Archives for: January 2010, 29
GIỜ HÀNH ĐỘNG ĐỂ GIẢI TRỪ QUỐC NẠN CỘNG SẢN: NĂM HẾT TẾT ĐẾN TINH SỔ KIỀU HỐI VỚI CSVN

Mỗi đồng bạc chúng ta gởi về nước có thể trở thành những viên đạn bắn vào đồng bào của chúng ta và nuôi dưỡng sự tồn tại của một chế độ độc tài tàn bạo, phản dân hại nước. Ảnh blingcheese
GIỜ HÀNH ĐỘNG ĐỂ GIẢI TRỪ QUỐC NẠN CỘNG SẢN: Năm hết Tết đến tính sổ kiều hối với CSVN
Source: lyhuong.net
Năm Dương lịch 2009 vừa mới đi qua, Tết Âm lịch sắp đến, chúng ta hãy xem xét lại yếu tố kiều hối đã tuồn về Việt Nam trong những năm qua.
Chữ “kiều hối” ở trong nước được dùng phổ biến và được hiểu là tiền từ nước ngoài gửi về cho người trong nước, thông thường là tiền của Việt kiều gởi về cho thân nhân. Những năm sau này kiều hối được bơm về nước còn do lực lượng xuất cảng lao động, hoặc gửi về hoặc mang theo khi về thăm nhà.
Lượng kiều hối chuyển về VN hàng năm tăng liên tục và tăng rõ rệt trong 10 năm qua. Năm 2000 được 1 tỷ USD, năm 2001 tăng lên 1.5 tỷ USD, năm 2002 lên hơn 2 tỷ USD, năm 2003 2.6 tỷ USD, năm 2004 3.8 tỷ USD, năm 2005 lên gần 4 tỷ USD, năm 2006 nhảy vọt lên 5.2 tỷ USD, năm 2007 lên trên 6 tỷ USD và năm 2008 đạt kỷ lục 7.2 tỷ USD.
Đó mới chỉ là lượng tiền chuyển về qua các cơ quan chính thức như ngân hàng hay các tổ chức chuyển tiền đúc kết được. Trên thực tế, con số thực lượng tiền gửi còn lớn hơn nhiều vì không ít người Việt ở nước ngoài chuyển tiền về VN qua các con đường không chính thức.
Nhưng năm 2009 là năm khó khăn chung cho thế giới và cho chính quyền CSVN. Khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và toàn cầu đã làm tác động đến nguồn ngoại tệ gửi về nước. Tình hình đưa người dân đi làm nô lệ ở nước ngoài mà VC gọi từ hoa mỹ là “xuất khẩu lao động” cũng gặp nhiều khó khăn trong năm qua. Theo Ngân hàng nhà nước của VC, tính đến ngày cuối tháng 12 năm 2009 lượng kiều hối chuyển về VN chỉ được 6.283 tỉ USD, giảm 12,8% so với năm 2008. Còn đối với thành phố HCM thì ông Nguyễn Hoàng Minh, phó thống đốc phía Nam của Ngân hàng Nhà nước cho biết kiều hối gởi qua các ngân hàng và đại lý chuyển tiền ở thành phố này chỉ vào khoảng 3.2 tỉ USD trong năm qua, giảm 20% so với năm trước.
Nhìn lại 19 năm qua, từ khi những đồng tiền đầu tiên của kiều bào được gửi về VN qua đường chính thức kể từ năm 1991, đến nay con số này đã vượt quá 30 tỷ USD chiếm hơn 70% số vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài (FDI - Foreign Direct Investment) tính từ năm 1988 và cao gấp rưỡi nguồn vốn Viện Trợ Phát Triển Kinh Tế (ODA - Official Development Assistance) được giải ngân từ năm 1993.
Những con số này mang một ý nghĩa rất lớn. Hàng tỷ đô la được chuyển vào VN hàng năm mà nhà cầm quyền CSVN hầu như chẳng tốn một đồng nào. Điều này khác hẳn với hoạt động xuất cảng được xem là nguồn thu ngoại tệ lớn cho quốc gia. Thống kê của Bộ Kế họach và Ðầu tư của CSVN cho hay kim ngạch xuất cảng cả nước trong năm 2009 đạt gần 57 tỷ Mỹ kim, nhưng để thu được khoản ngoại tệ này, VN tốn biết bao nhiêu là công sức và chi phí. Nếu loại bỏ những chi phí này, liệu ngành xuất cảng của VN thu được bao nhiêu lợi nhuận từ con số 57 tỷ Mỹ kim đó?
Nhận thức được giá trị của kiều hối, Đại Sứ Quán CSVN tại Mỹ đã không ngần ngại xác nhận: “Kiều hối là một nguồn lực quý giá theo nhiều nghĩa, là một kênh mang lại ngoại tệ mạnh cho đất nước mà không một kênh nào có thể sánh nổi về hiệu quả. Bởi vì ngoại tệ thu được từ xuất khẩu tuy rất quý nhưng xuất khẩu thì phải mất chi phí để sản xuất hàng, chi phí vận chuyển mang ra nước ngoài, lại còn phải chịu thuế nhập khẩu, chịu hạn ngạch, chịu kiện bán phá giá, chi phí tiếp thị, quảng cáo …” [*]
Đại Sứ Quán ngớ ngẩn ‘thành thật khai báo’: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ta được lợi về thuế, giải quyết được công ăn việc làm, tiếp thu công nghệ tiên tiến, học được kinh nghiệm quản lý... nhưng vốn là của nhà tư bản nước ngoài, lãi họ hưởng, nếu họ không xuất khẩu thì còn cạnh tranh với hàng hóa cùng loại sản xuất trong nước. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cũng rất quý, nhưng hơn 90% là vốn vay, dù được vay trong thời gian dài, lãi suất thấp, lại có thời gian ân hạn, nhưng việc giải ngân không đơn giản, hơn nữa nếu xử dụng không hiệu quả thì vay mới sẽ cũng chỉ để trả nợ cũ và không chỉ để lại gánh nặng nợ nần cho con cháu mà ngay từ bây giờ đã phải trả những khoản lãi của những khoản nợ đầu tiên...” [*]
Rồi Đại Sứ Quán ma mãnh, môi miếng, không ngượng nghịu đánh động tình cảm của người Việt xa xứ: “Quan trọng hơn, nguồn kiều hối còn là tình cảm sâu nặng của bà con Việt kiều đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài đối với thân nhân và quê hương, đất nước” [*]
Người mình thường có câu “Đồng tiền liền khúc ruột”. Giờ đây CSVN thêm vào hai chữ nữa thành “Đồng tiền liền khúc ruột ngàn dặm”. Đúng vậy! Đồng tiền bây giờ đã đi liền với người Việt hải ngoại, đã không thể thiếu của hàng triệu “khúc ruột ngàn dặm” trên thế giới! Biết người quốc gia tự do đầy tình người, dù ở đâu cũng nghĩ đến bà con ruột thịt, chia xẻ miếng cơm manh áo với thân nhân đang sống khó khăn và vất vả ở quê nhà nên CSVN những năm gần đây đã rất tích cực trong việc khai triển nhiều biện pháp nhằm ra sức chiêu dụ.
Trước đây nguồn kiều hối gởi về nước chủ yếu là từ những người vượt biên nhằm giúp đỡ thân nhân, đáp ứng nhu cầu mưu sinh, giờ đây nó tăng mạnh vì nhiều nguyên nhân khác. Trước nhất, là do lực lương lao động xuất cảng ngày càng tăng. Thứ đến, đó là sự phát triển của các hoạt động kinh tế như thị trường làm ăn buôn bán, thị trường nhà đất, thị trường chứng khoán, … với mức lợi nhuận tăng cao đã dẫn dụ kiều bào nhẹ dạ gửi tiền về đầu tư, thông qua thân nhân trong nước. Lượng tiền do người Việt định cư ở nước ngoài gửi về đang có xu hướng giảm, trong khi đó người đi xuất cảng lao động gửi về lại tăng lên. Việc đẩy mạnh hoạt động xuất cảng lao động cũng giúp nguồn tiền này gửi về nước ngày một nhiều. Việt kiều ở hải ngoại phần lớn trước kia sống ở thành phố nên tiền chuyển về đổ về các đô thị lớn. Trong khi đó, thành phần xuất cảng lao động thường là những người ở xa thành phố nên tiền gởi về được đổ vào khu vực nông thôn, “cải thiện” đời sống và “Xoá Đói Giảm Nghèo” những khu vực này.
Hiện có khoảng 4 triệu Việt kiều sinh sống ở nước ngoài. Trong số này, có 1.5 triệu ở Hoa Kỳ, 300 ngàn ở Pháp, 250 ngàn ở Úc và 200 ngàn ở Canada. Theo Cục quản lý Lao động ngoài nước của CSVN, hiện có gần 500 ngàn người Việt đang lao động tại hơn 30 quốc gia trên thế giới. Ở một số nước mới có người Việt lao động bắt đầu từ năm 2005 như Đài Loan, Nhật Bản, Đại Hàn và Mã Lai thì kiều hối chủ yếu tập trung chuyển về những khu vực nông thôn. Đây là những thị trường “xuất cảng lao động” lớn của VN trong những năm gần đây. Kiều hối từ những thị trường này trực tiếp giúp đời sống gia đình của người đi xuất cảng lao động. Với những thị trường lâu năm như Mỹ, Canada, Pháp, Đức và Úc thì kiều hối lại đóng vai trò dẫn vốn đầu tư vào những lãnh vực kinh doanh trong nước.
Dựa theo phúc trình của Vụ tổng hợp kinh tế Bộ Ngoại Giao, một bản tin trên báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 28 tháng 5 năm 2009 xác nhận con số thống kê lúc nào cũng ít hơn con số thực và ước đoán tiền Việt kiều gửi về năm 2007 có thể là tới 10 tỷ Mỹ kim, vượt xa 3 tỷ Mỹ kim tiền ODA và 5 tỷ Mỹ kim vốn FDI. Bài báo sửng sốt xác nhận “người ta phải kinh ngạc về tiềm lực kinh tế của người Việt Nam đang sinh sống tại nước ngoài”. Nói như vậy để thấy tiềm năng của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại vô cùng to lớn!
Hàng năm số ngoại tệ tuôn về VN tính ra là một con số khổng lồ. Hàng tỷ đô la chui về đều đặn và tăng dần hàng năm ấy trước sau gì cũng chạy tọt vào túi riêng của các quan chức nhà nước. Số tiền khổng lồ không thể tưởng tượng nổi này như từ trên trời rơi xuống nuôi dưỡng chế độ. Lượng tiền gởi về mỗi năm mỗi tăng mà vẫn chưa vừa lòng tham của tập đoàn lãnh đạo. Chúng vẫn bằng cách này hay cách khác ra sức bòn rút và ngang nhiên ngồi hưởng trên mồ hôi và công sức làm việc ngày đêm của đồng bào hải ngoại.
Nếu không có ngoại tệ của “khúc ruột ngàn dặm” thì chế độ CSVN đã chết từ lâu. Người Việt hải ngoại biết vậy nhưng giải quyết bằng cách nào đây? Làm cách nào để thắt hầu bao và bóp họng chúng đây?

1. Không du lịch Việt Nam?
Không ai về VN du lịch, du hý và ăn chơi thì làm gì VC thâu được hàng tỷ đô la một năm? Không có con số công bố chính thức và cũng không thể thống kê chính xác nhưng theo ước đoán, mỗi năm có khoảng 1 triệu người về. Cứ đổ đồng mỗi người mang về chừng 10 ngàn đô để chi tiêu và cho thân nhân thì chúng sẽ mất số doanh thu hàng năm là 10 tỷ Mỹ kim.
2. Hạn chế tối đa việc giúp đỡ gia đình?
Vấn đề này thật đau lòng, nhức nhối và nan giải. Chúng ta không thể một sớm một chiều chấm dứt việc gởi tiền về giúp đỡ gia đình nhưng phải xét lại. Phải xét làm sao vừa đủ để cha mẹ già, anh em ruột thịt tạm sống qua ngày và hy sinh bóp bụng trong một thời gian. Tuyệt đối không bơm tiền cho thân nhân có phương tiện để phí phạm, vung vãi, đua đòi và ăn chơi ở các nơi suy đồi. Tùy theo hoàn cảnh của từng gia đình, nếu tất cả mọi người ở hải ngoại cùng một lòng cắt bớt một phần thì CSVN sẽ mất ngay một số ngoại tệ rất lớn. Làm được điều này là chúng ta đã thắng được sự dẫn dụ, khẩn khoản, van nài và cầu xin của CSVN nhằm móc hầu bao của người Việt hải ngoại rồi vậy.
3. Không làm việc thiện mù quáng
Không nhắm mắt, nhẹ dạ, thiếu suy nghĩ và thiếu suy xét làm việc thiện để tiền của và mồ hôi của những tấm lòng nhân ái của người Việt xa xứ tuồn vào túi của loài quỷ đỏ. Trường hợp cần thiết phải giúp một cá nhân hay một tổ chức nào, phải cân nhắc và đoan chắc việc làm của mình được thông qua người thân trong gia đình hay các nhà tu hành tin cẩn tại VN.
4. Tẩy chay các cơ sở kinh tài của Việt Cộng
Tẩy chay các văn phòng du lịch, các công ty xuất nhập cảng, các cửa tiệm bán thực phẩm, quần áo, đồ mỹ nghệ, … vì những cơ sở này huy động ngoại tệ cho CS Hà Nội, tạo điều kiện cho chế độ sống còn.
Vấn đề gởi tiền về VN là một việc tế nhị và khó giải quyết. Tuyệt đối không làm lợi cho CS nghe qua thì dễ nhưng chấm dứt một sớm một chiều lại không dễ thực hiện. Vậy phải làm thế nào? Tiếp tục gởi tiền về nuôi chế độ hay ngừng nuôi thân nhân? Tiền của người Việt hải ngoại chúng ta chuyển về VN dưới bất cứ hình thức hình thức nào, bằng cách này hay cách khác, hay qua các cơ sở kinh tài của tập đoàn CSVN đều làm làm lợi cho bọn chúng. Tiền của của chúng ta như bạch phiến và đảng CSVN như người nghiện. Nếu chúng ta dứt khoát và đồng loạt ngưng tiếp thuốc thì chúng sẽ dãy chết. Vũ khí lợi hại để đánh bại CSVN là đồng tiền của chúng ta. Vũ khí này cần phải đi kèm với sự đoàn kết của tất cả các thành phần trong cộng động người Việt hải ngoại. Hai hành động kinh tế và chính trị nầy nếu được phối hợp chặt chẽ, đồng loạt, quy mô và bằng tất cả sự quyết tâm của mọi người thì đảng CSVN sẽ, không sớm thì muộn, đi tới chỗ tiêu vong. Chúng ta cần phải ý thức sức mạnh của mình. Sức mạnh đó nếu được xử dụng đúng đắn sẽ mang lại kết quả thiết thực, chắc chắn sẽ góp phần vào việc thay đổi vận mệnh của đất nước theo đúng nguyện vọng của toàn dân.
Trần Việt Trình
23 tháng 1, 2010
[*] Kiều hối - Việt Nam đổi mới
http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20041013173232
*****************************************
BÀI ĐỌC THÊM:
1- Kiều hối chuyển về Việt Nam có nguy cơ sụt giảm trong năm 2009
Source: RFI
Trọng Nghĩa
Bài đăng ngày 07/09/2009

Các công ty chuyển ngân quốc tế đều có mặt tại Việt Nam như Western Union hay Moneygram
Năm 2008, Việt Nam đứng thứ 10 trên thế giới về kiều hối nhận được, với ít nhất 7,2 tỷ đô la. Năm 2009 lượng ngoại tệ ''cho không'' này có thể giảm từ 10% đến 20%. Một trong những nguyên nhân quan trọng là khủng hoảng kinh tế tác động mạnh đến Hoa Kỳ, nguồn kiếu hối chính gởi về Việt Nam. Từ California, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa phân tích về vai trò của kiều hối trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay.
*****************************************************
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới công bố vào trung tuần tháng 7/2009, Việt Nam đứng thứ 10 trong số các nước nhận được lượng kiều hối nhiều nhất trên thế giới vào năm 2008. Với tổng tri giá ước lượng là 7,2 tỷ đô la. Mức tăng này được đánh giá là đáng kể so với năm 2007, khi lượng kiều hối gởi về Việt Nam cũng đã rất khả quan, đạt 5,5 tỷ đô la, một khoản tiền mà theo Ngân hàng Thế giới tương đương với 8% GDP của Việt Nam.
Tuy nhiên trong năm 2009 này, tình hình sẽ xấu đi hơn do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động nặng nề đến các nước Âu Mỹ, nơi xuất phát của nguồn kiều hối gởi về các quốc gia đang phát triển. Ngân hàng Thế giới dự báo là tổng trị giá kiều hối nói chung sẽ giảm từ 7% đến 10%, trước khi vươn lên trở lại vào năm 2010 và 2011.
Ngân hàng Thế giới không đưa ra dự báo cụ thể cho Việt Nam, nhưng theo Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam thì tỷ lệ sụt giảm của kiều hối trong năm nay có thể xuống tới 20% so với năm ngoái. Trung tuần tháng 7 vừa qua, theo hãng Reuters, ông Nguyễn Quang Huy, Vụ trưởng Vụ Quản lý Ngoại hối thuộc Ngân hàng Trung Ương Việt Nam đã dự đoán là trong năm 2009, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam sẽ chỉ đạt từ 5,8 tỷ đến 6 tỷ đô la.
Dự báo của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam xuất phát từ tình hình thực tế là trong 6 tháng đầu năm nay, lượng kiều hối mà Việt Nam nhận được chỉ là 2,83 tỷ đô la.
Giải thích về nguyên nhân khiến cho kiều hối chuyển về Việt Nam giảm sút, giới quan sát đã nêu bật yếu tố khủng hoảng toàn cầu. Kiều hối nói chung xuất phát từ hai nguồn chính : tiền dành dụm của người Việt Nam trong nước đi xuất khẩu lao động gởi về cho gia đình, và tiền của người Việt định cư ở nước ngoài gởi về giúp đỡ thân nhân trong nước.
Do khủng hoảng kinh tế, nhiều nước trước đây thu nhận nhiều lao động Việt Nam đã bắt đầu sa thải nhân viên có sẵn, hay đình chỉ việc thu nhận nhân công mới. Hệ quả là nguồn kiều hối đến từ giới này cạn dần. Theo một ghi nhận của chính bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam vào đầu tháng 9, thì trong 8 tháng đầu năm nay, mới chỉ có hơn 45.000 lao động Việt Nam được gởi ra nước ngoài làm việc, trong lúc chỉ tiêu toàn năm của Nhà nước là xuất khẩu được 90.000 lao động. Trước đó, báo chí Việt Nam liên tục loan tin về những trường hợp công nhân Việt Nam từ Malaysia, Đài Loan, Nhật Bản, Cộng Hoà Séc, Slovakia... phải hồi hương vì bị mất công ăn việc làm.
Tuy nhiên, số tiền gởi về nước của các lao động Việt Nam hiện ở nước ngoài chỉ chiếm một phần nhỏ trong số kiều hối gởi về nước. Theo nhật báo Mỹ Wall Street Journal, gần 2 phần ba lượng kiều hối mà Việt Nam nhận được trong thời gian qua đến từ Hoa Kỳ, nơi có một cộng đồng người Việt hải ngoại đông đảo. Kinh tế Hoa Kỳ đang trải qua một giai đoạn khó khăn, nạn thất nghiệp gia tăng, các yếu tố này tất nhiên tác động đến lượng tiền gởi về Việt Nam. Theo Wall Street Journal, chính quyền Mỹ đã ước tính là kiều hối mà cộng đồng người Việt tại Mỹ chuyển về Việt Nam trong năm nay có thể giảm khoảng 10%.
Cho dù sút giảm, nhưng kiều hối vẫn được xem là một nguồn ngoại tệ quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam hiện nay, đặc biệt là trong bối cảnh đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam được dự báo sẽ sút giảm mạnh. Chỉ tiêu chính phủ Việt Nam đề ra cho năm 2009 này là 20 tỷ đô la đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép, không bằng 1/3 số liệu của năm ngoái (hơn 66 tỷ đô la).
Trong tình hình như vừa kể, khả năng kiều hối giảm sút trong năm nay không chỉ gây khó khăn cho những gia đình ở Việt Nam là người nhận số tiền này, mà còn có thể ảnh hưởng đến nguồn ngoại tệ mà nền kinh tế Việt Nam đang cần. Trả lời phỏng vấn của Ban Việt ngữ RFI, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại California đã giải thích rõ hơn về ích lợI và vị trí của kiều hối trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay.
Nghe phỏng vấn chuyên gia Kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại California
Trọng Nghĩa: Thân chào anh Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa anh, theo các số liệu của Ngân hàng Thế giới thì từ năm 2001 đến nay, lượng kiều hồi gởi về Việt Nam đã tăng thường xuyên, đạt 7,2 tỷ đô la Mỹ trong năm 2008. Nhưng năm 2009 này, cũng theo Ngân Hàng Thế Giới thì lượng tiền này có thể giảm sụt. Trước hết, xin anh cho biết kiều hối là gì và giúp ích gì cho kinh tế Việt Nam?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Có ba cách nhìn vào sự việc Việt Nam vẫn nhận được một nguồn ngoại tệ do thân nhân gửi về cho mà không đòi hoàn lại.
- Thứ nhất, trong quan hệ giữa các nền kinh tế, Việt Nam có thể thu ngoại tệ nhờ ba ngả chính là thứ nhất qua xuất nhập khẩu; thứ hai là do đầu tư từ nước ngoài đổ vào với hy vọng kiếm lời; thứ ba là do người Việt từ bên ngoài gửi về cho gia đình mà không chờ đợi sẽ được hoàn lại, tức là một hình thức kinh tế gọi là “tặng dữ”.
- Cách nhìn thứ hai là về các khoản tiền từ ngoài đem vào Việt Nam với tính cách tặng dữ này. Việt Nam được nhiều quốc gia viện trợ, tiền viện trợ ấy có thể là cho không vì mục tiêu nhân đạo nhưng không nhiều; hoặc có thể là cho vay dài hạn và nhẹ lãi, gọi là viện trợ phát triển như ODA - viện trợ chính thức - khi yếu tố cho không này phải tối thiểu là 25%. Người ta tính ra "yếu tố tặng dữ" đó khi so sánh lãi suất rất thấp, thời hạn cho vay rất lâu với sự mất giá của đồng bạc trong thời hạn hoàn trả này. Bây giờ, không phải là một quốc gia mà là cộng đồng người Việt gửi tiền về nhà với mục đích tặng dữ coi như 100%. Trong số này, ta không kể loại tiền bạc người Việt đem về giúp thân nhân mở cơ sở làm ăn, là một hình thức đầu tư từ nước ngoài.
Nói chung trên toàn thế giới thì từ năm 1996 trở về sau, lượng tiền tặng dữ ấy đã vượt qua số tiền viện trợ chính thức của các nước giàu cho các nước nghèo. Cho nên các nước giàu đã quan tâm theo dõi và đặt ra chính sách nâng đỡ vì là tiền viện trợ của tư nhân cho tư nhân thay vì chính phủ phải lấy tiền thuế của dân viện trợ cho xứ khác thì bị ràng buộc rất nhiều.
- Cách nhìn thứ ba là khi ta so sánh với nhiều xứ khác. Đa số các nước trên thế giới mà nhận được tiền gọi là "kiều hối" là do người bản xứ đi lao động ở nước ngoài rồi gửi về cho gia đình. Riêng lực lượng lao động ở nước ngoài của Việt Nam, tại vài nước như Đông Á, Trung Đông hay Đông Âu, thật ra không đông. Khoản tiền họ gửi về không nhiều và suốt năm qua, cuộc sống và việc làm của họ còn bấp bênh, và nhiều người đã bị trả về. Cho nên nguồn tiền gửi về chủ yếu là do cộng đồng người Việt, đa số là dân tỵ nạn đã thụ đắc quốc tịch nước ngoài và sẽ sống vĩnh viễn tại nước ngoài nên không thể gọi họ là "Việt kiều" được.
Trọng Nghĩa: Vị trí của nguồn tiền do người Việt ở nước ngoài gởi về cho thân nhân ở trong nước như thế nào so với các nguồn ngoại tệ khác dồn vào Việt Nam?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Về ngoại thương, Việt Nam đang bị nhập siêu đến hơn 16%, tức là nhập nhiều hơn là xuất cảng, nên bị thiếu hụt ngoại tệ. Trong sáu tháng đầu năm thì hụt mất ba tỷ tư. Tình trạng này đang bào mỏng khối dự trữ ngoại tệ của ViệtNam và gây khó khăn về ngoại hối làm đồng bạc bị sụt giá. Thứ hai, lượng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào cũng giảm mạnh và số cam kết trong sáu tháng đầu năm chỉ còn chừng 10 tỷ, quy ra cả năm thì được hơn 17 tỷ, chỉ bằng 26% của năm ngoái. Cam kết rồi, nhà đầu tư mới bỏ tiền khởi công sau đó thì tiền giải ngân trong sáu tháng đầu năm mới chỉ có bốn tỷ sáu, quy ra toàn năm thì được tám tỷ là may, so với năm ngoái thì sụt hơn 30%. Thứ ba, Việt Nam có được các nước cam kết viện trợ chừng năm tỷ đô la, nhưng vì ách tắc của mình nên sổ giải ngân nhận được chỉ bằng phân nửa, tức là hơn hai tỷ đô la. Bây giờ, người Việt ở ngoài mà gửi về sáu bảy tỷ đô la như một khoản viện trợ miễn phí, thì đấy là một nguồn lợi đáng kể về kinh tế.
- Nhìn cách khác, khi Việt Nam nói là đã đạt tốc độ tăng trưởng là 7% cho một nền kinh tế có sản lượng chừng 90 tỷ đô la theo cách tính mới nhất của Quỹ Tiền tệ Quốc tế FMI - tức là làm giàu thêm được hơn sáu tỷ đô la - thì sự giàu có phụ trội này xuất phát từ nguồn viện trợ miễn phí của người nước ngoài gửi về cho thân nhân ở nhà!
Trọng Nghĩa: Nhiều người cho rằng lượng kiều hối chính thức thống kê được thấp hơn so với thực tế. Nhận xét này có đúng không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Đúng như vậy. Số liệu ước lượng cho năm ngoái có thể đã lên tới tám tỷ đô la chứ không phải bảy tỷ hai như Ngân hàng Thế giới mới công bố hôm 13 tháng Bảy. Thứ nữa, đấy là những khoản tiền gửi chính thức qua nhiều ngả khác nhau có được bút ghi hẳn hoi, chứ ta không quên nhiều cách chuyển khác qua ngả không chính thức và càng không quên là hàng năm, mấy trăm ngàn người từ bên ngoài về thăm nhà cũng trực tiếp đem tiền làm quà cho thân nhân, giả dụ như mỗi người chừng ngàn đô la chia cho cả đại gia đình. Những số tiền ấy tất không được ghi trong sổ sách ngân hàng hay thống kê nhà nước, cho nên số tiền tặng dữ này thật ra rất cao, năm ngoái thì xấp xỉ 10 tỷ chứ không ít và tối thiểu cũng hơn 10% Tổng sản lượng Nội địa PIB hay GDP.
Trọng Nghĩa: Xin anh nói về xuất xứ của nguồn tiền đó. Nơi nào gửi tiền về nhiều nhất, có phải là Hoa Kỳ không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Theo số ước lượng của các ngân hàng hay công ty chuyển tiền chính thức thì từ 75 đến 80% số tặng dữ xuất phát từ cộng đồng người Việt tại Mỹ. Người Việt tại Mỹ có dân số gần hai triệu, bằng hai phần ba dân số người Việt ở nước ngoài, họ lại có lợi tức trung bình ngang ngửa với người Mỹ da trắng và như vậy là khá cao so với người Việt nơi khác. Trong thành phần người Việt tại Mỹ thì có lẽ dân Việt ở California - tiểu bang có mật độ cao nhất - gửi về bằng gần 80% số tiền từ Mỹ gửi về, là hơn 60% tổng số tặng dữ gửi từ nước ngoài về.
- Cũng nói về xuất xứ, đa số lượng tiền tặng dữ không gửi qua hệ thống ngân hàng mà qua các hãng chuyển tiền quốc tế, tư nhân gốc Việt hay đường dây riêng nên thường cao hơn con số chính thức. Thành phần lao động ở nước ngoài có thể vẫn gửi qua hệ thống ngân hàng và bị kiểm soát kỹ từ gốc, chứ các thành phần kia thì không mấy tin vào ngân hàng trong nước nên tìm ngả nhanh gọn, kín đáo và đáng tin hơn, chưa kể là hoa hồng còn rẻ hơn.
Trọng Nghĩa: Số tiền viện trợ ấy tất nhiên có ích cho nền kinh tế và xã hội, nhưng một cách cụ thể thì ích lợi như thế nào?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ta không quên Việt Nam vẫn là một nước nghèo, có những địa phương chậm phát triển, và nói chung còn thiếu nhiều dịch vụ an sinh, y tế hay xã hội. Về mặt xã hội đó, ta cũng cần phân biệt là tiền của giới lao động ở nước ngoài gửi về có thể ít hơn mà phân tán rộng hơn tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam, trong khi tặng dữ nhiều gấp bội của người Việt hải ngoại lại tập trung vào các tỉnh miền Nam và các thành phố lớn. Hiện tượng ấy có góp phần đào sâu hơn nữa dị biệt về lợi tức của từng vùng là một việc ta cần nghiên cứu thêm. Bây giờ, khi dân trong nước bị sụt lương, thất nghiệp hoặc đau ốm, lao động ở nước ngoài lại mất việc hoặc bị trả về thì nguồn tiền của cộng đồng ở hải ngoại mới là sự cấp cứu nhanh gọn và cấp thiết nhất.
Trọng Nghĩa: Trong hoàn cảnh khó khăn kinh tế hiện nay trên toàn thế giới, lượng kiều hối gởi về Việt Nam chắc chắn sẽ giảm sút, mức giảm có thể là bao nhiêu?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ta khó biết trước được con số của năm 2009, nhưng cứ theo tình hình kinh tế sa sút của các nước xuất xứ như Mỹ, Âu hay Úc hay Canada và hoàn cảnh khó khăn của người Việt tại đó thì lượng tiền tặng dữ có thể giảm ít ra phân nửa. Riêng tại Mỹ thì tính đến nay đã giảm chừng 40% so với cả năm ngoái. Nếu tổng cộng được năm tỷ đô la là mừng vì kinh tế của các xứ này, nhất là tại Mỹ, phải hồi phục trước thì năm sáu tháng sau cộng đồng người Việt tại đấy mới dễ thở, kiếm ra việc làm để rồi tiếp tục gửi tiền về cho thân nhân. Vì vậy, từ nay đến cuối năm, tiền tặng dữ qua ngả chính thức sẽ còn giảm, nhưng đấy chưa là vấn đề.
Trọng Nghĩa: Thế vấn đề là gì ?Phải chăng vì nhà nước Việt Nam định giá đồng bạc quá thấp cho hàng rẻ để dễ xuất khẩu nên người ở nhà nhận đối giá tiền Việt quá ít làm cho người ta ngần ngại trong vấn đề gởi tiền về Việt Nam?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ tỷ giá đồng bạc chỉ là vấn đề nhỏ thôi vì đô la Mỹ vẫn còn lên giá. Vấn đề nó nằm ở chỗ luồng tư bản biết chảy ngược và xuôi - chảy vào rồi chảy ra.
- Một thí dụ là khi gửi tiền về nhà, ở ngoài phải trả hoa hồng chừng 1%, từ Việt Nam gửi ra thì mất 5% trị giá số tiền gửi. Điều ấy cho thấy là vẫn có người gửi tiền ra ngoài. Họ là ai? Tất nhiên không là bà con vất vả của những người có từ tâm ở hải ngoại gửi tiền về. Họ là đại gia có tiền. Ta cần thấy nhiều trường hợp mà tiền gửi về nhà chỉ được bút ghi trong sổ mà vẫn nằm ở ngoài vì cơ sở trung gian không bỏ tiền ấy vào cặp đem về đưa người thừa hưởng ở nhà. Trong khi đó, đối tác ở nhà của cơ sở trung gian lại nhận tiền của ai khác để trao lại cho người thừa hưởng. Vì thế, nghiệp vụ chuyển tiền có hai chiều, tiền gửi về nhà cũng là cơ hội cho người ở nhà chuyển tiền ra ngoài! Ở nhà, người nhận và người gửi tiền ra ngoài là hai thành phần khác nhau. Con số bảy tám tỷ gửi về có thể là tặng dữ cho nhiều gia đình đỡ khổ, nhưng đối giá của nó lại là tiền mà kinh tế học gọi là "tẩu tán tư bản" hay "fuite des capitaux", là tiền được rút chạy khỏi Việt Nam. Bây giờ, khi kinh tế bên ngoài sa sút, một số gia đình ở nhà có thể bị lao đao chứ người có chức có quyền, tức là có tiền, thì vẫn không thiếu cách đem tiền ra ngoài, có khi gọi đó là đầu tư! Nhìn lại thì nếu sản lượng kinh tế Việt Nam có gia tăng 6-7% mà lại chỉ bằng với số tiền tặng dữ từ ngoài gửi về thì ta thấy ra một lượng thất thoát tư bản cũng ở khoảng đó. Và đấy mới là vấn đề!
***********************************************************************
2- Kiều hối về VN năm qua giảm
Source: BBC Vietnamese
Tiền kiều hối gửi về Việt Nam năm 2009 giảm đi 20% sau năm kỷ lục 2008 vì kinh tế toàn cầu tác động đến các nước có người Việt sinh sống và làm ăn.
Theo nguồn tin của Thông tấn xã Việt Nam trích quan chức nhà nước Việt Nam, tổng kết năm 2009 cho thấy kiều hối về Việt Nam giảm nhiều so với 2008.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thuý được trích lời nói việc sút giảm này là không tránh khỏi, một phần vì tỉ lệ thất nghiệp tăng tại các nước có kiều dân Việt Nam sinh sống.
Còn ông Nguyễn Hoàng Minh, phó thống đốc phía Nam của Ngân hàng Nhà nước tại TP Hồ Chí Minh nói kiều hối qua các ngân hàng và đại lý chuyển tiền ở thành phố này chỉ vào khoảng 3,2 tỉ USD trong năm qua, giảm 20% so với 2008.
Truyền thông Việt Nam đưa ra là trong cả năm 2009, kiều hối về nước chỉ đạt 6-6,8 tỉ USD, thấp hơn so với con số ước tính từ 7,2 đến 8 tỉ năm 2008.
Tuy nhiên, hiện chưa có con số kiều hối gửi theo đường không chính thức tăng hay giảm bao nhiêu trong năm.
Tin vừa qua chỉ xác nhận những gì giới ngân hàng Việt Nam đã đưa ra hồi tháng 10 năm qua, rằng Bấm kiều hối giảm mạnh.
Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước ở TP HCM trong tháng 10 tiếp tục giảm 8,07% so với tháng 9, chỉ đạt gần 260 triệu USD.
Cũng vào thời điểm đó, tuy kiều hối chuyển qua hệ thống ngân hàng giảm 16,1% nhưng tiền chuyển qua các công ty lại tăng nhẹ.
Theo ngân hàng, mười tháng đầu năm 2009 lượng kiều hối chuyển về TP.HCM đạt gần 2,6 tỉ USD, bằng 60% so với năm 2008.
Tác động toàn cầu
Các nước có đông Việt kiều, chủ yếu gửi tiền về các tỉnh Nam Việt Nam là Hoa Kỳ, Úc, Canada và khu vực Tây Âu.
Có vẻ như năm 2008 lượng kiều hồi gửi về Việt Nam là cao nhất từ trước đệ́n nay.
Tính đến tháng 12/2008, lượng kiều hối gửi về Việt Nam đạt chừng 8 tỉ USD, tăng 2.5 tỉ USD so với năm 2007.
Nhưng năm 2009 là năm khó khăn và Việt Nam đã vất vả để giữ mức tăng trưởng kinh tế.
Hồi tháng 9/2009, khi loan báo cho Việt Nam vay 500 triệu USD để kích thích kinh tế, Ngân hàng Phát triển châu Á ( ADB ) nói khoản vay sẽ giúp Việt Nam đối phó với ảnh hưởng của tình trạng khó khăn kinh tế toàn cầu.
Thông cáo của ngân hàng nói Việt Nam đang chịu hậu quả nặng nề khi đầu tư trực tiếp từ nước ngoài giảm, xuất khẩu và kiều hối cũng đi xuống.
Một điều tra của đài BBC công bố tháng 9/2009 cho thấy cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu đã tác động đến dòng kiều hối gửi về các nước như Mexico hay Moldova.
Ấn Độ là nước nhận kiều hối lớn nhất với người Ấn Độ trên toàn cầu gửi về nước khoảng 45 tỉ USD năm 2008.
Sau Ấn Độ là Trung Quốc và Mexico, nếu xét về tổng mức tiền gửi về những nước này.
Việt Nam cũng đứng cao tại châu Á trong số các nước nhận kiều hối, cả từ các Việt kiều lẫn lao động Việt Nam ở nước ngoài, chủ yếu tại châu Á.
Kinh tế nhiều quốc gia đang phát triển phụ thuộc nhiều vào nguồn kiều hối.
Kinh tế gia từ Ngân hàng Thế giới, ông Dilip Ratha nói tại Trung Á, Tajikistan đứng đầu bảng các nước phụ thuộc vào tiền gửi về quê trong năm 2008, với 45% kinh tế địa phương là do kiều hối hỗ trợ.
Nước nhỏ ở Đông Âu là Moldova có gần 40% dòng tiền mặt là kiều hối, và Lesotho ở nam Phi nhận gần 30%.
***********************************************************************
3- Kiều hối về TP.HCM tiếp tục giảm
Source: BBC Vietnamese
Ngân hàng Nhà nước TP.HCM cho biết kiều hối chuyển về thành phố trong tháng 10 tiếp tục giảm 8,07% so với tháng 9, chỉ đạt gần 260 triệu USD.
Trong đó kiều hối chuyển qua hệ thống ngân hàng giảm 16,1% nhưng chuyển qua các công ty lại tăng nhẹ.
Theo ngân hàng, mười tháng đầu năm 2009 kiều hối chuyển về TP.HCM đạt gần 2,6 tỉ USD, bằng 60% so với năm 2008.
Cũng theo ngân hàng này, nếu so với con số kiều hối thông qua các ngân hàng trên địa bàn TP.HCM đạt được năm ngoái là trên 4 tỷ USD thì khả năng năm nay sẽ khó đạt được con số này.
Nguyên nhân theo các chuyên gia do khủng hoảng kinh tế khiến thu nhập của Việt kiều và lao động Việt Nam tại nước ngoài giảm sút nên kiều hối cũng bị ảnh hưởng.
Tuy vậy nhiều người tin rằng kiều hối trên thị trường “ngầm” vẫn lớn hơn rất nhiều so với con số mà Nhà nước đã thống kê được.
Nhu cầu thay đổi
Giới chức ngân hàng tin rằng bên cạnh lý do khách quan làm giảm, kiều hối chỉ có thể phát triển mạnh khi có hệ thống chi trả rộng khắp và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân.
Thực tế cho thấy, đối với những người nước ngoài đi du lịch hoặc đang sinh sống tại Việt Nam cũng có nhu cầu nhận kiều hối từ thân nhân.
Tại nhiều nơi trên thế giới, dỉ nhiên điều họ mong muốn là nhận tiền tại bất kỳ điểm giao dịch nào thuận tiện như khách sạn, nhà hàng, siêu thị v.v...
Các ngân hàng ở Việt Nam cũng đã bung ra nhiều điểm giao dịch nhưng chưa đủ mạnh, theo các nhà quan sát.
Từ chỗ giúp người thân còn ở quê nhà trong những năm trước, người Việt ở nước ngoài nay chuyển sang giúp khai thác các thế mạnh của nhau để cùng làm ăn, làm giàu.
Đối với một số người đó cũng là để chuẩn bị cho lúc về hưu nếu họ có ý định quay về lại Việt Nam.
************************************
4- Kiều hối và mâu thuẫn của Ngân hàng Thế giới
Source: VOA News
Trần Vinh Dự
Kiều hối là một phần hết sức quan trọng trong cán cân tài khoản vãng lai ở Việt Nam. Ý nghĩa đặc biệt của nó còn nằm ở chỗ Việt Nam trong nhiều năm gần đây luôn là một nước nhập siêu và vì thế cần nguồn ngoại tệ mạnh để bù vào khoảng trống trong cán cân thương mại.
Báo chí Việt Nam hồi giữa tháng 7 mới đưa tin cho biết lượng kiều hối đổ vào Việt Nam năm nay có thể lên tới khoảng $5.8 tỉ tới $6 tỉ Mỹ kim. So với lượng kiều hối của năm ngoái ( $7.2 tỉ ) thì kiều hối đổ vào Việt Nam năm nay giảm khoảng 20% .

Hình: Việt Nam là một trong 10 nước nhận nhiều kiều hối nhất thế giới. Nguồn: World Bank
Ngân hàng Thế giới trong một báo cáo hồi giữa tháng 6 nhận xét về khoản kiều hối này như sau:
“Ở các nước Đông Á khác, kiều hối thường do lao động làm việc ở nước ngoài gửi về cho gia đình. Sinh kế của nhiều người lao động như vậy đang gặp rủi ro do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, và do đó kiều hối dự báo sẽ bị ảnh hưởng theo. Ở Việt Nam, kiều hối phần nhiều do cộng đồng người Việt sinh sống ở nước ngoài lâu năm gửi về, những người này tương đối khá giả và hiện nay đang đầu tư về nước, đôi khi gắn với kế hoạch nghỉ hưu của họ. Do vậy dòng kiều hối có thể sẽ giảm ít hơn so với các quốc gia khác trong khu vực.”
Thế nhưng cũng theo số liệu của ngân hàng thế giới thì kiều hối đổ vào các nước đang phát triển trong năm 2009 sẽ vào khoảng $304 tỉ Mỹ kim, giảm từ 7% tới 10% so với năm ngoái (báo cáo Migration and Development Brief, July 2009 ). Báo cáo này cũng nhìn nhận:
“Kiều hối không giảm nhiều vì mặc dù luồng lưu chuyển lao động mới đã giảm đi nhưng số lao động di cư từ trước hầu như không bị ảnh hưởng gì từ cuộc khủng hoảng.”
Rõ ràng là 2 báo cáo nêu trên của Ngân hàng thế giới có sự mâu thuẫn. Kết hợp với số liệu về kiều hối mà Việt Nam vừa công bố thì:
1. Hai báo cáo này nhận định ngược nhau. Báo cáo số một thì nói “kiều hối thường do lao động làm việc ở nước ngoài gửi về cho gia đình. Sinh kế của nhiều người lao động như vậy đang gặp rủi ro do khủng hoảng kinh tế toàn cầu” trong khi đó báo cáo số 2 thì lại nói “Kiều hối không giảm nhiều vì mặc dù luồng lưu chuyển lao động mới đã giảm đi nhưng số lao động di cư từ trước hầu như không bị ảnh hưởng gì từ cuộc khủng hoảng.” Thế mới biết dân nghiên cứu kinh tế đôi khi cũng hay ăn ốc (nói mò) và thi thoảng kiêm luôn nghề thày bói xem voi.
2. Kiều hối vào Việt Nam trong năm 2009 giảm sâu hơn nhiều so với mức trung bình của thế giới (20% so với từ 7% tới 10%). Sự chênh lệch này có lẽ là một sự bí ẩn khó giải thích?
*********************************************
Kiều hối
Source: vietnamembassy.us
Kiều hối là một nguồn lực quý giá theo nhiều nghĩa, là một kênh mang lại ngoại tệ mạnh cho đất nước mà không một kênh nào có thể sánh nổi về hiệu quả. Bởi vì ngoại tệ thu được từ xuất khẩu tuy rất quý nhưng xuất khẩu thì phải mất chi phí để sản xuất hàng, chi phí vận chuyển mang ra nước ngoài, lại còn phải chịu thuế nhập khẩu, chịu hạn ngạch, chịu kiện bán phá giá, chi phí tiếp thị, quảng cáo...
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ta được lợi về thuế, giải quyết được công ăn việc làm, tiếp thu công nghệ tiên tiến, học được kinh nghiệm quản lý... nhưng vốn là của nhà tư bản nước ngoài, lãi họ hưởng, nếu họ không xuất khẩu thì còn cạnh tranh với hàng hóa cùng loại sản xuất trong nước. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cũng rất quý, nhưng hơn 90% là vốn vay, dù được vay trong thời gian dài, lãi suất thấp, lại có thời gian ân hạn, nhưng việc giải ngân không đơn giản, hơn nữa nếu sử dụng không hiệu quả thì vay mới sẽ cũng chỉ để trả nợ cũ và không chỉ để lại gánh nặng nợ nần cho con cháu mà ngay từ bây giờ đã phải trả những khoản lãi của những khoản nợ đầu tiên...
Kiều hối còn là một nguồn lực lớn và gần như tăng liên tục trong thời gian qua (năm 1991 có 35 triệu USD, năm 1992 có 136,6 triệu, năm 1993 có 141 triệu, năm 1994 có 249,5 triệu, năm 1995 có 285 triệu, năm 1996 có 469 triệu, năm 1997 có 400 triệu, năm 1998 có 950 triệu, năm 1999 có 1.200 triệu, năm 2000 có 1.757 triệu, năm 2001 có 1.820 triệu, năm 2002 có 2.200 triệu, năm 2003 có 2.600 triệu, ước năm 2004 sẽ vượt 3.000 triệu USD, gấp 85,7 lần năm 1991, tăng tới 40,8%/năm - một tốc độ tăng gần như không có chỉ tiêu nào đạt được trong thời gian tương ứng). Tổng cộng trong 14 năm qua đã có 15 tỉ 243 triệu USD, bằng 59% tổng vốn FDI thực hiện và lớn hơn cả tổng số vốn ODA giải ngân từ 1993 đến nay.
Quan trọng hơn, nguồn kiều hối còn là tình cảm sâu nặng của bà con Việt kiều đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài đối với thân nhân và quê hương, đất nước. Điều đó còn chứng tỏ chính sách của Đảng và Nhà nước cởi mở thông thoáng khuyến khích và tạo điều kiện cho kiều bào ở nước ngoài gửi tiền về giúp gia đình; tạo điều kiện bảo đảm an toàn cho số tiền này; người thân được nhận bằng ngoại tệ không hạn chế,…
Nguồn kiều hối này cộng với các nguồn ngoại tệ khác còn góp phần cải thiện cán cân tổng thể, góp phần ổn định giá USD trong mấy năm gần đây.
Bởi vậy cần tạo điều kiện để nguồn lực quý này gia tăng hơn nữa.
Ngọc Minh
***********************************************************************
10 tháng, vốn FDI giải ngân đạt 8 tỉ đô la
(VNA) Theo Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn giải ngân của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong 10 tháng đầu năm nay đạt 8 tỉ đô la Mỹ, bằng 87,9% so với cùng kỳ năm 2008.
Cũng theo Cục Đầu tư nước ngoài, tổng vốn FDI đăng ký 10 tháng năm 2009 (tính đến ngày 21-10-2009) đã đạt hơn 18,9 tỉ đô la Mỹ.
Kết quả này chưa cập nhật hết vì trong tháng 10 có ít nhất 3 dự án lớn được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 7,8 tỉ đô la Mỹ, cộng với 12,54 tỉ đô la Mỹ của 9 tháng trước đó thì tổng vốn đăng ký trong 10 tháng đầu năm 2009 đã vướt 20 tỉ đô la Mỹ.
Với tổng số tổng vốn đăng ký trên thì 4,87 tỉ đô la Mỹ là vốn đăng ký tăng thêm của 179 dự án, bằng 95,2% so với cùng kỳ năm 2008. Số vốn còn lại là từ gần 658 dự án mới được cấp phép.
Lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống tiếp tục dẫn đầu nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong 10 tháng qua, đạt hơn 8,7 tỉ đô la Mỹ thông qua 26 dự án được cáp phép mới và 7 dự án đang hoạt động tăng thêm vốn đầu tư.
Kế đến là lĩnh vực bất động sản đạt gần 5,67 tỉ đô la Mỹ thông qua 34 dự án được cấp phép mới và 3 dự án đang hoạt động tăng thêm vốn mở rộng đầu tư. Lĩnh vực công nghiệp chế biến và chế tạo có 182 dự án mới và 103 dự án tăng thêm vốn với tổng vốn đăng ký đạt hơn 2,65 tỉ đô la Mỹ...
***********************************************************************
Kiều hối: Nguồn lực "kép" cho nền kinh tế
Để tăng trưởng kinh tế cao thì vốn đầu tư là yếu tố vật chất có tính quyết định. Trong các nguồn lực thì kiều hối là kênh ngoại tệ mạnh cho đất nước mà không có một kênh thu hút nào có thể sánh nổi.
Xuất khẩu thì phải mất chi phí để sản xuất hàng hoá, tốn chi phí để vận chuyển mang ra nước ngoài, lại còn phải chịu thuế nhập khẩu, chịu hạn ngạch, chịu bị kiện bán phá giá của nước ngoài, lại còn chi phí tiếp thị, quảng cáo... Đó là chưa kể còn phải tốn một lượng ngoại tệ không nhỏ, thậm chí còn nhiều hơn (nhập siêu) để nhập nguyên nhiên vật liệu để sản xuất và tiêu dùng.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thì vốn là của nhà tư bản nước ngoài, vốn họ thu hồi, lãi họ hưởng, nếu họ không xuất khẩu được thì còn cạnh tranh với hàng hoá cùng loại sản xuất trong nước (tất nhiên ta có lợi nhờ thu được thuế, giải quyết được việc làm, tiếp thu được khoa học- công nghệ, học tập được kinh nghiệm quản lý, nâng cao tay nghề...).
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cũng rất quý, vừa được vay trong thời gian dài, vừa có lãi suất thấp, lại có thời gian ân hạn tới 10 năm và có một phần (khoảng 10%) là viện trợ không hoàn lại, nhưng việc giải ngân không đơn giản, phần lớn vẫn là vốn vay, đặc biệt nếu sử dụng không hiệu quả thì vay mới sẽ cũng chỉ để trả nợ cũ và không chỉ để lại gánh nặng nợ nần cho con cháu mà ngay từ bây giờ đã phải trả những khoản lãi của những khoản nợ đầu tiên.
Kiều hối còn là một nguồn lực lớn và gần như tăng nhanh, tăng liên tục trong thời gian qua: năm 2004 nhiều gấp 85,7 lần năm 1991, tăng tới 40,8%/năm- một tốc độ tăng gần như không có chỉ tiêu nào đạt được trong thời gian tương ứng. Tổng cộng trong 14 năm qua đã có 15.243 triệu USD, bằng khoảng 59% tổng vốn FDI thực hiện tính từ năm 1988 và lớn hơn cả tổng số vốn ODA được giải ngân từ 1993 đến nay.
Quan trọng hơn, nguồn kiều hối là tình cảm sâu nặng của bà con Việt kiều đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài đối với thân nhân và quê hương, đất nước.
Nguồn kiều hối này cộng với các nguồn ngoại tệ khác thu được từ các kênh khác (xã hội, FDI, ODA, lao động xuất khẩu, du lịch...) đã góp phần cải thiện cán cân tổng thể của nước nhà, mặc dù nhập siêu mấy năm nay khá lớn (năm 1999 mới có 201 triệu USD, năm 2000 là 1.154 triệu, năm 2001 là 1.189 triệu, năm 2002 là 3.039 triệu, năm 2003 là 5.051 triệu, 11 tháng đầu năm 2004 là 4.461 triệu).
Đây cũng là yếu tố góp phần làm cho giá USD trong mấy năm gần đây tương đối ổn định (năm 1991 còn tăng tới 103,1%, năm 1992 giảm 25,8%, năm 1993 tăng 0,3%, năm 1994 tăng 1,7%, năm 1995 giảm 0,6%, năm 1996 tăng 1,2%, năm 1997 tăng 14,2%, năm 1998 tăng 9,6%, năm 1999 tăng 1,1%, năm 2000 tăng 3,4%, năm 2001 tăng 3,8%, năm 2002 tăng 2,1%, năm 2003 tăng 2,2%). Tháng 12/2003 so với tháng 12/1990, tỷ giá tăng 119,1%, bình quân tăng 6,2%/năm, thấp hơn nhiều so với giá tiêu dùng (tăng 229,1% hay bình quân 9,8%/năm trong thời gian tương ứng).
Đạt được quy mô lớn và gia tăng về kiều hối như trên là nhờ chính sách thông thoáng của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực này. Trước hết là chính sách tạo điều kiện cho người Việt Nam được đoàn tụ với gia định đang định cư ở nước ngoài nếu được gia đình bảo lãnh, cho Việt kiều về nước thăm thân nhân, thăm quê hương, đất nước (ngoài mục đích du lịch, công việc hoặc mục đích khác, lượng Việt kiều về thăm thân nhân qua các năm có quy mô khá: năm 1996 có 274 nghìn lượt người, năm 1997 có 372 nghìn, năm 1998 có 301 nghìn, năm 1999 có 337 nghìn, năm 2000 có 400 nghìn, năm 2001 có 390 nghìn, năm 2002 có 425 nghìn, năm 2003 có 375 nghìn, 11 tháng năm 2004 có trên 421 nghìn).
Lượng kiều hối gửi về nước hoàn toàn do người gửi lựa chọn hình thức, lựa chọn đơn vị là dịch vụ nhận gửi, không hạn chế số tiền (trừ việc mang theo người nếu vượt quá 3.000 USD phải khai báo để thống kê); người nhận được trực tiếp nhận bằng ngoại tệ, không bị ép buộc phải đổi ra VND- một sự khuyến khích thông thoáng hiếm có so với nhiều nước trên thế giới.
Việc xử dụng lượng kiều hối này cũng hoàn toàn do những người nhận quyết định, trong đó Nhà nước khuyến khích việc dành cho đầu tư. Những đơn vị làm dịch vụ nhận chuyển kiều hối bảo đảm ngày một an toàn, tiện lợi, nhanh chóng, với chi phí ngày một giảm.
Hiện có hơn 2 triệu Việt kiều ở nước ngoài, chủ yếu lại ở các nước có nền kinh tế phát triển, có thu nhập cao và hầu hết bà con các thế hệ vẫn giữ được truyền thống yêu quê hương, đất nước. Vì vậy cần có chính sách để phát triển hơn nữa đất nước, đồng thời làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền để các thế hệ Việt kiều trở về thăm quê hương và chuyển tiền về giúp đỡ cho thân nhân, xây dựng quê hương đất nước.
Thời báo Kinh tế Việt Nam, 27/12/2004
****************************************************************
Bắt đầu vào mùa kiều hối!
12/07/2004
Các ngân hàng cho biết đã vào mùa kiều hối và sẽ kéo dài đến sát tết âm lịch. Hiện bình quân mỗi ngày Ngân hàng Đông Á chi trả trên 2 triệu USD, Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín chi gần 2 triệu USD, Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) gần 1 triệu USD.
Theo Eximbank, phần lớn người nhận kiều hối vẫn thích nhận bằng USD trong khi với những người nhận kiều hối bằng các đồng tiền khác (đôla Úc, đôla Canada, EUR...) đều bán lại cho ngân hàng để lấy VND.
Ngân hàng Nhà nước Tp.HCM cho biết ngoài việc xử dụng lượng USD tiền mặt thu đổi được ở trong nước, trong tháng mười một các ngân hàng đã nhập thêm 18 triệu USD tiền mặt để đáp ứng nhu cầu nhận kiều hối bằng USD tiền mặt của người dân. Trước đó trong tháng mười các ngân hàng chỉ nhập thêm có 7 triệu.
Do đồng EUR được giá, người dân đã đưa EUR bán cho ngân hàng nhiều hơn thay vì cất giữ. Lượng bán tăng dần theo tốc độ tăng của tỉ giá EUR: tháng chín chỉ có 21 triệu EUR, tháng mười tăng lên 22,7 triệu EUR, tháng mười một tăng lên gần 31 triệu EUR.
Trước đó, trong quí I/2004, bình quân mỗi tháng chỉ khoảng 14 triệu EUR. Tỉ giá VND/EUR đã tăng mạnh qua các tháng, nếu đầu năm bán 1 EUR thu được 19.340 đồng thì thời điểm này bán được trên 21.000 đồng..
Tuổi Trẻ, 7/12/2004
01/29/10. 09:14:01 pm. 13842 words, 266 views. Categories: Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Ôn cố nhi tri tân, Xã hội và nhân văn ,
TÀI LIỆU CỦA THƯ VIỆN ĐẠI HỌC HOA KỲ LIÊN QUAN ĐẾN HÒA THƯỢNG THÍCH ĐÔN HẬU VÀ CÁC VAI TRÒ CHÍNH TRỊ CỦA ÔNG TRONG QUÁ KHỨ - ĐẠI NẠN CỦA PHẬT GIÁO VÀ ĐẤT NƯỚC - TẾT MẬU THÂN VÀ NHỮNG KẺ CÓ MÁU LẠNH

Gần đây có một số email luân lưu quanh đề tài phục hồi thanh danh cho hòa thượng Thích Đôn Hậu và mô tả ông như là nhà ái quốc Phật giáo chống Cộng, và kết tội những người chứng minh hoặc tố giác ông Thích Đôn Hậu là một tên cộng sản đội lốt nhà tu, đã gây nên tội ác với đồng bào xứ Huế; thậm chí họ còn chụp mũ cho những người này là đánh phá Phật giáo theo lệnh của Cộng sản (sic!) Thế gian đã quá sức loạn, đúng là chuyện ngược đời!!! Có một điều chắc chắn là những lời biện bác trên đều không dựa trên một tài liệu chứng cớ rõ ràng nào cả, thậm chí khi nêu lên những thông tin cũng không có nguồn gốc rõ ràng, không có các hình ảnh chụp các thư tín, tài liệu của các nhân vật liên quan trong cuộc, thật là những cách nói theo kiểu "khẩu thuyết vô bằng", chuyền từ miệng này đến miệng khác như chuyện phong thần vậy. Ngược lại các tài liệu chính thức của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Việt Nam công bố rõ ràng về Hòa Thượng Thích Đôn Hậu như sau:
... "Từ năm 1968, Ngài được mời tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Ngài vào chiến khu, ra Hà Nội. Từ đây, Ngài lại càng đẩy mạnh sự nghiệp lợi Đạo ích Đời.
- Tháng 1/1968: Phó Chủ tịch Liên minh các lực lượng Dân chủ và Hòa Bình Việt Nam. Tháng 6/1968: Ủy viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam.
- Năm 1970, đi tham quan văn hóa, tôn giáo ở Liên Xô và Trung Quốc. Năm 1971, đi dự Đại hội thành lập tổ chức Phật giáo Châu Á vì Hòa Bình ở Mông Cổ và được cử làm Ủy viên thường trực Ban Chấp hành Hội Phật giáo Châu Á vì Hòa Bình.
- Năm 1975, miền Nam được giải phóng, Ngài trở về chùa cũ ( Linh Mụ ) và sau đó được mời làm cố vấn cho Ban chỉ đạo Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
- Năm 1976, Ngài đắc cử Đại biểu Quốc hội khóa VI nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Cũng chính trong năm này, Ngài được mời giữ chức Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam..."
Chuyện về Hòa thượng Thích Đôn Hậu thì rất là dài dòng, thậm chí cũng là GHPGVNTN cả mà giáo hội ở Việt Nam công bố một cái tiểu sử và quá trình hoạt động khác với cái tiểu sử và đời hoạt động do GHPGVNTN hải ngoại công bố, trong đó việc "ngài" ra Bắc theo Việt cộng, làm việc cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và được cho đi thăm các nước cộng sản trở thành "ngài bị Cộng sản bắt tại Tổ Đình Linh Mụ, Huế vào lúc 01 giờ khuya ngày 20 tháng Giêng năm Mậu Thân (17-2-1968) trong khi ngài đang bị bệnh xuất huyết dạ dày một cách trầm trọng." Và tự nhiên các giai đoạn tham chính của "ngài" vào các chức vụ trong chính phủ Việt cộng cũng biến mất, kể cả giai đoạn "ngài" được "nhân dân bầu" làm đại biểu Quốc Hội cộng sản khóa VI cũng biến mất luôn!!! Một con người hai mặt như thế thật là hiếm thấy và rất đáng... "ngưỡng mộ". Vì vậy chúng tôi xin đăng lại ở đây một số tài liệu và dữ kiện liên quan đến Hòa thượng Thích Đôn Hậu để quý vị và các bạn tùy quyền nhận xét và phê phán. Chúng tôi là những kẻ nêu lên những sự thật và những tài liệu mà chúng tôi nghe, xem thấy và đọc được, chúng tôi không đẻ ra những câu chuyện phong thần để phục vụ các mưu đồ chính trị. Chúng tôi là những người không tham chính và chưa từng có mưu đồ vu cáo cho ai cả. Đối với chúng tôi, chỉ có một kẻ thù duy nhất để chống, đó là chế độ cộng sản độc tài, tàn bạo, bán nước hại dân và những kẻ làm tay sai cho chúng, bất kể họ là ai. Chúng tôi không như những kẻ ngủ mê hay những kẻ ngu xuẩn nghe theo cộng sản lừa bịp đi theo chúng để rồi khi sáng mắt ra thì đã muộn, đã trở thành vật phế thải, và là tội nhân thiên cổ đối với đồng bào và dân tộc, đến khi ăn năn sám hối thì dù có tìm ngàn phương để gỡ tội cũng đã trễ quá rồi. Đặc biệt, nếu là nhà tu chân chính mà theo đuôi bọn cộng sản vô thần thì quả là đi làm những việc nghịch lý của những kẻ kém hiểu biết, không còn chỗ để nói.
Mong quý vị và các bạn hỉ xả cho nếu thấy lời thật làm khó chịu cái lỗ tai vàng ngọc.
KDĐN
TÀI LIỆU CỦA THƯ VIỆN ĐẠI HỌC HOA KỲ LIÊN QUAN ĐẾN HÒA THƯỢNG THÍCH ĐÔN HẬU
Tài Liệu của Thư Viện Đại Học Hoa Kỳ (The Vietnam Center and Archive at Texas Tech University) liên quan đến Thích Đôn Hậu
Source: The Vietnam Center and Archive, honviet.uk, paris.net
Một vài "phóng ảnh" dưới đây được trích ra từ tài liệu Anh ngữ nghiên cứu về những người lãnh đạo của Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời/ CPCMLT (Provisional Revolutionary Government: PRG), Mặt Trận Tổ quốc Giải Phóng Nam Việt Nam hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (National Front Liberation of South Viet Nam: NFLSV), và những tổ chức phụ thuộc, 1973.

Theo thư liệu của CPCMLT (Việt Cộng), nói về tiểu sử của Thích Đôn Hậu, thì ông tuyên bố công khai năm 1967, là không " chấp nhận" Tổng Thống Chế ở Miền Nam, và bắt liên lạc với " Kháng Chiến ". Khi Việt Cộng vào Huế Tết 1968, Hậu bỏ thành phố, và theo họ, tìm trú ẩn sau chiến tuyến của họ, do đó khỏi bị họ tàn sát. Ông trở thành Phó chủ tịch trong Liên Minh Quốc Gia, Dân Chủ và Lực Lượng Hòa Bình.

Trong mọi hoạt động, danh sách các người tham dự Nghị Hội Tháng 11 năm 1972, được tuyên dương rộng rãi trong nhiều tháng, những người của CPCMLT và Mặt Trận Giải Phóng coi như là có uy tín với quần chúng. Trong nhiều tuần sau đó, là màn giới thiệu những nhân vật trong danh sách và vài người dù không có tên trong đó. Những chức vị của CPCMLT được nêu tên trong các buổi phát thanh trên radio. Các diễn văn trong các buổi meeting do các vị có tên dưới đây ( có Thích Đôn Hậu ) được phát thanh trên Đài radio Giải Phóng từ ngày 10.11 đến 22.11:

Sau đây là danh sách thành phần của Hội Đồng Cố Vấn của MTGPMN ( có tên Thích Đôn Hậu )

Quý vị và các bạn có thể theo link dưới đây để xem toàn bộ tài liệu dẫn chứng:
http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/231/2310509021a.pdf

Cảnh Phật tử giằng co quyết liệt với quân đội của chính quyền cờ vàng Miền Nam "đàn áp Phật giáo" năm 1963 (thời Đệ Nhất Cộng Hòa) - Ảnh honviet.uk
LỜI KÊU GỌI CỦA HT THÍCH ĐÔN HẬU TRÊN ĐÀI MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM TRONG TẾT MẬU THÂN 1968
Tết Mậu Thân 1968, HT Thích Đôn Hậu đã lên đài phát thanh MTGPMN kêu gọi Phật tử, nguyên văn như sau:
« Tôi Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Đại diện Trung ương Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam - Đại diện Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam -, và Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất miền Vạn Hạnh ( miền Trung). Tôi long trọng tuyên bố: Kể từ giờ phút này, GHPGVNTN đã hoàn thành sứ mạng của lịch sử. Vì vậy, tôi yêu cầu tất cả đồng bào hãy treo cờ Phật giáo, nếu nhà nào không có, thì hãy đến mua tại các chùa, để chào mừng cách mạng đã thành công và cũng để thể hiện rằng đồng bào không chống đối chính quyền cách mạng ».

Trích đoạn "Cuộc bạo loạn 1966" của Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
... Lúc này, Thích Đôn Hậu đã kéo một đám đệ tử từ Huế vào Đà Nẵng. Trong số này, có những tên cũng đã từng chỉ huy «Đoàn Thanh niên Phật tử Cứu quốc » trong cuộc tấn công hai phường Thanh Bồ và Đức Lợi vào ngày 24-8-1964, như các tên sau đây:
Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Tuyên …và hơn hai ngàn thanh niên, hợp lại cùng với đám đệ tử tại Đà Nẵng cũng đã từng sát cánh với nhau trong cuộc thảm sát Thanh Bồ như: Phan Xuân Huy, Phan Chánh Dinh, Vĩnh Kha, Hồ Công Lộ, Hà Xuân Kỳ …
Sau khi vào Đà Nẵng, Thích Đôn Hậu và đám đệ tử tập hợp tại chùa Pháp Lâm, tức chùa tỉnh giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng, là cơ quan chỉ đạo chính trị ở số 500 đường Ông Ích Khiêm. Chính tại chùa Pháp Lâm, Thích Đôn Hậu đã nhân danh Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Miền Vạn Hạnh ( tức miền Trung ) dùng truyền đơn và loa phóng thanh phát lời kêu gọi:
« …Các quân nhân Phật tử hãy mau mau quay về gia nhập Quân Đoàn Cách Mạng Vạn Hạnh, các Phật tử trong mọi nghành cảnh sát, công tư chức, sinh viên học sinh, thanh niên và đồng bào Phật tử hãy gia nhập lực lượng đấu tranh để lật đổ chính phủ Thiệu-Kỳ. »
Và kể từ ngày ấy, cho đến hôm nay, đã bao nhiêu năm qua rồi. Nhưng khi nhắc lại lời kêu gọi này của Thích Đôn Hậu, chắc những ai đã từng chứng kiến cuộc nổi loạn này cũng thấy rằng: Quả thật, lời kêu gọi ấy có hiệu quả, bởi lúc ấy đã có không ít một số sĩ quan, binh lính, công tư chức rời bỏ hàng ngũ và nhiệm sở đế gia nhập « Quân Đoàn Vạn Hạnh ». Riêng sinh viên, học sinh, thanh niên Phật tử đã được «Thượng tọa » Thích Minh Chiếu, Thiếu tá Trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo vùng 1 chiến thuật trang bị súng đạn đủ loại, một số em học sinh nhỏ tuổi thì được trang bị bằng gậy gộc, gạch, đá để gia nhập « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » Thích Minh Chiếu hiện đang có mặt tại Hoa Kỳ như tôi đã viết ở bài trước......
Trich trong Giấc mơ lãnh tụ (3/62)
* Thành lập "chính phủ Phật Giáo" để giao cho VC:
Tạp chí Quê Mẹ số 125 & 126 tháng 10 -11/1993 đã công bố bản tự thuật của HT Thích Đôn Hậu về cuộc gặp gỡ giữa ông và TTCS Phạm Văn Đồng năm 1976. Bản tự thuật cho biết vào tháng 4/1975, PG đã thành lập Chính Phủ Phật Giáo Dương Văn Minh để giao miền Nam cho CS Hà Nội. Sau đây là phần liên hệ đến vấn đề này được đề cập trong bản tự thuật của HT Thích Đôn Hậu:
TTCS Phạm văn Đồng:
"- Đấy, theo Cụ biết, trong khi người Mỹ đi rồi, Thiệu xuống rồi, Phật Giáo lại âm mưu lập chính phủ Phật Giáo, đưa Dương Văn Minh lên làm TT. Lập làm gì vậy? Lập chính phủ đó để đánh với Cách Mạng phải không?
HT Thích Đôn Hậu đáp:
- Chuyện ấy có, Phật Giáo chúng tôi có lập Chính Phủ. Nhưng thế này, thưa Thủ Tướng, chúng tôi đã hỏi các vị trong Viện Hóa Đạo. Các vị cho biết như sau: "HT nên nhớ rằng, PG chúng ta không ngu si đến độ lập Chính Phủ Phật Giáo, sau khi Mỹ đã bỏ miền Nam, Thiệu vơ vét của cải đi rồi. Của cải, thế lực ở miền Nam VN chẳng còn gì, mà Cách Mạng đã đến bên lưng. Ông Dương Văn Minh cũng không đến nỗi dại gì muốn lên làm Tổng Thống lúc ấy."
Các vị ở Viện Hoá Đạo nói tiếp:
"PG chúng ta, con sâu con kiến cũng thương, huống gì con người! Đã 30 năm chiến tranh, chết chóc đau thương chồng chất. Bây giờ đây nếu thả lỏng để ông già lụ khụ Trần Văn Hương tuyên bố: "Đánh"! Thử hỏi cả 2 bên tham chiến chết bao nhiêu người nữa? Muốn hạn chế sự chết chóc và tài sản của đồng bào, nên PG chúng ta phải có chủ trương. Lúc bấy giờ, chẳng còn ai lo cho đất nước, ai cũng chạy trối chết, PG đâu thể ngồi như vậy mà nhìn? Nên phải lập Chính Phủ, đưa Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống. Nhưng không phải lập để đánh với Cách Mạng.
Phạm Văn Đồng hỏi:
- Vậy tại sao Dương Văn Minh lên, tuyên bố giữ mảnh đất cuối cùng, nếu không phải để đánh với Cách Mạng thì để làm gì?
Tôi hỏi Thủ Tướng:
- Khi Dương Văn Minh tuyên bố như vậy, về sau có nổ phát súng nào không?
- Không.
- Như vậy, Dương Văn Minh chỉ tuyên bố thôi, chứ không cốt đánh."
Chính phủ PG nói trên, khi mới nhận chức vào ngày 29/4/1975, Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu đã ra tuyên bố:
- Hoa Kỳ phải rút khỏi VN trong vòng 24 giờ kể từ ngày 29/4/1975.
- Hoa Kỳ phải tôn trọng các quyền cơ bản của dân tộc VN, quyền tự quyết của nhân dân VN và chấm dứt mọi sự dính líu quân sự hoặc can thiệp vào nội bộ miền Nam VN
****************************************************************
Trích tài liệu chính thức của GHPGVNTN công bố tại Việt Nam trong cái chết của Hòa thượng Thích Đôn Hậu:
Hòa thượng pháp danh Trừng Nguyện, hiệu Đôn Hậu, thuộc đời thứ 8 phái thiền Liễu Quán, thế danh là Diệp Trương Thuần. Ngài sinh vào ngày 13 tháng giêng năm Ất Tỵ (16-2-1905) tại làng Xuân An, tổng An Đồn, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ngài xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học, nhưng lại quy ngưỡng Phật giáo. Thân phụ là cụ Diệp Văn Kỷ, một vị lương y nổi tiếng, về sau ông xuất gia học Phật với Tổ Hải Thiệu, có pháp danh là Thanh Xuân, tự Sung Mãn, đắc pháp với Tổ Tâm Truyền, được pháp hiệu là Phước Điền, khai lập chùa Long An ( Quảng Trị ) và kế thế trụ trì chùa Sắc Tứ Tịnh Quang. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Cựu, mất sớm khi Ngài vừa lên 9 tuổi.
......................................
Năm 1963, Ngài tham gia đứng trong hàng ngũ lãnh đạo phong trào đấu tranh chống chính sách kỳ thị, đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Đêm pháp nạn 20 tháng 8 năm 1963, Ngài bị bắt tại chùa Diệu Đế và bị đưa đi giam giữ.
Năm 1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập, Ngài được cử làm Chánh Đại Diện miền Vạn Hạnh.
Năm 1965, Ngài được cung thỉnh làm Yết ma A Xà Lê Đại giới đàn Từ Hiếu tổ chức tại Tổ đình Từ Hiếu - Huế.
Từ năm 1968, Ngài được mời tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Ngài vào chiến khu, ra Hà Nội. Từ đây, Ngài lại càng đẩy mạnh sự nghiệp lợi Đạo ích Đời.
- Tháng 1/1968: Phó Chủ tịch Liên minh các lực lượng Dân chủ và Hòa Bình Việt Nam. Tháng 6/1968: Ủy viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam.
- Năm 1970, đi tham quan văn hóa, tôn giáo ở Liên Xô và Trung Quốc. Năm 1971, đi dự Đại hội thành lập tổ chức Phật giáo Châu Á vì Hòa Bình ở Mông Cổ và được cử làm Ủy viên thường trực Ban Chấp hành Hội Phật giáo Châu Á vì Hòa Bình.
- Năm 1975, miền Nam được ( CS Bắc Việt xâm lăng) giải phóng, Ngài trở về chùa cũ ( Linh Mụ ) và sau đó được mời làm cố vấn cho Ban chỉ đạo Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
- Năm 1976, Ngài đắc cử Đại biểu Quốc hội khóa VI nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Cũng chính trong năm này, Ngài được mời giữ chức Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Từ năm 1976 đến 1986, liên tục trong mười năm liền, Ngài giảng dạy kinh luật cho Tăng Ni ở Huế tại các chùa Linh Mụ, Báo Quốc và Linh Quang.
Năm 1977, Đại hội kỳ VII Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Ấn Quang. Ngài được suy cử vào Hội đồng Trưởng Lão của Giáo Hội và giữ chức vụ Chánh Thư ký Viện Tăng Thống.
Năm 1979, đức Đệ nhị Tăng Thống - Hòa thượng Thích Giác Nhiên - viên tịch, Đại hội kỳ VIII chưa tổ chức được, Hội đồng Lưỡng Viện bèn cung thỉnh Ngài kiêm chức vụ Xử lý Viện Tăng Thống.
Năm 1981, Đại hội Đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam tại chùa Quán Sứ - Thủ đô Hà Nội, đã suy cử Ngài vào Hội đồng Chứng minh với chức vụ Đệ Nhứt Phó Pháp Chủ kiêm Giám luật Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
Năm 1977, 1981 và 1983, ba lần Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng các Đại giới đàn tại chùa Báo quốc và Trúc Lâm - Huế.
Ở tuổi ngoài bát tuần, sức khỏe của Ngài đã giảm sút rất nhiều, thân ngũ uẩn như chiếc xe cũ, đèn dầu cạn, nhân duyên hội họp đã mãn. Hóa duyên đã tròn, Hòa thượng an nhiên thu thần hội nhập vào cảnh giới an lạc tịch tĩnh vào ngày 23/4/1992 (nhằm ngày 21/3 Nhâm Thân) tại Tổ đình Linh Mụ thành phố Huế, trụ thế 88 năm, trải qua 68 mùa An cư kiết hạ...

Chùa Thiên Mụ ( 天姥 ) hay còn gọi là chùa Linh Mụ, nằm trên đồi Hà Khê phía tả ngạn sông Hương được chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) khởi lập vào năm Tân Sửu (1601) là ngôi chùa cổ nhất ở Huế, và là danh thắng đất thần kinh - Ảnh wikipedia
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Phật Lịch 2539 – 1995
TIỂU SỬ DANH TĂNG VIỆT NAM THẾ KỶ XX - TẬP I
Thích Đồng Bổn Chủ biên
Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh ấn hành
Source: http://www.thuvienhoasen.org/danhtang1-giaidoan6-96.htm
HÒA THƯỢNG THÍCH ĐÔN HẬU
(1905-1992)
Hòa thượng pháp danh Trừng Nguyện, hiệu Đôn Hậu, thuộc đời thứ 8 phái thiền Liễu Quán, thế danh là Diệp Trương Thuần. Ngài sinh vào ngày 13 tháng giêng năm Ất Tỵ (16-2-1905) tại làng Xuân An, tổng An Đồn, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Ngài xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học, nhưng lại quy ngưỡng Phật giáo. Thân phụ là cụ Diệp Văn Kỷ, một vị lương y nổi tiếng, về sau ông xuất gia học Phật với Tổ Hải Thiệu, có pháp danh là Thanh Xuân, tự Sung Mãn, đắc pháp với Tổ Tâm Truyền, được pháp hiệu là Phước Điền, khai lập chùa Long An ( Quảng Trị ) và kế thế trụ trì chùa Sắc Tứ Tịnh Quang. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Cựu, mất sớm khi Ngài vừa lên 9 tuổi.
Năm Ngài lên bảy, một hôm Tổ Tâm Tịnh về quê, đến nhà thăm, thấy Ngài diện mạo khôi ngô bèn tỏ lòng ưu ái, huyền ký cho Ngài con đường xuất thế. Nghe vậy cụ ông vui mừng khôn xiết, đặc biệt lưu tâm đến việc học hành của Ngài, liền mời thầy về nhà dạy riêng, để un đúc tương lai cho Ngài với lòng ước mong được như lời Tổ dạy.
Năm 17 tuổi (1922 - Nhâm Tuất), sau mười năm đèn sách, Ngài đã làu thông Nho học. Nhưng tư tưởng về nhơn sanh vũ trụ và phương pháp lập thân xử thế của Lão, Nho đã không làm thỏa mãn được lý tưởng của người thanh niên trí thức ấy khi đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời. Phải chăng còn có một chân lý, một lý tưởng cao siêu hơn các nguyên lý Khổng Mạnh mà Ngài đã gặp? Cho đến khi được song thân nhắc lại việc Tổ Tâm Tịnh đã huyền ký ngày xưa, Ngài mới nghĩ đến con đường xuất gia học đạo.
Điều này khiến cho chí xuất trần của Ngài trưởng thành. Năm 19 tuổi, ngày 19 tháng 6 năm Quý Hợi (1923) được sự chấp thuận của phụ thân, Ngài vào chùa Tây Thiên đảnh lễ Tổ sư Tâm Tịnh, xin được xuất gia tại đây.
Một năm sau, cũng đúng vào ngày vía Quan Âm (ngày 19 tháng 6 năm Giáp Tý - 1924), nhờ học hạnh kiêm toàn và chí nguyện xứng đáng, Ngài được đặc cách cho thọ tam đàn Cụ Túc tại Giới đàn chùa Từ Hiếu, do chính Bổn sư làm đàn đầu. Thọ giới được hai năm thì Bổn sư viên tịch (1926), Ngài bèn đến chùa Hồng Khê cầu pháp với sư huynh là Hòa thượng Giác Tiên.
Năm 1927, Ngài được 22 tuổi, trường Phật Học Thập Tháp tại tỉnh Bình Định khai mở, do Tổ Phước Huệ - bậc danh Tăng nổi tiếng làm Giáo thọ, Ngài cùng một số vị khác như Hòa thượng Chánh Huy, Chánh Thống, Viên Quang vào đây tham học.
Năm 1932, Hội An Nam Phật học ra đời, trường Trung học, Đại học Phật giáo được mở tại Tây Thiên, Tổ Phước Huệ được cung thỉnh từ Bình Định ra làm giáo thọ. Với tinh thần hiếu học cầu tiến không ngừng, Ngài tiếp tục theo học chương trình Đại học tại đây và được bầu làm Thủ chúng cả hai trường. Ngài cũng làm Giáo thọ cho Phật học đường Báo Quốc và Ni viện Diệu Đức - Huế.
Ngay từ lúc còn ngồi ghế Đại học tại Tây Thiên, Ngài được mời làm Giảng sư của Hội An Nam Phật Học. Năm 1936, tốt nghiệp Đại học Phật giáo, với tuổi 32, Ngài được mời làm Giáo sư cho Phật học đường Báo Quốc và Luật sư cho Sơn môn Thừa Thiên, từ đó Ngài đã trở thành một hạt nhân tích cực của phong trào chấn hưng Phật giáo, và là giảng sư nòng cốt, tiền phong của Hội Việt Nam Phật Học. Ngài đã đi giảng dạy khắp các tỉnh miền Trung, nhất là tại Đà Nẵng và Quảng Nam.
Năm 1940 và 1942, Ngài hai lần sang thuyết giảng ở một số tỉnh có đông Việt kiều tại Lào, đàm đạo với vua Sãi và tham lễ tại một số nơi ở Vương quốc Phật giáo này.
Năm 1945, Ngài thay thế Bác sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám giữ chức Chánh Hội trưởng Hội An Nam Phật Học (Thừa Thiên). Cũng trong năm này, Ngài nhận chức trụ trì Quốc Tự Linh Mụ - một di tích lịch sử của cố đô Huế. Sang năm 1946, Ngài làm Chủ tịch Phật giáo Liên hiệp Trung bộ.
Năm 1947, cùng chung số phận với hàng loạt các cơ sở Phật giáo cả nước, chùa Linh Mụ cũng bị Pháp đánh phá và chiếm đóng. Ngài bị Pháp bắt, tra tấn và sau cùng bắt tự đào huyệt chôn mình và suýt bị bắn chết, may nhờ bà Từ Cung (mẹ vua Bảo Đại) can thiệp mới được thả.
Năm 1948, Ngài làm cố vấn đạo hạnh hội Phật học Trung phần và Tuyên luật sư Đại giới đàn Báo Quốc - Huế. Năm 1949, Ngài thay cố Cư sĩ Chơn An Lê Văn Định giữ chức Chánh hội trưởng Tổng Trị sự hội Phật học Trung phần.
Năm 1951, Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng Giới đàn tại chùa Ấn Quang - Sài Gòn, sau đó được Sơn môn Tăng già Trung phần mời làm Giám luật. Qua năm 1952, Giáo Hội Tăng Già toàn quốc được thành lập tại Hà Nội, Ngài được suy cử làm Giám luật.
Năm 1956, Ngài thành lập và làm Chủ nhiệm Liên Hoa văn tập. Năm 1958, Liên Hoa văn tập được chuyển thành Liên Hoa nguyệt san cũng do chính Ngài làm chủ nhiệm.
Năm 1963, Ngài tham gia đứng trong hàng ngũ lãnh đạo phong trào đấu tranh chống chính sách kỳ thị, đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Đêm pháp nạn 20 tháng 8 năm 1963, Ngài bị bắt tại chùa Diệu Đế và bị đưa đi giam giữ.
Năm 1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập, Ngài được cử làm Chánh Đại Diện miền Vạn Hạnh.
Năm 1965, Ngài được cung thỉnh làm Yết ma A Xà Lê Đại giới đàn Từ Hiếu tổ chức tại Tổ đình Từ Hiếu - Huế.
Từ năm 1968, Ngài được mời tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Ngài vào chiến khu, ra Hà Nội. Từ đây, Ngài lại càng đẩy mạnh sự nghiệp lợi Đạo ích Đời.
- Tháng 1/1968: Phó Chủ tịch Liên minh các lực lượng Dân chủ và Hòa Bình Việt Nam. Tháng 6/1968: Ủy viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam.
- Năm 1970, đi tham quan văn hóa, tôn giáo ở Liên Xô và Trung Quốc. Năm 1971, đi dự Đại hội thành lập tổ chức Phật giáo Châu Á vì Hòa Bình ở Mông Cổ và được cử làm Ủy viên thường trực Ban Chấp hành Hội Phật giáo Châu Á vì Hòa Bình.
- Năm 1975, miền Nam được giải phóng, Ngài trở về chùa cũ ( Linh Mụ ) và sau đó được mời làm cố vấn cho Ban chỉ đạo Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
- Năm 1976, Ngài đắc cử Đại biểu Quốc hội khóa VI nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Cũng chính trong năm này, Ngài được mời giữ chức Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Từ năm 1976 đến 1986, liên tục trong mười năm liền, Ngài giảng dạy kinh luật cho Tăng Ni ở Huế tại các chùa Linh Mụ, Báo Quốc và Linh Quang.
Năm 1977, Đại hội kỳ VII Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Ấn Quang. Ngài được suy cử vào Hội đồng Trưởng Lão của Giáo Hội và giữ chức vụ Chánh Thư ký Viện Tăng Thống.
Năm 1979, đức Đệ nhị Tăng Thống - Hòa thượng Thích Giác Nhiên - viên tịch, Đại hội kỳ VIII chưa tổ chức được, Hội đồng Lưỡng Viện bèn cung thỉnh Ngài kiêm chức vụ Xử lý Viện Tăng Thống.
Năm 1981, Đại hội Đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam tại chùa Quán Sứ - Thủ đô Hà Nội, đã suy cử Ngài vào Hội đồng Chứng minh với chức vụ Đệ Nhứt Phó Pháp Chủ kiêm Giám luật Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
Năm 1977, 1981 và 1983, ba lần Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng các Đại giới đàn tại chùa Báo quốc và Trúc Lâm - Huế.
Ở tuổi ngoài bát tuần, sức khỏe của Ngài đã giảm sút rất nhiều, thân ngũ uẩn như chiếc xe cũ, đèn dầu cạn, nhân duyên hội họp đã mãn. Hóa duyên đã tròn, Hòa thượng an nhiên thu thần hội nhập vào cảnh giới an lạc tịch tĩnh vào ngày 23/4/1992 (nhằm ngày 21/3 Nhâm Thân) tại Tổ đình Linh Mụ thành phố Huế, trụ thế 88 năm, trải qua 68 mùa An cư kiết hạ...
Dù Phật sự đa đoan và cuộc đời hành đạo gặp nhiều gian truân, nghịch cảnh, Hòa thượng cũng đã để lại một số tư liệu khiêm tốn nhưng rất có giá trị do chính Ngài dịch giải, biên soạn như:
- Cách thức sám hối các tội đã phạm.
- Phương pháp tu quán.
- Tứ nhiếp pháp.
- Cảm ứng tự nhiên.
- Đâu là con đường hạnh phúc.
- Đồng mông chỉ quán.
- Sinh mệnh vô tận hay là Thuyết luân hồi.
- Luật Tứ Phần Tỳ kheo ni.
Ngoài ra còn có một số bài đăng trên các báo Viên Âm, Liên Hoa.
******************************************************************************************
SÁNG MẮT?!
CỐ ĐẠI LÃO HT THÍCH ĐÔN HẬU KHÔNG GIA NHẬP UB VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP GH QUỐC DOANH
Source: http://baovechanhphap.110mb.com/donhautukhuoc.htm
Lời Dẫn
Trong bài trả lời các phỏng vấn của HT Thích Thanh Tứ, Phó chủ tịch thường trực HĐTSTWGHPG Việt Nam, Viện trưởng Viện Phật giáo Việt Nam, trụ trì Chùa Quán Sứ (Hà Nội), phổ biến bởi VIET NAM NET - Giao lưu trực tuyến- 17 :41' 14/11/2003 (GMT+7), có nhắc đến Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống, GHPGVNTN, khẳng định rằng Hòa thượng đã "hoà mình vào giáo hội phật giáo Việt Nam." Nhân có sự đề cập này mà tôi sao lục lại và phổ biến hai văn thư của Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu ở đây. Qua hai văn thư này, dư luận sẽ hiểu rõ sự áp đặt, và cũng theo đó là cách thức đánh tráo sự thực của Nhà Nước như thế nào.
Hai văn thư này trích lục từ tập sách "Giáo hội Minh hành tập" do các đệ tử của Hòa Thượng sưu tập nhưng chưa được phổ biến. Nay tôi xin phép các đệ tử của Ngài phổ biến đến Tăng Ni, Phật tử và đồng bào trong và ngoài nước.
*******************
1. THƯ GỬI HT THÍCH TRÍ THỦ
Trưởng ban vận động thống nhất Phật Giáo Việt nam
Phật lịch 2525,
Linh Mụ, ngày 24 tháng 11 năm 1981.
Kính gởi:
Hòa Thượng THÍCH TRÍ THỦ
Trưởng ban vận động thống nhất Phật Giáo Việt nam.
Chủ tịch Đoàn Chủ tịch
Đại hội Đại biểu Thống nhất Phật Giáo Việt Nam.
(tổ chức tại Hà Nội từ ngày 4-7.11.1981). Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Thưa Hòa thượng,
Như Hòa thượng đã biết, từ mùa xuân năm 1980, khi Ban vận động thống nhất Phật Giáo Việt Nam ra đời, tuy quí vị có ghi tên tôi vào Ban vận động, với danh nghĩa Cố vấn, nhưng tôi đã không có sự cộng tác gì với Ban vận động cả, kể cả cuộc Đại hội thống nhất Phật Giáo Việt Nam vừa qua tôi đã vắng mặt. Thế nhưng, qua báo chí và các văn kiện Đại hội phổ biến, lại thấy có tên tôi trong Ban Thường trực Hội đồng chứng minh với chức vụ Phó Pháp chủ kiêm Giám Luật.
Tôi xin chân thành cảm ơn Hòa thượng và Đại hội đã dành cho tôi vinh dự đó. Tuy nhiên vì lý do sức khỏe nên tôi không thể đảm nhận thêm chức vụ này được nữa, trong khi tôi vẫn còn một trách nhiệm lớn đối với Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất trong cương vị Chánh Thư ký kiêm Xử lý Viện Tăng Thống.
Do đó, nay tôi viết thư này kính tin Hòa thượng rõ, và nhờ Hòa thượng hoan hỷ chuyển đạt tinh thần bức thư này đến quý vị trong Đoàn Chủ tịch cuộc Đại hội vừa qua.
Kính chúc Hòa thượng pháp thể khinh an, chúng sanh di độ. Và mong Hòa thượng nhận nơi đây lòng chân thành của chúng tôi.
Nay thư,
Tỳ kheo THÍCH ĐÔN HẬU
(ấn ký)
********************************************
2. THƯ GỬI HT THÍCH ĐỨC NHUẬN
Pháp chủ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam
Phật lịch 2525,
Bệnh viện Thống Nhất, ngày 08.02.1982
Kính gởi:
Hòa Thượng THÍCH ĐỨC NHUẬN
Pháp chủ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch Hòa Thượng,
Vào những ngày cuối cùng của năm Tân Dậu, vì bệnh tình bức bách, nên ngày 21.01.1982, tôi đành phải rời Huế, vào thành phố Hồ Chí Minh để chữa bệnh, giữa lúc mọi người đang hoan lạc đón xuân sang, và cho đến hiện nay tôi vẫn đang còn được điều trị tại bệnh viện Thống nhất, thành phố Hồ Chí Minh.
Trong thời gian ấy, ngày 07- 02-1982, tôi lại nhận được lá thư của Hòa thượng gởi cho tôi với danh nghĩa Phó Pháp chủ kiêm Giám Luật Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Nội dung bức thư ấy, Hòa thượng báo tin cho tôi biết là Hội nghị Đại biểu thống nhất Phật Giáo Việt Nam đã thành tựu viên mãn, cũng như Hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định công nhận Bản Hiến chương, danh sách Ban Lãnh đạo và cho phép Giáo hội Phật Giáo Việt Nam hoạt động. Đồng thời Hòa thượng đã có lời khuyên tôi cố gắng cộng tác với Giáo hội trong chức vụ nói trên.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn lòng thạnh tình của Hòa thượng đối với tôi, đồng thời, tôi rất lấy làm vinh dự và tri ân quý Hòa thượng đã dành cho tôi một chức vụ quan trọng như thế. Nhưng, thưa Hòa thượng, như Hòa thượng đã biết, vào đầu mùa xuân năm 1980, cũng chính là lúc tôi đang nằm điều trị ở bệnh viện Thống nhất này, thì hay tin Ban vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam được thành lập, trong đó tôi được có tên với danh nghĩa Cố vấn. Thế nhưng bệnh duyên chướng ngại, nên tôi đã không tham gia được một Phật sự nào đáng kể, ngay cả cuộc Hội nghị Đại biểu vừa qua tôi cũng phải vắng mặt. Cho nên, tôi xét thấy mình tuổi đã già, sức đã yếu lại bệnh hoạn liên miên và mỗi ngày càng thêm trầm trọng. Do đó, tôi viết thư này để kính báo với Hòa thượng để Hòa thượng rõ là tôi không thể đảm nhận được chức vụ quan trọng "Phó Pháp chủ kiêm Giám Luật" Giáo hội Phật Giáo Việt Nam mà hội nghị đã đề cử.
Tuy vậy, riêng cá nhân, tôi vẫn luôn luôn tâm nguyện sẽ tiếp tục đem tất cả sức tàn ra phụng sự chánh pháp trong khả năng còn lại của mình và trong điều kiện sức khỏe cho phép.
Rất mong Hòa thượng thông cảm và nhận nơi đây lòng chân thành của tôi. Kính chúc Hòa thượng phước trí nhị nghiêm, chúng sanh dị độ.
Kính thư,
Tỳ kheo ĐÔN HẬU
(ấn ký )
*************************************************
ĐẠI NẠN CỦA PHẬT GIÁO VÀ ĐẤT NƯỚC
Hòa Thượng Thích Tâm Châu
Source: Nam Úc Tuần Báo, Diễn Đàn 3 Cây Trúc
Bạch Thư 1 của Hòa Thượng Thich Tâm Châu - Đại Nạn Của Phật Giáo 1966
Bạch Thư 2 của Hòa Thượng Thich Tâm Châu - Đại Nạn Của Phật Giáo 1966
Trích từ Bạch Thư Của Hòa Thượng Thích Tâm Châu
Bạch Thư Hòa Thượng Thích Tâm Châu. (Trích từ trang 27-39) Nhà xuất bản: Tổ Đình Từ Quang 2176 Ontario East Montréal, Québec H2K 1V6, Canada
6) Đại Nạn Của Phật Giáo và Đất Nước.
Sang năm 1966, Đại Hội Giáo Hội lại bắt buộc tôi phải làm Viện Trưởng thêm một nhiệm kỳ nữa. Giáo Hội e ngại các tướng lãnh tranh giành ảnh hưởng nhau, không thể có cơ sở vững vàng để xây dựng đất nước được, Giáo Hội yêu cầu Hội Đồng Lập Hiến. Sự yêu cầu này được phát động khắp các cấp Giáo Hội. Nhưng chỉ trong vài tháng việc yêu cầu bầu cử Quốc Hội Lập Hiến đã được Chính Quyền các Tướng lãnh chấp nhận vào ngày 14-4-1966. Sau khi phong trào bầu cử Quốc Hội Lập Hiến đã được thỏa mãn, nhân danh Viện Trưởng, tôi đã gửi thư thông cáo tới các nơi biết: ngưng sự tranh đấu, và chỉ đặt các chương trình xây dựng đạo pháp mà thôi. Ngày 2 tháng 5 năm 1966 tôi đáp máy bay sang Colombo, thủ đô nước Tích Lan, cùng đại biểu Tăng Già các nước soạn thảo Hiến Chương và thành lập Giáo Hội Tăng Già Thế Giới bắt đầu từ ngày 6-5-1966. và tôi đảm trách chức vụ Phó Chủ Tịch. Từ Tích Lan trở về, tôi ghé thăm Malaysia và Singapore để cảm ơn sự hộ trợ tinh thần trong cuộc tranh đấu 1963 vừa qua. Vào 11 giờ sáng ngày 29-5-1966, tôi về tới Saigon, được tin đang có biểu tình trong thành phố Saigon và một số nơi khác tại miền Trung.
Tôi không hiểu, khi tôi đi vắng, ở nhà có Thượng Tọa Trí Quang, Thượng Tọa Thiện Minh, do đâu lại phát động lại phong trào tranh đấu? Tôi về tới VN Quốc Tự, bước chân vào cửa văn phòng Viện Trưởng Viện Hóa Đạo của tôi thì có một biểu ngữ nền vàng chữ đỏ ghi: "Muốn quần chúng tuân theo kỷ luật thì phải theo quần chúng". Tôi vào tới bàn giấy của tôi thì có một đĩa máu, một con dao và một huyết thư: “Yêu cầu các Thượng tọa trong Viện Hóa Đạo, không được theo Thượng tọa Tâm Châu". Tôi định lên chánh điện VN Quốc Tự lễ Phật, tại đây có mấy các vị Tăng thanh niên không cho tôi vào chánh điện VN Quốc Tự và hăm dọa, ai muốn vào chùa hãy bước qua xác chết của họ.
Tôi vô cùng chán nản, không biết cách nào vãn hồi trật tự được. Tôi trở về chùa Từ Quang. Về chùa Từ Quang cũng có một đĩa máu, một con dao và huyết thư "Cấm tôi không được hoạt động nữa". Và, người trong chùa cho biết là họ hăm dọa sẽ đốt xe, ám sát. Và, chính các vị Tăng thanh niên đang tụ tập tại Niệm Phật Đường Quảng Đức ( Bàn Cờ ) định sang chùa Từ Quang giết tôị May có Sư Cô Vân biết được, cấp báo cho tôi biết. Tôi trốn thoát. (4)
Từ đó, tôi phải đi nghỉ, nay tại nhà này, mai tại nhà khác, nay tại Viện Nhu Đạo Quang Trung, mai tại Nha Tuyên Úy Phật Giáo. Từ đó, VN Quốc Tự bị Tăng Ni và quần chúng theo CS nắm giữ, thao túng, liên tục ngày này qua ngày khác, ra đường Trần Quốc Toản, ngã 6 Saigon - Chợ Lớn biểu tình, đả đảo và đốt hình nộm Tổng Thống Mỹ, Tướng Thiệu, Tướng Kỳ. Tôi không dám tới và làm việc tại VN Quốc Tự nữa. Tại Huế, Đà Nẵng và vài nơi khác tại miền Trung cũng vậy, không sao vãn hồi được trật tự. Lại thêm, sự xích mích giữa Tướng Nguyễn Chánh Thi và các Tướng tại Saigon. Nhóm Lập Trường ở Huế ra đời, đòi hỏi bầu Quốc Hội, đòi hỏi ngưng chiến tranh. Kết cuộc, các Tướng Saigon mang quân ra vãn hồi trật tự miền Trung. Thượng Tọa Trí Quang cùng nhóm tranh đấu tại Huế, kêu gọi Phật tử đem bàn thờ Phật ra đường, để ngăn cản bước tiến của Quân Đội Chính Phủ, cho các cán bộ CS nằm vùng, trà trộn tẩu thoát.

Phật tử đem bàn thờ Phật xuống đường năm 1966 chống tay sai Mỹ-Nguỵ và đế quốc Mỹ xâm lược
Phong trào mang bàn thờ Phật ra đường lan tràn khắp nơi và vào cả đến Saigon. Tại Saigon họ đem ảnh Phật ra để trên đống rác. Nhìn cảnh tượng ấy tôi cảm thấy đau lòng, liền ra một thông bạch yêu cầu Phật tử không nên đem Phật ra đường. Thượng Tọa Thích Thiện Hoa Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo đột nhiên ra một thông báo tán thành việc đem Phật ra đường. (5)
Tại Đà Nẵng cũng như một số nơi khác, ngoài việc đem Phật ra đường, còn ghìm súng, nấp sau tượng Phật bắn ra, khi quân đội tiến vào kiểm soát chùa. Đem Phật ra đường rồi, Thượng Tọa Trí Quang vào Tòa Hành Chánh tỉnh Thừa Thiên tuyệt thực. Sau, chính phủ đưa Thượng Tọa Trí Quang vào Saigon, ở nhà bác sĩ Nguyễn Duy Tài. Thượng Tọa vẫn duy trì việc tuyệt thực (có uống nước thuốc dưỡng sức), cho đến khi chính phủ quân nhân y lời hứa hồi tháng 4-1966, bầu cử Quốc Hội Lập Hiến vào ngày 3-9-1966.
Sau khi thanh toán sự hỗn loạn tại Huế và một số tỉnh khác tại miền Trung, thì tại Đô thành Saigon, chính phủ cũng thanh toán xong nhóm náo loạn tại VN Quốc Tự. Tòa Đô Chính Saigon chính thức viết thư xin lỗi Giáo Hội: "Vì nạn bất đắc dĩ phải thanh toán nhóm náo loạn tại VN Quốc Tự, chứ thực tâm, chính phủ không dám xâm phạm vào tôn giáo". Tôi trở về làm việc tại VN Quốc Tự, nhưng một số các vị tranh đấu nhất định không về. Các vị cho rằng, chính phủ xúc phạm đến tôn giáo và cho tôi là thân Chính Quyền.
Tại miền Trung, Thượng Tọa Trí Quang cho tuyên truyền rằng: "Mỹ mua đứt Tâm Châu với 3 triệu Mỹ kim và cho tôi là cậu của Tướng Nguyễn Cao Kỳ, đem quân đội ra tàn sát Phật tử miền Trung v.v...". Đó là chỗ nẩy sinh ra sự mâu thuẫn giữa tôi và các vị tranh đấụ Từ chỗ mâu thuẫn ấy, tại Saigon, Thượng Tọa Trí Quang và nhóm tranh đấu vu khống cho tôi là người Mỹ cho tôi 1 triệu Mỹ kim và trả lương cho tôi mỗi tháng là 20 ngàn Mỹ kim. Thực ra, tôi chưa được một dollar của Mỹ, chứ nói chi đến vạn, đến triệu. (6)
Tôi vẫn nhẫn nại làm việc, tuân theo lời dạy của Hòa Thượng Tăng Thống Thích Tịnh Khiết triệu tập Đại Hội Giáo Hội tại VN Quốc Tự từ chiều 21-10-1966. Buổi chiều ngày 22-10-1966, Đại Hội mới duyệt xét chương trình nghị sự xong. Bất ngờ, 3 giờ sáng ngày 23-10-1966, tại chùa Ấn Quang một số các Thượng Tọa đã lén lút thành lập Hội Đồng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất và đề cử Thượng Tọa Thích Thiện Hoa làm Viện Trưởng, coi như lật đổ tôi. Từ đó có ra Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất tại Ấn Quang.
Vậy, đâu là chỗ chia đôi và lũng đoạn Giáo Hội Thống Nhất? Sau đó, Viện Hóa Đạo Ấn Quang chuyển hướng theo đường hướng "Hòa Bình Khuynh Tả". Viện Hóa Đạo Ấn Quang cử các vị ra nước ngoài liên lạc với các nhóm phản chiến, yêu cầu Mỹ rút quân, phản đối chính sách chống Cộng của VNCH, đòi hòa bình. Viện Hóa Đạo Ấn Quang cử Thượng Tọa Nhất Hạnh làm Trưởng Phái Đoàn Hòa Bình bên cạnh Hòa Đàm Paris.
Ấn Quang là một Phật Học Đường danh tiếng, cung ứng cho nhu cầu phát triển Phật Giáo miền Nam rất nhiềụ Nhưng từ nửa năm 1966 trở đi, Ấn Quang đã bị cưỡng ép làm nơi tranh đấu của các vị ưa tranh đấu. Sang năm 1967, tôi triệu tập 8 Giáo Phái, Hội Đoàn tại VN Quốc Tự, tuyên bố rút lui chức Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất. Đại Hội đề cử Thượng Tọa Thích Thiện Tường (người Nam), lên thay thế tôi làm Viện Trưởng. Và, Đại Hội này nhận thấy Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất đã bị chủ trương "nhất thống", tiêu diệt các Giáo Phái, Hội Đoàn, nên Đại Hội đã tu chính bản Hiến Chương ấy, cho phù hợp với các Giáo Phái, Hội Đoàn. Bản Hiến Chương tu chính này được thông báo cho chính phủ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu biết. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ký sắc luật 23/67 ngày 18/7/1967, công nhận Hiến Chương ấy. Sau khi rút lui khỏi Viện Hóa Đạo, tôi trở ra chùa Từ Quang Vũng Tàu của tôi, vui cùng cảnh vật thiên nhiên, cho vơi bớt những sự ưu tư, vất vả. Tại Saigon, Giáo Hội Thống Nhất Ấn Quang lại phát động phong trào tranh đấu, đòi hỏi không được tu chính Hiến Chương. (Thực vô lý, Ấn Quang chỉ có 3 Giáo Phái, Hội Đòan, mặc dù Tăng Ni Phật tử đông. VN Quốc Tự có 8 Giáo Phái, Hội Đoàn - dù rằng người ít - vẫn có quyền tu chính Hiến Chương, chứ không phải hủy bỏ Hiến chương).
Đùng một cái, một hôm vào khoảng 7 giờ tối, một số Tăng tại chùa Ấn Quang, được sự hộ trợ của các dân biểu thân Ấn Quang có súng, như Kiều Mộng Thu v.v... đột nhập vào VN Quốc Tự bắt thượng Tọa Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Thích Thiện Tường, cùng với rất đông chư Tăng, đem về nhốt tại chùa Ấn Quang. Ngày hôm sau, Nha Tuyên Úy Phật Giáo can thiệp, mời các vị Ấn Quang ra khỏi VN Quốc Tư.. Sau đó, Giáo Hội Thống Nhất tại VN Quốc Tự lại phải đề cử Thượng Tọa Thích Minh Thành (người Nam) lên làm Viện Trưởng. Vẫn chưa yên. Lại một hôm khác, vào chập tối, phe Ấn Quang lại đem người, đem khí giới, tái chiếm VN Quốc Tự một lần nữa Lần này họ bắt hết Tăng chúng, lấy hết đồ đạc, nhiều máy may của VN Quốc Tự và đốt cháy một dãy nhà phía tay trái Quốc Tư.. Nha Tuyên Úy Phật Giáo lại phải can thiệp để vãn hồi trật tự.
Sau biến cố này, Giáo Hội Thống Nhất tại VN Quốc Tự phải đề cử Thượng Tọa Thích Tâm Giác, Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo, kiêm nhiệm Viện Trưởng Viện Hóa Đạ, mới yên. Hai lần Ấn Quang đánh phá VN Quốc Tự như trên, hỏi ai làm nhơ nhớp cho lịch sử Phật Giáo VN? Sự việc rõ ràng như thanh thiên bạch nhật, mà nhóm tranh đấu của Ấn Quang, được sự hộ trợ ngầm của CS nằm vùng, lải nhải vu khống cho VN Quốc Tự chia rẽ Giáo Hội, Thích Tâm Châu phá hoại và lũng đoạn Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất. Thực như câu phương ngôn của VN thường nói: "Vừa đánh trống vừa ăn cướp, vừa ăn cướp vừa la làng". Cậy đông, lấy thịt đè người, mặc sức vu khống, thao túng không coi nhân quả là chi cả!
Cho đến nỗi những vị Tăng không biết chút gì về việc tranh đấu, việc xây dựng Giáo Hội, cũng như các vị Tăng, Ni Phật - từ ở xa, hay sau này, cũng a dua, hùa theo sự tuyên truyền nhồi sọ của nhóm tranh đấu Ấn Quang và CS nằm vùng trong suốt hơn 30 năm naỵ Thực tội nghiệp! Nói thẳng thắn, cuộc chiến tranh Quốc Cộng tại VN, không có một tôn giáo, một đoàn thể nào, không bị CS nằm vùng gây chia rẽ, phá hoạị Thiên Chúa Giáo có những cán bộ gộc nằm vùng như Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng v.v... Phật Giáo cũng vậy, CS nằm vùng từ thượng tầng, tới hạ tầng, càng dễ dàng hơn.
Thực sự, cuộc tranh đấu từ tháng 6-1966, cho đến nay chia đôi Giáo Hội, đều do bàn tay CS đạo diễn, làm hại cho Phật Giáo và quốc gia VN không nhỏ. Vì vậy, Phật Giáo không phải là không có trách nhiệm, liên đới đến sự để mất VNCH cho CS. Vấn đề này, chính Hòa Thượng Thích Huyền Quang cũng thường nhắc đi nhắc lại: CS từng tuyên bố: "Phật Giáo Ấn Quang hai lần có công với Cách Mạng". * Vấn đề hòa hợp hòa giải và các tạp sự sau đó. Đầu thập kỷ 1970. hòa đàm Paris đang tiến đến hồi mặc cả có lợi nhiều cho CS, thì tại VN phe tranh đấu Ấn Quang, do Thượng Tọa Thích Trí Quang lãnh đạo, đã cho thành lập phong trào Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc, do ông Vũ Văn Mẫu được coi là Thủ Lãnh.
Phong trào này không được sự tán thành của hai Thượng Tọa Thiện-Minh và Huyền-Quang. Vì hai Thượng Tọa này không tán thành phong trào Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc, nên Thượng Tọa Trí-Quang và phe nhóm của Thượng-Tọa đã tung ra một chiến dịch bôi bẩn Thượng-Tọa Thiện-Minh và Thượng-Tọa Huyền-Quang một cách tàn nhẫn. Cũng vì chiến dịch này, trong suốt một năm, Giáo Hội Thống Nhất Ấn Quang không thể triệu tập được Đại Hội để bầu cử chức vụ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo vì Thượng Tọa Thích Thiện Hoa đã viên tịch, khiến cho Thượng Tọa Thích Trí Thủ là một vị Tổng Vụ Trưởng phải đứng lên xử lý thường vụ.

Sau 3 năm vắng bóng, TT Thích Trí Quang (bên trái) xuống đường đòi tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức (31/3/1975, Sài Gòn, Việt Nam)
Tình hình biến chuyển hoàn toàn bất lợi cho VNCH. Ngày 30-4-1975, là ngày cáo chung của chế độ VNCH. Những bộ mặt thân CS đã lộ rõ nguyên hình, không ai mà không rõ.
- Khi quân CS từ rừng về Saigon, đã có lần 500 Tăng, Ni của phe tranh đấu Ấn Quang ra đón chào.
- Ngày 19-5-1975, phe tranh đấu Ấn Quang đã tổ chức sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Ấn Quang.
- Hiệp Thương Chính Trị thống nhất hai miền Nam-Bắc của CS, một Thượng Tọa của phe Ấn Quang đã làm một bài tham luận, nịnh CS, kể công của Ấn Quang và đả kích Nha Tuyên Úy Phật Giáo cùng Giáo Hội Thích Tâm Châu.
- Vào khoảng năm 1980, 1981, chính Thượng Tọa Thích Trí Thủ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Ấn Quang cùng các vị cao cấp nhất phe tranh đấu Ấn Quang đã tích cực vận động thành lập và tham gia vào Giáo Hội Phật Giáo VN tại chùa Quán Sứ (Hà Nội), mà người ta thường gọi là "Giáo Hội Quốc Doanh", hay "Giáo Hội Nhà Nước". Chỉ có các Thượng Tọa: Thiện Minh, Huyền Quang, Đức Nhuận, Quảng Độ và một số nhỏ các vị khác không tán thành, nên bị bắt hay bị giết.
- Vào khoảng năm 1986, 1887, Ông Gorbachev, Tổng Bí Thư Đảng CS Liên Xô chủ trương cởi mở, thì tại VN ông Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí Thư Đảng CSVN cũng theo chủ trương ấy. Sau đó, Chủ Nghĩa CS bị tan rã tại Nga, tại Đông Âu, thì tại VN, hình thức chuyển hướng là sự cần thiết để sống còn của ho.. Họ đã cho các chùa được sinh hoạt tín ngưỡng một phần nào, trả một số cơ sở cho các chùa, cho một số thanh niên Tăng, Ni được học hỏi Phật Pháp. Và, có thể bước đầu thí nghiệm của họ, họ cho một số người nào đó, đòi hỏi quyền tự do dân chủ, để tiện dịp nhận diện những người quyết tâm tranh đấu, để có thể triệt hạ sau này. Hòa Thượng Thích Đôn Hậu đã khơi mở ra phong trào Phật Giáo Thống Nhất tại hải ngoại, và Hòa Thượng Thích Huyền Quang tiếp nối sự nghiệp ấy.
Tại Hoa Kỳ cũng tổ chức thống nhất rầm rộ. Kết cuộc có ra hai, ba Giáo Hội Thống Nhất. Tại Âu Châu, có nhiều Giáo Phái hoạt động riêng biệt. Nhưng có một số chùa, có các vị Tăng trung niên và thanh niên, kết hợp thành Giáo Hội Thống Nhất Âu Châu. Tại Úc, dân số VN ty nạn vào khoảng 150 ngàn người, Giáo Hội Thống Nhất Úc và Tân Tây Lan đã thành hình, với số Tăng, Ni ít ỏi, số chùa độ trên mươi ngôi, và trong những ngày đại lễ, số chùa độ trên mươi ngôi, và trong những ngày đại lễ, số Phật tử tới các chùa, tính chung lại vào khoảng 7, 8 ngàn người. Nội bộ Giáo Hội thì không ổn định và có vẻ phức tạp. Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại VN, đang là người trỗi lên, đòi lại danh xưng và sự phục hoạt của Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất. Hòa Thượng là người đầy đảm lược, đầy kinh nghiệm với chủ nghĩa CS. Tôi rất kính mến Hòa Thươ.ng. Tôi đã viết thư khích lệ Hòa Thượng. Tôi luôn luôn cầu nguyện cho việc làm của Hòa Thượng được thành công viên mãn. Cuộc tranh đấu hiện nay tại VN do Hòa Thượng Huyền Quang lãnh đạo thực vô cùng khó khăn. Khó khăn bởi bao mưu cơ, xảo thuật của Thích trí Quang cũ, nằm trong Giáo Hội Nhà Nước, ngăn trở. Khó khăn bởi Hiến CS bao vâỵ Khó khăn ngay trong nội bộ Giáo Hội Thống Nhất Ấn Chương "Tập quyền, kỳ thị" thiếu thiện cảm với các Giáo Phái Phật Giáo khác. Và, có thể có khó khăn với các tôn giáo khác, qua những nhận xét sâu xa. (7) Tuy nhiên, CS là kẻ thù chung của nhân loại. Nhân loại xóa bỏ những mặc cảm riêng tư, và tích cực phục vụ chung cho chính nghĩa. Chính nghĩa quyết thắng. Chủ nghĩa CS không sao tránh khỏi luật đào thải, và chắc chắn phải nhường chỗ cho thể chế tự do, dân chủ của toàn dân VN.
* Kết luận Giáo Pháp của đức Phật Thích Ca Mưu Ni thấm nhuần vào lòng dân VN đã gần hai ngàn năm. Phật Giáo đã hòa đồng cùng vận mệnh thịnh suy của dân tộc. Phật Giáo đã sản sinh những nhân vật đức hài hòa trong sự nghiệp cứu nước và dựng nước. Nhưng, đôi khi, Phật Giáo cũng bị những nhân vật cậy tài, ỷ thế, kỳ thị, thiếu sáng suốt, thiếu hỷ xả, gây tan nát cho đạo giáo và Quốc Gia không ít. Phật Giáo tôn trọng tự do nhân chủ tuyệt đối, không chủ trương "tập quyền" cho một cá nhân hay một nhóm người. Vì, hễ có tập quyền là có độc tài, có bè phái, có những thủ đoạn để củng cố quyền lực. Gần một thế kỷ nay, nhân loại bị đau khổ đến cùng cực bởi nạn "tập quyền" của CS. Ba mươi năm nay Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất chủ trương "tập quyền", chưa thấy đem lại tia hy vọng hòa hợp và an lạc cho đại chúng. Phật Giáo VN tại Hoa Kỳ triền miên trong sự chia rẽ, đã có hai, ba tổ chức thống nhất. Phật Giáo VN tại Úc, "tập quyền" thống nhất trong tay một nhân vật tham độc, thiếu tài đức, gây bè phái, kỳ thị Trung, Bắc, hãm hại huynh đệ đồng đạo, mặc cho gần trăm ngàn Phật tử VN tỵ nạn tại Úc không nơi nương tựa, mặc cho danh dự Phật Giáo VN bị tổn thương nặng nề! Ôi, Phật Giáo VN! Ôi, Phật Giáo VN! Ai gây chi lắm niềm đau khổ, Vũ trụ nài van đến nghẹn lời! (Lửa thiêng đạo mầu) Kính bạch Quý Ngài, Kính thưa Quý vị, Bạch thư này viết ra trong hoàn cảnh bất đắc dĩ. Bạch thư này được viết ra bằng những giòng lệ nóng thương đời, thương đạọ Bạch thư này ra đời, có người ưa có người không ưa, vì sự thật mất lòng. Nhưng, giả dối phải nhường chỗ cho sự thật, để cho Quốc Gia, cho Đạo Pháp được trường tồn, cho nhân dân VN được thức tỉnh, và cho nhân loại được hưởng niềm an lạc của chính pháp. Cầu nguyện Tam Bảo từ bi gia hộ, chuyển hóa đất nước VN, đạo giáo VN, nhân dân VN sớm thoát khỏi ách CS, thành một nước tự do, dân chủ, ấm no, hạnh phúc và thịnh vượng. Chuyển hóa tâm niệm của các cấp Phật Giáo trong và ngoài nước, biết rõ mình, như lời Phật dạy, tiến tu và đạt tới đích giác ngộ, giải thoát. Cầu mong Quý Ngài và Quý vị luôn luôn được niềm an vui như ý, trong ánh đạo từ bi và trí tuệ. Thành thực cảm ơn qúy ngài và qúy vị.
Trân Trọng,
Ký tên Hòa Thượng Thích Tâm Châu
Ghi-chú:
(4) Việc định ám sát tôi, sau này có Thầy Thiện-Lực đến sám-hối với tôi và có một vài Thầy khác hiện nay cũng có mặt ở ngoại quốc.
(5) Cảnh tượng đem Phật xuống đường, không những tôi, nhiều người đau lòng, thế giới Phật-Giáo đau lòng, mà cả Đại-Đức Thích-Quảng-Thành, cũng trong lá thư viết cho Thượng-Tọa Trí-Quang, ngày 31-12-1973, Đại-Đức nói: "Năm 1966, con (Thích-Quảng-Thành) nghĩ Thượng-Tọa (Thích-Trí-Quang) đã làm một việc sai lầm, khi phát-động phong-trào đem Phật xuống đường, dùng một biểu-tượng linh-thiêng, để giải-quyết những tranh-chấp trần-thế." Gần cuối lá thư, Đại-Đức Thích-Quảng-Thành với tính-tình trung-trực đã viết: "Đến nỗi hiện giờ anh em chúng con so sánh Thượng Tọa (Thích-Trí-Quang) với nhân vật “NHẠC-BẤT-QUẦN”, trong tiểu thuyết nổi danh của Kim-Dung. Nhạc-Bất-Quần là chưởng môn của một võ-phái nổi tiếng và được giới giang-hồ xưng tụng là “quân-tử-kiếm”, vì lối đánh và đường kiếm của ông rất quân-tử. Tuy nhiên mọi người đều lầm. Sau một thời gian mấy mươi năm, ông đã lộ chân tướng của ông là một “ngụy-quân-tử”, với những mưu mô và thủ-đoạn cực ác và cực nham-hiểm.”
(6) Việc vu khống cho tôi ăn đô-la của Mỹ, chư Tăng, Ni, Phật-Tử miền Trung cho tôi biết và vừa đây có một Phật-Tử Huế, đang tại Úc cũng xác-nhận với tôi là có sự tuyên truyền ấy. Tại Sàigon, chính Đại-Đức Hộ-Giác (bây giờ đã là Hòa-Thượng) đã cho tôi biết là Thượng-Tọa Trí-Quang nói trước Hội-Đồng Viện-Hóa-Đạo. Thượng-Tọa nói là Thượng-Tọa được nghe vậy!
(7) Trong đơn xin cứu xét của Hòa-Thượng Huyền-Quang gởi lên Tổng-Bí-Thư Đảng Cộng-Sản và Nhà Nước Việt-Nam, ngày 24-6-1992, Hòa-Thượng có viết: “ - Thời Pháp đến Việt-Nam lần thứ hai đã lập ra Giáp-Hội Thiền-Lữ. - Ngô-Đình-Diệm đã lập ra Giáo-Hội Cổ-Sơn-Môn. Thời Diệm không Diệm đã lập ra Giáo-Hội tại Việt-Nam Quốc-Tự (Hòa-Thượng ám-chỉ thời-kỳ Tổng-Thống Nguyễn-Văn-Thiệu đã ra sắc-luật công nhận bản tu-chính Hiến-Chương năm 1967 của Việt-Nam Quốc-Tự. Nhưng đó là sự sai-lầm, chuyển bạn thành thù). Hoà-Thượng còn so sánh với Thiên-Chúa-Giáo: “Nhà nước đã không làm việc cải-tạo với Thiên-Chúa-Giáo, mà còn lập lại ngoại-giao với Thiên-Chúa-Giáo...”
****************************************************************************************
TẾT MẬU THÂN VÀ NHỮNG KẺ CÓ MÁU LẠNH
Xin dâng một nén hương lòng,
Đôi dòng huyết lệ khóc đồng bào tôi.
Tết Mậu Thân 1968, Hòa Thượng Thích Đôn Hậu (Phật Giáo Ấn Quang hay GHPGVNTN) đã lên đài phát thanh MTGPMN kêu gọi, "Chư Tăng, Ni và đồng bào Phật tử đoàn kết với nhau, nhất tề đứng lên đánh đuổi Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Đế Quốc và bất hợp tác với tay sai Đế Quốc".
Tết Mậu Thân và những kẻ có máu lạnh
Nguyễn thanh Ty

Từ tết Mậu Thân, 1968, đến tết Mậu Tý năm nay, 2008, thời gian tròn chẵn 40 năm.
Bốn mươi năm, gần nửa thế kỷ, nửa đời người, đã biết bao nhiêu vật đổi sao dời, song người dân miền Nam, vẫn không làm sao quên được một cái Tết hãi hùng, kinh khiếp mà Việt cộng đã tạo nên, đã đang tay tàn sát dân lành vô tội một cách man rợ nhất trong lịch sử cổ kim trên khắp miền Nam Việt Nam.
Nhất là ở Huế - Thừa Thiên, đã có khoảng sáu ngàn người bị thảm sát dã man. Họ đã bị Việt cộng giết bằng những cán cuốc đập vào đầu hoặc bị chôn sống.
Cứ mỗi lần Tết đến là xứ Huế lại đắm chìm trong bầu không khí u buồn với màu khăn trắng tang tóc của nhiều ngàn gia đình có thân nhân bị Việt cộng sát hại.
Các đám tang tập thể vào các năm 1968-1969 là hình ảnh người ta không thể nào quên. Trong bài viết “Mass Murder, Mass Burial” của nhà báo Tito V.Carballo, đăng trên VietNam Bulletin vào năm 1969 có đoạn mô tả:
“Dưới ánh mặt trời chói chang, những dãy quan tài được xếp thành từng hàng ngay ngắn. Bên trong mỗi quan tài đóng vội này là những gì còn sót lại của các thi hài được tìm thấy. Khoảng 15.000 người, trong áo tang trắng, đứng chịu trận dưới trời nắng chang chang. Một ai đó âm thầm khóc, một ai khác khóc to vật vã. Thỉnh thoảng họ lại nhìn nhau như thể đang tìm một lời an ủi, rằng đây không phải là sự thật, đây chỉ là một giấc chiêm bao.”
Suốt hai mươi sáu ngày trong tháng giêng, ngày nào, chỗ nào cũng có đám giỗ. Khắp nơi, người dân Huế đều tổ chức cúng giỗ cho người thân của mình trước bàn thờ khói nhang nghi ngút.
Tiếng khóc than kể lể của người dân Huế nghe vang vọng cả một trời sầu thảm.
Cùng lúc đó, mĩa mai thay, bên cạnh tiếng khóc than đớn đau của người dân thì Việt cộng lại “hồ hởi phấn khởi” rầm rộ tổ chức ăn mừng “chiến thắng Mậu Thân”.
Thật đúng với câu “Chỉ có loài súc vật mới có thể quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại để thản nhiên trau chuốt bộ lông của mình”
Họ đã ngoãnh mặt trước nỗi khổ đau của đồng bào mà cùng nhau hả hê ca ngợi “chiến công hiển hách” của mình khi tấn công vào miền Nam và thi nhau kể lể thành tích sát nhân của mình.
Năm nay, năm Mậu Tý, tại Sài Gòn, những con người Việt cộng lại càng tổ chức rầm rộ hơn nữa, rất trọng thể, để mừng ngày mà họ gọi là “lễ lớn kỷ niệm 40 năm cuộc tổng tiến công Xuân Mậu Thân”.
Họ khoe rằng, buổi lễ có tới mười ngàn người tham dự rất “hoành tráng” gồm “4000 quần chúng, 1.500 dân quân tự vệ, 2.349 người tham gia diễu binh, 1.700 người tham gia diễu hành nghệ thuật quần chúng...”
Trong buổi lễ, Phạm văn Hải, Phó chủ tịch Ủy ban MTTQ TP.HCM cao giọng khẳng định rằng:
“Năm tháng sẽ qua đi nhưng với cả nước, với miền Nam thành đồng, với TP mang tên Bác Hồ kính yêu, chiến công của cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 sẽ mãi mãi sống trong lòng các thế hệ người Việt Nam, vì đó là đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng, là khí phách Việt Nam...”
Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy TP. HCM, phát biểu khoa trương:
“Cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968 đã tạo “một cú choáng đột ngột” với địch ở miền Nam..., là điểm son chói lọi của lịch sử Việt Nam.”
Cuộc thảm sát xảy ra cho Huế mùa Xuân năm 1968 mà Việt cộng hiện nay vẫn còn hãnh diện khoe khoang là “chiến công sống mãi trong lòng các thế hệ trẻ” là “đỉnh cao của chủ nghĩa” là “điểm son chói lọi” là những thành tích gì?
Đó là nỗi kinh hoàng đối với người dân Huế. Đó là vết thương chưa khô máu. Đó là vết sẹo chưa lành vẫn còn đau thốn tim can mỗi khi có ai nhắc đến.
Chúng ta hãy giở lại trang sử cũ, Tết Mậu Thân, để nhìn lại những “những bộ lông” mà Việt cộng đã “trau chuốt” lập nên xem nó chói lọi đến độ nào và tạo đỉnh cao tới đâu.
Lẫn trong tiếng pháo nổ rền đón mừng năm mới, đêm 30 rạng ngày 31 tháng 1 năm 1968, Việt cộng đã đồng loạt bất ngờ nổ súng tấn công 4 thành phố lớn, trọng tâm là Sài Gòn, Gia Định và Huế, 37 thị xã và hàng trăm quận lỵ, thị trấn của miền Nam.
Việt cộng tưởng đâu lợi dụng yếu tố bất ngờ giây phút thiêng liêng trong đêm giao thừa, toàn thể quân dân miền Nam đang long trọng đón rước tổ tiên, ông bà về ăn Tết với con cháu, giáng một đòn sinh tử chớp nhoáng xuống miền Nam để có thể “ăn chắc” như ông Hồ muốn “Xuân này chiến thắng ắt về ta”.
Nhưng, thiên địa bất dung gian, mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, chỉ hơn một tuần lễ sau, quân lực VNCH đã bẻ gẫy tất cả các nổ lực của Cộng quân và đã đánh bật chúng ra khỏi các thành phố và các thị xã mà chúng chiếm được lúc đầu.
Chỉ trong mấy ngày, quân Việt cộng đã trả một giá quá đắt: 32 ngàn bị thương vong và khoảng 5.800 bị bắt.
Riêng thành phố Huế, Cộng quân cố liều chết, chiếm giữ lâu nhất là 26 ngày.
Ngày 25 tháng 2, những lực lượng cuối cùng của Việt cộng bị đẩy lui ra khỏi thành phố Huế.
Trong 26 ngày bị vây hãm, Việt cộng không còn khả năng chiến đấu, trước khi tháo chạy, đã điên cuồng say máu giết hại người dân lành để trả thù.
Bao nhiêu người dân Huế bị Việt cộng sát hại?
Theo những báo cáo của các cuộc cảnh sát các xã thuộc 13 quận của thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, do các xã báo cáo, khoảng 5.300 nạn nhân bị chôn sống tại tỉnh Thừa Thiên.
Tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, 22 địa điểm tìm được là các mồ chôn tập thể.
rong 22 địa điểm này, người ta đếm được 2.326 sọ người. Các gia đình kê khai có người chết và mất tích lên đến 4000 người.
Người ta ước tính khoảng 6000 người.
(Nguyễn Phúc Liên Thành, Phó Trưởng Ty Cảnh sát Đặc biệt Lực lượng Cảnh sát Quốc gia tỉnh Thừa Thiên và Nguyễn Lý Tưởng, cựu Dân biểu Khu vực Thừa Thiên.)
Nơi đầu tiên tìm thấy các nạn nhân Việt cộng là sân trường Trung Học Gia Hội vào sáng ngày 26 tháng Hai, tổng cộng có 170 xác. Mấy tháng sau, người ta tìm thấy thêm 18 nơi chôn tập thể, lớn nhất là khu ở gần chùa Tăng Quang, 67 thi thể, Bãi Dâu, 77, khu chợ Thông, khoảng 100, khu lăng tẩm, 201, Thiên Hàm khoảng 200, Đồng Gi, khoảng 100. Tổng cộng khoảng 1.200 thi thể tìm thấy trong những hầm hố lấp vội vã.
Dần dần các ngôi mộ tập thể được tìm thấy khắp nơi. Tại quận Phú Thứ, những vùng đồi cát Lệ Xá tây, làng Văn Hoà, Xuân Dương. Quận Vinh Lộc. quận Nam Hòa.
Nhiều nhất là tìm thấy ở những đồi cát của ba làng Vinh Lưu, Lệ Xá đông và Xuân Ô. Hơn 800 người được tìm thấy ở khu nầy.
Ở khe Đá Mài tìm được 428 bộ xương...
Thành phần nào bị giết?
Ông Nguyễn Lý Tưởng kể:
“Cộng sản bắt đi trên 500 người, thanh niên từ 15, 16 tuổi đến ông già 60, 70 bị đưa đi giam ở chùa Từ Đàm. Đến đêm, họ bị dẫn đi lên đường núi và qua sông. Sau đó tàn sát hết mọi người trong tư thế bị trói.”
Ông Liên Thành nhớ lại:
“Riêng tại quận ba, Việt cộng bắt đi hơn 500 người đang trốn trong Dòng Chúa Cứu Thế, dẫn đi hết, rồi chôn sống. Tội nghiệp nhất là một số nạn nhân hoàn hoàn không dính dáng gì đến chính quyền. Ngoài ra trong số này có một người rất tiếng tăm là Thượng Nghị sĩ Trần Điền. Ngoài ra, tại vùng Phủ Cam, bốn ngày sau khi Việt cộng chiếm Huế, nhà thờ lớn Phủ Cam bị ập vào, bắt đi 300 thanh niên sau này được tìm thấy xác ở vùng phía tây Nam Hòa, tức vùng núi dọc khe Đá Mài, lăng Gia Long”
Việt cộng giết người dân vô tội bằng cách nào?
Hãy nghe một nhân chứng còn sống sau 40 năm thuật lại:
“Sau chùa Diệu Đế, chúng nó đưa về phiá Gia Hội, sống xung quanh mấy nhà dân. Chúng bắt chúng tôi đi khiêng vác trong vòng mấy ngày sau, thì bắt đầu tôi thấy phía bên chỗ Đông Ba, máy bay bắn xuống dữ lắm. Tụi tôi thấy chắc là phản công rồi, lính VNCH mình phản công chúng nó rồi. Tôi cũng cầu nguyện, cầu nguyện, nhưng không phải là đi dân công đâu quý vị ơi. Đến tối đó, nó phát cho mấy cái cuốc, nó nói bây giờ đi đào mấy cái hào, cái hầm. Tại vì máy bay bắn xuống quá, tôi nghĩ chắc nó sai tụi tôi đi đào mấy cái hầm để cho tụi nó núp, giống như công sự, núp để tránh đạn tránh bom. Tụi tôi mười mấy thằng còn xác vác cuốc đi đào, cũng đào, đào, nghĩa là tối xuống đi đào, đào. Cái hố bề sâu xuống là một thước, bề ngang bằng một sải tay, một sải tay ngang, cứ đi tới, đi tới, một thằng một khúc, cứ đào. Đào cứ nối liền nhau, nối liền nhau. Đào xong cái này rồi bắt đầu đi đào cái khác, như là đào tuyến công sự đó mà.
Nhưng quý vị biết không, sau khi đào xong lúc 3 giờ sáng, lần đầu tiên tôi thấy nó dẫn ra một đám người từ xa trong bóng tối. Những người này khi tiến tới gần, bấy giờ tôi mới thấy là tay trói về phía sau, cột trùm, cột dính vào với nhau bằng sợi dây điện thoại màu đen đen. Nó cột trùm, người ta dắt ra , dắt ra. Mỗi toán nó dắt ra như vậy là khoảng 14, 15 người. Những cái hố chúng tôi đào cũng vừa cái khoảng đó. Nó mới bắt những người đó đứng xoay lưng về cái hố. Còn nhiệm vụ chúng tôi thì chúng tôi đang đứng, đang đào đất, tay chúng tôi đang cầm cuốc. Nó mới sắp hàng những người kia, những người mà nó bắt, bị cột sợi dây điện thoại, dính trùm với nhau.
Số người này, một số mặc đồ ngủ hoặc mặc bộ đồ thường, có người mang dép, có người đi chưn, kể cả những người mặc quần xà loỏn. Nó sắp người ta xoay lưng về cái hố mà chúng tôi đào (ông T thở mạnh như bị ngộp thở, khóc thút thít), rồi cái thằng cán bộ VC mặc áo trắng và quần cán bộ chính quy, đội nón cối, nó đọc, nó đọc bản án tội ác của những người đó. Nó nói những người đó có tội với nhân dân, có tội với cách mạng. Nó vừa đọc xong bản án thì thằng du kích VC, thằng đứng đầu mặc quần xà loỏn, quần đen áo đen, nó lấy súng AK bắn người đầu tiên, nó bắn rào, nó bắn rafale. Ông này bị trúng, ông lật ngược ra, đằng sau đâu có cái gì đâu, là cái hố!”
Ổng té xuống, quý vị biết không, mấy người sau đâu có trúng đạn gì đâu, cũng lăn xuống. Lăn và lộn, lộn vòng xuống, lật ngửa ra. (Ông T khóc rống lên) Nó bắt tôi lấp! Nó kêu lấp, lấp, lấp lẹ! (vẫn khóc) Tôi không lấp, nó đánh tôi. Tôi nhìn mấy người đó, tôi khóc, tôi khóc, khóc, khóc!
Không! Người ta còn sống mà lấp đi! Không! Thôi nó dọng báng súng tôi, súng AK nó dọng, nó dọng đằng sau xương sống tôi (vừa thở như bị ngộp, vừa khóc).
Chưa được, nó quay mũi lưỡi lê nó đâm tôi, nó đâm ba sườn tôi. Trời ơi, máu me nó đâm! Mấy thằng, thằng nào cũng khóc, nó đánh, nó đánh. Tôi phải lấp, phải lấp. Tôi lấp đồng bào tôi ( khóc nức nở ). Trời ơi, trời ơi, Thượng Đế coi này! Bây giờ tôi nhớ tôi có tội quá. Tôi nhớ mấy con mắt đồng bào, mấy người dưới hố ngó tôi. Trời, trời, trời, trời ơi VC ơi là VC! Không lấp thì nó đánh! Lấp thí bà con tôi chết! Thôi, thôi, lạy Phật, lạy trời, lạy Thượng Đế. Chưa có thằng nào nó tàn ác như vậy...
( Nam Dao thực hiện phỏng vấn. Tamthuc.com)
Hầu hết những hố chôn tập thể tìm thấy được, các xác nạn nhân đều bị trói từng chùm với nhau cả. Và đa số đều bị đập bể đầu vì cán cuốc.
Được hỏi vì sao Việt cộng lại tàn sát đồng bào man rợ đến như vậy, một trung tá Việt cộng bị bắt tên Hoàng Kim Loan, thành ủy viên hoạt động bí mật tại Huế 20 năm trả lời:
“ Đây là chủ trương bạo lực cách mạng của cấp trên chỉ thị. Thứ hai, trên đường rút lui, do không thể đem theo tù nhân, nên phải giết. Người Cộng sản chúng tôi có chủ trương thà giết lầm hơn bỏ sót”
Được hỏi tại sao không bắn họ, cho họ viên đạn còn dễ hơn lấy cuốc đập đầu và đẩy xuống hố, Loan nói:
“Đạn chúng tôi để bắn Mỹ Ngụy. Đạn đâu để bắn những đám người như vậy.”
Vì sao Việt cộng lại điên cuồng tàn sát người dân Huế?
Trong bài viết mới đây, 30/01/2008, “ Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 – Nét đặc sắc của Chiến tranh Nhân dân”, Nguyễn mạnh Hưởng (CS trong nước) đã thú nhận:
“ ...Để thắng kẻ địch, chúng ta phải phát huy cao độ ưu thế và sức mạnh của chiến tranh nhân dân, quân và dân ta phải có quyết tâm sắt đá...Quần chúng nhân dân trên các mặt trận nổi dậy có tổ chức, với khí thế quyết tâm cao, đặc biệt là tại thành phố Huế, quần chúng đã hăng hái tham gia vào các lực lượng chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong thành phố. Với 26 ngày đêm chiếm giữ thành phố Huế, thắng lợi của quân dân ta là nguồn vũ to lớn, thúc dục các đơn vị lực lượng vũ trang và nhân dân trên khắp các chiến trường tiến công và nổi dậy, tiêu diệt địch và dành quyền làm chủ...”
Cái mà cán bộ Hưởng gọi là “sức mạnh nổi dậy của quần chúng” thực tế đã trả lời cay đắng cho mộng tưởng. Người dân Huế đã không những không nổi dậy, không hưởng ứng mà lại ùn ùn lánh nạn cùng nhau chạy về phía quân đội VNCH để được bảo vệ.
Đó là lý do khiến cho quân Việt cộng tức giận điên cuồng nổi lên thú tánh, giết người trả thù cho hả gan.
Ông Trần Tiễn San, trung úy tiểu đoàn 39 Biệt Động quân đã tham gia tái chiếm Huế, kể lại:
“ Lúc đánh ở Vỹ Dạ, lực lượng chính của Việt cộng không còn nữa. Nhưng khó đánh vô cùng. Mình tiến từ nhà này sang nhà khác, nhà thì có kẽm gai, bờ tường. Mình thì bên này, dân chúng bên kia, họ thấy là đâm đầu chạy qua...”
Đây là chủ trương của Hà Nội, là dùng bạo lực cách mạng trấn áp dân Huế. Hà Nội tin là khi họ chiếm Huế, người dân Huế sẽ nổi dậy theo họ. Đó là một đánh giá sai lầm.
Người Huế sợ Cộng sản vô cùng. Vô cùng sợ. Khi Việt cộng tràn vô Huế, họ đến đâu, dân chúng bỏ chạy đến đó. Mà chạy thì họ bắn. Đó là sự thật. Những ai sống tại Huế thời đó đều biết.”
Hà Nội đã đánh giá sai lầm người dân Huế qua các báo cáo láo, nịnh bợ, tâng công của những tên nằm vùng ở Huế.
Những tên nằm vùng đó là ai?
Ngày nay thì mọi ngưòi đều đã nhẵn mặt những tên: Đóa, Tiềm, Tường, Phan, Xuân... Đó là những hung thần ác sát và năng nổ nhất trong việc chỉ điểm lùng bắt những ai không theo hoặc chống chúng.
Chúng ta nghe tiếp nhân chứng sống kể lại tội ác của một nhân vật điển hình trong số bọn này:
“Tôi xin kể với chị Nam Dao nghe là đến ngày mồng 2 Tết, mở mắt ra thì thấy VC đi vòng vòng. Người đầu tiên tôi thấy là ông thầy tôi, ông Tôn Thất Dương Tiềm. Ông dạy môn Việt văn cho lớp đệ tam chúng tôi, mà bây giờ gọi là lớp 10. Tôi đang học lớp đệ tam thì khi đó ông dạy tôi Việt văn. Thầy dạy tôi thế nào là thương đồng bào, yêu tổ quốc, yêu quê hương. Ông Tiềm là người mở cho tôi con đường thấy rõ được bổn phận của thanh niên là phải làm gì cho quê hương. Nhưng quý vị biết không, trời đất ơi, chính ông Tiềm lại là người dạy cho tôi thế nào là tàn ác của VC! Ông Tiềm là người vác súng K54, dưới thì ông mặc quần xanh xanh của cán bộ chính quy, trên thì ông mặc áo màu trắng, áo sơ mi.
Tôi thấy ông Tiềm lúc đó đang chỉ huy những người cũng mặc áo trắng, mặc quần bộ đội, tức là cán bộ, đeo súng K54 làm làm gì đó, nói sầm nói sì gì đó, sau đó mấy người đó mới chỉ trỏ cho mấy người mặc bộ đồ đen, tức là mấy thằng du kích VC. Trong đám đó tôi còn thấy anh Hoàng Văn Giàu nữa. Anh Hoàng Văn Giàu là một sinh viên học ở Huế.
Tôi phải sống mà chứng kiến những sự tàn sát theo lệnh của thầy Tôn Thất Dương Tiềm tại thành phố Huế, tại ngã tư Nguyễn Thành và Mai Thúc Loan tại khu thượng thành đó.
Sáng ngày mồng 2 Tết khi VC xuất hiện, nó bắt đầu xách ra... nó bắt ở đâu không biết, nó bắt ra được 5 người, nó trói tay sau lưng, một số còn mặc áo quần ngủ, một số mặc áo quần bình thường, mặc áo pijama, bộ đồ ngủ - đang ngủ ở nhà nó xách ra. Đến trưa trưa 11, 12 giờ ngày mồng 2 Tết, tôi thấy mấy thằng du kích nó dắt ra, dắt ra. Có mấy thằng loong toong VC nằm vùng cỡ như Hoàng Văn Giàu chạy theo đít, chạy theo, chạy theo, ra tới ngay chỗ cửa Đông Ba. Người ta trói cả rồi, bắt đầu đứng sắp hàng, xoay lưng vô thượng thành - thành cao lắm. Tôi thấy ông Tiềm sắp đủ 5 người, sắp lần lần 1, 2 ,3 ,4, bắt đầu 5 người. Tôi thấy đông, chạy tới tôi coi. Tôi cũng núp núp mà tôi coi. Tôi thấy ông Tiềm ra lệnh cho thằng cán bộ VC nói tiếng Bắc. Thằng đó mới ra lệnh cho thằng VC mặc bộ đồ quần đùi đen, bắt đầu giương súng bắn.
Trong đó tôi thấy có ông Quế ở tại đường Nguyễn Thành. Ông này hồi trước làm cảnh sát gì đó, bây giờ đã già rồi....”
40 năm, sau ngày bàn tay đẫm máu đồng bào Huế, những tên này không biết có hối hận ăn năn về tội ác của mình hay không, nhưng chúng luôn chối bai bải về tội ác của mình. Đứa nào cũng nói với tác giả “Giải khăn sô cho Huế” bà Nhã Ca rằng “chúng tôi chớ hề biết về các vụ thảm sát này và chúng tôi rất đau buồn”.
Hãy nghe tác giả “Giải khăn sô cho Huế” kể lại:
...Về “những nhân vật thật”, nêu đích danh chỉ có anh Lê Văn Hảo, thị trưởng Huế Mậu Thân do phía quân giải phóng cử ra. Anh Hảo nay đã tị nạn cộng sản tại Pháp, đã chính thức lên án việc quân giải phóng tàn sát dân Huế hồi Tết Mậu Thân. Nhân vật thứ hai trong sách mang tên Phủ là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nguyên Tổng Thư Ký Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hòa Bình Thành Phố Huế thời Tết Mậu Thân. Ðây là chức vụ “phụ trách công việc chính trị” có nghĩa là “xếp” của cả chức thị trưởng. Năm 1997, anh Tường đã đến Paris, lên tiếng trên đài RFI, nói về - xin trích nguyên văn: “nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Ðó là một sai lầm không thể nào biện bác được...” Anh cũng đã công khai “gửi lời cám ơn sự khách quan của chị Nhã Ca dành cho tôi” và nói nguyên văn rằng “Giải Khăn Sô Cho Huế đối với tôi, vẫn là một bút ký hay viết về Huế Mậu Thân; hàng chục năm qua đọc lại, tôi vẫn còn thấy quặn lòng.” Văn bản lời anh Tường trả lời cuộc phỏng vấn của chị Thụy Khuê đài RFI hiện còn lưu trên internet, ai cũng có thể đọc được. Nhân vật thứ ba trong sách có tên là Ðắc, theo lời kể mà tai tôi nghe, liên quan tới cái chết đau thương của người bạn tên là Mậu Tý. Nhà báo Nguyễn Ðắc Xuân, một phụ tá của anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, có viết bài phản bác, nói là anh không hề liên quan.
Cả ba nhân vật kể trên, đều đã có lòng đích thân đến gặp tôi trước ngày chúng tôi rời Saigon sang Thụy Ðiển.” .
Thủ phạm của vụ thảm sát là ai? Ai chịu trách nhiệm?
Đã 40 năm qua, đã 40 lần Việt cộng tổ chức ăn mừng, ca hát trên xác chết của hơn 6000 nạn nhân ở ở Huế, nhưng bọn chúng vẫn không hề nhận tội của mình đã ra lệnh tàn sát người dân Huế vô tội. Vậy ai là sẽ là kẻ chịu trách nhiệm về những cái chết oan khuất của nhiều ngàn người Huế trong tết Mậu Thân?
Đa số dư luận ở Huế đều nói rằng chính những thành phần thiên Cộng tại Huế, là đám sinh viên, đã thoát ly lên mật khu năm 1966 trong các phong trào sinh viên tranh đấu phải chịu trách nhiệm. Trong số này có những tên được đồng bào chỉ đích danh nhiều lần gồm có Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê văn Hảo, Tôn thất Dương Tiềm, Tôn Thất Dương Kỵ, Nguyễn văn Đóa...
Cả ông Lê văn Hảo từng là Chủ tịch Ủy Ban Nhân dân Cách Mạng Thừa Thiên vào thời ấy, bây giờ cũng chối tội:“Đó không phải là sự thật lịch sử. Tôi chỉ là một con tin(!) trong thế kẹt, phải nhận một chức vụ để bảo tồn sự sống còn để mong có ngày về với vợ con thôi. Chứ tôi nói thật, trong Tết Mậu Thân, vai trò của tôi hoàn toàn thụ động... Sự việc diễn tiến như vậy thì mình đi theo Cách Mạng thôi.”
“Khi lên trên núi, tôi biết ngay Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam chỉ là một trò bịp bợm, một tổ chức hữu danh vô thực của Cộng sản mà thôi, do Hà Nội chỉ đạo. Mà họ có dấu điều đó đâu.”
Thực ra cái bọn trí thức chồn lùi như Hảo, Tường, Phan, Xuân, Tiềm, Đóa... chỉ là bọn cò mồi ăn theo, nói leo, vượt thoát lên mật khu đã trở về thực hiện một số vụ hành quyết, chôn sống bạn bè để trả thù cá nhân còn thì làm công việc chỉ điểm để cho bọn Bắc Việt bắt bớ.
Theo ông Bùi Tín, cựu đại tá CS, đang tị nạn Cộng sản tại Pháp, “giữ một thái độ công bằng, nói có bằng chứng, không biết không nói, không yêu nên tốt, ghét nên xấu” theo cách nói của ông:
“ Riêng Mậu Thân, tôi biết Tổng Cục Chiến tranh Chính trị có in một chỉ thị - truyền đơn 10 điều kỷ luật chiến trường, đại để là: phục tùng mệnh lệnh, vào vùng giải phóng không quấy nhiễu dân, không lấy cây kim sợi chỉ của dân, làm dân vận, kẻ địch bỏ súng không được tự động giết ... Khi Thủy quân lục chiến cùng VNCH phản công, bộ đội được lệnh rút lên núi phía Tây Huế, cũng có lệnh giải theo tù binh lên núi, nhưng không được để tù binh thoát, lộ bí mật quân sự, chính đại tá Lê Minh, tư lệnh thành Huế ra Hà Nội kể cho tôi nghe chuyện này và cho biết các đại đội và tiểu đoàn đều có thủ tiêu tù bình. Tướng Trần văn Quang tư lệnh quân khu Trị Thiên-Huế chỉ bị “phê bình” khi chuyện tàn sát “hàng ngàn” tù binh đã xảy ra.
Hơn nữa, các đơn vị trừ gian của ngành an ninh, công an, bảo vệ quân đội đi theo các mũi tiến quân mới là những đơn vị trực tiếp tàn sát nhiều tù binh, họ dựa vào bọn cơ hội - học sinh, sinh viên nằm vùng làm chỉ điểm, tâng bốc là giác ngộ, yêu nước, cách mạng, bọn này lộng hành để cố chứng minh lòng “hăng hái cách mạng” và có khi trả thù cá nhân. Họ tàn sát, gây không khí khủng bố để hăm dọa toàn dân. Tôi cũng nói rõ đảng cộng sản hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi cuộc tàn sát trong chiến tranh, vì họ đã giáo dục căm thù kiểu nhồi sọ có hệ thống, tự nhận là có cả một nền khoa học giáo dục về căm thù giai cấp, coi quân lực miền Nam là kẻ thù không đội trời chung..”
Đã 40 năm qua, mỗi lần Tết đến, người miền Nam dù trong hay ngoài nước, nhất là người dân Huế, không ai là không đau lòng nhớ lại cái Tết Mậu Thân kinh hoàng đẫm máu. Chỉ riêng những con người cộng sản có máu lạnh mới thản nhiên tổ chức ăn mừng, nhảy múa, “hát trên những xác người”.
Thử hỏi một người còn có chút lương tri và nhân tính liệu có thể nào trở lại Bãi Dâu để mà vỗ tay ca hát, ăn mừng chiến thắng như có người đã từng: “Chiều đi lên Bãi Dâu, hát trên những xác người, tôi đã thấy những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em, xác người nằm trôi sông, trôi trên ruộng đồng, xác người nằm bơ vơ dưới mái hiên chùa, trong giáo đường, trền thềm nhà. Xác người nằm quanh đây, trong mưa lạnh. Bên xác người già yếu có xác còn ngây thơ...”
Đó là xác của những tên “phản cách mạng” “thành phần ác ôn có nợ máu với nhân dân” như lời phát biểu của tên đao phủ thủ Hoàng Phủ Ngọc Phan đã chủ trương giết lầm hơn bỏ sót đó ư?
Sau Tết Mậu Thân, với thảm trạng nhiều ngàn người dân vô tội ở Huế bị Cộng sản trói tay từng chùm với nhau đem chôn sống tập thể hoặc dùng đánh cuốc vào đầu nạn nhân vỡ sọ chết hàng loạt rồi vùi lấp trong các hố để trả thù, người ta càng rùng mình ghê rợn nhận rõ chân tướng loài Cộng sản là một loại ác thú có hình dáng giống người, nhưng không có tim, lại có máu lạnh, thích giết hại và ăn thịt đồng loại.
Riêng kiểu giết người bằng cách dùng cuốc đập đầu là phương pháp độc nhất vô nhị dã man của Cộng sản đã được tên Bộ trưởng Công An Trần Quốc Hoàn dùng để giết cô Nông thị Xuân, người vợ hờ của “Bác Hồ muôn vàn kính yêu” để phi tang vụ Bác làm cho cô có con. Phương pháp này truyền cho bọn MTGPMN, một thời, dùng để lùng giết, thủ tiêu viên chức Xã Ấp VNCH ở các vùng nông thôn hẻo lánh, hoặc dùng để khủng bố dân chúng không tiếp tế cho chúng.
Tết Mậu Thân, Việt Cộng lại áp dụng đại trà giết dân lành tại Huế. Và bọn Khờ Me đỏ Pol Pot cũng áp dụng kiểu này ở Cămpuchia để giết hại hàng triệu dân mình. Cộng sản thì ở đâu cũng ác độc giống nhau.
Mỗi độ tết về, dù nhà cầm quyền Cộng sản cố tình tổ chức rình rang, “hoành tráng” cách mấy chăng nữa để gọi là ăn mừng chiến thắng Tết Mậu cũng vẫn không cách gì che đậy được tội ác của mình với toàn thể nhân dân Việt Nam nói riêng, nhân loại nói chung.
Năm 1975, khi mới tiến vào miền Nam, nghĩa trang trên núi Ba Tầng, còn gọi là núi Bân, nơi an táng khoảng 400 thi hài tìm được nơi khe Đá Mài vùng Đình Môn Kim Ngọc lập tức bị Cộng sản đập phá tan hoang để hòng bôi xóa vết tích tội ác của mình, cũng đủ nói lên cái “đạo đức cách mạng” mà hiện nay nhà nước ta đang phát động học tập. Oan khiên và thảm thay cho người chết hai lần.
Đào Hiếu, một sinh viên miền Nam đã từng một thời với Huỳnh tấn Mẫm, Nguyễn tấn Tài, Cao thị Quế Dương, Võ thị Thắng v.v...... nhẹ dạ, ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, đã sớm sáng mắt sáng lòng, nhận ra mặt thật của đảng CS, đã tố cáo sự man rợ tàn ác của Cộng sản trong nhiều tác phẩm của mình.
Trong cuốn tự truyện mới nhất, 2008, nhan đề “Lạc đường”, Đào Hiếu đã vạch rõ: “Hóa ra thiện hay ác, văn minh hay man rợ không phải do dân tộc mà là do chính quyền. Chính quyền man rợ sẽ đẩy dân tộc mình vào man rợ”.
Đào Hiếu muốn nói cái chính quyền man rợ nào ở đây?
Nguyễn Thanh Ty

Một hình ảnh tiêu biểu sau cuộc Thảm sát Mậu Thân do Việt cộng thực hiện tại Huế, những mảnh xương còn in dấu vết bị Việt cộng đập chết bằng cán cuốc hoặc báng súng. Nguồn: Ở khắp nơi trên thế giới đều có lưu trữ tài liệu và những hình ảnh kinh hoàng này.
Năm Mậu Thân 1968, HT Thích Đôn Hậu đã lên đài phát thanh MTGPMN kêu gọi, "Chư Tăng, Ni và đồng bào Phật tử đoàn kết với nhau, nhất tề đứng lên đánh đuổi Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Đế Quốc và bất hợp tác với tay sai Đế Quốc".
Kèm theo HT Thích Đôn Hậu phải kể tới Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Hoàng Phủ Ngọc Tường hiện sống ở Huế (1992), có chân trong ban biên tập của tạp chí Sông Hương, cùng với các tạp chí như Tuổi Trẻ, Văn Nghê.... Đã phổ biến các tác phẩm của những tác giả như Dương Thu Hương, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Huy Thiệp, Lưu Quang Vũ...nhà xuất bản Văn Uyển ( Hoa Kỳ ) đã giới thiệu Hoàng Phủ Ngọc Tường qua truyện ngắn "Tìm Ma Phiêu Du Ký" trong tuyển tập Văn Chương Đối Kháng Quốc Nội xuất bản vào tháng 5/1990. Nhưng ông ta là ai và đã làm gì ?
HPNT được về giảng dạy môn Việt Văn trường Quốc Học Huế vào năm 1961, thời ông Đinh Qui làm hiệu trưởng và ông Văn Đình Hy làm giám học, vào thời đó Huế có 2 giáo sư dạy Việt Văn nổi tiếng, ở trung học đệ nhất cấp có Tôn Thất Dương Tiềm, ở đệ nhị cấp có HPNT, mãi đến sau khi trận tấn công Mậu Thân của VC vào thành phố Huế chấm dứt, cơ quan an ninh VNCH mới biết rõ sự liên hệ 2 người này với CS.
HPNT trưởng thành tại Huế, có người em ruột tên là Hoàng Phủ Ngọc Phan, gia đình ở Thành Nội, thuộc thành phần trung lưu, sau khi đỗ xong Tú tài hai, Tường được gia đình cho vào Saigon học Đại học Sư Phạm Triết, ra trường, Tường có luôn bằng cử nhân văn chương, mang triết áp dụng vào văn chương, giáo sư HPNT có một lối giảng dạy rất mới lạ so với các giáo sư Việt Văn khác, chỉ dựa vào các sách của Dương Quảng Hàm, Nghiêm Toản, Hà Như Chi....để soạn bàị Học sinh các lớp văn chương rất mến mộ ông vì Tường dạy hay, dù dáng người ốm, cao cỡ 1.6m, nhưng giọng nói rất tốt, giảng bài hấp dẫn, cách phục sức giảng dị, thân tình với học sinh, thầy Tường lúc nào cũng có vẻ như một nhà triết học, trở thành thần tượng của giới trẻ lúc bấy giờ.
HPNT có người yêu tên là HTTN, cũng ở Thành Nội Huế, nữ sinh viên Văn Khoa, nhưng vì những trắc trở, 2 người không lấy nhau được, về sau, cô này lại là vợ của một trong những người bạn của Tường.
Số bạn thân nhất của Tường có thể đếm ở đầu ngón tay : Ngô Kha, Trịnh Công Sơn, Trần Quang Long. Trần Quang Long đã chết, Ngô Kha cũng đã chết, nguyên là giáo sư Việt Văn trường Hàm Nghi Huế, vợ Kha là em gái của Trịnh Công Sơn, cô này đã vượt biển, hiện sống tại Canada và đã tái giá. Trần Quang Long và Ngô Kha đều là những đồng chí của HPNT; năm 1964, Kha và Long lập ra nhóm Quán Bạn, thật ra đây chỉ là địa điểm ngụy trang nhằm để tuyên truyền chống chính phủ, năm 1966, cùng với Nguyễn Đắc Xuân, Ngô Kha thành lập Chiến Đoàn Nguyễn Đại Thức, năm 1970, Ngô Kha chủ biên tập san Tự Quyết (Ban biên tập gồm có Trịng Công Sơn, Đinh Cường, Bửu Ý), năm 1971, Ngô Kha chủ biên tập san Mặt Trận Văn Học Dân Tộc Miền Trung, đặt dưới sự lãnh đạo của
Thành ủy CS Huế, tháng 6/1973, trong một cuộc hành quân của Quân đội VNCH từ Phá Tam Giang đến cửa Tư Hiền, Ngô Kha đã bị bắn chết khi đang tìm cách vượt thoát vòng vâỵ
Sau khi biến động miền Trung chấm dứt vào giữa năm 1966 thì mãi đến tháng 10/1967, chính quyền Thừa Thiên, vị tỉnh trưởng lúc bấy giờ là Trung tá Phan Văn Khoa, mới kết thúc hồ sơ của HPNT và một số giáo sư dạy tại trường Trung học Bồ Đề Thành Nội Huế, liên quan đến những hoạt động cho CS, nhưng viên ty trưởng cảnh sát là Đoàn Công Lập, lại là một cán bộ CS nằm vùng, cho nên án lệnh bắt giữ những người trên chỉ được thi hành một cách lỏng lẻo, trong lúc đó thì CS đã hoàn tất kế hoạch tổng tấn công Tết Mậu Thân.
Hiệp định Geneva năm 1954, một số cán bộ CS tập kết ra Bắc, nhưng số khác được lệnh ở lại để bám trụ, trong đó có Nguyễn Đóa, gốc người Quảng Nam, ra Huế dạy Pháp văn tại trường Bồ Đề Thành Nội vào năm 1955, hiệu trưởng lúc bấy giờ là ông Lê Mộng Đạo, hoàn toàn không hay biết gì về việc mình đang điều khiển một trường trung học được xem là trung tâm tổ chức trí vận Trị Thiên và thành phố Huế; Nguyễn Đóa nhận lãnh trách nhiệm để xây dựng cơ sở nàỵ Đóa gả con gái cho Tôn Thất Dương Tiềm, được xem là giáo sư có thế lực nhất tại trường này và rất thân cận với tỉnh giáo hội PG Thừa Thiên.
Một thời gian sau, Tiềm vào tổ chức, trong tổ chức này còn có Võ Đình Cường, Hoàng Nguyên Cao Tự Phúc (tác giả các nhạc phẩm hay như Đàn Ơi, Xa Rồi), Phan Văn Vinh, Tôn Thất Dương Kỵ,... Tường lúc bấy giờ còn là cậu học sinh hiền lành, trầm tư, có khuynh hướng xã hội; trong lớp
Tường rất giỏi môn Việt Văn và môn Triết, Tôn Thất Dương Tiềm chú ý, móc nối và tuyên truyền. Năm 1961, Tường được bổ nhiệm về Trường Quốc Học, Tiềm giao cho Tường công tác xây dựng cơ sở trong giới học sinh và sinh viên; qua sự giới thiệu của các thầy ở chùa Từ Đàm, HPNT cùng với Nguyễn Khắc Từ (thư ký của GHPG Thừa Thiên) là bộ não của tất cả các cuộc xuống đường ở Huế trước ngày 1/11/1963.
Năm 1964, lợi dụng tình trạng hỗn loạn của nền Đệ II Cộng Hòa, cùng với một số cán bộ cơ sở như Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Đính, Trần Minh Thảo, Trần Duy Phiên...Tường gia tăng hoạt động trong giới trẻ như cho người nằm trong các ban đại diện học sinh, sinh viên, tổ chức các cuộc nói chuyện chống chính phủ, đòi trung lập hóa miền Nam VN, người Mỹ phải rút khỏi VN...
Cùng với một số giáo sư đại học như Tôn Thất Hanh, Lê Tuyên, Cao Huy Thuần...Tường nằm trong Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc, do BS Lê Khắc Quyến làm Chủ tịch, tuần báo Lập Trường là tiếng nói chính thức của Hội Đồng; bài quan điểm, do Cao Huy Thuần phụ trách, có tác dụng rất lớn tại Huế, Miền Trung, ngay tại Saigon và một số tỉnh Miền Tâỵ Cuối năm 1965, đầu năm 1966, Tường giao cho Nguyễn Đắc Xuân và Trần Mậu Tý thành lập Đoàn Sinh Viên Quyết Tử. Về sau nhóm của Tường biết rằng Tý là người của 1 đảng phái quốc gia đưa vào nằm vùng trong tổ chức sinh viên này, khi CS tràn vào thành phố Huế vào dịp Tết Mậu Thân 1968, Tường và Xuân đã lùng bắt Tý, Xuân là người đã xử tử Tý bằng cách bắn từng phát một.
Đoàn Sinh Viên Quyết Tử được huấn luyện quân sự trong vòng nửa tháng, được trang bị vủ khí nhẹ, và đặt dưới sự chỉ huy của Tường, Nguyễn Đắc Xuân và Trần Mậu Tý.
Đoàn Sinh Viên này được máy bay quân sự Sư Đoàn I đưa vào Đà Nẵng, thị trưởng của thành phố này là BS Nguyễn Văn Mẫn, người trách nhiệm quân sự ở đây là là Đại tá Đàm Quang Yên đều theo phe chống đốị Chính Tường là người đã tổ chức cuộc tấn công vào 2 làng công giáo Thanh Bồ, Đức Lợi, tạo ra những cuộc đổ máụ
Tháng 4/1966, Tường, Ngô Kha và Nguyễn Đắc Xuân thành lập Chiến Đoàn Nguyễn Đại Thức để chống lại quân đội trung ương. Tháng 5/1966, phong trào đấu tranh tại Huế bị dập tắt, Tường và Xuân "nhảy núi", riêng những người khác, như Nguyễn Đóa, Trần Minh Thảo chưa bị lộ diện, cho nên vẫn tiếp tục ở lại để xây dựng và phát triển cơ sở.
Cuối năm 1967, để chuẩn bị cho cuộc tấn công vào thành phố Huế về mặt chính trị, Tường đã âm thầm trở lại thành phố này và trú trong nhà Nguyễn Đóạ Sau mấy ngày thảo luận, Tường lên núị Lần này đi theo Tường có Thượng Tọa Thích Đôn Hậu, giáo sư Lê Văn Hảo, Nguyễn Đóa và bà Đào Thị Xuân Yến (tức bà Thuần Chi). Tối ngày 29 Tết, theo đài phát thanh Hà Nội, một tổ chức lấy tên là Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hòa Bình được thành lập. Chủ tịch là Lê Văn Hảo, các ủy viên gồm Thích Đôn Hậu, Đào Thị Xuân Yến, Tổng thư ký là Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ngày mồng 2 Tết, Tường đã có mặt tại Huế, cùng với Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan (em ruột Tường), Nguyễn Thị Trinh (con gái út của Nguyễn Đóa).
Theo tài liệu của Chính Đạo qua cuốn "Mậu Thân 68 : Thắng hay bại ?" thì "tại khu tả ngạn, dưới quyền Nguyên, các toán an ninh có 2 nhiệm vụ : lùng bắt các sĩ quan, viên chức cao cấp trong vùng, và bảo vệ một số khuôn mặt chính trị như Thích Đôn Hậu, bà Thuần Chi, Nguyễn Đóa, Lê Văn Hảo" (trang 139), nghĩa là toàn bộ lãnh đạo Liên Minh đều có mặt tại Huế trong cuộc Tổng tấn công.
Nhưng Lê Văn Hảo (hiện sống tại Pháp) đã trả lời cuộc phỏng vấn của Trần Nghi, đăg trên Quê Mẹ số 105 & 106 tháng 1/1990 :
"- Ông nghĩ sao về dư luận của đồng bào Huế cho là ông chịu trách nhiệm chính trong vụ thảm sát dân chúng Thừa Thiên
- Huế hồi Tết Mậu Thân?
- Dư luận đó không đúng. Thứ nhất, lúc quân đội CS đánh chiếm Huế, tôi không có mặt trong thành phố. Trước Tết 5 ngày, tôi được dẫn lên núi nói là mời họp và sau đó tôi phải ở lại luôn trên đó, không về lại thành phố lần nào cả. Cùng ở với tôi có Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Trong giới trí thức và văn nghệ sĩ tham gia MTGPMN lúc ấy có Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân là theo bộ đội về Huế và tôi được biết, đã từng ngồi xét xử nhiều người có quan hệ với chính quyền Saigon trong những phiên xử của cái gọi là tòa án nhân dân. Thứ hai, trên danh nghĩa, tôi là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên - Huế, tuy nhiên trên thực tế, tôi chẳng có tí quyền nào cả. Tôi chỉ là bù nhìn. Mọi quyền hành từ lãnh vực quân sự đến chính tri.....đều nằm trong tay các cán bộ cao cấp của CS" (trang 66).
Như thế, theo Lê Văn Hảo, trách nhiệm vụ tàn sát dân lành tại Huế một phần do nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường và phần khác do các tư lệnh quân sự, chính trị CS như Tướng Trần Văn Quang, Bí thư khu ủy Trị Thiên - Huế, Lê Minh, Bí thư thành ủy Huế, Lê Chương, Tư lệnh Mặt trận Huế... Nhưng dù ai chịu trách nhiệm đi nửa, thì lịch sử của VN cũng đã ghi đậm nét : chiếm Huế chưa đầy một tháng ( từ 30/1/1968
- 24/2/1968), CSVN đã tàn sát khoảng 7,000 dân vô tộị Họ bị giết bằng đủ kiểu: bị chặt đầu, bị chôn sống, bị mổ bụng... Một thời đại và nhiều thời đại có thể qua đi, nhưng lịch sử thì không bao giờ bị tảy xóạ Thật là bi thảm cho dân Huế.
Ngày 24/2/1968, bộ đội CS bị đánh bật ra khỏi thành phố Huế, tàn quân rút về rừng, trong đó có Nguyễn Đắc Xuân, Phan, Tường...để lại Huế những cảnh chết chóc, tan nát, đau thương. Gia đình Tường ở Huế bị đồng bào oán hờn, căm thù. Người đau khổ nhất là thân phụ của Tường; có lúc ông cụ gần như điên khùng. Tiếp tục đường cách mạng, Tường được đưa ra Hà Nội và rồi trở lại Huế vào năm 1972, móc nối với Trần Quang Long, Trịnh Công Sơn và Ngô Kha để xây dựng và phát triển cơ sở, nhằm mục đích phá hoại chính quyền trong giới học sinh, sinh viên và trí thức. Sau khi Long và Kha chết, người ta không còn thấy Tường hoạt động trong vùng này nữa. Ngày 30/4/1975, Tường vào Saigon, trong lần xuất hiện nói chuyện với giới trí thức, người ta thấy có Nguyễn Thị Trinh, Cao Thị Huế Hương (bà con với Cao Huy Thuần). Tường chỉ làm việc ở Saigon một thời gian ngắn, về sau được đưa trở lại làm việc tại Huế.
HPNT lớn lên ở Huế, bỏ Huế ra đi vào năm 1966, trở về Huế và ra đi vào khoảng đầu năm 1968 sau khi để lại những giải khăn sô. Một vài nhà biên khảo cho rằng Tường và Hảo là bạn học với nhau, chính Tường là người móc nối Hảo với Tiềm và Đóa. Ngày nay, Hảo tỵ nạn chính trị tại Pháp, còn Tường thì vẫn đi đi về về với núi Ngự sông Hương. Đồng bào cố đô và Tường nhìn nhau mỗi ngày...
Vài vần ca dao về Huế :
Cầu Trường Tiền, sáu vài, mười hai nhịp
Em qua không kịp, tội lắm anh ơi !
Bấy lâu ni chịu tiếng mang lời,
Dẫu có xa nhau đi nữa, cũng bởi ông Trời mà xa...
hay
Sông Hương từ thuở Uyên đi
Nước trôi lặng lẽ tà huy cấm đò
Nam Bình đã dứt đường tơ
Hồi chuông Thiên Mụ xa đưa tiếng sầu
Bến Thương Bạc, Phú Văn Lâu
Sương thu che khuất nhịp cầu Giả Viên
Còn đâu sáu nhịp Tràng Tiền
Thời gian gió loạn xô nghiêng vài bờ
Cao cao, vời vợi Cột Cờ
Ba mươi năm cũ, phất phơ đổi màu
Bây giờ còn nhớ đến nhau
Thì trao ánh mắt trên cầu rồi qua...
hay
Ru em, em ngủ cho muồi
Cho mẹ đi chợ, mua vôi ăn trầu
Mua vôi Chợ Quán, Chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh
Chợ Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim...
hoặc
Chợ Đông Ba đem ra ngoài Giại
Cầu Tràng Tiền đúc lại si mon
Ơi người lỡ hội chồng con
Vô đây gá nghĩa vuông tròn được không?...
******************************************************************************
01/29/10. 06:22:25 am. 27304 words, 117 views. Categories: Liên kết blogs, Tôn giáo và tín ngưỡng, Xã hội và nhân văn ,
PHAN KHẮC TỪ TÊN LÍNH XUNG KÍCH VÔ DỤNG CỦA TẬP ĐOÀN BÁN NƯỚC HÀ NỘI

Linh mục gia nô Việt cộng Phan Khắc Từ - Ảnh: vietnamnet
PHAN KHẮC TỪ TÊN LÍNH XUNG KÍCH VÔ DỤNG CỦA TẬP ĐOÀN BÁN NƯỚC HÀ NỘI
Source: honviet.uk
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Sau khi Việt gian Cộng sản đã thâu tóm được chính quyền về tay nhân dân (nói theo giọng điệu bịp của VGCS) thì trong giới linh mục công giáo người ta mới thấy rõ những ai là cộng sản chính chuyên, nhãn hiệu con nai vàng. Vương Đình Bích, một tên quốc doanh trong nhóm Lũ 4 Tên, vì một vụ đụng độ nhau, ngày 25-12-1997 đã viết thư gởi lãnh đạo Thành Hồ nói huỵch toẹt chẳng cần giấu diếm rằng: “Tôi đã thành khẩn nói với hai anh Từ và Cần là vấn đề thật của tổ chức chúng ta, không phải nhóm nghiên cứu mà là nhóm 4 anh em chúng tôi, Minh - Cần - Từ – Bích đã được lãnh đạo gầy dựng và giao nhiệm vụ điều động phong trào công giáo yêu nước tại thành phố này.” Bốn anh em chúng tôi đây là các tên Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, và Vương Đình Bích. Giáo dân quen gọi bọn này là Lũ 4 Tên, hay Tứ Nhân Bang. Kể cả những ông áo đen kỳ cựu như Hồ Thành Biên, Nguyễn Thành Trinh và những người khác, hết thẩy đều chỉ là thứ cỏ đuôi chó, chứ không phải CS có license. Sau ngày đổi đời, chúng ta thấy Phan Khắc Từ thế giá như thế đấy. Nhưng trước đó thì hắn được mọi người gọi bằng một cái tên đặc sệt mùi chợ búa là “ông Linh mục hốt rác”. Hắn là một linh mục công giáo thiệt, và làm nghề hốt rác thiệt.
Khoảng đầu thập niên 1970, dân Sàigòn lao xao đồn thổi về hiện tượng các linh mục dấn thân làm các nghề lao động chân tay để truyền giáo. Những vị khác như Đức TGM Nguyễn Kim Điền, lúc đó còn là linh mục, làm nghề đạp xích lô, thì rất ít người biết đến, bởi vì các ngài làm Tông Đồ cho Chúa thiệt, nên không muốn khoa trương. Trừ ra Phan Khắc Từ, sau một bài phóng sự có tiêu đề "Linh mục hốt rác" đăng trên báo Đại Dân Tộc (?) ở Saigon, đã trở thành một hiện tượng được rất nhiều người chú ý đến. Phóng sự kể về ông linh mục trẻ Phan Khắc Từ tự nguyện xin đi làm công nhân hốt rác để được sống như một anh công nhân hạng D. Việc phóng ra tên tuổi và tô vẽ cho Phan Khắc Từ, một tên CS còn trong bí mật lúc đó, nằm trong kế hoạch dân vận của VGCS.
Tuy Phan Khắc Từ đi hốt rác, nhưng hắn không phải đụng đến cái chổi, và luôn luôn phô trương cái mark linh mục của mình cho mục đích của hắn. Những người công nhân hốt rác khác thấy hắn là một ông cha nên kính nể, và chuyện gì cũng nghe theo hắn. Cái lợi trước mắt là hắn đi làm không phải mang cơm nước theo, mà được các công nhân cơm bưng nước rót tận miệng. Có lúc hắn uống rượu với công nhân say xỉn mất hết tư cách ngay bên cạnh đống rác hôi thối. Hắn đã giác ngộ “cách mạng” và thường thân thiết tâm sự với các anh chị em công nhân: “Tôi được sống trong hoàn cảnh giáo hội toàn cầu đã thức tỉnh. Hiến chế mục vụ của cộng đồng Vatican 2 cứ vang vọng mãi trong tôi. Sao nhãng bổn phận trần thế, tức là sao nhãng bổn phận đối với tha nhân và hơn nữa đối với Thiên Chúa, khiến phần rỗi đời đời của mình bị đe dọa. Gần hơn, vừa lúc bắt đầu cuộc đời linh mục, tôi còn được nghe, được thao thức với những lời sám hối chân thành và những quyết định mạnh mẽ của một giáo hội Á châu nhỏ bé, vốn giàu có về văn hóa, tôn giáo, nhưng lại đau khổ, đói nghèo.”
Năm 1969, lần đầu tiên Phan Khắc Từ được đi dự đại hội Thanh Lao Công thế giới có xu hướng thân cộng tại Liban, được Mạc Tư Khoa đỡ đầu và tài trợ. Phan Khắc Từ nuôi ý tưởng phản bội Quốc Gia từ trước. Tại đại hội này, nhiều phái đoàn thanh niên công giáo lên tiếng đòi Mỹ rút quân, trả lại quyền tự quyết cho Việt Nam, và gọi chính quyền VNCH là bù nhìn, nên hắn càng thêm quyết tâm theo CS hơn. Sau Đại Hội Liban, hắn ở lại Âu Châu. Hơn một năm tại Pháp, Phan Khắc Từ ngả hẳn theo khuynh hướng Thần Học Giải Phóng của nhiều giáo sĩ Mỹ Châu La-tinh, với phong trào Thanh Lao Công làm điểm tựa, cũng đồng thời là môi trường hoạt động cho hắn. Hắn rất ngưỡng mộ vị Giám Mục đỏ Helder Pessoa Camara người Brazilian, và linh mục Camilo Torres Restrepo, người khởi xướng đội du kích chiến đấu tại Columbia, và phát động phong trào Thần Học Giải Phóng tại Mỹ Châu La-tinh. Tại Paris, Phan Khắc Từ tham gia đình công, biểu tình đòi công bằng cho giới lao động, tham gia nhiều cuộc biểu tình của sinh viên và công nhân đòi hòa bình cho Việt Nam. Đánh dấu bước quay đầu phản bội quan trọng nhất của Phan Khắc Từ là trong thời gian ở Pháp, hắn đã đến gặp mụ Nguyễn Thị Bình, trưởng phái đoàn thương thuyết của cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để xin được ra bưng theo CS. Thị Bình bảo hắn hãy trở về Saigon chế bom xăng đánh Mỹ trong thành phố. Và Từ đã làm theo đúng như vậy.
Cuối năm 1970, Phan Khắc Từ trở lại Sài Gòn và lập tức hăng hái nhập cuộc với các phong trào đấu tranh tại đây. Hắn bắt đầu bằng sự góp mặt trong Mặt trận Nhân dân Tranh thủ Hòa bình, rồi phong trào học sinh, sinh viên đòi quyền sống, phong trào chống tăng học phí, chống độc diễn, đốt xe Mỹ trên đường phố v.v... Nhà thờ Vườn Xoài trở thành nơi chế tạo bom xăng cho phong trào đốt xe Mỹ. Sau vụ đình công năm 1971 của công nhân hãng pin Con Ó để làm trở ngại cuộc hành quân Hạ Lào của QLVNCH, Phan Khắc Từ bị cảnh sát Saigon bắt nhốt vào khám Chí Hòa cùng với các tên Trương Bá Cần, Trần Thế Luân và Nguyễn Ngọc Lan. Cả ba cũng là linh mục. Sau một tuần được thả ra, bọn này còn làm eo với cảnh sát: "Chúng tôi chỉ ra cùng với các anh em công nhân khác." Cảnh sát bèn đưa cả ba lên xe, chở ra Quốc Lộ 4, đường về Lục Tỉnh, đẩy xuống vệ đường giữa cánh đồng vắng trong đêm khuya.
Năm 1974, VGCS dựng lên cái gọi là Ủy ban bảo vệ quyền lợi lao động miền Nam. Nhờ nổi tiếng là linh mục hốt rác, Phan Khắc Từ được bầu làm chủ tịch ủy ban này. Từ ký tên gửi thư cho đại sứ Hoa Kỳ tại VN, tố cáo người Mỹ khinh miệt giới công nhân Việt Nam và đe dọa phát động chiến dịch chống sa thải. Người Mỹ đã biết bọn này là ai rồi nên họ tỉnh queo. Bọn này cũng tổ chức nhiều cuộc biểu tình chống tham nhũng và tố cáo Mỹ và VNCH vi phạm Hiệp Định Paris.
Năm 1974, Phan Khắc Từ vào bưng một tuần lễ để thụ huấn nghiệp vụ khuấy đảo, và khóa học khủng bố trong thành phố. Cũng trong năm này, hắn bị sa thải khỏi sở rác. Từ bèn nhảy sang hoạt động từ thiện trong một tổ chức CS trá hình khác là Mặt trận nhân dân cứu đói do hòa thượng Thích Hiển Pháp làm chủ tịch, và Từ làm phó chủ tịch. Phan Khắc Từ tâm sự: “Từ đó, tôi rất thân thiết với nhà chùa, tôi di chuyển hết nhà chùa này sang nhà chùa khác để tập hợp quần chúng, tố cáo chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và phát gạo cho dân nghèo tại nhiều tỉnh từ miền Nam ra miền Trung. Kể cũng thú vị, nhiều đêm tối, một linh mục công giáo nằm gác chân với vài vị sư trên tấm phản, thì thầm bàn chuyện quyên góp, làm từ thiện.”
Từ sau 30-4-75 cho đến nay, Phan Khắc Từ luôn luôn cố thủ trong cái gọi là Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo, mà người dân miền Nam thường gọi mỉa là “ủy ban đàn két” hoặc “ủy ban đàn két gươm giáo”. Về nhân sự, tính đến cuối năm 2008, người ta đã tổng kết cái ủy ban này như sau: Theo báo cáo của UBĐK, hiện nay tổ chức này đã phát triển ra 39 tỉnh thành (trong 65 tỉnh thành cả nước), với hơn 400 linh mục, tu sĩ tham gia ủy ban các cấp. Theo điều tra của chúng tôi, ở trung ương, khóa 4 có 104 vị ghi danh, trong đó có 62 linh mục, tu sĩ. Thế nhưng, nhiều người nói đấy là “Hội của những người siêu cao tuổi” vì có tới 94 vị từ 60 tuôỉ trở lên (chiếm 91,2%). Số dưới 50 tuổi chỉ có 10 người (8,8%). Có những linh mục điếc nặng, hơn 100 tuổi như linh mục Nguyễn Chu Trình (đã mất). Có những linh mục đi họp phải có người cõng. Có một số “lẩm cẩm” nặng, nói không ai hiểu gì. Ông Vũ Thái Hòa nguyên chuyên viên Ban Tôn giáo Chính phủ cũng là ủy viên UB phải đi họp trên lưng đứa cháu. Ông Vũ Văn Chuyên trên ngực phải có biển đề số nhà, điện thoại, sợ đi lạc đường, công an biết lối đưa về… Có nhiều linh mục chỉ ghi danh, đi họp là một lần ra Hà Nội miễn phí máy bay để thăm bạn bè, chữa bệnh. Có một số chỉ đi họp một lần rồi biến mất tăm, như linh mục Trần Đức Hạnh (Cao Bằng). Ở Hà Nam, người ta cũng ghi danh 5 linh mục nhưng không thấy có ai xuất hiện. Tại một số nơi như Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Ban tổ chức chỉ xin các linh mục ghi danh và đến chụp một tấm hình mà cũng không được…..
Phan Khắc Từ nằm trong cái ủy ban đàn két gươm giáo với chức vụ tổng thư ký, kiêm phó chủ tịch ủy ban, nhưng thực chất là chỉ để cho có mặt, đồng thời để theo dõi và quản lý ủy ban về mặt tư tưởng. Những chỗ hắn cần có mặt, trước hết là tại quốc hội để kiếm tí danh hão với đời. Phan Khắc từ làm đại biểu quốc hội CS 3 khóa từ 1987 đến 2002. Sau đó, tuy còn thèm muốn lắm, nhưng hắn đã trở thành con chó già vô dụng trong đàn chó săn của tên thợ rừng rồi. Chỗ thứ hai hắn muốn có mặt là nơi cai quản của một ông cha xứ. Tên giết người khét tiếng Lê Đức Thọ đã xây cho hắn ngôi thánh đường nguy nga đồ sộ trên đường Trương Minh Giảng, Saigon, gọi là nhà thờ Vườn Xoài để trả công cho hắn đã đắc lực giúp VGCS đuổi Mỹ. Đây là cơ ngơi, đúng hơn là nhà tư của hắn chứ chẳng phải là nhà thờ. Cho dù Đức Giáo Hoàng chứ chưa nói đến giám mục, tổng giám mục, hay hồng y, có thể đẩy hắn ra khỏi cái giang sơn này của hắn được. Và nơi thứ ba hắn muốn có mặt là những chỗ nào kiếm ra tiền.
Phan Khắc Từ ham tiền không phải là chuyện lạ, vì hắn có vợ con. Không phải ai có vợ con cũng là người tham lam tiền bạc cả. Phan Khắc Từ thì khác, đó là bản tính của hắn nữa. Số vốn của tờ báo Công Giáo và Dân Tộc được tài trợ bởi Lm Nguyễn đình Thi ở Pháp tới gần 150.000 dollars. Tiền vay thêm để tự kinh doanh cho việc điều hành tờ báo, như xí nghiệp làm bút bi, làm quạt trần, lập công ty may mặc, đầu tư trồng cao su với Singapore, lập khách sạn, mở trường dậy ngoại ngữ, trường dạy nghề, và máy computer v.v... Tất cả những cơ sở làm ăn trên đều do Phan Khắc Từ quản lý. Từ tiền bạc, quyền hành, đến đàn bà, tất cả Phan Khắc Từ thâu tóm vào trong tay hắn. Đây chẳng phải là những lời đồn trong thiên hạ, mà là từ trong nội bộ ủy ban đàn két đấu đá nhau rồi khui ra. Vương Đình Bích vạch trần những chuyệm lem nhem của Phan Khắc Từ công khai trên giấy trắng mực đen. Bích viết: "...về những biểu hiện suy thoái đạo đức trong đời tư của người thường trực UB Đoàn Kết, liên quan đến kinh doanh, tiền bạc và tình dục, gây hệ qủa xã hội là hai đứa con. Xét theo giáo luật, đương sự không còn tiêu chuẩn khách quan của luật độc thân để tiếp tục hoạt đông mục vụ và đại diện cho phong trào đoàn kết công giáo với tư cách linh mục của giáo hội". Cái ủy ban đàn két chia rẽ như thế mà dám mạ vàng hai chữ đoàn kết trên cái bảng hiệu của mình thì đúng là cùi không sợ lở.
Phải nhìn nhận rằng, Phan Khắc Từ là một con người khéo xoay xở. Những chức vụ trong ủy ban không kiếm ra tiền, mà có kiếm ra cũng chẳng bao nhiêu. Vả lại đấy là tài sản chung của ủy ban. Sau khi thôi không còn làm đại biểu quốc hội nữa, Phan Khắc Từ xoay qua làm nghề từ thiện, nuôi đà điểu và gia súc. Hiện nay hắn làm chủ 3 cơ sở từ thiện mang tên là Thiên Phước. Cơ sở Thiên Phước của Từ thường được nói đến nhiều nhất là nhà nuôi dưỡng và bảo trợ 130 trẻ em khiếm thị (mù) mà Từ rêu rao là nạn nhân chất độc da cam, tọa lạc tại ấp 6, xã An Nhân Tây, huyện Củ Chi.
Chuyện lem nhem làm mất mặt Phan Khắc Từ nhất là vấn đề vợ con. Khi Từ còn là một phu hốt rác, VGCS đã bố trí bên cạnh hắn một ả nữ sinh tên là Tư Liễu, một cán bộ hoạt động nội thành. Sau ngày 30-4-75, điều nghi ngờ của đám phu hốt rác bên cạnh Phan Khắc Từ đã trở thành hiện thực. Từ và Tư Liễu sống chung với nhau thành vợ chồng, tuy vẫn còn e dè kín đáo. Hơn một năm sau họ có con. Đứa con đầu lòng được Tư Liễu tổ chức ăn thôi nôi rất linh đình. Liễu làm cửa hàng trưởng một cửa hàng lớn của quận Bình Thạnh nên y thị mời đông đủ bọn cán bộ từ cấp huyện trở xuống. Vì thế, chuyện “linh mục” Phan Khắc Từ có vợ con đổ bể tùm lum. Một anh bạn tù của kẻ hèn này là anh em tinh thần trong nhà tu với Phan Khắc Từ, trước kia là sĩ quan trưởng chi an ninh quận Cái Bè, sau khi được thả, đã tìm đến thăm Từ. Anh ta bắt gặp cả vợ con Từ. Hắn không còn đường chối cãi nên đành phải thú nhận: “đảng đã tác thành cho chúng tôi.” Phan Khắc Từ nói đúng. Đảng, chứ chẳng bao giờ Chúa tác thành cho hắn. Hắn vâng lời đảng hơn là vâng lời Chúa, dù hắn là linh mục.
Việc một ông linh mục công khai có vợ con vẫn được coi xứ, đêm ngủ ôm vợ mà vẫn sáng ngày ra nhà thờ dâng Thánh Lễ, lại vẫn còn được dơ tay tha tội cho bổn đạo, là một chuyện vô tiền khoáng hậu trong Giáo Hội Công Giáo. Có ông cha nào như thế nhưng lén lút chúng tôi không nói. Phan Khắc Từ hắn ngang nhiên và công khai. Sự việc này gây liên lụy đến vị giám mục bề trên của Từ, hiện nay là Hồng Y Phạm Minh Mẫn. Có rất nhiều giáo dân lên tiếng thống trách HY Mẫn là người để cho hiện tượng phản đạo này xẩy ra trong phạm vi trách nhiệm của ông. HY Mẫn không thể nói không biết, bởi vì dư luận đồn thổi tùm lum, Lm Vương Đình Bích trong giáo phận của ông đã lên tiếng công khai tố cáo, và nếu cần, HY Mẫn có thể cho người điều tra sẽ rõ trắng đen thôi. Kẻ phạm thánh vẫn hàng ngày thi hành chức vụ thánh, bề trên biết nhưng làm ngơ cho việc phạm thánh kéo dài. Như vậy thì đó là Phúc Âm hay là phản chứng của Phúc Âm? Chỉ tội nghiệp cho đám con chiên khù khờ, theo Chúa mà như người mù đi trong đêm tối, không biết đâu là chính đường, đâu là hố thẳm.
Với một đời tư bê bối như thế, cho nên trong đạo ngoài đời chẳng còn ai tin tưởng Phan Khắc Từ. Đức cố HY Phạm Đinh Tụng trước đây đã có lần cấm Phan Khắc Từ không được làm lễ trong Tổng Giáo Phận Hà Nội của ngài. Trong khóa họp đầu năm 2010 của ủy ban đàn két, Phan Khắc Từ dẫn một phái đoàn đến viếng thăm tòa TGM Hà Nội nhưng không được tiếp đón. Cũng trong dịp này, Từ còn dẫn phái đoàn đến thăm tên tướng già Võ Nguyên Giáp, nhưng cũng bị Giáp từ chối luôn. Cái ủy ban đàn két của Phan Khắc Từ lúc này hơn kém chỉ là cái thây ma, Từ muốn vực dậy để gây thanh thế cho mình, nhưng hết cách. Nhà báo Nguyễn Kế Nghiệp thư ký tòa soạn báo Người Công Giáo VN, là một đảng viên CS không công giáo, có lần nói với một người bạn của ông: Ông có biết vì sao cái UBĐK vẫn còn tồn tại đến nay không? Nhà nước cũng muốn dẹp cái cây cảnh héo này lắm rồi, nhưng dẹp thì mấy chục cán bộ ở ủy ban và Báo làm gì mà sống? Tôi đố tay nào ở cơ quan này đi xin nổi việc ở nơi khác vì có biết làm gì đâu, tối ngày chỉ ngồi ăn sẵn, và dọa nhà nước về nguy cơ của Vatican để nhận lương mà thôi!
Vì thế mọi người mới chưng hửng, nhưng không lấy làm ngạc nhiên khi thấy Phan Khắc Từ chường mặt ra bênh vực cho bọn phá đạo trong vụ Đồng Chiêm. Từ tuyên bố chắc nịch, VN hoàn toàn có tự do tôn giáo. Hắn còn kêu gọi trừng trị những ai lợi dụng tự do tôn giáo để làm những việc sai trái. Việc bọn bán nước huy động cả đến một trung đoàn trừ gồm bộ đội, công an, và du đãng ban đêm lên Núi Thờ chỉ để phá bỏ cây Thánh Giá trên đó là một hành động triệt hạ tôn giáo chứ còn nghi ngờ gì nữa. Cả thế giới lên án bọn côn đồ Việt gian bán nước, chỉ trừ có “linh mục” Phan Khắc Từ cho rằng đó là một hành động chính đáng của nhà nước, và còn kêu gọi phải trừng trị những nạn nhân của hành động triệt phá này. Người ta đặt câu hỏi tại sao Phan Khắc Từ lại dang thân ra làm công việc điên khùng như thế. Câu trả lời là hắn muốn tranh cái chức Tổng Biên Tập tờ báo Công Giáo Và Dân Tộc của cái ủy ban đàn két. Chức vụ này trước đây nằm trong tay Trương Bá Cần. Cần theo chân Hồ đi chầu Diêm Vương đã hơn nửa năm rồi, và chức vụ đó vẫn còn để trống. Người có khả năng điền khuyết là Thiện Cẩm, nhưng Thiện Cẩm không được VGCS tin cẩn bằng Phan Khắc Từ. Để cho chắc ăn, nhân vụ Đồng Chiêm, ông linh mục Phan Khắc Từ nhẩy ra giúp đảng đập con chiên của mình để lấy credit làm cái giá mua chức Tổng Biên Tập báo Công Giáo Và Dân Tộc. Hắn đã được toại nguyện, mặc dù Phan Khắc Từ chẳng biết báo chí là cái con mẹ gì.
Phan Khắc Từ tưởng rằng một ông linh mục tổng biên tập tờ báo công giáo độc chiếm trong nước đứng ra bảo đảm rằng VN có tự do tôn giáo là cả thế giới sẽ tin. Nhưng hắn đã lầm. Từ Hải Phòng hắn trốn chạy CS vào Nam lúc 15 tuổi. 15 năm sau, hắn trở thành linh mục, nhưng không phải là linh mục của Chúa, mà là của Satan. 72 tuổi đầu hắn còn tình nguyện làm một tên lính xung kích cho CS để kiếm một chút hư danh cỏn con. Hắn không biết hắn chỉ còn là một tên lính vô dụng, nói cho tượng hình hơn, là một con chó săn tồi cho bọn Việt gian bán nước tại Hà Nội, vì cuộc đời, lối sống, và tư cách của hắn chỉ là một chuỗi phản bội, bê tha tiền bạc và tình dục. Hắn đã trở thành con người hoàn toàn mù lòa. Hắn có tham vọng đem lại ánh sáng cho các em bé khiếm thị tại trung tâm ở Củ Chi của hắn. Thế nhưng rất tiếc, hắn không có ý hướng và khả năng làm cho đôi mắt của mình hết mù được.
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
01/29/10. 03:00:54 am. 5583 words, 129 views. Categories: Thiên hạ sự, Hậu trường, Liên kết blogs, Tôn giáo và tín ngưỡng, Xã hội và nhân văn ,