Archives for: January 2010

NHÂN CHỨNG ĐỒNG CHIÊM: TÂM THƯ TẠ ƠN CỦA ANH J.B NGUYỄN HỮU VINH

Nhân chứng Đông Chiêm: Tâm thư tạ ơn của Anh J.B Nguyễn Hữu Vinh
Source: VietCatholic News

Kính gửi:

- Tất cả các cộng đoàn, đoàn thể, tổ chức, các đấng bậc trong Giáo hội.

- Anh chị em giáo hữu, bạn bè trong, ngoài công giáo, trong, ngoài nước và những người đã quan tâm.

Đã hơn nửa tháng, kể từ ngày bản thân tôi “được” nhận thông phần chia xẻ với anh chị em giáo hữu Đồng Chiêm bằng trận đòn tấn công và cướp vào chiều ngày 11/1/2010 khi đến thăm và hiệp thông với Giáo xứ để tận mắt nhìn thấy những gì đang diễn ra tại đó.

Tôi đã tận mắt chứng kiến những khổ đau mà anh chị em giáo hữu Đồng Chiêm phải chịu khi mọi con đường vào Đồng Chiêm dày đặc các lực lượng công an, cán bộ đủ loại.

Tôi đã tận mắt chứng kiến những cuộc xét hỏi giấy tờ “theo chỉ thị” cách vô lý của các loại cảnh sát, công an trên đoạn đường ngắn dẫn vào Đồng Chiêm.

Tôi đã chứng kiến các ụ đất được đổ ra vội vã trên những con đường vào Đồng Chiêm và bên cạnh đó là những gương mặt gầm ghè, hăm họa khách hành hương phương xa đến.

Tôi đã tận mắt chứng kiến những em nhỏ với ánh mắt trong veo nhìn lên đỉnh Núi Thờ, nơi Thánh giá đã bị đập tan mà ngấn lệ, những cụ già tóc bạc, da nhăn nheo ngồi bên cửa nhà âm thầm trong bóng tối ngước nhìn về Núi Thờ đọc kinh và dâng những lời nguyện xin.

Tôi đã được thấy, được nghe những tiếng loa chõ vào nhà thờ Đồng Chiêm từ mọi hướng ở khoảng cách rất gần và sự tăng cường những loa ấy khi tôi đang đứng trong nhà thờ như một sự nhạo báng nền văn hóa lâu đời của người dân Việt Nam.



Tôi đã chứng kiến những vành khăn tang trên đầu mọi giáo dân nơi đây trắng cả nhà thờ và mọi ngõ xóm để hiểu nỗi đớn đau trong họ.

Nhưng trên hết, tôi đã chứng kiến nỗi đau đớn, tủi nhục khi Thánh Giá – biểu tượng linh thiêng nhất của mọi Kitô hữu - bị đập vụn vương vãi nhiều nơi trên Núi Thờ. Tôi cảm nhận được tội ác đã gây ra với cộng đồng tôn giáo là lớn lao và nặng nề biết bao nhiêu.




Và tại Đồng Chiêm, tôi cũng đã chứng kiến và cảm nhận được sự lộng hành bất chấp luật pháp của lũ côn đồ đang tác oai tác quái trong xã hội hiện nay hành động ngang nhiên hoặc được bao che như thế nào. Cũng qua đó, tôi đã hiểu hành động đập phá Thánh Giá vào ban đêm dưới sự bảo trợ của hàng trăm cảnh sát có ý nghĩa gì và những người làm việc đó tự họ biết chính nghĩa có đang nằm trong tay họ khi họ hành động lén lút như vậy hay không.

Tôi đã chứng kiến tất cả những điều đó và tôi không ân hận khi đến chia xẻ nỗi đau với giáo dân Giáo xứ Đồng Chiêm. Chỉ tiếc rằng, những ngày căng thẳng, khó khăn nhất tôi đã không thể có mặt cùng với họ.



Kính thưa tất cả mọi người,

Những ngày qua, sau biến cố đối với bản thân tôi, tôi cảm nhận được sự hiệp thông của cộng đồng dân Chúa khắp nơi lớn lao biết nhường nào. Các Giám mục, các linh mục, tu sĩ và anh chị em giáo dân đã dành cho tôi những sự động viên, thăm hỏi quý báu chân thành và kịp thời.

Tôi xúc động nhiều khi các Giám mục, linh mục và các tu sĩ đã bày tỏ sự quan tâm đến cá nhân bé nhỏ của tôi khi lâm nạn, tôi càng xúc động hơn khi những giọt nước mắt nhòe lệ trên gương mặt các cụ già đến xẻ chia và những gương mặt ngơ ngác, như muốn hỏi, muốn tìm nguyên nhân của tội ác khi đến thăm tôi.

Tất cả những điều đó để nói lên rằng: Có rất nhiều những tấm lòng, những thao thức của mọi người, mọi tín hữu đã và đang quan tâm đến vận mệnh của Giáo hội và những cá nhân bé nhỏ trong Giáo hội. Dù đó là những giáo dân đang sống trong đất nước Việt Nam nhiều gian khó hôm nay hay những tín hữu đang sống xa đất nước vẫn luôn mong ngóng hướng về Giáo hội quê hương. Đó chính là sức mạnh của Giáo hội để vươt qua tất cả những khó khăn, những vướng mắc nhất định phải có trên con đường phát triển của Giáo hội, dù đang trong những giai đoạn bi thương.

Qua bức tâm thư này, tôi muốn gửi lời tạ ơn sâu sắc của bản thân cá nhân và gia đình tôi đến tất cả các đấng bậc, tất cả mọi người, mọi đoàn thể, tổ chức, cộng đoàn đã quan tâm chia xẻ với tôi trong những ngày qua.

Xin tạ ơn các các linh mục, tu sĩ và anh chị em có mặt ở Đồng Chiêm hôm đó đã nhanh chóng giúp đỡ và cứu chữa kịp thời khi tôi bị tấn công, bị cướp.

Xin tạ ơn hàng ngàn giáo dân xứ Đồng Chiêm và giáo dân xứ Nghĩa Ải đã vất vả đêm hôm đưa chúng tôi ra khỏi khu vực nguy hiểm trong đêm đó để về cứu chữa và điều trị. Suốt đời tôi không thể quên cảnh hàng ngàn giáo dân với cuốc, cào, xẻng và mọi thứ dụng cụ mang theo trong đêm để san đường giúp chúng tôi đi ra khỏi khu vực đang bị phong tỏa.

Xin tạ ơn các hãng truyền thông đã gần như ngay lập tức thăm hỏi và đưa tin về sự kiện này. Nhất là Liên hiệp truyền thông Công giáo đã kịp thời ra tuyên cáo về vụ việc. Xin tạ ơn tất cả những tiếng nói ủng hộ bản thân tôi và lên án bạo lực, lên án sự dã man vốn được dùng để hành xử trong xã hội sẽ tạo nên những tiền lệ hết sức nguy hiểm cho một xã hội, một nhà nước pháp quyền.

Xin tạ ơn tất cả các Giám mục, linh mục, các tu sĩ và các cộng đoàn gần xa đã hiệp thông, đã dâng Thánh lễ cầu nguyện cho bản thân tôi được mọi sự lành.

Xin tạ ơn tất cả những ân nhân, bạn bè trong và ngoài Công giáo, trong và ngoài nước… đã quan tâm thăm hỏi và động viên giúp đỡ tôi những ngày tôi đau ốm.

Xin được nói lên lời tạ ơn với các anh chị em tín hữu, linh mục quê hương tôi đã động viên chia xẻ kịp thời với gia đình tôi khi khó khăn.

Xin tạ ơn Thiên Chúa là Cha toàn năng quan phòng và gìn giữ tất cả chúng ta trước mọi sự dữ và những khó khăn, thử thách để Giáo hội đã và sẽ vượt qua những cơn bách hại cuồng nộ của bất cứ thế lực thế gian nào mà đi tới vinh quang.

Những khó khăn, những đau đớn mà bản thân tôi phải chịu là quá nhỏ nhoi so với những gì anh chị em chúng ta đang phải chịu bằng nhiều cách tinh vi và trắng trợn tại Thái Hà, Tam Tòa, Đồng Chiêm,... và nhiều nơi khác trong Giáo hội và xã hội chúng ta đang sống.



Xin mọi người nói lên tình hiệp nhất với họ và xin nguyện cầu cho họ nhiều hơn để được Thiên Chúa và mẹ Maria che chở. Là một tín hữu Kitô, chúng ta có một sứ mệnh làm chứng và rao giảng sự thật với vai trò “ngôn sứ” của mình. Thiên Chúa đã dạy chúng ta: "Các con đừng sợ những người đó, vì không có gì che giấu mà không bị thố lộ; và không có gì kín nhiệm mà không hề hay biết. Ðiều Thầy nói với các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng; và điều các con nghe rỉ tai, hãy rao giảng trên mái nhà”.

Dù sự thật có bị bóp méo, xuyên tạc tạm thời, thì vẫn nguyên giá trị và không có bất cứ sự lừa bịp nào thay thế được những giá trị của sự thật.

Đến nay, dù sức khỏe chưa hồi phục, nhưng với tâm tình biết ơn sâu sắc, xin gửi đến tất cả mọi người lời tạ ơn chân thành tha thiết nhất.

Cuối cùng, xin tất cả mọi người hãy tin tưởng vào Đấng Toàn năng vì có thể trên bước đường làm chứng cho Thiên Chúa, cho sự thật, công lý, Giáo hội chúng ta còn gặp nhiều đau thương và bách hại. Nhưng chúng ta tin tưởng vào lời Thiên Chúa đã dạy: “Ðừng sợ kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn; nhưng thà sợ Ðấng làm cho mất được linh hồn và thân thể trong địa ngục”. (Mac 1:22-28)

Xin hiệp ý cầu nguyện cho Giáo hội chúng ta ngày càng vững vàng và hiệp nhất, cầu cho đất nước chúng ta tiến bộ đi lên, tiến tới một xã hội mà ở đó, quyền tự do, dân chủ, nhân quyền cho mọi người được tôn trọng.

Xin chúc quý vị đón chào một năm mới tràn đầy Hồng ân Thiên Chúa, an lành, hạnh phúc và thịnh vượng.

Xin Thiên Chúa là Cha Toàn năng, đấng công bằng vô cùng sẽ trả ơn bội hậu cho quý vị.

Hà Nội, Ngày 30 tháng 1 năm 2010.

Vinh1962@gmail.com
J.B Nguyễn Hữu Vinh

NGỤY KÍNH SINH: TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM, NHỮNG THẾ LỰC KINH TẾ KHỔNG LỒ BÊN BỜ VỰC CỦA SỰ THAY ĐỔI HAY SỤP ĐỔ


Kinh tế và quân sự phát triển cùng lúc nhưng chế độ chính trị độc tài áp bức không thay đổi, là căn nguồn của sự sụp đổ. Ảnh Asianews

Ngụy Kính Sinh: Trung Quốc và Việt Nam, những thế lực kinh tế khổng lồ bên bờ vực của sự thay đổi hay sụp đổ

Source: VietCatholic News, Asianews

Asia News: Một nhà bất đồng chính kiến vĩ đại của Trung Quốc đã so sánh hai con cọp của Sự Phát triển Châu Á và cảnh báo: phe đối lập trong nước đang gia tăng, và ngày càng quyết tâm. Ngay cả Tây phương còn thất vọng: chính sách nhân nhượng của họ với những vi phạm về nhân quyền, đã không dẫn đến bất cứ điều gì, thậm chí chẳng cả những lợi ích lớn hơn về kinh tế.

Los Angeles (AsiaNews) - Ngụy Kính Sinh, cha đẻ "của nền dân chủ" tại Trung Quốc, đã tấn công mạnh mẽ những ai nghĩ rằng chúng ta có thể đạt được sự phát triển kinh tế mà không có nhân quyền. Và, trong một bài phát biểu tại một hội nghị chuyên đề về nhân quyền và sự phát triển dân chủ ở Trung Quốc và Việt Nam, đã vạch ra một lằn song song thú vị giữa hai nước. Dưới ách thống trị của một chế độ độc đảng, cả hai (nước) đều thiên hẳn về hướng phát triển, nhưng sự thiếu vắng của những tiếng nói mâu thuẫn đã dẫn đưa họ đến một cuộc cách mạng xã hội không thể lay chuyển được. Cùng lúc đó, thế giới tư bản, nơi đang cố gắng thu hút cả hai (nước) trong dây chuyền sản xuất, đã nhắm mắt lại trước những vi phạm nhân quyền, giờ lại thấy chính mình vướng vào cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay. Dưới đây là nguyên bản của sự can thiệp đã được đưa ra tại Los Angeles vào tuần trước.

Để tìm hiểu về tương lai dân chủ của Trung Quốc và Việt Nam, chúng ta cần phải thực hiện cuộc phân tích trên cả hai nước, cũng như hiểu được môi trường quốc tế của cả hai. Sau đó chúng ta mới có thể có thể tìm hiểu cả hai điều kiện thuận lợi và khó khăn trước đã, rồi sau đó mới định hướng cho hành động của chúng ta.

Các đặc tính xã hội hiện nay cho cả Việt Nam và Trung Quốc là mặc dù cả nước đã chuyển biến sang những nước tư bản độc quyền quan liêu, họ vẫn còn khác biệt phần nào so với Nga và Đông Âu. Sự khác biệt lớn nhất là họ vẫn còn bị trị bởi chế độ độc tài độc đảng là Đảng Cộng sản. Nếu không có sự cạnh tranh trong một hệ thống đa đảng, cả hai nước đều thiếu vắng một môi trường thoải mái hơn cho ngôn luận và các ấn phẩm mà cả Nga và Đông Âu có. Ở Việt Nam và Trung Quốc, rất khó khăn cho phe đối lập để tồn tại bên trong nước, và phe đối lập ở nước ngoài càng gặp nhiều khó khăn nhiều hơn nữa trong việc tham gia vào chính trường trong nước. Do đó, nó tạo một tình trạng khó khăn lớn lao cho chúng ta.

Các cơ quan đặc biệt của Đảng Cộng sản đã trở nên rất hiệu quả. Với kế hoạch cắt rời (người) trong (nước) với bên ngoài, họ cài cấy người của họ, làm chệch hướng đi của chúng ta, gieo rắc sự chia rẽ, ngay cả việc dẫn đưa luôn phe đối lập vào bẫy của họ. Hành động này khiến cho một biến chuyển hay cuộc cách mạng được điều hành bởi phe đối lập đoàn kết có tổ chức chặt chẽ và có kế hoạch tỉ mỉ trở nên rất khó khăn. Ở giai đoạn hiện nay, hình thức chính của phe đối lập là những người dân với hành động tự phát chống lại bạo quyền và sự bóc lột cực kỳ về kinh tế. Các phương tiện truyền thông công cộng là những công cụ chính để huy động người dân. Những tổ chức bí mật truyền thống chỉ có thể hoạt động trong quy mô nhỏ. Việc huy động toàn thể người dân chỉ có thể phụ thuộc vào các công cụ truyền thông đại chúng. Đây là lý do tại sao chế độ Cộng sản Trung Quốc quan tâm rất lớn vào việc ngăn chặn các thông tin trên cả báo chí lẫn Internet.

Mặt khác, do thiếu các quyền cơ bản của con người, việc bóc lột, đàn áp bởi các nỗ lực kết hợp của cán bộ nhà nước và doanh nghiệp càng trở nên tàn tệ hơn bao giờ hết, vì thế càng dẫn đến việc chống đối mạnh mẽ hơn nữa. Vì vậy,những lực lượng chuyển biến của các nước như Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Triều Tiên chủ yếu phát xuất từ thành phần trung lưu hoặc thấp hơn. Những phương thức chuyển biến không chỉ giới hạn ở hình thức ôn hòa. Hình thức đối lập bạo động thường trở thành lực lượng chính trong việc hối thúc xã hội phải thay đổi. Ngoài ra do sự liên kết chặt chẽ của cán bộ nhà nước và các doanh nghiệp, nhà cầm quyền đã đánh mất vị thế định đoạt của mình trên các tranh chấp kinh doanh. Những tranh chấp nội bộ trong nội bộ nhà cầm quyền đã trở nên hung bạo hơn nhiều hơn tại bất kỳ thời điểm và hoàn cảnh nào khác. Sự xuất hiện của bọn xã hội đen và dân quân tội phạm đã trở thành thông lệ mới trong việc hỗ trợ cuộc đấu tranh chính trị càng làm cho xã hội thiếu ổn định và thậm chí còn trở nên phức tạp hơn.

Trong một vài thập kỷ qua, môi trường quốc tế đã rất bất lợi cho các lực lượng đối lập của các nước như Trung Quốc và Việt Nam. Các "Mô hìnhTrung Quốc" do Đặng Tiểu Bình phát minh đã có thể mua đứt các nhà tư bản Tây phương trong cách chia xẻ lao động rẻ tiền, do đó đã gián tiếp kiểm soát chính trị và các viện nghiên cứu của Tây phương. Họ đã có thể ép các xã hội dòng chính của Tây phương phải quy hàng cho lợi ích của Đảng Cộng sản và bỏ rơi các hệ thống giá trị của họ. Điều này đã dẫn đến việc Tây phương tiếp tục truyền máu kinh tế của mình cho các nước cộng sản và áp dụng chính sách khoan nhượng và mềm mỏng trước những nhà tư bản đỏ quan liêu của đảng CS.

Trong suốt 16 năm tại chức của Tổng thống Mỹ Bill Clinton và George W. Bush, chính sách nhân nhượng của họ đã đạt đến cao điểm của nó. Mối quan hệ giữa các nền dân chủ Tây phương và các chế độ độc tài châu Á đã chuyển từ đối đầu, sang khoan nhượng và hợp tác. Các lực lượng đối lập ở nước ngoài của Trung Quốc và Việt Nam trở thành cái gai trong mắt của các chính trị gia của các nước dân chủ. Xử dụng từ ngữ của một học giả người Mỹ thiên tả nổi tiếng: "những nhà hoạt động dân chủ chống cộng sản không đáp ứng các dòng tư tưởng chính của Mỹ".

Tuy nhiên, hiện nay tình hình này đang thay đổi. Mặc dù chính sách khoan nhượng vẫn chiếm chủ đạo, nền kinh tế Tây phương đang trên đà suy thoái bởi việc truyền máu của mình cho các nước cộng sản trong suốt hơn một thập kỷ. Cái được gọi là lý thuyết "nền kinh tế thị trường tự do" đang thua trận trước nền kinh tế thị trường không miễn phí. Trong khi những nhà kinh doanh của cả hai phía Tây và Đông thu về mức lợi nhuận siêu phàm, người ăn lương giờ hay lương năm lại chẳng hưởng được lợi ích gì của sự phát triển kinh tế. Thay vì mở rộng, thị trường giảm mạnh, đó là nguyên nhân gốc rễ của sự suy thoái kinh tế toàn cầu. Vì vậy, các nước Tây phương bắt đầu nhận ra sai lầm lịch sử này và tự nhiên là sẽ có biện pháp sửa chữa mà thôi. Họ phải từ bỏ chính sách khoan nhượng của họ với chính quyền Cộng sản, và khởi động lại một cuộc đối đầu và cạnh tranh mới. Họ nên bắt đầu cuộc đối đầu của họ bằng việc bảo vệ thị trường trước đã.

Sự thay đổi này là điều kiện bên ngoài, điều có thể ép buộc hệ thống quan liêu tư bản mới của Đảng Cộng sản phải cải cách, hoặc sẽ bị sụp đổ. Thành phần đối lập ở nước ngoài có nhiệm vụ chính ngoài việc liên tục xử dụng các phương tiện truyền thông để tích cực cổ động cho nền dân chủ và tự do. Nhiệm vụ mới này, trong khi sự hợp tác với một chính sách bảo vệ thị trường của các nước dân chủ, sẽ chống lại chủ nghĩa dân tộc được huy động bởi Đảng Cộng sản một cách tự nhiên. Bởi vay mượn sức mạnh của quốc tế, chúng ta có thể thúc đẩy công cuộc cải cách của hệ thống tái phân phối, hay cuộc cách mạng chính trị tại mỗi quốc gia của chúng ta. Trận chiến mậu dịch này sẽ không có lợi cho hệ thống tư bản quan liêu; nhưng sẽ chỉ có lợi cho những người lao động ăn lương giờ và lương năm, hay những nguồn vốn tư nhân của các nước, đó là biện pháp tốt nhất để đẩy mạnh cho cuộc cách mạng dân chủ và để tránh các cuộc nổi dậy bị rối loạn.

Sau cùng, để tôi nói rõ điều này, dưới một môi trường không có các quyền tự do ngôn luận và truyền thông cơ bản, nhưng với một hệ thống kinh tế lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản quan liêu, những cái gọi là "cuộc cách mạng sắc màu của hòa bình, hợp lý và phi bạo lực" có thể chỉ là một mưu mẹo của gian dối; với những người tin vào nó nhất thì cũng chỉ là một cơn mộng tưởng không thể nhận ra được.

Asia-News

*********************************************************

Toàn văn bằng Anh ngữ:

Wei Jingsheng: China and Vietnam, economic giants on the brink of change or collapse
by Wei Jingsheng


The great Chinese dissident compares the two tigers of Asian Development and warns: the domestic opposition is increasing, and is increasingly determined. Even the West is disappointed: its policy of tolerance towards human rights violations, has not led to anything, not even greater economic benefits

Los Angeles (AsiaNews) - Wei Jingsheng, the "father of democracy" in China, strongly attacks those who think that we can achieve economic development without human rights. And, in a speech at a symposium on human rights and democracy development in China and Vietnam, traces an interesting parallel between the two nations. Dominated by a single party regime, they are both in full swing of development, but the absence of conflicting voices brings them inexorably towards a social revolution. At the same time, the capitalist world, which has tried to absorb both in the production chain, closing its eyes to human rights violations, finds itself in the present economic crisis. Here is the full text of the intervention, delivered in Los Angeles last week.

To learn about the democratic future of China and Vietnam, we need to make an analysis of both countries, as well as to understand the international environment of both of them. Then we could learn both favourable and disadvantaged conditions for us, thus to guide our actions.

The current social characteristic for both Vietnam and China is that although both countries have transformed into bureaucratic monopoly capitalist states, they are somehow different from Russia and Eastern Europe. The biggest difference is that they are still under the Communist Party's one-party dictatorship. Without competition in a multi-party system, both countries lack the more relaxed environment for speech and publications that both Russia and East Europe have. In Vietnam and China, it is very hard for the opposition to survive inside the country, and the opposition overseas has much more difficulty to participate in the politics inside. Thus, it produces a big predicament for us.

The special agencies of the Communist Party have become very effective. With the disjunction of inside and outside, it plants their agents, misguides our directions, sows dissension, and even leads the opposition into its traps. This makes a transformation or revolution facilitated by a united opposition that is well organized and well planned very difficult. At the current stage, the main form of opposition is by the people on their own with their decentralized action against the tyranny and economic ultra-exploitation. The public media are the main tool to mobilize the people. Traditional secretive organizations could only have small-scale operations. The overall mobilization of the people could only depend on mass communication tools. This is why the Chinese Communist regime pays great attention to block the information of both news media and the Internet.

On the other side, due to the lack of basic human rights, the exploitation and suppression by the combined effort from the government officials and business become ever more stark, thus resulting in even stronger opposition. So the transformation forces of countries such as China, Vietnam and North Korea are mainly from the middle and lower classes. The ways of transformation are not just limited to peaceful ones. Violent opposition often becomes the main force that impels societies to change. Also due to the intimate connection of government officials and business, the government has lost its judging position over business disputes. The internal fights within the governments have become even more violent than at any other times and circumstances. The surfacing of the criminal underworld and personal military have become a new routine in assisting political struggle, thus making the society even less stable and more complicated.

In the past a few decades, the international environment has been very unfavourable to the opposition forces of countries such as China and Vietnam. The "China Model" invented by Deng XiaoPing was able to buy out the Western capitalists in the way of sharing the cheap labour, thus indirectly controlling the politics and academics of the West. It was able to force the mainstream society of the West to surrender themselves to the interests of the Communist Party and give up their value systems. This has resulted in the West continuing its economic blood transfusion to the Communist countries and taking tolerant and appeasement policies toward the new style bureaucratic capitalists of the Communist Parties. During the 16 years of US President Bill Clinton and George W. Bush, this policy of appeasement reached its peak. The relationship between the Western democracy and Asian dictatorship transformed from confrontation, to tolerance, to open cooperation. The overseas opposition forces of China and Vietnam became thorns in the eyes of the politicians of these democratic countries. Using the words of a well-known American scholar on the left: "these anti-Communist pro-democracy activists do not meet the main ideology stream of America".

However, now the situation is changing. Although the appeasement policy still occupies the mainstream, the west economy is in recession due to its blood transfusion to the Communist countries over more than one decade. The so-called "free market economy" theory lost its battle against the not free market economy. While the business people of both West and East made super profits, the wage and salary earners did not get the benefit of the economic development. Instead of expansion, the market shrank, which is the root cause of the global economic recession. Thus, the Western countries started to realize this historic mistake and naturally will take measures to correct it. They should give up their appeasement policies with the Communist government, and restart a new confrontation and competition. They should start their confrontation from market protection first.

This change is the exterior condition that may force the new bureaucratic capitalist system of the Communist Party to reform, or to collapse. The overseas opposition has a main task beyond continuously using the media for positive mobilization of democracy and freedom. This new task, in cooperation with a market protection policy by the democratic countries, will be opposing the nationalism that will be mobilized by the Communist Party naturally. By borrowing the power from the international society, we could push for the reforms of the redistribution system, or political revolution in our own countries. This trade battle will not benefit the bureaucratic capitalism; yet will only be beneficial to the waged and salary workers and private capital of our countries, which is the best measure to push for democratic revolution and to avoid the disordered insurrection.

Finally, let me make it clear, under an environment without basic free speech and free media, yet with a matured economic system of bureaucratic capitalism, the so called "colour revolution of peace, rational and non-violence" could be only a trick of deceive; to the best is a good fantasy that cannot be realized.

http://www.asianews.it/news-en/Wei-Jingsheng:-China-and-Vietnam,-economic-giants-on-the-brink-of-change-or-collapse-17482.html

TIN KHẨN CẤP: 3 SINH VIÊN CÔNG GIÁO VINH Ở HÀ NỘI ĐẾN THĂM ĐỒNG CHIÊM BỊ CÔNG AN ĐÁNH ĐẬP VÀ BẮT ĐI LÚC 11:30 TỐI (GIỜ VIỆT NAM) NGÀY 30/01/2010


Khổ nạn mà người công giáo Việt Nam đang gánh chịu. Thế giới bất lực trước sự lộng hành của bè lũ vô thần gian ác!.

3 sinh viên Công giáo Vinh ở Hà Nội đến thăm Đồng Chiêm bị công an đánh đập và bắt đi

VietCatholic News
30 Jan 2010

HÀ NỘI - Thông tin chúng tôi mới nhận được cho biết hồi 11h30 đêm 30/1/2010, công an Hà Nội đã dẫn anh Antôn Trần Văn Sơn về phòng trọ để lục soát phòng trọ và đồ đạc. Tiếp theo đó, công an đã chụp ảnh, quay phim những phòng ở của sinh viên này, đồng thời bắt đi tiếp hai người ở cùng phòng với anh Sơn.

Hà Nội, ngày 30/1/2010

THÔNG BÁO KHẨN CẤP

Cộng đoàn Vinh tại Hà Nội xin thông báo: Sinh viên An tôn Trần Văn Sơn bị CAHN bắt giữ và đánh đập vô cớ vào khoảng 10 h sáng nay 30/1/2010, tại xã An Tiến, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, trên đường thăm viếng Đồng Chiêm trở về.

Sinh viên An tôn Trần Văn Sơn, tu sinh Dòng Thánh Antôn Padua, quê ở xứ Kim Lâm, xã Vượng Lộc – huyện Can Lộc – tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang học tại Trường Trung cấp Y-Dược Lê Hữu Trác, quận Hoàng Mai, Hà Nội.

Khoảng 8 h sáng 30/1/2010 ba tu sinh sang thăm giáo xứ Đồng Chiêm. Sau khi viếng Mình Thánh Chúa và cầu nguyện tại nhà thờ các bạn lên đường trở về Hà Nội. Khi đến khu vực xã An Tiến, cách Đồng Chiêm khoảng 1 km, thì bị Công an chặn bắt và đánh đập. Anh Antôn Trần Văn Sơn đã chạy xuống bờ mương để tránh đòn, nhưng CA tiếp tục huy động nhân viên để chặn bắt rồi đưa về UBND xã An Tiến.

Công an yêu cầu xuất trình giấy tờ và khi các bạn đưa giấy tờ ra UBND xã thì công an đã đưa anh Sơn đi đâu mất. Nghe nói công an đã đưa bạn Sơn lên huyện Mỹ Đức. Hiện nay chúng tôi không thể liên lạc được với anh.

Trong tình hiệp thông liên đới của các sinh viên trong Cộng đoàn Vinh tại Hà Nội, chúng ta ra sức cầu nguyện cho anh Antôn Trần Văn Sơn, một thành viên hiền lành và đức độ của Cộng đoàn Vinh, được bình an và can đảm làm chứng cho Chúa, đồng thời chúng ta sẽ cùng nhau làm những gì cần thiết cho anh Antôn Trần Văn Sơn, được an toàn và sớm được trả tự do.

ĐẠI DIỆN CỘNG ĐOÀN VINH TẠI HÀ NỘI
Lm Gioan Lưu Ngọc Quỳnh, Linh hướng Cộng đoàn Vinh tại Hà Nội
Giuse Nguyễn Văn Thống, Trưởng Cộng đoàn Vinh

Sau đây là Tuyên cáo phản đối bắt người trái phép của Cộng Đoàn Vinh tại Hà Nội:

XEM VIDEO CUỐI TUẦN GIẢI TRÍ

Hai lão già thất bại!

Triết Học và Lễ Cưới: Con Vẹt



Diễm xưa - Lee Kirby

CẢNH KINH HOÀNG, ĂN THỊT CON CÁ CÒN SỐNG - KỸ THUẬT CHẾ BIẾN GÀ CHẾT CỦA NGƯỜI HOA LỤC - CƯỚP GÀ DỊCH TẠI VIỆT NAM


Con cá đang nằm trên đĩa có phần đầu còn đang sống và thở, được người Hoa ăn ngon lành! Ảnh trích từ Youtube video kèm theo dưới đây.

CẢNH KINH HOÀNG: ĂN THỊT CON CÁ CÒN SỐNG

By Ben Leach - Telegraph.co.uk
http://www.telegraph.co.uk/news/newstopics/howaboutthat/6595481/Chinese-diners-eat-live-fish-in-YouTube-video.html

Người Tàu nổi tiếng về nhiều cách ăn uống nhiêu khê, kỳ quặc như ăn não khỉ sống, thịt chuột, thịt chó, rắn, kỳ đà, hay nuốt sống chuột bao tử v.v...; sau đây là điển hình được ghi nhận tại các nhà hàng của người Hoa.

Đoạn phim dưới đây ghi lại cảnh con cá bị nấu chín phần giữa nhưng phần đầu vẫn còn sống và vẫn còn thở, được đặt trên một đĩa lớn có nước chấm. Con cá đang được thực khách gắp ăn và cười đùa tỉnh bơ. Các tay đầu bếp cho biết là phải rất khéo léo bọc đầu con cá vào vải ướt nhúng nước đá, nấu sơ qua, rồi lại nhúng đầu cá vào nước đá một lần nữa trước khi nêm nếm tẩm ướp phần thân cá, và cuối cùng thì chiên con cá sao cho đầu cá vẫn còn sống!!!



Đoạn video này sau khi được đưa lên Internet đã thu hút trên 120,000 lần người xem trong ngay tuần lễ đầu tiên, và đã bị các hội bảo vệ động vật trên thế giới lên án kịch liệt vì sự dã man của nó, tuy nhiên người Hoa vẫn tỉnh bơ và cho đó là nét đặc biệt của văn hóa Trung Hoa!!!

**********************************************************************************

KỸ THUẬT CHẾ BIẾN GÀ CHẾT CỦA NGƯỜI HOA LỤC


Rạng sáng sớm, người đàn ông này ngày ngày lái xe máy đi thu mua gà chết


Đang hỏi xem có gà "chết" không?


Tổng cộng có khoảng 5 người lái xe đi thu mua gà chết cho 1 ông chủ như thế này


Mỗi con gà chết được thu mua với giá 1 tệ và sẽ được bán với giá 9 tệ sau khi chế biến


Nơi để gà là "sân"


Ngổn ngang mọi nơi

trên sàn nhà thì....


Có 4 người chuyên nhúng gà vào nước sôi và vặt lông


Vặt lại lông măng


Dùng xà phòng và thuốc tẩy để làm sạch


Đi dép trên sàn nhà, gà thì đang được tẩm mầu


Trông gà đã khá là đẹp sau khi tẩm mầu


Và đã sẵn sàng để rán và thưởng thức!

TRANH NHAU CƯỚP GÀ DỊCH ĐEM ĐI TIÊU HỦY

Còn tại Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa thì cũng xẩy ra những cảnh hết sức đau lòng do cuộc sống của người dân quá sức bần cùng, đói khổ dưới cái thiên đường cộng sản! May thay, dù sao thì những người dân Việt đói khổ này cũng chỉ cướp lấy gà sống còn gà chết thì bỏ lại cho nhà nước tiêu hủy, chứ không đến nỗi ăn cả gà chết như Tàu cộng, xin đọc bản tin sau đây sẽ rõ.

Đổ xô đi cướp gà tiêu hủy
Source: anninhthudo

Chi cục Thú y Hà Nội cho biết, vào 4h sáng 5-2-2009, chốt kiểm dịch liên ngành tại Ba La (Hà Đông) đã phát hiện và bắt giữ 1 xe ôtô BKS: 34L-7612 vận chuyển gia cầm không có giấy kiểm dịch. Lực lượng liên ngành tiến hành kiểm tra phát hiện, trên xe có 1.500 con gà thịt, trọng lượng khoảng 3 tấn, giấy kiểm dịch đã bị chữa ngày tháng. Lực lượng liên ngành đã quyết định tiêu hủy số gà này.


Nhảy cả xuống hố chôn gà để cướp gà!

Chiều cùng ngày, số gia cầm bị bắt giữ trên đã được chở đến bãi cát xã Hồng Vân (Thường Tín) để tổ chức tiêu hủy. Tuy nhiên, tại đây, khi lực lượng chuyên ngành bắt đầu đưa gà xuống hố để chôn theo quy định thì người dân địa phương đã đổ xô vào cướp gà. Do lực lượng chức năng quá ít, trong khi người dân lại đông nên đành… bó tay.


Leo cả lên xe để cướp gà trước sự bất lực của lực lượng chức năng…

Người ta nhảy cả xuống hố để lấy gà, ném lên cho người bên trên cho vào bao tải. Tiếp đến, người dân đổ xô vây lấy xe chở gà và trèo lên xe để cướp. Thậm chí, để tiện cho việc lấy gà, có người dân đã leo lên ca bin và lái luôn chiếc xe chở gà ra giữa bãi cát. Và, 1.500 con gà không giấy tờ kiểm dịch bị bắt giữ đi tiêu hủy nhưng lượng tiêu hủy không được 20%. Khắp nơi, những con gà chết bị bỏ lại vương vãi.

Việc tiêu hủy gia súc, gia cầm mang bệnh rất cần sự vào cuộc của chính quyền sở tại. Song, chính quyền địa phương lại không có động thái nào trước sự việc này.

(Anninhthudo)

GIỜ HÀNH ĐỘNG ĐỂ GIẢI TRỪ QUỐC NẠN CỘNG SẢN: NĂM HẾT TẾT ĐẾN TINH SỔ KIỀU HỐI VỚI CSVN

Mỗi đồng bạc chúng ta gởi về nước có thể trở thành những viên đạn bắn vào đồng bào của chúng ta và nuôi dưỡng sự tồn tại của một chế độ độc tài tàn bạo, phản dân hại nước. Ảnh blingcheese

GIỜ HÀNH ĐỘNG ĐỂ GIẢI TRỪ QUỐC NẠN CỘNG SẢN: Năm hết Tết đến tính sổ kiều hối với CSVN
Source: lyhuong.net

Năm Dương lịch 2009 vừa mới đi qua, Tết Âm lịch sắp đến, chúng ta hãy xem xét lại yếu tố kiều hối đã tuồn về Việt Nam trong những năm qua.

Chữ “kiều hối” ở trong nước được dùng phổ biến và được hiểu là tiền từ nước ngoài gửi về cho người trong nước, thông thường là tiền của Việt kiều gởi về cho thân nhân. Những năm sau này kiều hối được bơm về nước còn do lực lượng xuất cảng lao động, hoặc gửi về hoặc mang theo khi về thăm nhà.

Lượng kiều hối chuyển về VN hàng năm tăng liên tục và tăng rõ rệt trong 10 năm qua. Năm 2000 được 1 tỷ USD, năm 2001 tăng lên 1.5 tỷ USD, năm 2002 lên hơn 2 tỷ USD, năm 2003 2.6 tỷ USD, năm 2004 3.8 tỷ USD, năm 2005 lên gần 4 tỷ USD, năm 2006 nhảy vọt lên 5.2 tỷ USD, năm 2007 lên trên 6 tỷ USD và năm 2008 đạt kỷ lục 7.2 tỷ USD.

Đó mới chỉ là lượng tiền chuyển về qua các cơ quan chính thức như ngân hàng hay các tổ chức chuyển tiền đúc kết được. Trên thực tế, con số thực lượng tiền gửi còn lớn hơn nhiều vì không ít người Việt ở nước ngoài chuyển tiền về VN qua các con đường không chính thức.

Nhưng năm 2009 là năm khó khăn chung cho thế giới và cho chính quyền CSVN. Khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và toàn cầu đã làm tác động đến nguồn ngoại tệ gửi về nước. Tình hình đưa người dân đi làm nô lệ ở nước ngoài mà VC gọi từ hoa mỹ là “xuất khẩu lao động” cũng gặp nhiều khó khăn trong năm qua. Theo Ngân hàng nhà nước của VC, tính đến ngày cuối tháng 12 năm 2009 lượng kiều hối chuyển về VN chỉ được 6.283 tỉ USD, giảm 12,8% so với năm 2008. Còn đối với thành phố HCM thì ông Nguyễn Hoàng Minh, phó thống đốc phía Nam của Ngân hàng Nhà nước cho biết kiều hối gởi qua các ngân hàng và đại lý chuyển tiền ở thành phố này chỉ vào khoảng 3.2 tỉ USD trong năm qua, giảm 20% so với năm trước.

Nhìn lại 19 năm qua, từ khi những đồng tiền đầu tiên của kiều bào được gửi về VN qua đường chính thức kể từ năm 1991, đến nay con số này đã vượt quá 30 tỷ USD chiếm hơn 70% số vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài (FDI - Foreign Direct Investment) tính từ năm 1988 và cao gấp rưỡi nguồn vốn Viện Trợ Phát Triển Kinh Tế (ODA - Official Development Assistance) được giải ngân từ năm 1993.

Những con số này mang một ý nghĩa rất lớn. Hàng tỷ đô la được chuyển vào VN hàng năm mà nhà cầm quyền CSVN hầu như chẳng tốn một đồng nào. Điều này khác hẳn với hoạt động xuất cảng được xem là nguồn thu ngoại tệ lớn cho quốc gia. Thống kê của Bộ Kế họach và Ðầu tư của CSVN cho hay kim ngạch xuất cảng cả nước trong năm 2009 đạt gần 57 tỷ Mỹ kim, nhưng để thu được khoản ngoại tệ này, VN tốn biết bao nhiêu là công sức và chi phí. Nếu loại bỏ những chi phí này, liệu ngành xuất cảng của VN thu được bao nhiêu lợi nhuận từ con số 57 tỷ Mỹ kim đó?

Nhận thức được giá trị của kiều hối, Đại Sứ Quán CSVN tại Mỹ đã không ngần ngại xác nhận: “Kiều hối là một nguồn lực quý giá theo nhiều nghĩa, là một kênh mang lại ngoại tệ mạnh cho đất nước mà không một kênh nào có thể sánh nổi về hiệu quả. Bởi vì ngoại tệ thu được từ xuất khẩu tuy rất quý nhưng xuất khẩu thì phải mất chi phí để sản xuất hàng, chi phí vận chuyển mang ra nước ngoài, lại còn phải chịu thuế nhập khẩu, chịu hạn ngạch, chịu kiện bán phá giá, chi phí tiếp thị, quảng cáo …” [*]

Đại Sứ Quán ngớ ngẩn ‘thành thật khai báo’: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ta được lợi về thuế, giải quyết được công ăn việc làm, tiếp thu công nghệ tiên tiến, học được kinh nghiệm quản lý... nhưng vốn là của nhà tư bản nước ngoài, lãi họ hưởng, nếu họ không xuất khẩu thì còn cạnh tranh với hàng hóa cùng loại sản xuất trong nước. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cũng rất quý, nhưng hơn 90% là vốn vay, dù được vay trong thời gian dài, lãi suất thấp, lại có thời gian ân hạn, nhưng việc giải ngân không đơn giản, hơn nữa nếu xử dụng không hiệu quả thì vay mới sẽ cũng chỉ để trả nợ cũ và không chỉ để lại gánh nặng nợ nần cho con cháu mà ngay từ bây giờ đã phải trả những khoản lãi của những khoản nợ đầu tiên...” [*]

Rồi Đại Sứ Quán ma mãnh, môi miếng, không ngượng nghịu đánh động tình cảm của người Việt xa xứ: “Quan trọng hơn, nguồn kiều hối còn là tình cảm sâu nặng của bà con Việt kiều đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài đối với thân nhân và quê hương, đất nước” [*]

Người mình thường có câu “Đồng tiền liền khúc ruột”. Giờ đây CSVN thêm vào hai chữ nữa thành “Đồng tiền liền khúc ruột ngàn dặm”. Đúng vậy! Đồng tiền bây giờ đã đi liền với người Việt hải ngoại, đã không thể thiếu của hàng triệu “khúc ruột ngàn dặm” trên thế giới! Biết người quốc gia tự do đầy tình người, dù ở đâu cũng nghĩ đến bà con ruột thịt, chia xẻ miếng cơm manh áo với thân nhân đang sống khó khăn và vất vả ở quê nhà nên CSVN những năm gần đây đã rất tích cực trong việc khai triển nhiều biện pháp nhằm ra sức chiêu dụ.

Trước đây nguồn kiều hối gởi về nước chủ yếu là từ những người vượt biên nhằm giúp đỡ thân nhân, đáp ứng nhu cầu mưu sinh, giờ đây nó tăng mạnh vì nhiều nguyên nhân khác. Trước nhất, là do lực lương lao động xuất cảng ngày càng tăng. Thứ đến, đó là sự phát triển của các hoạt động kinh tế như thị trường làm ăn buôn bán, thị trường nhà đất, thị trường chứng khoán, … với mức lợi nhuận tăng cao đã dẫn dụ kiều bào nhẹ dạ gửi tiền về đầu tư, thông qua thân nhân trong nước. Lượng tiền do người Việt định cư ở nước ngoài gửi về đang có xu hướng giảm, trong khi đó người đi xuất cảng lao động gửi về lại tăng lên. Việc đẩy mạnh hoạt động xuất cảng lao động cũng giúp nguồn tiền này gửi về nước ngày một nhiều. Việt kiều ở hải ngoại phần lớn trước kia sống ở thành phố nên tiền chuyển về đổ về các đô thị lớn. Trong khi đó, thành phần xuất cảng lao động thường là những người ở xa thành phố nên tiền gởi về được đổ vào khu vực nông thôn, “cải thiện” đời sống và “Xoá Đói Giảm Nghèo” những khu vực này.

Hiện có khoảng 4 triệu Việt kiều sinh sống ở nước ngoài. Trong số này, có 1.5 triệu ở Hoa Kỳ, 300 ngàn ở Pháp, 250 ngàn ở Úc và 200 ngàn ở Canada. Theo Cục quản lý Lao động ngoài nước của CSVN, hiện có gần 500 ngàn người Việt đang lao động tại hơn 30 quốc gia trên thế giới. Ở một số nước mới có người Việt lao động bắt đầu từ năm 2005 như Đài Loan, Nhật Bản, Đại Hàn và Mã Lai thì kiều hối chủ yếu tập trung chuyển về những khu vực nông thôn. Đây là những thị trường “xuất cảng lao động” lớn của VN trong những năm gần đây. Kiều hối từ những thị trường này trực tiếp giúp đời sống gia đình của người đi xuất cảng lao động. Với những thị trường lâu năm như Mỹ, Canada, Pháp, Đức và Úc thì kiều hối lại đóng vai trò dẫn vốn đầu tư vào những lãnh vực kinh doanh trong nước.

Dựa theo phúc trình của Vụ tổng hợp kinh tế Bộ Ngoại Giao, một bản tin trên báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 28 tháng 5 năm 2009 xác nhận con số thống kê lúc nào cũng ít hơn con số thực và ước đoán tiền Việt kiều gửi về năm 2007 có thể là tới 10 tỷ Mỹ kim, vượt xa 3 tỷ Mỹ kim tiền ODA và 5 tỷ Mỹ kim vốn FDI. Bài báo sửng sốt xác nhận “người ta phải kinh ngạc về tiềm lực kinh tế của người Việt Nam đang sinh sống tại nước ngoài”. Nói như vậy để thấy tiềm năng của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại vô cùng to lớn!

Hàng năm số ngoại tệ tuôn về VN tính ra là một con số khổng lồ. Hàng tỷ đô la chui về đều đặn và tăng dần hàng năm ấy trước sau gì cũng chạy tọt vào túi riêng của các quan chức nhà nước. Số tiền khổng lồ không thể tưởng tượng nổi này như từ trên trời rơi xuống nuôi dưỡng chế độ. Lượng tiền gởi về mỗi năm mỗi tăng mà vẫn chưa vừa lòng tham của tập đoàn lãnh đạo. Chúng vẫn bằng cách này hay cách khác ra sức bòn rút và ngang nhiên ngồi hưởng trên mồ hôi và công sức làm việc ngày đêm của đồng bào hải ngoại.

Nếu không có ngoại tệ của “khúc ruột ngàn dặm” thì chế độ CSVN đã chết từ lâu. Người Việt hải ngoại biết vậy nhưng giải quyết bằng cách nào đây? Làm cách nào để thắt hầu bao và bóp họng chúng đây?



1. Không du lịch Việt Nam?

Không ai về VN du lịch, du hý và ăn chơi thì làm gì VC thâu được hàng tỷ đô la một năm? Không có con số công bố chính thức và cũng không thể thống kê chính xác nhưng theo ước đoán, mỗi năm có khoảng 1 triệu người về. Cứ đổ đồng mỗi người mang về chừng 10 ngàn đô để chi tiêu và cho thân nhân thì chúng sẽ mất số doanh thu hàng năm là 10 tỷ Mỹ kim.

2. Hạn chế tối đa việc giúp đỡ gia đình?

Vấn đề này thật đau lòng, nhức nhối và nan giải. Chúng ta không thể một sớm một chiều chấm dứt việc gởi tiền về giúp đỡ gia đình nhưng phải xét lại. Phải xét làm sao vừa đủ để cha mẹ già, anh em ruột thịt tạm sống qua ngày và hy sinh bóp bụng trong một thời gian. Tuyệt đối không bơm tiền cho thân nhân có phương tiện để phí phạm, vung vãi, đua đòi và ăn chơi ở các nơi suy đồi. Tùy theo hoàn cảnh của từng gia đình, nếu tất cả mọi người ở hải ngoại cùng một lòng cắt bớt một phần thì CSVN sẽ mất ngay một số ngoại tệ rất lớn. Làm được điều này là chúng ta đã thắng được sự dẫn dụ, khẩn khoản, van nài và cầu xin của CSVN nhằm móc hầu bao của người Việt hải ngoại rồi vậy.

3. Không làm việc thiện mù quáng

Không nhắm mắt, nhẹ dạ, thiếu suy nghĩ và thiếu suy xét làm việc thiện để tiền của và mồ hôi của những tấm lòng nhân ái của người Việt xa xứ tuồn vào túi của loài quỷ đỏ. Trường hợp cần thiết phải giúp một cá nhân hay một tổ chức nào, phải cân nhắc và đoan chắc việc làm của mình được thông qua người thân trong gia đình hay các nhà tu hành tin cẩn tại VN.

4. Tẩy chay các cơ sở kinh tài của Việt Cộng

Tẩy chay các văn phòng du lịch, các công ty xuất nhập cảng, các cửa tiệm bán thực phẩm, quần áo, đồ mỹ nghệ, … vì những cơ sở này huy động ngoại tệ cho CS Hà Nội, tạo điều kiện cho chế độ sống còn.

Vấn đề gởi tiền về VN là một việc tế nhị và khó giải quyết. Tuyệt đối không làm lợi cho CS nghe qua thì dễ nhưng chấm dứt một sớm một chiều lại không dễ thực hiện. Vậy phải làm thế nào? Tiếp tục gởi tiền về nuôi chế độ hay ngừng nuôi thân nhân? Tiền của người Việt hải ngoại chúng ta chuyển về VN dưới bất cứ hình thức hình thức nào, bằng cách này hay cách khác, hay qua các cơ sở kinh tài của tập đoàn CSVN đều làm làm lợi cho bọn chúng. Tiền của của chúng ta như bạch phiến và đảng CSVN như người nghiện. Nếu chúng ta dứt khoát và đồng loạt ngưng tiếp thuốc thì chúng sẽ dãy chết. Vũ khí lợi hại để đánh bại CSVN là đồng tiền của chúng ta. Vũ khí này cần phải đi kèm với sự đoàn kết của tất cả các thành phần trong cộng động người Việt hải ngoại. Hai hành động kinh tế và chính trị nầy nếu được phối hợp chặt chẽ, đồng loạt, quy mô và bằng tất cả sự quyết tâm của mọi người thì đảng CSVN sẽ, không sớm thì muộn, đi tới chỗ tiêu vong. Chúng ta cần phải ý thức sức mạnh của mình. Sức mạnh đó nếu được xử dụng đúng đắn sẽ mang lại kết quả thiết thực, chắc chắn sẽ góp phần vào việc thay đổi vận mệnh của đất nước theo đúng nguyện vọng của toàn dân.

Trần Việt Trình
23 tháng 1, 2010

[*] Kiều hối - Việt Nam đổi mới
http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20041013173232

*****************************************

BÀI ĐỌC THÊM:

1- Kiều hối chuyển về Việt Nam có nguy cơ sụt giảm trong năm 2009
Source: RFI

Trọng Nghĩa

Bài đăng ngày 07/09/2009

Các công ty chuyển ngân quốc tế đều có mặt tại Việt Nam như Western Union hay Moneygram

Năm 2008, Việt Nam đứng thứ 10 trên thế giới về kiều hối nhận được, với ít nhất 7,2 tỷ đô la. Năm 2009 lượng ngoại tệ ''cho không'' này có thể giảm từ 10% đến 20%. Một trong những nguyên nhân quan trọng là khủng hoảng kinh tế tác động mạnh đến Hoa Kỳ, nguồn kiếu hối chính gởi về Việt Nam. Từ California, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa phân tích về vai trò của kiều hối trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay.

*****************************************************

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới công bố vào trung tuần tháng 7/2009, Việt Nam đứng thứ 10 trong số các nước nhận được lượng kiều hối nhiều nhất trên thế giới vào năm 2008. Với tổng tri giá ước lượng là 7,2 tỷ đô la. Mức tăng này được đánh giá là đáng kể so với năm 2007, khi lượng kiều hối gởi về Việt Nam cũng đã rất khả quan, đạt 5,5 tỷ đô la, một khoản tiền mà theo Ngân hàng Thế giới tương đương với 8% GDP của Việt Nam.

Tuy nhiên trong năm 2009 này, tình hình sẽ xấu đi hơn do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động nặng nề đến các nước Âu Mỹ, nơi xuất phát của nguồn kiều hối gởi về các quốc gia đang phát triển. Ngân hàng Thế giới dự báo là tổng trị giá kiều hối nói chung sẽ giảm từ 7% đến 10%, trước khi vươn lên trở lại vào năm 2010 và 2011.

Ngân hàng Thế giới không đưa ra dự báo cụ thể cho Việt Nam, nhưng theo Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam thì tỷ lệ sụt giảm của kiều hối trong năm nay có thể xuống tới 20% so với năm ngoái. Trung tuần tháng 7 vừa qua, theo hãng Reuters, ông Nguyễn Quang Huy, Vụ trưởng Vụ Quản lý Ngoại hối thuộc Ngân hàng Trung Ương Việt Nam đã dự đoán là trong năm 2009, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam sẽ chỉ đạt từ 5,8 tỷ đến 6 tỷ đô la.

Dự báo của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam xuất phát từ tình hình thực tế là trong 6 tháng đầu năm nay, lượng kiều hối mà Việt Nam nhận được chỉ là 2,83 tỷ đô la.

Giải thích về nguyên nhân khiến cho kiều hối chuyển về Việt Nam giảm sút, giới quan sát đã nêu bật yếu tố khủng hoảng toàn cầu. Kiều hối nói chung xuất phát từ hai nguồn chính : tiền dành dụm của người Việt Nam trong nước đi xuất khẩu lao động gởi về cho gia đình, và tiền của người Việt định cư ở nước ngoài gởi về giúp đỡ thân nhân trong nước.

Do khủng hoảng kinh tế, nhiều nước trước đây thu nhận nhiều lao động Việt Nam đã bắt đầu sa thải nhân viên có sẵn, hay đình chỉ việc thu nhận nhân công mới. Hệ quả là nguồn kiều hối đến từ giới này cạn dần. Theo một ghi nhận của chính bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam vào đầu tháng 9, thì trong 8 tháng đầu năm nay, mới chỉ có hơn 45.000 lao động Việt Nam được gởi ra nước ngoài làm việc, trong lúc chỉ tiêu toàn năm của Nhà nước là xuất khẩu được 90.000 lao động. Trước đó, báo chí Việt Nam liên tục loan tin về những trường hợp công nhân Việt Nam từ Malaysia, Đài Loan, Nhật Bản, Cộng Hoà Séc, Slovakia... phải hồi hương vì bị mất công ăn việc làm.

Tuy nhiên, số tiền gởi về nước của các lao động Việt Nam hiện ở nước ngoài chỉ chiếm một phần nhỏ trong số kiều hối gởi về nước. Theo nhật báo Mỹ Wall Street Journal, gần 2 phần ba lượng kiều hối mà Việt Nam nhận được trong thời gian qua đến từ Hoa Kỳ, nơi có một cộng đồng người Việt hải ngoại đông đảo. Kinh tế Hoa Kỳ đang trải qua một giai đoạn khó khăn, nạn thất nghiệp gia tăng, các yếu tố này tất nhiên tác động đến lượng tiền gởi về Việt Nam. Theo Wall Street Journal, chính quyền Mỹ đã ước tính là kiều hối mà cộng đồng người Việt tại Mỹ chuyển về Việt Nam trong năm nay có thể giảm khoảng 10%.

Cho dù sút giảm, nhưng kiều hối vẫn được xem là một nguồn ngoại tệ quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam hiện nay, đặc biệt là trong bối cảnh đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam được dự báo sẽ sút giảm mạnh. Chỉ tiêu chính phủ Việt Nam đề ra cho năm 2009 này là 20 tỷ đô la đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép, không bằng 1/3 số liệu của năm ngoái (hơn 66 tỷ đô la).

Trong tình hình như vừa kể, khả năng kiều hối giảm sút trong năm nay không chỉ gây khó khăn cho những gia đình ở Việt Nam là người nhận số tiền này, mà còn có thể ảnh hưởng đến nguồn ngoại tệ mà nền kinh tế Việt Nam đang cần. Trả lời phỏng vấn của Ban Việt ngữ RFI, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại California đã giải thích rõ hơn về ích lợI và vị trí của kiều hối trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay.

Nghe phỏng vấn chuyên gia Kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại California


Trọng Nghĩa: Thân chào anh Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa anh, theo các số liệu của Ngân hàng Thế giới thì từ năm 2001 đến nay, lượng kiều hồi gởi về Việt Nam đã tăng thường xuyên, đạt 7,2 tỷ đô la Mỹ trong năm 2008. Nhưng năm 2009 này, cũng theo Ngân Hàng Thế Giới thì lượng tiền này có thể giảm sụt. Trước hết, xin anh cho biết kiều hối là gì và giúp ích gì cho kinh tế Việt Nam?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Có ba cách nhìn vào sự việc Việt Nam vẫn nhận được một nguồn ngoại tệ do thân nhân gửi về cho mà không đòi hoàn lại.

- Thứ nhất, trong quan hệ giữa các nền kinh tế, Việt Nam có thể thu ngoại tệ nhờ ba ngả chính là thứ nhất qua xuất nhập khẩu; thứ hai là do đầu tư từ nước ngoài đổ vào với hy vọng kiếm lời; thứ ba là do người Việt từ bên ngoài gửi về cho gia đình mà không chờ đợi sẽ được hoàn lại, tức là một hình thức kinh tế gọi là “tặng dữ”.

- Cách nhìn thứ hai là về các khoản tiền từ ngoài đem vào Việt Nam với tính cách tặng dữ này. Việt Nam được nhiều quốc gia viện trợ, tiền viện trợ ấy có thể là cho không vì mục tiêu nhân đạo nhưng không nhiều; hoặc có thể là cho vay dài hạn và nhẹ lãi, gọi là viện trợ phát triển như ODA - viện trợ chính thức - khi yếu tố cho không này phải tối thiểu là 25%. Người ta tính ra "yếu tố tặng dữ" đó khi so sánh lãi suất rất thấp, thời hạn cho vay rất lâu với sự mất giá của đồng bạc trong thời hạn hoàn trả này. Bây giờ, không phải là một quốc gia mà là cộng đồng người Việt gửi tiền về nhà với mục đích tặng dữ coi như 100%. Trong số này, ta không kể loại tiền bạc người Việt đem về giúp thân nhân mở cơ sở làm ăn, là một hình thức đầu tư từ nước ngoài.

Nói chung trên toàn thế giới thì từ năm 1996 trở về sau, lượng tiền tặng dữ ấy đã vượt qua số tiền viện trợ chính thức của các nước giàu cho các nước nghèo. Cho nên các nước giàu đã quan tâm theo dõi và đặt ra chính sách nâng đỡ vì là tiền viện trợ của tư nhân cho tư nhân thay vì chính phủ phải lấy tiền thuế của dân viện trợ cho xứ khác thì bị ràng buộc rất nhiều.

- Cách nhìn thứ ba là khi ta so sánh với nhiều xứ khác. Đa số các nước trên thế giới mà nhận được tiền gọi là "kiều hối" là do người bản xứ đi lao động ở nước ngoài rồi gửi về cho gia đình. Riêng lực lượng lao động ở nước ngoài của Việt Nam, tại vài nước như Đông Á, Trung Đông hay Đông Âu, thật ra không đông. Khoản tiền họ gửi về không nhiều và suốt năm qua, cuộc sống và việc làm của họ còn bấp bênh, và nhiều người đã bị trả về. Cho nên nguồn tiền gửi về chủ yếu là do cộng đồng người Việt, đa số là dân tỵ nạn đã thụ đắc quốc tịch nước ngoài và sẽ sống vĩnh viễn tại nước ngoài nên không thể gọi họ là "Việt kiều" được.

Trọng Nghĩa: Vị trí của nguồn tiền do người Việt ở nước ngoài gởi về cho thân nhân ở trong nước như thế nào so với các nguồn ngoại tệ khác dồn vào Việt Nam?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Về ngoại thương, Việt Nam đang bị nhập siêu đến hơn 16%, tức là nhập nhiều hơn là xuất cảng, nên bị thiếu hụt ngoại tệ. Trong sáu tháng đầu năm thì hụt mất ba tỷ tư. Tình trạng này đang bào mỏng khối dự trữ ngoại tệ của ViệtNam và gây khó khăn về ngoại hối làm đồng bạc bị sụt giá. Thứ hai, lượng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào cũng giảm mạnh và số cam kết trong sáu tháng đầu năm chỉ còn chừng 10 tỷ, quy ra cả năm thì được hơn 17 tỷ, chỉ bằng 26% của năm ngoái. Cam kết rồi, nhà đầu tư mới bỏ tiền khởi công sau đó thì tiền giải ngân trong sáu tháng đầu năm mới chỉ có bốn tỷ sáu, quy ra toàn năm thì được tám tỷ là may, so với năm ngoái thì sụt hơn 30%. Thứ ba, Việt Nam có được các nước cam kết viện trợ chừng năm tỷ đô la, nhưng vì ách tắc của mình nên sổ giải ngân nhận được chỉ bằng phân nửa, tức là hơn hai tỷ đô la. Bây giờ, người Việt ở ngoài mà gửi về sáu bảy tỷ đô la như một khoản viện trợ miễn phí, thì đấy là một nguồn lợi đáng kể về kinh tế.

- Nhìn cách khác, khi Việt Nam nói là đã đạt tốc độ tăng trưởng là 7% cho một nền kinh tế có sản lượng chừng 90 tỷ đô la theo cách tính mới nhất của Quỹ Tiền tệ Quốc tế FMI - tức là làm giàu thêm được hơn sáu tỷ đô la - thì sự giàu có phụ trội này xuất phát từ nguồn viện trợ miễn phí của người nước ngoài gửi về cho thân nhân ở nhà!

Trọng Nghĩa: Nhiều người cho rằng lượng kiều hối chính thức thống kê được thấp hơn so với thực tế. Nhận xét này có đúng không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Đúng như vậy. Số liệu ước lượng cho năm ngoái có thể đã lên tới tám tỷ đô la chứ không phải bảy tỷ hai như Ngân hàng Thế giới mới công bố hôm 13 tháng Bảy. Thứ nữa, đấy là những khoản tiền gửi chính thức qua nhiều ngả khác nhau có được bút ghi hẳn hoi, chứ ta không quên nhiều cách chuyển khác qua ngả không chính thức và càng không quên là hàng năm, mấy trăm ngàn người từ bên ngoài về thăm nhà cũng trực tiếp đem tiền làm quà cho thân nhân, giả dụ như mỗi người chừng ngàn đô la chia cho cả đại gia đình. Những số tiền ấy tất không được ghi trong sổ sách ngân hàng hay thống kê nhà nước, cho nên số tiền tặng dữ này thật ra rất cao, năm ngoái thì xấp xỉ 10 tỷ chứ không ít và tối thiểu cũng hơn 10% Tổng sản lượng Nội địa PIB hay GDP.

Trọng Nghĩa: Xin anh nói về xuất xứ của nguồn tiền đó. Nơi nào gửi tiền về nhiều nhất, có phải là Hoa Kỳ không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Theo số ước lượng của các ngân hàng hay công ty chuyển tiền chính thức thì từ 75 đến 80% số tặng dữ xuất phát từ cộng đồng người Việt tại Mỹ. Người Việt tại Mỹ có dân số gần hai triệu, bằng hai phần ba dân số người Việt ở nước ngoài, họ lại có lợi tức trung bình ngang ngửa với người Mỹ da trắng và như vậy là khá cao so với người Việt nơi khác. Trong thành phần người Việt tại Mỹ thì có lẽ dân Việt ở California - tiểu bang có mật độ cao nhất - gửi về bằng gần 80% số tiền từ Mỹ gửi về, là hơn 60% tổng số tặng dữ gửi từ nước ngoài về.

- Cũng nói về xuất xứ, đa số lượng tiền tặng dữ không gửi qua hệ thống ngân hàng mà qua các hãng chuyển tiền quốc tế, tư nhân gốc Việt hay đường dây riêng nên thường cao hơn con số chính thức. Thành phần lao động ở nước ngoài có thể vẫn gửi qua hệ thống ngân hàng và bị kiểm soát kỹ từ gốc, chứ các thành phần kia thì không mấy tin vào ngân hàng trong nước nên tìm ngả nhanh gọn, kín đáo và đáng tin hơn, chưa kể là hoa hồng còn rẻ hơn.

Trọng Nghĩa: Số tiền viện trợ ấy tất nhiên có ích cho nền kinh tế và xã hội, nhưng một cách cụ thể thì ích lợi như thế nào?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ta không quên Việt Nam vẫn là một nước nghèo, có những địa phương chậm phát triển, và nói chung còn thiếu nhiều dịch vụ an sinh, y tế hay xã hội. Về mặt xã hội đó, ta cũng cần phân biệt là tiền của giới lao động ở nước ngoài gửi về có thể ít hơn mà phân tán rộng hơn tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam, trong khi tặng dữ nhiều gấp bội của người Việt hải ngoại lại tập trung vào các tỉnh miền Nam và các thành phố lớn. Hiện tượng ấy có góp phần đào sâu hơn nữa dị biệt về lợi tức của từng vùng là một việc ta cần nghiên cứu thêm. Bây giờ, khi dân trong nước bị sụt lương, thất nghiệp hoặc đau ốm, lao động ở nước ngoài lại mất việc hoặc bị trả về thì nguồn tiền của cộng đồng ở hải ngoại mới là sự cấp cứu nhanh gọn và cấp thiết nhất.

Trọng Nghĩa: Trong hoàn cảnh khó khăn kinh tế hiện nay trên toàn thế giới, lượng kiều hối gởi về Việt Nam chắc chắn sẽ giảm sút, mức giảm có thể là bao nhiêu?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ta khó biết trước được con số của năm 2009, nhưng cứ theo tình hình kinh tế sa sút của các nước xuất xứ như Mỹ, Âu hay Úc hay Canada và hoàn cảnh khó khăn của người Việt tại đó thì lượng tiền tặng dữ có thể giảm ít ra phân nửa. Riêng tại Mỹ thì tính đến nay đã giảm chừng 40% so với cả năm ngoái. Nếu tổng cộng được năm tỷ đô la là mừng vì kinh tế của các xứ này, nhất là tại Mỹ, phải hồi phục trước thì năm sáu tháng sau cộng đồng người Việt tại đấy mới dễ thở, kiếm ra việc làm để rồi tiếp tục gửi tiền về cho thân nhân. Vì vậy, từ nay đến cuối năm, tiền tặng dữ qua ngả chính thức sẽ còn giảm, nhưng đấy chưa là vấn đề.

Trọng Nghĩa: Thế vấn đề là gì ?Phải chăng vì nhà nước Việt Nam định giá đồng bạc quá thấp cho hàng rẻ để dễ xuất khẩu nên người ở nhà nhận đối giá tiền Việt quá ít làm cho người ta ngần ngại trong vấn đề gởi tiền về Việt Nam?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ tỷ giá đồng bạc chỉ là vấn đề nhỏ thôi vì đô la Mỹ vẫn còn lên giá. Vấn đề nó nằm ở chỗ luồng tư bản biết chảy ngược và xuôi - chảy vào rồi chảy ra.

- Một thí dụ là khi gửi tiền về nhà, ở ngoài phải trả hoa hồng chừng 1%, từ Việt Nam gửi ra thì mất 5% trị giá số tiền gửi. Điều ấy cho thấy là vẫn có người gửi tiền ra ngoài. Họ là ai? Tất nhiên không là bà con vất vả của những người có từ tâm ở hải ngoại gửi tiền về. Họ là đại gia có tiền. Ta cần thấy nhiều trường hợp mà tiền gửi về nhà chỉ được bút ghi trong sổ mà vẫn nằm ở ngoài vì cơ sở trung gian không bỏ tiền ấy vào cặp đem về đưa người thừa hưởng ở nhà. Trong khi đó, đối tác ở nhà của cơ sở trung gian lại nhận tiền của ai khác để trao lại cho người thừa hưởng. Vì thế, nghiệp vụ chuyển tiền có hai chiều, tiền gửi về nhà cũng là cơ hội cho người ở nhà chuyển tiền ra ngoài! Ở nhà, người nhận và người gửi tiền ra ngoài là hai thành phần khác nhau. Con số bảy tám tỷ gửi về có thể là tặng dữ cho nhiều gia đình đỡ khổ, nhưng đối giá của nó lại là tiền mà kinh tế học gọi là "tẩu tán tư bản" hay "fuite des capitaux", là tiền được rút chạy khỏi Việt Nam. Bây giờ, khi kinh tế bên ngoài sa sút, một số gia đình ở nhà có thể bị lao đao chứ người có chức có quyền, tức là có tiền, thì vẫn không thiếu cách đem tiền ra ngoài, có khi gọi đó là đầu tư! Nhìn lại thì nếu sản lượng kinh tế Việt Nam có gia tăng 6-7% mà lại chỉ bằng với số tiền tặng dữ từ ngoài gửi về thì ta thấy ra một lượng thất thoát tư bản cũng ở khoảng đó. Và đấy mới là vấn đề!

***********************************************************************

2- Kiều hối về VN năm qua giảm
Source: BBC Vietnamese

Tiền kiều hối gửi về Việt Nam năm 2009 giảm đi 20% sau năm kỷ lục 2008 vì kinh tế toàn cầu tác động đến các nước có người Việt sinh sống và làm ăn.

Theo nguồn tin của Thông tấn xã Việt Nam trích quan chức nhà nước Việt Nam, tổng kết năm 2009 cho thấy kiều hối về Việt Nam giảm nhiều so với 2008.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thuý được trích lời nói việc sút giảm này là không tránh khỏi, một phần vì tỉ lệ thất nghiệp tăng tại các nước có kiều dân Việt Nam sinh sống.

Còn ông Nguyễn Hoàng Minh, phó thống đốc phía Nam của Ngân hàng Nhà nước tại TP Hồ Chí Minh nói kiều hối qua các ngân hàng và đại lý chuyển tiền ở thành phố này chỉ vào khoảng 3,2 tỉ USD trong năm qua, giảm 20% so với 2008.

Truyền thông Việt Nam đưa ra là trong cả năm 2009, kiều hối về nước chỉ đạt 6-6,8 tỉ USD, thấp hơn so với con số ước tính từ 7,2 đến 8 tỉ năm 2008.

Tuy nhiên, hiện chưa có con số kiều hối gửi theo đường không chính thức tăng hay giảm bao nhiêu trong năm.

Tin vừa qua chỉ xác nhận những gì giới ngân hàng Việt Nam đã đưa ra hồi tháng 10 năm qua, rằng Bấm kiều hối giảm mạnh.

Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước ở TP HCM trong tháng 10 tiếp tục giảm 8,07% so với tháng 9, chỉ đạt gần 260 triệu USD.

Cũng vào thời điểm đó, tuy kiều hối chuyển qua hệ thống ngân hàng giảm 16,1% nhưng tiền chuyển qua các công ty lại tăng nhẹ.

Theo ngân hàng, mười tháng đầu năm 2009 lượng kiều hối chuyển về TP.HCM đạt gần 2,6 tỉ USD, bằng 60% so với năm 2008.

Tác động toàn cầu

Các nước có đông Việt kiều, chủ yếu gửi tiền về các tỉnh Nam Việt Nam là Hoa Kỳ, Úc, Canada và khu vực Tây Âu.

Có vẻ như năm 2008 lượng kiều hồi gửi về Việt Nam là cao nhất từ trước đệ́n nay.

Tính đến tháng 12/2008, lượng kiều hối gửi về Việt Nam đạt chừng 8 tỉ USD, tăng 2.5 tỉ USD so với năm 2007.

Nhưng năm 2009 là năm khó khăn và Việt Nam đã vất vả để giữ mức tăng trưởng kinh tế.

Hồi tháng 9/2009, khi loan báo cho Việt Nam vay 500 triệu USD để kích thích kinh tế, Ngân hàng Phát triển châu Á ( ADB ) nói khoản vay sẽ giúp Việt Nam đối phó với ảnh hưởng của tình trạng khó khăn kinh tế toàn cầu.

Thông cáo của ngân hàng nói Việt Nam đang chịu hậu quả nặng nề khi đầu tư trực tiếp từ nước ngoài giảm, xuất khẩu và kiều hối cũng đi xuống.

Một điều tra của đài BBC công bố tháng 9/2009 cho thấy cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu đã tác động đến dòng kiều hối gửi về các nước như Mexico hay Moldova.

Ấn Độ là nước nhận kiều hối lớn nhất với người Ấn Độ trên toàn cầu gửi về nước khoảng 45 tỉ USD năm 2008.

Sau Ấn Độ là Trung Quốc và Mexico, nếu xét về tổng mức tiền gửi về những nước này.

Việt Nam cũng đứng cao tại châu Á trong số các nước nhận kiều hối, cả từ các Việt kiều lẫn lao động Việt Nam ở nước ngoài, chủ yếu tại châu Á.

Kinh tế nhiều quốc gia đang phát triển phụ thuộc nhiều vào nguồn kiều hối.

Kinh tế gia từ Ngân hàng Thế giới, ông Dilip Ratha nói tại Trung Á, Tajikistan đứng đầu bảng các nước phụ thuộc vào tiền gửi về quê trong năm 2008, với 45% kinh tế địa phương là do kiều hối hỗ trợ.

Nước nhỏ ở Đông Âu là Moldova có gần 40% dòng tiền mặt là kiều hối, và Lesotho ở nam Phi nhận gần 30%.

***********************************************************************

3- Kiều hối về TP.HCM tiếp tục giảm
Source: BBC Vietnamese

Ngân hàng Nhà nước TP.HCM cho biết kiều hối chuyển về thành phố trong tháng 10 tiếp tục giảm 8,07% so với tháng 9, chỉ đạt gần 260 triệu USD.

Trong đó kiều hối chuyển qua hệ thống ngân hàng giảm 16,1% nhưng chuyển qua các công ty lại tăng nhẹ.

Theo ngân hàng, mười tháng đầu năm 2009 kiều hối chuyển về TP.HCM đạt gần 2,6 tỉ USD, bằng 60% so với năm 2008.

Cũng theo ngân hàng này, nếu so với con số kiều hối thông qua các ngân hàng trên địa bàn TP.HCM đạt được năm ngoái là trên 4 tỷ USD thì khả năng năm nay sẽ khó đạt được con số này.

Nguyên nhân theo các chuyên gia do khủng hoảng kinh tế khiến thu nhập của Việt kiều và lao động Việt Nam tại nước ngoài giảm sút nên kiều hối cũng bị ảnh hưởng.

Tuy vậy nhiều người tin rằng kiều hối trên thị trường “ngầm” vẫn lớn hơn rất nhiều so với con số mà Nhà nước đã thống kê được.

Nhu cầu thay đổi

Giới chức ngân hàng tin rằng bên cạnh lý do khách quan làm giảm, kiều hối chỉ có thể phát triển mạnh khi có hệ thống chi trả rộng khắp và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân.

Thực tế cho thấy, đối với những người nước ngoài đi du lịch hoặc đang sinh sống tại Việt Nam cũng có nhu cầu nhận kiều hối từ thân nhân.

Tại nhiều nơi trên thế giới, dỉ nhiên điều họ mong muốn là nhận tiền tại bất kỳ điểm giao dịch nào thuận tiện như khách sạn, nhà hàng, siêu thị v.v...

Các ngân hàng ở Việt Nam cũng đã bung ra nhiều điểm giao dịch nhưng chưa đủ mạnh, theo các nhà quan sát.

Từ chỗ giúp người thân còn ở quê nhà trong những năm trước, người Việt ở nước ngoài nay chuyển sang giúp khai thác các thế mạnh của nhau để cùng làm ăn, làm giàu.

Đối với một số người đó cũng là để chuẩn bị cho lúc về hưu nếu họ có ý định quay về lại Việt Nam.

************************************

4- Kiều hối và mâu thuẫn của Ngân hàng Thế giới
Source: VOA News

Trần Vinh Dự

Kiều hối là một phần hết sức quan trọng trong cán cân tài khoản vãng lai ở Việt Nam. Ý nghĩa đặc biệt của nó còn nằm ở chỗ Việt Nam trong nhiều năm gần đây luôn là một nước nhập siêu và vì thế cần nguồn ngoại tệ mạnh để bù vào khoảng trống trong cán cân thương mại.

Báo chí Việt Nam hồi giữa tháng 7 mới đưa tin cho biết lượng kiều hối đổ vào Việt Nam năm nay có thể lên tới khoảng $5.8 tỉ tới $6 tỉ Mỹ kim. So với lượng kiều hối của năm ngoái ( $7.2 tỉ ) thì kiều hối đổ vào Việt Nam năm nay giảm khoảng 20% .


Hình: Việt Nam là một trong 10 nước nhận nhiều kiều hối nhất thế giới. Nguồn: World Bank

Ngân hàng Thế giới trong một báo cáo hồi giữa tháng 6 nhận xét về khoản kiều hối này như sau:

“Ở các nước Đông Á khác, kiều hối thường do lao động làm việc ở nước ngoài gửi về cho gia đình. Sinh kế của nhiều người lao động như vậy đang gặp rủi ro do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, và do đó kiều hối dự báo sẽ bị ảnh hưởng theo. Ở Việt Nam, kiều hối phần nhiều do cộng đồng người Việt sinh sống ở nước ngoài lâu năm gửi về, những người này tương đối khá giả và hiện nay đang đầu tư về nước, đôi khi gắn với kế hoạch nghỉ hưu của họ. Do vậy dòng kiều hối có thể sẽ giảm ít hơn so với các quốc gia khác trong khu vực.”

Thế nhưng cũng theo số liệu của ngân hàng thế giới thì kiều hối đổ vào các nước đang phát triển trong năm 2009 sẽ vào khoảng $304 tỉ Mỹ kim, giảm từ 7% tới 10% so với năm ngoái (báo cáo Migration and Development Brief, July 2009 ). Báo cáo này cũng nhìn nhận:

“Kiều hối không giảm nhiều vì mặc dù luồng lưu chuyển lao động mới đã giảm đi nhưng số lao động di cư từ trước hầu như không bị ảnh hưởng gì từ cuộc khủng hoảng.”

Rõ ràng là 2 báo cáo nêu trên của Ngân hàng thế giới có sự mâu thuẫn. Kết hợp với số liệu về kiều hối mà Việt Nam vừa công bố thì:

1. Hai báo cáo này nhận định ngược nhau. Báo cáo số một thì nói “kiều hối thường do lao động làm việc ở nước ngoài gửi về cho gia đình. Sinh kế của nhiều người lao động như vậy đang gặp rủi ro do khủng hoảng kinh tế toàn cầu” trong khi đó báo cáo số 2 thì lại nói “Kiều hối không giảm nhiều vì mặc dù luồng lưu chuyển lao động mới đã giảm đi nhưng số lao động di cư từ trước hầu như không bị ảnh hưởng gì từ cuộc khủng hoảng.” Thế mới biết dân nghiên cứu kinh tế đôi khi cũng hay ăn ốc (nói mò) và thi thoảng kiêm luôn nghề thày bói xem voi.

2. Kiều hối vào Việt Nam trong năm 2009 giảm sâu hơn nhiều so với mức trung bình của thế giới (20% so với từ 7% tới 10%). Sự chênh lệch này có lẽ là một sự bí ẩn khó giải thích?

*********************************************

Kiều hối
Source: vietnamembassy.us

Kiều hối là một nguồn lực quý giá theo nhiều nghĩa, là một kênh mang lại ngoại tệ mạnh cho đất nước mà không một kênh nào có thể sánh nổi về hiệu quả. Bởi vì ngoại tệ thu được từ xuất khẩu tuy rất quý nhưng xuất khẩu thì phải mất chi phí để sản xuất hàng, chi phí vận chuyển mang ra nước ngoài, lại còn phải chịu thuế nhập khẩu, chịu hạn ngạch, chịu kiện bán phá giá, chi phí tiếp thị, quảng cáo...

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ta được lợi về thuế, giải quyết được công ăn việc làm, tiếp thu công nghệ tiên tiến, học được kinh nghiệm quản lý... nhưng vốn là của nhà tư bản nước ngoài, lãi họ hưởng, nếu họ không xuất khẩu thì còn cạnh tranh với hàng hóa cùng loại sản xuất trong nước. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cũng rất quý, nhưng hơn 90% là vốn vay, dù được vay trong thời gian dài, lãi suất thấp, lại có thời gian ân hạn, nhưng việc giải ngân không đơn giản, hơn nữa nếu sử dụng không hiệu quả thì vay mới sẽ cũng chỉ để trả nợ cũ và không chỉ để lại gánh nặng nợ nần cho con cháu mà ngay từ bây giờ đã phải trả những khoản lãi của những khoản nợ đầu tiên...

Kiều hối còn là một nguồn lực lớn và gần như tăng liên tục trong thời gian qua (năm 1991 có 35 triệu USD, năm 1992 có 136,6 triệu, năm 1993 có 141 triệu, năm 1994 có 249,5 triệu, năm 1995 có 285 triệu, năm 1996 có 469 triệu, năm 1997 có 400 triệu, năm 1998 có 950 triệu, năm 1999 có 1.200 triệu, năm 2000 có 1.757 triệu, năm 2001 có 1.820 triệu, năm 2002 có 2.200 triệu, năm 2003 có 2.600 triệu, ước năm 2004 sẽ vượt 3.000 triệu USD, gấp 85,7 lần năm 1991, tăng tới 40,8%/năm - một tốc độ tăng gần như không có chỉ tiêu nào đạt được trong thời gian tương ứng). Tổng cộng trong 14 năm qua đã có 15 tỉ 243 triệu USD, bằng 59% tổng vốn FDI thực hiện và lớn hơn cả tổng số vốn ODA giải ngân từ 1993 đến nay.

Quan trọng hơn, nguồn kiều hối còn là tình cảm sâu nặng của bà con Việt kiều đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài đối với thân nhân và quê hương, đất nước. Điều đó còn chứng tỏ chính sách của Đảng và Nhà nước cởi mở thông thoáng khuyến khích và tạo điều kiện cho kiều bào ở nước ngoài gửi tiền về giúp gia đình; tạo điều kiện bảo đảm an toàn cho số tiền này; người thân được nhận bằng ngoại tệ không hạn chế,…

Nguồn kiều hối này cộng với các nguồn ngoại tệ khác còn góp phần cải thiện cán cân tổng thể, góp phần ổn định giá USD trong mấy năm gần đây.

Bởi vậy cần tạo điều kiện để nguồn lực quý này gia tăng hơn nữa.

Ngọc Minh

***********************************************************************

10 tháng, vốn FDI giải ngân đạt 8 tỉ đô la

(VNA) Theo Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn giải ngân của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong 10 tháng đầu năm nay đạt 8 tỉ đô la Mỹ, bằng 87,9% so với cùng kỳ năm 2008.

Cũng theo Cục Đầu tư nước ngoài, tổng vốn FDI đăng ký 10 tháng năm 2009 (tính đến ngày 21-10-2009) đã đạt hơn 18,9 tỉ đô la Mỹ.

Kết quả này chưa cập nhật hết vì trong tháng 10 có ít nhất 3 dự án lớn được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 7,8 tỉ đô la Mỹ, cộng với 12,54 tỉ đô la Mỹ của 9 tháng trước đó thì tổng vốn đăng ký trong 10 tháng đầu năm 2009 đã vướt 20 tỉ đô la Mỹ.

Với tổng số tổng vốn đăng ký trên thì 4,87 tỉ đô la Mỹ là vốn đăng ký tăng thêm của 179 dự án, bằng 95,2% so với cùng kỳ năm 2008. Số vốn còn lại là từ gần 658 dự án mới được cấp phép.

Lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống tiếp tục dẫn đầu nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong 10 tháng qua, đạt hơn 8,7 tỉ đô la Mỹ thông qua 26 dự án được cáp phép mới và 7 dự án đang hoạt động tăng thêm vốn đầu tư.

Kế đến là lĩnh vực bất động sản đạt gần 5,67 tỉ đô la Mỹ thông qua 34 dự án được cấp phép mới và 3 dự án đang hoạt động tăng thêm vốn mở rộng đầu tư. Lĩnh vực công nghiệp chế biến và chế tạo có 182 dự án mới và 103 dự án tăng thêm vốn với tổng vốn đăng ký đạt hơn 2,65 tỉ đô la Mỹ...

***********************************************************************

Kiều hối: Nguồn lực "kép" cho nền kinh tế


Để tăng trưởng kinh tế cao thì vốn đầu tư là yếu tố vật chất có tính quyết định. Trong các nguồn lực thì kiều hối là kênh ngoại tệ mạnh cho đất nước mà không có một kênh thu hút nào có thể sánh nổi.

Xuất khẩu thì phải mất chi phí để sản xuất hàng hoá, tốn chi phí để vận chuyển mang ra nước ngoài, lại còn phải chịu thuế nhập khẩu, chịu hạn ngạch, chịu bị kiện bán phá giá của nước ngoài, lại còn chi phí tiếp thị, quảng cáo... Đó là chưa kể còn phải tốn một lượng ngoại tệ không nhỏ, thậm chí còn nhiều hơn (nhập siêu) để nhập nguyên nhiên vật liệu để sản xuất và tiêu dùng.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thì vốn là của nhà tư bản nước ngoài, vốn họ thu hồi, lãi họ hưởng, nếu họ không xuất khẩu được thì còn cạnh tranh với hàng hoá cùng loại sản xuất trong nước (tất nhiên ta có lợi nhờ thu được thuế, giải quyết được việc làm, tiếp thu được khoa học- công nghệ, học tập được kinh nghiệm quản lý, nâng cao tay nghề...).

Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cũng rất quý, vừa được vay trong thời gian dài, vừa có lãi suất thấp, lại có thời gian ân hạn tới 10 năm và có một phần (khoảng 10%) là viện trợ không hoàn lại, nhưng việc giải ngân không đơn giản, phần lớn vẫn là vốn vay, đặc biệt nếu sử dụng không hiệu quả thì vay mới sẽ cũng chỉ để trả nợ cũ và không chỉ để lại gánh nặng nợ nần cho con cháu mà ngay từ bây giờ đã phải trả những khoản lãi của những khoản nợ đầu tiên.

Kiều hối còn là một nguồn lực lớn và gần như tăng nhanh, tăng liên tục trong thời gian qua: năm 2004 nhiều gấp 85,7 lần năm 1991, tăng tới 40,8%/năm- một tốc độ tăng gần như không có chỉ tiêu nào đạt được trong thời gian tương ứng. Tổng cộng trong 14 năm qua đã có 15.243 triệu USD, bằng khoảng 59% tổng vốn FDI thực hiện tính từ năm 1988 và lớn hơn cả tổng số vốn ODA được giải ngân từ 1993 đến nay.

Quan trọng hơn, nguồn kiều hối là tình cảm sâu nặng của bà con Việt kiều đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài đối với thân nhân và quê hương, đất nước.

Nguồn kiều hối này cộng với các nguồn ngoại tệ khác thu được từ các kênh khác (xã hội, FDI, ODA, lao động xuất khẩu, du lịch...) đã góp phần cải thiện cán cân tổng thể của nước nhà, mặc dù nhập siêu mấy năm nay khá lớn (năm 1999 mới có 201 triệu USD, năm 2000 là 1.154 triệu, năm 2001 là 1.189 triệu, năm 2002 là 3.039 triệu, năm 2003 là 5.051 triệu, 11 tháng đầu năm 2004 là 4.461 triệu).

Đây cũng là yếu tố góp phần làm cho giá USD trong mấy năm gần đây tương đối ổn định (năm 1991 còn tăng tới 103,1%, năm 1992 giảm 25,8%, năm 1993 tăng 0,3%, năm 1994 tăng 1,7%, năm 1995 giảm 0,6%, năm 1996 tăng 1,2%, năm 1997 tăng 14,2%, năm 1998 tăng 9,6%, năm 1999 tăng 1,1%, năm 2000 tăng 3,4%, năm 2001 tăng 3,8%, năm 2002 tăng 2,1%, năm 2003 tăng 2,2%). Tháng 12/2003 so với tháng 12/1990, tỷ giá tăng 119,1%, bình quân tăng 6,2%/năm, thấp hơn nhiều so với giá tiêu dùng (tăng 229,1% hay bình quân 9,8%/năm trong thời gian tương ứng).

Đạt được quy mô lớn và gia tăng về kiều hối như trên là nhờ chính sách thông thoáng của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực này. Trước hết là chính sách tạo điều kiện cho người Việt Nam được đoàn tụ với gia định đang định cư ở nước ngoài nếu được gia đình bảo lãnh, cho Việt kiều về nước thăm thân nhân, thăm quê hương, đất nước (ngoài mục đích du lịch, công việc hoặc mục đích khác, lượng Việt kiều về thăm thân nhân qua các năm có quy mô khá: năm 1996 có 274 nghìn lượt người, năm 1997 có 372 nghìn, năm 1998 có 301 nghìn, năm 1999 có 337 nghìn, năm 2000 có 400 nghìn, năm 2001 có 390 nghìn, năm 2002 có 425 nghìn, năm 2003 có 375 nghìn, 11 tháng năm 2004 có trên 421 nghìn).

Lượng kiều hối gửi về nước hoàn toàn do người gửi lựa chọn hình thức, lựa chọn đơn vị là dịch vụ nhận gửi, không hạn chế số tiền (trừ việc mang theo người nếu vượt quá 3.000 USD phải khai báo để thống kê); người nhận được trực tiếp nhận bằng ngoại tệ, không bị ép buộc phải đổi ra VND- một sự khuyến khích thông thoáng hiếm có so với nhiều nước trên thế giới.

Việc xử dụng lượng kiều hối này cũng hoàn toàn do những người nhận quyết định, trong đó Nhà nước khuyến khích việc dành cho đầu tư. Những đơn vị làm dịch vụ nhận chuyển kiều hối bảo đảm ngày một an toàn, tiện lợi, nhanh chóng, với chi phí ngày một giảm.

Hiện có hơn 2 triệu Việt kiều ở nước ngoài, chủ yếu lại ở các nước có nền kinh tế phát triển, có thu nhập cao và hầu hết bà con các thế hệ vẫn giữ được truyền thống yêu quê hương, đất nước. Vì vậy cần có chính sách để phát triển hơn nữa đất nước, đồng thời làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền để các thế hệ Việt kiều trở về thăm quê hương và chuyển tiền về giúp đỡ cho thân nhân, xây dựng quê hương đất nước.

Thời báo Kinh tế Việt Nam, 27/12/2004

****************************************************************

Bắt đầu vào mùa kiều hối!

12/07/2004

Các ngân hàng cho biết đã vào mùa kiều hối và sẽ kéo dài đến sát tết âm lịch. Hiện bình quân mỗi ngày Ngân hàng Đông Á chi trả trên 2 triệu USD, Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín chi gần 2 triệu USD, Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) gần 1 triệu USD.

Theo Eximbank, phần lớn người nhận kiều hối vẫn thích nhận bằng USD trong khi với những người nhận kiều hối bằng các đồng tiền khác (đôla Úc, đôla Canada, EUR...) đều bán lại cho ngân hàng để lấy VND.

Ngân hàng Nhà nước Tp.HCM cho biết ngoài việc xử dụng lượng USD tiền mặt thu đổi được ở trong nước, trong tháng mười một các ngân hàng đã nhập thêm 18 triệu USD tiền mặt để đáp ứng nhu cầu nhận kiều hối bằng USD tiền mặt của người dân. Trước đó trong tháng mười các ngân hàng chỉ nhập thêm có 7 triệu.

Do đồng EUR được giá, người dân đã đưa EUR bán cho ngân hàng nhiều hơn thay vì cất giữ. Lượng bán tăng dần theo tốc độ tăng của tỉ giá EUR: tháng chín chỉ có 21 triệu EUR, tháng mười tăng lên 22,7 triệu EUR, tháng mười một tăng lên gần 31 triệu EUR.

Trước đó, trong quí I/2004, bình quân mỗi tháng chỉ khoảng 14 triệu EUR. Tỉ giá VND/EUR đã tăng mạnh qua các tháng, nếu đầu năm bán 1 EUR thu được 19.340 đồng thì thời điểm này bán được trên 21.000 đồng..

Tuổi Trẻ, 7/12/2004

TÀI LIỆU CỦA THƯ VIỆN ĐẠI HỌC HOA KỲ LIÊN QUAN ĐẾN HÒA THƯỢNG THÍCH ĐÔN HẬU VÀ CÁC VAI TRÒ CHÍNH TRỊ CỦA ÔNG TRONG QUÁ KHỨ - ĐẠI NẠN CỦA PHẬT GIÁO VÀ ĐẤT NƯỚC - TẾT MẬU THÂN VÀ NHỮNG KẺ CÓ MÁU LẠNH

Gần đây có một số email luân lưu quanh đề tài phục hồi thanh danh cho hòa thượng Thích Đôn Hậu và mô tả ông như là nhà ái quốc Phật giáo chống Cộng, và kết tội những người chứng minh hoặc tố giác ông Thích Đôn Hậu là một tên cộng sản đội lốt nhà tu, đã gây nên tội ác với đồng bào xứ Huế; thậm chí họ còn chụp mũ cho những người này là đánh phá Phật giáo theo lệnh của Cộng sản (sic!) Thế gian đã quá sức loạn, đúng là chuyện ngược đời!!! Có một điều chắc chắn là những lời biện bác trên đều không dựa trên một tài liệu chứng cớ rõ ràng nào cả, thậm chí khi nêu lên những thông tin cũng không có nguồn gốc rõ ràng, không có các hình ảnh chụp các thư tín, tài liệu của các nhân vật liên quan trong cuộc, thật là những cách nói theo kiểu "khẩu thuyết vô bằng", chuyền từ miệng này đến miệng khác như chuyện phong thần vậy. Ngược lại các tài liệu chính thức của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Việt Nam công bố rõ ràng về Hòa Thượng Thích Đôn Hậu như sau:

... "Từ năm 1968, Ngài được mời tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Ngài vào chiến khu, ra Hà Nội. Từ đây, Ngài lại càng đẩy mạnh sự nghiệp lợi Đạo ích Đời.

- Tháng 1/1968: Phó Chủ tịch Liên minh các lực lượng Dân chủ và Hòa Bình Việt Nam. Tháng 6/1968: Ủy viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam.

- Năm 1970, đi tham quan văn hóa, tôn giáo ở Liên Xô và Trung Quốc. Năm 1971, đi dự Đại hội thành lập tổ chức Phật giáo Châu Á vì Hòa Bình ở Mông Cổ và được cử làm Ủy viên thường trực Ban Chấp hành Hội Phật giáo Châu Á vì Hòa Bình.

- Năm 1975, miền Nam được giải phóng, Ngài trở về chùa cũ ( Linh Mụ ) và sau đó được mời làm cố vấn cho Ban chỉ đạo Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

- Năm 1976, Ngài đắc cử Đại biểu Quốc hội khóa VI nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Cũng chính trong năm này, Ngài được mời giữ chức Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam..."


Chuyện về Hòa thượng Thích Đôn Hậu thì rất là dài dòng, thậm chí cũng là GHPGVNTN cả mà giáo hội ở Việt Nam công bố một cái tiểu sử và quá trình hoạt động khác với cái tiểu sử và đời hoạt động do GHPGVNTN hải ngoại công bố, trong đó việc "ngài" ra Bắc theo Việt cộng, làm việc cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và được cho đi thăm các nước cộng sản trở thành "ngài bị Cộng sản bắt tại Tổ Đình Linh Mụ, Huế vào lúc 01 giờ khuya ngày 20 tháng Giêng năm Mậu Thân (17-2-1968) trong khi ngài đang bị bệnh xuất huyết dạ dày một cách trầm trọng." Và tự nhiên các giai đoạn tham chính của "ngài" vào các chức vụ trong chính phủ Việt cộng cũng biến mất, kể cả giai đoạn "ngài" được "nhân dân bầu" làm đại biểu Quốc Hội cộng sản khóa VI cũng biến mất luôn!!! Một con người hai mặt như thế thật là hiếm thấy và rất đáng... "ngưỡng mộ". Vì vậy chúng tôi xin đăng lại ở đây một số tài liệu và dữ kiện liên quan đến Hòa thượng Thích Đôn Hậu để quý vị và các bạn tùy quyền nhận xét và phê phán. Chúng tôi là những kẻ nêu lên những sự thật và những tài liệu mà chúng tôi nghe, xem thấy và đọc được, chúng tôi không đẻ ra những câu chuyện phong thần để phục vụ các mưu đồ chính trị. Chúng tôi là những người không tham chính và chưa từng có mưu đồ vu cáo cho ai cả. Đối với chúng tôi, chỉ có một kẻ thù duy nhất để chống, đó là chế độ cộng sản độc tài, tàn bạo, bán nước hại dân và những kẻ làm tay sai cho chúng, bất kể họ là ai. Chúng tôi không như những kẻ ngủ mê hay những kẻ ngu xuẩn nghe theo cộng sản lừa bịp đi theo chúng để rồi khi sáng mắt ra thì đã muộn, đã trở thành vật phế thải, và là tội nhân thiên cổ đối với đồng bào và dân tộc, đến khi ăn năn sám hối thì dù có tìm ngàn phương để gỡ tội cũng đã trễ quá rồi. Đặc biệt, nếu là nhà tu chân chính mà theo đuôi bọn cộng sản vô thần thì quả là đi làm những việc nghịch lý của những kẻ kém hiểu biết, không còn chỗ để nói.

Mong quý vị và các bạn hỉ xả cho nếu thấy lời thật làm khó chịu cái lỗ tai vàng ngọc.

KDĐN

TÀI LIỆU CỦA THƯ VIỆN ĐẠI HỌC HOA KỲ LIÊN QUAN ĐẾN HÒA THƯỢNG THÍCH ĐÔN HẬU

Tài Liệu của Thư Viện Đại Học Hoa Kỳ (The Vietnam Center and Archive at Texas Tech University) liên quan đến Thích Đôn Hậu

Source: The Vietnam Center and Archive, honviet.uk, paris.net

Một vài "phóng ảnh" dưới đây được trích ra từ tài liệu Anh ngữ nghiên cứu về những người lãnh đạo của Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời/ CPCMLT (Provisional Revolutionary Government: PRG), Mặt Trận Tổ quốc Giải Phóng Nam Việt Nam hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (National Front Liberation of South Viet Nam: NFLSV), và những tổ chức phụ thuộc, 1973.



Theo thư liệu của CPCMLT (Việt Cộng), nói về tiểu sử của Thích Đôn Hậu, thì ông tuyên bố công khai năm 1967, là không " chấp nhận" Tổng Thống Chế ở Miền Nam, và bắt liên lạc với " Kháng Chiến ". Khi Việt Cộng vào Huế Tết 1968, Hậu bỏ thành phố, và theo họ, tìm trú ẩn sau chiến tuyến của họ, do đó khỏi bị họ tàn sát. Ông trở thành Phó chủ tịch trong Liên Minh Quốc Gia, Dân Chủ và Lực Lượng Hòa Bình.



Trong mọi hoạt động, danh sách các người tham dự Nghị Hội Tháng 11 năm 1972, được tuyên dương rộng rãi trong nhiều tháng, những người của CPCMLT và Mặt Trận Giải Phóng coi như là có uy tín với quần chúng. Trong nhiều tuần sau đó, là màn giới thiệu những nhân vật trong danh sách và vài người dù không có tên trong đó. Những chức vị của CPCMLT được nêu tên trong các buổi phát thanh trên radio. Các diễn văn trong các buổi meeting do các vị có tên dưới đây ( có Thích Đôn Hậu ) được phát thanh trên Đài radio Giải Phóng từ ngày 10.11 đến 22.11:



Sau đây là danh sách thành phần của Hội Đồng Cố Vấn của MTGPMN ( có tên Thích Đôn Hậu )


Quý vị và các bạn có thể theo link dưới đây để xem toàn bộ tài liệu dẫn chứng:
http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/231/2310509021a.pdf


Cảnh Phật tử giằng co quyết liệt với quân đội của chính quyền cờ vàng Miền Nam "đàn áp Phật giáo" năm 1963 (thời Đệ Nhất Cộng Hòa) - Ảnh honviet.uk

LỜI KÊU GỌI CỦA HT THÍCH ĐÔN HẬU TRÊN ĐÀI MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM TRONG TẾT MẬU THÂN 1968

Tết Mậu Thân 1968, HT Thích Đôn Hậu đã lên đài phát thanh MTGPMN kêu gọi Phật tử, nguyên văn như sau:

« Tôi Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Đại diện Trung ương Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam - Đại diện Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam -, và Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất miền Vạn Hạnh ( miền Trung). Tôi long trọng tuyên bố: Kể từ giờ phút này, GHPGVNTN đã hoàn thành sứ mạng của lịch sử. Vì vậy, tôi yêu cầu tất cả đồng bào hãy treo cờ Phật giáo, nếu nhà nào không có, thì hãy đến mua tại các chùa, để chào mừng cách mạng đã thành công và cũng để thể hiện rằng đồng bào không chống đối chính quyền cách mạng ».



Trích đoạn "Cuộc bạo loạn 1966" của Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

... Lúc này, Thích Đôn Hậu đã kéo một đám đệ tử từ Huế vào Đà Nẵng. Trong số này, có những tên cũng đã từng chỉ huy «Đoàn Thanh niên Phật tử Cứu quốc » trong cuộc tấn công hai phường Thanh Bồ và Đức Lợi vào ngày 24-8-1964, như các tên sau đây:

Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Tuyên …và hơn hai ngàn thanh niên, hợp lại cùng với đám đệ tử tại Đà Nẵng cũng đã từng sát cánh với nhau trong cuộc thảm sát Thanh Bồ như: Phan Xuân Huy, Phan Chánh Dinh, Vĩnh Kha, Hồ Công Lộ, Hà Xuân Kỳ …

Sau khi vào Đà Nẵng, Thích Đôn Hậu và đám đệ tử tập hợp tại chùa Pháp Lâm, tức chùa tỉnh giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng, là cơ quan chỉ đạo chính trị ở số 500 đường Ông Ích Khiêm. Chính tại chùa Pháp Lâm, Thích Đôn Hậu đã nhân danh Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Miền Vạn Hạnh ( tức miền Trung ) dùng truyền đơn và loa phóng thanh phát lời kêu gọi:

« …Các quân nhân Phật tử hãy mau mau quay về gia nhập Quân Đoàn Cách Mạng Vạn Hạnh, các Phật tử trong mọi nghành cảnh sát, công tư chức, sinh viên học sinh, thanh niên và đồng bào Phật tử hãy gia nhập lực lượng đấu tranh để lật đổ chính phủ Thiệu-Kỳ. »

Và kể từ ngày ấy, cho đến hôm nay, đã bao nhiêu năm qua rồi. Nhưng khi nhắc lại lời kêu gọi này của Thích Đôn Hậu, chắc những ai đã từng chứng kiến cuộc nổi loạn này cũng thấy rằng: Quả thật, lời kêu gọi ấy có hiệu quả, bởi lúc ấy đã có không ít một số sĩ quan, binh lính, công tư chức rời bỏ hàng ngũ và nhiệm sở đế gia nhập « Quân Đoàn Vạn Hạnh ». Riêng sinh viên, học sinh, thanh niên Phật tử đã được «Thượng tọa » Thích Minh Chiếu, Thiếu tá Trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo vùng 1 chiến thuật trang bị súng đạn đủ loại, một số em học sinh nhỏ tuổi thì được trang bị bằng gậy gộc, gạch, đá để gia nhập « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » Thích Minh Chiếu hiện đang có mặt tại Hoa Kỳ như tôi đã viết ở bài trước......

Trich trong Giấc mơ lãnh tụ (3/62)

* Thành lập "chính phủ Phật Giáo" để giao cho VC:

Tạp chí Quê Mẹ số 125 & 126 tháng 10 -11/1993 đã công bố bản tự thuật của HT Thích Đôn Hậu về cuộc gặp gỡ giữa ông và TTCS Phạm Văn Đồng năm 1976. Bản tự thuật cho biết vào tháng 4/1975, PG đã thành lập Chính Phủ Phật Giáo Dương Văn Minh để giao miền Nam cho CS Hà Nội. Sau đây là phần liên hệ đến vấn đề này được đề cập trong bản tự thuật của HT Thích Đôn Hậu:

TTCS Phạm văn Đồng:

"- Đấy, theo Cụ biết, trong khi người Mỹ đi rồi, Thiệu xuống rồi, Phật Giáo lại âm mưu lập chính phủ Phật Giáo, đưa Dương Văn Minh lên làm TT. Lập làm gì vậy? Lập chính phủ đó để đánh với Cách Mạng phải không?

HT Thích Đôn Hậu đáp:

- Chuyện ấy có, Phật Giáo chúng tôi có lập Chính Phủ. Nhưng thế này, thưa Thủ Tướng, chúng tôi đã hỏi các vị trong Viện Hóa Đạo. Các vị cho biết như sau: "HT nên nhớ rằng, PG chúng ta không ngu si đến độ lập Chính Phủ Phật Giáo, sau khi Mỹ đã bỏ miền Nam, Thiệu vơ vét của cải đi rồi. Của cải, thế lực ở miền Nam VN chẳng còn gì, mà Cách Mạng đã đến bên lưng. Ông Dương Văn Minh cũng không đến nỗi dại gì muốn lên làm Tổng Thống lúc ấy."

Các vị ở Viện Hoá Đạo nói tiếp:

"PG chúng ta, con sâu con kiến cũng thương, huống gì con người! Đã 30 năm chiến tranh, chết chóc đau thương chồng chất. Bây giờ đây nếu thả lỏng để ông già lụ khụ Trần Văn Hương tuyên bố: "Đánh"! Thử hỏi cả 2 bên tham chiến chết bao nhiêu người nữa? Muốn hạn chế sự chết chóc và tài sản của đồng bào, nên PG chúng ta phải có chủ trương. Lúc bấy giờ, chẳng còn ai lo cho đất nước, ai cũng chạy trối chết, PG đâu thể ngồi như vậy mà nhìn? Nên phải lập Chính Phủ, đưa Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống. Nhưng không phải lập để đánh với Cách Mạng.

Phạm Văn Đồng hỏi:

- Vậy tại sao Dương Văn Minh lên, tuyên bố giữ mảnh đất cuối cùng, nếu không phải để đánh với Cách Mạng thì để làm gì?

Tôi hỏi Thủ Tướng:

- Khi Dương Văn Minh tuyên bố như vậy, về sau có nổ phát súng nào không?

- Không.

- Như vậy, Dương Văn Minh chỉ tuyên bố thôi, chứ không cốt đánh."

Chính phủ PG nói trên, khi mới nhận chức vào ngày 29/4/1975, Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu đã ra tuyên bố:

- Hoa Kỳ phải rút khỏi VN trong vòng 24 giờ kể từ ngày 29/4/1975.

- Hoa Kỳ phải tôn trọng các quyền cơ bản của dân tộc VN, quyền tự quyết của nhân dân VN và chấm dứt mọi sự dính líu quân sự hoặc can thiệp vào nội bộ miền Nam VN

****************************************************************

Trích tài liệu chính thức của GHPGVNTN công bố tại Việt Nam trong cái chết của Hòa thượng Thích Đôn Hậu:

Hòa thượng pháp danh Trừng Nguyện, hiệu Đôn Hậu, thuộc đời thứ 8 phái thiền Liễu Quán, thế danh là Diệp Trương Thuần. Ngài sinh vào ngày 13 tháng giêng năm Ất Tỵ (16-2-1905) tại làng Xuân An, tổng An Đồn, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ngài xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học, nhưng lại quy ngưỡng Phật giáo. Thân phụ là cụ Diệp Văn Kỷ, một vị lương y nổi tiếng, về sau ông xuất gia học Phật với Tổ Hải Thiệu, có pháp danh là Thanh Xuân, tự Sung Mãn, đắc pháp với Tổ Tâm Truyền, được pháp hiệu là Phước Điền, khai lập chùa Long An ( Quảng Trị ) và kế thế trụ trì chùa Sắc Tứ Tịnh Quang. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Cựu, mất sớm khi Ngài vừa lên 9 tuổi.
......................................

Năm 1963, Ngài tham gia đứng trong hàng ngũ lãnh đạo phong trào đấu tranh chống chính sách kỳ thị, đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Đêm pháp nạn 20 tháng 8 năm 1963, Ngài bị bắt tại chùa Diệu Đế và bị đưa đi giam giữ.

Năm 1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập, Ngài được cử làm Chánh Đại Diện miền Vạn Hạnh.

Năm 1965, Ngài được cung thỉnh làm Yết ma A Xà Lê Đại giới đàn Từ Hiếu tổ chức tại Tổ đình Từ Hiếu - Huế.

Từ năm 1968, Ngài được mời tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Ngài vào chiến khu, ra Hà Nội. Từ đây, Ngài lại càng đẩy mạnh sự nghiệp lợi Đạo ích Đời.

- Tháng 1/1968: Phó Chủ tịch Liên minh các lực lượng Dân chủ và Hòa Bình Việt Nam. Tháng 6/1968: Ủy viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam.

- Năm 1970, đi tham quan văn hóa, tôn giáo ở Liên Xô và Trung Quốc. Năm 1971, đi dự Đại hội thành lập tổ chức Phật giáo Châu Á vì Hòa Bình ở Mông Cổ và được cử làm Ủy viên thường trực Ban Chấp hành Hội Phật giáo Châu Á vì Hòa Bình.

- Năm 1975, miền Nam được ( CS Bắc Việt xâm lăng) giải phóng, Ngài trở về chùa cũ ( Linh Mụ ) và sau đó được mời làm cố vấn cho Ban chỉ đạo Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

- Năm 1976, Ngài đắc cử Đại biểu Quốc hội khóa VI nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Cũng chính trong năm này, Ngài được mời giữ chức Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.


- Từ năm 1976 đến 1986, liên tục trong mười năm liền, Ngài giảng dạy kinh luật cho Tăng Ni ở Huế tại các chùa Linh Mụ, Báo Quốc và Linh Quang.

Năm 1977, Đại hội kỳ VII Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Ấn Quang. Ngài được suy cử vào Hội đồng Trưởng Lão của Giáo Hội và giữ chức vụ Chánh Thư ký Viện Tăng Thống.

Năm 1979, đức Đệ nhị Tăng Thống - Hòa thượng Thích Giác Nhiên - viên tịch, Đại hội kỳ VIII chưa tổ chức được, Hội đồng Lưỡng Viện bèn cung thỉnh Ngài kiêm chức vụ Xử lý Viện Tăng Thống.

Năm 1981, Đại hội Đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam tại chùa Quán Sứ - Thủ đô Hà Nội, đã suy cử Ngài vào Hội đồng Chứng minh với chức vụ Đệ Nhứt Phó Pháp Chủ kiêm Giám luật Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

Năm 1977, 1981 và 1983, ba lần Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng các Đại giới đàn tại chùa Báo quốc và Trúc Lâm - Huế.

Ở tuổi ngoài bát tuần, sức khỏe của Ngài đã giảm sút rất nhiều, thân ngũ uẩn như chiếc xe cũ, đèn dầu cạn, nhân duyên hội họp đã mãn. Hóa duyên đã tròn, Hòa thượng an nhiên thu thần hội nhập vào cảnh giới an lạc tịch tĩnh vào ngày 23/4/1992 (nhằm ngày 21/3 Nhâm Thân) tại Tổ đình Linh Mụ thành phố Huế, trụ thế 88 năm, trải qua 68 mùa An cư kiết hạ...


Chùa Thiên Mụ ( 天姥 ) hay còn gọi là chùa Linh Mụ, nằm trên đồi Hà Khê phía tả ngạn sông Hương được chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) khởi lập vào năm Tân Sửu (1601) là ngôi chùa cổ nhất ở Huế, và là danh thắng đất thần kinh - Ảnh wikipedia

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Phật Lịch 2539 – 1995
TIỂU SỬ DANH TĂNG VIỆT NAM THẾ KỶ XX - TẬP I
Thích Đồng Bổn Chủ biên
Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh ấn hành

Source: http://www.thuvienhoasen.org/danhtang1-giaidoan6-96.htm

HÒA THƯỢNG THÍCH ĐÔN HẬU
(1905-1992)


Hòa thượng pháp danh Trừng Nguyện, hiệu Đôn Hậu, thuộc đời thứ 8 phái thiền Liễu Quán, thế danh là Diệp Trương Thuần. Ngài sinh vào ngày 13 tháng giêng năm Ất Tỵ (16-2-1905) tại làng Xuân An, tổng An Đồn, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Ngài xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học, nhưng lại quy ngưỡng Phật giáo. Thân phụ là cụ Diệp Văn Kỷ, một vị lương y nổi tiếng, về sau ông xuất gia học Phật với Tổ Hải Thiệu, có pháp danh là Thanh Xuân, tự Sung Mãn, đắc pháp với Tổ Tâm Truyền, được pháp hiệu là Phước Điền, khai lập chùa Long An ( Quảng Trị ) và kế thế trụ trì chùa Sắc Tứ Tịnh Quang. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Cựu, mất sớm khi Ngài vừa lên 9 tuổi.

Năm Ngài lên bảy, một hôm Tổ Tâm Tịnh về quê, đến nhà thăm, thấy Ngài diện mạo khôi ngô bèn tỏ lòng ưu ái, huyền ký cho Ngài con đường xuất thế. Nghe vậy cụ ông vui mừng khôn xiết, đặc biệt lưu tâm đến việc học hành của Ngài, liền mời thầy về nhà dạy riêng, để un đúc tương lai cho Ngài với lòng ước mong được như lời Tổ dạy.

Năm 17 tuổi (1922 - Nhâm Tuất), sau mười năm đèn sách, Ngài đã làu thông Nho học. Nhưng tư tưởng về nhơn sanh vũ trụ và phương pháp lập thân xử thế của Lão, Nho đã không làm thỏa mãn được lý tưởng của người thanh niên trí thức ấy khi đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời. Phải chăng còn có một chân lý, một lý tưởng cao siêu hơn các nguyên lý Khổng Mạnh mà Ngài đã gặp? Cho đến khi được song thân nhắc lại việc Tổ Tâm Tịnh đã huyền ký ngày xưa, Ngài mới nghĩ đến con đường xuất gia học đạo.

Điều này khiến cho chí xuất trần của Ngài trưởng thành. Năm 19 tuổi, ngày 19 tháng 6 năm Quý Hợi (1923) được sự chấp thuận của phụ thân, Ngài vào chùa Tây Thiên đảnh lễ Tổ sư Tâm Tịnh, xin được xuất gia tại đây.

Một năm sau, cũng đúng vào ngày vía Quan Âm (ngày 19 tháng 6 năm Giáp Tý - 1924), nhờ học hạnh kiêm toàn và chí nguyện xứng đáng, Ngài được đặc cách cho thọ tam đàn Cụ Túc tại Giới đàn chùa Từ Hiếu, do chính Bổn sư làm đàn đầu. Thọ giới được hai năm thì Bổn sư viên tịch (1926), Ngài bèn đến chùa Hồng Khê cầu pháp với sư huynh là Hòa thượng Giác Tiên.

Năm 1927, Ngài được 22 tuổi, trường Phật Học Thập Tháp tại tỉnh Bình Định khai mở, do Tổ Phước Huệ - bậc danh Tăng nổi tiếng làm Giáo thọ, Ngài cùng một số vị khác như Hòa thượng Chánh Huy, Chánh Thống, Viên Quang vào đây tham học.

Năm 1932, Hội An Nam Phật học ra đời, trường Trung học, Đại học Phật giáo được mở tại Tây Thiên, Tổ Phước Huệ được cung thỉnh từ Bình Định ra làm giáo thọ. Với tinh thần hiếu học cầu tiến không ngừng, Ngài tiếp tục theo học chương trình Đại học tại đây và được bầu làm Thủ chúng cả hai trường. Ngài cũng làm Giáo thọ cho Phật học đường Báo Quốc và Ni viện Diệu Đức - Huế.

Ngay từ lúc còn ngồi ghế Đại học tại Tây Thiên, Ngài được mời làm Giảng sư của Hội An Nam Phật Học. Năm 1936, tốt nghiệp Đại học Phật giáo, với tuổi 32, Ngài được mời làm Giáo sư cho Phật học đường Báo Quốc và Luật sư cho Sơn môn Thừa Thiên, từ đó Ngài đã trở thành một hạt nhân tích cực của phong trào chấn hưng Phật giáo, và là giảng sư nòng cốt, tiền phong của Hội Việt Nam Phật Học. Ngài đã đi giảng dạy khắp các tỉnh miền Trung, nhất là tại Đà Nẵng và Quảng Nam.

Năm 1940 và 1942, Ngài hai lần sang thuyết giảng ở một số tỉnh có đông Việt kiều tại Lào, đàm đạo với vua Sãi và tham lễ tại một số nơi ở Vương quốc Phật giáo này.

Năm 1945, Ngài thay thế Bác sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám giữ chức Chánh Hội trưởng Hội An Nam Phật Học (Thừa Thiên). Cũng trong năm này, Ngài nhận chức trụ trì Quốc Tự Linh Mụ - một di tích lịch sử của cố đô Huế. Sang năm 1946, Ngài làm Chủ tịch Phật giáo Liên hiệp Trung bộ.

Năm 1947, cùng chung số phận với hàng loạt các cơ sở Phật giáo cả nước, chùa Linh Mụ cũng bị Pháp đánh phá và chiếm đóng. Ngài bị Pháp bắt, tra tấn và sau cùng bắt tự đào huyệt chôn mình và suýt bị bắn chết, may nhờ bà Từ Cung (mẹ vua Bảo Đại) can thiệp mới được thả.

Năm 1948, Ngài làm cố vấn đạo hạnh hội Phật học Trung phần và Tuyên luật sư Đại giới đàn Báo Quốc - Huế. Năm 1949, Ngài thay cố Cư sĩ Chơn An Lê Văn Định giữ chức Chánh hội trưởng Tổng Trị sự hội Phật học Trung phần.

Năm 1951, Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng Giới đàn tại chùa Ấn Quang - Sài Gòn, sau đó được Sơn môn Tăng già Trung phần mời làm Giám luật. Qua năm 1952, Giáo Hội Tăng Già toàn quốc được thành lập tại Hà Nội, Ngài được suy cử làm Giám luật.

Năm 1956, Ngài thành lập và làm Chủ nhiệm Liên Hoa văn tập. Năm 1958, Liên Hoa văn tập được chuyển thành Liên Hoa nguyệt san cũng do chính Ngài làm chủ nhiệm.

Năm 1963, Ngài tham gia đứng trong hàng ngũ lãnh đạo phong trào đấu tranh chống chính sách kỳ thị, đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Đêm pháp nạn 20 tháng 8 năm 1963, Ngài bị bắt tại chùa Diệu Đế và bị đưa đi giam giữ.

Năm 1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập, Ngài được cử làm Chánh Đại Diện miền Vạn Hạnh.

Năm 1965, Ngài được cung thỉnh làm Yết ma A Xà Lê Đại giới đàn Từ Hiếu tổ chức tại Tổ đình Từ Hiếu - Huế.

Từ năm 1968, Ngài được mời tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Ngài vào chiến khu, ra Hà Nội. Từ đây, Ngài lại càng đẩy mạnh sự nghiệp lợi Đạo ích Đời.

- Tháng 1/1968: Phó Chủ tịch Liên minh các lực lượng Dân chủ và Hòa Bình Việt Nam. Tháng 6/1968: Ủy viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam.

- Năm 1970, đi tham quan văn hóa, tôn giáo ở Liên Xô và Trung Quốc. Năm 1971, đi dự Đại hội thành lập tổ chức Phật giáo Châu Á vì Hòa Bình ở Mông Cổ và được cử làm Ủy viên thường trực Ban Chấp hành Hội Phật giáo Châu Á vì Hòa Bình.

- Năm 1975, miền Nam được giải phóng, Ngài trở về chùa cũ ( Linh Mụ ) và sau đó được mời làm cố vấn cho Ban chỉ đạo Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

- Năm 1976, Ngài đắc cử Đại biểu Quốc hội khóa VI nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Cũng chính trong năm này, Ngài được mời giữ chức Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.


- Từ năm 1976 đến 1986, liên tục trong mười năm liền, Ngài giảng dạy kinh luật cho Tăng Ni ở Huế tại các chùa Linh Mụ, Báo Quốc và Linh Quang.

Năm 1977, Đại hội kỳ VII Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Ấn Quang. Ngài được suy cử vào Hội đồng Trưởng Lão của Giáo Hội và giữ chức vụ Chánh Thư ký Viện Tăng Thống.

Năm 1979, đức Đệ nhị Tăng Thống - Hòa thượng Thích Giác Nhiên - viên tịch, Đại hội kỳ VIII chưa tổ chức được, Hội đồng Lưỡng Viện bèn cung thỉnh Ngài kiêm chức vụ Xử lý Viện Tăng Thống.

Năm 1981, Đại hội Đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam tại chùa Quán Sứ - Thủ đô Hà Nội, đã suy cử Ngài vào Hội đồng Chứng minh với chức vụ Đệ Nhứt Phó Pháp Chủ kiêm Giám luật Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

Năm 1977, 1981 và 1983, ba lần Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng các Đại giới đàn tại chùa Báo quốc và Trúc Lâm - Huế.

Ở tuổi ngoài bát tuần, sức khỏe của Ngài đã giảm sút rất nhiều, thân ngũ uẩn như chiếc xe cũ, đèn dầu cạn, nhân duyên hội họp đã mãn. Hóa duyên đã tròn, Hòa thượng an nhiên thu thần hội nhập vào cảnh giới an lạc tịch tĩnh vào ngày 23/4/1992 (nhằm ngày 21/3 Nhâm Thân) tại Tổ đình Linh Mụ thành phố Huế, trụ thế 88 năm, trải qua 68 mùa An cư kiết hạ...

Dù Phật sự đa đoan và cuộc đời hành đạo gặp nhiều gian truân, nghịch cảnh, Hòa thượng cũng đã để lại một số tư liệu khiêm tốn nhưng rất có giá trị do chính Ngài dịch giải, biên soạn như:

- Cách thức sám hối các tội đã phạm.
- Phương pháp tu quán.
- Tứ nhiếp pháp.
- Cảm ứng tự nhiên.
- Đâu là con đường hạnh phúc.
- Đồng mông chỉ quán.
- Sinh mệnh vô tận hay là Thuyết luân hồi.
- Luật Tứ Phần Tỳ kheo ni.

Ngoài ra còn có một số bài đăng trên các báo Viên Âm, Liên Hoa.

******************************************************************************************
SÁNG MẮT?!

CỐ ĐẠI LÃO HT THÍCH ĐÔN HẬU KHÔNG GIA NHẬP UB VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP GH QUỐC DOANH

Source: http://baovechanhphap.110mb.com/donhautukhuoc.htm

Lời Dẫn

Trong bài trả lời các phỏng vấn của HT Thích Thanh Tứ, Phó chủ tịch thường trực HĐTSTWGHPG Việt Nam, Viện trưởng Viện Phật giáo Việt Nam, trụ trì Chùa Quán Sứ (Hà Nội), phổ biến bởi VIET NAM NET - Giao lưu trực tuyến- 17 :41' 14/11/2003 (GMT+7), có nhắc đến Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống, GHPGVNTN, khẳng định rằng Hòa thượng đã "hoà mình vào giáo hội phật giáo Việt Nam." Nhân có sự đề cập này mà tôi sao lục lại và phổ biến hai văn thư của Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu ở đây. Qua hai văn thư này, dư luận sẽ hiểu rõ sự áp đặt, và cũng theo đó là cách thức đánh tráo sự thực của Nhà Nước như thế nào.

Hai văn thư này trích lục từ tập sách "Giáo hội Minh hành tập" do các đệ tử của Hòa Thượng sưu tập nhưng chưa được phổ biến. Nay tôi xin phép các đệ tử của Ngài phổ biến đến Tăng Ni, Phật tử và đồng bào trong và ngoài nước.

*******************

1. THƯ GỬI HT THÍCH TRÍ THỦ
Trưởng ban vận động thống nhất Phật Giáo Việt nam

Phật lịch 2525,
Linh Mụ, ngày 24 tháng 11 năm 1981.

Kính gởi:

Hòa Thượng THÍCH TRÍ THỦ
Trưởng ban vận động thống nhất Phật Giáo Việt nam.
Chủ tịch Đoàn Chủ tịch
Đại hội Đại biểu Thống nhất Phật Giáo Việt Nam.
(tổ chức tại Hà Nội từ ngày 4-7.11.1981). Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Thưa Hòa thượng,

Như Hòa thượng đã biết, từ mùa xuân năm 1980, khi Ban vận động thống nhất Phật Giáo Việt Nam ra đời, tuy quí vị có ghi tên tôi vào Ban vận động, với danh nghĩa Cố vấn, nhưng tôi đã không có sự cộng tác gì với Ban vận động cả, kể cả cuộc Đại hội thống nhất Phật Giáo Việt Nam vừa qua tôi đã vắng mặt. Thế nhưng, qua báo chí và các văn kiện Đại hội phổ biến, lại thấy có tên tôi trong Ban Thường trực Hội đồng chứng minh với chức vụ Phó Pháp chủ kiêm Giám Luật.

Tôi xin chân thành cảm ơn Hòa thượng và Đại hội đã dành cho tôi vinh dự đó. Tuy nhiên vì lý do sức khỏe nên tôi không thể đảm nhận thêm chức vụ này được nữa, trong khi tôi vẫn còn một trách nhiệm lớn đối với Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất trong cương vị Chánh Thư ký kiêm Xử lý Viện Tăng Thống.

Do đó, nay tôi viết thư này kính tin Hòa thượng rõ, và nhờ Hòa thượng hoan hỷ chuyển đạt tinh thần bức thư này đến quý vị trong Đoàn Chủ tịch cuộc Đại hội vừa qua.

Kính chúc Hòa thượng pháp thể khinh an, chúng sanh di độ. Và mong Hòa thượng nhận nơi đây lòng chân thành của chúng tôi.

Nay thư,
Tỳ kheo THÍCH ĐÔN HẬU
(ấn ký)

********************************************

2. THƯ GỬI HT THÍCH ĐỨC NHUẬN
Pháp chủ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam

Phật lịch 2525,
Bệnh viện Thống Nhất, ngày 08.02.1982

Kính gởi:
Hòa Thượng THÍCH ĐỨC NHUẬN
Pháp chủ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch Hòa Thượng,

Vào những ngày cuối cùng của năm Tân Dậu, vì bệnh tình bức bách, nên ngày 21.01.1982, tôi đành phải rời Huế, vào thành phố Hồ Chí Minh để chữa bệnh, giữa lúc mọi người đang hoan lạc đón xuân sang, và cho đến hiện nay tôi vẫn đang còn được điều trị tại bệnh viện Thống nhất, thành phố Hồ Chí Minh.

Trong thời gian ấy, ngày 07- 02-1982, tôi lại nhận được lá thư của Hòa thượng gởi cho tôi với danh nghĩa Phó Pháp chủ kiêm Giám Luật Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Nội dung bức thư ấy, Hòa thượng báo tin cho tôi biết là Hội nghị Đại biểu thống nhất Phật Giáo Việt Nam đã thành tựu viên mãn, cũng như Hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định công nhận Bản Hiến chương, danh sách Ban Lãnh đạo và cho phép Giáo hội Phật Giáo Việt Nam hoạt động. Đồng thời Hòa thượng đã có lời khuyên tôi cố gắng cộng tác với Giáo hội trong chức vụ nói trên.

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn lòng thạnh tình của Hòa thượng đối với tôi, đồng thời, tôi rất lấy làm vinh dự và tri ân quý Hòa thượng đã dành cho tôi một chức vụ quan trọng như thế. Nhưng, thưa Hòa thượng, như Hòa thượng đã biết, vào đầu mùa xuân năm 1980, cũng chính là lúc tôi đang nằm điều trị ở bệnh viện Thống nhất này, thì hay tin Ban vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam được thành lập, trong đó tôi được có tên với danh nghĩa Cố vấn. Thế nhưng bệnh duyên chướng ngại, nên tôi đã không tham gia được một Phật sự nào đáng kể, ngay cả cuộc Hội nghị Đại biểu vừa qua tôi cũng phải vắng mặt. Cho nên, tôi xét thấy mình tuổi đã già, sức đã yếu lại bệnh hoạn liên miên và mỗi ngày càng thêm trầm trọng. Do đó, tôi viết thư này để kính báo với Hòa thượng để Hòa thượng rõ là tôi không thể đảm nhận được chức vụ quan trọng "Phó Pháp chủ kiêm Giám Luật" Giáo hội Phật Giáo Việt Nam mà hội nghị đã đề cử.

Tuy vậy, riêng cá nhân, tôi vẫn luôn luôn tâm nguyện sẽ tiếp tục đem tất cả sức tàn ra phụng sự chánh pháp trong khả năng còn lại của mình và trong điều kiện sức khỏe cho phép.

Rất mong Hòa thượng thông cảm và nhận nơi đây lòng chân thành của tôi. Kính chúc Hòa thượng phước trí nhị nghiêm, chúng sanh dị độ.

Kính thư,
Tỳ kheo ĐÔN HẬU
(ấn ký )

*************************************************

ĐẠI NẠN CỦA PHẬT GIÁO VÀ ĐẤT NƯỚC

Hòa Thượng Thích Tâm Châu
Source: Nam Úc Tuần Báo, Diễn Đàn 3 Cây Trúc

Bạch Thư 1 của Hòa Thượng Thich Tâm Châu - Đại Nạn Của Phật Giáo 1966


Bạch Thư 2 của Hòa Thượng Thich Tâm Châu - Đại Nạn Của Phật Giáo 1966


Trích từ Bạch Thư Của Hòa Thượng Thích Tâm Châu

Bạch Thư Hòa Thượng Thích Tâm Châu. (Trích từ trang 27-39) Nhà xuất bản: Tổ Đình Từ Quang 2176 Ontario East Montréal, Québec H2K 1V6, Canada

6) Đại Nạn Của Phật Giáo và Đất Nước.

Sang năm 1966, Đại Hội Giáo Hội lại bắt buộc tôi phải làm Viện Trưởng thêm một nhiệm kỳ nữa. Giáo Hội e ngại các tướng lãnh tranh giành ảnh hưởng nhau, không thể có cơ sở vững vàng để xây dựng đất nước được, Giáo Hội yêu cầu Hội Đồng Lập Hiến. Sự yêu cầu này được phát động khắp các cấp Giáo Hội. Nhưng chỉ trong vài tháng việc yêu cầu bầu cử Quốc Hội Lập Hiến đã được Chính Quyền các Tướng lãnh chấp nhận vào ngày 14-4-1966. Sau khi phong trào bầu cử Quốc Hội Lập Hiến đã được thỏa mãn, nhân danh Viện Trưởng, tôi đã gửi thư thông cáo tới các nơi biết: ngưng sự tranh đấu, và chỉ đặt các chương trình xây dựng đạo pháp mà thôi. Ngày 2 tháng 5 năm 1966 tôi đáp máy bay sang Colombo, thủ đô nước Tích Lan, cùng đại biểu Tăng Già các nước soạn thảo Hiến Chương và thành lập Giáo Hội Tăng Già Thế Giới bắt đầu từ ngày 6-5-1966. và tôi đảm trách chức vụ Phó Chủ Tịch. Từ Tích Lan trở về, tôi ghé thăm Malaysia và Singapore để cảm ơn sự hộ trợ tinh thần trong cuộc tranh đấu 1963 vừa qua. Vào 11 giờ sáng ngày 29-5-1966, tôi về tới Saigon, được tin đang có biểu tình trong thành phố Saigon và một số nơi khác tại miền Trung.

Tôi không hiểu, khi tôi đi vắng, ở nhà có Thượng Tọa Trí Quang, Thượng Tọa Thiện Minh, do đâu lại phát động lại phong trào tranh đấu? Tôi về tới VN Quốc Tự, bước chân vào cửa văn phòng Viện Trưởng Viện Hóa Đạo của tôi thì có một biểu ngữ nền vàng chữ đỏ ghi: "Muốn quần chúng tuân theo kỷ luật thì phải theo quần chúng". Tôi vào tới bàn giấy của tôi thì có một đĩa máu, một con dao và một huyết thư: “Yêu cầu các Thượng tọa trong Viện Hóa Đạo, không được theo Thượng tọa Tâm Châu". Tôi định lên chánh điện VN Quốc Tự lễ Phật, tại đây có mấy các vị Tăng thanh niên không cho tôi vào chánh điện VN Quốc Tự và hăm dọa, ai muốn vào chùa hãy bước qua xác chết của họ.

Tôi vô cùng chán nản, không biết cách nào vãn hồi trật tự được. Tôi trở về chùa Từ Quang. Về chùa Từ Quang cũng có một đĩa máu, một con dao và huyết thư "Cấm tôi không được hoạt động nữa". Và, người trong chùa cho biết là họ hăm dọa sẽ đốt xe, ám sát. Và, chính các vị Tăng thanh niên đang tụ tập tại Niệm Phật Đường Quảng Đức ( Bàn Cờ ) định sang chùa Từ Quang giết tôị May có Sư Cô Vân biết được, cấp báo cho tôi biết. Tôi trốn thoát. (4)

Từ đó, tôi phải đi nghỉ, nay tại nhà này, mai tại nhà khác, nay tại Viện Nhu Đạo Quang Trung, mai tại Nha Tuyên Úy Phật Giáo. Từ đó, VN Quốc Tự bị Tăng Ni và quần chúng theo CS nắm giữ, thao túng, liên tục ngày này qua ngày khác, ra đường Trần Quốc Toản, ngã 6 Saigon - Chợ Lớn biểu tình, đả đảo và đốt hình nộm Tổng Thống Mỹ, Tướng Thiệu, Tướng Kỳ. Tôi không dám tới và làm việc tại VN Quốc Tự nữa. Tại Huế, Đà Nẵng và vài nơi khác tại miền Trung cũng vậy, không sao vãn hồi được trật tự. Lại thêm, sự xích mích giữa Tướng Nguyễn Chánh Thi và các Tướng tại Saigon. Nhóm Lập Trường ở Huế ra đời, đòi hỏi bầu Quốc Hội, đòi hỏi ngưng chiến tranh. Kết cuộc, các Tướng Saigon mang quân ra vãn hồi trật tự miền Trung. Thượng Tọa Trí Quang cùng nhóm tranh đấu tại Huế, kêu gọi Phật tử đem bàn thờ Phật ra đường, để ngăn cản bước tiến của Quân Đội Chính Phủ, cho các cán bộ CS nằm vùng, trà trộn tẩu thoát.


Phật tử đem bàn thờ Phật xuống đường năm 1966 chống tay sai Mỹ-Nguỵ và đế quốc Mỹ xâm lược

Phong trào mang bàn thờ Phật ra đường lan tràn khắp nơi và vào cả đến Saigon. Tại Saigon họ đem ảnh Phật ra để trên đống rác. Nhìn cảnh tượng ấy tôi cảm thấy đau lòng, liền ra một thông bạch yêu cầu Phật tử không nên đem Phật ra đường. Thượng Tọa Thích Thiện Hoa Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo đột nhiên ra một thông báo tán thành việc đem Phật ra đường. (5)

Tại Đà Nẵng cũng như một số nơi khác, ngoài việc đem Phật ra đường, còn ghìm súng, nấp sau tượng Phật bắn ra, khi quân đội tiến vào kiểm soát chùa. Đem Phật ra đường rồi, Thượng Tọa Trí Quang vào Tòa Hành Chánh tỉnh Thừa Thiên tuyệt thực. Sau, chính phủ đưa Thượng Tọa Trí Quang vào Saigon, ở nhà bác sĩ Nguyễn Duy Tài. Thượng Tọa vẫn duy trì việc tuyệt thực (có uống nước thuốc dưỡng sức), cho đến khi chính phủ quân nhân y lời hứa hồi tháng 4-1966, bầu cử Quốc Hội Lập Hiến vào ngày 3-9-1966.

Sau khi thanh toán sự hỗn loạn tại Huế và một số tỉnh khác tại miền Trung, thì tại Đô thành Saigon, chính phủ cũng thanh toán xong nhóm náo loạn tại VN Quốc Tự. Tòa Đô Chính Saigon chính thức viết thư xin lỗi Giáo Hội: "Vì nạn bất đắc dĩ phải thanh toán nhóm náo loạn tại VN Quốc Tự, chứ thực tâm, chính phủ không dám xâm phạm vào tôn giáo". Tôi trở về làm việc tại VN Quốc Tự, nhưng một số các vị tranh đấu nhất định không về. Các vị cho rằng, chính phủ xúc phạm đến tôn giáo và cho tôi là thân Chính Quyền.

Tại miền Trung, Thượng Tọa Trí Quang cho tuyên truyền rằng: "Mỹ mua đứt Tâm Châu với 3 triệu Mỹ kim và cho tôi là cậu của Tướng Nguyễn Cao Kỳ, đem quân đội ra tàn sát Phật tử miền Trung v.v...". Đó là chỗ nẩy sinh ra sự mâu thuẫn giữa tôi và các vị tranh đấụ Từ chỗ mâu thuẫn ấy, tại Saigon, Thượng Tọa Trí Quang và nhóm tranh đấu vu khống cho tôi là người Mỹ cho tôi 1 triệu Mỹ kim và trả lương cho tôi mỗi tháng là 20 ngàn Mỹ kim. Thực ra, tôi chưa được một dollar của Mỹ, chứ nói chi đến vạn, đến triệu. (6)

Tôi vẫn nhẫn nại làm việc, tuân theo lời dạy của Hòa Thượng Tăng Thống Thích Tịnh Khiết triệu tập Đại Hội Giáo Hội tại VN Quốc Tự từ chiều 21-10-1966. Buổi chiều ngày 22-10-1966, Đại Hội mới duyệt xét chương trình nghị sự xong. Bất ngờ, 3 giờ sáng ngày 23-10-1966, tại chùa Ấn Quang một số các Thượng Tọa đã lén lút thành lập Hội Đồng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất và đề cử Thượng Tọa Thích Thiện Hoa làm Viện Trưởng, coi như lật đổ tôi. Từ đó có ra Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất tại Ấn Quang.

Vậy, đâu là chỗ chia đôi và lũng đoạn Giáo Hội Thống Nhất? Sau đó, Viện Hóa Đạo Ấn Quang chuyển hướng theo đường hướng "Hòa Bình Khuynh Tả". Viện Hóa Đạo Ấn Quang cử các vị ra nước ngoài liên lạc với các nhóm phản chiến, yêu cầu Mỹ rút quân, phản đối chính sách chống Cộng của VNCH, đòi hòa bình. Viện Hóa Đạo Ấn Quang cử Thượng Tọa Nhất Hạnh làm Trưởng Phái Đoàn Hòa Bình bên cạnh Hòa Đàm Paris.

Ấn Quang là một Phật Học Đường danh tiếng, cung ứng cho nhu cầu phát triển Phật Giáo miền Nam rất nhiềụ Nhưng từ nửa năm 1966 trở đi, Ấn Quang đã bị cưỡng ép làm nơi tranh đấu của các vị ưa tranh đấu. Sang năm 1967, tôi triệu tập 8 Giáo Phái, Hội Đoàn tại VN Quốc Tự, tuyên bố rút lui chức Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất. Đại Hội đề cử Thượng Tọa Thích Thiện Tường (người Nam), lên thay thế tôi làm Viện Trưởng. Và, Đại Hội này nhận thấy Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất đã bị chủ trương "nhất thống", tiêu diệt các Giáo Phái, Hội Đoàn, nên Đại Hội đã tu chính bản Hiến Chương ấy, cho phù hợp với các Giáo Phái, Hội Đoàn. Bản Hiến Chương tu chính này được thông báo cho chính phủ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu biết. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ký sắc luật 23/67 ngày 18/7/1967, công nhận Hiến Chương ấy. Sau khi rút lui khỏi Viện Hóa Đạo, tôi trở ra chùa Từ Quang Vũng Tàu của tôi, vui cùng cảnh vật thiên nhiên, cho vơi bớt những sự ưu tư, vất vả. Tại Saigon, Giáo Hội Thống Nhất Ấn Quang lại phát động phong trào tranh đấu, đòi hỏi không được tu chính Hiến Chương. (Thực vô lý, Ấn Quang chỉ có 3 Giáo Phái, Hội Đòan, mặc dù Tăng Ni Phật tử đông. VN Quốc Tự có 8 Giáo Phái, Hội Đoàn - dù rằng người ít - vẫn có quyền tu chính Hiến Chương, chứ không phải hủy bỏ Hiến chương).

Đùng một cái, một hôm vào khoảng 7 giờ tối, một số Tăng tại chùa Ấn Quang, được sự hộ trợ của các dân biểu thân Ấn Quang có súng, như Kiều Mộng Thu v.v... đột nhập vào VN Quốc Tự bắt thượng Tọa Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Thích Thiện Tường, cùng với rất đông chư Tăng, đem về nhốt tại chùa Ấn Quang. Ngày hôm sau, Nha Tuyên Úy Phật Giáo can thiệp, mời các vị Ấn Quang ra khỏi VN Quốc Tư.. Sau đó, Giáo Hội Thống Nhất tại VN Quốc Tự lại phải đề cử Thượng Tọa Thích Minh Thành (người Nam) lên làm Viện Trưởng. Vẫn chưa yên. Lại một hôm khác, vào chập tối, phe Ấn Quang lại đem người, đem khí giới, tái chiếm VN Quốc Tự một lần nữa Lần này họ bắt hết Tăng chúng, lấy hết đồ đạc, nhiều máy may của VN Quốc Tự và đốt cháy một dãy nhà phía tay trái Quốc Tư.. Nha Tuyên Úy Phật Giáo lại phải can thiệp để vãn hồi trật tự.

Sau biến cố này, Giáo Hội Thống Nhất tại VN Quốc Tự phải đề cử Thượng Tọa Thích Tâm Giác, Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo, kiêm nhiệm Viện Trưởng Viện Hóa Đạ, mới yên. Hai lần Ấn Quang đánh phá VN Quốc Tự như trên, hỏi ai làm nhơ nhớp cho lịch sử Phật Giáo VN? Sự việc rõ ràng như thanh thiên bạch nhật, mà nhóm tranh đấu của Ấn Quang, được sự hộ trợ ngầm của CS nằm vùng, lải nhải vu khống cho VN Quốc Tự chia rẽ Giáo Hội, Thích Tâm Châu phá hoại và lũng đoạn Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất. Thực như câu phương ngôn của VN thường nói: "Vừa đánh trống vừa ăn cướp, vừa ăn cướp vừa la làng". Cậy đông, lấy thịt đè người, mặc sức vu khống, thao túng không coi nhân quả là chi cả!

Cho đến nỗi những vị Tăng không biết chút gì về việc tranh đấu, việc xây dựng Giáo Hội, cũng như các vị Tăng, Ni Phật - từ ở xa, hay sau này, cũng a dua, hùa theo sự tuyên truyền nhồi sọ của nhóm tranh đấu Ấn Quang và CS nằm vùng trong suốt hơn 30 năm naỵ Thực tội nghiệp! Nói thẳng thắn, cuộc chiến tranh Quốc Cộng tại VN, không có một tôn giáo, một đoàn thể nào, không bị CS nằm vùng gây chia rẽ, phá hoạị Thiên Chúa Giáo có những cán bộ gộc nằm vùng như Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng v.v... Phật Giáo cũng vậy, CS nằm vùng từ thượng tầng, tới hạ tầng, càng dễ dàng hơn.

Thực sự, cuộc tranh đấu từ tháng 6-1966, cho đến nay chia đôi Giáo Hội, đều do bàn tay CS đạo diễn, làm hại cho Phật Giáo và quốc gia VN không nhỏ. Vì vậy, Phật Giáo không phải là không có trách nhiệm, liên đới đến sự để mất VNCH cho CS. Vấn đề này, chính Hòa Thượng Thích Huyền Quang cũng thường nhắc đi nhắc lại: CS từng tuyên bố: "Phật Giáo Ấn Quang hai lần có công với Cách Mạng". * Vấn đề hòa hợp hòa giải và các tạp sự sau đó. Đầu thập kỷ 1970. hòa đàm Paris đang tiến đến hồi mặc cả có lợi nhiều cho CS, thì tại VN phe tranh đấu Ấn Quang, do Thượng Tọa Thích Trí Quang lãnh đạo, đã cho thành lập phong trào Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc, do ông Vũ Văn Mẫu được coi là Thủ Lãnh.

Phong trào này không được sự tán thành của hai Thượng Tọa Thiện-Minh và Huyền-Quang. Vì hai Thượng Tọa này không tán thành phong trào Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc, nên Thượng Tọa Trí-Quang và phe nhóm của Thượng-Tọa đã tung ra một chiến dịch bôi bẩn Thượng-Tọa Thiện-Minh và Thượng-Tọa Huyền-Quang một cách tàn nhẫn. Cũng vì chiến dịch này, trong suốt một năm, Giáo Hội Thống Nhất Ấn Quang không thể triệu tập được Đại Hội để bầu cử chức vụ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo vì Thượng Tọa Thích Thiện Hoa đã viên tịch, khiến cho Thượng Tọa Thích Trí Thủ là một vị Tổng Vụ Trưởng phải đứng lên xử lý thường vụ.


Sau 3 năm vắng bóng, TT Thích Trí Quang (bên trái) xuống đường đòi tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức (31/3/1975, Sài Gòn, Việt Nam)

Tình hình biến chuyển hoàn toàn bất lợi cho VNCH. Ngày 30-4-1975, là ngày cáo chung của chế độ VNCH. Những bộ mặt thân CS đã lộ rõ nguyên hình, không ai mà không rõ.

- Khi quân CS từ rừng về Saigon, đã có lần 500 Tăng, Ni của phe tranh đấu Ấn Quang ra đón chào.

- Ngày 19-5-1975, phe tranh đấu Ấn Quang đã tổ chức sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Ấn Quang.

- Hiệp Thương Chính Trị thống nhất hai miền Nam-Bắc của CS, một Thượng Tọa của phe Ấn Quang đã làm một bài tham luận, nịnh CS, kể công của Ấn Quang và đả kích Nha Tuyên Úy Phật Giáo cùng Giáo Hội Thích Tâm Châu.

- Vào khoảng năm 1980, 1981, chính Thượng Tọa Thích Trí Thủ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Ấn Quang cùng các vị cao cấp nhất phe tranh đấu Ấn Quang đã tích cực vận động thành lập và tham gia vào Giáo Hội Phật Giáo VN tại chùa Quán Sứ (Hà Nội), mà người ta thường gọi là "Giáo Hội Quốc Doanh", hay "Giáo Hội Nhà Nước". Chỉ có các Thượng Tọa: Thiện Minh, Huyền Quang, Đức Nhuận, Quảng Độ và một số nhỏ các vị khác không tán thành, nên bị bắt hay bị giết.

- Vào khoảng năm 1986, 1887, Ông Gorbachev, Tổng Bí Thư Đảng CS Liên Xô chủ trương cởi mở, thì tại VN ông Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí Thư Đảng CSVN cũng theo chủ trương ấy. Sau đó, Chủ Nghĩa CS bị tan rã tại Nga, tại Đông Âu, thì tại VN, hình thức chuyển hướng là sự cần thiết để sống còn của ho.. Họ đã cho các chùa được sinh hoạt tín ngưỡng một phần nào, trả một số cơ sở cho các chùa, cho một số thanh niên Tăng, Ni được học hỏi Phật Pháp. Và, có thể bước đầu thí nghiệm của họ, họ cho một số người nào đó, đòi hỏi quyền tự do dân chủ, để tiện dịp nhận diện những người quyết tâm tranh đấu, để có thể triệt hạ sau này. Hòa Thượng Thích Đôn Hậu đã khơi mở ra phong trào Phật Giáo Thống Nhất tại hải ngoại, và Hòa Thượng Thích Huyền Quang tiếp nối sự nghiệp ấy.

Tại Hoa Kỳ cũng tổ chức thống nhất rầm rộ. Kết cuộc có ra hai, ba Giáo Hội Thống Nhất. Tại Âu Châu, có nhiều Giáo Phái hoạt động riêng biệt. Nhưng có một số chùa, có các vị Tăng trung niên và thanh niên, kết hợp thành Giáo Hội Thống Nhất Âu Châu. Tại Úc, dân số VN ty nạn vào khoảng 150 ngàn người, Giáo Hội Thống Nhất Úc và Tân Tây Lan đã thành hình, với số Tăng, Ni ít ỏi, số chùa độ trên mươi ngôi, và trong những ngày đại lễ, số chùa độ trên mươi ngôi, và trong những ngày đại lễ, số Phật tử tới các chùa, tính chung lại vào khoảng 7, 8 ngàn người. Nội bộ Giáo Hội thì không ổn định và có vẻ phức tạp. Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại VN, đang là người trỗi lên, đòi lại danh xưng và sự phục hoạt của Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất. Hòa Thượng là người đầy đảm lược, đầy kinh nghiệm với chủ nghĩa CS. Tôi rất kính mến Hòa Thươ.ng. Tôi đã viết thư khích lệ Hòa Thượng. Tôi luôn luôn cầu nguyện cho việc làm của Hòa Thượng được thành công viên mãn. Cuộc tranh đấu hiện nay tại VN do Hòa Thượng Huyền Quang lãnh đạo thực vô cùng khó khăn. Khó khăn bởi bao mưu cơ, xảo thuật của Thích trí Quang cũ, nằm trong Giáo Hội Nhà Nước, ngăn trở. Khó khăn bởi Hiến CS bao vâỵ Khó khăn ngay trong nội bộ Giáo Hội Thống Nhất Ấn Chương "Tập quyền, kỳ thị" thiếu thiện cảm với các Giáo Phái Phật Giáo khác. Và, có thể có khó khăn với các tôn giáo khác, qua những nhận xét sâu xa. (7) Tuy nhiên, CS là kẻ thù chung của nhân loại. Nhân loại xóa bỏ những mặc cảm riêng tư, và tích cực phục vụ chung cho chính nghĩa. Chính nghĩa quyết thắng. Chủ nghĩa CS không sao tránh khỏi luật đào thải, và chắc chắn phải nhường chỗ cho thể chế tự do, dân chủ của toàn dân VN.

* Kết luận Giáo Pháp của đức Phật Thích Ca Mưu Ni thấm nhuần vào lòng dân VN đã gần hai ngàn năm. Phật Giáo đã hòa đồng cùng vận mệnh thịnh suy của dân tộc. Phật Giáo đã sản sinh những nhân vật đức hài hòa trong sự nghiệp cứu nước và dựng nước. Nhưng, đôi khi, Phật Giáo cũng bị những nhân vật cậy tài, ỷ thế, kỳ thị, thiếu sáng suốt, thiếu hỷ xả, gây tan nát cho đạo giáo và Quốc Gia không ít. Phật Giáo tôn trọng tự do nhân chủ tuyệt đối, không chủ trương "tập quyền" cho một cá nhân hay một nhóm người. Vì, hễ có tập quyền là có độc tài, có bè phái, có những thủ đoạn để củng cố quyền lực. Gần một thế kỷ nay, nhân loại bị đau khổ đến cùng cực bởi nạn "tập quyền" của CS. Ba mươi năm nay Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất chủ trương "tập quyền", chưa thấy đem lại tia hy vọng hòa hợp và an lạc cho đại chúng. Phật Giáo VN tại Hoa Kỳ triền miên trong sự chia rẽ, đã có hai, ba tổ chức thống nhất. Phật Giáo VN tại Úc, "tập quyền" thống nhất trong tay một nhân vật tham độc, thiếu tài đức, gây bè phái, kỳ thị Trung, Bắc, hãm hại huynh đệ đồng đạo, mặc cho gần trăm ngàn Phật tử VN tỵ nạn tại Úc không nơi nương tựa, mặc cho danh dự Phật Giáo VN bị tổn thương nặng nề! Ôi, Phật Giáo VN! Ôi, Phật Giáo VN! Ai gây chi lắm niềm đau khổ, Vũ trụ nài van đến nghẹn lời! (Lửa thiêng đạo mầu) Kính bạch Quý Ngài, Kính thưa Quý vị, Bạch thư này viết ra trong hoàn cảnh bất đắc dĩ. Bạch thư này được viết ra bằng những giòng lệ nóng thương đời, thương đạọ Bạch thư này ra đời, có người ưa có người không ưa, vì sự thật mất lòng. Nhưng, giả dối phải nhường chỗ cho sự thật, để cho Quốc Gia, cho Đạo Pháp được trường tồn, cho nhân dân VN được thức tỉnh, và cho nhân loại được hưởng niềm an lạc của chính pháp. Cầu nguyện Tam Bảo từ bi gia hộ, chuyển hóa đất nước VN, đạo giáo VN, nhân dân VN sớm thoát khỏi ách CS, thành một nước tự do, dân chủ, ấm no, hạnh phúc và thịnh vượng. Chuyển hóa tâm niệm của các cấp Phật Giáo trong và ngoài nước, biết rõ mình, như lời Phật dạy, tiến tu và đạt tới đích giác ngộ, giải thoát. Cầu mong Quý Ngài và Quý vị luôn luôn được niềm an vui như ý, trong ánh đạo từ bi và trí tuệ. Thành thực cảm ơn qúy ngài và qúy vị.

Trân Trọng,
Ký tên Hòa Thượng Thích Tâm Châu

Ghi-chú:

(4) Việc định ám sát tôi, sau này có Thầy Thiện-Lực đến sám-hối với tôi và có một vài Thầy khác hiện nay cũng có mặt ở ngoại quốc.

(5) Cảnh tượng đem Phật xuống đường, không những tôi, nhiều người đau lòng, thế giới Phật-Giáo đau lòng, mà cả Đại-Đức Thích-Quảng-Thành, cũng trong lá thư viết cho Thượng-Tọa Trí-Quang, ngày 31-12-1973, Đại-Đức nói: "Năm 1966, con (Thích-Quảng-Thành) nghĩ Thượng-Tọa (Thích-Trí-Quang) đã làm một việc sai lầm, khi phát-động phong-trào đem Phật xuống đường, dùng một biểu-tượng linh-thiêng, để giải-quyết những tranh-chấp trần-thế." Gần cuối lá thư, Đại-Đức Thích-Quảng-Thành với tính-tình trung-trực đã viết: "Đến nỗi hiện giờ anh em chúng con so sánh Thượng Tọa (Thích-Trí-Quang) với nhân vật “NHẠC-BẤT-QUẦN”, trong tiểu thuyết nổi danh của Kim-Dung. Nhạc-Bất-Quần là chưởng môn của một võ-phái nổi tiếng và được giới giang-hồ xưng tụng là “quân-tử-kiếm”, vì lối đánh và đường kiếm của ông rất quân-tử. Tuy nhiên mọi người đều lầm. Sau một thời gian mấy mươi năm, ông đã lộ chân tướng của ông là một “ngụy-quân-tử”, với những mưu mô và thủ-đoạn cực ác và cực nham-hiểm.”

(6) Việc vu khống cho tôi ăn đô-la của Mỹ, chư Tăng, Ni, Phật-Tử miền Trung cho tôi biết và vừa đây có một Phật-Tử Huế, đang tại Úc cũng xác-nhận với tôi là có sự tuyên truyền ấy. Tại Sàigon, chính Đại-Đức Hộ-Giác (bây giờ đã là Hòa-Thượng) đã cho tôi biết là Thượng-Tọa Trí-Quang nói trước Hội-Đồng Viện-Hóa-Đạo. Thượng-Tọa nói là Thượng-Tọa được nghe vậy!

(7) Trong đơn xin cứu xét của Hòa-Thượng Huyền-Quang gởi lên Tổng-Bí-Thư Đảng Cộng-Sản và Nhà Nước Việt-Nam, ngày 24-6-1992, Hòa-Thượng có viết: “ - Thời Pháp đến Việt-Nam lần thứ hai đã lập ra Giáp-Hội Thiền-Lữ. - Ngô-Đình-Diệm đã lập ra Giáo-Hội Cổ-Sơn-Môn. Thời Diệm không Diệm đã lập ra Giáo-Hội tại Việt-Nam Quốc-Tự (Hòa-Thượng ám-chỉ thời-kỳ Tổng-Thống Nguyễn-Văn-Thiệu đã ra sắc-luật công nhận bản tu-chính Hiến-Chương năm 1967 của Việt-Nam Quốc-Tự. Nhưng đó là sự sai-lầm, chuyển bạn thành thù). Hoà-Thượng còn so sánh với Thiên-Chúa-Giáo: “Nhà nước đã không làm việc cải-tạo với Thiên-Chúa-Giáo, mà còn lập lại ngoại-giao với Thiên-Chúa-Giáo...”

****************************************************************************************

TẾT MẬU THÂN VÀ NHỮNG KẺ CÓ MÁU LẠNH

Xin dâng một nén hương lòng,
Đôi dòng huyết lệ khóc đồng bào tôi.

Tết Mậu Thân 1968, Hòa Thượng Thích Đôn Hậu (Phật Giáo Ấn Quang hay GHPGVNTN) đã lên đài phát thanh MTGPMN kêu gọi, "Chư Tăng, Ni và đồng bào Phật tử đoàn kết với nhau, nhất tề đứng lên đánh đuổi Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Đế Quốc và bất hợp tác với tay sai Đế Quốc".

Tết Mậu Thân và những kẻ có máu lạnh

Nguyễn thanh Ty



Từ tết Mậu Thân, 1968, đến tết Mậu Tý năm nay, 2008, thời gian tròn chẵn 40 năm.

Bốn mươi năm, gần nửa thế kỷ, nửa đời người, đã biết bao nhiêu vật đổi sao dời, song người dân miền Nam, vẫn không làm sao quên được một cái Tết hãi hùng, kinh khiếp mà Việt cộng đã tạo nên, đã đang tay tàn sát dân lành vô tội một cách man rợ nhất trong lịch sử cổ kim trên khắp miền Nam Việt Nam.

Nhất là ở Huế - Thừa Thiên, đã có khoảng sáu ngàn người bị thảm sát dã man. Họ đã bị Việt cộng giết bằng những cán cuốc đập vào đầu hoặc bị chôn sống.

Cứ mỗi lần Tết đến là xứ Huế lại đắm chìm trong bầu không khí u buồn với màu khăn trắng tang tóc của nhiều ngàn gia đình có thân nhân bị Việt cộng sát hại.

Các đám tang tập thể vào các năm 1968-1969 là hình ảnh người ta không thể nào quên. Trong bài viết “Mass Murder, Mass Burial” của nhà báo Tito V.Carballo, đăng trên VietNam Bulletin vào năm 1969 có đoạn mô tả:

“Dưới ánh mặt trời chói chang, những dãy quan tài được xếp thành từng hàng ngay ngắn. Bên trong mỗi quan tài đóng vội này là những gì còn sót lại của các thi hài được tìm thấy. Khoảng 15.000 người, trong áo tang trắng, đứng chịu trận dưới trời nắng chang chang. Một ai đó âm thầm khóc, một ai khác khóc to vật vã. Thỉnh thoảng họ lại nhìn nhau như thể đang tìm một lời an ủi, rằng đây không phải là sự thật, đây chỉ là một giấc chiêm bao.”

Suốt hai mươi sáu ngày trong tháng giêng, ngày nào, chỗ nào cũng có đám giỗ. Khắp nơi, người dân Huế đều tổ chức cúng giỗ cho người thân của mình trước bàn thờ khói nhang nghi ngút.

Tiếng khóc than kể lể của người dân Huế nghe vang vọng cả một trời sầu thảm.

Cùng lúc đó, mĩa mai thay, bên cạnh tiếng khóc than đớn đau của người dân thì Việt cộng lại “hồ hởi phấn khởi” rầm rộ tổ chức ăn mừng “chiến thắng Mậu Thân”.

Thật đúng với câu “Chỉ có loài súc vật mới có thể quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại để thản nhiên trau chuốt bộ lông của mình”

Họ đã ngoãnh mặt trước nỗi khổ đau của đồng bào mà cùng nhau hả hê ca ngợi “chiến công hiển hách” của mình khi tấn công vào miền Nam và thi nhau kể lể thành tích sát nhân của mình.

Năm nay, năm Mậu Tý, tại Sài Gòn, những con người Việt cộng lại càng tổ chức rầm rộ hơn nữa, rất trọng thể, để mừng ngày mà họ gọi là “lễ lớn kỷ niệm 40 năm cuộc tổng tiến công Xuân Mậu Thân”.

Họ khoe rằng, buổi lễ có tới mười ngàn người tham dự rất “hoành tráng” gồm “4000 quần chúng, 1.500 dân quân tự vệ, 2.349 người tham gia diễu binh, 1.700 người tham gia diễu hành nghệ thuật quần chúng...”

Trong buổi lễ, Phạm văn Hải, Phó chủ tịch Ủy ban MTTQ TP.HCM cao giọng khẳng định rằng:

“Năm tháng sẽ qua đi nhưng với cả nước, với miền Nam thành đồng, với TP mang tên Bác Hồ kính yêu, chiến công của cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 sẽ mãi mãi sống trong lòng các thế hệ người Việt Nam, vì đó là đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng, là khí phách Việt Nam...”

Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy TP. HCM, phát biểu khoa trương:

“Cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968 đã tạo “một cú choáng đột ngột” với địch ở miền Nam..., là điểm son chói lọi của lịch sử Việt Nam.”

Cuộc thảm sát xảy ra cho Huế mùa Xuân năm 1968 mà Việt cộng hiện nay vẫn còn hãnh diện khoe khoang là “chiến công sống mãi trong lòng các thế hệ trẻ” là “đỉnh cao của chủ nghĩa” là “điểm son chói lọi” là những thành tích gì?

Đó là nỗi kinh hoàng đối với người dân Huế. Đó là vết thương chưa khô máu. Đó là vết sẹo chưa lành vẫn còn đau thốn tim can mỗi khi có ai nhắc đến.

Chúng ta hãy giở lại trang sử cũ, Tết Mậu Thân, để nhìn lại những “những bộ lông” mà Việt cộng đã “trau chuốt” lập nên xem nó chói lọi đến độ nào và tạo đỉnh cao tới đâu.

Lẫn trong tiếng pháo nổ rền đón mừng năm mới, đêm 30 rạng ngày 31 tháng 1 năm 1968, Việt cộng đã đồng loạt bất ngờ nổ súng tấn công 4 thành phố lớn, trọng tâm là Sài Gòn, Gia Định và Huế, 37 thị xã và hàng trăm quận lỵ, thị trấn của miền Nam.

Việt cộng tưởng đâu lợi dụng yếu tố bất ngờ giây phút thiêng liêng trong đêm giao thừa, toàn thể quân dân miền Nam đang long trọng đón rước tổ tiên, ông bà về ăn Tết với con cháu, giáng một đòn sinh tử chớp nhoáng xuống miền Nam để có thể “ăn chắc” như ông Hồ muốn “Xuân này chiến thắng ắt về ta”.

Nhưng, thiên địa bất dung gian, mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, chỉ hơn một tuần lễ sau, quân lực VNCH đã bẻ gẫy tất cả các nổ lực của Cộng quân và đã đánh bật chúng ra khỏi các thành phố và các thị xã mà chúng chiếm được lúc đầu.

Chỉ trong mấy ngày, quân Việt cộng đã trả một giá quá đắt: 32 ngàn bị thương vong và khoảng 5.800 bị bắt.

Riêng thành phố Huế, Cộng quân cố liều chết, chiếm giữ lâu nhất là 26 ngày.

Ngày 25 tháng 2, những lực lượng cuối cùng của Việt cộng bị đẩy lui ra khỏi thành phố Huế.

Trong 26 ngày bị vây hãm, Việt cộng không còn khả năng chiến đấu, trước khi tháo chạy, đã điên cuồng say máu giết hại người dân lành để trả thù.

Bao nhiêu người dân Huế bị Việt cộng sát hại?

Theo những báo cáo của các cuộc cảnh sát các xã thuộc 13 quận của thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, do các xã báo cáo, khoảng 5.300 nạn nhân bị chôn sống tại tỉnh Thừa Thiên.

Tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, 22 địa điểm tìm được là các mồ chôn tập thể.

rong 22 địa điểm này, người ta đếm được 2.326 sọ người. Các gia đình kê khai có người chết và mất tích lên đến 4000 người.

Người ta ước tính khoảng 6000 người.

(Nguyễn Phúc Liên Thành, Phó Trưởng Ty Cảnh sát Đặc biệt Lực lượng Cảnh sát Quốc gia tỉnh Thừa Thiên và Nguyễn Lý Tưởng, cựu Dân biểu Khu vực Thừa Thiên.)

Nơi đầu tiên tìm thấy các nạn nhân Việt cộng là sân trường Trung Học Gia Hội vào sáng ngày 26 tháng Hai, tổng cộng có 170 xác. Mấy tháng sau, người ta tìm thấy thêm 18 nơi chôn tập thể, lớn nhất là khu ở gần chùa Tăng Quang, 67 thi thể, Bãi Dâu, 77, khu chợ Thông, khoảng 100, khu lăng tẩm, 201, Thiên Hàm khoảng 200, Đồng Gi, khoảng 100. Tổng cộng khoảng 1.200 thi thể tìm thấy trong những hầm hố lấp vội vã.

Dần dần các ngôi mộ tập thể được tìm thấy khắp nơi. Tại quận Phú Thứ, những vùng đồi cát Lệ Xá tây, làng Văn Hoà, Xuân Dương. Quận Vinh Lộc. quận Nam Hòa.

Nhiều nhất là tìm thấy ở những đồi cát của ba làng Vinh Lưu, Lệ Xá đông và Xuân Ô. Hơn 800 người được tìm thấy ở khu nầy.

Ở khe Đá Mài tìm được 428 bộ xương...

Thành phần nào bị giết?

Ông Nguyễn Lý Tưởng kể:

“Cộng sản bắt đi trên 500 người, thanh niên từ 15, 16 tuổi đến ông già 60, 70 bị đưa đi giam ở chùa Từ Đàm. Đến đêm, họ bị dẫn đi lên đường núi và qua sông. Sau đó tàn sát hết mọi người trong tư thế bị trói.”

Ông Liên Thành nhớ lại:

“Riêng tại quận ba, Việt cộng bắt đi hơn 500 người đang trốn trong Dòng Chúa Cứu Thế, dẫn đi hết, rồi chôn sống. Tội nghiệp nhất là một số nạn nhân hoàn hoàn không dính dáng gì đến chính quyền. Ngoài ra trong số này có một người rất tiếng tăm là Thượng Nghị sĩ Trần Điền. Ngoài ra, tại vùng Phủ Cam, bốn ngày sau khi Việt cộng chiếm Huế, nhà thờ lớn Phủ Cam bị ập vào, bắt đi 300 thanh niên sau này được tìm thấy xác ở vùng phía tây Nam Hòa, tức vùng núi dọc khe Đá Mài, lăng Gia Long”

Việt cộng giết người dân vô tội bằng cách nào?

Hãy nghe một nhân chứng còn sống sau 40 năm thuật lại:

“Sau chùa Diệu Đế, chúng nó đưa về phiá Gia Hội, sống xung quanh mấy nhà dân. Chúng bắt chúng tôi đi khiêng vác trong vòng mấy ngày sau, thì bắt đầu tôi thấy phía bên chỗ Đông Ba, máy bay bắn xuống dữ lắm. Tụi tôi thấy chắc là phản công rồi, lính VNCH mình phản công chúng nó rồi. Tôi cũng cầu nguyện, cầu nguyện, nhưng không phải là đi dân công đâu quý vị ơi. Đến tối đó, nó phát cho mấy cái cuốc, nó nói bây giờ đi đào mấy cái hào, cái hầm. Tại vì máy bay bắn xuống quá, tôi nghĩ chắc nó sai tụi tôi đi đào mấy cái hầm để cho tụi nó núp, giống như công sự, núp để tránh đạn tránh bom. Tụi tôi mười mấy thằng còn xác vác cuốc đi đào, cũng đào, đào, nghĩa là tối xuống đi đào, đào. Cái hố bề sâu xuống là một thước, bề ngang bằng một sải tay, một sải tay ngang, cứ đi tới, đi tới, một thằng một khúc, cứ đào. Đào cứ nối liền nhau, nối liền nhau. Đào xong cái này rồi bắt đầu đi đào cái khác, như là đào tuyến công sự đó mà.

Nhưng quý vị biết không, sau khi đào xong lúc 3 giờ sáng, lần đầu tiên tôi thấy nó dẫn ra một đám người từ xa trong bóng tối. Những người này khi tiến tới gần, bấy giờ tôi mới thấy là tay trói về phía sau, cột trùm, cột dính vào với nhau bằng sợi dây điện thoại màu đen đen. Nó cột trùm, người ta dắt ra , dắt ra. Mỗi toán nó dắt ra như vậy là khoảng 14, 15 người. Những cái hố chúng tôi đào cũng vừa cái khoảng đó. Nó mới bắt những người đó đứng xoay lưng về cái hố. Còn nhiệm vụ chúng tôi thì chúng tôi đang đứng, đang đào đất, tay chúng tôi đang cầm cuốc. Nó mới sắp hàng những người kia, những người mà nó bắt, bị cột sợi dây điện thoại, dính trùm với nhau.

Số người này, một số mặc đồ ngủ hoặc mặc bộ đồ thường, có người mang dép, có người đi chưn, kể cả những người mặc quần xà loỏn. Nó sắp người ta xoay lưng về cái hố mà chúng tôi đào (ông T thở mạnh như bị ngộp thở, khóc thút thít), rồi cái thằng cán bộ VC mặc áo trắng và quần cán bộ chính quy, đội nón cối, nó đọc, nó đọc bản án tội ác của những người đó. Nó nói những người đó có tội với nhân dân, có tội với cách mạng. Nó vừa đọc xong bản án thì thằng du kích VC, thằng đứng đầu mặc quần xà loỏn, quần đen áo đen, nó lấy súng AK bắn người đầu tiên, nó bắn rào, nó bắn rafale. Ông này bị trúng, ông lật ngược ra, đằng sau đâu có cái gì đâu, là cái hố!”

Ổng té xuống, quý vị biết không, mấy người sau đâu có trúng đạn gì đâu, cũng lăn xuống. Lăn và lộn, lộn vòng xuống, lật ngửa ra. (Ông T khóc rống lên) Nó bắt tôi lấp! Nó kêu lấp, lấp, lấp lẹ! (vẫn khóc) Tôi không lấp, nó đánh tôi. Tôi nhìn mấy người đó, tôi khóc, tôi khóc, khóc, khóc!

Không! Người ta còn sống mà lấp đi! Không! Thôi nó dọng báng súng tôi, súng AK nó dọng, nó dọng đằng sau xương sống tôi (vừa thở như bị ngộp, vừa khóc).

Chưa được, nó quay mũi lưỡi lê nó đâm tôi, nó đâm ba sườn tôi. Trời ơi, máu me nó đâm! Mấy thằng, thằng nào cũng khóc, nó đánh, nó đánh. Tôi phải lấp, phải lấp. Tôi lấp đồng bào tôi ( khóc nức nở ). Trời ơi, trời ơi, Thượng Đế coi này! Bây giờ tôi nhớ tôi có tội quá. Tôi nhớ mấy con mắt đồng bào, mấy người dưới hố ngó tôi. Trời, trời, trời, trời ơi VC ơi là VC! Không lấp thì nó đánh! Lấp thí bà con tôi chết! Thôi, thôi, lạy Phật, lạy trời, lạy Thượng Đế. Chưa có thằng nào nó tàn ác như vậy...

( Nam Dao thực hiện phỏng vấn. Tamthuc.com)

Hầu hết những hố chôn tập thể tìm thấy được, các xác nạn nhân đều bị trói từng chùm với nhau cả. Và đa số đều bị đập bể đầu vì cán cuốc.

Được hỏi vì sao Việt cộng lại tàn sát đồng bào man rợ đến như vậy, một trung tá Việt cộng bị bắt tên Hoàng Kim Loan, thành ủy viên hoạt động bí mật tại Huế 20 năm trả lời:

“ Đây là chủ trương bạo lực cách mạng của cấp trên chỉ thị. Thứ hai, trên đường rút lui, do không thể đem theo tù nhân, nên phải giết. Người Cộng sản chúng tôi có chủ trương thà giết lầm hơn bỏ sót”

Được hỏi tại sao không bắn họ, cho họ viên đạn còn dễ hơn lấy cuốc đập đầu và đẩy xuống hố, Loan nói:

“Đạn chúng tôi để bắn Mỹ Ngụy. Đạn đâu để bắn những đám người như vậy.”

Vì sao Việt cộng lại điên cuồng tàn sát người dân Huế?

Trong bài viết mới đây, 30/01/2008, “ Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 – Nét đặc sắc của Chiến tranh Nhân dân”, Nguyễn mạnh Hưởng (CS trong nước) đã thú nhận:

“ ...Để thắng kẻ địch, chúng ta phải phát huy cao độ ưu thế và sức mạnh của chiến tranh nhân dân, quân và dân ta phải có quyết tâm sắt đá...Quần chúng nhân dân trên các mặt trận nổi dậy có tổ chức, với khí thế quyết tâm cao, đặc biệt là tại thành phố Huế, quần chúng đã hăng hái tham gia vào các lực lượng chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong thành phố. Với 26 ngày đêm chiếm giữ thành phố Huế, thắng lợi của quân dân ta là nguồn vũ to lớn, thúc dục các đơn vị lực lượng vũ trang và nhân dân trên khắp các chiến trường tiến công và nổi dậy, tiêu diệt địch và dành quyền làm chủ...”

Cái mà cán bộ Hưởng gọi là “sức mạnh nổi dậy của quần chúng” thực tế đã trả lời cay đắng cho mộng tưởng. Người dân Huế đã không những không nổi dậy, không hưởng ứng mà lại ùn ùn lánh nạn cùng nhau chạy về phía quân đội VNCH để được bảo vệ.

Đó là lý do khiến cho quân Việt cộng tức giận điên cuồng nổi lên thú tánh, giết người trả thù cho hả gan.

Ông Trần Tiễn San, trung úy tiểu đoàn 39 Biệt Động quân đã tham gia tái chiếm Huế, kể lại:

“ Lúc đánh ở Vỹ Dạ, lực lượng chính của Việt cộng không còn nữa. Nhưng khó đánh vô cùng. Mình tiến từ nhà này sang nhà khác, nhà thì có kẽm gai, bờ tường. Mình thì bên này, dân chúng bên kia, họ thấy là đâm đầu chạy qua...”

Đây là chủ trương của Hà Nội, là dùng bạo lực cách mạng trấn áp dân Huế. Hà Nội tin là khi họ chiếm Huế, người dân Huế sẽ nổi dậy theo họ. Đó là một đánh giá sai lầm.

Người Huế sợ Cộng sản vô cùng. Vô cùng sợ. Khi Việt cộng tràn vô Huế, họ đến đâu, dân chúng bỏ chạy đến đó. Mà chạy thì họ bắn. Đó là sự thật. Những ai sống tại Huế thời đó đều biết.”

Hà Nội đã đánh giá sai lầm người dân Huế qua các báo cáo láo, nịnh bợ, tâng công của những tên nằm vùng ở Huế.

Những tên nằm vùng đó là ai?

Ngày nay thì mọi ngưòi đều đã nhẵn mặt những tên: Đóa, Tiềm, Tường, Phan, Xuân... Đó là những hung thần ác sát và năng nổ nhất trong việc chỉ điểm lùng bắt những ai không theo hoặc chống chúng.

Chúng ta nghe tiếp nhân chứng sống kể lại tội ác của một nhân vật điển hình trong số bọn này:

“Tôi xin kể với chị Nam Dao nghe là đến ngày mồng 2 Tết, mở mắt ra thì thấy VC đi vòng vòng. Người đầu tiên tôi thấy là ông thầy tôi, ông Tôn Thất Dương Tiềm. Ông dạy môn Việt văn cho lớp đệ tam chúng tôi, mà bây giờ gọi là lớp 10. Tôi đang học lớp đệ tam thì khi đó ông dạy tôi Việt văn. Thầy dạy tôi thế nào là thương đồng bào, yêu tổ quốc, yêu quê hương. Ông Tiềm là người mở cho tôi con đường thấy rõ được bổn phận của thanh niên là phải làm gì cho quê hương. Nhưng quý vị biết không, trời đất ơi, chính ông Tiềm lại là người dạy cho tôi thế nào là tàn ác của VC! Ông Tiềm là người vác súng K54, dưới thì ông mặc quần xanh xanh của cán bộ chính quy, trên thì ông mặc áo màu trắng, áo sơ mi.

Tôi thấy ông Tiềm lúc đó đang chỉ huy những người cũng mặc áo trắng, mặc quần bộ đội, tức là cán bộ, đeo súng K54 làm làm gì đó, nói sầm nói sì gì đó, sau đó mấy người đó mới chỉ trỏ cho mấy người mặc bộ đồ đen, tức là mấy thằng du kích VC. Trong đám đó tôi còn thấy anh Hoàng Văn Giàu nữa. Anh Hoàng Văn Giàu là một sinh viên học ở Huế.

Tôi phải sống mà chứng kiến những sự tàn sát theo lệnh của thầy Tôn Thất Dương Tiềm tại thành phố Huế, tại ngã tư Nguyễn Thành và Mai Thúc Loan tại khu thượng thành đó.

Sáng ngày mồng 2 Tết khi VC xuất hiện, nó bắt đầu xách ra... nó bắt ở đâu không biết, nó bắt ra được 5 người, nó trói tay sau lưng, một số còn mặc áo quần ngủ, một số mặc áo quần bình thường, mặc áo pijama, bộ đồ ngủ - đang ngủ ở nhà nó xách ra. Đến trưa trưa 11, 12 giờ ngày mồng 2 Tết, tôi thấy mấy thằng du kích nó dắt ra, dắt ra. Có mấy thằng loong toong VC nằm vùng cỡ như Hoàng Văn Giàu chạy theo đít, chạy theo, chạy theo, ra tới ngay chỗ cửa Đông Ba. Người ta trói cả rồi, bắt đầu đứng sắp hàng, xoay lưng vô thượng thành - thành cao lắm. Tôi thấy ông Tiềm sắp đủ 5 người, sắp lần lần 1, 2 ,3 ,4, bắt đầu 5 người. Tôi thấy đông, chạy tới tôi coi. Tôi cũng núp núp mà tôi coi. Tôi thấy ông Tiềm ra lệnh cho thằng cán bộ VC nói tiếng Bắc. Thằng đó mới ra lệnh cho thằng VC mặc bộ đồ quần đùi đen, bắt đầu giương súng bắn.

Trong đó tôi thấy có ông Quế ở tại đường Nguyễn Thành. Ông này hồi trước làm cảnh sát gì đó, bây giờ đã già rồi....”

40 năm, sau ngày bàn tay đẫm máu đồng bào Huế, những tên này không biết có hối hận ăn năn về tội ác của mình hay không, nhưng chúng luôn chối bai bải về tội ác của mình. Đứa nào cũng nói với tác giả “Giải khăn sô cho Huế” bà Nhã Ca rằng “chúng tôi chớ hề biết về các vụ thảm sát này và chúng tôi rất đau buồn”.

Hãy nghe tác giả “Giải khăn sô cho Huế” kể lại:

...Về “những nhân vật thật”, nêu đích danh chỉ có anh Lê Văn Hảo, thị trưởng Huế Mậu Thân do phía quân giải phóng cử ra. Anh Hảo nay đã tị nạn cộng sản tại Pháp, đã chính thức lên án việc quân giải phóng tàn sát dân Huế hồi Tết Mậu Thân. Nhân vật thứ hai trong sách mang tên Phủ là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nguyên Tổng Thư Ký Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hòa Bình Thành Phố Huế thời Tết Mậu Thân. Ðây là chức vụ “phụ trách công việc chính trị” có nghĩa là “xếp” của cả chức thị trưởng. Năm 1997, anh Tường đã đến Paris, lên tiếng trên đài RFI, nói về - xin trích nguyên văn: “nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Ðó là một sai lầm không thể nào biện bác được...” Anh cũng đã công khai “gửi lời cám ơn sự khách quan của chị Nhã Ca dành cho tôi” và nói nguyên văn rằng “Giải Khăn Sô Cho Huế đối với tôi, vẫn là một bút ký hay viết về Huế Mậu Thân; hàng chục năm qua đọc lại, tôi vẫn còn thấy quặn lòng.” Văn bản lời anh Tường trả lời cuộc phỏng vấn của chị Thụy Khuê đài RFI hiện còn lưu trên internet, ai cũng có thể đọc được. Nhân vật thứ ba trong sách có tên là Ðắc, theo lời kể mà tai tôi nghe, liên quan tới cái chết đau thương của người bạn tên là Mậu Tý. Nhà báo Nguyễn Ðắc Xuân, một phụ tá của anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, có viết bài phản bác, nói là anh không hề liên quan.

Cả ba nhân vật kể trên, đều đã có lòng đích thân đến gặp tôi trước ngày chúng tôi rời Saigon sang Thụy Ðiển.” .

Thủ phạm của vụ thảm sát là ai? Ai chịu trách nhiệm?

Đã 40 năm qua, đã 40 lần Việt cộng tổ chức ăn mừng, ca hát trên xác chết của hơn 6000 nạn nhân ở ở Huế, nhưng bọn chúng vẫn không hề nhận tội của mình đã ra lệnh tàn sát người dân Huế vô tội. Vậy ai là sẽ là kẻ chịu trách nhiệm về những cái chết oan khuất của nhiều ngàn người Huế trong tết Mậu Thân?

Đa số dư luận ở Huế đều nói rằng chính những thành phần thiên Cộng tại Huế, là đám sinh viên, đã thoát ly lên mật khu năm 1966 trong các phong trào sinh viên tranh đấu phải chịu trách nhiệm. Trong số này có những tên được đồng bào chỉ đích danh nhiều lần gồm có Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê văn Hảo, Tôn thất Dương Tiềm, Tôn Thất Dương Kỵ, Nguyễn văn Đóa...

Cả ông Lê văn Hảo từng là Chủ tịch Ủy Ban Nhân dân Cách Mạng Thừa Thiên vào thời ấy, bây giờ cũng chối tội:“Đó không phải là sự thật lịch sử. Tôi chỉ là một con tin(!) trong thế kẹt, phải nhận một chức vụ để bảo tồn sự sống còn để mong có ngày về với vợ con thôi. Chứ tôi nói thật, trong Tết Mậu Thân, vai trò của tôi hoàn toàn thụ động... Sự việc diễn tiến như vậy thì mình đi theo Cách Mạng thôi.”

“Khi lên trên núi, tôi biết ngay Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam chỉ là một trò bịp bợm, một tổ chức hữu danh vô thực của Cộng sản mà thôi, do Hà Nội chỉ đạo. Mà họ có dấu điều đó đâu.”

Thực ra cái bọn trí thức chồn lùi như Hảo, Tường, Phan, Xuân, Tiềm, Đóa... chỉ là bọn cò mồi ăn theo, nói leo, vượt thoát lên mật khu đã trở về thực hiện một số vụ hành quyết, chôn sống bạn bè để trả thù cá nhân còn thì làm công việc chỉ điểm để cho bọn Bắc Việt bắt bớ.

Theo ông Bùi Tín, cựu đại tá CS, đang tị nạn Cộng sản tại Pháp, “giữ một thái độ công bằng, nói có bằng chứng, không biết không nói, không yêu nên tốt, ghét nên xấu” theo cách nói của ông:

“ Riêng Mậu Thân, tôi biết Tổng Cục Chiến tranh Chính trị có in một chỉ thị - truyền đơn 10 điều kỷ luật chiến trường, đại để là: phục tùng mệnh lệnh, vào vùng giải phóng không quấy nhiễu dân, không lấy cây kim sợi chỉ của dân, làm dân vận, kẻ địch bỏ súng không được tự động giết ... Khi Thủy quân lục chiến cùng VNCH phản công, bộ đội được lệnh rút lên núi phía Tây Huế, cũng có lệnh giải theo tù binh lên núi, nhưng không được để tù binh thoát, lộ bí mật quân sự, chính đại tá Lê Minh, tư lệnh thành Huế ra Hà Nội kể cho tôi nghe chuyện này và cho biết các đại đội và tiểu đoàn đều có thủ tiêu tù bình. Tướng Trần văn Quang tư lệnh quân khu Trị Thiên-Huế chỉ bị “phê bình” khi chuyện tàn sát “hàng ngàn” tù binh đã xảy ra.

Hơn nữa, các đơn vị trừ gian của ngành an ninh, công an, bảo vệ quân đội đi theo các mũi tiến quân mới là những đơn vị trực tiếp tàn sát nhiều tù binh, họ dựa vào bọn cơ hội - học sinh, sinh viên nằm vùng làm chỉ điểm, tâng bốc là giác ngộ, yêu nước, cách mạng, bọn này lộng hành để cố chứng minh lòng “hăng hái cách mạng” và có khi trả thù cá nhân. Họ tàn sát, gây không khí khủng bố để hăm dọa toàn dân. Tôi cũng nói rõ đảng cộng sản hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi cuộc tàn sát trong chiến tranh, vì họ đã giáo dục căm thù kiểu nhồi sọ có hệ thống, tự nhận là có cả một nền khoa học giáo dục về căm thù giai cấp, coi quân lực miền Nam là kẻ thù không đội trời chung..”

Đã 40 năm qua, mỗi lần Tết đến, người miền Nam dù trong hay ngoài nước, nhất là người dân Huế, không ai là không đau lòng nhớ lại cái Tết Mậu Thân kinh hoàng đẫm máu. Chỉ riêng những con người cộng sản có máu lạnh mới thản nhiên tổ chức ăn mừng, nhảy múa, “hát trên những xác người”.

Thử hỏi một người còn có chút lương tri và nhân tính liệu có thể nào trở lại Bãi Dâu để mà vỗ tay ca hát, ăn mừng chiến thắng như có người đã từng: “Chiều đi lên Bãi Dâu, hát trên những xác người, tôi đã thấy những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em, xác người nằm trôi sông, trôi trên ruộng đồng, xác người nằm bơ vơ dưới mái hiên chùa, trong giáo đường, trền thềm nhà. Xác người nằm quanh đây, trong mưa lạnh. Bên xác người già yếu có xác còn ngây thơ...”

Đó là xác của những tên “phản cách mạng” “thành phần ác ôn có nợ máu với nhân dân” như lời phát biểu của tên đao phủ thủ Hoàng Phủ Ngọc Phan đã chủ trương giết lầm hơn bỏ sót đó ư?

Sau Tết Mậu Thân, với thảm trạng nhiều ngàn người dân vô tội ở Huế bị Cộng sản trói tay từng chùm với nhau đem chôn sống tập thể hoặc dùng đánh cuốc vào đầu nạn nhân vỡ sọ chết hàng loạt rồi vùi lấp trong các hố để trả thù, người ta càng rùng mình ghê rợn nhận rõ chân tướng loài Cộng sản là một loại ác thú có hình dáng giống người, nhưng không có tim, lại có máu lạnh, thích giết hại và ăn thịt đồng loại.

Riêng kiểu giết người bằng cách dùng cuốc đập đầu là phương pháp độc nhất vô nhị dã man của Cộng sản đã được tên Bộ trưởng Công An Trần Quốc Hoàn dùng để giết cô Nông thị Xuân, người vợ hờ của “Bác Hồ muôn vàn kính yêu” để phi tang vụ Bác làm cho cô có con. Phương pháp này truyền cho bọn MTGPMN, một thời, dùng để lùng giết, thủ tiêu viên chức Xã Ấp VNCH ở các vùng nông thôn hẻo lánh, hoặc dùng để khủng bố dân chúng không tiếp tế cho chúng.

Tết Mậu Thân, Việt Cộng lại áp dụng đại trà giết dân lành tại Huế. Và bọn Khờ Me đỏ Pol Pot cũng áp dụng kiểu này ở Cămpuchia để giết hại hàng triệu dân mình. Cộng sản thì ở đâu cũng ác độc giống nhau.

Mỗi độ tết về, dù nhà cầm quyền Cộng sản cố tình tổ chức rình rang, “hoành tráng” cách mấy chăng nữa để gọi là ăn mừng chiến thắng Tết Mậu cũng vẫn không cách gì che đậy được tội ác của mình với toàn thể nhân dân Việt Nam nói riêng, nhân loại nói chung.

Năm 1975, khi mới tiến vào miền Nam, nghĩa trang trên núi Ba Tầng, còn gọi là núi Bân, nơi an táng khoảng 400 thi hài tìm được nơi khe Đá Mài vùng Đình Môn Kim Ngọc lập tức bị Cộng sản đập phá tan hoang để hòng bôi xóa vết tích tội ác của mình, cũng đủ nói lên cái “đạo đức cách mạng” mà hiện nay nhà nước ta đang phát động học tập. Oan khiên và thảm thay cho người chết hai lần.

Đào Hiếu, một sinh viên miền Nam đã từng một thời với Huỳnh tấn Mẫm, Nguyễn tấn Tài, Cao thị Quế Dương, Võ thị Thắng v.v...... nhẹ dạ, ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, đã sớm sáng mắt sáng lòng, nhận ra mặt thật của đảng CS, đã tố cáo sự man rợ tàn ác của Cộng sản trong nhiều tác phẩm của mình.

Trong cuốn tự truyện mới nhất, 2008, nhan đề “Lạc đường”, Đào Hiếu đã vạch rõ: “Hóa ra thiện hay ác, văn minh hay man rợ không phải do dân tộc mà là do chính quyền. Chính quyền man rợ sẽ đẩy dân tộc mình vào man rợ”.

Đào Hiếu muốn nói cái chính quyền man rợ nào ở đây?

Nguyễn Thanh Ty


Một hình ảnh tiêu biểu sau cuộc Thảm sát Mậu Thân do Việt cộng thực hiện tại Huế, những mảnh xương còn in dấu vết bị Việt cộng đập chết bằng cán cuốc hoặc báng súng. Nguồn: Ở khắp nơi trên thế giới đều có lưu trữ tài liệu và những hình ảnh kinh hoàng này.

Năm Mậu Thân 1968, HT Thích Đôn Hậu đã lên đài phát thanh MTGPMN kêu gọi, "Chư Tăng, Ni và đồng bào Phật tử đoàn kết với nhau, nhất tề đứng lên đánh đuổi Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Đế Quốc và bất hợp tác với tay sai Đế Quốc".

Kèm theo HT Thích Đôn Hậu phải kể tới Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Hoàng Phủ Ngọc Tường hiện sống ở Huế (1992), có chân trong ban biên tập của tạp chí Sông Hương, cùng với các tạp chí như Tuổi Trẻ, Văn Nghê.... Đã phổ biến các tác phẩm của những tác giả như Dương Thu Hương, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Huy Thiệp, Lưu Quang Vũ...nhà xuất bản Văn Uyển ( Hoa Kỳ ) đã giới thiệu Hoàng Phủ Ngọc Tường qua truyện ngắn "Tìm Ma Phiêu Du Ký" trong tuyển tập Văn Chương Đối Kháng Quốc Nội xuất bản vào tháng 5/1990. Nhưng ông ta là ai và đã làm gì ?

HPNT được về giảng dạy môn Việt Văn trường Quốc Học Huế vào năm 1961, thời ông Đinh Qui làm hiệu trưởng và ông Văn Đình Hy làm giám học, vào thời đó Huế có 2 giáo sư dạy Việt Văn nổi tiếng, ở trung học đệ nhất cấp có Tôn Thất Dương Tiềm, ở đệ nhị cấp có HPNT, mãi đến sau khi trận tấn công Mậu Thân của VC vào thành phố Huế chấm dứt, cơ quan an ninh VNCH mới biết rõ sự liên hệ 2 người này với CS.

HPNT trưởng thành tại Huế, có người em ruột tên là Hoàng Phủ Ngọc Phan, gia đình ở Thành Nội, thuộc thành phần trung lưu, sau khi đỗ xong Tú tài hai, Tường được gia đình cho vào Saigon học Đại học Sư Phạm Triết, ra trường, Tường có luôn bằng cử nhân văn chương, mang triết áp dụng vào văn chương, giáo sư HPNT có một lối giảng dạy rất mới lạ so với các giáo sư Việt Văn khác, chỉ dựa vào các sách của Dương Quảng Hàm, Nghiêm Toản, Hà Như Chi....để soạn bàị Học sinh các lớp văn chương rất mến mộ ông vì Tường dạy hay, dù dáng người ốm, cao cỡ 1.6m, nhưng giọng nói rất tốt, giảng bài hấp dẫn, cách phục sức giảng dị, thân tình với học sinh, thầy Tường lúc nào cũng có vẻ như một nhà triết học, trở thành thần tượng của giới trẻ lúc bấy giờ.

HPNT có người yêu tên là HTTN, cũng ở Thành Nội Huế, nữ sinh viên Văn Khoa, nhưng vì những trắc trở, 2 người không lấy nhau được, về sau, cô này lại là vợ của một trong những người bạn của Tường.

Số bạn thân nhất của Tường có thể đếm ở đầu ngón tay : Ngô Kha, Trịnh Công Sơn, Trần Quang Long. Trần Quang Long đã chết, Ngô Kha cũng đã chết, nguyên là giáo sư Việt Văn trường Hàm Nghi Huế, vợ Kha là em gái của Trịnh Công Sơn, cô này đã vượt biển, hiện sống tại Canada và đã tái giá. Trần Quang Long và Ngô Kha đều là những đồng chí của HPNT; năm 1964, Kha và Long lập ra nhóm Quán Bạn, thật ra đây chỉ là địa điểm ngụy trang nhằm để tuyên truyền chống chính phủ, năm 1966, cùng với Nguyễn Đắc Xuân, Ngô Kha thành lập Chiến Đoàn Nguyễn Đại Thức, năm 1970, Ngô Kha chủ biên tập san Tự Quyết (Ban biên tập gồm có Trịng Công Sơn, Đinh Cường, Bửu Ý), năm 1971, Ngô Kha chủ biên tập san Mặt Trận Văn Học Dân Tộc Miền Trung, đặt dưới sự lãnh đạo của

Thành ủy CS Huế, tháng 6/1973, trong một cuộc hành quân của Quân đội VNCH từ Phá Tam Giang đến cửa Tư Hiền, Ngô Kha đã bị bắn chết khi đang tìm cách vượt thoát vòng vâỵ

Sau khi biến động miền Trung chấm dứt vào giữa năm 1966 thì mãi đến tháng 10/1967, chính quyền Thừa Thiên, vị tỉnh trưởng lúc bấy giờ là Trung tá Phan Văn Khoa, mới kết thúc hồ sơ của HPNT và một số giáo sư dạy tại trường Trung học Bồ Đề Thành Nội Huế, liên quan đến những hoạt động cho CS, nhưng viên ty trưởng cảnh sát là Đoàn Công Lập, lại là một cán bộ CS nằm vùng, cho nên án lệnh bắt giữ những người trên chỉ được thi hành một cách lỏng lẻo, trong lúc đó thì CS đã hoàn tất kế hoạch tổng tấn công Tết Mậu Thân.

Hiệp định Geneva năm 1954, một số cán bộ CS tập kết ra Bắc, nhưng số khác được lệnh ở lại để bám trụ, trong đó có Nguyễn Đóa, gốc người Quảng Nam, ra Huế dạy Pháp văn tại trường Bồ Đề Thành Nội vào năm 1955, hiệu trưởng lúc bấy giờ là ông Lê Mộng Đạo, hoàn toàn không hay biết gì về việc mình đang điều khiển một trường trung học được xem là trung tâm tổ chức trí vận Trị Thiên và thành phố Huế; Nguyễn Đóa nhận lãnh trách nhiệm để xây dựng cơ sở nàỵ Đóa gả con gái cho Tôn Thất Dương Tiềm, được xem là giáo sư có thế lực nhất tại trường này và rất thân cận với tỉnh giáo hội PG Thừa Thiên.

Một thời gian sau, Tiềm vào tổ chức, trong tổ chức này còn có Võ Đình Cường, Hoàng Nguyên Cao Tự Phúc (tác giả các nhạc phẩm hay như Đàn Ơi, Xa Rồi), Phan Văn Vinh, Tôn Thất Dương Kỵ,... Tường lúc bấy giờ còn là cậu học sinh hiền lành, trầm tư, có khuynh hướng xã hội; trong lớp

Tường rất giỏi môn Việt Văn và môn Triết, Tôn Thất Dương Tiềm chú ý, móc nối và tuyên truyền. Năm 1961, Tường được bổ nhiệm về Trường Quốc Học, Tiềm giao cho Tường công tác xây dựng cơ sở trong giới học sinh và sinh viên; qua sự giới thiệu của các thầy ở chùa Từ Đàm, HPNT cùng với Nguyễn Khắc Từ (thư ký của GHPG Thừa Thiên) là bộ não của tất cả các cuộc xuống đường ở Huế trước ngày 1/11/1963.

Năm 1964, lợi dụng tình trạng hỗn loạn của nền Đệ II Cộng Hòa, cùng với một số cán bộ cơ sở như Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Đính, Trần Minh Thảo, Trần Duy Phiên...Tường gia tăng hoạt động trong giới trẻ như cho người nằm trong các ban đại diện học sinh, sinh viên, tổ chức các cuộc nói chuyện chống chính phủ, đòi trung lập hóa miền Nam VN, người Mỹ phải rút khỏi VN...

Cùng với một số giáo sư đại học như Tôn Thất Hanh, Lê Tuyên, Cao Huy Thuần...Tường nằm trong Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc, do BS Lê Khắc Quyến làm Chủ tịch, tuần báo Lập Trường là tiếng nói chính thức của Hội Đồng; bài quan điểm, do Cao Huy Thuần phụ trách, có tác dụng rất lớn tại Huế, Miền Trung, ngay tại Saigon và một số tỉnh Miền Tâỵ Cuối năm 1965, đầu năm 1966, Tường giao cho Nguyễn Đắc Xuân và Trần Mậu Tý thành lập Đoàn Sinh Viên Quyết Tử. Về sau nhóm của Tường biết rằng Tý là người của 1 đảng phái quốc gia đưa vào nằm vùng trong tổ chức sinh viên này, khi CS tràn vào thành phố Huế vào dịp Tết Mậu Thân 1968, Tường và Xuân đã lùng bắt Tý, Xuân là người đã xử tử Tý bằng cách bắn từng phát một.

Đoàn Sinh Viên Quyết Tử được huấn luyện quân sự trong vòng nửa tháng, được trang bị vủ khí nhẹ, và đặt dưới sự chỉ huy của Tường, Nguyễn Đắc Xuân và Trần Mậu Tý.

Đoàn Sinh Viên này được máy bay quân sự Sư Đoàn I đưa vào Đà Nẵng, thị trưởng của thành phố này là BS Nguyễn Văn Mẫn, người trách nhiệm quân sự ở đây là là Đại tá Đàm Quang Yên đều theo phe chống đốị Chính Tường là người đã tổ chức cuộc tấn công vào 2 làng công giáo Thanh Bồ, Đức Lợi, tạo ra những cuộc đổ máụ

Tháng 4/1966, Tường, Ngô Kha và Nguyễn Đắc Xuân thành lập Chiến Đoàn Nguyễn Đại Thức để chống lại quân đội trung ương. Tháng 5/1966, phong trào đấu tranh tại Huế bị dập tắt, Tường và Xuân "nhảy núi", riêng những người khác, như Nguyễn Đóa, Trần Minh Thảo chưa bị lộ diện, cho nên vẫn tiếp tục ở lại để xây dựng và phát triển cơ sở.

Cuối năm 1967, để chuẩn bị cho cuộc tấn công vào thành phố Huế về mặt chính trị, Tường đã âm thầm trở lại thành phố này và trú trong nhà Nguyễn Đóạ Sau mấy ngày thảo luận, Tường lên núị Lần này đi theo Tường có Thượng Tọa Thích Đôn Hậu, giáo sư Lê Văn Hảo, Nguyễn Đóa và bà Đào Thị Xuân Yến (tức bà Thuần Chi). Tối ngày 29 Tết, theo đài phát thanh Hà Nội, một tổ chức lấy tên là Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hòa Bình được thành lập. Chủ tịch là Lê Văn Hảo, các ủy viên gồm Thích Đôn Hậu, Đào Thị Xuân Yến, Tổng thư ký là Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ngày mồng 2 Tết, Tường đã có mặt tại Huế, cùng với Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan (em ruột Tường), Nguyễn Thị Trinh (con gái út của Nguyễn Đóa).

Theo tài liệu của Chính Đạo qua cuốn "Mậu Thân 68 : Thắng hay bại ?" thì "tại khu tả ngạn, dưới quyền Nguyên, các toán an ninh có 2 nhiệm vụ : lùng bắt các sĩ quan, viên chức cao cấp trong vùng, và bảo vệ một số khuôn mặt chính trị như Thích Đôn Hậu, bà Thuần Chi, Nguyễn Đóa, Lê Văn Hảo" (trang 139), nghĩa là toàn bộ lãnh đạo Liên Minh đều có mặt tại Huế trong cuộc Tổng tấn công.

Nhưng Lê Văn Hảo (hiện sống tại Pháp) đã trả lời cuộc phỏng vấn của Trần Nghi, đăg trên Quê Mẹ số 105 & 106 tháng 1/1990 :

"- Ông nghĩ sao về dư luận của đồng bào Huế cho là ông chịu trách nhiệm chính trong vụ thảm sát dân chúng Thừa Thiên

- Huế hồi Tết Mậu Thân?

- Dư luận đó không đúng. Thứ nhất, lúc quân đội CS đánh chiếm Huế, tôi không có mặt trong thành phố. Trước Tết 5 ngày, tôi được dẫn lên núi nói là mời họp và sau đó tôi phải ở lại luôn trên đó, không về lại thành phố lần nào cả. Cùng ở với tôi có Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Trong giới trí thức và văn nghệ sĩ tham gia MTGPMN lúc ấy có Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân là theo bộ đội về Huế và tôi được biết, đã từng ngồi xét xử nhiều người có quan hệ với chính quyền Saigon trong những phiên xử của cái gọi là tòa án nhân dân. Thứ hai, trên danh nghĩa, tôi là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên - Huế, tuy nhiên trên thực tế, tôi chẳng có tí quyền nào cả. Tôi chỉ là bù nhìn. Mọi quyền hành từ lãnh vực quân sự đến chính tri.....đều nằm trong tay các cán bộ cao cấp của CS" (trang 66).

Như thế, theo Lê Văn Hảo, trách nhiệm vụ tàn sát dân lành tại Huế một phần do nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường và phần khác do các tư lệnh quân sự, chính trị CS như Tướng Trần Văn Quang, Bí thư khu ủy Trị Thiên - Huế, Lê Minh, Bí thư thành ủy Huế, Lê Chương, Tư lệnh Mặt trận Huế... Nhưng dù ai chịu trách nhiệm đi nửa, thì lịch sử của VN cũng đã ghi đậm nét : chiếm Huế chưa đầy một tháng ( từ 30/1/1968

- 24/2/1968), CSVN đã tàn sát khoảng 7,000 dân vô tộị Họ bị giết bằng đủ kiểu: bị chặt đầu, bị chôn sống, bị mổ bụng... Một thời đại và nhiều thời đại có thể qua đi, nhưng lịch sử thì không bao giờ bị tảy xóạ Thật là bi thảm cho dân Huế.

Ngày 24/2/1968, bộ đội CS bị đánh bật ra khỏi thành phố Huế, tàn quân rút về rừng, trong đó có Nguyễn Đắc Xuân, Phan, Tường...để lại Huế những cảnh chết chóc, tan nát, đau thương. Gia đình Tường ở Huế bị đồng bào oán hờn, căm thù. Người đau khổ nhất là thân phụ của Tường; có lúc ông cụ gần như điên khùng. Tiếp tục đường cách mạng, Tường được đưa ra Hà Nội và rồi trở lại Huế vào năm 1972, móc nối với Trần Quang Long, Trịnh Công Sơn và Ngô Kha để xây dựng và phát triển cơ sở, nhằm mục đích phá hoại chính quyền trong giới học sinh, sinh viên và trí thức. Sau khi Long và Kha chết, người ta không còn thấy Tường hoạt động trong vùng này nữa. Ngày 30/4/1975, Tường vào Saigon, trong lần xuất hiện nói chuyện với giới trí thức, người ta thấy có Nguyễn Thị Trinh, Cao Thị Huế Hương (bà con với Cao Huy Thuần). Tường chỉ làm việc ở Saigon một thời gian ngắn, về sau được đưa trở lại làm việc tại Huế.

HPNT lớn lên ở Huế, bỏ Huế ra đi vào năm 1966, trở về Huế và ra đi vào khoảng đầu năm 1968 sau khi để lại những giải khăn sô. Một vài nhà biên khảo cho rằng Tường và Hảo là bạn học với nhau, chính Tường là người móc nối Hảo với Tiềm và Đóa. Ngày nay, Hảo tỵ nạn chính trị tại Pháp, còn Tường thì vẫn đi đi về về với núi Ngự sông Hương. Đồng bào cố đô và Tường nhìn nhau mỗi ngày...

Vài vần ca dao về Huế :

Cầu Trường Tiền, sáu vài, mười hai nhịp
Em qua không kịp, tội lắm anh ơi !
Bấy lâu ni chịu tiếng mang lời,
Dẫu có xa nhau đi nữa, cũng bởi ông Trời mà xa...

hay

Sông Hương từ thuở Uyên đi
Nước trôi lặng lẽ tà huy cấm đò
Nam Bình đã dứt đường tơ
Hồi chuông Thiên Mụ xa đưa tiếng sầu
Bến Thương Bạc, Phú Văn Lâu
Sương thu che khuất nhịp cầu Giả Viên
Còn đâu sáu nhịp Tràng Tiền
Thời gian gió loạn xô nghiêng vài bờ
Cao cao, vời vợi Cột Cờ
Ba mươi năm cũ, phất phơ đổi màu
Bây giờ còn nhớ đến nhau
Thì trao ánh mắt trên cầu rồi qua...

hay

Ru em, em ngủ cho muồi
Cho mẹ đi chợ, mua vôi ăn trầu
Mua vôi Chợ Quán, Chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh
Chợ Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim...

hoặc

Chợ Đông Ba đem ra ngoài Giại
Cầu Tràng Tiền đúc lại si mon
Ơi người lỡ hội chồng con
Vô đây gá nghĩa vuông tròn được không?...

******************************************************************************

by AI HUU NINH THUAN
01/29/10. 06:22:25 am. 27304 words, 100 views. Categories: Liên kết blogs, Tôn giáo và tín ngưỡng, Xã hội và nhân văn ,

PHAN KHẮC TỪ TÊN LÍNH XUNG KÍCH VÔ DỤNG CỦA TẬP ĐOÀN BÁN NƯỚC HÀ NỘI


Linh mục gia nô Việt cộng Phan Khắc Từ - Ảnh: vietnamnet

PHAN KHẮC TỪ TÊN LÍNH XUNG KÍCH VÔ DỤNG CỦA TẬP ĐOÀN BÁN NƯỚC HÀ NỘI
Source: honviet.uk

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất


Sau khi Việt gian Cộng sản đã thâu tóm được chính quyền về tay nhân dân (nói theo giọng điệu bịp của VGCS) thì trong giới linh mục công giáo người ta mới thấy rõ những ai là cộng sản chính chuyên, nhãn hiệu con nai vàng. Vương Đình Bích, một tên quốc doanh trong nhóm Lũ 4 Tên, vì một vụ đụng độ nhau, ngày 25-12-1997 đã viết thư gởi lãnh đạo Thành Hồ nói huỵch toẹt chẳng cần giấu diếm rằng: “Tôi đã thành khẩn nói với hai anh Từ và Cần là vấn đề thật của tổ chức chúng ta, không phải nhóm nghiên cứu mà là nhóm 4 anh em chúng tôi, Minh - Cần - Từ – Bích đã được lãnh đạo gầy dựng và giao nhiệm vụ điều động phong trào công giáo yêu nước tại thành phố này.” Bốn anh em chúng tôi đây là các tên Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, và Vương Đình Bích. Giáo dân quen gọi bọn này là Lũ 4 Tên, hay Tứ Nhân Bang. Kể cả những ông áo đen kỳ cựu như Hồ Thành Biên, Nguyễn Thành Trinh và những người khác, hết thẩy đều chỉ là thứ cỏ đuôi chó, chứ không phải CS có license. Sau ngày đổi đời, chúng ta thấy Phan Khắc Từ thế giá như thế đấy. Nhưng trước đó thì hắn được mọi người gọi bằng một cái tên đặc sệt mùi chợ búa là “ông Linh mục hốt rác”. Hắn là một linh mục công giáo thiệt, và làm nghề hốt rác thiệt.

Khoảng đầu thập niên 1970, dân Sàigòn lao xao đồn thổi về hiện tượng các linh mục dấn thân làm các nghề lao động chân tay để truyền giáo. Những vị khác như Đức TGM Nguyễn Kim Điền, lúc đó còn là linh mục, làm nghề đạp xích lô, thì rất ít người biết đến, bởi vì các ngài làm Tông Đồ cho Chúa thiệt, nên không muốn khoa trương. Trừ ra Phan Khắc Từ, sau một bài phóng sự có tiêu đề "Linh mục hốt rác" đăng trên báo Đại Dân Tộc (?) ở Saigon, đã trở thành một hiện tượng được rất nhiều người chú ý đến. Phóng sự kể về ông linh mục trẻ Phan Khắc Từ tự nguyện xin đi làm công nhân hốt rác để được sống như một anh công nhân hạng D. Việc phóng ra tên tuổi và tô vẽ cho Phan Khắc Từ, một tên CS còn trong bí mật lúc đó, nằm trong kế hoạch dân vận của VGCS.

Tuy Phan Khắc Từ đi hốt rác, nhưng hắn không phải đụng đến cái chổi, và luôn luôn phô trương cái mark linh mục của mình cho mục đích của hắn. Những người công nhân hốt rác khác thấy hắn là một ông cha nên kính nể, và chuyện gì cũng nghe theo hắn. Cái lợi trước mắt là hắn đi làm không phải mang cơm nước theo, mà được các công nhân cơm bưng nước rót tận miệng. Có lúc hắn uống rượu với công nhân say xỉn mất hết tư cách ngay bên cạnh đống rác hôi thối. Hắn đã giác ngộ “cách mạng” và thường thân thiết tâm sự với các anh chị em công nhân: “Tôi được sống trong hoàn cảnh giáo hội toàn cầu đã thức tỉnh. Hiến chế mục vụ của cộng đồng Vatican 2 cứ vang vọng mãi trong tôi. Sao nhãng bổn phận trần thế, tức là sao nhãng bổn phận đối với tha nhân và hơn nữa đối với Thiên Chúa, khiến phần rỗi đời đời của mình bị đe dọa. Gần hơn, vừa lúc bắt đầu cuộc đời linh mục, tôi còn được nghe, được thao thức với những lời sám hối chân thành và những quyết định mạnh mẽ của một giáo hội Á châu nhỏ bé, vốn giàu có về văn hóa, tôn giáo, nhưng lại đau khổ, đói nghèo.”

Năm 1969, lần đầu tiên Phan Khắc Từ được đi dự đại hội Thanh Lao Công thế giới có xu hướng thân cộng tại Liban, được Mạc Tư Khoa đỡ đầu và tài trợ. Phan Khắc Từ nuôi ý tưởng phản bội Quốc Gia từ trước. Tại đại hội này, nhiều phái đoàn thanh niên công giáo lên tiếng đòi Mỹ rút quân, trả lại quyền tự quyết cho Việt Nam, và gọi chính quyền VNCH là bù nhìn, nên hắn càng thêm quyết tâm theo CS hơn. Sau Đại Hội Liban, hắn ở lại Âu Châu. Hơn một năm tại Pháp, Phan Khắc Từ ngả hẳn theo khuynh hướng Thần Học Giải Phóng của nhiều giáo sĩ Mỹ Châu La-tinh, với phong trào Thanh Lao Công làm điểm tựa, cũng đồng thời là môi trường hoạt động cho hắn. Hắn rất ngưỡng mộ vị Giám Mục đỏ Helder Pessoa Camara người Brazilian, và linh mục Camilo Torres Restrepo, người khởi xướng đội du kích chiến đấu tại Columbia, và phát động phong trào Thần Học Giải Phóng tại Mỹ Châu La-tinh. Tại Paris, Phan Khắc Từ tham gia đình công, biểu tình đòi công bằng cho giới lao động, tham gia nhiều cuộc biểu tình của sinh viên và công nhân đòi hòa bình cho Việt Nam. Đánh dấu bước quay đầu phản bội quan trọng nhất của Phan Khắc Từ là trong thời gian ở Pháp, hắn đã đến gặp mụ Nguyễn Thị Bình, trưởng phái đoàn thương thuyết của cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để xin được ra bưng theo CS. Thị Bình bảo hắn hãy trở về Saigon chế bom xăng đánh Mỹ trong thành phố. Và Từ đã làm theo đúng như vậy.

Cuối năm 1970, Phan Khắc Từ trở lại Sài Gòn và lập tức hăng hái nhập cuộc với các phong trào đấu tranh tại đây. Hắn bắt đầu bằng sự góp mặt trong Mặt trận Nhân dân Tranh thủ Hòa bình, rồi phong trào học sinh, sinh viên đòi quyền sống, phong trào chống tăng học phí, chống độc diễn, đốt xe Mỹ trên đường phố v.v... Nhà thờ Vườn Xoài trở thành nơi chế tạo bom xăng cho phong trào đốt xe Mỹ. Sau vụ đình công năm 1971 của công nhân hãng pin Con Ó để làm trở ngại cuộc hành quân Hạ Lào của QLVNCH, Phan Khắc Từ bị cảnh sát Saigon bắt nhốt vào khám Chí Hòa cùng với các tên Trương Bá Cần, Trần Thế Luân và Nguyễn Ngọc Lan. Cả ba cũng là linh mục. Sau một tuần được thả ra, bọn này còn làm eo với cảnh sát: "Chúng tôi chỉ ra cùng với các anh em công nhân khác." Cảnh sát bèn đưa cả ba lên xe, chở ra Quốc Lộ 4, đường về Lục Tỉnh, đẩy xuống vệ đường giữa cánh đồng vắng trong đêm khuya.

Năm 1974, VGCS dựng lên cái gọi là Ủy ban bảo vệ quyền lợi lao động miền Nam. Nhờ nổi tiếng là linh mục hốt rác, Phan Khắc Từ được bầu làm chủ tịch ủy ban này. Từ ký tên gửi thư cho đại sứ Hoa Kỳ tại VN, tố cáo người Mỹ khinh miệt giới công nhân Việt Nam và đe dọa phát động chiến dịch chống sa thải. Người Mỹ đã biết bọn này là ai rồi nên họ tỉnh queo. Bọn này cũng tổ chức nhiều cuộc biểu tình chống tham nhũng và tố cáo Mỹ và VNCH vi phạm Hiệp Định Paris.

Năm 1974, Phan Khắc Từ vào bưng một tuần lễ để thụ huấn nghiệp vụ khuấy đảo, và khóa học khủng bố trong thành phố. Cũng trong năm này, hắn bị sa thải khỏi sở rác. Từ bèn nhảy sang hoạt động từ thiện trong một tổ chức CS trá hình khác là Mặt trận nhân dân cứu đói do hòa thượng Thích Hiển Pháp làm chủ tịch, và Từ làm phó chủ tịch. Phan Khắc Từ tâm sự: “Từ đó, tôi rất thân thiết với nhà chùa, tôi di chuyển hết nhà chùa này sang nhà chùa khác để tập hợp quần chúng, tố cáo chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và phát gạo cho dân nghèo tại nhiều tỉnh từ miền Nam ra miền Trung. Kể cũng thú vị, nhiều đêm tối, một linh mục công giáo nằm gác chân với vài vị sư trên tấm phản, thì thầm bàn chuyện quyên góp, làm từ thiện.”

Từ sau 30-4-75 cho đến nay, Phan Khắc Từ luôn luôn cố thủ trong cái gọi là Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo, mà người dân miền Nam thường gọi mỉa là “ủy ban đàn két” hoặc “ủy ban đàn két gươm giáo”. Về nhân sự, tính đến cuối năm 2008, người ta đã tổng kết cái ủy ban này như sau: Theo báo cáo của UBĐK, hiện nay tổ chức này đã phát triển ra 39 tỉnh thành (trong 65 tỉnh thành cả nước), với hơn 400 linh mục, tu sĩ tham gia ủy ban các cấp. Theo điều tra của chúng tôi, ở trung ương, khóa 4 có 104 vị ghi danh, trong đó có 62 linh mục, tu sĩ. Thế nhưng, nhiều người nói đấy là “Hội của những người siêu cao tuổi” vì có tới 94 vị từ 60 tuôỉ trở lên (chiếm 91,2%). Số dưới 50 tuổi chỉ có 10 người (8,8%). Có những linh mục điếc nặng, hơn 100 tuổi như linh mục Nguyễn Chu Trình (đã mất). Có những linh mục đi họp phải có người cõng. Có một số “lẩm cẩm” nặng, nói không ai hiểu gì. Ông Vũ Thái Hòa nguyên chuyên viên Ban Tôn giáo Chính phủ cũng là ủy viên UB phải đi họp trên lưng đứa cháu. Ông Vũ Văn Chuyên trên ngực phải có biển đề số nhà, điện thoại, sợ đi lạc đường, công an biết lối đưa về… Có nhiều linh mục chỉ ghi danh, đi họp là một lần ra Hà Nội miễn phí máy bay để thăm bạn bè, chữa bệnh. Có một số chỉ đi họp một lần rồi biến mất tăm, như linh mục Trần Đức Hạnh (Cao Bằng). Ở Hà Nam, người ta cũng ghi danh 5 linh mục nhưng không thấy có ai xuất hiện. Tại một số nơi như Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Ban tổ chức chỉ xin các linh mục ghi danh và đến chụp một tấm hình mà cũng không được…..

Phan Khắc Từ nằm trong cái ủy ban đàn két gươm giáo với chức vụ tổng thư ký, kiêm phó chủ tịch ủy ban, nhưng thực chất là chỉ để cho có mặt, đồng thời để theo dõi và quản lý ủy ban về mặt tư tưởng. Những chỗ hắn cần có mặt, trước hết là tại quốc hội để kiếm tí danh hão với đời. Phan Khắc từ làm đại biểu quốc hội CS 3 khóa từ 1987 đến 2002. Sau đó, tuy còn thèm muốn lắm, nhưng hắn đã trở thành con chó già vô dụng trong đàn chó săn của tên thợ rừng rồi. Chỗ thứ hai hắn muốn có mặt là nơi cai quản của một ông cha xứ. Tên giết người khét tiếng Lê Đức Thọ đã xây cho hắn ngôi thánh đường nguy nga đồ sộ trên đường Trương Minh Giảng, Saigon, gọi là nhà thờ Vườn Xoài để trả công cho hắn đã đắc lực giúp VGCS đuổi Mỹ. Đây là cơ ngơi, đúng hơn là nhà tư của hắn chứ chẳng phải là nhà thờ. Cho dù Đức Giáo Hoàng chứ chưa nói đến giám mục, tổng giám mục, hay hồng y, có thể đẩy hắn ra khỏi cái giang sơn này của hắn được. Và nơi thứ ba hắn muốn có mặt là những chỗ nào kiếm ra tiền.

Phan Khắc Từ ham tiền không phải là chuyện lạ, vì hắn có vợ con. Không phải ai có vợ con cũng là người tham lam tiền bạc cả. Phan Khắc Từ thì khác, đó là bản tính của hắn nữa. Số vốn của tờ báo Công Giáo và Dân Tộc được tài trợ bởi Lm Nguyễn đình Thi ở Pháp tới gần 150.000 dollars. Tiền vay thêm để tự kinh doanh cho việc điều hành tờ báo, như xí nghiệp làm bút bi, làm quạt trần, lập công ty may mặc, đầu tư trồng cao su với Singapore, lập khách sạn, mở trường dậy ngoại ngữ, trường dạy nghề, và máy computer v.v... Tất cả những cơ sở làm ăn trên đều do Phan Khắc Từ quản lý. Từ tiền bạc, quyền hành, đến đàn bà, tất cả Phan Khắc Từ thâu tóm vào trong tay hắn. Đây chẳng phải là những lời đồn trong thiên hạ, mà là từ trong nội bộ ủy ban đàn két đấu đá nhau rồi khui ra. Vương Đình Bích vạch trần những chuyệm lem nhem của Phan Khắc Từ công khai trên giấy trắng mực đen. Bích viết: "...về những biểu hiện suy thoái đạo đức trong đời tư của người thường trực UB Đoàn Kết, liên quan đến kinh doanh, tiền bạc và tình dục, gây hệ qủa xã hội là hai đứa con. Xét theo giáo luật, đương sự không còn tiêu chuẩn khách quan của luật độc thân để tiếp tục hoạt đông mục vụ và đại diện cho phong trào đoàn kết công giáo với tư cách linh mục của giáo hội". Cái ủy ban đàn két chia rẽ như thế mà dám mạ vàng hai chữ đoàn kết trên cái bảng hiệu của mình thì đúng là cùi không sợ lở.

Phải nhìn nhận rằng, Phan Khắc Từ là một con người khéo xoay xở. Những chức vụ trong ủy ban không kiếm ra tiền, mà có kiếm ra cũng chẳng bao nhiêu. Vả lại đấy là tài sản chung của ủy ban. Sau khi thôi không còn làm đại biểu quốc hội nữa, Phan Khắc Từ xoay qua làm nghề từ thiện, nuôi đà điểu và gia súc. Hiện nay hắn làm chủ 3 cơ sở từ thiện mang tên là Thiên Phước. Cơ sở Thiên Phước của Từ thường được nói đến nhiều nhất là nhà nuôi dưỡng và bảo trợ 130 trẻ em khiếm thị (mù) mà Từ rêu rao là nạn nhân chất độc da cam, tọa lạc tại ấp 6, xã An Nhân Tây, huyện Củ Chi.

Chuyện lem nhem làm mất mặt Phan Khắc Từ nhất là vấn đề vợ con. Khi Từ còn là một phu hốt rác, VGCS đã bố trí bên cạnh hắn một ả nữ sinh tên là Tư Liễu, một cán bộ hoạt động nội thành. Sau ngày 30-4-75, điều nghi ngờ của đám phu hốt rác bên cạnh Phan Khắc Từ đã trở thành hiện thực. Từ và Tư Liễu sống chung với nhau thành vợ chồng, tuy vẫn còn e dè kín đáo. Hơn một năm sau họ có con. Đứa con đầu lòng được Tư Liễu tổ chức ăn thôi nôi rất linh đình. Liễu làm cửa hàng trưởng một cửa hàng lớn của quận Bình Thạnh nên y thị mời đông đủ bọn cán bộ từ cấp huyện trở xuống. Vì thế, chuyện “linh mục” Phan Khắc Từ có vợ con đổ bể tùm lum. Một anh bạn tù của kẻ hèn này là anh em tinh thần trong nhà tu với Phan Khắc Từ, trước kia là sĩ quan trưởng chi an ninh quận Cái Bè, sau khi được thả, đã tìm đến thăm Từ. Anh ta bắt gặp cả vợ con Từ. Hắn không còn đường chối cãi nên đành phải thú nhận: “đảng đã tác thành cho chúng tôi.” Phan Khắc Từ nói đúng. Đảng, chứ chẳng bao giờ Chúa tác thành cho hắn. Hắn vâng lời đảng hơn là vâng lời Chúa, dù hắn là linh mục.

Việc một ông linh mục công khai có vợ con vẫn được coi xứ, đêm ngủ ôm vợ mà vẫn sáng ngày ra nhà thờ dâng Thánh Lễ, lại vẫn còn được dơ tay tha tội cho bổn đạo, là một chuyện vô tiền khoáng hậu trong Giáo Hội Công Giáo. Có ông cha nào như thế nhưng lén lút chúng tôi không nói. Phan Khắc Từ hắn ngang nhiên và công khai. Sự việc này gây liên lụy đến vị giám mục bề trên của Từ, hiện nay là Hồng Y Phạm Minh Mẫn. Có rất nhiều giáo dân lên tiếng thống trách HY Mẫn là người để cho hiện tượng phản đạo này xẩy ra trong phạm vi trách nhiệm của ông. HY Mẫn không thể nói không biết, bởi vì dư luận đồn thổi tùm lum, Lm Vương Đình Bích trong giáo phận của ông đã lên tiếng công khai tố cáo, và nếu cần, HY Mẫn có thể cho người điều tra sẽ rõ trắng đen thôi. Kẻ phạm thánh vẫn hàng ngày thi hành chức vụ thánh, bề trên biết nhưng làm ngơ cho việc phạm thánh kéo dài. Như vậy thì đó là Phúc Âm hay là phản chứng của Phúc Âm? Chỉ tội nghiệp cho đám con chiên khù khờ, theo Chúa mà như người mù đi trong đêm tối, không biết đâu là chính đường, đâu là hố thẳm.

Với một đời tư bê bối như thế, cho nên trong đạo ngoài đời chẳng còn ai tin tưởng Phan Khắc Từ. Đức cố HY Phạm Đinh Tụng trước đây đã có lần cấm Phan Khắc Từ không được làm lễ trong Tổng Giáo Phận Hà Nội của ngài. Trong khóa họp đầu năm 2010 của ủy ban đàn két, Phan Khắc Từ dẫn một phái đoàn đến viếng thăm tòa TGM Hà Nội nhưng không được tiếp đón. Cũng trong dịp này, Từ còn dẫn phái đoàn đến thăm tên tướng già Võ Nguyên Giáp, nhưng cũng bị Giáp từ chối luôn. Cái ủy ban đàn két của Phan Khắc Từ lúc này hơn kém chỉ là cái thây ma, Từ muốn vực dậy để gây thanh thế cho mình, nhưng hết cách. Nhà báo Nguyễn Kế Nghiệp thư ký tòa soạn báo Người Công Giáo VN, là một đảng viên CS không công giáo, có lần nói với một người bạn của ông: Ông có biết vì sao cái UBĐK vẫn còn tồn tại đến nay không? Nhà nước cũng muốn dẹp cái cây cảnh héo này lắm rồi, nhưng dẹp thì mấy chục cán bộ ở ủy ban và Báo làm gì mà sống? Tôi đố tay nào ở cơ quan này đi xin nổi việc ở nơi khác vì có biết làm gì đâu, tối ngày chỉ ngồi ăn sẵn, và dọa nhà nước về nguy cơ của Vatican để nhận lương mà thôi!

Vì thế mọi người mới chưng hửng, nhưng không lấy làm ngạc nhiên khi thấy Phan Khắc Từ chường mặt ra bênh vực cho bọn phá đạo trong vụ Đồng Chiêm. Từ tuyên bố chắc nịch, VN hoàn toàn có tự do tôn giáo. Hắn còn kêu gọi trừng trị những ai lợi dụng tự do tôn giáo để làm những việc sai trái. Việc bọn bán nước huy động cả đến một trung đoàn trừ gồm bộ đội, công an, và du đãng ban đêm lên Núi Thờ chỉ để phá bỏ cây Thánh Giá trên đó là một hành động triệt hạ tôn giáo chứ còn nghi ngờ gì nữa. Cả thế giới lên án bọn côn đồ Việt gian bán nước, chỉ trừ có “linh mục” Phan Khắc Từ cho rằng đó là một hành động chính đáng của nhà nước, và còn kêu gọi phải trừng trị những nạn nhân của hành động triệt phá này. Người ta đặt câu hỏi tại sao Phan Khắc Từ lại dang thân ra làm công việc điên khùng như thế. Câu trả lời là hắn muốn tranh cái chức Tổng Biên Tập tờ báo Công Giáo Và Dân Tộc của cái ủy ban đàn két. Chức vụ này trước đây nằm trong tay Trương Bá Cần. Cần theo chân Hồ đi chầu Diêm Vương đã hơn nửa năm rồi, và chức vụ đó vẫn còn để trống. Người có khả năng điền khuyết là Thiện Cẩm, nhưng Thiện Cẩm không được VGCS tin cẩn bằng Phan Khắc Từ. Để cho chắc ăn, nhân vụ Đồng Chiêm, ông linh mục Phan Khắc Từ nhẩy ra giúp đảng đập con chiên của mình để lấy credit làm cái giá mua chức Tổng Biên Tập báo Công Giáo Và Dân Tộc. Hắn đã được toại nguyện, mặc dù Phan Khắc Từ chẳng biết báo chí là cái con mẹ gì.

Phan Khắc Từ tưởng rằng một ông linh mục tổng biên tập tờ báo công giáo độc chiếm trong nước đứng ra bảo đảm rằng VN có tự do tôn giáo là cả thế giới sẽ tin. Nhưng hắn đã lầm. Từ Hải Phòng hắn trốn chạy CS vào Nam lúc 15 tuổi. 15 năm sau, hắn trở thành linh mục, nhưng không phải là linh mục của Chúa, mà là của Satan. 72 tuổi đầu hắn còn tình nguyện làm một tên lính xung kích cho CS để kiếm một chút hư danh cỏn con. Hắn không biết hắn chỉ còn là một tên lính vô dụng, nói cho tượng hình hơn, là một con chó săn tồi cho bọn Việt gian bán nước tại Hà Nội, vì cuộc đời, lối sống, và tư cách của hắn chỉ là một chuỗi phản bội, bê tha tiền bạc và tình dục. Hắn đã trở thành con người hoàn toàn mù lòa. Hắn có tham vọng đem lại ánh sáng cho các em bé khiếm thị tại trung tâm ở Củ Chi của hắn. Thế nhưng rất tiếc, hắn không có ý hướng và khả năng làm cho đôi mắt của mình hết mù được.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

by AI HUU NINH THUAN
01/29/10. 03:00:54 am. 5583 words, 114 views. Categories: Thiên hạ sự, Hậu trường, Liên kết blogs, Tôn giáo và tín ngưỡng, Xã hội và nhân văn ,

ĐÀN ÁP CÓ HỆ THỐNG: SAU KHI ĐÀN ÁP ĐỒNG CHIÊM NAY ĐẾN ĐÀN ÁP CỒN DẦU? - ĐẠO CAO ĐÀI CHIA XẺ ĐẠO NẠN CÙNG GIÁO XỨ ĐỒNG CHIÊM - NHỮNG BÀI NHẬN ĐỊNH NÊN ĐỌC


Ảnh vietcatholic

Việt cộng rập khuôn theo Trung cộng đào tạo các lực lượng công an thành những đám côn đồ để xử dụng vào việc đàn áp nhân dân, tiêu diệt các tôn giáo và các thành phần bất đồng chính kiến hay các nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ. Công thức CỰU CHIẾN BINH + ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN CỘNG SẢN + DU ĐÃNG được xử dụng để lập thành các lực lượng phản ứng nhanh do mật vụ cộng sản chỉ huy, xử dụng vào các việc ném đá giấu tay, các vụ thanh toán, trả thù các thành phần đối kháng, các vụ triệt hạ và thanh trừng nội bộ, các vụ đàn áp thanh niên sinh viên, các vụ đàn áp tôn giáo v.v... Các đám công an côn đồ mặc thường phục sẽ ra mặt công khai đánh đập, ăn cướp, phá hoại tài sản của nhân dân v.v... với sự yểm trợ của bọn công an cảnh sát sắc phục, sau đó chúng sẽ chạy tội với lý luận rằng "dân chúng tự đánh nhau", hoặc là "nhân dân địa phương vì chống lại các hành động của bọn phản cách mạng, nên đã ra tay dạy cho chúng bài học", và nếu cần thì cũng có thể nói rằng "do tình hình hỗn loạn do giáo dân (hoặc Phật tử, sinh viên ...) gây ra, cho nên một số nạn nhân của Mỹ Ngụy không kềm chế được oán hận, đã ra tay đánh đập họ"... hoặc là đổ lỗi cho bọn xã hội đen bất lương côn đồ để chối tội.

Những cái trò như trên đã được áp dụng rất thành công tại Hoa lục trong mấy chục năm nay, trong các vụ đàn áp Thiên An Môn, đàn áp Tây Tạng, đàn áp Tân Cương, đàn áp Pháp Luân Công, đàn áp các nhà hoạt động dân chủ v.v... Thậm chí chúng còn giam giữ, tra tấn hãm hiếp các nạn nhân cho đến chết rồi mổ sống để lấy các phần cơ thể hoặc nội tạng của nạn nhân trong lúc đang hấp hối, đem bán cho các bệnh viện, hoặc những kẻ thích ăn gan uống mật nguời v.v... Bọn cộng sản Trung Hoa không từ nan bất cứ "sáng kiến" man rợ nào để củng cố và bảo vệ chế độ. Các khái niệm về đạo đức truyền thống chỉ có trong tuyên truyền bịp bợm, còn thực tế không bao giờ có trong các thành phần đảng viên cộng sản vô thần trung kiên. Việt cộng được đào tạo bởi Trung cộng, rập khuôn theo mô hình chính trị, mẫu mã của Trung cộng để cai trị và đàn áp nhân dân. Từ thời Hồ chí Minh còn sống cho đến nay, khi chúng hùa theo ai thì luôn cho rằng làm theo khuôn mẫu của quan thầy "vĩ đại" đó là hoàn hảo, khi theo Tàu thì làm y hệt như "Trung quốc vĩ đại", khi theo Nga thì trở mặt với Tàu, làm y hệt theo "Liên Xô xĩ đại". Ngày hôm nay, cứ nhìn theo hiện trạng và cách hành xử của Việt cộng thì cũng thấy được ngay rằng Việt cộng đang làm theo lệnh Trung cộng để hủy diệt dân tộc và tổ quốc Việt Nam.

Hơn lúc nào hết, các cuộc đàn áp có hệ thống các tôn giáo và các nhà dân chủ đang diễn ra song song với việc bán đất bán biển và rước Tàu cộng vào khai thác kinh tế và các nguồn tài nguyên đã cho thấy rõ quốc nạn Việt cộng - Trung cộng đã bước vào cái giai đoạn cuối cùng của nó, có lẽ không còn bao lâu nữa thì bức màn sắt sẽ hoàn toàn trở thành bức màn máu của nhân dân Việt Nam, việc mất nước về tay Trung cộng là hiển nhiên, và Trung cộng chẳng cần phải can qua với Việt cộng mới chiếm được Việt Nam, chúng không đang chiếm Việt Nam đó sao? Làm gì có hiểm họa Trung cộng đối với Việt cộng. Cho nên việc quân đội và công an cảnh sát cộng sản Việt Nam nay ăn mặc rập khuôn theo Trung cộng là lẽ đương nhiên, việc Việt cộng cùng đặt hàng mua vũ khí của Nga giống như Trung cộng đã làm, không phải là để đánh nhau với Trung cộng, mà là làm tên lính xung kích của Trung cộng để đánh các nước Đông Nam Á, hãy chờ xem Trung cộng dùng Việt cộng thanh toán các nước trong khu vực biển Đông.

Việt nam trong tay của bọn Việt cộng đã trở thành tiền đồn của Trung cộng lấn chiếm biển Đông. Các người "anh em Việt Kiều yêu nước" đang làm cái công việc cực kỳ có ý nghĩa là cùng nhau hợp tác với tay sai của Trung cộng để bán nước và tiêu diệt tổ quốc Việt Nam; một ngày không xa, họ sẽ được mời đi tham dự đại hội các kiều bào cộng sản anh em tại Bắc kinh để tưởng thưởng công lao bán nước của họ!!!

Sao chưa thấy một người anh em "Việt kiều yêu nước" nào lên kế hoạch để chống Trung cộng cứu quốc cả, hỏi để mà hỏi chứ ai lại không biết rằng yêu Việt cộng tất phải yêu Trung cộng, vì các "đồng chí" ấy là anh em ruột thịt mà lỵ!!! Hơn nữa các anh em "Việt kiều yêu nước" về Việt Nam là để hợp tác làm ăn kiếm tiền bỏ túi, để kiếm gái đẹp (như lời "chủ tịt" Triết quảng cáo "Việt Nam có nhiều người đẹp"), để kiếm chức tước, để mua nhà mua đất v.v...; những mục tiêu thương mại như thế thì cần gì phải phân biệt Trung hay Việt. Thậm chí chỉ về Việt Nam để kiếm lỗ chôn thân thì cũng đâu cần phân biệt Trung hay Việt, nghĩa địa nào lại không đốt giấy vàng mã theo kiểu Tàu, và đã "được" hồi hương... sang thế giới bên kia thì có bao giờ nghe nói Diêm vương là người Tàu hay người Việt!!!

KDĐN

TÌNH HÌNH GIÁO XỨ CỒN DẦU NGÀY 27 THÁNG 1/2010

VietCatholic News (27 Jan 2010 13:42)

ĐÀ NẴNG - Từ 8 giờ sáng Ban Giải Tỏa đền bù Phường, Quận, Thành Phố, Công An thành phố, công an Quận, công an Phường, Cảnh sát 113 đã chia làm 4 hướng:

- Từ Trung Lương đi lên.
- Từ Giáo Khóm 3 Cồn Dầu đi qua nhà Thờ.
- Từ ngoài bến đò xu vào Cồn Dầu.
- Và hướng từ Trường học Thôn Trung Lương lên.

Tất cả đã tập trung trước cổng Thánh Đường Giáo Xứ Cồn Dầu và phong tỏa các ngã đường không cho giáo dân tự do đi lại. Tất cả mọi người dân Giáo xứ cồn dầu quá sợ hãi trước cảnh ào ạt uy hiếp từ Cán bộ các cấp và Công an. Giáo dân đã đóng cửa nhà đi tránh sự áp lực của chính quyền về vấn đề giải tỏa khu vực của mình.

Chính quyền tự ý dán lên tường, lên cửa các nhà giáo dân trong giáo xứ bản: “Vi phạm hành chính trong lãnh vực đất đai và biên bản quyết định thu hồi đất” Điển hình là nhà của Ông Thái Văn Liên và Bà Trần Thị Thu Trâm…

PV Cồn Dầu





GIÁO DÂN CỒN DẦU CHỐNG LỆNH GIẢI TÒA

VietCatholic News

Hai ngàn giáo dân Cồn Dầu Đà Nẵng vừa gởi thư kêu cứu tới các cấp lãnh đạo Nhà nước và Quốc hội, với lý do nhà cửa đất đai của họ bị giải tỏa trắng để địa phương thực hiện dự án du lịch.

Kế hoạch giải tỏa

Quận Cẩm Lệ ở cửa ngõ tây nam thành phố Đà Nẵng, trong kế hoạch phát triển địa phương, phường Hòa Xuân giải tỏa trắng 430 ha để thực hiện dự án khu du lịch sinh thái Hòa Xuân. Nằm trong địa bàn phường, thôn Cồn Dầu với diện tích 100 ha cũng bị giải tỏa lấy mặt bằng phục vụ dự án.

Người dân ở đây đa số theo đạo công giáo với khoảng 400 hộ quây quần sinh hoạt tại Giáo Xứ Cồn Dầu. Ông Thái Văn Liên Quyền Chủ tịch Ban Đại Diện Giáo Xứ nói với chúng tôi:

“Chắc chắn rằng giáo dân Cồn Dầu sẽ kêu cứu tới cùng, có thể họ cùng sống chết với nhà thờ và đất của mình. Giáo xứ của chúng tôi sang năm này kỷ niệm 135 năm Hạt Giống Tin Mừng và 80 năm thành lập giáo xứ vào tháng 8-2010.”

Giáo xứ Cồn Dầu đã có từ lâu đời, người công giáo gắn bó với nhà thờ và cha xứ. Cách đây hai năm có một ngày người dân được biết mình sẽ phải rời bỏ ruộng vườn, từ giã nhà thờ và cha sở. Cả xóm đạo sẽ phải chuyển về khu vực tái định cư, để lại nhà thờ Cồn Dầu và cha quản nhiệm Emmanuel Nguyễn Tấn Lục với một xứ đạo không có con chiên.

Theo dự án của thành phố Đà Nẵng, thôn Cồn Dầu có thể trở thành khu biệt thự nhà vườn Hòa Xuân, một căn biệt thự như thế khi hoàn tất có thể trị giá cả triệu đô la. Đất Cồn Dầu đã trở thành đất vàng đất bạc và dĩ nhiên người dân Cồn Dầu chẳng thể chấp nhận số phận nghiệt ngã, bỏ cả ruộng vườn nhà cửa đổi lấy một số tiền đền bù ít ỏi, không thể xây dựng cuộc sống ở nơi chốn xa lạ.

Giáo dân bức xúc

Ông Thái Văn Liên cho biết lý do khiến giáo dân Cồn Dầu không chấp hành chủ trương giải tỏa đền bù và tái định cư:

“Lý do thứ nhất chúng tôi không đồng tình phải xa rời nhà thờ vì ông bí thư thành ủy nói là đưa chúng tôi đưa chúng tôi đi nơi khác, khu vực của chúng tôi để dành bán cho người khác. Thứ hai người dân chúng tôi trên 90% sống bằng nghề nông là chính, làm ruộng, nuôi gà, trồng rau màu cuộc sống rất ổn định. Thứ ba chính sách đền bù của thành phố với giáo dân chúng tôi rất bất công, đất nhà ở đền chúng tôi 250 ngàn một mét vuông, đất ruộng đền 50 ngàn một mét vuông.

Người dân chúng tôi sợ rằng đang có nhà trở thành mất nhà. Lý do lên trên kia mua lại đất của thành phố với giá 800 ngàn đồng một mét vuông nhà ở. Mà hiện giờ đất của chúng tôi rất rộng, gần 200 năm nay gánh đất dưới ruộng đổ thành nền, nhà có gác có sân có vườn có ruộng cuộc sống đang rất phát triển chúng tôi không chấp nhận phải bỏ đi.”

Sáng 27/1 theo giờ Việt Nam, ông Thái Văn Liên từ một nơi bên ngoài thôn Cồn Dầu cho chúng tôi biết là, công an và cán bộ chính quyền từ mấy ngày qua đã đóng chốt ở thôn, để tiến hành kiểm định do đạc đất đai và nhà ở của giáo dân dù không được sự đồng ý của họ:

“Hiện giờ người dân Cồn Dầu bị rất nhiều trở ngại cho cuộc sống, thứ nhất gần tới Tết rồi mà dân sợ quá, áp lực của chính quyền rất là cao đối với họ. Cho nên người dân tuy rất là bức xúc mà không biết kêu cứu với ai được, nhiều người bỏ nhà đi âm thầm cầu nguyện xin Thiên Chúa cho tai qua nạn khỏi.”

Đó là các thông tin từ người đại diện của giáo dân Cồn Dầu, về phía chính quyền Đà Nẵng, qua trang thông tin điện tử quận Cẩm Lệ chúng tôi ghi nhận ông Nguyễn Bá Thanh, bí thư thành ủy Đà Nẵng đã hơn 5 lần đối thoại trực tiếp với người dân Cồn Dầu nhưng quan điểm hai bên vẫn hoàn toàn khác biệt.

2.000 người dân Cồn Dầu muốn ở lại với ruộng vườn và căn nhà của mình, để trở thành những người tham gia vào dự án khu du lịch sinh thái Hòa Xuân.

Ông Nguyễn Bá Thanh xác định rằng không thể chấp nhận những yêu cầu không thể đáp ứng. Ngay trong phiên họp ngày 5/11/2009 ông Thanh đã răn đe: “nếu hộ dân nào không đồng ý với việc kiểm định thì chính quyền sẽ tiến hành kiểm tra hành chính về nhà cửa đất đai.”

Gần như toàn bộ giáo dân Cồn Dầu chống lại lệnh giải tỏa đền bù của chính quyền.

Theo tin địa phương, Ủy Ban Nhân Dân Quận Cẩm Lệ báo cáo là hiện vẫn còn 644 hồ sơ gồm 397 hồ sơ nhà và 247 hồ sơ đất nông nghiệp mà người dân Cồn Dầu chưa đồng ý kiểm định để chính quyền áp giá đền bù.

Nam Nguyên, RFA



ĐƠN KHIẾU KIỆN KHẨN CẤP VỀ VIỆC CHÍNH QUYỀN THU HỒI ĐẤT CỦA GIÁO DÂN CỒN DẦU - ĐÀ NẴNG

VietCatholic News

TIN KHẨN:

Bây giờ là 21giờ tối ngày 26 tháng 01 năm 2010, hiện Công an và dân phòng cùng các thành phần khác bao vây nhà ông Chủ tịch HDGX và một số nhà xung quanh thuộc giáo xứ Cồn Dầu, Đà Nẵng. Trong những ngày qua công an khủng bố tinh thần giáo dân chung quanh nhà thờ cả ngày lẫn đêm. Nhiều giáo dân đã pjải đóng cửa nhà rời đi nơi khác, còn một số nhà thì bị niêm phong. Công an không cho giáo dân tự do đi lại... Tin này mới nhận được từ ông Chủ tịch HĐGX của giáo xứ Cồn Dầu.

Sau đây là đơn kêu cứu của giáo dân Cồn Dầu:





Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

ĐƠN KÊU CỨU KHẨN CẤP ĐẾN CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO NƯỚC VIỆT NAM

Kính gửi:

Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Bí thư nước CHXHCN Việt Nam
Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam
Thủ tướng chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Bộ Công An nước CHXHCN Việt Nam
Cơ quan thanh tra TW Đảng nước CHXHCN Việt Nam
Đài truyền hình nước CHXHCN Việt Nam
UBND TP Đà Nẵng

Chúng tôi đồng viết đơn này để nói và kể rõ sự việc của một giáo xứ thôn quê – thôn Cồn Dầu, phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng.

Sự thật mọi việc như sau:

Chúng tôi đã sinh sống, sinh ra và sống tại nơi đây gắn liền cuộc đời của chúng tôi gần 200 năm.

Giáo xứ Cồn Dầu là một Giáo xứ rất lâu đời dân số gần 4000 người.Trên 2000 người đi kinh tế và lập nghiệp tại Easup – Buôn Mê Thuộc, Trà Cổ - Hố Nai tỉnh Đồng Nai, thành phố Đà Nẵng và nhiều nơi khác... Còn lại gần 2000 người ở lại tại làng. Trên 90% người dân nơi đây sống bằng nghề nông, chăn nuôi và các ngành nghề khác.Hầu hết người dân nơi đây theo đạo Công Giáo. Cách đây 5 đến 10 năm về trước người dân nơi đây đời sống kinh tế phát triển chưa cao, nay đời sống của họ đã ổn định và phồn vinh cuộc sống, sung túc và ổn định.

Nhưng vào năm 2003 lãnh đạo thành phố Đà Nẵng đưa ra dự án chỉnh trang tại chổ, sống xung quanh gần nhà thờ của Giáo xứ. Người dân chúng tôi vô cùng vui mừng, mong ước có cuộc sống sung túc, được ở lại quê hương mà bao đời nay người dân gắn liền cuộc đời của họ vào mãnh vườn thửa ruộng con gà, con vịt, con trâu, con bò…

Rồi không biết vì lý do gì dự án không thành làm cho người dân phải khổ sở vì phải vay tiền xây dựng nhà cửa để mong được chỉnh trang tại chổ.

Năm 2008 Lãnh đạo thành phố Đà Nẵng Lại có dự án Khu du lịch sinh thái Hòa Xuân giãi tỏa trắng 430ha. Trong đó làng Cồn Dầu chúng tôi 100ha gồm đất ở và ruộng vườn, đưa người dân chúng tôi phải đi xa Nhà thờ và mãnh đất mà bao đời nay gắn liền trong bao thế hệ phải gánh đất tôn tạo nền nhà với giá đền bù như sau:

* Đường 2m: 250.000đ/m2
* Đường 3m: 350.000đ/m2
* Đường 4m: 450.000đ/m2

Đi đến chổ ở mới với giá mua lại như sau:

*Đường: 5m5: 800.000đ/m2
*Đường: 7m5: 900.000đ/m2
*Đường: 10m5: 1.100.000đ/m2.

Nền nhà đất đổ nền cao chính quyền hổ trợ: 5 triệu, 10 triệu, 15 triệu cho mỗi nền. Người dân Cồn Dầu đã họp với lãnh đạo thành phố trên 20 lần. Trong đó 6 lần họp với bí thư thành ủy Nguyễn Bá Thanh, người dân ước nguyện xin ở lại tại chỗ nhưng ông Nguyễn Bá Thanh trả lời:

- Đã bán 110ha và buộc nhân dân phải di dời đi nơi khác và các ông có mua lại nổi không?
- Các ông không đủ tiền mua chổ ở của mấy ông đâu?
- Các ông là người răng hô, tráng dồ nghèo hèn phải ở phía sau?
- Chúng tôi thấy bất công và làm đơn Kêu cứu gởi lên các cấp từ Phường, Quận, Thành phố đến Trung Ương, và vẫn không giải quyết cho người dân chúng tôi. Ngày đêm người dân chúng tôi âm thầm cầu nguyện xin ở lại mãnh đất chúng tôi mà bao thế hệ đã gắn liền.

Lý do duy nhất là người dân không chấp nhận đi vì mất ruộng đất, vườn ở, đời sống gắn liền với người dân. Nhưng sau đó từ ngày 10/01 - 20/01/2010 Đài phát thanh Phường Hòa Xuân đọc lệnh thu hồi đất ở của người dân giáo xứ Cồn Dầu do ông Võ Văn Thương ký năm 2008. Nhưng nay ông Thương là bí thư quận Cẩm Lệ chứ không phải là chủ tịch Q. Cẩm Lệ bây giờ, mà buộc nhân dân chúng tôi phải chấp nhận theo quyết định ?

Ngày 25/01/2010 bí thư thành ủy Đà Nẵng là ông Nguyễn Bá Thanh dẫn công an, an ninh, cán bộ các cấp từ Phường, Quận, Thành phố trên 100 người xuống tận nhà dân chúng tôi để kiểm định, làm người dân rất kinh sợ, phải đóng cửa nhà đi lánh nạn, công an, ban giải tỏa đền bù, cán bộ các cấp vây suốt cả ngày đêm ăn cơm tại chỗ, có nhà dán giấy chụp hình, dỡ ngói quay phim, làm những điều nhân dân không tưởng được. Không biết những ngày tiếp theo đây người dân Cồn Dầu của chúng tôi có còn yên ổn dưới sự vây hãm của các lực lượng an ninh không? Hiện nay Công an, dân phòng và các thành phần khác đang bao vây một số gia đình buộc họ phải sơ tán. Khủng bố tinh thần giáo dân, niêm phong nhà giáo dân…

Chúng tôi đồng viết đơn này để nói lên sự thật. Kính gởi chính quyền các cấp Trung Ương và các nơi nghiên cứu để giúp đỡ cho chúng tôi, đừng để nhân dân chúng tôi đi đến con đường cùng … và giúp đỡ cho chúng tôi được toại nguyện người công dân đúng theo hiến pháp và pháp luật nước Việt Nam:

1- Được ở lại sống trên mãnh đất mà bao đời đã gắn liền.
2- Được ở lại đi lễ nhà thờ, nhà thờ này là của Giáo hội, cha ông chúng tôi và chúng tôi bỏ tiền ra xây dựng để sống tốt đời đẹp đạo hơn.
3- Không nên lấy đất ruộng của người dân chúng tôi vì nông dân phải có ruộng, có nhà. Chúng tôi lấy gì để sống sau khi mất ruộng, nhà.
4- Tại sao chúng tôi không hưởng được nghị định 69 của Thủ Tướng chính phủ áp dụng với dân làng chúng tôi. Hỏi như vậy có công bằng, dân chủ và thương dân không ?
5- Tại sao chúng tôi là người nông dân không được làm ruộng để sinh sống ?
6- Trong luật đất đai có quy định,khi đi người dân phải có cuộc sống tốt hơn chổ ở cũ khi di dời. Hỏi thành phố Đà Nẵng trong luật đất đai như cách đền bù ở trên, chúng tôi lấy gì để sống và đảm bảo an ninh lương thực như Thủ tướng mong muốn hay không ?

Chúng tôi đồng viết đơn này để nói lên sư thật về một miền quê, một Giáo xứ mà người dân sống chân thật hiền lành, muốn ở lại trên quê hương mà họ đã từng nặng tình nghĩa đã bao đời. Chúng tôi viết đơn này xin gửi lên chính quyền các cấp muôn vàn lần cứu xét cho người dân thôn Cồn Dầu được nhờ.

Đà Nẵng, ngày 26 tháng 1 năm 2010
Người dân thôn Cồn Dầu đồng ký tên

Cồn Dầu

*********************************************************************

KHỐI NHƠN SANH ĐẠO CAO ĐÀI CHIA XẺ ĐẠO NẠN CÙNG GIÁO XỨ ĐỒNG CHIÊM

VietCatholic News

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
BÁT THẬP NGŨ NIÊN
TÒA THÁNH TÂY NINH

CHIA XẺ ĐẠO NẠN CÙNG GIÁO XỨ ĐỒNG CHIÊM

BAN ĐẠI DIỆN KHỐI NHƠN SANH ĐẠO CAO ĐÀI

Kính gởi: Quí Ngài Tổng Giám Mục, Giám Mục,Quí Linh Mục,
Cùng toàn thể Giáo Dân Thiên Chúa Giáo,Giáo Xứ
Đồng Chiêm xã An Phú, Huyện Mỹ Đức, Hà Nội.

Kính Quí Ngài:

Đạo nạn của Giáo Xứ Đồng Chiêm ở Hà Nội cũng như đạo nạn của các Tăng Ni sinh Tu Viện Bát Nhã Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng; của Thánh Thất Định Quán Đạo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh tỉnh Đồng Nai; của chùa Hưng An Tự Phật Giáo Hòa Hảo tỉnh An Giang… là một Đạo nạn chung của tất cả các Tôn giáo hiện nay trên đất nước Việt Nam.

Thánh Giá là một Bảo vật Thiêng Liêng Vô giá, là một biểu tượng Đức Tin của Tín Hữu Ki Tô Giáo, chỉ những người không tôn trọng Tôn Giáo mới hành động như hiện tại ở Đồng Chiêm !

Nỗi thống khổ của Quí vị cũng chính là nỗi đau khổ của chúng tôi. Mặc dầu hình thể Tôn giáo có khác nhau theo từng thời kỳ khai đạo, nhưng tâm linh chúng ta chỉ có một, đồng nhứt thể.

Chúng tôi xin thay mặt cho hàng triệu tín đồ Đạo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, xin chân thành chia xẻ nỗi đau thương mất mát của Quí vị khi phải đối diện với một sự thật quá đau buồn ngoài sức tưởng tượng của con người.

Lịch sử dân tộc Việt Nam từ khi Vua Hùng dựng nước đến nay, trãi qua mấy ngàn năm văn hiến, vừa đánh giặc ngoại xâm, vừa xây dựng, bảo tồn và phát triển kinh tế văn hóa xã hội. Ông cha ta đã biết quí trọng giá trị đạo đức của Tiền Nhân, quyết gìn giữ nền văn hóa tối ưu làm căn bản cho sự phát huy đạo đức, nghĩa nhân của con người để đưa dân tộc phát triển, văn minh và hội nhập cùng các quốc gia trên toàn thế giới.

Những tinh hoa, những giá trị tốt đẹp, cao thượng của tâm hồn người Việt Nam đó được thể hiện qua các nền Tôn giáo. Tôn giáo đúc kết lại và xây dựng nên một cách hoàn mỹ để giáo hóa, bày truyền ra cho con người đạt đến sự hoàn thiện đẹp đẽ. Thế mà hôm nay quyền lực của đời bóp méo, đè bẹp, dìm xuống như một thứ xấu xa cần phải bị tiêu diệt. Điều đó chứng tỏ cho mọi người thấy và hiểu được đạo đức của một xã hội suy đồi đến tột cùng. Tương lai dân tộc Việt nam sẽ đi về đâu? Khi nền tảng đạo đức, hay đức tin của con người bị xúc phạm nghiêm trọng, quyền tự do tín ngưỡng bị khống chế, nhân quyền bị chà đạp. hành xử của nhà nước đối với Tôn giáo là sử dụng côn đồ, xã hội đen, bạo lực để đánh đập người dân vô tội vạ.

Đứng trước Đạo nạn chung của các nền Tôn giáo hiện nay, không ai khỏi ngậm ngùi xúc động trước tình cảnh tang thương giữa con người Việt Nam với nhau mà không chút xót thương. Nghĩ đến vận mạng, tiền đồ của nòi giống Việt Nam đã từng chịu biết bao nhiêu thống khổ từ thể xác đến tâm hồn, chúng tôi vô cùng đau xót.

Ngày nay với nỗi đau khổ nầy sẽ làm cơ quan giải thoát cho toàn thể chúng sinh, nỗi khổ nầy sẽ làm nhịp cầu cho tất cả các nền Tôn giáo xích gần lại với nhau, hiệp thông nhau, chia vui sớt thảm, biết tôn trọng nhau để cùng hướng tới mục đích giải khổ cho loài người cả về thể xác lẫn tâm hồn.

Sứ mạng Tôn giáo luôn gắn liền với vận mạng của dân tộc. Đó mới là Tôn giáo tích cực phụng sự chúng sinh, thiết thực phụng sự cho Hòa Bình và đem lại sự Công Bằng, Thương Yêu cho loài người.

Tiếng nói của chúng tôi là tiếng nói chung cho tất cả những người Việt Nam yêu quê hương đất nước, là tiếng nói chung của tất cả những nhà lãnh đạo tinh thần Tôn giáo yêu quí nền Dân Chủ và Tự Do Quyền, mong muốn xã hội Việt Nam được bình yên, mọi người được quí trọng nhau, biết chia xẻ cùng nhau, biết đặt tình yêu thương, công lý, lẽ phải lên trên hết để mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, hầu tiến đến Đại Đồng Nhơn Loại.

Chúng tôi thành tâm chia xẻ và cảm thông với Quí vị. Cầu xin ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế ban bố Hồng ân cho tất cả anh em chúng ta đồng một Đức Tin, đồng một Mục Đích, đồng nhìn nhau trong tình cốt nhục Thiêng Liêng của Ngài để đem đến cho thế gian niềm an vui và hạnh phúc.

Nay kính

Thánh Địa Tây Ninh Ngày 12 - Tháng Chạp - Năm Kỷ Sửu
(dl 26 – 01 – 2010)

TM Ban Đại Diện Khối Nhơn Sanh Đạo Cao Đài
TRƯỞNG BAN

Chánh Trị Sự HỨA PHI

*********************************************************************

VIỆT NAM ĐANG VÀO XUÂN HAY LẬP ĐÔNG?

VietCatholic News

Tình hình những ngày đầu 2010 này có vẻ như rất cần được đặt cho một cái tên, ‘tháng tang tóc’ chẳng hạn? Ai từng ghé vào trang BBC Vietnamese mấy hôm trước có thấy cái ‘mặt tiền’ trang mạng này toàn là những tin tức chẳng tốt lành chắc cũng sẽ phải đồng tình với ý nghĩ này.

Hai bản tin nổi bật nhất đập vào mắt người xem cũng chính là hai tai họa lớn mà nhà cầm quyền VN vừa giáng xuống hai tôn giáo lớn nhất nước Phật giáo và Công giáo còn đang làm ‘nóng’ dư luận. Bao quanh nó là những ‘vệ tinh buồn’ khác là vụ xử Ls.Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long và Nguyễn Tiến Trung bị cả thế giới lên án, bị bức cung… lại vừa thêm một người đấu tranh đòi đa đảng khác là ông Nguyễn Bá Đăng phải vào tù có vẻ như nhà nước đang lo cho qua tết các quan tòa khỏi bị thất nghiệp? Bìa phải là các bản tin về quan tham ô hối lộ, một ‘nữ dân oan’ phải ra tòa vì tội định tự thiêu trước tư dinh thủ tướng Dũng do bất công về đất đai v.v…

Nói chung là khác xa với kiểu đưa tin lúc nào cũng ‘phấn khởi hồ hởi’ của báo chí trong nước, BBC hôm 25/1 đã trình cho mọi người thấy cả một bầu trời u ám đang bao phủ lấy đất nước VN.

Nếu như cái ‘mặt tiền’ trang BBC còn có đủ chỗ chứa cho các bức xúc khác như về giáo dục, nạn mua quan bán chức, tình trạng phụ nữ VN bị mua bán sự xuống cấp của các giá trị đạo đức, nạn vô cảm giữa người với người điển hình qua vụ 'chó dữ cắn chết người’ .v.v… họ đã vẽ nên một bức tranh toàn cảnh khá chính xác về một nước VN vào tháng đầu năm 2010 này không phải là mùa Xuân, mà lại là một mùa Đông hết sức ảm đạm.

Tuy nhiên, ngay cả khi có được bức tranh như vậy nó cũng mới chỉ phản ánh được những cái ‘mặt nổi’.

Suốt tháng qua chuyện các vị trí thức chủ nhân trang bauxitevietnam.info nhất là giáo sư Huệ Chi bị công an hành tội, bị ‘mượn đểu’ ổ cứng máy tính, bị ‘mời đểu’ đến đồn làm việc, rồi chuyện các cha nhà Dòng Chúa Cứu Thế 38 Kỳ Đồng Sàigòn bị UBND Quận 3 ‘hỏi thăm sức khỏe’ vì liên quan đến trang dcctvn.net. Chuyện hai trang web này cùng nhiều trang tiếng Việt hải ngoại khác đã bị đánh phá khiến phải ‘sống dở chết dở’ ra sao mọi người đều đã biết v.v… tất cả những việc này cho thấy đang còn vô khối những cơn sóng ngầm ‘dữ dằn’ hoành hành khắp nơi, sẵn sàng chà đạp các quyền tự do căn bản của người dân. Đáng nói là những hành vi bẩn thỉu này lại được nhà cầm quyền VN thi hành nhân danh ‘pháp luật’!!!

Tai họa liền kề tai ương

Ở bản tin thứ nhất 'Thiền sư Nhất Hạnh nói về vụ Bát Nhã’ ông gọi vụ này là "Pháp nạn của Phật giáo Việt Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ 21", một "công án" vì có liên quan đến các chủ mưu “công an, Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Ban Tôn giáo Chính phủ” cùng nhiều câu hỏi gây ‘nhức nhối’ cho người đọc: "Tại sao mình chỉ muốn tu thôi mà người ta không cho mình tu?"; "Tại sao phải giải tán cho được Bát Nhã dù phải áp dụng những biện pháp như thuê côn đồ, vu khống, lừa gạt, đánh đập, đe dọa?" và tại sao nhà cầm quyền phải dùng đến "những thủ đoạn gian trá, thấp hèn, trái với lương tâm con người" vào mục đích triệt hạ các tăng ni Bát Nhã không khác gì cách quân đầu gấu xử sự với nhau? tại sao và tại sao… hàng trăm nạn nhân trong cuộc cũng không ai hiểu nổi ngay cả khi nó đã trôi qua gần nửa năm kể từ cuối tháng 8/09 ???

Tuy nhiên, điều đáng lo hơn cả vẫn là câu hỏi "tại sao ta lại chịu áp lực của Trung Quốc để đàn áp và tiêu hủy ngay một nguồn sinh lực quý báu của ta?" Là một nhà sư tên tuổi trên thế giới, một khi đã nói ra điều này hẳn ông đã cân nhắc nó rất kỹ lưỡng và hẳn đã có đủ bằng chứng.

Câu hỏi đang được nhà sư đặt ra cho chế độ Csvn khiến chúng ta không khỏi không nhớ lại chuyện một Lê Chiêu Thống từng ‘cõng rắn cắn gà nhà’ hơn hai thế kỷ trước. Nếu quả thật tu viện Bát Nhã bị Csvn giải tán theo lệnh của các quan thầy TQ, vụ Bát Nhã nhiều khả năng sẽ trở thành vết nhơ lớn lịch sử đời sau khó thể bỏ qua.

Bản tin thứ hai là về Vụ Đồng Chiêm, mấy chữ ‘đã giải quyết xong’ chắc là lời của một quan chức nào đó nói với BBC khiến những người có đạo chúng ta nghĩ gì?

Phải chăng đó là việc chính quyền Tp.Hà Nội đã hoàn thành xuất sắc ‘chỉ tiêu’ đập tan nát phá Thánh Giá Đồng Chiêm do họ đề ra. Họ đã ‘hạ gục’ biểu tượng tôn giáo đáng kính của không chỉ Đồng Chiêm, của giáo hội công giáo VN mà còn là biểu tượng đức tin của hơn 2 tỷ người trên toàn thế giới nhưng đã chẳng gây ra bất cứ hậu quả ‘bất ổn chính trị’ nghiệm trọng nào cho tới giờ phút này?

Nó khiến chúng ta nhớ lại vô số khẩu lệnh “khó khăn nào cũng vượt qua, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành” thời bao cấp những năm 80, chỉ có điều ‘khó khăn, trở ngại’ trong vụ Đồng Chiêm không phải là kinh tế mà là ‘luân thường đạo lý’ thế nhưng nhà cầm quyền Csvn vẫn ‘giải quyết xong’ một cách ‘xuất sắc’!!! Một đất nước được lãnh đạo bởi những con người tài hèn đức mọn như thế thử hỏi còn tai họa nào lớn hơn cho đất nước?

Nếu không vì lý do ‘chỉ tiêu’ nêu trên, lời tuyên bố ‘đã giải quyết xong vụ Đồng Chiêm’ đơn thuần chỉ còn là lời reo mừng được thốt lên như một phản xạ tự nhiên khi ai đó thấy mình sắp thoát nạn khỏi những nông nổi do chính họ gây ra. Ở đây đó là sự xúc phạm đến một biểu tượng tôn giáo thiêng liêng của hơn 2 tỷ tín đồ Thiên Chúa Giáo khắp thế giới.

Chúng ta rất muốn tin hành động xúc phạm này chỉ là một sự ‘lầm lỡ’ do thiếu hiểu biết nhưng khi xem xét lại tình tiết vụ việc lại thấy nó hoàn toàn không phải vậy.

Sự ‘ngây ngô dại dột’ trong sự chỉ đạo của ai đó cho vác bom mìn búa tạ đi đập Thánh Giá Đồng Chiêm giữa đêm khuya như muốn để tránh khỏi mọi rủi ro, nhưng lại gây ra thương tích nghiêm trọng cho ít nhất là 2 nữ giáo dân không tấc sắt trong tay chẳng đáng gì so với một đội quân hùng hổ vài trăm người, đã thế còn để vung vãi lại hiện trường vũ khí đủ loại có cả cái chưa dùng mà họ nào có thua trận đâu để bảo là do vội tháo chạy?

Tất cả những điều này khiến chúng ta không còn cách hiểu nào khác hơn là vụ triệt hạ Thánh giá Đồng Chiêm đã được các quan chức Tp.Hà Nội thực hiện nó rất có tính toán: chỉ cần muợn danh nghĩa ‘luật pháp quốc gia là thượng tôn’ (nhưng thật ra là mớ ‘luật rừng’!) kết tội giáo xứ Đồng Chiêm xây dựng Thánh Giá trái phép ắt phải bị đập bỏ mà không có bất kỳ ngoại lệ nào. Một vụ đập phá nhân danh ‘pháp luật’ như vậy chăc chắn sẽ không có bất cứ ‘đồng chí’ nào dù to đến đâu, dù không ưa kẻ ra lệnh đến đâu cũng chẳng ai dám hó hé bắt bẻ họ.

Làm sao ông chủ tịch Nguyễn Minh Triết không biết hậu quả của hành động này sẽ làm mất mặt mình khi nó xảy ra ngay sau chuyến đi Rome yết kiến Đức giáo hoàng bàn thiết lập quan hệ? Biết chắc chứ nhưng ông cũng đành phải ngậm đắng nuốt cay!

‘Độc chiêu’ của vụ Đồng Chiêm là ở chỗ Tp.Hà Nội đã cố tình không chịu vội triệt hạ cây Thánh Giá từ hồi tháng 3 lúc nó mới được đúc thay cho cây Thánh giá gỗ cũ như bao công trình xây dựng trái phép khác, khi đang còn thi công với giàn giáo như tấm hình chụp kèm được đăng trên một số báo trong nước.

Nếu thật sự vì kỷ cương phép nước và vì giáo xứ Đồng Chiêm vi phạm pháp luật ắt họ đã phải triệt hạ Thánh Giá Đồng Chiêm từ tháng 3/09. Nhưng vì Thánh Giá Đồng Chiêm chỉ là cái cớ nên có kẻ đã cố ‘để dành’ nó chờ cho đến sau khi ông chủ tịch Triết sang Rome tay bắt mặt mừng với Đức Giáo Hoàng xong họ mới chịu ra tay.

Sự vô luân vô lối của hệ thống luật phát XHCN chính là ở chỗ này. Ngay cả đến ông chủ tịch Triết, ông thủ tướng Dũng mà cũng còn bị khoá cả tay lẫn miệng trong các vụ Tòa Khâm Sứ, Đồng Chiêm thì thử hỏi công lý với dân đen là cái ‘đinh rỉ’ gì? Chẳng trách sao nhà cầm quyền Hà Nội vẫn cứ ngang nhiên muốn bắt bớ, kết tội bất cứ ai họ đều làm được cả.

Tựa như ‘con dao hai lưỡi’, luật pháp XHCN vừa có thể uy hiếp dân nhưng lại vừa có thể dùng làm công cụ để nội bộ ‘dằn mặt’ trói buộc nhau khiến bất kỳ ai đã tham gia vào đảng rồi thì dù có thức tỉnh muốn quay trở về hành xử như những người tử tế họ cũng chẳng được đảng cho phép. Đã lỡ đi với ma rồi thì đành phải mặc áo giấy suốt đời. Chính các tấn ‘bi kịch’ xảy ra cho cả hai ông Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Minh Triết ngay sau chuyến yết kiến Giáo hoàng tại Vatican cho thấy thật sự có một lưỡi dao thứ hai như vậy trong luật pháp XHCN của VN.

Nhưng bất kể vì lý do gì mấy chữ ‘đã giải quyết xong’ vụ Đồng Chiêm vẫn khiến những người có đạo chúng ta khi nghe cảm thấy nó hết sức… ‘trâng tráo’!

Canh Dần 2010 sẽ ra sao?

Nhìn hiện tại có thể đoán được phần nào tương lai. Với những điều đang xảy ra thời điểm đầu năm này, chúng ta có cơ sở để tin rằng năm Canh Dần 2010 sẽ tiếp tục là năm ‘canh cô mồ mả’ đối với người dân trong nước do sẽ sự cai trị ‘dữ dằn’ tựa loài Dần, cọp, hổ mà nhà cầm quyền CSVN sẽ áp đặt lên dân chúng.

Tối hôm 20/1 khi nghe trên VTV nhà cầm quyền tuyên án kết tội Ls.Lê Công Định tội “lật đổ chính quyền bằng đấu tranh bất bạo động” hẳn là nhiều người hiểu biết không khỏi vừa buồn cười vừa cảm thấy hổ thẹn cho lũ quan tòa.

Bởi một chính quyền nếu thật sự có thể dễ dàng bị lật đổ bằng phương pháp đấu tranh bất bạo động, chứng tỏ chính quyền ấy đúng là loại ‘sâu dân mọt nước’ rồi còn gì nên các bị can kia mới chẳng cần phải dùng đến vũ lực, mà chỉ bằng ‘lòng dân’ cũng đủ làm nên chuyện. Lật đổ một chính quyền như vậy xem ra cũng đáng làm lắm chứ!

Hơn ai hết, một chính quyền vẫn thường xưng mình là ‘của dân, vì dân’ há chẳng thấy việc bị ‘lòng dân’ lật đổ như vậy là ‘đáng tội’ lắm sao?

Đấu tranh bất bạo động mà bị kết tội trầm trọng như tòa án VN chẳng lẽ thánh Grandhi của Ấn Độ, mục sư Luther King của Mỹ những người được cả thế giới nể trọng vì khai sinh ra và thực hành ‘đấu tranh bất bạo động’ họ cũng đều là quân ‘phản động’ cả ư?

Còn nếu nhà cầm quyền VN thật sự sợ bị lật đổ thì lẽ ra họ càng không nên chuyển tội danh 4 bị can từ 88 sang 79, bởi làm thế chẳng khác gieo vào mấy chục triệu cái đầu ‘non nớt’ về chính trị của dân chúng cái khái niệm ‘lật đổ chính quyền’ vốn còn rất xa lạ, để rồi dân chúng sẽ thắc mắc hóa ra ‘chính quyền nhân dân’ này cũng đang ‘mắc tội’ hay hại dân hại nước lắm nên mới có người đòi lật đổ v.v… thử hỏi còn ‘cái dại’ nào to hơn ‘cái dại’ này?

Như vậy rõ ràng việc quân sư ‘quạt mo’ nào đó đã hiến kế cho đảng ta thay đổi tội danh nhóm Ls.Định từ điều 88 sang điều 79 (mà rốt cuộc cũng chẳng dám tử hình ai kể cả Trần Huỳnh Duy Thức phản cung không chịu nhận tội) xem ra hắn rất đáng bị tử hình lắm chứ chẳng chơi. Tạo cớ để thiên hạ gieo ‘tiếng ác’ bất lợi tai tiếng cho đảng cầm quyền đích thị hắn mới chính là kẻ đang muốn “lật độ chế độ” chứ chẳng phải Ls.Định, Tiến Trung, Duy Thức hay bất cứ ai khác.

Thật tội nghiệp cho các lãnh đạo ‘chóp bu’ xứ ta, chỉ vì muốn độc tài ham quyền lực mà đâm ra ‘mờ mắt’ không còn phân biệt nổi đâu là lợi hại, đúng sai khi dùng mấy chữ ‘đấu tranh bất bạo động’ đi kết tội người khác ‘lật đổ chính quyền’?

‘Quí vị’ đảng csvn nếu thật sự thương dân, tôn trọng dân hãy ngẫm nghĩ xem người dân chúng tôi nói như thế có gì sai?

Mà dường như đất trời cũng chẳng đồng tình với vụ xử ‘lật đổ chính quyền’ này. Ngay trước và trong ngày diễn ra phiên xử nhóm Ls.Lê Công Định, một cơn áp thấp nhiệt đới bất ngờ hình thành trên vùng biển Trường Sa tràn vào các tỉnh Trung Nam bộ hôm 19/1 khiến cho bầu trời Sàigòn tháng Giêng này lẽ ra rất nắng nóng bỗng trở nên xám xịt, gió mưa vần vũ suốt hai ngày này, như thể trời đất cũng thương khóc cho 4 bị can và cho cả hơn 80 triệu dân VN.

Hiện tượng thời tiết bất thường đầu năm như vậy diễn ra cùng với tình trạng uy hiếp của TQ mỗi lúc lộ liễu hơn ngoài biển Đông như thể là điềm báo trước sẽ có thêm nhiều ‘sóng to gió lớn’ xảy ra trong năm nay.

Một cuộc chiến với TQ là điều chẳng ai muốn nhưng với đà căng thẳng leo thang kiểu này xem chừng cũng khó có thể tránh khỏi. Trong cái rủi biết đâu lại có cái may? Một cuộc chiến thật sự nếu xảy ra biết đâu đấy lại là cơ hội giúp VN sớm thoát khỏi cái quĩ đạo độc tài cộng sản TQ.duy nhất còn lại trên thế giới.

Với sự mở màn tồi tệ của năm 2010 như vừa kể trên xem ra sẽ không có nhiều điều sáng sủa đang chờ đợi mọi người phía trước. Các quyền tự do căn bản sẽ tiếp tục bị nhà cầm quyền VN chà đạp, bất công bạo ngược vẫn lộng hành tràn lan.

Mặc dù vậy chúng ta luôn tin rằng một vật khi đã lên đến đỉnh hoặc rơi xuống đáy nó chẳng thể nào đi xa hơn được nữa. Những sự xấu xa tệ hại mà Csvn gây ra cho các tôn giáo nhất là đạo công giáo chúng ta mấy năm gần đây cùng với không biết bao nhiêu ngàn vụ vi phạm nhân quyền, tham nhũng và bất công tràn lan như đang quá sức chịu đựng với hầu hết nhân sĩ trí thức trong nước và ngay cả trong hàng ngũ đảng Csvn. Chỉ một vài biến động trong quan hệ Hà Nội – Bắc Kinh rất có thể sẽ là điều kiện thuận lợi cho một sự đổi thay nhanh chóng diễn ra.

Chúng ta cùng chờ xem… cảnh đất nước ảm đạm phải ‘lập Đông’ ngay giữa đầu mùa Xuân của đất trời này còn có thể kéo dài trong bao lâu?

Sàigòn, 28/1/2010
Alf. Hoàng Gia Bảo

************************************************************************

ĐỒNG CHIÊM - ĐIỂM TỚI CỦA CHUỖI NHỮNG HÀNH ĐỘNG KỲ QUẶC KHÓ HIỂU

VietCatholic News

Sau đây là bài nhận định của độc giả về biến cố Đồng Chiêm:

Biến cố Đồng Chiêm là một câu hỏi lớn không dễ trả lời đối với các nhà hoạt động tôn giáo và với cả những nhà quan sát, bình luận, nhận định về thời cuộc.

Đồng Chiêm như gáo nước lạnh thức tỉnh mọi phán đoán, suy xét, tính toán, giả thiết… Đồng Chiêm như một giọt nước làm tràn cái ly “nghi nghi hoặc hoặc” của những ai còn cố gắng tìm cớ để bao biện cho sự táng tận lương tâm của kẻ cầm quyền. Đông Chiêm làm sửng sốt những ai còn nghi ngờ về giới hạn của sự vô luân, vô đạo, vô lương…của một thể chế. Và có lẽ người ta nên nhìn nhận lại bằng con mắt khác hơn qua một chuỗi những sự việc khó hiểu mà nhà cầm quyền đã thực thi trên đất nước này lâu nay.

Thì ra, không chỉ dân nghèo, không chỉ Đồng Chiêm, không chỉ Công giáo, không chỉ đất đai… đang là đối tượng của “bạo lực chính quyền” và “khủng bố nhà nước”, mà thực ra, thể chế này đã bị một thứ quyền lực ma quỷ đang sai khiến và nó chỉ còn có mỗi việc là làm theo một cách mù quáng, vô điều kiện, như con thiêu thân, hay như một con chó trung thành... cốt vừa lòng quan thầy nó mà thôi.

Một “bàn tay lông lá” của ma quỷ đã, đang và sẽ còn điều khiển, sai khiến những kẻ cầm quyền nhà nước này và mách cho nó những cách thức để đi đến thành công trong kế hoạch đánh phá, hủy hoại dân tộc này ở tất cả mọi lĩnh vực của đời sống.

Thật thế, ta có thể nhìn nhận lại sơ lược về những phi lý, bất công trong xã hội những năm gần đây vẫn đang ngày càng nhiều lên.

Đó là những cảnh cướp đất của dân nghèo chia cho quan chức, hay làm “dự án” không phục vụ dân sinh. Là cảnh những bà mẹ Việt Nam anh hùng phải lặn lội hàng ngàn cây số đến tận Phủ Thủ tướng dầm mưa dãi nắng kêu oan. Nhưng tiếng kêu thấu trời kia sau 5 năm, 10 năm, 20 năm vẫn không tới được tai Thủ tướng?

Là cảnh những nhát cuốc vô lương đã đào xới mồ mả mấy đời của người dân chỉ vì những quy hoạch lạnh lùng chà đạp lên lợi ích của dân ở khắp nơi trên đất nước mà mới đây nhất là ở Hoàng Mai – Hà Nội.

Đó là cảnh những thanh niên, sinh viên, trí thức… bị bóp nghẹt tiếng nói yêu nước bằng các vụ đàn áp bất công cách khó hiểu – vụ biểu tình trước sứ quán Trung quốc năm 2007. Là chiến dịch khủng bố tinh thần thái độ thể hiện lòng yêu nước của các bloger Điếu Cày, Mẹ Nấm, Người buôn gió… Là hiện tượng phá hoại các trang mạng phản ánh sự thật hiện tình xã hội của các thế hệ và tầng lớp nhân dân – Bauxitvietnam, Talawas…

Đó là cảnh những người có công với dân với nước phải ra tòa chỉ vì đến nay vẫn không từ bỏ lý tưởng “vì dân” của mình – điển hình là vụ án bà Ba Sương.

Đó là quyết tâm bịt miệng, triệt hạ bằng mọi giá những tấm lòng đau đáu vì sự phát triển của đất nước và dân tộc với hàng loạt những bản án bất công, vô lương… đối với linh mục Nguyễn Văn Lý, luật sư Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Thượng tọa Thích Quảng Độ….Hay những nhân vật như nhà văn Phạm Xuân Nghĩa, Phạm Thanh Nghiên, Phạm Văn Trội, nhà giáo Vũ Hùng, bác sĩ Phạm Hồng Sơn… mà cả thế giới vẫn đang lên tiếng đòi trả tự và công bằng cho họ.

Đó là cảnh cướp đất, vu cáo gây oán thù giữa người dân với các tôn giáo, giữa các tôn giáo với nhau, gây “phân hóa nội bộ” trong lòng các tôn giáo. Từ vụ Tòa Khâm sứ, Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý, Bát Nhã, Thiền viện, Thánh viện, các dòng tu, mới đây nhất là biến cố Đồng Chiêm và mới hơn nữa (24/01/2010) là âm mưu cướp đất và xua đuổi sư sãi ở ngôi chùa nhỏ bé hẻo lánh ở chùa Linh Phổ, Lâm Đồng. Một đất nước mà tôn giáo, nơi trú ngụ cuối cùng để niềm tin có thể sống sót còn bị chà đạp và triệt hạ bằng mọi giá thì dân tộc đó sẽ đi về đâu?

Chào một năm mới, kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long - Hà Nội, dọn đường cho đại hội XI của đảng cộng sản là hàng loạt các vụ khủng bố và trấn áp nhân dân và bỏ tù hàng loạt những người yêu nước. Đỉnh cao của sự bất lương, thất đức đến mức khó hiểu là hành động đập phá biểu tượng tôn giáo tại Đồng Chiêm và bản án “lật đổ chính quyền nhân dân” đối với Luật sư Lê Công Định, doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long và Thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung. Theo mô hình vụ án Lưu Hiểu Ba của nước “bạn”, một nhân vật yêu nước bị kết tội bằng cái án “lật đổ chính quyền nhân dân”, và vu cáo họ bằng luận điệu cũ rích quen thuộc rằng “nghe theo sự xúi giục của các tổ chức phản động nước ngoài”. Một xã hội mà những kẻ cầm quyền luôn tìm cách đánh tráo khái niệm của lòng yêu nước thì hỏi rằng còn có ai dám yêu nước nữa?

Lịch sử dân tộc Việt Nam chắc chắn chưa bao giờ phải chứng kiến một sách lược, chiến lược hủy hoại nòi giống, dân tộc dưới mọi hình thức, trong mọi lĩnh vực, với mọi tầng lớp… như hiện nay.

Bằng những phương cách hạ đẳng đê hèn nhất, bất chấp đạo lý, luật pháp, lương tâm nhất, nó đã xô đẩy người dân nghèo đến tận cùng tuyệt vọng, nó làm cho các tôn giáo và nội bộ tôn giáo hoài nghi với nhau. Nó phá hủy đạo đức khiến cho nền giáo dục xuống cấp trầm trọng, tính nhân văn vốn là cội nguồn của mọi hành xử trong xã hội đã trở nên xa xỉ. Các nhà khoa học, những con người tâm huyết với sự phát triển tiến bộ của đất nước đã không có “đất dụng võ” bởi hàng loạt các quyết định, nghị định… đi ngược lại lợi ích dân tộc?

Nó sẵn sàng dùng đội quân đáng lẽ chỉ dành để phục vụ nhân dân đi đàn áp nhân dân, những hình ảnh đẫm máu của công an, quân đội dùng vũ khí đánh đập người dân lâu nay đã trở nên quá quen thuộc trên các trang mạng không chính thống. Trong khi đó nơi mà người dân mong muốn những lực lượng đó xuất hiện thì lại chẳng thấy đâu. Ngư dân đánh cá ngoài biển Đông cho rằng, bao nhiêu năm đánh cá ngoài khơi nhưng chẳng bao giờ nhìn thấy tàu của Hải quân Việt Nam hay Cảnh sát biển Việt Nam ở đâu để mà kêu cứu?

Bàn tay ma quỷ ấy đang xử dụng nhà cầm quyền VN như một sân khấu múa rối vậy, đứa trẻ tưởng rằng con rối biết đi, đứng, chạy, nhảy, nói, cười… nhưng thực ra nó được điều khiển chỉ bởi một bàn tay ở phía hậu trường.

Bàn tay ma quỷ ấy nó len lỏi vào mọi ngõ ngách của đời sống, nó bào mòn nhận thức, tư duy, ý chí của người Việt về mọi vấn đề. Người Việt đang đánh mất chính mình mà thật khó nhận ra, hoặc có nhận ra cũng thật khó có cách nào thoát khỏi cái vòng vây vô hình quỷ quyệt ấy.

Hàng hóa kém chất lượng có hại đến sức khỏe con người nhưng không những được tràn vào ồ ạt bằng đường nhập lậu mà còn được ưu đãi về thuế khiến giết chết các ngành công nghiệp sả