annam, phía đông bắc đến Quảng Đông..”.

Thật ra, phải đến thế kỷ thứ 13, nước ta mới có quan viết sử, nên những điều xẩy ra trước đó đều được chép lại theo tục truyền, không biết đúng được bao nhiêu phần trăm. Nhưng chắc chắn người Việt ngày xưa ở tận bên Tàu, sau đó trụt dần xuống phía nam. Tại sao như vậy? Cụ Trần Trọng Kim giải thích:

“Người nòi giống Việt Nam ta mỗi ngày một nẩy nở ra nhiều, mà ở phía bắc đã có nước Tàu cường thịnh, phía tây thì lắm núi nhiều rừng, đường đi lại không tiện, cho nên mới theo bờ biển lấn xuống phía nam, đánh Lâm Ấp, dứt Chiêm Thành, chiếm đất Chân Lạp, mở ra bờ cõi bây giờ. ”

Đây là kiểu “Dùi đánh đục thì đục đánh săng ( gỗ )”, hay “Cá lớn nuốt cá bé”.

Đồng trụ nằm ở đâu?

Nước ta có ranh giới đầu tiên với nước Tàu là do Mã Viện ấn định. Lịch sử kể lại rằng dưới thời Đông Hán, năm 41 sau Tây lịch, vua Quang Vũ của Tàu sai Mã Viện làm Phục Ba Tướng Quân, sang đánh Trưng Vương, đem đất Giao Chỉ về lại cho nhà Hán (Thiền sư Lê Mạnh Thát nói chuyện này không có!). Mã Viện dời phủ trị về Mê Linh và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”. Nghĩa là cây đồng trụ gãy thì người Giao Chỉ mất. Người Giao Chỉ đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp lên mãi thành gò đống cao, vì sợ cột đồng ấy bị đổ gãy.

Nhưng cột đồng này đã được dựng ở đâu?

Theo Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Tàu (đời Đường) và An Nam Chí Lược của Lê Tắc, cột này được dựng ở Khâm Châu, trong vùng hang động Cổ Sâm.

Khâm Châu là một châu của Tàu nằm sát biên giới với Giao Chỉ, còn Cổ Sâm là một động của ta nằm sát biên giới Tàu.

Sách Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quế Đường (tức Lê Quý Đôn) có ghi: “Giữa đỉnh núi Phân Mao ở Khâm Châu có cột đồng to độ hai thuớc. Có lẽ đây là Mã Tống dựng lên”.

Núi Phân Mao (Phân Mao lĩnh) ở đâu?

Sách Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi viết:

“Vân Cừ, Kim Tiêu, Phân Mao ở về Yên Bang (sau tránh huý đổi làm Yên Quảng). Vân Cừ là tên sông, tên khác của sông Bạch Đằng, Tiền Ngô Vương bắt Hoằng Tháo, Hưng Đạo Vương bắt Ô Mã Nhi đều ở đây. Phân Mao là tên núi, Kim Tiêu là cột đồng. Ở phía Tây lộ Hải Đông 300 dặm có đèo Phân Mao, ở nửa đèo có cột đồng của Mã Viện dựng, lớn chừng ba thước”. (“Dư Địa Chí”, Nguyễn Trãi toàn tập, bản dịch của NXB KHXH – Hà Nội, tr. 202)

Sách Gia Khánh Trùng Tu Nhất Thống Chí của Nhà Thanh cho biết: Núi Phân Mao ở phía Tây Khâm Châu (nay là đất tỉnh Quảng Đông). Năm Tuyên Đức thứ 2 (1427) thời Minh, núi ấy thuộc vào châu Tân An của Giao Chỉ. Đến năm Gia Tĩnh thứ 21 (1542) Mạc Đăng Dung hàng, mới thuộc về nước Tàu.

Đồng trụ nếu to 2 thước ta (theo Lê Quý Đôn) hay 3 thước ta (theo Nguyễn Trãi) thì cũng rất lớn. Mỗi thước ta bằng 0,425 mét. Như vậy 2 thước là 0,850 mét và 3 thước là 1,275 mét.

Về sau, cả người Tàu lẫn người Việt đều không biết rõ đồng trụ nói trên nằm ở đâu. Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục có cho biết năm 1272, nhà Nguyên đã sai Ngột Lương sang Việt Nam hỏi giới mốc đồng trụ ngày trước ở đâu. Vua Trần Thánh Tôn đã sai viên phái Lê Kính Phu đi hội đồng khám xét. Lê Kính Phu tâu với Nhà Nguyên: “Chỗ cột đồng do Mã Viện dựng lên lâu ngày bị chìm lấp, nay không thể biết ở chỗ nào được”. Việc đó sau cũng thôi. (Quyển VII, tr. 219).

Thật ra, Mã Viện không phải chỉ dựng một đồng trụ ở Cổ Sơn. Ông đã mở mang bờ cõi của nhà Hán, dựng lên một đồng trụ ở Đèo Ngang (giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình) và hai đồng trụ ở Bình Định. Phương Đình Dư Địa Chí của Nguyễn Văn Siêu cho biết: Sách Tần Thư Điạ Lý Chí ghi: Ở quận Nhật Nam có cột đồng từ đời Hán dựng làm địa giới. Sách Lâm Ấp Ký chép: Phía tây quận Nhật Nam có nước Tây Đồ Di, Mã Viện qua đất này dựng hai cột đồng nêu bờ cõi nhà Hán.

Quận Nhật Nam lúc đó gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay (có tài liệu cho là đến tận cửa Đại Lãnh, Phú Yên). Vùng này là bắc Chiêm Thành.

Nhìn lại, nếu đồng trụ do Mã Viện dựng để phân ranh giới Việt – Trung mà còn thì nó cũng đã nằm trên đất Tàu, vì năm 1540 Mạc Đăng Dung đã giao vùng đất Cổ Sơn, nơi có đồng trụ, cho Trung Hoa rồi.

Mất đất dưới thời phong kiến

Nhiều người tưởng rằng, trong lịch sử, cha ông chúng ta luôn kiên cường dựng nước và giữ nước, không để mất một tấc đất nào. Thực tế không phải như vậy. Ngoài việc bỏ Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây chạy xuống Bắc Việt hiện nay, cha ông chúng ta còn phải chịu bị mất đất rất nhiều lần.

Mặc dầu Mã Viện đã dựng đồng trụ ở Phân Mao để đáng dấu ranh giới giữa Giao Chỉ và nước Tàu, những việc phân định ranh giới giữa hai nước không dễ dàng vì biên giới rất rộng lớn. Mỗi lần có tranh chấp, vua hay quan Tàu đều dành quyền quyết định phần nào thuộc Tàu và phần nào thuộc ta... Thí dụ năm 1442, nhà Minh gởi dụ cho vua Lê Thái Tông, nói rằng Chiêm Lãnh và Như Tích là thuộc Châu Khâm của Trung Quốc, do Hoàng Khoan cai quản, nên phải trả lại cho Trung Quốc. Năm 1547, Đô Đốc Mã của nhà Thanh gởi thư cho Chúa Trịnh và nói: “Từ Sa Châu trở ra ngoài đến Phân Mao - Đồng Trụ là đất của quý quốc cày cấy chăn nuôi từ lâu, cho về An Nam”.

Ngoài chuyện tranh chấp về vùng biên giới, các vua và quan Tàu luôn tìm cách chiếm thêm đất của nước ta. Tạm bỏ qua “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu” đi, chúng ta thấy từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 18, dưới các triều đại của Trung Quốc từ Tống, Nguyên, Minh đến Thanh đều đem quân xâm lấn Đại Việt. Nhà Tống xâm chiếm 2 lần, nhà Nguyên 3 lần, nhà Minh và nhà Thanh mỗi vương triều một lần. Ngoài những cuộc xâm chiếm đại quy mô như thế, các triều đại Trung Quốc cũng thường tìm cách cướp đất của người Việt ở vùng biên giới. Sau đây là một số thí dụ cụ thể:

1.- Mất hai động Vật Ác và Vật Dương

Dưới thời nhà Tống, Quách Quỳ đã chiếm 4 châu và một huyện của Đại Việt là Quảng Nguyên, Quang Lang, Tô Mậu, Môn, và Thuận châu. Sau đó, năm 1057 Nùng Tôn Đàn nộp động Vật Ác và năm 1064 Nùng Trí Hội nộp thêm động Vật Dương. Vua Lý Nhân Tông phái sứ qua thương lượng nhiều lần, vua Tống chỉ chịu trả cho 4 châu và một huyện, nhưng không trả hai động Vật Ác và Vật Dương.

2.- Mất 59 thôn ở Cổ Lâu

Năm 1401, khi Hồ Hán Thương được Hồ Quý Ly nhường ngôi, đã sai sứ sang xin vua nhà Minh phong vương. Vua Thánh Tổ nhà Minh nghe tin ở An Nam đang có chuyện lộn xộn nên cho điều tra và biết được Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần. Nhà Minh muốn nhân cơ hội này đem quân sang chiếm nước An Nam, lấy lý do là để hạch tội Hồ Quý Ly. Khởi đầu, vào năm 1405 nhà Minh sai sứ sang đòi lại đất Lộc châu, tức Lộc Bình thuộc tỉnh Lạng Sơn ngày nay, viện lý do đất này trước đây thuộc châu Tự Minh của tỉnh Quảng Tây. Lúc đầu Hồ Quý Ly không chịu, nhưng thấy áp lực của nhà Minh quá nặng nên Hồ đã sai quan hành khiển là Hoàng Hối Khanh đến dàn xếp. Hoàng Hối Khanh quyết định cắt 59 thôn ở Cổ Lâu nhường cho Tàu. Hồ Quý Ly thấy cắt nhiều quá, có mắng Hoàng Hối Khanh. Tuy đã nhún nhường như thế, nhà Minh vẫn không chịu, đem binh qua chiếm nước ta.

3.- Mạc Đăng Dung giao hai châu và 4 động cho Tàu

Theo sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú, năm 1540 khi Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh, đã trao trả 2 châu và 4 động cho nhà Minh. Hai châu là Như Tích và Chiêm Lãng, và 4 động là Tê Phù, Kim Lạc, Cổ Sâm và Liêu Cát. Các lãnh thổ này được sát nhập vào châu Khâm của Tàu. Nhưng Mạc Đăng Dung không được nhà Minh phong vương mà chỉ phong làm Đô Thống Sứ.

4.- Mất 13 châu và 3 động

Năm 1684, thổ quan huyện Khai Hoá của tỉnh Vân Nam đem quân chiếm ba động Vị Xuyên, Bảo Lạc và Thủy Vĩ thuộc tỉnh Tuyên Hưng của ta. Chúa Trịnh Thuận Đức cho sứ qua đòi lại nhưng nhà Thanh không trả.

Năm 1698 thổ quan tỉnh Vân Nam lại chiếm thêm ba động Ngưu Dương, Hồ Điệp và Phổ Viên thuộc tỉnh Tuyên Quang. Sứ thần Nguyễn Đăng Đạo đến Trung Quốc xin vua Khang Hy trả lại, nhưng vua từ chối. Chúa Trịnh Bính lại phái sứ khác qua nhà Thanh xin xem lại vụ này, nhưng quan Tuần Phủ Quảng Tây không cho đi. Từ đó, ba động này kể như mất luôn.

Năm 1781, Hoàng Công Thư đã đem 10 châu của nước Việt nộp cho Tổng Đốc tỉnh Vân Nam. Triều đình ta gởi thư yêu cầu Tổng Đốc Vân Nam xét lại biên giới. Tổng Đốc Vân Nam trả lại thư và nói rằng biên giới tự nhiên không cần vạch lại.

Trên đây là một số vụ mất đất điển hình trong thời phong kiến.

Mất đất dưới thời XHCN

Có thể nói, nếu không có Pháp xâm chiếm và đô hộ nước ta, khó mà ấn định được đường ranh giới hợp lý và khoa học trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và Trung Hoa.

Sau nhiều lần thương lượng rất gay cấn, kể cả dùng sức mạnh quân sự, ngày 9.6.1885 nhà cầm quyền Pháp và Trung Hoa đã ký Công Ước Thiên Tân về biên giới Việt – Trung được gọi là “Hiệp Ước Hòa Bình, Hữu Nghị và Thương Mại” (Traité de Paix, d'Amitié, et de Commerce). Công ước này đã được bổ túc do công ước ngày 26.6.1887 và công ước ngày 20.6.1895.

Mặc dầu có những hiệp ước ấn định ranh giới một cách rõ ràng nói trên, kể từ năm 1954, sau khi Pháp rút khỏi miền Bắc, Trung Quốc bắt đầu xâm phạm biên giới Việt Nam. Những vụ xâm phạm này đã được nhà cầm quyền Hà Nội ghi rõ trong tập Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, do nhà xuất bản Sự Thật của Hà Nội xuất bản năm 1979, sau khi Trung Quốc đem quân “dạy cho Việt Nam một bài học”. Trong “Lời Nhà Xuất Bản”, nhà xuất bản Sự Thật nói rõ đây là toàn bộ “Bị vong lục của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc nhà cầm quyền Trung Quốc gây khiêu khích, xâm lăng lãnh thổ Việt Nam ở vùng biên giới”.

Vì tập sách khá dài, chúng tôi chỉ ghi lại những điểm chính. Trong phần “Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay”, nhà cầm quyền Hà Nội cho biết thủ đoạn lấn chiếm đất của Trung Quốc như sau:

(1) Từ xâm canh, xâm cư, đến xâm chiếm đất (tr. 8).
(2) Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữa nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam (tr. 10).
(3) Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam (tr. 11).
(4) Từ mượn đất của Việt Nam đến biến thành lãnh thổ của Trung Quốc (tr. 12).
(5) Lợi dụng việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới, điển hình là đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53), nơi chúng định chiếm một phần thác Bản Giốc và cồn Pò Thông (tr.14)...

Sau đây là một số trích đoạn được trích dẫn:

1.- Từ xâm canh, xâm cư đến xâm chiếm đất

Tài liệu cho biết:

“Lợi dụng đặc điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một dải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương rồi định cư những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng nương, cuối cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang ngược coi những khu vực đó là lãnh thổ Trung Quốc”.

Một thí dụ cụ thể: Từ năm 1956 phía Trung Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc sang làm ăn ở Trình Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường, vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị Choang-Quảng Tây. (tr. 8 và 9)

2.- Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam

“Năm 1955, tại khu vực Hữu Nghị Quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt-Trung đến Yên Viên gần Hà Nội, lợi dụng lòng tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300m so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã đề nghị Chính phủ hai nước giao cho ngành đường sắt hai bên điều chỉnh lại điểm nối ray cho phù hợp với đường biên giới lịch sử nhưng họ một mực khước từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vấn đề biên giới thì sẽ xem xét..”. (tr.10)

3.- Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam

“Trên đoạn biên giới đất liền cũng như ở các đoạn biên giới đi theo sông suối, tại nhiều nơi, phía Trung Quốc đã tự tiện mở rộng xây dựng các công trình để từng bước xâm lấn đất.

“Tại khu vực mốc 53 (xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 20.2.1970 phía Trung Quốc đã huy động trên 2.000 người kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong, và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc... (tr.11 và 12).

Trên đây chỉ là một vài thí dụ cụ thể. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.

Lệnh phải giữ đất

Năm 1473 khi Lê Duy Cảnh, Thái bảo kiến dương bá, đi trấn giữ ở vùng biên giới giáp với tỉnh Quảng Tây, vua Lê Thánh Tông đã trao cho ông một sắc dụ, trong đó viết:

“Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di”.

Ngày 11.8.2009
Lữ Giang

© Thông Luận 2009

CHÚC MỪNG SINH NHẬT NỮ ANH THƯ LÊ THỊ CÔNG NHÂN


Ảnh vietland

GIA ĐÌNH ÁI HỮU NINH THUẬN THÂN ÁI CHÚC MỪNG EM

Và xin gởi đến em những gì yêu thương và cảm phục nhất! Vinh hạnh thay cho người mẹ hiền vĩ đại đã sinh ra em và giáo dưỡng em bằng tình yêu tổ quốc, với ý chí và lòng can đảm phi thường!


Source: vietland

Chúc Mừng Sinh Nhật Nữ Anh Thư Lê Thị Công Nhân
Với tấm lòng thương yêu và cảm phục.
Xin cầu chúc em sớm ra khỏi ngục
Cùng toàn dân diệt lũ quỉ cõi trần.

Em không bao giờ cô đơn - Toàn dân trong và ngoài nước đều một lòng hướng về em.

Em là Hoa Hướng Dương
Sáng rực khắp muôn phương
Nữ Anh Thư Đất Việt
Lòng bất khuất kiên cường

Chẳng ai nào sánh được

"Giữa sỏi đá vút vươn niềm hy vọng
Trong tro tàn dào dạt nhựa hồi sinh
Hận nội thù trên máu ruột Tiên Rồng
Căm giặc cộng (BÁN) non sông Hồng Lạc"

(YTKCPQ)

Nghe lại cuộc phỏng vấn luật sư Lê Thị Công Nhân do đài Á Châu Tự Do thực hiện vào tháng 4/2007.

THÔNG BẠCH VU LAN CỦA HỘI ĐỒNG LƯỠNG VIỆN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT


THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 20.8.2009

Thông bạch Vu Lan của Hội đồng Lưỡng Viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất

PARIS, ngày 20.8.2009 (PTTPGQT) - Viện Hóa Đạo trong nước vừa chuyển đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế để phổ biến Thông bạch Vu Lan của Hội đồng Lưỡng Viện (Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo). Toàn văn Thông bạch như sau:

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT VIỆN HÓA ĐẠO
THANH MINH THIỀN VIỆN
90 Trần Huy Liệu, Quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh
Phật Lịch: 2553 Số: 06/HDLV/TB/VT

THÔNG BẠCH VU LAN
CỦA HỘI ĐỒNG LƯỠNG VIỆN

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch chư Tôn đức Giáo phẩm,
Kính thưa chư thiện tín Phật tử trong và ngoài nước,

Chúng ta đang sống trong mùa Vu lan, mùa nhắc nhở chúng ta sống đời sống hiếu hạnh. Hiếu hạnh là hạnh quan trọng mà theo lời dạy của đức Phật, đó chính là Phật hạnh.

Vu Lan ngày nay không còn là ngày lễ riêng của Phật giáo mà do tính khế cơ, Vu Lan nghiễm nhiên đã trở thành truyền thống văn hóa của nhiều dân tộc, đặc biệt là dân tộc Việt Nam.

Lẽ ra, trong thời gian này, chúng ta có nhiều thắng duyên để làm tròn chữ hiếu, hiếu với Tam bảo, với quốc gia, với các bậc sanh thành dưỡng dục và với tất cả muôn loại chúng sinh. Thế nhưng, giữa bối cảnh của một quê hương bất công, lầm than và rách nát, quyền sống con người bị tước đoạt, nhân phẩm bị chà đạp, đất nước đang bị đe doạ bởi nạn ngoại xâm, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đang trong vòng kiềm tỏa, bản thân tôi và chư tôn Giáo phẩm Hội Đồng Lưỡng Viện trong nước vẫn liên tục bị trấn áp, chư tôn Giáo phẩm và Cư sỹ Phật tử đang phục vụ Giáo hội tại hải ngoại cũng bị tấn công, xuyên tạc, bôi nhọ, tất cả đều chìm ngập trong đêm dài của nạn độc tài toàn trị, vì thế việc thể hiện trọn vẹn hiếu hạnh, nhất là hiếu hạnh đối với đất nước trong hoàn cảnh hiện nay, đang là một trở ngại lớn lao.

Tuy nhiên, trước thực trạng đầy thống khổ như thế, là người con Phật, với lý tưởng của Bồ tát đạo, chúng ta không thể không dấn thân hành hoạt để giải thoát tự thân và giải cứu nỗi khổ của đồng bào và hết thảy muôn loài.

Thưa chư liệt vị,

Đức cố Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang dạy rằng: “Ở đâu có khổ đau, ở đó còn cần đến sự giải trừ khổ hoạn”. Việt Nam đang trực diện với quá nhiều khổ hoạn, nghĩ đến lời dạy của đức cố Đệ tứ Tăng thống và bản hoài xuất thế độ sinh của chư Phật, chúng ta không thể không tích cực hành động. Chúng ta hành động không vì tranh giành quyền lợi của ai cả mà chỉ vì phúc lạc lâu dài cho dân tộc và nhân loại.

Với bản thệ hoằng hoá độ sinh, dù Giáo hội đã và đang gặp nhiều chướng duyên, thử thách, kể cả những lúc tình trạng sinh tồn bị đe doạ thật sự, Giáo Hội vẫn sẵn sàng hy sinh vì sứ mệnh hoằng dương chính pháp, lợi lạc quần sinh. Bản thân tôi cũng như tất cả chư tôn Giáo phẩm trong Hội Đồng Lưỡng Viện, trước sau như một, quyết tâm giữ vững thệ nguyện sắt son của mình và nhất định không bao giờ bán rẻ lương tri để thoả hiệp với thế lực vô minh manh động.

Vu lan là mùa báo hiếu, Vu lan cũng là mùa giải khổ. Với tâm từ bi, trí tuệ sẵn có, Giáo Hội kêu gọi sự thể hiện Bồ tát hạnh của tất cả chư liệt vị. Trước nạn ngoại ma nội chướng, Giáo hội cũng khẩn thiết kêu gọi chư liệt vị hãy quan tâm củng cố, bồi dưỡng đức tin và tăng triển kiến giải cho giới trẻ, phát huy tinh thần vị tha vô uý, thừa kế xứng đáng sự nghiệp độ sinh của chư Phật, chư Tổ, phát khởi Bồ đề tâm, tùy theo hoàn cảnh, tổ chức lễ Bố Tát sau khóa An cư kiết hạ nhằm trưởng dưỡng năng lực thanh tịnh, phát huy dụng lực tuệ giác và xem đó như việc làm chủ yếu để đền đáp bốn ân, cứu khổ ba đường.

Thưa chư liệt vị,

Lịch sử là do con người tạo nên. Hạnh phúc hay khổ đau cũng do chính con người kiến lập. Không có bất cứ thành quả ưu thắng nào mà không xuất phát từ tác nhân thánh thiện và cũng chẳng có bất cứ tác nhân thánh thiện nào mà không dẫn đến những thành tựu ưu thắng. Trong ý nghĩa ấy, thay mặt Hội đồng Lưỡng Viện, tôi thân ái gửi đến chư liệt vị lòng biết ơn sâu xa và cầu chúc chư liệt vị một mùa Vu lan tròn đầy hiếu hạnh.

Cầu nguyện tổ tiên, ông bà, cha mẹ nhiều đời, người quá vãng được siêu sinh, kẻ hiện tiền được trang nghiêm phước huệ; âm siêu, dương thái, thế giới nhân loại chung sống hoà bình, nền văn minh Từ bi - Trí tuệ được hiển sinh, chánh pháp hưng long, đất nước tránh được họa ngoại xâm, dân tộc phú cường, chúng sinh an lạc.

Nam Mô Vu Lan Thắng Hội chư Phật, chư đại Bồ tát, chư Hiền Thánh Tăng tác đại chứng minh.

Chùa Giác Hoa, Sài gòn, ngày 12 tháng 8 năm 2009
T.U.N. Đại Lão Hoà thượng Xử Lý Viện Tăng Thống
kiêm Viện Trưởng Viện Hoá Đạo
Phó Viện trưởng kiêm Tổng thư ký Viện Hoá Đạo, GHPGVNTN
(ấn ký)

Thượng toạ Thích Viên Định

*********************************
Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế
International Buddhist Information Bureau
Bureau International d'Information Bouddhiste
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
B.P. 60063 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) - Tel.: (Paris) (331) 45 98 30 85
Fax : Paris (331) 45 98 32 61 - E-mail : ubcv.ibib@buddhist.com
Web : http://www.queme.net

* Source: http://tiengnoitudodanchu.org/module...ticle&sid=7976

by AI HUU NINH THUAN
08/22/09. 04:06:13 pm. 1645 words, 121 views. Categories: Không ðề, Thông báo (A), Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Thông báo, Tin quan trọng, Thông báo (A), Thông báo (F) ,

HÃY ĐỀ PHÒNG HIV Ở CÂY XĂNG - IMPORTANT TO KNOW HIV AT GAS STATION


Hãy đề phòng HIV ở Gas Station
Source: vietland

Đây không phải là tin mới lạ, việc kẻ xấu gài kim chích vào tay cầm bơm xăng đã xẩy ra mấy năm nay, tuy nhiên gần đây đã có nhiều trường hợp tương tự xẩy ra liên tục ở Florida, vì vậy chúng ta cần phải lưu ý đề phòng.

Xin vui lòng đọc và chuyển đi cho mọi người lái xe.

Tôi là Captain Abraham Sands của JacksonVille police, Florida, Hoa Kỳ. Được sự cho phép của Tiểu Bang Florida và Địa phương viết email này để báo động cho người lái xe về một sự kiện nguy hiểm đã xảy ra tại một số tiểu bang. Một người hay có thể nhiều người đã gắn ống kim chích thuốc ở dưới tay cầm bơm xăng! Những kim này bị nhiểm virus HIV. Bạn hãy nhìn kỹ tay cầm đổ xăng trước khi bơm xăng. Chỉ trong tỉnh Jacksonville đã có 17 lần xảy ra trong 5 tháng làm cho người đổ xăng bị đâm vào tay và tối thiểu 12 trường hợp ở các tiểu bang khác cũng xảy ra tương tợ, có thể họ bắt chước khi nghe được tin tức trên truyền thông báo chí. Cho tới nay chưa ai bị bắt... Trong 17 người bị kim chích hiện có 8 người nhiểm HIV, những người còn lại có thể vài năm tới mới lộ ra.

Rõ ràng tai nạn xảy ra cho người đổ xăng và bị chích khi cầm bơm xăng có gắn kim độc.

Hãy nhìn kỹ bơm xăng từ trên xuống dưới trước khi bơm (ghi thêm: nhớ rửa tay sạch khi đi chợ, bơm xăng hay ăn tiệm...). Nếu bạn thấy kim ở bơm xăng, lập tức báo cho Cảnh sát địa phương để họ tìm kiếm bằng cớ.

Làm ơn để ý theo dõi kẻ gian và forward email này đến các người thân của bạn.

Rose Lambert
(Ký tên)

Important to know HIV at pump gas station

Warning: Look at the gas pump handle BEFORE you pump your gas. Please read and forward to anyone you know who drives a car.

My name is Captain Abraham Sands of the Jacksonville, Florida, Police Department. I have been asked by state and local authorities to write this email in order to get the word out to car drivers of a very dangerous prank that is occurring in numerous states. Some person or persons have been affixing hypodermic needles to the underside of gas pump handles! These needles appear to be infected with HIV positive blood.

In the Jacksonville area alone, there have been 17 cases of people being stuck by these needles over the past five (5) months. We have verified reports of at least 12 others in various states around the country. It is believed that these may be copycat incidents due to someone reading about the crimes or seeing them reported on television...

by AI HUU NINH THUAN
08/20/09. 11:56:02 pm. 631 words, 356 views. Categories: Thông báo (A), Uncategorized, Tin tức ðó ðây, Thông báo, Thông báo (A) ,

TIỄN BIỆT CỐ NHẠC SĨ ƯNG LANG


Cố Nhạc Sĩ Ưng Lang

Tiễn biệt cố nhạc sĩ Ưng Lang!
Source: Svcsaigon.com

Sau nhiều năm sống lặng thầm nhưng chan hòa tình thương với gia đình, thân hữu, lão nhạc sĩ Ưng Lang đã từ giã cõi trần lúc 20 giờ ngày 17.8, thượng thọ 91 tuổi...

Linh cữu nhạc sĩ Ưng Lang quàn tại tư gia số 49/29B Nguyễn Thái Sơn, P.4, Gò Vấp (TP SaiGon). Lễ động quan lúc 6 giờ 30 ngày 23.8, sau đó an táng tại nghĩa trang Gò Dưa (Thủ Đức, TP SaiGon).


Mưa Rơi - Nhạc Ưng Lang, tiếng hát Ánh Tuyết

Lão nhạc sĩ Ưng Lang là một trong những người Việt đầu tiên đưa cây đàn Hawaii (Hạ-uy cầm) vào biểu diễn và giảng dạy ở Việt Nam trong những năm cuối thập niên 30 đầu thập niên 40 của thế kỷ trước. Người nhạc sĩ nho nhã, giản dị và tài hoa ấy đã mãi mãi ra đi, để lại nhớ thương trong lòng người thân, bạn bè và những người yêu âm nhạc.

Svcsaigon.com xin giới thiệu đến các bạn một nhạc phẩm của ông đã từng làm say đắm bao con tim của nhiều thế hệ, và xin trích dưới đây hồi tưởng của nhà văn Trần Áng Sơn về ông, như một lời tiễn biệt…

"...Tôi đã không nhầm khi dành cả đời tương kính một tình bạn, dẫu rằng đôi bạn ấy chênh lệch nhau một phần tư thế kỷ. Thì đã sao?!

Những năm đầu thập niên năm mươi, ở Huế có ba cặp vợ chồng nghệ sĩ nổi tiếng. Cặp thứ nhất được mọi giới yêu thích nhất: cặp Mộc Lan – Châu Kỳ. Cặp thứ hai được những người bình dân lao động ưa thích vì họ chuyên hát những bài dân ca hoặc mang âm hưởng dân ca, đó là cặp Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết và cặp thứ ba, thầm lặng hơn, họ khác với hai cặp vợ chồng nghệ sĩ nói trên, họ không phải là ca sĩ, thành phần ái mộ họ là thanh niên, học sinh nam nữ, đó là cặp vợ chồng nhạc sĩ Ưng Lang. Họ có phong cách riêng, ít xuất hiện trước công chúng, họ nổi tiếng vì tiếng đàn réo rắt, du dương, trầm bổng rất phù hợp với không khí trầm mơ, lắng đọng ở đất Thần kinh. Ngày ấy tôi mới khoảng mười lăm mười sáu tuổi, vào những đêm trăng sáng cùng với vài đứa bạn đạp xe từ Thành Nội lên Thành Ngoại tìm những con đường trồng nhiều nhãn hái trộm vài chùm rồi rủ nhau về hồ Tịnh Tâm vừa ăn nhãn vừa ngắm sen dưới ánh trăng. Có lần đạp xe trên đường trắng toát bởi ánh trăng phủ mênh mang chợt phía sau những lùm cây im lìm, thăm thẳm trong bóng trăng chập chờn hắt lên tiếng đàn ai réo rắt, tiếng đàn như biến thành muôn vàn sợi tơ trời níu chúng tôi, cả lũ ngừng xe ngẩn ngơ lắng nghe tiếng đàn huyền diệu, bài Giọt mưa thu hình như được ai đó tâm sự mang trút vào tiếng đàn làm lũ nhất quỷ nhì ma chúng tôi chợt trở nên những chàng trai mơ mộng, ao ước được ngắm nhìn con người đang nắn cung tơ làm cho những giọt trăng biến thành những giọt mưa thu ấp vào hồn tôi cho đến tận bây giờ.

Những đêm trăng sau đó và cả những mùa trăng kế tiếp tôi đều cố tình đi qua con đường có tiếng đàn biến tôi từ cậu học trò nghịch ngợm thành một gã con trai mơ mộng. Cuối cùng tôi cũng khám phá được con người có tiếng đàn làm thay đổi tâm hồn tôi, đó là một cô gái tuổi áng chừng như tôi, tóc thề, đôi mắt đen nhánh, cặp má hoa hồng, tên nàng tinh khiết như một ni cô: Diệu Liên. Vì quá mê tiếng đàn, tôi kiên nhẫn theo đuổi làm quen.

Diệu Liên là học trò của thầy Ưng Lang, người có tài đàn Hạ uy cầm nổi tiếng nhất đất cố đô. Khi tình bạn của tôi với Diệu Liên trở nên thân hơn, cô dạy tôi đàn bài Mưa rơi, điểm đặc biệt của ca khúc này là hát đơn ca, duo hay trio đều hay, và tuyệt diệu nhất là khi bản nhạc được tiếng đàn Hạ uy cầm phả cái hồn của mình vào, khi ấy nếu ta có tâm hồn đồng cảm ta sẽ nghe được tiếng mưa rơi thì thầm vào hồn ta những lời tâm sự của mưa. Đó là kỷ niệm thứ nhất của tôi về nhạc sĩ Ưng Lang.

Kỷ niệm thứ hai của tôi về nhạc sĩ, có lẽ vào năm 1954, lúc ấy tôi là cây guitare chủ lực của ban nhạc Nắng Hồng, ban nhạc này quy tụ toàn học sinh, trưởng ban nhạc cũng là một học sinh đang theo học ban tú tài. Ban Nắng Hồng mỗi tuần vào chiều thứ bảy hoặc chủ nhật đều được Ty Thông tin Huế mời chơi trên Đài phát thanh Huế, lúc bấy giờ nhạc sĩ Ngô Ganh đang làm giám đốc. Cũng có lần vì lời mời khẩn khoản ban nhạc toàn là học trò lầu đầu tiên chơi tại nhà hàng Hương Giang, trong cái lần đầu tiên ấy tôi gặp vợ chồng nhạc sĩ Ưng Lang, có lẽ nhà hàng cũng mời đôi vợ chồng nghệ sĩ này. Nhưng đêm ấy nhạc sĩ Ưng Lang không đàn mà chỉ đứng bên cạnh như chỗ dựa tinh thần cho người bạn đời của mình chinh phục thực khách bằng tiếng đàn do chính mình truyền dạy. Tuy đã có đến hai kỷ niệm về người nhạc sĩ mình mến mộ nhưng do tuổi tác quá chênh lệch, trước nhạc sĩ Ưng Lang tôi vẫn còn là thằng nhỏ vừa qua thời kỳ thò lò mũi xanh, lẽ nào lại có thể trở thành bạn?

Thời gian trôi qua vùn vụt, ca khúc “Mưa rơi” và nhạc sĩ Ưng Lang trở thành một phần trong ký ức đầy mơ mộng của tôi. Nhưng chuyện đời không thể ngờ được, hơn ba mươi năm sau, chính xác là 36 năm sau, tôi gặp lại anh Ưng Lang ở Sài Gòn, tại quán Huy Tưởng, lúc này người nhạc sĩ tài hoa nho nhã năm xưa đã trở thanh một tiền bối tóc tuy đã bạc gần hết nhưng dáng điệu vẫn rất hào hoa. Điểm đặc biệt là anh rất chân tình, tuy chưa bao giờ làm quen nhưng anh đối với tôi thân ái như đã quen từ kiếp nào...
...............................

Tôi ngồi nhà tự diện bích được năm năm thì anh Ưng Lang gửi tập nhạc tuyển “Chiều về thôn Vỹ” trong đó có bài “Mưa rơi” một thời trẻ dại tôi đã trải hồn những giọt mưa ở đất Thần kinh. 19 ca khúc, tinh hoa của một nhạc sĩ đầy khiêm tốn, tinh hoa của một đời người thanh đạm. Hai năm sau nữa, anh Ưng Lang lại gửi cho tôi một tập truyện của Công Tôn Huyền, con gái anh. Không nói đến giá trị của tập truyện, đã mấy năm rồi không gặp, chẳng có gì buộc anh Ưng Lang phải nhớ đến kẻ ở ẩn bất đắc dĩ này, thế mà anh vẫn nhớ...

Tôi đã không nhầm khi dành cả đời tương kính một tình bạn, dẫu rằng đôi bạn ấy chênh lệch nhau một phần tư thế kỷ. Thì đã sao?!"

Theo Trần Áng Sơn
DQ lược trích
(Nguồn: Internet)

BÀI HÁT "MƯA RƠI" CỦA ƯNG LANG
Source: khanhly.net







Ưng Lang, tiếng hát Khánh Ly


Nhạc Ưng Lang, Hòa âm và đàn: Thanh Trang


Nhạc Ưng Lang, tiếng hát Hà Thanh

Lớp người trẻ ngày nay có mấy ai biết đến bài hát “Mưa rơi” của Ưng Lang không nhỉ? “Trẻ” có nghĩa là bốn mươi lăm, năm mươi trở xuống. Mà cho dù không mấy ai biết đến đi nữa thì chắc chắn cũng chả phải do nơi lỗi của họ; vì nếu như các CD trên thị trường, các chương trình gọi là “Nhạc thính phòng”, các ca sĩ chỉ quen hát những “Mưa Sài Gòn mưa Hà-Nội” của Phạm Đình Chương (phổ thơ Hoàng Anh Tuấn; cả hai đều đã qua đời) và “Đường xa ướt mưa” của Đức Huy, chẳng hạn, thì làm sao người nghe người ta biết đến những giai điệu đẹp của một thời đã qua, tưởng chừng như lâu lắm! Tuy cũng cần mở ngoặc để nêu sự thể là cả hai bài tôi vừa dẫn làm ví dụ đều là những bài có giá trị cả; và nếu chỉ đưa ra những bài ngang ngửa như thế thì còn nói mà làm gì. Chỉ phiền là người nghe vẫn cứ phải nghe những bài về mưa chả có ra làm sao cả!

Đối với lớp người thích nghe ca hát thuộc cái lứa sáu mươi đổ lên thì hẳn nhiên bài hát “Mưa rơi” của Ưng Lang không lấy gì làm xa lạ! Ai khác sao không biết nhưng riêng tôi thì xưa giờ lúc nào cũng có thể nghe đi nghe lại cả chục lần trong một lúc bài “Mưa rơi” mà chả cảm thấy phiền hà gì hết! Nghe vào những hôm sắc trời ủ dột, mây đen kéo tới rồi cứ thế mưa rả rích trong đêm thì lại càng cảm thấy thấm thía; và cứ thế mà nhớ nhung đủ thứ chuyện xa chuyện xưa!

Nhạc sĩ Ưng Lang năm nay, 2008, tám mươi chín tuổi. Xem danh tính, chẳng cần quen thì ta cũng đều biết ông là người xứ Huế, thuộc hàng danh gia vọng tộc! Tám mươi chín nhưng trông ông vẫn có khuôn mặt cân đối, đặc biệt thanh lịch. Giọng nói vẫn còn âm sắc rõ ràng. Đủ biết là xưa kia ông đẹp giai và hấp dẫn đối với đám nữ lưu xứ Huế cỡ nào!

Gặp ông, tôi nhắc lại bài “Mưa rơi” và bài “Chiều tiễn biệt” mà xưa kia người ta đã từng đưa vào bộ phim Việt Nam ở Sài Gòn vào cái thời cuối thập niên 50. Thường thì bao giờ gặp gỡ những vị như thế này tôi đều một mực kính cẩn và tri ân. Không có các vị ấy thì xưa kia hồi còn nhỏ tôi đã chẳng đuợc nghe những giai điệu đẹp đẽ của các vị để rồi từ đó yêu thích âm nhạc! Ai trong giới sáng tác bất cứ bộ môn gì mà làm ra cái kiểu như “tài năng” của mình là do ”trời phú”, chả có rau Mơ rễ Má gì với giống người thì tôi đồ chừng là trước sau cũng chả làm nên cơm cháo gì!

Tôi còn nhớ khi đề cập đến bài “Mưa rơi” thì tôi có tò mò hỏi thăm đôi điều và đuợc ông dẫn giải về “lai lịch” của nó như sau:

- Thưa Chú, nguyên lai gì dẫn đến bài “Mưa rơi” ?
- Ấy là năm 45. Tôi đang làm việc ở Vinh, ngoài Thanh Hóa, vì nghề của tôi là Kỹ Sư Công Chánh.
- Dạ?
- Thế rồi tôi quen cô ấy!
- Chú cho cháu biết danh tính đuợc chăng?
- Tên là XX (*) ; mẹ của YY (**) về sau này.
- Tức là nữ ca sĩ YY?
- Đúng rồi!
- Kiểu như lời lẽ trong bài hát thì sau đấy hai người xa nhau?
- Đúng rồi!

Hỏi xong thì tôi mới sực thấy mình là ngớ ngẩn! Đôi bên ngày đó không xa nhau thì người ta đã thành vợ ông rồi còn gì? Mà đã lấy đuợc nhau thì dễ gì có bài hát? Đã lấy được nhau thì làm gì lại có chuyện: “Ai đi, như xóa bao lời thề? Thuyền theo nước trôi không về.. Thấu cùng lòng ai não nề nơi chốn phòng khuê ? Mưa rơi …” (***)

- Thế rồi về sau Chú có gặp lại người ta?
- Có! Có gặp lại, nhưng rồi người ta cũng đã qua đời!
- Chú ở lại Vinh cho đến năm nào?
- Nhật nó đảo chánh một cái là tôi trở về Huế!
- Chú ở Huế đuợc bao lâu?
- Sau đảo chánh năm 63 thì tôi vào Sài Gòn!
- Vậy thì khi người ta đưa bài hát “Chiều tiễn biệt” vào phim xi-nê tức là Chú viết bài đó ngoài Huế?
- Đúng rồi!

Bài “Mưa rơi” nó hay ở chỗ nào? Nó hay ở giai điệu cùng lời lẽ theo phong cách của thời “Tiền chiến”. Nó hay và đẹp ở chỗ nó rất giản dị. Tôi còn nhớ lời của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn” Khi mới bắt đầu sáng tác thì tôi cứ tìm cách làm sao cho cầu kỳ phức tạp, sao cho “lạ”, thế nhưng càng về sau, càng có kinh nghiệm rồi thì tôi thấy rằng làm thế nào cho hay mà giản dị thì mới là điều khó!” Thì chứ còn gì nữa!

Chỉ cần một người biết đệm ghi-ta sơ sơ, từ đầu đến cuối bài “Mưa rơi” mà cứ bấm hợp âm “Re Trưởng”, một hai chỗ chêm vào hợp âm “Sol Trưởng” hoặc “La Trưởng bực 7” và thế là xong! Mà giai điệu của người ta hay thì vẫn cứ là hay! Chả cần gì phải làm ra cái kiểu “uyên bác”, ba hồi thì “augmenté”, ba hồi thì “diminúe”, ba hồi thì “6 è” hay là “9è”, nói theo tiếng Pháp, thì mới ra trò “đặc sắc”! Cứ xem những bức danh họa của Tàu khi xưa, có bao nhiêu màu sắc nếu không phải chì là mực Tàu nhưng ba hồi đậm, ba hồi nhạt; mà rồi danh họa thì vẫn là danh họa chứ việc gì cứ phải tô trát đủ thứ màu mè vào đấy?

Tôi đàn bài “Mưa rơi” như để trở về với những kỷ niệm của một thời rất xưa cũ đối với riêng mình.

Thanh Trang
Nam Cali, đầu mùa Xuân 2008

(*) và (**) : Xin cứ tạm xử dụng dưới dạng bí danh như thế đã vì có liên quan đến người còn sống !
(***) : Tôi có hỏi kỹ tác giả xem nơi bản in xưa kia của bái “Mưa rơi” thầy ghi phần lời là của Nhạc Sĩ Châu Kỳ thì sự thể là như thế nào? Ông trả lời: “Bài hát tôi làm lúc đó đã xong cả nhạc lẫn lời. Thế rồi Mộc Lan xa Châu Kỳ mà đi Hà Nội. Châu Kỳ có tâm sự buồn như vậy cho nên khi thấy bài hát của tôi thì đề nghị cho thay đổi vài chỗ trong lời hát cho gần với cảnh ngộ của mình, dụng ý của Châu Kỳ là lấy đấy như một lời “gửi gấm tâm sự” cho người đã xa mình! Tôi đồng ý để Châu Kỳ sửa vài chỗ như thế và đồng ý để Châu Kỳ đứng tên nơi phần lời ca cho đúng với nguyện vọng về mặt tình cảm riêng tư của anh ấy![/]”

(Nguồn: conthommagazine.com)
_____________________________

"...Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ."

MƯA RƠI - TÁC PHẨM BẤT HỦ CỦA NHẠC SĨ ƯNG LANG


Nhạc sĩ Ưng Lang

“Mưa rơi, chiều nay vắng người, bên thềm gió lơi...”

(Thứ ba, 30/12/2008, 10:48)

Source: (ĐSCT)

“Mưa rơi. Màn đêm xuống rồi! Mây sầu khắp nơi. Thương nhớ đầy vơi.
Bâng khuâng, nghe tiếng tơ dịu dàng. Nhìn lá úa theo hoa tàn, tiếc than phút giây lìa tan...”.

Mưa rơi - tác phẩm bất hủ của nhạc sĩ (NS) Ưng Lang với giai điệu buồn phát ra từ đài phát thanh Pháp Á với giọng ca truyền cảm của Mộc Lan và Minh Diệu làm say đắm bao người yêu nhạc vào những năm đầu thập niên 50...

NS Ưng Lang sinh năm 1919 tại Huế, có thiên hướng âm nhạc từ nhỏ. Sau khi tốt nghiệp Trường Quốc học Huế, ông theo ngành công chánh, tốt nghiệp kỹ sư cầu đường (1936 - 1941), bắt đầu sáng tác năm 1940, là NS đầu tiên dạy hạ uy cầm tại Việt Nam. Trong gia tài âm nhạc với khoảng 60 ca khúc của ông, có một số tác phẩm tiêu biểu như: Mưa rơi, Nhạc lòng, Chiều tiễn biệt, Đường về, Bóng trăng huyền, Xuân thắm, Chiều về thôn Vĩ, Bóng mơ xưa, Chuông chiều ngân... Nổi bật nhất là ca khúc đầu tay điệu tango Mưa rơi sáng tác năm 1942, với ca từ buồn da diết của NS Châu Kỳ cũng là nỗi lòng của ông sau khi chia tay người bạn đời - ca sĩ Mộc Lan.

NS Ưng Lang từng là giáo sư Trường Quốc gia Âm nhạc Huế (dạy hòa âm phối khí) ông cùng các bạn trong trường thành lập ban nhạc Aloha oe (tiếng của thổ dân Hawaii thường xử dụng khi gặp gỡ hoặc chia tay) gồm Văn Giảng, Ngô Ganh, Nguyễn Hữu Ba và ông đi biểu diễn khắp cố đô Huế. Những năm 50 thế kỷ trước, ở đất thần kinh có 3 cặp vợ chồng ca sĩ - nhạc sĩ nổi tiếng được mọi giới yêu thích: vợ chồng Mộc Lan - Châu Kỳ; Ngọc Cẩm - Nguyễn Hữu Thiết và vợ chồng NS Ưng Lang.

Tác giả Mưa rơi hiện đã 90 tuổi, năm 2005 ông sang Mỹ định cư tại bang California, đầu năm nay ông quyết định trở về sống những ngày cuối đời trên mảnh đất quê hương, tại căn hộ nhỏ (49/29B Nguyễn Thái Sơn, P4, Q. Gò Vấp). NS Ưng Lang có 3 người con theo nghệ thuật, đó là cô con gái đầu: nhà văn Huyền Bảo Châu (tác giả Nắng ven đô, Ở một nơi không tìm thấy thiên đường), họa sĩ Ái Lan và người con trai út - nhạc sĩ Bửu Minh (hiện là nhạc công chơi guitar tại Phòng trà Đồng Dao, TPHCM).

Ngọc Thiện

Chiều Tiễn Biệt







Ưng Lang, tiếng hát Thanh Thúy

ALBUM "ƯNG LANG: THÀNH PHỐ MÙA ĐÔNG"

Đó là album kép “Thành Phố Mùa Đông” của lão nhạc sĩ Ưng Lang, gồm đĩa A với 18 ca khúc - trong đó có nhiều bài quen thuộc với phần lời của nhạc sĩ Châu Kỳ như:

Mưa rơi, Chiều tiễn biệt hoặc phổ thơ: Những cánh thời gian ( thơ Thân Thị Ngọc Quế ), Khi tôi về ( thơ Trần Dzạ Lữ ), Chiều thứ sáu (thơ Phạm Đích), Quán hoa giấy (thơ Lữ Quỳnh), Một thoáng (thơ Mỹ Hạnh), Lạc nẻo (thơ Phạm Nhuận)... qua các giọng ca Duy Thoán, Minh Ngọc, Thiên Thanh, Christan Lê, Mỹ Hạnh, Nguyễn Long.

Đĩa B là 10 ca khúc được trình bày hòa âm do Bửu Minh ( con trai lão nhạc sĩ ) phối âm...

Lần đầu tiên ra CD nhưng hy vọng không phải là lần cuối cùng, bởi lão nhạc sĩ vẫn còn sung sức lắm lắm và càng cao tuổi thì càng... nhiều cảm hứng sáng tác!

Hà Đình Nguyên

MƯA RƠI... TIỄN BIỆT TIẾNG HẠ UY CẦM
Source: Thanh Niên Online - Thứ Tư, 19/8

Sau nhiều năm sống lặng thầm nhưng chan hòa tình thương với gia đình, thân hữu, lão nhạc sĩ Ưng Lang đã từ giã cõi trần lúc 20 giờ ngày 17.8, thượng thọ 91 tuổi.

Nói đến nhạc sĩ Ưng Lang, những người am tường về lịch sử âm nhạc Việt Nam đều ghi nhận ông là một trong những người Việt đầu tiên đưa cây đàn guitar Hawaii (hạ uy cầm) vào xử dụng, biểu diễn và giảng dạy ở Việt Nam từ gần 70 năm về trước. Dạo đó, Ưng Lang từng là trưởng ban nhạc Ahola (tiếng chào của thổ dân Hawaii) vang danh đất Hà thành. Nhạc sĩ Trịnh Hưng (tác giả Lối về xóm nhỏ, Lúa mùa duyên thắm) viết trong hồi ký: "Vào đầu thập niên 1950, trên con đường Lý Quốc Sư gần Nhà thờ lớn Hà Nội có quán cà phê Bằng là nơi quen thuộc với giới văn nghệ sĩ… Tôi thường ra đây để nghe nhạc và tôi thích nhất nữ danh ca Mộc Lan hát bài Mưa rơi, bài hát tôi hâm mộ nhất vì có tiếng hạ uy cầm của chính tác giả (Ưng Lang) réo rắt, lả lướt phụ họa theo… Đôi tay của ông như vờn múa trên cây đàn và tôi thầm cảm phục, ao ước có một ngày được làm quen với người nhạc sĩ tài hoa ấy cho thỏa lòng ngưỡng mộ…".

Ca khúc Mưa rơi của Ưng Lang ( lời của nhạc sĩ Châu Kỳ ), được sáng tác tại Vinh (Nghệ An) năm 1942 khi ông đang làm kỹ sư công chánh tại đây. Bài hát điệu tango, cung Rê trưởng nói về chuyện tình tuyệt đẹp giữa tác giả và một người con gái ở vùng đất ấy với giai điệu thể hiện sự nhớ thương: "Mưa rơi, chiều nay vắng người. Bên thềm gió lơi, mơ bóng ngàn khơi… Mưa rơi, màn đêm xuống rồi. Mây sầu khắp nơi, thương nhớ đầy vơi…".

Năm 2005, nhạc sĩ sang Mỹ định cư tại California theo mong muốn của con cháu. Nhưng đầu năm 2009, ông quyết định về sống những ngày cuối đời trên quê hương. Từ hôm lão nhạc sĩ hồi hương, người viết chỉ mới đến vấn an sức khỏe của ông được hai lần, lần cuối cách đây khoảng một tháng khi ông vừa từ bệnh viện về nhà. Sức khỏe của ông đã yếu lắm rồi nhưng thấy người quen ông vẫn nở nụ cười hồn hậu, vẫn cố gắng nói. Thấy ông mệt, đành cáo từ sớm, không ngờ đó là lần cuối được gặp ông...

Linh cữu nhạc sĩ Ưng Lang quàn tại tư gia số 49/29B Nguyễn Thái Sơn, P.4, Gò Vấp (TP.HCM). Lễ động quan lúc 6 giờ 30 ngày 23.8, sau đó an táng tại nghĩa trang Gò Dưa (Thủ Đức, TP.HCM).

Hà Đình Nguyên

Mưa Rơi - Ái Lan


Chiều Tiễn Biệt - Mỹ Hạnh


Một Thoáng - Mỹ Hạnh


Quán Hoa Giấy


Ký Ức Tango - Nguyễn Long


Click trên ô chữ nhật bên phải mỗi player để xem video màn hình rộng.

GIÁO SƯ NHẠC SĨ ƯNG LANG ĐÃ VỀ CÕI VĨNH HẰNG

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Viết với tất cả lòng yêu thương và kính trọng dành cho vị giáo sư nhạc sĩ tài hoa, với ngón đờn Hạ Uy Cầm bất hủ... và tôi hy vọng ở nơi đó có lẽ ông sẽ còn tiếp tục sáng tác những bản nhạc tình tuyệt diệu, vượt ngoài vòng thế tục.

Tôi thật ngỡ ngàng, bàng hoàng khi nhận được tin em, chỉ vắn tắt có một câu:

"Dạ, ba em là nhạc sĩ Ưng Lang đã qua đời tối hôm qua..."

Tôi nghe em hát, tôi và Nhẫn say mê những tác phẩm nghệ thuật của em... mà chúng tôi chưa hề biết em là con gái của giáo sư nhạc sĩ Ưng Lang. Hai ngày trước đó, lần đầu tiên tôi đưa bản nhạc CHIỀU TIỄN BIỆT lên trang blog của gia đình, với mong ước khởi đầu giới thiệu em đến bằng hữu trong gia đình Ái Hữu Ninh Thuận một hoạ sĩ trẻ tài hoa và khiêm tốn, và hơn thế nữa, em đã trở thành một người bạn thân thiết của chúng tôi. Tôi thật không ngờ, lời bản nhạc đó đã trùng hợp với biến cố đau buồn ngày hôm nay: Giáo sư Nhạc sĩ Ưng Lang đã từ biệt chúng ta về cõi vĩnh hằng, và đáng tiếc thay, tôi không có được cơ duyên để tiễn biệt ông sang bên kia thế giới!

Tôi tin âm dương tuy cách biệt nhưng vẫn có sự giao tiếp ẩn tàng đâu đó và tôi có cảm nhận là ông hiểu được tấm lòng chân thành của chúng tôi, tôi có vạn điều muốn nói, chỉ thấy uất ức trong lòng, ngày thân phụ tôi qua đời tôi không thể về để vuốt mắt người lần cuối. Em có nhiều may mắn, được kề cận song thân, và ít ra em cũng được nghe những lời nhắn nhủ của phụ thân trước khi người xuôi tay nhắm mắt. Tôi đã thật sự khóc, không chỉ khóc cho em mà là khóc cho chính thân tôi, theo cùng với những nỗi khổ đau của dân tộc mình và những sinh ly tử biệt mà người cộng sản đã mang đến cho đất mẹ Việt Nam của chúng ta.

Em và tôi có cùng chung phụ mẫu là cha mẹ Việt Nam của chúng ta, và chúng ta cùng chia xẻ những nỗi đau của đồng bào ruột thịt. Tôi nguyện cầu và ước mong sao thế hệ của các em sẽ vươn đôi vai Phù Đổng, đứng lên gánh vác việc sơn hà, can đảm thay người đi trước, làm hết sức mình để giải phóng tổ quốc của chúng ta thoát khỏi bàn tay của bạo quyền, và anh dũng đứng lên bảo vệ lấy mảnh giang sơn hoa gấm này.

Bản chất của con người Việt Nam chúng ta là hiền hòa, hiếu hạnh, chúng ta hoàn toàn không thích hợp với thứ chủ nghĩa cộng sản ngoại lai bất nhân, bất nghĩa và tàn độc. Tổ quốc của chúng ta sinh ra những con người vĩ đại, khiêm tốn và anh hùng, những nhà thơ lớn và những nhạc sĩ tài hoa như ba của em, chúng ta là con cháu của bà Trưng, bà Triệu, của Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, chúng ta chưa bao giờ hèn nhát cúi mặt trước quân thù, và... vĩnh viễn chúng ta không cần bất cứ thứ chủ nghĩa ngoại lai nào để dựng nước và giữ nước cả, không có bất cứ chủ nghĩa nào siêu việt hơn chân lý của tổ tiên dân tộc chúng ta truyền lại.

Bác học phát sinh từ giai cấp bình dân, cho nên chúng ta phải học túi khôn từ đồng bào của chúng ta, chúng ta phải học cách cư xử và làm người từ đồng bào của chúng ta...; mưa nắng hai mùa, đất nước của chúng ta là cái nôi của những người nông dân đầu trần chân đất, thoáng chốc đứng lên làm cách mạng giải phóng quê hương, mang lại vẻ vang và phồn vinh cho bao thế hệ con cháu, họ vĩnh viễn không cần phải đi Nga đi Tàu để rước về những thứ ngoại lai cũ rích, những thứ chủ nghĩa đã bị vứt bỏ vào sọt rác của lịch sử. Đất nước của chúng ta có những anh hùng vĩ đại như Lê Lợi, Quang Trung... chưa hề cắp sách đến trường nhưng chí lớn, có tài năng và trí tuệ phi thường..., và vô số những anh hùng dân tộc, những người ấy không bao giờ chịu nhục đi làm bồi bàn trên tàu giặc để kiếm miếng cơm manh áo, trở về khoác lác với đồng bào mình rằng đã lên tàu ra đi tìm đường cứu nước. Tiếc thay có những kẻ nông cạn và ngu dốt nghĩ rằng phải đi ra khỏi nước thì mới tìm được con đường cứu nước, những kẻ ấy và bè lũ theo hùa đã mang lại vô vàn thảm họa cho đồng bào và tổ quốc của chúng ta, để ngày nay đất biển đã đem dâng vào tay giặc.

Chúng ta là những con người yêu chuộng tự do và có lòng nhân hậu, vì vậy chúng ta làm thơ, chúng ta viết nhạc, vẽ tranh... bằng trái tim và tâm hồn thổn thức của chúng ta, những vần thơ, những bản nhạc, và những tranh vẽ trữ tình tuyệt diệu, như những bản nhạc của ba em đã sáng tác... mà bọn theo chủ nghĩa ngoại lai cuồng bạo gọi nó là nhạc vàng, vì nó không thỏa hợp với lòng khát khao bắn giết của bọn chúng! Em đã sinh ra và lớn lên nơi mảnh đất thần kinh Huế, và em đã chứng kiến tận mắt mình cuộc tắm máu Mậu Thân, nó còn man rợ hơn cả thảm sát Thiên An Môn... những thứ bạo tàn dã man ấy đều do bọn người cộng sản bất nhân, vô đạo gây nên. Tôi tin rằng không có một người Việt Nam có lương tri nào mà lại không phân biệt được đâu là nẻo tà đường chính, và sẽ không có ai đã từng chứng kiến tận mắt sự tàn bạo của con người cộng sản lại không căm hận và ghê tởm bọn tắm máu dân mình. Bây giờ, tôi e rằng những thế hệ mới lớn bị nhồi nhét vào đầu óc những thứ cặn bã dối gian và lừa bịp, sẽ trở thành những thứ công cụ giết người trong tương lai, và tôi cảm thấy lo sợ vô cùng, vì vậy khi em và tôi, những chứng nhân của lịch sử còn hiện hữu thì chúng ta phải ra sức vật lộn với thời gian, làm hết sức mình cho mai hậu.

Sự ra đi của ba Nhẫn, ba tôi, rồi của ba em làm cho chúng ta lo sợ, vì nó báo hiệu cho sự ra đi của thế hệ những chứng nhân của lịch sử trong đó sẽ có chúng tôi, những người đã gói trọn đời mình vào những cuộc đổi thay và thăng trầm của đất nước, và trên đôi vai chỉ biết có một điều trọng đại nhất là Tổ quốc - Danh dự và Trách nhiệm. Chúng ta đội ơn cha mẹ của chúng ta vì đã ban cho chúng ta dòng máu biết yêu thương, đã nuôi dưỡng chúng ta trong tình yêu gia đình và tổ quốc, và đã truyền thụ cho chúng ta cái túi khôn của dân tộc mình. Ngày hôm nay tôi viết những dòng này để kính tiễn ba em, và để nhắc nhở tôi rằng tôi luôn có một tổ quốc dấu yêu và đồng bào ruột thịt, và người mẹ hiền đang mỏi mắt trông con.

Hoa Kỳ, ngày 18 tháng 8 năm 2009
Lê Tự Do

NHỮNG TÌNH KHÚC CỦA NHẠC SĨ ƯNG LANG
Source: Da Vàng

Một câu chuyện về chàng nhạc sĩ đào hoa thủa ấy, người đã cho chúng ta không ít những bản tình ca để đời…

Nghe đến cái tên Ưng Lang, người ta đã nghĩ ngay đến môt thời hoàng kim của môt triều đại nước ta ... Triều Nguyễn, từ khi vua Gia Long lên ngôi.. . Ưng Lang là con Ông Hường Khanh, có nghĩa Ưng Lang là dòng dõi Hoàng Tộc.

Nhạc sĩ Ưng Lang sinh năm 1919 tại Huế, thủa nhỏ đã đam mê âm nhạc…

Sau khi tốt nghiệp Trường Quốc Học Huế, là một kiến trúc sư. Ông theo nghành Công Chánh .Ông đã đi nhiều nơi trên đất nước xây dựng nhiều công trình về cầu đường..( 1936 – 1941 ) cũng từ đó niềm đam mê luôn trổi dậy nơi ông và ông đã bắt đầu sáng tác nhạc…

Ưng Lang là một chàng thanh niên tuấn tú, người dong dỏng cao, hào hoa và có rất nhiều tài ngoài âm nhạc như khiêu vũ, chơi các loại nhạc cụ về nhạc, và nhất là ngón đàn Hạ uy Cầm độc nhất vô nhị tại Huế thời bấy giờ… Vì vậy biết bao nhiêu thiếu nữ thầm yêu trộm nhớ với chàng nhạc sĩ tài hoa này. Cũng vì tình cảm dạt dào, đa sầu đa cảm chàng Ưng Lang luôn đưa những tình cảm vào lời văn ý nhạc của mình. Và từ đó những bản nhạc được sáng tác chính thật là tâm tình của tác giả, đó là những kỷ niệm buồn vui, nhớ nhung người yêu hay những tình yêu trai gái thời bấy giờ.

Nhạc sĩ Ưng Lang từng là giáo sư Trường Quốc gia Âm nhạc Huế (dạy hòa âm phối khí) ông cùng các bạn trong trường thành lập ban nhạc Aloha Oe (tiếng của thổ dân Hawaii thường xử dụng khi gặp gỡ hoặc chia tay) gồm Văn Giảng, Ngô Ganh, Nguyễn Hữu Ba.

Bắt đầu sáng tác năm 1940, là Nhạc sĩ đầu tiên dạy Hạ uy cầm tại Huế. Trong gia tài âm nhạc ca khúc của ông, có một số tác phẩm tiêu biểu như: Mưa rơi, Chiều tiễn biệt, Chiều về thôn Vỹ ,Ký ức Tango, Một thoáng, Xuân thắm, Lạc nẻo….

Nhạc của Ưng Lang luôn là nguồn hạnh phúc vui buồn chia xẻ cùng ông... Như bài Ký ức Tango là kỷ niệm một tình yêu bất diệt giữa chàng nhạc sĩ đào hoa và nàng thư ký xinh đẹp, một lần nào đó chàng đã dìu bước tango cùng nàng lả lướt theo nhạc say sưa…Và cũng một lần nữa chàng nhạc sĩ đã có một mối tình éo le và trăn trở với nàng thi sĩ khi quen nhau, yêu nhau rồi ra đi nhưng không hẹn ngày về để người thương nhớ đợi mong: bản nhạc Mưa rơi... ra đời 1945, đã thể hiện cho tình cảm này.

Cũng là bản nhạc Mưa rơi, Ưng Lang đã chia xẻ với Châu kỳ bạn thân của ông thời đó, vì Châu Kỳ có người yêu là ca sĩ Mộc Lan đi xa, cũng đồng cảnh ngộ là chia xa với người yêu ông tên Chi Lan nên nhạc sĩ Ưng Lang để nhạc sĩ Châu Kỳ sửa lời cho phù hợp với cảnh ngộ của Châu Kỳ… Sau này với bản nhạc Mưa rơi, Ưng Lang – Châu Kỳ luôn có đôi…

Sau nhiều năm phiêu lưu trong cuộc sống tang bồng, chàng nhạc sĩ Ưng Lang trở về Huế lập gia đình ...

Đến năm 1952, ông đã có một cô con gái đầu xinh đẹp

Dòng đời luôn cuốn trôi chàng nhạc sĩ Tango này, không ở yên nhà chàng tiếp tục ra đi tìm lại những kỷ niệm và cũng từ đó chúng ta lại có rất nhiều tác phẩm lưu lại như: Về nẻo xưa, Muời lăm năm cách biệt, Mãi mãi xa nhau, Dòng sông lạnh…

Như vậy cũng đủ cho ta thấy dòng nhạc lãng mạn của Ưng Lang luôn xuôi theo dòng đời và những tâm tư của ông.

Và rồi sau nhưng năm phiêu lưu, nhạc sĩ Ưng Lang đã trở về Huế sống sáng tác… Cùng với thời gian sống sáng tác ở Huế, ông đã có nhiều con cái, và tác phẩm đến nay có khoảng trên dưới sáu mươi tình khúc của ông, thể hiện theo các điệu tango, rumba, blue...

Người con gái đầu của ông là một Văn sĩ … và người con gái út của ông hiện nay là một nữ Họa sĩ tài danh mang âm hưởng của cha cùng cá tính của cô, cậu con trai út có lẽ chính là người kế nghiệp ông theo nghành nhạc, từng là một tay guitarist trong ban nhạc Atomega Rock, hiện chính là người đã phối âm lại những bản nhạc của ông cho phù hợp với thời đại.

Những bản tình ca của Nhạc sĩ Ưng Lang đã dược rất nhiều ca sĩ tên tuổi trình bày như: Khánh Ly, Thanh Thúy, Hà Thanh,Tâm Vấn, Hồng Vân, Lan Ngọc, Ánh Tuyết…

Hiện nay Nhạc sĩ Ưng Lang chàng nhạc sĩ tài hoa năm xưa nay đã chín mươi tuổi, sau những năm tháng dòng đời phiêu lãng. Chàng Ưng Lang đã trở về cùng nàng thư ký xinh đẹp năm xưa sống với nhau đến cuối đời cùng cậu út Nhạc sĩ Bửu Minh tại Tp Saigon.

Viết theo gia đình Nhạc Sĩ Ưng Lang 2009.




TAIWAN TYPHOON RELIEF AND ASSISTANCE FUND


Summary

Provide immediate assistance to victims of Typhoon Morakot, which has caused massive flooding and mudslides, killing more than 500 and destroying homes. Hundreds of people remain missing.

CLICK HERE TO MAKE A DONATION

Project Needs and Beneficiaries
The Fund will be disseminated to organizations providing relief to victims and survivors of the Typhoon and resulting mudslides.

Activities
Provide hot meals to survivors; help in the recovery effort and rebuilding of houses damaged or destroyed in the mudslide.

Funding Information
Total Funding Received to Date: $16,150
Remaining Goal to be Funded: $33,850
Total Funding Goal: $50,000

Additional Documentation
This project has provided additional documentation in a PDF file (projdoc.pdf).

Resources
•Project's External Homepage (http://www.globalgiving.com)

Why this Project is Important
Potential Long Term Impact
As the relief effort evolves, longer-term needs will be assessed, particularly around rebuilding homes.

Project Message
"We ran out of our house before the mudslide washed it away. For one day and night we had no rice, no water and our clothes were all wet. No one came to help us until a day later."
- Chih Shi-li, age 62, Resident, Chishan, Taiwan

Who is Running This Project
Contact
Manmeet Mehta
Program Officer
1816 - 12th Street NW
Washington, DC 20015
United States
(202) 232-5784
Email: mmehta@globalgiving.com

Project SponsorFor more information:
GlobalGiving
Organization
GlobalGiving
1816 12th St NW, 3rd floor
Washington, D.C. 20009
United States
202.232.5784
http://www.globalgiving.com

For more information

by AI HUU NINH THUAN
08/15/09. 05:03:51 pm. 229 words, 550 views. Categories: Không ðề, Nối vòng tay lớn, Uncategorized, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn, Vòng quanh thế giới ,

LỊCH SỬ CHẾ TẠO THUỐC VIAGRA


Lịch sử chế tạo thuốc Viagra
Source: Người Việt Boston
Trần Bá Thiên

Tôi nghĩ rằng cái ông nào chế tạo ra thuốc Viagra chắc cũng đã được gợi hứng từ cảnh này. Xụi lơ mà bỗng vươn vai chơi màn… dậy mà đi, người đời khó mà nghĩ ra nếu không có hình ảnh nào cụ thể trước mắt. Tôi không ngờ mình nghĩ như vậy là dốt. Bởi vì Viagra ra đời như một thứ tin vui giữa giờ tuyệt vọng là do một sự tình cờ. Đó là một thứ tác dụng phụ của thuốc. Thường thì tác dụng phụ của thuốc là điều có hại mà các nhà chế tạo thuốc cố gắng hạn chế tối đa.

Nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, choáng váng, v.v… là những món ăn phụ chẳng ai thích thú. Nhưng cũng có những tác dụng phụ trở thành tốt nếu các nhà khoa học lý luận ngược lại. Chẳng hạn như vào năm 1982, tại Hội Nghị về Bệnh Cao Huyết Áp thế giới, nhiều nhà khoa học cảnh báo là thuốc điều trị bệnh cao huyết áp có tác dụng phụ làm chú nhỏ cứ chun choe nhẽo nhẹt.

Lúc đó, Gilles Brindley có ngay một suy nghĩ độc đáo: Nếu vậy thì có thể dùng thuốc điều hòa huyết áp để có tác dụng ngược lại khiến chú nhỏ phơi phới với đời. Nghĩ là làm, ông bèn chích vào chú nhỏ của ông một vài loại thuốc để thí nghiệm. Cuối cùng, ông thấy papaverin là hợp nhất. Papaverin làm giãn nở các cơ trơn quấn quanh mạch máu, tăng lượng máu đến chú nhỏ, làm đầy các thể hang, chèn ép các tĩnh mạch không cho máu thoát ra, giúp chú nhỏ ngẩng đầu lên thách thức. Tới ngày nay người ta cũng vẫn còn dùng liệu pháp papaverin này. Tương tự như vậy, khi thuốc chữa bệnh tim mạch có dùng hoạt chất sildenafil ra đời, các bác sĩ điều trị cho bệnh nhân bằng thuốc này thấy nó có một tác dụng phụ rất phiền toái là làm cho chú nhỏ ngóc đầu lên. Vậy là tương kế tựu kế, hãng bào chế dược phẩm Pfizer bèn bào chế ra một thứ thuốc có hoạt chất sildenafil để chữa bệnh ẻo lả của quý ông. Đó chính là thứ thuốc mang tên thương mại là Viagra. Vậy là phơi phới những cột buồm gẫy. Cờ bay cờ bay rộn rã. Khắp thế giới.

Viagra bắt đầu bán tại Mỹ vào ngày 27 tháng 3 năm 1998 (xin mọi người ghi nhớ ngày công ơn này). Chỉ trong vòng ba tháng sau, đã có 200 ngàn bác sĩ kê trên 7 triệu toa thuốc gồm tổng cộng hơn 60 triệu viên Viagra cho bệnh nhân. Đây là số lượng kỷ lục của một thứ thuốc mới ra lò.Vì số lượng kỷ lục này mà chỉ trong một thời gian ngắn đã có đủ dữ liệu để đánh giá độ mức an toàn của thuốc trong khi các loại thuốc khác thường phải mất 2 năm mới có đủ dữ liệu. Tháng 11 năm 1998, chỉ tám tháng sau khi ra đời, cơ quan kiểm soát dược và thực phẩm Mỹ FDA, sau khi đã nghiên cứu và xem xét các dữ liệu, đã xác nhận Viagra là loại thuốc an toàn và hiệu quả khi được xử dụng theo đúng chỉ dẫn.

Vậy là từ nay dưới không còn được giỡn mặt với trên. Trên bảo là dưới phải nghe. Không nghe đã có thuốc trị! Thuốc hoạt động ra sao để có thể bắt được chú nhỏ không còn lười biếng được nữa? Viagra ức chế PDE5 (phosphodiesterase 5) ở chú nhỏ làm cho chất GMP tiết ra trong lúc hứng khởi tồn tại lâu, làm tăng lượng máu dồn vào và gây cương cứng.

Thuốc không chỉ có Viagra mà còn có nhiều anh em cùng dòng họ khác như Cialis và Levitra. Tất cả những thứ này sắp thuộc loại cổ điển cả. Mới toanh là chàng Avanafil. Chàng này vừa được các nhà khoa học thuộc Đại Học Sacred Heart ở Rome điều chế ra. Thứ mới này có gì khác anh chàng đã quá nổi tiếng Viagra? Có hai thứ được cải tiến.

Thứ nhất là thời gian đào thải thuốc ra khỏi cơ thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ: Viagra cần 8 tiếng để thanh toán trong khi Avanafil chỉ cần một tiếng rưỡi.

Thứ hai là thời gian chờ để đạn lên nòng. Viagra phải chờ 30 phút chú nhỏ mới cựa quậy được trong khi Avanafil cắt bớt được nửa thời gian, chỉ cần 15 phút thôi. Vẽ chuyện! 15 phút hay nửa tiếng thì cũng vậy thôi! Nói thế là không biết tới cái thời gian chờ đợi gay go này. Một phút cũng là lâu, nói chi 15 phút! Trẻ đã vậy mà già cũng rứa. Ông cụ Lê trong truyện ngắn «Tuổi Già Là Thời Sung Sướng Nhất» của Tràm Cà Mau làm chứng là tôi không nói ngoa…

«Ông cụ Lê đã tám mươi lăm tuổi, vẫn còn khỏe mạnh. Cụ bà cũng tám mươi ba tuổi. Họ sống trong một căn nhà tiền chế có ba phòng ngủ và hai nhà tắm, rộng rãi. Hai vợ chồng ngủ riêng, mỗi người một phòng, cái phòng còn trống dành cho con cháu, bạn bè ở xa về chơi. Cụ bà nhất định ngủ riêng. Cụ ông nói với bà con rằng, cụ hay thức khuya đọc sách, báo, và nghe nhạc, nên cụ bà không chịu được, phải ngủ riêng.» Cụ bà thì nói thẳng: «Ông già, nhưng phá lắm, làm tôi mất ngủ». Cụ bà lãng tai, nên thường nói lớn tiếng như thét gào.

Tôi từ San Francisco về, ghé thăm hai ông bà cụ Lê. Thấy ông đang xem tờ báo Mỹ, trong đó nhiều trang quảng cáo in hình những thiếu nữ da thịt hồng hào, lồ lộ, ăn mặc ít vải, bụng ngực hở hang, chân tay dang ra hớ hênh… Trong tình thân mật, tôi hỏi nhỏ: «Bác cũng còn thích xem các thứ nầy nữa? Có còn làm ăn chi được nữa không? Bác chay tịnh đã bao nhiêu năm rồi?» Cụ Lê nhướng mắt, cười toét miệng, để lộ hai hàm răng giả trắng muốt, đều đặn, nhưng hơi móm, trả lời: «Có chứ! Làm ăn đều đều chứ! Gì chứ cái đó đâu có nhịn được!»; «Thật không bác? Hay chỉ nói đùa cho vui thôi? Có cần thuốc Viagra trợ lực không?»; «Thuốc với thang, đâu cần! Tôi cũng đã thử cái thuốc đó mấy lần mà thấy công hiệu của thuốc quá chậm. Mình đã xong rồi, chiến trường đã tan, thuốc mới công hiệu. Thêm bực mình, khi đó thì dù còn sức, bà ấy cũng gạt đi. Phải hơn nửa giờ sau khi uống, thuốc mới công hiệu. Thế là quá chậm. Chuyện đó, phải tức thì, cơm nóng canh sốt mới ngon. Đâu phải đi câu mà thả cần chờ cá đớp mồi. Còn khi không có hứng thì uống thuốc đó vô làm chi?»

Tôi phục ông cụ Lê này quá. Tám mươi lăm tuổi mà còn thông suốt về Viagra như vậy. Đâu có cù lần như tôi. Tôi đâu có biết cái thứ thuốc quỷ quái này hình thù ra sao. Cũng dễ tới cả chục năm sau khi thuốc ra đời. Lần đầu tiên tôi thấy được viên thuốc rất “hot” này là nhờ một … nữ lưu. Bữa đó tôi qua Boston dự buổi ra mắt sách của nhà văn Trần Doãn Nho. Chương trình buổi ra mắt sách này có nhiều mục lắm. Nhưng đang khi chương trình diễn ra ngon ơ thì bất thần nhà văn nữ Thu Thuyền vội bước lên sân khấu. Trước mặt bá quan văn nghệ, nhà văn nữ này đã rút trong túi ra một vỉ thuốc Viagra tặng nhà văn Trần Doãn Nho. Mọi người cười. Tôi cũng cười nhưng là cái cười vui khi thấy mình may mắn có cơ hội học hỏi thêm. Sau khi lễ lạc xong, tôi khều nhà văn họ Trần xin xem vỉ thuốc nó ra sao. Từ đó tôi mới có kiến thức thực tiễn về anh chàng nổi tiếng Viagra này.

Nghĩ lại mà mắc cỡ khi đọc được tin tới ngựa cũng còn biết dùng Viagra. Chuyện xảy ra ở bên Đức. Một chàng tên Vedor mua một chú ngựa giống với giá 4 ngàn đô Mỹ nhưng mới chỉ trả tiền cọc 400 đô. Dắt ngựa về, cho ngựa tới chuồng một nàng ngựa cái, chàng Vedor mới phát giác là chú ngựa này chẳng làm ăn được gì. Cứ y như thái giám. Tức khí, Vendor không trả tiền nữa. Chủ cũ kiện ra tòa. Tòa phán cho phép chú ngựa dùng Viagra. Vậy mà nên chuyện. Từ đó chú ngựa giống làm ăn rất chăm chỉ. Tòa ra tiếp lệnh cho chàng Vedor phải trả cho chủ cũ của chú ngựa đầy đủ số tiền đã thỏa thuận.

Ngựa vốn là mẫu mực cho các ông, vậy mà cũng Viagra. Hổ tưởng ngon lành hóa ra cũng rứa! Sở thú Jiujiang thuộc tỉnh Giang Tây bên Tàu đã mượn một con hổ cái tên Jing Jing từ sở thú Jingdezhen ở Hồ Bắc về để cho chú hổ đực 4 tuổi Qi Qi truyền giống. Ngày qua ngày, chú hổ đực Qi Qi đang độ tuổi khát tình vẫn cứ một mình ngồi ngắm trăng chẳng màng gì tới nàng Jing Jing bên cạnh. Thấy tình trạng yên ắng chẳng… rung rinh gì của chú hổ cưng, nhân viên của sở thú Jiujiang đã phải cho chú dùng Viagra. Vậy là rung rinh nàng liền tức khắc. Hổ tưởng phải mạnh như ông ba mươi hóa ra cũng…bù trớt!

Ngựa đã thế, hổ đã thế thì các ông mắc cỡ chi mà không nuốt những viên thuốc xanh xanh hình hạt dưa nhỏ chút xíu mà làm được chuyện lớn. Vậy là anh Viagra, tôi Viagra, chúng ta Viagra! Có bà khuyến khích các ông nhưng cũng có bà… kinh hãi. Như bà Carla ở thành phố Palermo, Ý. Bà này năm nay 69 tuổi, cái tuổi đã muốn… hưu, đang mùa hạn hán, nước non đã ra đi, cỡ bà cụ Lê trong truyện của ông Tràm Cà Mau. «Đừng bảo khi về già các bà hết ham muốn. Sai toét! Các bà sợ chuyện đó, sợ chứ không phải hết ham muốn đâu. Sợ là phải, đau quá mà. Xe chạy lâu ngày khô nhớt máy, làm sao mà chạy được». Chồng bà là cụ Giovanni di Stefano đã 82 tuổi, lòng vẫn còn xuân nhưng lực bất tòng tâm, cụ phải nhờ tới anh Viagra. Bà cụ Carla thấy ông chồng già nuốt thuốc bèn hốt hoảng gọi cảnh sát. «Ông ấy đã 82 tuổi rồi nên tôi nghĩ chuyện yêu đương nồng nhiệt quá có thể gây hậu quả xấu». Ý cụ Carla là sợ cụ ông lên cơn đau tim bất tử nhưng tôi nghĩ có lẽ là cụ sợ chuyện khác, chuyện … nước non ngàn dặm ra đi!

Chị Trúc cũng sợ nhưng sợ theo kiểu khác. Trên báo điện tử ở trong nước, chị đã kêu thất thanh: «Tôi kết hôn được 3 năm, đã có một con gái 2 tuổi. Chồng tôi hơn tôi 14 tuổi. Đời sống tình dục của chúng tôi có thể nói là lệch pha. Tôi hầu như không có hứng thú lắm trong quan hệ tình dục. Để chiều chồng, tôi phải giả vờ rằng mình rất thích thú (bằng lời nói và hành động). Một ngày tôi phát hiện ra chồng mình đã xử dụng Viagra. Tôi thực sự choáng váng. Người chồng mẫu mực của mình có thể đã tìm thấy ở chỗ khác cảm hứng thực sự của mình. Tôi cảm thấy ghê tởm anh ta. Các bạn ơi! Giúp tôi với. Tôi thấy bối rối quá». Rất nhiều người đã nhảy vào giúp chị Trúc. Tôi lựa ý kiến của một bạn lấy tên là Tình Yêu Hạnh Phúc: «Thú thật là từ sau khi đọc những dòng tâm sự của bạn Trúc đến giờ, tôi cứ luôn băn khoăn một ý nghĩ là: không lẽ người đàn ông dùng Viagra trong quan hệ tình dục là xấu xa à? Điều đó đáng ghê tởm? Tôi băn khoăn vì không biết từ trước đến giờ quan niệm của mình là đúng hay sai? Vì tôi quan niệm một cách đơn giản: có bệnh thì uống thuốc, thế thôi. Hơn nữa, tôi thấy loại thuốc đó được bán công khai ở hiệu thuốc cơ mà, phải chăng pháp luật lại cho bán một loại thuốc mà khi xử dụng con người trở nên ghê tởm? Tôi nghĩ chồng bạn phải hành động như vậy cũng có thể là do tình cảm mà anh ấy dành cho bạn. Vì có lẽ anh ấy không muốn chứng kiến cảnh vợ mình phải giả vờ thỏa mãn. Tại sao lại có một người vợ dùng hai từ: ghê tởm để nói về chồng mình nhỉ, tôi thực sự khó hiểu. Hơn nữa lại bêu rếu cho cả thế giới biết chồng mình là một người đàn ông đáng ghê tởm nữa chứ, tình nghĩa để đâu? Một ngày cũng là nghĩa vợ chồng, mà đã chung sống với nhau suốt 3 năm qua».

Viên thuốc nhỏ xíu 25mg, 50mg hoặc 100mg này là thứ bé hạt tiêu. Bé mà làm các đấng mày râu oai phong lẫm liệt phải giấu giấu diếm diếm khi đụng phải. Mà có ít gì cho cam. Từ khi Viagra ra đời đã có 35 triệu nam nhi trên khắp thế giới xử dụng. Vậy mà việc mua thuốc vẫn cứ như người ăn vụng. Tới bác sĩ xin cái toa đã đỏ mặt, mua được vỉ thuốc thì vội nhét ngay vào túi kẻo có người trông thấy. Hãng sản xuất thuốc Pfizer, tuy đã giàu xụ vì Viagra, vẫn muốn người mua tránh được tình cảnh khó xử đó. Chẳng hiểu vì cái tâm muốn giúp các ông hay vì muốn cái túi tiền của họ đầy hơn nữa. Tôi không dám nghĩ tốt cho họ. Họ đang vận động tới chỗ mua thuốc Viagra không cần đơn bác sĩ. Cứ lẳng lặng ra quầy thuốc như mua một vỉ thuốc Aspirine vậy thôi! Một phát ngôn viên của hãng đã ngôn: «Rất nhiều người đàn ông không đến gặp bác sĩ hoặc nói chuyện về tình trạng của họ. Bằng việc cung cấp giải pháp hỗ trợ là một loại thuốc, nó sẽ cho họ một cơ hội khác». Nhưng đề nghị… nhân đạo của Pfizer đã bị một ủy ban về dược phẩm ở Âu Châu phản bác ngay: «Nếu loại thuốc này được dùng mà không cần bác sĩ kê toa, sẽ không có giám sát y tế và điều đó sẽ dẫn đến việc chẩn đoán muộn những loại bệnh ẩn».

Ủy ban này cũng có lý vì không phải ai cũng có thể dùng Viagra mà không có những phản ứng phụ. Trên mặt có bao nhiêu lỗ thì lỗ nào cũng có thể đụng vào Viagra được cả. Lỗ miệng nuốt vào viên thuốc. Và chính lỗ miệng có thể lãnh đủ: một số nghiên cứu đã khẳng định là Viagra làm giảm lượng không khí lấy vào khí quản. Lỗ mũi cũng có thể bị gây tắc hoặc làm giảm khả năng phát hiện và phân biệt mùi. Lỗ mắt có thể rối loạn nhìn thấy toàn một màu xanh hoặc màu xanh lá. Nguy hiểm hơn, đã có 14 trường hợp bị bệnh về mắt gọi là NAION (nonarteritic ischemic optic neuropathy), một bệnh có thể đưa tới mù mắt luôn. Nếu trong vòng từ 24 tới 36 tiếng sau khi dùng Viagra mà thấy những triệu chứng như mờ mắt hoặc mất thị lực ít hay nhiều ở một mắt hoặc cả hai mắt thì phải nghĩ ngay đến bệnh NAION. Lỗ tai cũng có thể bị Viagra làm điếc đột ngột hoặc đôi khi nghe thấy tiếng rung ở trong tai và chóng mặt.

Mặc những khiếm khuyết của thuốc như trên, Viagra vẫn ngẩng cao mặt với đời. Nó nhảy vào làm… chính trị! Trong cuộc tuyển cử ở Thái Lan vào cuối năm 2008, có 4,200 ứng cử viên thuộc 41 đảng tranh nhau 480 ghế của Hạ Viện. Tính ra thì sơ sơ cứ ngót nghét 10 ứng cử viên tranh nhau một chiếc ghế. Muốn có ghế loại xịn này thì phải câu được phiếu của cử tri. Một ứng cử viên tại tỉnh Pathum đã dùng mồi Viagra để câu phiếu. Dùng Viagra tranh cử thì tha hồ có chỗ để trương biểu ngữ! Không biết cá có cắn câu không chứ ông này vừa tung ra chưởng lạ thì một ông khác cũng ứng cử chung đơn vị là ông Sayan Nopch đã tố cáo liền. Thế mới biết sức mạnh của Viagra. Sức mạnh này CIA cũng phải dùng tới. Họ mang Viagra ra hối lộ các thủ lãnh các bộ lạc Afghanistan để các ông này cung cấp tin tức tình báo cho họ. Một thủ lãnh đứng đầu một bộ lạc ở phía Nam Afghanistan nhất định không thèm hợp tác với CIA. Ông này vừa tới tuổi sáu chục và có 4 cô vợ trẻ. Một nhân viên CIA đã tới nhà, mời ông này dùng Viagra và giải thích công dụng của thuốc. Nghe bùi tai, ông già này nhận thuốc. Bốn ngày sau, nhân viên này quay trở lại và được ông tù trưởng tiếp đón nồng nhiệt. Điệp viên này cho biết: «Ông ấy gặp chúng tôi với nụ cười trên môi. Sau đó, chúng tôi có thể làm bất kỳ điều gì chúng tôi muốn trên vùng đất của ông ta».

Lợi dụng Viagra như vậy có chi hay. Phát không Viagra cho các bậc trên 60 tuổi mới ngon. Đã có ít nhất hai ông Thị Trưởng trên thế gian này chịu chơi như vậy. Ông Gonzalo Navarrete, Thị Trưởng của thành phố Lo Prado ở Chile là người cẩn thận. Ông phát không cho mỗi cụ trên 60 tuổi mỗi tháng 4 viên Viagra với điều kiện các cụ phải đi khám sức khỏe trước. Ông làm thế là phải. Lỡ các cụ hăng say quá mà sức khỏe kém, lăn đùng ra đấy, thì ai chịu trách nhiệm. Ông Thị Trưởng Joao de Souza của thành phố Novo Santo Antonio, thuộc Brazil, phát miễn phí Viagra cho bất cứ cụ nào ghi tên tham gia. Không thấy nói tới việc khám sức khỏe chi cả nhưng tôi nghĩ chắc cũng phải có. Kết quả có 68 cụ tham gia. Ông này cũng cẩn thận nên sợ là có thuốc trong tay các cụ cứ vác thuốc đi … “ăn vụng" thì phiền phức chết. “Cơm nhà” để thiu ra à? Đã làm tới thị trưởng thì chính trị phải cao, ông Joao de Souza nghĩ ra được một kế thần sầu mà chắc Khổng Minh tái thế cũng chỉ có thể nghĩ tới đó là cùng. Ông phát thuốc cho các bà vợ giữ. Khi nào các bà vợ muốn thì các ông mới có Viagra dùng! Các ông bạn tôi lúc đầu nghe tin rất phấn khởi đòi vào ngay Google tìm đường tới hai thành phố thần tiên này, nhưng đọc tới đây thì họ quyết định chỉ tìm đường tới Chile thôi chứ nhất quyết không đến Brazil nữa. Dại chi tốn tiền máy bay mà không được cái giải rút gì cả!

Tôi vốn sống có tình với bè bạn nên cũng mủi lòng. Đọc được tin là ở bên Trung Quốc, các cửa hàng mã quanh các nghĩa trang có bày bán vô số các hộp Viagra để người thân đốt gửi cho thân nhân ở cõi bên kia, tôi lại thông báo cho các ông bạn tôi. Tưởng các ông ấy lắc đầu khi phải dùng máy bay sáu tấm bằng ván bay đi cõi xa mới được xài Viagra, ai ngờ các ông lại gật đầu lia lịa. Tưởng là cõi bên nớ buồn thiu ai ngờ cũng tình tứ phát chết như vậy. Xuống dưới đó, chẳng phải lo chi, cứ Viagra dắt túi đi vi vút với các em mặt hoa da phấn bằng … các-tông. Cuộc đời cứ như tiên. Sướng chi kể!

Trần Bá Thiên

by AI HUU NINH THUAN
08/12/09. 09:52:01 pm. 5143 words, 433 views. Categories: Khoa học và ðời sống, Những chuyện ỡm ờ, Liên kết blogs, Phương pháp trị bệnh, Xã hội và nhân văn ,

TWO DOLLS

Click vào mũi tên tam giác xanh ở trên ðể xem và nghe nhạc & click vào góc dưới phải để phóng lớn.

CHƯƠNG TRÌNH "CASH FOR CHOMPERS", ĐỔI HÀM RĂNG GIẢ CŨ LÀM HÀM RĂNG GIẢ MỚI ĐƯỢC TẶNG $250 ĐÔ LA




Chương trình "Cash for Chompers" của nha sĩ Solomon ở Texas
Source: Pegasus News wire, Dallas Wellness Examiner

Texas, cái xứ của cao-bồi bắn súng cỡi ngựa lại vừa bắn ra một phát đạn... vào mồm của quý ngài đeo răng giả, nhưng phát đạn này trị giá đến $250 đô-la lận.

Sau khi chương trình đổi xe cũ lấy xe mới gọi là "CASH FOR CLUNKERS" mang lại công ăn việc làm khấm khá cho các nhà bán xe, các công ty chế tạo xe và các nghành kỹ nghệ liên quan với xe hơi từ kỹ nghệ thép đến kỹ nghệ điện tử v.v... ngày hôm nay, một nha sĩ tại Dallas, Texas, Dr. GARY SOLOMON bắt đầu thực hiện một chương trình bắt chước, đổi hàm răng giả cũ để lấy $250.00 tiền mặt gọi là "CASH FOR CHOMPERS". Sáng kiến bắt chước của ông đã lôi kéo sự chú ý của các hệ thống truyền thông và báo chí.

Nha sĩ Solomon sẽ tặng $250 đô-la cho bất cứ ai đem đến hàm răng giả cũ để nâng cấp lên hàm răng giả mới, có nghĩa là làm hàm răng giả mới rẻ hơn $250 đô-la, nếu có hàm răng giả cũ "thế chân", còn nếu như vào phòng răng mà không có hàm răng giả cũ thì không được gì hết cả!

Nha sĩ Solomon cho biết là sau khi ông thấy chương trình đổi xe cũ lấy xe mới mang lại thành công lớn cho các nhà bán xe, ông thầm nghĩ là có thể bắt chước chương trình này, tuy nhiên ông biết là chính phủ chẳng bao giờ lại bỏ tiền ra để trợ cấp cho các nha sĩ, vì vậy ông phải tự tạo lấy chương trình kích thích thương vụ cho riêng ông, và gọi nó là "CASH FOR CHOMPERS" ( Tiền mặt cho các hàm răng cũ ).


Đeo vào thì đẹp, nhưng ngâm trong ly thấy... khiếp đảm quá!

Nếu quý vị nào đã từng xem bộ phim truyền hình Land Before Time (tạm dịch là Đất Thuở Hồng Hoang), có một con khủng long bạo chúa (Tyrannosaurus) tên là Chomper có hàm răng rất sắc bén. Tên khủng long nầy vừa có thể nói được ngôn ngữ của các loài ăn cỏ ( dĩ nhiên là tiếng Anh... của khán giả ), lại có thể nói được ngôn ngữ của giống răng nhọn khủng long bạo chúa chuyên ăn thịt sống, đó là loại ngôn ngữ nghiến răng, nhe răng, gầm gừ hung bạo! Nói thế cũng đủ mường tượng được tiêu chuẩn của những hàm răng cũ đưa đến đổi phải như thế nào.


... và đây là tên "Chomper" trong bộ phim "Land Before Time" (tạm dịch là Đất Thuở Hồng Hoang)

Có lẽ trong tương lai rất gần sẽ có vô số người bắt chước để thực hiện các kiểu " Tiền mặt cho cái này, cái nọ" và biết đâu cái loại kinh doanh này không chừng cũng sẽ được gọi là "Obama business". Mong sao sẽ không bao giờ có cái chương trình gọi là "Cash for Old Wife or Old Husband" hoặc "Cash for Old Monkey", tuy nhiên cơ hồ cái gì mà mình sợ lại thường hay xẩy ra lắm, khi đó xin đừng trách bần đạo nói xàm mà linh ứng!!!

Muốn biết thêm chi tiết xin vào website sau đây của ngài nha sĩ Solomon:
http://www.garysolomondds.com/

KDĐN

TÀN SÁT THIÊN AN MÔN 1989


Tiananmen Massacre - Tank Man: The 1989 Chinese Student Democracy Movement - 1:18:41

TÀN SÁT THIÊN AN MÔN 1989 - Phim dài 1 giờ 18 phút 41 giây.

This text will be replaced

by AI HUU NINH THUAN
08/07/09. 10:39:04 am. 87 words, 1093 views. Categories: Thiên hạ sự, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Video tài liệu, Xã hội và nhân văn, Vòng quanh thế giới ,

GIÁO XỨ TAM TÒA, QUA KHỦNG BỐ LỊCH SỬ ĐANG TÁI DIỄN...

Giáo xứ Tam Tòa, qua khủng bố lịch sử đang tái diễn...
Source: VietCatholic News

Một triết gia Tây phương có nói: “Chẳng bao giờ người ta có thể tắm lần thứ hai ở một dòng sông.” Câu nói cho người đọc sử một nguyên lý dứt khoát đó là lịch sử không bao giờ lặp lại cũng giống như con sông hễ trôi đi một lần là đi biền biệt với dòng thủy lưu luôn luôn đổi thay cùng với bãi cát nương dâu khi bồi khi lở. Tuy nhiên chắc chắn lịch sử đã có khi lặp lại và - không những thế - đã lặp lại nhiều lần cho nên người ta đã luôn luôn thúc giục nhau nhớ lấy bài học lịch sử, rút ra kinh nghiệm lịch sử, tìm hiểu vấn đề lịch sử để bồi bổ cho những nhận thức cùng hành động trong hiện tại và như vậy rõ ràng là câu nói của sử gia Pháp Fustel De Coulanges “Lịch sử chẳng có ích lợi gì” (L’histoire ne sert à rien) (Nguyễn Phương, Phương pháp sử học, Phong nghiên cứu Sử, Viện Đại Học Huế, 1964, trang 23) đã hóa nên vô nghĩa?

Ngày 20-7-2009, lịch sử đã lặp lại trên một vùng đất bé nhỏ, một địa điểm đã từng là chiến trường giữa lực lượng người Hán và Đại Việt với người Chăm từ thế kỷ I đến thế kỷ XI, giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài thời Trịnh Nguyễn trong gần hai trăm năm, một linh địa mệnh danh Tam Tòa từng hiện diện trên đó ngôi thánh đường ngày nay đổ nát chỉ còn mặt tiền được chính quyền cộng sản tỉnh Quảng Bình dùng làm nơi lưu niệm chứng tích tội ác của đế quốc Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Giáo xứ Tam Tòa ở phía nam sông Gianh, trên vùng biên giới giữa vương quốc Đàng Trong và Đàng Ngoài thể hiện cá tính đặc thù đúng như câu nói của sử gia Anh Arnold J. Toynbee: “Những miền nằm trên vùng biên giới đều có sinh lực mạnh mẽ.” (Arnold J. Toynbee, The Study of History, tác phẩm tóm lược (hai tập) của D.C. Somervell, A laurel edition, Dell Publishing Co., Inc xuất bản, 1971. Nguyễn Thế Anh, Nhập môn Phương pháp Sử học, Sài Gòn, 1974, tr. 17). Biến cố khủng bố có tổ chức đối với người giáo dân Tam Tòa do chính quyền cộng sản tại Quảng Bình điều động có lớp lang, có bài bản ngày 20-7-2009 và những ngày sau đó đã cho thấy rõ ràng là lịch sử bách hại đạo Công Giáo đang lặp lại trên vùng đất đầy đau khổ mà cũng rất anh hùng này.

1.- Hạt giống đức tin gieo xuống và chông gai bước đầu.

Dưới thời Pháp thuộc thành phố Đồng Hới có tên thơ mộng là Thành Phố Hoa Hồng nằm gần đúng vào giữa tỉnh Quảng Bình ở tọa độ 17, 21 đến 17, 31 vĩ độ Bắc và 106, 30 đến 106, 10 kinh độ Đông. Đồng Hới trước đây có tên Động Hải mà theo một tư liệu của linh mục Nguyễn Văn Ngọc có tên “Trang sử giáo xứ Tam Tòa” thì năm 1615 chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên) cho phép các giáo sĩ Âu châu vào truyền đạo từ Phú Yên đến sông Gianh. Lúc bấy giờ, muốn truyền đạo có kết quả mau chóng thì phải tìm đến chỗ đông người, nên các giáo sĩ phải chọn vùng thị tứ để tới đó giảng đạo mà ở Quảng Bình không có chỗ nào đông đúc hơn vùng Nhật Lệ cho nên Động Hải là một điểm truyền giáo được chú ý tới. Đặc biệt là trong giai đoạn chúa Nguyễn xây đắp lũy Trấn Ninh, lập đồn Động Hải, xây lũy Trường Sa v.v… thì Động Hải lại càng tấp nập, trở thành địa hạt giảng đạo quan trọng đối với các vị thừa sai. ( Nguyễn Văn Ngọc, Trang sử giáo xứ Tam Tòa. Tư liệu phổ biến nội bộ của họ giáo Tam Tòa, Sài Gòn, 1996, trang 5; Nguyễn Tú, Địa chí Đồng Hới, Trung Tâm VHTT Thị Xã Đồng Hới xb., 2000, tr. 150). Chỉ trong một thời gian không lâu ở phía nam Quảng Bình đã có bốn họ đạo đó là Đại Phong, Trung Quán, Dinh Mười và Động Hải. Sau khi được thành lập, các giáo xứ tại Quảng Bình sống đời sống mục vụ tự lập, không có linh mục trông coi nên giáo dân đã sớm trưởng thành trong đức tin. Thỉnh thoảng trong một năm, một hoặc hai lần mới có linh mục từ Huế ra thăm ban các phép bí tích. Cũng theo tư liệu của linh mục Nguyễn Văn Ngọc, hồi đó các quan chưởng cơ ở Quảng Bình cũng tuyển lựa đồng bào công giáo vào quân ngũ. Báo cáo ngày tháng 12-1692 của linh mục Lôrensô Lâu gửi về Tòa Thánh Rôma cho biết: “Tôi tới thăm các họ đạo Đại Phong, Trung Quán, Dinh Mười, Động Hải, tại vùng này có dinh quan Chưởng cơ và quân đội chúa Nguyễn, có lũy lớn gọi là lũy Trấn Ninh, ở đây có 50 lính công giáo…”. (Nguyễn Tú, Sđd, trang 150)

Nhưng tình hình về sau đổi thay do việc các chúa Nguyễn thi hành chính sách cấm và bắt đạo qua nhiều hình thức khủng bố nhắm vào đối tượng là người Công Giáo.

Trong tác phẩm Lịch sử truyền giáo, linh mục Nguyễn Hồng viết về các anh hùng xưng đạo ở Quảng Bình qua cơn khủng bố dưới thời Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) như sau: “Cuộc bách hại vẫn tiếp tục. Bắt đầu với cái chết của thầy Andrea, rồi đến hai thầy I-nha-xu và Vinh-Sơn, cuối năm 1646 lại tái diễn với án trảm quyết hai ông Agostinô và Alêxi. Thấy hoạt động tông đồ giáo dân của hai ông Agostinô và Siméon, hai vị trùm trưởng nhiệt thành của họ Quảng Bình, dù trong thời kỳ cấm cách, vẫn tiếp tục và kết quả, một số người ghét đạo ở làng bên tìm cách phá hoại. Họ nhờ một quan cai đội đệ trình lên Thượng vương một đơn tố cáo một số đàn anh họ đạo Quảng Bình, trong đó tên hai ông Agostinô và Siméon được đặt lên trên hết. Họ kêu ca vì dân bên giáo bỏ thần phật, nên mùa quả bị hỏng và trâu bò chết nhiều. Thượng vương ra lệnh cho lính phủ về bắt hai ông Agostinô và Siméon đóng gông giải về dinh.. Cậy thế triều đình, họ Quảng-Bình bị lính phủ phá phách tàn tệ. Hai ông Agostinô và Siméon bị bắt giam cùng với 4 giáo dân trong họ, trong đó có ông Alêxi. Ông là người trong quân đội, nghe biết lính phủ lên bắt giáo dân trong họ, ông liền xưng ra mình là người có đạo. Lấy tình bạn đồng nghiệp, quan cai đội chỉ yêu cầu ông ký bản chối đạo, không bắt ông phải đạp ảnh và tìm hết các đường lối quanh co để gỡ cho ông thoát, nhưng ông Alêxi từ chối những cử chỉ hèn nhát đó. Ông lại yêu cầu được danh dự mang gông như hai ông Agostinô và Siméon. Theo luật, quân lính có tội được miễn nhục hình đó, nhưng vì ông Alêxi khẩn khoản, nên sau khi hỏi ý kiến quan phủ, quan cai đội cũng để ông được mang gông. Bị giải đến trước mặt Thượng vương, nhà chúa bỡ ngỡ vì lệnh truyền chỉ đóng gông có hai người. Hiểu chuyện do quan cai đội tâu trình, Thượng vương bắt đầu tra vấn ông Alêxi rồi đến hai ông Siméon và Agostinô. Tất cả đều can đảm xưng đạo. Nổi giận, Thượng vương kết án trảm quyết hai ông Agostinô và Alêxi, còn cụ già Siméon đã 62 tuổi và 3 giáo dân khác bị chặt một ngón tay, bị đánh đòn và cạo trọc đầu. Án giao cho quan phủ Quảng Bình thi hành và còn truyền cho ông phải truy nã những giáo dân bất tuân lệnh vẫn cả gan hành đạo và trừng phạt để làm gương cho người khác sợ. Một số ảnh tượng và sách đạo bị tịch thu trong chuyến vây bắt họ Quảng-Bình, cũng bị đem thiêu hủy hôm đó.” (Nguyễn Hồng, Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, Nhà xuất bản Hiện Tại, 1959, quyển I, trang 245). Linh mục Nguyễn Hồng đã dựa trên tư liệu của cha Metello Saccano ghi tên làng đó là làng “Kenyka” mà theo chúng tôi đoán đó là làng Kẻ Nại tức là làng Diêm Điền là làng của hòa thượng Thích Trí Quang ở gần giáo xứ Tam Tòa. Dân làng Diêm-Điền có tật nói ngọng, chữ l nói là n thí dụ “làm sao” thì nói “nàm thao”. Trong biến cố quân Văn Thân đốt phá giáo xứ Sáo Bùn năm 1886, chính đa số là dân Diêm Điền vào đốt. Vậy thì trước đó cả hơn thế kỷ, chính quân phủ Quảng Bình xúi dục làng Kẻ Nại khiếu kiện người Công giáo gây mối xung đột lương giáo từ đó kéo dài về sau. Những việc làm đó về sau được công an Quảng Bình áp dụng trong sự biến Tam Tòa ngày 20-7-và 27-7-2009 chẳng hạn như bắt người, đánh đập linh mục, giáo dân, tịch thu ảnh tượng, sách đạo, tượng thánh giá v.v…

Tình hình lúc đó rất căng nên các linh mục phải trốn đi miền khác. Từ Phú Xuân ra tới nam sông Gianh lúc bấy giờ chỉ còn hai thừa sai Dòng Tên. Tuy nhiên cuộc bắt đạo trở nên khốc liệt dưới triều các vua nhà Nguyễn như Minh Mạng, Thiệu Trị và nhất là Tự Đức.

Về sau chính sách khủng bố đạo Công Giáo vốn là sáng kiến của vua Minh Mạng nhưng vì sợ mang tiếng nên ông mới khôn khéo bắt các quan triều đình làm kiến nghị gởi lên vua xin cấm đạo Công Giáo trong toàn quốc. Và trước mặt dân Minh-Mạng hạ chỉ cấm đạo chỉ vì triều thần nài xin gắt gao. Sử gia linh mục Phan Phát Huồn cho rằng “cái hài kịch mà Minh Mạng và tôi tớ của ông đóng xem ra giống hài kịch mà Cộng-Sản thường diễn lại ngày nay. Minh Mạng cám ơn các quan đã có lòng hăng nồng sốt sắng lo việc nước, việc dân.” (Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử, bản in lần thứ hai, 1965, quyển I, trang 322).

2.- Cao điểm của chính sách khủng bố.

Tuy nhiên cao điểm của sự khủng bố đạo Công Giáo dưới thời Tự Đức (1847-1883) là chính sách phân sáp được áp dụng trong toàn quốc giai đoạn 1861-1862 mà trong đó giáo dân toàn tỉnh Quảng Bình trong đó có giáo dân Sáo Bùn, tổ tiên của giáo dân Tam Tòa đã phải chịu đựng khó có ngòi bút nào diễn tả hết sự đau thương, thảm khốc.

Trong chính sách phân sáp, Tự Đức chủ ý gây ra tình trạng mâu thuẫn lương giáo, miệt thị giáo dân bằng cách gọi giáo dân là “dữu dân” (dữu là một thứ cỏ độc hại). Phân sáp là gì? Nhà sử học Lê Ngọc Bích trong sách Nhân vật Giáo phận Huế đã cho biết: “Phân sáp (cũng đọc là Phân tháp); “Phân” là chia ra, “Sáp” hay “tháp”là cắm vào, lách vào. “Phân sáp” (hay “Phân tháp”) là chia riêng ra không cho tụ họp lại rồi cắm vào, ghép vào một nơi khác để bộ phận bị ghép vào đồng hóa với nơi được ghép vào. Như vậy, “Phân sáp” người Công giáo ở các làng Công giáo là xé nhỏ các gia đình Công giáo, các làng Công giáo để không còn là một đồng thể rồi ghép vào với gia đình không Công giáo (thuật ngữ gọi là người “bên lương” ở các làng “bên lương” khác quản lý, người Công giáo sẽ bị đồng hóa về mặt tôn giáo với người “bên lương” thì từ đó các cộng đồng người Công giáo là các họ đạo, các giáo xứ sẽ tàn lụi, sẽ bị xóa sổ.” (Lê Ngọc Bích, Nhân vật Giáo phận Huế, Tập I, 2000, tr. 43).

Sau đây là những thảm cảnh do chính sách “phân sáp” đã được Giám mục Sohier (tên VN là Bình) ghi lại bằng những nét rất phổ biến đối với nhiều giáo xứ “ (…) hàng loạt người Công giáo bị bắt (…) nhiều người chỉ gặp vợ con trong vòng 5-6 ngày rồi đau đớn xa lìa nhau, không thể nào gặp nhau lại được. Vì thế họ khóc than vô kể (…) Họ kể lể: Chúa ôi, thà người ta chặt đầu cắt cổ chúng con còn hơn! Tại sao không để chúng con chết đi cho rồi! Sống làm chi cho khổ thế!” (Lê Ngọc Bích, Sđd, tr. 44).

Cảnh tượng tại Kẻ Sen, cách giáo xứ Tam Tòa khoảng 17 cây số thật đau lòng, theo lời Giám mục Sohier: “Đây là cảnh tượng đau lòng nhất: nào là những bà mẹ ra đi với đứa con dại đeo lung lẳng trên vú, nào các bà khác thì cõng con sau lưng. Chồng họ đi theo gánh gồng lương thực. Sau những người này là những ông chủ mới, tay cầm roi. Những trẻ con bị bỏ lại, chúng chạy trốn lên rừng. Dầu vậy họ vẫn hiên ngang đi, lòng đầy tin tưởng (…)” (Lê Ngọc Bích, Sđd, tr. 44)

Chính sách đối xử với dân Công giáo thật dã man. Cứ mỗi làng bên lương nhận quản lý 5, 6 người Công giáo, có làng nhận tới 90 giáo dân. Có người bị giam cầm suốt cả năm không được cấp một hạt gạo hay một đồng tiền nào cả. Các quan mỗi tháng đến kiểm soát 3 lần và tra tấn giáo dân trong khi đó các lý trưởng, chánh tổng tha hồ đánh đập dân Công Giáo hơn cả đối xử với súc vật. Nhà giam những người Công Giáo thường làm bằng tre thấp lè tè, thiếu không khí, không có những tiện nghi cần thiết, chung quanh chất đầy rơm khô, trên không mái che, chờ hễ khi có lệnh thì phóng hỏa. Sau đây là những lời Giám Mục Sohier ghi lại: “Theo Sắc dụ Phân Sáp, các nhà giam được cất giữa các làng “bên lương” (để dễ kiểm soát), nhưng về sau đưa các nhà giam ra làm tại những nơi hoang vắng đồng không mông quạnh, xa nhà dân để một khi đốt các nhà giam thì nhà dân trong làng khỏi bị cháy lây. Bởi vì vua Tự Đức và các quan nhất quyết thiêu sống giáo dân trong trường hợp có tàu Tây trở lại các cửa biển… Ở các cửa biển cũng có sẵn rơm và củi, hễ có tàu ngoại quốc đến, quân ta đốt lửa lên làm hiệu lệnh, trong đất liền, ở các nhà giam sẽ nổi lửa đốt nhà giam.” (Lê Ngọc Bích, Sđd, tr. 45).

Trong các tư liệu viết về lịch sử Giáo phận Vinh, có Bài Phú Phân Tháp do Đức cha Phêrô Trần Xuân Hạp gửi cho linh mục Cao Vĩnh Phan, được đăng lại đầy đủ trong tác phẩm Lịch sử Giáo phận Vinh, với những chứng tích rất đau thương trích dẫn một đoạn như sau:

Ai ngờ:
- Trong buổi trị bình,
Sinh điều loạn lạc.
- Cứ sổ kêu phân tháp, ông tỉnh ấy dâng lên
Nghe chỉ cho thi hành, ông phủ chi làm trước.
- Trong nửa tháng sự thanh hết thảy, đưa dâng lên một tập quyển vàng,
Trên chín lần để dụ đáng khen mà đệ vào mấy đồng tiền bạc.
Rồi một cái:
- Các tỉnh thành đều phải thi hành,
Cứ quảng nghĩa cho in thể thức.
- Chiếu sổ ai là tả đạo, phủ bắt về đầy nha, huyện bắt về đầy nha,
Mật trát sức cho bình dân, làng mô cũng làm rặc, xã mô cũng làm rặc.
- Từ dần chí dậu trống đánh thì thùng,
Cả đêm liền ngày mõ khua cúc cắc.
- Các ông chức dịch ngồi trong đình họp họp hành hành,
Bắt đứa phu đài tìm mặt dân gông gông gạc gạc.
- Chính ở trong làng dựng vài điếm canh,
Chôn dưới chân cột xiên xiên mũi mác.
- Áp tận nơi: tre cắm một tầng dày kín mịt mù chông thả trong thả ngoài,
Sâu lút người: hào rạch tứ phía rào bao hai lớp gai bỏ ngang bỏ ngác.
- Nghe sắm sửa: kẻ một chục kẻ đôi ba chục, kẻ ba bốn chục mua lấy nơi gần gần,
Thành sổ rồi: làng năm người, làng dăm bảy người, làng chín mười người kéo từng đoàn dặc dặc.
- Không cho thối hồi,
Đòi đi lập tức.
- Chẳng để ai lưu lại quê nhà,
Cũng chán kẻ phải đi xa lắc.
- Những tưởng dồn làng vừa mang vừa hát vâng lệnh nước ra đi,
Ai ngờ phép vua một ngày một nghiêm bỏ cửa nhà tan tác… (Linh mục JBT. Cao Vĩnh Phan, Lịch sử Giáo phận Vinh, Hội Ái hữu Giáo phận Vinh Bắc Cali, Hoa Kỳ, xuất bản, 1996, tr. 531)

Một tư liệu xuất bản gần đây có tên Châu bản triều Tự-Đức còn ghi lại một trong nhiều trường hợp nhà Nguyễn xử lý vấn đề ruộng đất của người Công Giáo trong chính sách phân tháp như sau: “ Nội các duyệt xét các quy định của tỉnh Quảng ngãi nhằm xử trí với giáo dân đạo Gia Tô: Ruộng đất của giáo dân bị tập trung ở những nơi riêng biệt, giao cho lý dịch quản lý. Các lý dịch này sẽ chiêu mộ dân lương các nơi đến canh tác số ruộng đó. Một nửa số thu hoạch sẽ giao cho người canh tác, còn một nửa dùng nộp thuế và cấp dưỡng cho giáo dân.” (R.X.Q. Tự-Đức thập tứ niên, Thập nguyệt. Ngày 2-10 TĐ. XIV (1861). Tờ 17-23. Kho L.T.T.Ư. 2; CB. 262). Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học, Châu bản triều Tự Đức, Nxb. Văn Học, 2003, tr. 110.

Đây chỉ là những điều ghi nhận trên giấy tờ, còn trong thực tế giáo dân phải chịu rất nhiều đau thương cả vật chất lẫn tinh thần mà trong đó giáo dân Sáo Bùn (Tam Tòa) nói riêng và Công Giáo toàn quốc nói chung phải gánh chịu thật sự không sao kể xiết.

3.- Lịch sử đang bước đầu tái diễn, nhưng người cộng sản đừng tưởng bở…

Trong bài trả lời BBC từ Hà Nội, tiến sĩ Nguyễn Hồng Dương, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Tôn giáo nhận định: “Chắc là lịch sử sẽ không lặp lại. Việt Nam có đường lối ngoại giao rất cụ thể và tính chất độc lập. Chắc lịch sử sẽ không lặp lại như thế.” (Vietcatholic ngày 28-7-2009) Ngày trước, vua chúa nhà Nguyễn thi hành chính sách cấm đạo, bắt bớ giam tù, đánh đập giáo dân, kể cả đàn ông, đàn bà, trẻ con, thì ngày nay qua biến cố tại Tam Tòa ngày 20 và 27-7-2009, công an Quảng Bình cũng lặp lại các hành vi như vậy và còn được hỗ trợ thêm bằng các phương tiện truyền thông để bào chữa, biện minh cho việc làm của mình, rõ ràng là lịch sử đang lặp lại và chỉ những người có mắt mà không có con ngươi cỡ như tiến sĩ “giấy” Nguyễn Hồng Dương mới không thấy được sự thật mà thôi.

Ngày trước, dưới thời các vua nhà Nguyễn, trong các cuộc ruồng bố tìm bắt người Công Giáo, việc tịch thu các ảnh tượng, kinh sách, áo lễ, là bằng chứng để buộc tội các đạo trưởng như linh mục, giám mục. Trong ngày 20-7-2009, công an Quảng Bình cũng đã tịch thu tượng thánh giá do Đức Cha Võ Đức Minh ở Nha Trang tặng cho giáo xứ Tam Tòa, tịch thu các sách hát của ca viên, máy phát điện cũng lều bạt của giáo xứ. Trong ngày 27-7, công an Quảng Bình đã hung bạo đánh đập hai linh mục Ngô Thế Bính và Nguyễn Đình Phú đến mang trọng thương, đánh đập một số giáo dân, đập gãy tượng thánh giá là một hình thức công khai sĩ nhục, xúc phạm tôn giáo. Rõ ràng là lịch sử đã lặp lại trong một xã hội mà chính quyền luôn luôn xoen xoét cái mồm là tôn trọng tự do tôn giáo. Chủ nghĩa Cộng Sản đã khẳng định rằng tôn giáo và cộng sản không thể đội trời chung xét cả lý thuyết lẫn thực hành.

Ngày trước, dưới thời các vua nhà Nguyễn, chính sách cấm đạo được đưa ra nhưng được viện cớ là do yêu cầu của các quan (thời Minh Mạng) cùng lúc sử dụng người bên lương làm đối trọng chống giáo dân, cụ thể tại Quảng Bình, giáo xứ Sáo Bùn bị đốt phá do dân làng Diêm Điền (đa số là Phật giáo, đạo ông bà) ngày 24-6-1886. Các vua nhà Nguyễn đã khích động hiềm thù lương giáo, phá hoại tình đoàn kết dân tộc rõ ràng là đã đưa đường chỉ lối, tạo kinh nghiệm, tạo tiền lệ cho công an tỉnh Quảng Bình ngày nay sử dụng đám người mà họ gọi là “quần chúng tự phát” để tấn công, đe dọa, phá phách giáo dân, đánh trọng thương các linh mục. Đám côn đồ giả dạng “quần chúng tự phát” được công an bảo kê để ung dung phạm tội ác thì nào khác chi đồng bào bên lương trước đây được tự do hành động gây ra nhiều cuộc đổ máu do sự làm ngơ cho phép của nhà nước phong kiến trong các biến cố bắt đạo, phá đạo. Lịch sử há không phải đang được lặp lại hay sao?

Ngày trước, dưới thời các vua nhà Nguyễn, chính sách khủng bố được nhà nước công khai sử dụng như là những biện pháp hữu hiệu nhằm triệt hạ đạo Công Giáo, nhưng như lời giáo phụ Tertullien đã nói “Máu tử đạo là hạt giống sinh con nhà có đạo”. Nhờ chính sách khủng bố Giáo Hội Công Giáo Việt Nam có 117 vị thánh tử đạo và biết bao nhiêu người kể được kể vào hàng các bậc khả kính vô danh đã bỏ mình vì đạo dưới hình thức này hay hình thức khác. Trong cuộc đàn áp của công an Quảng Bình đối với giáo dân Tam Tòa, như đã thấy và chắc còn diễn ra trong tương lai, chính linh mục Võ Thanh Tâm, tổng đại diện Giáo phận Vinh cho biết: “Nếu nổ ra thì nó trầm trọng lắm. Nó nổ ra chúng tôi không biết có kiềm chế được tiếng hòa bình của mình. Nó uất ức quá cho nên nó sẽ đánh nhau. Khi đã đánh nhau rồi thì bất chấp, sẵn gì đánh nấy. Đánh thì nhất định tổn thương giáo dân, mà giáo dân khẳng định không có đường nào lên Thiên Đàng nhanh cho bằng tử đạo. Nó khẳng định thế thì tôi thấy ghê lắm, tôi sợ lắm.” (Vietcatholic ngày 28-7-2009).

Ngày trước, các vua chúa phong kiến nhà Nguyễn thi hành chính sách kỳ thị đối với người Công giáo, gọi họ là “dữu dân” (dân xấu như cỏ dại) để phân biệt với “lương dân” (người tốt), giết chóc, đày đọa họ, đối xử với họ như thứ công dân hạng hai – đúng như Mạnh Tử nói “ vua coi dân như cỏ rác, thì dân coi vua như thù địch” - để khi đến tình trạng nước gần mất vào tay người Pháp, bị áp lực từ nhiều phía mới nới rộng tay, tha đạo, tha phân tháp thì ngày nay chế độ Cộng Sản sau hơn 6 thập kỷ cầm quyền vẫn tiếp tục chính sách coi các tôn giáo như thù địch, dùng tôn giáo này để khống chế tôn giáo kia, dùng bộ máy đàn áp công an với mọi phương tiện hiện đại như roi điện, chó nghiệp vụ, thanh niên du đảng Hồ Chí Minh, bọn nghiện ngập và xã hội đen được khoác một mỹ từ là “quần chúng tự phát” để dập tắt tiếng nói đấu tranh cho Công lý và Sự thật. Chính Kalinine đã từng nói: “Chiến đấu bài tôn giáo là phương thế cần thiết và tối diệu để vạch đường cho Cộng sản.”

Tuy nhiên, khi chủ nghĩa Cộng Sản đã đi vào mồ chôn của chúng tại Liên Xô và các nước Đông Âu từ những năm cuối của thế kỷ 20, kết quả của cuộc chiến “ai thắng ai” đã tỏ rõ trên bàn cân lịch sử. Néron của đế quốc La mã trong thế kỷ I đã chết sau khi phóng hỏa đốt thành La Mã rồi vu cáo cho người Công Giáo là thủ phạm để có cớ mà tàn sát, giết hại những người theo Đức Kitô. “Néron Việt Nam” là Minh Mạng cũng đã chết sau thời gian dài tìm mọi cách để tiêu diệt đạo Công Giáo ở nước ta. Thiệu Trị rồi Tự Đức nổi tiếng tàn ác trong các kế hoạch tiêu diệt đạo Chúa mà cao điểm là chính sách phân tháp ngày nay chỉ còn để lại nhiều vết nhơ trong lịch sử. Chế độ Cộng Sản tại Việt Nam đã giết biết bao nhiêu giáo dân, tu sĩ, linh mục, giám mục khi họ lên cầm quyền năm 1945 cho đến ngày nay nhưng đạo Công Giáo được xây dựng trên Đá Tảng Phêrô chắc chắn vẫn còn tồn tại với thời gian. Giáo xứ Tam Tòa là chứng nhân lịch sử với tổ tiên đã hiến máu đào trong các cuộc bắt đạo thời chúa Nguyễn, Tây Sơn và các vua nhà Nguyễn. Ngày nay lịch sử đang tái diễn trên đất thánh của giáo xứ Tam Tòa nhưng không phải là một lịch sử bị che khuất dưới bóng đêm của bạo lực mà được chứng kiến, theo dõi, hiệp thông, chia xẻ bởi Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, Giáo Hội Mẹ Việt Nam, Giáo Phận Vinh và hàng triệu triệu con người chân chính trên khắp thế giới. Bóng đêm phải lùi bước trước ánh sáng. Tà đạo phải nhường lối cho chính nghĩa. Bàn tay của gian trá và bạo lực đẫm máu phải bị chặn lại. Chế độ bạo quyền Cộng Sản không lâu nữa tất yếu sẽ bị nghiền nát dưới bánh xe của lịch sử. Dòng máu lịch sử tử đạo đã khơi nguồn tại giáo xứ Tam Tòa ngày 20 và 27-7-2009 chắc chắn là hồi chuông cổ vũ vang rền cho sức mạnh Công Lý, Sự Thật và Đức Tin của người Công Giáo.

Hãy vững tin hỡi đàn chiên bé nhỏ của giáo xứ Tam Tòa, lịch sử hơn hai nghìn năm của Giáo Hội đang nhìn về phía các bạn! Đừng sợ!

New Jersey August 4, 2009
Nguyễn Đức Cung

ĐÁP LỄ BÀI "HÃY NÓI SỰ THẬT" TRÊN BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN: ĐÂU LÀ SỰ THẬT?
Source: VietCatholic News

Báo Quân đội nhân dân số chủ nhật 2-8-2009, trong mục Chính luận có bài "Hãy nói lên sự thật ", với mục đích lên án tôi đã không nói sự thật trong cuộc trả lời phỏng vấn của đài RFA về vụ Tam Tòa - Qủang Bình.

Đã lâu lắm rồi, dễ thường đến 16 năm, báo QĐND mới lại nhắc đến Bùi Tín.

Điều này làm tôi xúc động, thích thú nữa, để được luận bàn về "sự thật", một chủ đề cực kỳ hệ trọng suốt hơn nửa thế kỷ trong xã hội Việt nam.

Tôi chỉ tiếc là người viết bài chính luận ấy lại không ký tên. Sao lạ vậy? trong thời công khai, minh bạch, sao vẫn cứ cái cố tật "ném đá dấu tay " như thế?

Mở đầu bài viết tác giả đã nhận xét sự việc ở Tam Tòa gần đây là "liên quan đến sự chống phá của các lực lượng thù địch". Đây là sự thật hay chỉ là nhận xét một chiều, kiểu áp đặt, chụp mũ tùy tiện rất quen thuộc trên báo chí nhà nước như báo QĐND?

Tác giả bênh vực cái quyết định của tỉnh Quảng Bình năm 1997 coi phần còn lại của nhà thờ Tam Tòa là Chứng tích tội ác chiến tranh, theo đúng Luật di sản văn hoá. Theo tôi cái quyết định ấy vẫn không có giá trị vì nhiều lẽ sau đây:

- ông phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình Trần Công Thuật có ký cái quyết định ấy, nhưng vấn đề này không hề được đưa ra thảo luận ở Hội đồng nhân dân tỉnh cũng như ở Ủy ban nhân dân tỉnh. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh cũng không hề được hỏi ý kiến. Còn nhân dân thì không hề được hỏi đến. Theo luật về quyền hạn của các cấp chính quyền từ tỉnh đến xã thì đây là một quyết định không có cơ sở, do đó không có giá trị pháp lý vững chắc;

- thêm nữa bom Mỹ có phá hủy phần lớn nhà thờ Tam Tòa, nhưng theo tôi được biết khi ấy cả Đồng Hới đã sơ tán triệt để, không có linh mục hay giáo dân nào ở lại trong nhà thờ, nên bom Mỹ không gây thương vong cho dân thường, nên gọi là Chứng tích tội ác chiến tranh "để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ" thì có phần khiên cưỡng;

- hồi ấy tôi đã thấy 2 ụ súng phòng không lớn được đắp ngay cạnh nhà thờ, nên ở ngoài khơi Đồng Hới tàu chiến, tàu sân bay, máy bay do thám Mỹ của hạm đội 7 có thể biết rất rõ từng mục tiêu, nên các cuộc ném bom có nhiều khả năng nhằm vào các mục tiêu quân sự ấy.

Bài viết của báo QĐND còn cho rằng tôi đã nói không đúng sự thật, tôi đã kích động dư luận khi cho rằng sự kiện xảy ra "không phải xung đột lương - giáo", mà bắt nguồn từ mâu thuẫn "giữa chính quyền còn mang màu sắc cộng sản với các tôn giáo". Đó là chính kiến của tôi khi phóng viên RFA hỏi tôi rằng " xung đột vừa qua có phải xung đột lương - giáo hay không?".

Chẳng lẽ những mâu thuẫn giữa chính quyền mang bản chất cộng sản kỳ thị với các tôn giáo là không có thật, là do tôi - nhà báo Bùi Tín - bịa đặt, dựng đứng lên hay sao?

Chẳng lẽ ý đồ ngăn cản giáo dân sơ tán các vùng xa trở về tập trung trở lại giữa thành phố Đồng Hới quanh Tam Toà không phải là chủ trương rõ rệt - tuy không dám nói ra - của tỉnh uỷ Quảng Bình hay sao? Chẳng lẽ việc chính quyền lần lữa mãi, không hề đếm xỉa đến nguyện vọng chính đáng của bà con giáo dân sớm có một nhà thờ mới ở gần địa điểm cũ trong thành phố Đồng Hới là do nhà báo Bùi Tín này bịa đặt ra hay sao? Tại sao đã hoà bình 34 năm mà nay chính quyền mới chỉ ra 5 địa điểm cho các giáo dân lựa chọn, toàn là nơi hẻo lánh, có điểm không có đường vào, nơi thì không thuận lợi cho việc làm ăn, việc học hành của trẻ nhỏ, thế là chính sách đàng hoàng nhân ái với bà con giáo dân hay sao?

Tại sao báo Quảng Bình của tỉnh uỷ lại nói rằng số giáo dân ở Đồng Hới nay là không đáng kể, trong khi các linh mục sở tại cho rằng số bà con giáo dân ở đây đã lên đến trên một ngàn! Thế là thái độ ưu ái, ngay thật với bà con Công giáo ư?

Khi xung đột xảy ra, khi công an huy động một số kẻ lạ mặt, từ xa đến, mang băng đỏ, hành hung rất bạo trợn bà con tay không, đánh trọng thương linh mục Nguyễn Đình Phú và linh mục Ngô Thế Bính, báo QĐND đưa tin rằng họ là dân Đồng Hới sở tại "tự phát đứng ra ngăn kẻ xấu làm mất trật tự trị an", vậy thì tin ấy là sự thật ư?

Mong rằng Ban biên tập báo QĐND có dũng khí đăng bài "đáp lễ" này của tôi để làm rõ đâu là sự thật, sự thật hoàn toàn, không che dấu, không xuyên tạc và bóp méo.

Cuối cùng tôi lưu ý người viết Chính luận của báo QĐND hãy dùng từ ngữ chuẩn xác. Anh ta viết rằng "ông Bùi Tín đào tẩu sang Pháp", "trốn bỏ tổ quốc", trong khi tôi không hề đào tẩu, không hề trốn bỏ. Tôi đàng hoàng sang Pháp bằng hộ chiếu ngoại giao, theo lời mời chính thức, đích danh "nhà báo Bùi Tín". Từ Pháp tôi gửi về nước "Kiến nghị 12 điểm của một công dân" lời lẽ ôn tồn, nội dung ngay thật, hợp lý, phải đạo. Lãnh đạo không tiếp nhận, còn vu cáo là tôi phản bội (!), "bị phản động mua chuộc", còn vu khống trong một cuộc giao ban là tôi ăn tiền của "Đơ B" (tình báo Pháp) và CIA, cắt điện thoại nhà tôi, trả thù bằng cách đối xử cực xấu với vợ, con gái tôi.

Bộ trưởng công an Mai Chí Thọ còn nói "Thành Tín nay thành Thất Tín", lại nói "đảng đã cho cụ Bùi... chức vụ cao quý Trưởng ban Thường trực Quốc hội mà BT không biết ơn. ..(!)". Do thái độ xấu như thế, trịch thượng như thế, bạn bè, người thân của tôi khuyên tôi chớ về ngay mà nguy hiểm, ở lại Pháp làm nhà báo tự do, ngay thật, có khi có ích hơn là về nước để bị bịt mồm. Tôi không hề "trốn bỏ Tổ quốc". Ở xa tôi càng gần tổ quốc, càng phục vụ đồng bào có hiệu quả hơn.

Tôi viết sai sự thật ư. Sao không để lưu hành những cuốn sách của tôi: "Hoa Xuyên Tuyết", "Mặt Thật", "Về Ba ông Thánh","Mây mù Thế kỷ","Tâm tình với Tuổi trẻ ", "Cung Vua và Phủ Chúa" để cho bạn đọc và công luận trong nước đánh giá cho công bằng? Để xem ai nói lên sự thật. Sao những cuốn sách ấy vẫn được bí mật lưu truyền, được trong nước tìm đọc trên các mạng Đối thoại, Ý kiến, Văn Tuyển, Đàn Chim Việt, Tập họp Thanh niên Dân chủ, Thông luận...

Và trong sự kiện Tam Tòa, đâu là sự thật? Xin để bạn đọc, công luận phán xét.

Bùi Tín, Paris 4-8-2009
Bùi Tín

by AI HUU NINH THUAN
08/05/09. 02:52:34 pm. 8937 words, 387 views. Categories: Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Tin tức ðó ðây, Thông báo, Tin quan trọng, Liên kết blogs, Tôn giáo và tín ngưỡng ,

CSVN SẮP XÂY DỰNG NHÀ MÁY ÐIỆN NGUYÊN TỬ NINH THUẬN

Khách đến thăm triển lãm giới thiệu năng lượng nguyên tử ở Hà Nội đang quan sát mô hình một lò điện nguyên tử do Tập Đoàn Điện Lực Quảng Đông vẽ kiểu. Trung Quốc từng mời chào để xây nhà máy điện nguyên tử ở Việt Nam - Ảnh: Thằng Bờm

CSVN Sắp Xây Dựng Nhà Máy Điện Nguyên Tử Ở Ninh Thuận
Source: Champaka
MƯỜNG GIANG


Mường Giang

Năm 1986, nhà máy điện nguyên tử Bataan tại Phi Luật Tân với hai lò phản ứng chuẩn bị khánh thành. Ðây cũng là nhà máy điện nguyên tử đầu tiên của vùng Ðông Nam Á. Nhưng thảm họa đã xảy ra tại nhà máy nguyên tử Chernobyl thuộc Liên Xô vào tháng 6-1986, nên quốc hội nước này, đã quyết định tạm ngưng hoạt động cũng như đình chỉ sự xây dựng kế tiếp một lò phản ứng còn đang dang dở. Một vấn đề chết người, là dù không hoạt động nhưng chính phủ Phi cũng phải bỏ mỗi năm hằng triệu Mỹ kim để bảo toàn và chạy thử máy, nếu không chúng sẽ trở thành khối sắt vụn vô dụng dù đã phải tốn hằng tỷ đô la mới có.

Mấy chục năm qua (1986-2009), trong khi cả thế giới chưa hết kinh hoàng về thảm cảnh trên, thì tại Âu Châu, Phần Lan là một nước Bắc Âu, đã tiền phong làm sống lại thời vàng son của điện nguyên tử. Một nhà máy và khu chứa chất thải phóng xạ, đã được xây dựng tại vùng rừng núi hoang dã Olkiluoto cách thủ đô Helsinki của Phần Lan chừng 350 km. Việc làm trên, lập tức đã bị các nước trong Liên Hiệp Âu Châu như Thụy Ðiển, Ðức, Bỉ... chỉ trích gay gắt, khiến cho Bộ Trưởng Môi Trường Phần Lan là Satu Hassi, phải từ chức. Hiện Pháp, Thụy Ðiển... thì lưỡng lự nhưng nước Ðức vẫn cương quyết loại các nhà máy điện nguyên tử, ra khỏi danh sách nguồn cung cấp năng lượng tại nước này.

Ngược dòng lích sử ta biết từ năm 1942, lần đầu tiên nhân loại đã thành công, qua thử nghiệm phản ứng nguyên tử dây chuyền tại Trường Ðại Học Tổng Hợp Chicago ( Hoa Kỳ ). Ðây cũng là khởi điểm của thời đại nguyên tử (Atomic age) với mục tiêu phụng sự hòa bình, được coi như một thành công vượt bực và đầy ý nghĩa của con người, trong tiến trình phát triển nền văn minh hiện đại.

Nhưng sau đó vì sự sống còn của đất nước, nên nhiều quốc gia tiền tiến và đang phát triển đã gạt bỏ việc bảo vệ mội trường để phát triển điện nguyên tử, nhằm cung cấp điện năng, phát triển năng lượng. Hiện trên thế giới có 438 nhà máy điện nguyên tử đang hoạt động tại 32 nước gồm: Bắc Mỹ (Hoa Kỳ, Canada, Mexico), Argentina, Brazil), Tây Âu ( Ðức, Bỉ, Tây Ban Nha,Phần Lan, Hà Lan, Anh, Pháp, Thụy Ðiển, Thụy Sĩ ), Ðông Âu (Bảo, Hung,Tiệp Khắc, Lỗ, Nga, Slovakia, Ukaraine, Armenia), Phi Châu (Nam Phi) và Châu Á (Trung Cộng, Ðài Loan, Ðại Hàn, Ấn Ðộ, Ba Tư, Nhật và Pakistan).

Trước tình hình sôi động của thế giới, nhất là vùng Trung Ðông, Trung Á, Biển Ðông... thêm vào đó là sự cạn dần các mỏ dầu trên đất liền cũng như ngoài thềm lục địa, khiến cho giá dầu tăng vọt như tên bắn. Riêng năng lượng của gió còn quá đắt, không thể thay thế nguồn dầu được. Cho nên chỉ có điện nguyên tử, mới cung ứng nổi nhu cầu của thế giới.

Tất cả thật sự đều nằm trong bàn tay con người, nhất là hiện nay khoa học kỹ thuật đã tiến tới gần như tuyệt đỉnh. Nói chung, muốn có an toàn khi thực hiện nhà máy điện nguyên tử, quốc gia sở quan phải tuyệt đối chấp hành nghiêm chỉnh những điều lệ của công ước quốc tế, qua việc chọn địa thế và vị trí xây dựng. Phải có những máy móc thiết bị an toàn, bảo đảm chống được những biến cố bất ngờ. Cuối cùng là sự hiện hữu của những chuyên viên trong ngành, để điều hành máy móc thiết bị cũng như ứng phó kịp thời khi có tai nạn.

CSVN MUỐN XÂY DỰNG NHÀ MÁY ÐIỆN NGUYÊN TỬ

Sau khi được tham dự hai hội nghị quốc tế 1986 và 1994, do cơ quan năng lượng quốc tế tổ chức. Tiếp theo vào tháng 10-1995, một hội nghị nguyên tử quốc tế cũng đã diễn ra tại Hà Nội, khiến cho đảng phát sinh ý tưởng muốn bắt chước các nước giàu có Âu Mỹ, Nhật, Ðài Loan, Ðại Hàn ... đem điện nguyên tử vào VN.

Tuy nhiên mộng du trên đã bị dập tắt lúc đầu, vì dư luận trong đảng, trong nhóm chia năm xẻ bảy, đa số nói rằng điện nguyên tử nguy hiểm bởi chất phóng xạ, chất thải, nổ máy và nổ bom nguyên tử... Nhưng thực tế trước mắt là VN lúc đó và ngay cả bây giờ, vẫn không có vốn cũng như nhân lực và các cơ sở hạ tầng, cần thiết trong khi xây dựng cũng như điều hành nhà máy.

Hiện nay việc xây dựng các nhà máy điện nguyên tử tại những nước đang phát triển, đều trông cậy vào các nước văn minh tiền tiến. Trái lại CSVN từ trước tới nay, mọi sự đều nhắm vào Nga-Tàu hay các nước Ðông Âu cũ, một phần vì là cá mè một lứa cùng biết tẩy nhau, cho nên dễ dàng trong sự giao kèo, mua bán , đổi chác, ăn chận...

Những phanh phui liên tiếp trong mấy năm qua, về vụ đảng mua máy móc, tàu bè, tăng pháo... cũ kỹ mốc rêu hư hại của Trung Cộng-Liên Xô... đem sửa sơn, rồi về nước tính như đồ mới, là chuyện nhỏ mà ai cũng biết. Nhưng xây dựng nhà máy điên nguyên tử lại là chuyện lớn, có liên quan tới sinh mạng của cả một dân tộc. Do trên các nước ký giao kèo rất khó, ngoài ra nuớc sở quan phải chứng minh được là mình đã chuẩn bị mọi sự liên tục suốt thời gian pháp định, là 15 năm. Một yếu tố đầu tiên cũng không thể thiếu, đó là số tiền sơ khởi ký quỹ lên tới 2 tỷ đô la.

Ðây là chuyện khó đối với VN nhất là lúc cả thế giới đang khốn đốn vì kinh tế khủng hoảng kéo dài từ năm ngoái tới nay vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc. Ngoài ra CSVN đã mang quá nhiều nợ nần vay mượn... mà phần lớn là của Tàu đỏ. Trong lúc đó khắp nước còn nhiều công trình khác cần thiết hơn để xây dựng.

Không một quốc gia nào kể cả Mỹ, dám tuyên bố là sẽ chẳng có thảm họa Chernobyl thứ hai trên nước mình.. CSVN có chương trình xây dựng một nhà máy điện nguyên tử vào năm 2010. Theo nhận xét của một khoa học gia trong nước, thì sở dĩ nhiều quốc gia phải xây dựng nhà máy điện nguyên tử là vì vấn đề kinh tế, nhất là các quốc gia như Nhật, Ðại Hàn, Âu Châu... luôn luôn phải nhập cảng than, dầu, khi lỏng. Thực hiện được điện nguyên tử, giá thành sẽ rẽ hơn nhiều lần, dù luôn luôn phải đối mặt với sự tiềm ẩn nguy cơ phóng xạ. Trái lại VN không nhập cảng các nhiên-nguyên liệu trên, vậy thực hiện nhà máy điện nguyên tử để làm gì, vừa mắc nợ, lại lo lắng ngày đêm nếu mua phải các nhà máy cũ của Nga-Trung Cộng, trong khi chính VN chưa sẵn sàng hay đủ khả năng ngăn ngừa và đối phó các thảm họa bất ngờ nếu có.

CSVN CHỌN NINH THUẬN LÀM ÐỊA ÐIỂM XÂY DỰNG NHÀ MÁY ÐIỆN NT

Ninh Thuận là phần đất phía bắc của Bình Thuận xưa. Năm 1922 thành Ðạo Ninh Thuận và trở thành tỉnh từ năm 1943. Vì là phần đất cuối cùng của vương quốc Chiêm Thành nên hiện nay còn lưu lại nhiều đền, tháp Chàm như Ba Tháp, Hòa Lai (Po Klong Garai), Po Romé. Ninh Thuận là quê hương của Phan Trung vị tướng lãnh đồng chí của Trương công Ðịnh, Nguyễn Thông, cũng là quê của danh sĩ Nguyễn thị Bích, tức Nguyễn nhược Thị, tác giả tập truyện ký bằng quốc âm ‘Hạnh Thục Ca’, thuật lại giai đoạn lịch sử nhiễu nhương của đất nước trong năm 1885, khi kinh thành Huế thất thủ, Tôn thất Thuyết phò vua Hàm Nghi xuất bôn, ban hành huyết thư Cần Vương chống Pháp.

Ninh Chữ cách tỉnh lỵ Phan Rang chừng 6 km, bãi biển đẹp và thơ mộng với rừng dương liễu đó đây, cũng là sinh quán của cố Tổng Thống Ðệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn văn Thiệu (1967-1975)*. Ninh Thuận khí hậu khô hạn nhất nước, nổi danh là tam Phan (Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết), có nhiều núi cao như Hòn Chàm, Truân, Gia Rích, núi Ông, Hòn Bà... có sông Dinh (Koong Binh) vói nhiều phụ lưu như Krong Pha, Ma Lâm, Quao, Lu... chảy ra cửa Phan Rang.

Trong tỉnh ngoài người Kinh còn có nhiều người Chàm, Raglai, Churu, Kôhô... Theo tài liệu HES năm 1956, Tỉnh Ninh Thuận có diện tích 3422km2 và dân số 191.435 người, gồm 5 quận An Phước (xã Diêm Hải, Ðại Phước, Ðịnh Hải, Hậu Phước, Hữu Phước, Phước Hải, Tà Dương, Thái Sơn), Bửu Sơn (An Sơn, Mỹ Sơn, Phú Sơn, Phước Sơn, Tân Sơn, Tri Phước), Du Long (Cam Ly, Cam Thọ, Cát Hải, É Lâm hạ ), Sông Pha (xã Bửu Lâm, É Lâm thượng) và Thanh Hải (xã An Hải, Ðông Hải, Hộ Hải, Khánh Hải, Mỹ Hải, Phan Rang, Tân Hải và Vĩnh Hải). Thị xã Cam Ranh với diện tích 459km2 - 106.904 người cũng trực thuộc tỉnh Ninh Thuận. Năm 1993, Ninh Thuận tách ra khỏi Thuận Hải và thành Tỉnh với thị xã Phan Rang - Tháp Chàm và các huyện Ninh Sơn, Ninh Hải, Ninh Phước.

Tất cả nay vẫn còn đó sau mùa chinh chiến, dù người xưa đã rủ nhau đi vào nẻo khuất trong hồn người, thành quách, lâu đài, tịch dương, hoài cổ đã như những mành rèm cửa nhỏ, không che nổi cát bụi thời gian nhuộm đầy lá rụng.

Mũi Cà Ná là biên giới thiên nhiên giữa Ninh-Bình Thuận, nằm sát quốc lộ 1 và đường xe lửa xuyên Việt. Màu nước biển ở đây luôn xanh vắt, phẳng lặng, ngoại trừ tháng chín hay nổi cơn sóng gió bất thường

"... gió mưa tháng chín bất ngờ,
ghe buôn phải liệu, vô bờ mới yên..."

Tóm lại dù hiện nay người Chàm chỉ còn là một sắc tộc nhỏ, trong đại gia đình dân tộc VN nhưng ảnh hưởng của họ về mọi phương diện vẫn bàng bạc trong cuộc sống của người Việt suốt miền Trung.

Việc xây dựng nhà máy điện nguyên tử tại VN, hiện vẫn là một đề tài còn tranh cãi sôi nổi tuy đảng đã độc tài quyết định. Nguyên do sự chống đối trong nước là điều ai cũng thấy: Ðó là nổi lo sợ những tai nạn nguyên tử mà người dân VN phải gánh chịu, vì bọn lãnh đạo chóp bu tham nhũng, sẽ mua lại những thiết bị cũ, quá đát, hư hỏng của các nhà máy điện NT đã xài lâu năm, trong đó tệ nhất là đồ của Nga-Tàu đỏ là nước chắc chắn sẽ trúng thầu.

Vào lúc 12 giờ trưa ngày thứ tư (23-7-2008) đã có hằng trăm phụ nữ Chàm, biểu tình phản đối và chận giữ đoàn xe chở Thủ tướng VC Nguyễn tấn Dũng khi tới khảo sát khu vực dự định xây dựng ‘ Nhà máy điện nguyên tử ‘ nằm trong khu vực Sơn Hải, xã Phước Ninh, Huyện Ninh Phước, Tỉnh Ninh Thuận. Cũng theo nguồn tin được phổ biến thì chiếc xe chở Dũng vì đi sau nên chạy thoát được về Phan Rang. Sau đó tỉnh ủy đã điều động một lực lượng quân sự hùng hậu gồm công an võ trang, bộ đội dân phòng và xe cơ giới tới hiện trường để giải vây cho đồng bọn đang bị đồng bào bắt giữ làm con tin, để đòi Dũng phải trả lại đất đai vườn ruộng của họ mà đảng đã cướp giựt công khai từ trước. Cuộc biểu tình kéo dài tới hai ngày mới dứt do đồng bào tự động giải tán, làm nghẽn quốc lộ 1 từ Cà Ná về Phan Rang nhiều giờ.

Trước đây, ngày 12-3-2006 không biết vì lý do gì cũng đã có cuộc xung đột trầm trọng, giữa ít người Việt tại thôn Hòa Thủy và người Chàm ở thôn Thành Tín, cùng thuộc Huyện Ninh Phước, Tỉnh Ninh Thuận. Nhưng dựa theo báo chí trong và ngoài nước, thì đầu giây mối nhợ của nội vụ, chẳng qua cũng do sự uất ức của đồng bào Chàm địa phương, bị Cộng sản Hà Nội tìm đủ mọi cách đánh đuổi ra khỏi nơi quê làng chôn nhau cắt rún bao đời, để chiếm đất của họ làm địa điểm xây dựng Nhà Máy Ðiện Nguyên Tử Ninh Thuận. Dàn dựng một cuộc ấu đả có chết người, bạo động... để vin cớ đem cả hai tiểu đoàn công an vây hãm cô lập làng Chàm Thành Tín và ép buộc đồng bào phải ra đi, để bọn cán bộ đảng từ nhỏ tới lớn, được dịp chia phần trong dịch vụ béo bở sắp trở thành hiện thực.

Trong thời gian xảy ra đại hội X đảng Cộng Sản VN tại Hà Nội, cũng là lúc thế giới chấn động trước nguồn tin đăng trên tờ Le Matin của Thụy Sĩ vào ngày 5-4-2006, phanh phui chuyện cán bộ Việt Cộng, từ trên xuống dưới đã toa rập cắt xén ăn chận và biển thủ hàng tỷ đô la ngân sách quốc gia. Ðây là tiền viện trợ và đầu tư quốc tế, mục đích giúp VN xây dựng đất nước, cải thiện cuộc sống nghèo đói của đồng bào. Cũng nhờ nguồn tin này, mọi người mới biết được những nổi đau lòng xé ruột, của cái gọi là cách mạng nhưng thực chất chỉ là bọn sâu quan mọt tướng, chuyên môn đục khoét tài sản đất nước, mà vụ tham nhũng từ trên xuống dưới trong Bộ Giao Thông Vận Tải VC, đến nổi Bộ trưởng Ðào Ðình Bình mất chức vì tội biển thủ

Klaus Rohlan giám đốc chi nhánh ngân hàng thế giới tại Ha Nội, trên đài VOA cho biết từ 6 năm qua, tổ chức tài chánh quốc tế đã tài trợ cho VC hằng trăm triệu mỹ kim, để thực hiện cả ngàn dự án xây dựng được gọi chung là PMU-18. Chuyện dài tham nhũng VC cũng được Bella Bird, đại diện Bộ phát triển hải ngoại (DFID) của Anh tại VN, cùng lúc xác nhận trên Ðài BBC Luân Ðôn .

Do đó World Bank đã kêu gọi các nước liên hệ phải tới tận VN để điều tra sự tham nhũng của Cộng Sản VN, phanh phui sự bê bối của cán bộ, dính líu tới tiền viện trợ và đầu tư nước ngoài. Ðồng thời tuyên bố nếu nắm được sự thât, ngoài việc cắt đứt khoản tín dụng viện trợ, còn bắt buộc VC phải hoàn lại số tiền tỷ tỷ đô la, mà Hà Nội đã nhận từ mấy chục năm qua để biến đười ươi thành tư bản đỏ, vác tiền ra ngoại quốc khoe giàu, lập đảng nhuộm đỏ Cộng Ðồng Người Việt QG tại Hải Ngoại.

Tóm lại chỉ riêng 12 chóp bu lãnh đạo đảng VC, đã cướp bóc tài sản của đồng bào và đất nước VN trong bao chục năm qua, đem gửi giấu tại nhiều ngân hàng khắp thế giới, trong đó ở Thụy Sĩ tới 10 tấn vàng ròng, cùng hàng chục tỷ đô la. Về các vụ án đại tham nhũng, đã bị phanh phui suốt 10 năm qua trong nước, không phải do chính quyền bất lực mà vì đã cùng nhau từ lớn xuống nhỏ toa rập, bao che, chia xén, khiến cho tệ nạn trên trở thành đại họa cả nước. Tham nhũng đến nỗi phải bán cả đất đai biên giới, biển đảo, vùng đánh cá, kho khai thác dầu khí và Cao Nguyên Nam Trung Phần của VN cho kẻ thù không đội trời chung Trung Cộng. Tham nhũng qua buôn lậu, buôn công nhân lao động ở nước ngoài, buôn phụ nữ VN khắp thế giới và miền Ðông Nam Á.

Tham nhũng đã gây thất thoát ngân sách quốc gia hằng chục tỷ đô la, mà qui mô lớn nhất vẫn là ba vụ án tại Tổng cục Dầu khí VN, thuộc bộ Thương mại và Công ty Hàng không, phát hiện năm 2004. Vụ tham nhũng công trình mắc đường dây điện Bắc-Nam cao tốc 500 KV, để chia chác ăn xén ngân khoản trên 3 tỷ đồng tiền Hồ, dùng mua 4000 tấn sắt thép làm dây điện, được móc ngoặc giữa Bộ Năng lượng VC và Công ty Vinapol của Ba Lan. Rồi vụ tham nhũng tại Công ty Dệt Nam Ðịnh, Khách sạn Bàn Cờ, Công ty Tamexco, Công ty Pin Vĩnh Phú, Công ty Tiếp thị đầu tư phát triển nông thôn do Lã thị Kim Oanh tổ chức..

Vụ ăn hối lộ để cho hàng lậu Trung Cộng ào ạt đổ vào VN, qua Trạm kiểm soát hỗn hợp biên giới tại Ðồng Bành, tỉnh Lạng Sơn. Vụ tham nhũng tại các Xí nghiệp Xây dựng công trình giao thông vận tải, công trình Xây dựng số 2. Tuy nhiên, nhức nhối nhất là Công trình xây dựng Nhà Máy Lọc Dầu số 1 Dung Quất tại Quảng Ngãi, từ 10 năm qua đã ngốn bao nhiêu tỷ đô la do Nguyễn tấn Dũng phụ trách, trước khi thay Phan Văn Khải làm thủ tướng.

Tham nhũng ngoài việc ăn mòn công quỹ và những ngân khoản viện trợ của nước ngoài, mà còn gây không biết bao nhiêu là thảm kịch cho đất nước, trong đó có những dự án xây cất công cộng như đập nước, cầu cống, đường xá, trường học... Công khố nhà nước phần lớn bị cán đảng chia sớt gần hết, cho nên phải vay nợ nước ngoài để thực hiện các công trình. Nhưng có tiền là chia, vì vậy phần lớn những dự án lớn đều trở thành nửa nạc nửa mỡ, đầu voi đuôi chuột, chỉ đẹp nhờ cái lớp sơn phết hào nhoáng bên ngoài hay mới làm chưa xong đã xập như cầu Cần Thơ năm ngoái làm chết và bị thương không biết bao nhiêu công nhân vô tội.

Hồi tháng tư năm 2006 Tổng Thanh Tra VC là Tạ Hữu Thanh, sau khi kiểm soát xong 427 dự án công trình của 57 tỉnh thành và 27 bộ, đã tuyên bố: "tất cả các công trình trước khi vào cuộc, đều phải đầu tiên nộp lệ phí 15% tiền lót tay cho giám sát viên, rồi thì các cấp ăn bớt ngân khoản dùng mua vật liệu xây cất, đến nỗi mọi thứ chưa hoàn thành, đã chỉ còn ở bề ngoài mà thôi." Cuối tháng bảy năm ngoái, phần lớn các công ty nước ngoài, nhất là Nhật Bổn đều đã hay đang bỏ của chạy cứu người, vì không thể chịu nổi luật lệ rừng rú của VC, nói một đường làm một chợ, đến nỗi phải hội lộ cho cán bộ nhà nước để được thầu và nội vụ đã bị phanh phui trong năm 2008.

Ðó cũng là lý do khiến Nhà máy Lọc Dầu Dung Quất (Quảng Ngãi), mà tiền đầu tư giữa nhà nước cùng các đối tác Pháp-Nga hơn cả tỷ đô la, nhưng cứ luôn trễ hẹn mở cửa. Sự tệ hại đã làm hết Pháp rồi Nga phải ngưng ngang hợp tác và đòi lại tiền đầu tư. Thiệt hại càng to lớn thêm khi VN sản xuất được nhiều dầu thô nhưng vì nhà máy lọc mắc nợ nhiều quá nên phải bán đổ tháo cho các nước theo giá rẻ và mua lại xăng dầu của chính mình bằng giá cắt cổ sau khi lọc.

Tháng 9-1945, nhân loại lần đầu tiên đã biết nếm mùi thảm họa của bom nguyên tử, khi Hoa Kỳ thả hai trái xuống thành phố Quảng Ðảo và Trường Kỳ của Nhật. Quá khứ đau khổ vì chiến tranh cũng như những ám ảnh và hậu quả trên thân xác con người, do tác hại của bụi phóng xạ chưa chìm sâu trong đáy huyệt thời gian, thì một tai họa khủng khiếp khác lại tái diễn. Biến cố xảy ra lúc 1giờ 23 phút ngày 26-4-1986, do 1 trong 4 lò phản ứng của trung tâm nhà máy điện nguyên tử Chernobyl thuộc Liên Bang Xô Viết cũ bị nổ, do sơ suất kỹ thuật làm thoát chất phóng xạ ra ngoài. Tiếp theo là sự kiện Three Mile Island và liên tiếp nhiều nhà máy điện NT ở Pháp và Nhật cũng bị lủng thùng chứa làm thất thoát chất phóng xạ ra ngoài.

Sau cùng vào lúc10 g 35 phút ngày 30-9-1999, nhà máy điện nguyên tử Tokaimura, thuộc tỉnh Ibaraki nằm cách Tokyo (Nhật Bản) khoảng 120 km cũng bị nổ. Theo nhận xét của Cơ Quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế (IAEA), thì đây là một tai nạn phóng xạ nguyên tử nghiêm trọng nhất từ trước tới nay, kể cả hai trái bom nguyên tử mà Mỹ đã thả trên nước Nhật và biến cố tại nhà máy Chernobyl của Liên Xô năm 1986.

Âu Châu, Nhật cũng như Liên Xô... đều là những quốc gia tiến tiến, có đủ phương tiện thực hiện cũng như bảo trì những nhà máy điện nguyên tử của quốc gia họ. Nhưng trong vài trưòng hợp đặc biệt, cũng phải đành bó tay đứng nhìn tai họa hoành hành. Sau rốt tại hầu hết các nước Á Châu kể cả Nhật Bản, hiện đang chơí với trước hiểm họa thanh toán các chất thải nguyên tử vì chưa có một chương trình hữu hiệu nào, để mà kiểm soát các hoá chất độc hại và các chất thải vô cùng nguy hiểm, vì một số thùng chứa chất phóng xạ sau 30 năm đã bị ăn mòn. Cấp bách nhất là Năng Lương tại các nhà máy điện nguyên tử, gần như chỉ sạch trên mà bẩn dưới.

Chỉ có Nguyễn Tiến Nguyên viện trưởng viện năng lượng nguyên tử của VC, là dám to miệng tuyên bố rằng VN đã tìm được căn bệnh gây ra các tai họa thảm khốc tại các nhà máy điện NT Liên Xô, Pháp cũng như Nhật. Vì vậy các đỉnh cao mới quyết tâm xây dựng một nhà máy điện nguyên tử vào năm 2010. Tuy nhiên còn phải chờ đảng vay tiền nước ngoài với lãi suất thương mại như BOT-BOO ...

Làm đường, cầu, đập nước, nhà cửa... có bị ăn chận, thiệt hại cũng chỉ là sự hạn chế nhưng nếu xây dựng Một Nhà Máy Ðiện Nguyên tử mà cẩu thả sơ xuất, thì hậu quả về nhân mạng không biết đâu mà lường được. Rồi hoàn thành hoạt động nhưng không bảo trì tốt như Nga, thì chừng đó chẳng những người sống quanh vùng chịu chết, mà cả nước chắc gì được an toàn với bụi phóng xạ? Ðó là chưa nói đến nợ vay nước ngoài, hiện chồng chất tới mức chỉ nhìn vào đã mù mắt. Chỉ riêng nhà máy lọc dầu Dung Quất - Quảng Ngãi đã tiêu phí tỷ tỷ đô la nhưng đâu vẫn còn đó, nay lại muốn làm thêm một công trình vĩ đại gấp ngàn lần dự án cũ.

Nhưng CSVN bây giờ đang đô hộ cả nước, quốc gia dân tộc còn cả gan đem bán công khai cho Tàu đỏ, nên ai dám ngăn cản chùng làm? Và đó là lý do mới đây Vương Hữu Tân, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử đã tuyên bố trên tờ Tuổi Trẻ, xuất bản tại Thành Hồ ngày 14-5-2006 rằng "Ðảng VC đã quyết định xây dựng Nhà Máy Ðiện Nguyên Tử đầu tiên, tại Xã Phước Ðịnh, Huyện Ninh Phước, Tỉnh Ninh Thuận, Trung Phần". Nhà máy này gồm 2 lò phản ứng, có công suất 2000 MW với dự kiến sẽ hoàn thành từ năm 2017 - 2020.

Trong cuộc triển lãm Quốc tế về điện nguyên tử được tổ chức từ 16 -19/5/2006 tại Hà Nội, có các Phái đoàn Pháp, Nhật Bổn, Nam Hàn và Nga tham dự, để đấu thầu xây dựng Nhà Máy Ðiện Nguyên Tử tại VN. Theo Alexander Glukhov, Phó chủ tịch Công ty Quốc doanh Atomstroiexport, thì Nga rất hy vọng giành được hợp đồng xây dựng nhà máy trên. Nếu mọi điều trở thành sự thật, thì đây chính là đại họa lớn nhất của Dân tộc VN trong thế kỷ XXI. Nhưng đó chuyện của 3 năm về trước, chứ hiện nay chủ của VN là Tàu đỏ nên sức mấy Nga hy vọng được trúng thầu?

Theo thời giá hiện nay, thì muốn thực hiện một nhà máy điện nguyên tử loại trung bình phải tốn chừng 5 tỷ Mỹ kim. Trong lúc tình hình kinh tế VN từ đầu năm 2008 tới nay đã đi vào khủng hoảng trầm trọng với nạn lạm phát phi mã, chứng khoán triệt tiêu, giá cả tăng vọt từng ngày khiến cho cả nước từ nông thôn tới thành thị điêu đứng đói khổ, nhất là giới ngư phủ cả nước càng thảm thê hơn vì thuế má và giá xăng dầu vượt mức đồng lương lao động chết đói. Ðó là chưa nói tới thảm kịch đêm ngày bị cướp biển Trung Cộng, Khờ Me bắn giết tại Biển Ðông và Vịnh Phú Quốc, trước sự thờ ơ hèn hạ của ngụy quyền Hà Nội, chỉ biết "khôn nhà dại chợ" đàn áp cướp bóc đồng bào mình.

Việt Nam ngày nay chưa có đủ điều kiện và phương tiện để bảo trì bảo hành toàn diện nhà máy điện nguyên tử nên nếu sơ xuất làm lấy lệ như Nga thì hậu quả không biết sao mà lường được. Ðó cũng là lý do đã làm cho nhà đất tại Phan Rang và các vùng lân cận địa điểm sắp xây dựng nhà máy điện nguyên tử, từ trên đỉnh rớt xuống đất, thậm chí nhiều người muốn bỏ của chạy giữ mạng vì không ai còn dám tin những gì CSVN nói và làm suốt 80 năm qua.

Viết tại Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 7-2009
Mường Giang

* Thực ra thì Tri Thủy mới là quê hương của cố Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu, Ninh Chữ nằm cách Tri Thủy khoảng 2 km, phải đi qua làng Dư Khánh thì mới đến Tri Thủy.