Category: Khoa học kỹ thuật

PHIM TÌM HIỂU VỀ TRÁI ĐẤT: AMAZING EARTH & TECTONICS

NĂM LINH MỤC: MỘT THOÁNG NHÌN VỀ NHỮNG LINH MỤC - KHOA HỌC GIA


Linh mục Julius Nieuwland trong phòng thí nghiệm

Năm Linh Mục: Một thoáng nhìn về những linh mục-khoa học gia
Source: VietCatholic News, Australian Ejournal Of Theology

Ngày 12 tháng 3 năm 2008, Tổ chức John Templeton Foundation loan báo tên người đoạt giải Templeton hàng năm; giải này vinh danh những thành quả đạt được trong lãnh vực liên quan đến những vấn nạn lớn trong cuộc sống con người và vũ trụ. Giải thưởng năm 2008 trị giá 1 triệu 600 ngàn mỹ kim về tay Michal Heller, một nhà vũ trụ học người Ba lan, là giáo sư tại phân khoa triết học Viện Thần học Giáo hoàng tại Cracow, nước Ba lan. Một điều làm cho Heller thêm phần đặc biệt, vì ông là một linh mục Công giáo.

Vị linh mục 72 tuổi này cho biết có dự tính dùng số tiền đoạt giải này để thiết lập một viện nghiên cứu – tên viện nhằm vinh danh nhà thiên văn học Nicholas Copernicus -- với mục đích tìm cách hoà giải giữa khoa học và thần học. Cha phát biểu:

Nếu chúng ta nêu ra câu hỏi về nguyên nhân của vũ trụ, chúng ta nên đặt câu hỏi về nguyên nhân của các luật toán học. Làm như thế, chúng ta trở lại bản vẽ thiết kế lớn lao trong suy tư của Thiên Chúa về vũ trụ; câu vấn nạn về nguyên nhân tối hậu: Tại sao có còn hơn không có? Khi đặt câu hỏi này, chúng ta không hỏi về một nguyên nhân như mọi nguyên nhân khác. Mà chúng ta hỏi về căn cội của mọi nguyên nhân khả thể. Khoa học chỉ là một nỗ lực tập thể của những trí óc con người nhằm đọc được trí óc của Thiên Chúa từ những dấu hỏi xem chúng ta và vũ trụ quanh ta có thể được tạo dựng từ những gì.

Vừa là nhà khoa học, vừa là một linh mục, trường hợp như cha Heller không phải là duy nhất. Hơn thế nữa, ngài đứng trong một truyền thống cao cả và dài lâu những hàng linh mục uyên bác, vừa là những nhà khoa học vừa là những con người của đức tin. Một số trong các ngài được biết đến tường tận trong lịch sử, như Roger Bacon, một tu sĩ Dòng Thánh Phanxicô sống ở thế kỷ 13, người đã nhấn mạnh về quan niệm “luật thiên nhiên” và đã đóng góp vào sự phát triển của khoa cơ giới, địa lý, và đặc biệt là về quang học. Một số khác lại không ai biết tới. Tuy vậy, tất cả đều đã để lại một di sản lâu bền từ thời đại các ngài, về học tập, khoa học, toán học, và những tiến bộ thực tiễn khác.

Trên hết cả, những linh mục-khoa học gia này đã cống hiến một bài học mạnh mẽ cho những nhà biện giải Công giáo: Không có lý do gì phải đứng câm lặng khi tên của Galileo được sử dụng như một chiếc dùi cui để tấn công, và Giáo hội bị chỉ trích nghiêm khắc là kẻ thù của tiến bộ nơi loài người. Các nhà biện giải và các thức giả Công giáo có thể chỉ tay vào những linh mục-khoa học gia này mà tuyên bố hùng hồn như Cha Georges Lemaître - người khám phá ra thuyết “Big Bang” – đã kiên cường tuyên xưng năm 1933: “Không có gì xung đột giữa tôn giáo và khoa học cả.”

Dưới đây chúng tôi lược kê một ít trong số nhiều vị linh mục và khoa học gia đã làm cho thế giới chúng ta tốt đẹp hơn qua bao nhiêu thế kỷ. Danh sách này không có tham vọng được coi là đầy đủ, thấu đáo, và những vấn đề sâu sắc hơn nằm bên dưới cuộc xung đột từ lâu giữa khoa học và tôn giáo, thuyết tiến hóa, và vũ trụ học – xuất hiện rất nhiều trong cuộc tranh cãi về văn hóa hiện đại – sẽ được tìm hiểu trong những dịp khác.

Robert Grosseteste (c. 1175-1253)


Robert Grosseteste

Robert Grosseteste, người nước Anh, sinh trưởng tại Suffok trong một gia đình nghèo, nhưng đã trở thành một trong một khuôn mặt bác học nhất ở Anh quốc vì lòng ham hiểu biết, một đức tin sâu xa và một nhân cách khiêm hạ. Ngài được huấn luyện về thần học và sau đó bắt đầu giảng dạy tại Oxford. Nơi trường đại học này ngài gia nhập một hiệp hội cùng với các tu sĩ Dòng Phanxicô mới tới và có lẽ ngài đã có thời gian làm chưởng ấn. Được phong chức giám mục giáo phận Lincoln năm 1235, ngài quan tâm sâu xa về công tác cải tổ Giáo hội tại Anh quốc. Ngài tố cáo các tu viện trưởng tham nhũng hoặc thiếu khả năng, giảm thu nhập của giới giáo sĩ, và lập ra một loạt những quy chế để làm phương châm đặc biệt hướng dẫn tư cách của hàng giáo phẩm và cách quản trị các giáo phận.

Tuy nhiên, những thành quả của ngài trong vai trò một người lãnh đạo Giáo hội đã bị lu mờ trước danh tiếng được coi là một trong số người uyên bác nhất thời đó. Ngài là người mẫn tiệp về toán học, quang học, và khoa học, làm báo hiệu trước các phương pháp thực nghiệm sau này của học trò mình là Roger Bacon. Các nhà chép sử khoa học cho rằng ngài là người sáng lập ra phong trào khoa học tại trường Đại học Oxford, và do đó làm phát sinh ra đường lối theo đuổi sự hoàn thiện hoàn mỹ vẫn còn tiếp nối cho tới ngày nay. Một ít trong số những thành đạt của ngài: phẩm bình về cuốn Physics của Aristote, phê bình lịch Julian dẫn đến cuộc cải cách lịch dưới triều Giáo hoàng Gregory XIII vào 300 năm sau, và các luận án về quang học, âm nhạc và toán học. Vì quá nổi danh với tài thiên phú và kiến thức về thế giới thiên nhiên, đến độ ngài cũng nổi tiếng trong giới bình dân ít học; họ coi ngài như một người có tài lạ hoặc như một bậc phù thủy.

Ignazio Danti (1536-1586)


Ignazio Danti

Một trong những người kế thừa truyền thống học thuật do Grosseteste khuyến khích là một giám mục người Ý tương đối ít người biết tới: Ignazio Danti. Là con của một người thợ thủ công, ngài sanh tại Perugia và có lẽ theo học tại trường đại học ở đó trước khi gia nhập Dòng Thánh Đa minh năm 1555. Ngài tiếp tục nhận được sự bảo trợ từ những khuôn mặt hàng đầu của thời đại này, trong số đó có Cosimo de'Medici ở Florence và Thánh Giáo hoàng Piô V, Giáo hoàng Gregorio XIII. Vị giáo hoàng sau đặt ngài làm giám mục Alatri. Tại đây, ngài chứng tỏ một nhiệt tình lớn lao muốn xúc tiến việc cải tổ Giáo hội.

Rất giống Grosseteste, ngài quan tâm về nhiều lãnh vực khoa học, trong đó có thiên văn, toán, quang học, kiến trúc, kiến thiết cầu đường, thủy lực và đồ bản. Ngài đặc biệt nổi danh về kiến thức và tài trí của một nhà thiên văn. Năm 1574, ngài thực hiện một loạt những quan sát quan trọng và tìm ra phân điểm (xuân phân và thu phân) 11 ngày sớm hơn qui định trong lịch. Do đó ngài giữ một vai trò trong việc cải tạo lịch Julian dưới triều Giáo hoàng Gregory XIII. Nhưng Danti đã để lại dấu ấn thực của mình trong vai trò một nhà đồ bản. Cosimo de'Medici đã đặt ngài vẽ các bản đồ và làm một trái cầu thiên thể lớn trong bộ sưu tập của ông. Ngài cũng nhận lời Giáo hoàng Piô V để vẽ họa đồ vùng Perugia, và lời Giáo hoàng Gregory XIII để vẽ bản đồ các vùng lãnh thổ thuộc giáo hoàng. Những bản đồ ngài vẽ hiện nay vẫn còn nhìn được trên những bích họa lớn trong Palazzo Vecchio ở Florence và trên các bức tường của La Galleria delle Carte Geografiche trong điện Belvedere thuộc Tòa thánh Vatican. Sau chót, Danti đã hoàn thiện rado latino, một dụng cụ đo đạc, và đã vẽ họa đồ một kinh đào xuyên ngang nước Ý, chảy qua Florence, nối liền biển Adriatic và Địa trung hải.

Marin Mersenne (1588-1648)


Marin Mersenne

Linh mục người Pháp Marin Mersenne bắt đầu một sự nghiệp lâu dài tại ngôi trường Dòng Tên mới lập tại La Flèche, nơi duy nhất lúc đó cho các học sinh nghèo được theo học. Trong số bạn học có cậu bé René Descartes mới lên 8 tuổi, sau này sẽ trở thành một triết gia, nhà toán và vật lý học, bạn của Mersenne. Năm 1611, Mersenne gia nhập Dòng Minims (dòng Anh em Hèn mọn do thánh Phanxicô Paola sáng lập) và thụ phong linh mục một năm sau đó. Sau khi nghiên cứu học tập về thần học, ngài nổi danh trong giới triết gia và thần học về những công trình hăng say chống chủ thuyết vô thần và chủ thuyết hữu thần tự nhiên (deism). Tuy nhiên, lịch sử lại ghi nhớ đến ngài nhiều nhất về công trình trong khoa toán, đặc biệt là cái gọi là các số nguyên Mersenne, và nỗ lực của ngài để tìm ra một công thức có thể trình bầy mọi số nguyên tố.

Trong tác phẩm La vérité des sciences (Sự thật về các khoa học), ngài biện bác về giá trị của lý trí con người. Ngài giao tiếp thư từ với những khuôn mặt tiến bộ nhất lúc đó, như Pierre Gassendi, René Descartes, Pierre de Fermat, Thomas Hobbes, và Blaise Pascal. Ngài tổ chức đàm trường dành cho các nhà khoa học khắp cả châu Âu để đọc các luận văn của họ và trao đổi các ý kiến. Những công trình quy tụ này được biết đến dưới cái tên Académie Parisiensis, nhưng cũng còn được gọi là Académie Mersenne, và con số những nhà khoa học mà sự nghiệp được đàm trường này hướng dẫn thật không thể đánh giá thấp. Giữ lời cam kết phục vụ cho khoa học, ngài để lại chỉ thị trong di chúc dùng thân xác ngài cho các cuộc nghiên cứu.

Jean-Felix Picard (1620-1682)


Jean Picard

Là người đồng thời với Mersenne, tu sĩ Dòng Tên người Pháp Jean-Felix Picard đạt được danh hiệu là người sáng lập khoa thiên văn hiện đại ở Pháp, đồng thời cũng là một linh mục nhiệt tâm. Ngài sanh tại La Flèche, và học trường Đại học Hoàng gia Henry-Le-Grand của Dòng Tên tại đây. Ngay từ thuở còn niên thiếu, ngài đã say mê các thiên thể trên bầu trời, và sau này đã cống hiến cuộc đời trí thức của mình để phụng sự khoa thiên văn học. Picard đã đưa ra những phương pháp mới để quan sát các vì sao và cải tiến những dụng cụ khoa học mới.

Picard là người đầu tiên trong thời đại Khai minh (Enlightenment) đã đưa ra một số đo chính xác về kích thước của Trái đất qua cuộc thăm dò thực hiện vào những năm từ 1669 đến 1670. Tính toán của ngài về đường bán kính của trái đất là 6328.9 kilomet chỉ sai lạc 0.44%, và sự tiếp tục đạt được nhiều tiến bộ của ngài về các dụng cụ đã chứng tỏ là điều tối cần trong việc lập ra lý thuyết về trọng lực trong vũ trụ của Isaac Newton. Picard cũng còn hoạt động và giao tiếp với một số lớn các nhà khoa học thời đó, như Isaac Newton, Christian Huygens, và cả với một đối thủ lớn nữa là Giovanni Cassini.

Ngài được người đương thời kính trọng sâu xa nhưng bị lu mờ vì những tên tuổi lớn như Galileo, Newton, và Cassini. Ngài là sáng lập viên Hàn lâm viện Pháp năm 1666. Năm 1935 ngài được tôn vinh bằng việc dùng tên ngài đặt cho một hố trên mặt trăng. Một vinh dự thấp hơn được trao vào năm 1987, khi tên ngài được dùng để đặt cho Captain Jean-Luc Picard trong show truyền hình Star Trek: The Next Generation.

Gregor Mendel (1822-1884)


Gregor Mendel

Dĩ nhiên được nổi danh hơn Picard rất nhiều, đó là Gregor Mendel, Tu viện trưởng Dòng Thánh Augustine, cha đẻ của khoa di truyền học hiện đại. Sinh tại nước Áo trong một gia đình nông dân, ngài nhập Dòng Thánh Augustine năm 1843 và 4 năm sau được thụ phong linh mục. Sự nghiệp của Mendel gần như không được báo trước trong cuộc đời, và đã hoàn thành được công trình vĩ đại trong hoàn cảnh tối tăm khi giảng dạy môn khoa học tự nhiên tại một ngôi trường trung học dành cho nam sinh ở nước Áo. Quả vậy, chỉ vào những năm cuối đời, ngài mới được lên chức tu viện trưởng.

Mendel có được địa vị trong khoa học là do công trình ngài thực hiện với những cây đậu quả tầm thường. Ngài thích đi bách bộ chung quanh tu viện và nhận xét thấy có mấy thứ cây cỏ khác biệt căn bản về hình dạng và mô thức tăng trưởng. Cũng nhứ bất cứ một học sinh trung học thời nay nào có thể học biết, Mendel đã trải nghiệm bao nhiêu năm để quan sát 7 đặc tính của loại cây đậu quả và xác định được những luật căn bản chi phối sự di truyền các đặc tính trong phạm vi một loài. Đặc biệt quan trọng là sự khám phá ra các genes trội (dominant) và lặn (recessive ), đó là một chìa khoá mở ra cho khoa di truyền học hiện đại, và cuộc nghiên cứu về các đặc tính trội và lặn, kiểu di truyền (genotype) và kiểu hiện tượng (phenotype), ý niệm về dị hợp tử (heterozygous) và đồng hợp tử (homozygous). Buồn thay, Mendel đã đi trước thời đại của ngài quá xa đến nỗi mãi tới đầu thế kỷ 20 khoa học mới công nhận công lao đóng góp của ngài. Ngày nay, ngài được nổi tiếng khắp toàn cầu và thường các học sinh không mấy thích thú khi phải làm các thí nghiệm riêng của họ dựa trên công trình của ngài.

Armand David (1826-1900)


Armand David

Vào khoảng cùng thời gian Mendel đi bách bộ quanh tu viện, nhà truyền giáo thuộc Dòng Lazarist, cha Armand David, đồng thời cũng là một nhà thực vật học, đang làm việc ở một nơi cách xa nửa vòng trái đất, đó là Trung quốc.

Sinh quán tại Bayonne, nước Pháp, ngài gia nhập Tu đoàn Truyền giáo năm 1848 và thụ phong linh mục năm 1862. Được sai đi truyền giáo tại Bắc kinh, ngài đã phục vụ trong cộng đồng nơi đây một cách xuất sắc. Ngài thấy thời gian ở Trung quốc là một cơ hội tốt đẹp để khảo sát về các khoa học tự nhiên.

Vì những phát hiện của ngài trong các lãnh vực về động vật học, thực vật, địa chất và cổ sinh vật học, chính phủ Pháp yêu cầu ngài gửi các mẫu tìm kiếm được về Paris để được nghiên cứu thêm. Những mẫu này, lần đầu tiên được người phương Tây chứng kiến, đã tạo ra mối quan tâm lớn lao đến độ cha David được các nhà khoa học nước Pháp yêu cầu thám hiểm nước Trung hoa để tìm ra các phát kiến mới. Khi trở về Pháp năm 1888, ngài đọc một bài diễn từ thời danh tại Hội nghị Khoa học Quốc tế của người Công giáo tổ chức tại Paris, trình bầy tài liệu nghiên cứu của ngài về hơn 60 chủng loại thú vật và hơn 60 loại chim muông, tất cả đều chưa được biết đến trước đó. Đặc biệt đáng quan tâm là “phát kiến” của của ngài về loài Gấu trúc Lớn (Giant Panda, chưa được châu Âu biết tới) và loại Nai Milu (Milu Deer), một loài nai mà sau này được gọi là Nai Cha David (Père David’s Deer - Elaphurus davidianus) để vinh danh ngài.

Julius Nieuwland (1878-1936)


Julius Nieuwland

Linh mục Julius Nieuwland thuộc Dòng Thánh giá, đã quan tâm về các giải đáp thực tiễn trong lãnh vực hóa học mà ngài nghiên cứu. Con của người di dân gốc Bỉ, Nieuwland sinh trưởng tại vùng South Bend, tiểu bang Indiana, và theo học trường Đại học Notre Dame. Thụ phong linh mục năm 1903, ngài tiếp tục học tại trường Đại học Công giáo Mỹ (The Catholic University of America), chuyên khoa về thực vật và hóa học.

Trở lại trường Notre Dame năm 1904, ngài phục vụ trong ban giảng huấn, làm giáo sư dạy môn thực vật và sau đó là môn hóa học cho mãi tới khi về hưu năm 1936. Trong những sảnh đường yên tĩnh, khi nghiên cứu về khoa học, ngài đã thành công trong việc polymer-hóa chất acetylene để trở thành divinylacetylene. Elmer Bolton, giám đốc nghiên cứu tại hãng Dupont, đã dùng nghiên cứu căn bản này để đạt được việc phát triển ra neoprene. Trong thực tế, chính vị linh mục khiêm tốn này là người tìm ra được chất cao su nhân tạo đầu tiên. Được Công ty Du Pont áp dụng, phát minh này có ảnh hưởng to lớn trên nhiều ngành kỹ nghệ và cuộc sống của chúng ta. Chẳng hạn, neoprene được dùng làm chất cách điện/cách nhiệt trong dây điện, đường dây điện thoại, mặt sau các tầm thảm, và vật dụng lợp mái nhà. Cha Nieuwland cũng gần như tạo được một ảnh hưởng lớn trên lịch sử ngành football các trường đại học, khi ngài cố gắng – nhưng bất thành – thuyết phục người huấn luyện viên lừng danh trong tương lai tại trường Notre Dame là Knute Rockne trở thành một nhà hóa học thay vì làm huấn luyện viên môn thể thao này.

Không xao lãng khoa thực vật học, cha Nieuwland đã lặn lội trong những vùng sình lầy và rừng rú, tìm kiếm những mẫu thích hợp để nghiên cứu, và ngài nổi danh vì đã dùng súng lục bắn những mẫu này rớt từ những cành cây cao xuống đất.

Vì sự nghiệp trong ngành hóa học, chứ không phải tài thiện xạ, ngài được trao huân chương Morehead Medal vì công trình nghiên cứu chất acetylene, huân chương American Institute Medal, và vinh dự cao quý nhất của Hiệp hội Hóa học Hoa kỳ (American Chemical Society) là huân chương Nichols Medal.

Georges Lemaître (1894-1966)


Georges Lemaitre

Cha Georges Lemaître, một linh mục người nước Bỉ, một nhà vật lý và toán học gia, là người đầu tiên đề ra Lý thuyết Big Bang để giải thích sự ra đời của vũ trụ.

Sinh tại Charleroi, nước Bỉ, ngài học toán và khoa học tại trường Đại học Cambridge sau khi chịu chức linh mục năm 1923, và chuyên khoa về các nghiên cứu rất thịnh hành thời đó trong khoa thiên văn và vũ trụ học, đặc biệt về lý thuyết tương đối tổng quát của nhà bác học Eisntein.

Trong ngành vật lý, cái ý tưởng lúc đó được chấp nhận là vũ trụ, về bản chất, ở trong tình trạng không thay đổi, một “Tình trạng Kiên định (Steady State)”. Trong khi Einstein coi vũ trụ đang thực sự chuyển động – co cụm hoặc phình nở -- và nghĩ ra được hằng số vũ trụ học đã duy trì được tình trạng ổn định của vũ trụ, thì Lemaître lại kết luận rằng vũ trụ đang phình ra. Không chỉ như thế, Lemaître còn đề xuất rằng từ điểm đó có thể kết luận rằng mọi vật chất và năng lượng đã có lúc tập trung tại một điểm. Do đó: Vũ trụ đã có một lúc khởi đầu.

Lý thuyết này, lúc đầu gặp phải nhiều hoài nghi, được mệnh danh một cách châm biếm là “Big Bang”. Về phần mình, Lemaître mô tả một cách hoa mỹ sự khởi đầu này là “một ngày không có hôm qua.” Tháng giêng năm 1933 ngài trình bầy lý thuyết này trước cuộc hội họp các nhà khoa học tại tiểu bang California, và vào cuối buổi trình bầy, Einstein đã khen ngợi và tuyên bố: “Đây là cách giải thích về sự sáng tạo vũ trụ đẹp đẽ và thỏa mãn hết sức mà tôi được nghe từ trước đến giờ.” Những ý tưởng của Lemaître sau đó đã có được thế đứng.

Ngày nay các nhà vật lý vũ trụ sẵn sàng chấp nhận thuyết Big Bang và sự tiếp tục bành trướng của vũ trụ. Vì những công lao này, Lemaître được gia nhập Hàn lâm viện Hoàng gia Bỉ, và lên chức kinh sĩ (canon) nhà thờ chính tòa Malines. Năm 1936, Giáo hoàng Piô XI nhận ngài vào Hàn lâm viện Giáo hoàng về Khoa học.

Stanley Jaki (1924-2009)


Stanley Jaki

Các linh mục Nieuwland và Lemaître đã chứng tỏ rằng đức tin và khoa học không bất tương hợp. Còn linh mục Stanley Jaki, thuộc dòng Biển đức, lại đã lý luận một cách rất hùng biện rằng chính khoa học chỉ có thể phát triển được trong một nền văn hóa Kitô giáo. Với những thành quả đạt được, ngài đã được tưởng thưởng giải Templeton, và năm 1990 được Giáo hoàng Gioan Phaolô II nhận cho gia nhập Hàn lâm viện Giáo hoàng về Khoa học.

Sinh trưởng tại Hung gia lợi (Hungary), cha đậu các cấp bằng tiến sĩ về Thần học Hệ thống (Systematic Theology) và về Vật lý Hạt nhân, thông thạo 5 ngôn ngữ và là tác giả 30 đầu sách. Là một Giáo sư ưu tú tại trường Đại học Seton Hall, công trình của cha Jaki về lịch sử và về triết học khoa học đã đưa ngài gặp gỡ nhiều người trên khắp thế giới. Trong một thế giới khoa học tân tiến đạt được đỉnh cao trong triết học thời Khai minh (Enlightenment) và rất mục chống đối sự liên hệ với tôn giáo, sự khẳng định của cha Jaki rằng khoa học và tôn giáo đều phù hợp, và rằng sự phân tích khoa học có thể rọi ánh sáng vào cả những đề cương khoa học lẫn thần học, quả là một khẳng định táo bạo.

Theo quan niệm của Jaki, những khám phá về khoa vật lý hạt nhân và khoa thiên văn đã xác nhận một trật tự thiết yếu trong vũ trụ. Tuy sự hiểu biết của chúng ta về cả hai lãnh vực đều quả thực còn chưa đầy đủ, nhưng viễn kiến Kitô giáo chứng tỏ rằng trật tự của vũ trụ thì hoàn toàn phù hợp với quan điểm về sự Sáng tạo vũ trụ theo Kinh thánh.

Đi theo dấu chân của Lemaitre, Jaki đã tìm cách giải quyết một trong những vấn nạn lớn lao nhất trong khoa học, vũ trụ học, và đã kết luận rằng khoa học cho phép chúng ta có một cái nhìn vào trong những biến cố tiếp theo sau giây phút sáng tạo, nhưng không cho biết điều gì hết về những gì đã xảy ra trước đó, lúc mà chính vật chất được tạo dựng từ hư không. Do đó mà ngài can đảm thách thức các khẳng định của các nhà vũ trụ học và vật lý học thiên thể như Stephen Hawking, cho rằng nguồn gốc của vũ trụ chứng tỏ sự bất hiện hữu của Thiên Chúa; trái lại, chính cái mệnh đề đó không thể chứng minh được bằng khoa học vì không có gì để quan sát cả. Đồng thời, trật tự tạo dựng của Thiên Chúa phản ảnh một đấng Sáng tạo hoàn toàn hợp lý và bất tận vượt trên đường lối suy nghĩ của chúng ta. Thế nên, không mấy ngạc nhiên khi một tiến độ quân bình và tích cực như thế đi vào thế giới tự nhiên được tìm thấy trong giảng huấn và văn hóa Kitô giáo chân chính, đã cho phép khoa học được nở rộ.

Michal Heller (1936- )

Michal Heller

Những vấn nạn lớn lao về vũ trụ cũng là địa hạt chuyên biệt của vị linh mục Ba lan đồng thời cũng là một nhà vật lý học: Michal Kazimierz Heller, giáo sư dạy tại Cracow, nước Ba lan, và là thành viên Viện Khoa học Giáo hoàng từ năm 1990. Cha Heller đã dấn thân đi vào những lãnh vực cao nhất của toán học và thiên văn. Hiện nay cha đang nghiên cứu vấn đề đơn thuần (singularity) trong tương đối tổng quan (general relativity) và sự dùng khoa hình học không giao hoán (non-commutative) khi tìm kiếm việc kết hợp giữa tương đối tổng quan với cơ học lượng tử (quantum mechanics). Ngài cũng quan tâm về triết học, lịch sử khoa học, khoa học và thần học. Theo quan điểm của cha, tất cả những mặt khác biệt nhau này của khoa học đều qui tụ về một điều gì đó thật quan trọng liên quan đến “bản thiết kế” của sự Sáng tạo vũ trụ -- và giảng huấn của Giáo hội giúp chúng ta hiểu được bản vẽ đó.

Cơ may hay Mục đích?

Các linh mục-khoa học gia, những người vừa trung thành với các giảng huấn của Giáo hội và với những khắt khe gian khổ của khoa học, đã chiếm được một chỗ đáng tôn trọng trong lịch sử kiến thức, như nhận xét sau đây của Hồng y Christoph Schönborn:

Một trong những “huyền thoại” dai dẳng của thời đại chúng ta – thực ra, tôi muốn nói đến một trong những thiên kiến hình thành từ lâu – cho rằng những mối liên hệ giữa khoa học và Giáo hội là xấu, rằng đức tin và khoa học, từ những thời đại đã qua, tồn tại trong một thứ xung đột triền miên… Tin rằng Thiên Chúa là đấng Sáng tạo vũ trụ không chỉ là một trở ngại mà hơn thế, còn ngược lại. Tại sao tin rằng vũ trụ có một đấng Sáng tạo lại làm cản trở con đường của khoa học? Tại sao nó gây ra những khó khăn cho khoa học, nếu các khoa học gia hiểu biết rõ cuộc nghiên cứu của họ, phát kiến của họ và những lý thuyết họ đề ra, sự hiểu biết của họ về những mối liên hệ, như là “nghiên cứu học tập cuốn sách về sự tạo dựng vũ trụ?

Nguồn: Matthew E. Bunson/"Fathers of Science." This Rock (San Diego: Catholic Answers Inc., September 2008).

Phụng Nghi

Bài đọc thêm: HISTORICAL PARTICIPATION OF CHRISTIAN CHURCH MINISTERS TO THE DEVELOPMENT OF SCIENCE: AN ECUMENICAL SURVEY

by AI HUU NINH THUAN
02/08/10. 04:35:00 am. 6836 words, 285 views. Categories: Khoa học kỹ thuật, Khoa học và ðời sống, Phát minh sáng chế, Liên kết blogs ,

MILITARY CHANNEL: FUTURE WEAPONS VIDEOS - VŨ KHÍ TƯƠNG LAI

UFO HAY MỘT VỤ THỬ HỎA TIỄN CỦA NGA BỊ THẤT BẠI ?


Tưởng là UFO, nhưng thật ra là hỏa tiễn của Nga phóng thử bị thất bại! Ảnh CNN

UFO hay một vụ thử hỏa tiễn của Nga bị thất bại?

Source: CNN, Huffington Post, Dân trí

Một vùng ánh sáng kỳ lạ màu ngọc lam xuất hiện trên bầu trời Na Uy đã trở thành chủ đề bàn luận xôn xao tại nước này.



Hiện tượng khác thường, xảy ra vào tối ngày 8/12, bắt đầu khi một điểm sáng màu xanh ló ra từ phía sau một ngọn núi. Điểm sáng dừng lại ở lưng chừng trời rồi bắt đầu tỏa ra những vòng tròn ánh sáng khổng lồ trước khi biến mất.



Viện Đo lường Na Uy đã nhận được hàng trăm cuộc gọi từ những người quan sát được vùng sáng trên để tìm câu trả lời. Nhưng cho tới nay cơ quan này vẫn chưa thể xác định được nguồn gốc của hiện tượng lạ.



Một số chuyên gia cho rằng vùng sáng có thể là do một vụ phóng tên lửa của Nga. Tuy nhiên, đại sứ quán Nga tại Na Uy khẳng định những suy đoán như vậy là hoàn toàn không có cơ sở. Những người khác lại nói đó là UFO. Hiện các nhà khí tượng, thiên văn học và quân đội đều “bó tay”.



Jan Petter Jorgensen, một nhiếp ảnh gia nhiệp dư, đã chụp được vùng ánh khi anh đang trên đường đi làm tại một công ty chế biến cá hồi. “Ánh sáng xuất hiện từ 2-3 phút. Tôi không thể tin vào mắt mình nữa”, Jorgensen nói.



Morten Kristiansen, người đã nhìn thấy hiện tượng lại từ Sortland ở phía bắc Na Uy, cho biết: “Một vòng tròn lớn xuất hiện rồi sau đó vỡ ra, tạo thành những tia sáng xanh rọi xuống Trái đất”.

Xem video:



Nguồn tin mới nhất từ Trung Tâm Không Gian của Na Uy chính thức xác nhận, đây là một vụ thử hỏa tiễn của Nga bị thất bại, bộ quốc phòng Nga cho biết đây là hỏa tiễn đạn đạo tầm xa Bulava của Nga phóng đi từ tiềm thủy đĩnh nguyên tử Dmitry Donskoi, thất bại vì bị trục trặc động cơ ở tầng thứ ba.

by AI HUU NINH THUAN
12/10/09. 09:43:17 am. 569 words, 84 views. Categories: Khoa học kỹ thuật, Góp nhặt, Thiên văn và vũ trụ, Liên kết blogs, Vòng quanh thế giới ,

THẢM HỌA TẠI CÁC NHÀ MÁY ÐIỆN NGUYÊN TỬ KHẮP THẾ GIỚI


Nhà văn Mường Giang

Source: champaka
Mường Giang

Tháng 9-1945 nhân loại lần đầu tiên đã biết nếm mùi thảm họa của bom nguyên tử, khi Hoa Kỳ thả hai trái xuống thành phố Quang Ðảo và Trường Kỳ của nước Nhật. Quá khứ đau khổ vì chiến tranh cũng như những ám ảnh và hậu quả trên thân xác con người, do tác hại của bụi phóng xạ chưa chìm sâu trong đáy huyệt thời gian, thì một tai họa khủng khiếp khác lại tái diễn vào lúc 1giờ 23 phút ngày 26-4-1986, do 1 trong 4 lò phản ứng của trung tâm nhà máy điện nguyên tử Chernobyl, thuộc Liên Bang Xô Viết cũ bị nổ, do sơ suất kỹ thuật làm thoát chất phóng xạ ra ngoài. Rồi thì sự kiệnThree Mile Island và liên tiếp nhiều nhà máy phát điện khác ở Pháp và Nhật cũng bị lủng rỉ làm thất thoát chất phóng xạ ra ngoài.

Gần đây vào lúc10 g 35 phút ngày 30-9-1999, nhà máy điện nguyên tử Tokaimura thuộc tỉnh Ibaraki, nằm cách Tokyo (Nhật Bản) khoảng 120 km cũng bị nổ. Theo nhận xét của Cơ Quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế (IAEA), thì đây là một tai nạn phóng xạ nguyên tử nghiêm trọng nhất từ trước tới nay, kể cả hai trái bom nguyên tử mà Mỹ đã thả trên nước Nhật và sự kiện tại nhà máy Chernobyl của Liên Xô năm 1986.


Cột khói kinh hoàng do quả bom nguyên tử thả xuống Nagasaki tạo thành. Credit: Wikipedia

Ta biết Âu Châu, Nhật cũng như Liên Xô.. đều là những quốc gia tiền tiến, văn minh, có đủ phương tiện thực hiện cũng như bảo trì những nhà máy điện nguyên tử của quốc gia họ. Nhưng cuối cùng trong vài trường hợp đặc biệt, cũng phải đành bó tay đứng nhìn tai họa hoành hành. Tại các nước Á Châu kể cả Nhật Bản, hiện đang chới với trước hiểm họa chất thải nguyên tử và cũng chưa có một chương trình nào hữu hiệu, để mà kiểm soát các hoá chất đôc hại, cũng như các chất thải vô cùng nguy hiểm, vì một số thùng chứa chất phóng xạ, sau 30 năm đã bị ăn mòn. Quan trọng nhất là Năng Lương Nguyên Tử tại các nhà máy này gần như sạch trên mà bẩn dưới.

Theo Nguyễn Tiến Nguyên, nguyên viện trưởng viện năng lượng nguyên tử của CSVN thì đảng ta, sau khi chứng kiến được các tai họa thảm khốc đã xảy ra tại các nhà máy điện NT Liên Xô, Pháp cũng như Nhật, nên đã tìm ra căn bệnh. Do đó, các đỉnh cao quyết tâm xây dựng hai nhà máy điện nguyên tử vào năm 2010 tại Ninh Thuận.

Làm đường, cầu, đập nước, nhà cửa... có bị ăn chận, thiệt hại cũng chỉ là sự hạn chế nhưng nếu xây dựng Một Nhà Máy Ðiện Nguyên tử mà cẩu thả sơ xuất, thì hậu quả về nhân mạng không biết đâu mà lường được. Hoàn thành hoạt động nhưng không bảo trì tốt như Nga, thì chừng đó chẳng những người sống quanh vùng chịu chết, mà cả nước, chắc gì được an toàn với bụi phóng nguyên tử? Ðó là chưa nói đến nợ vay nước ngoài, hiện chồng chất tới mức chỉ nhìn vào đã mù mắt. Chỉ riêng nhà máy lọc dầu Dung Quất-Quảng Ngãi đã tiêu phí tỷ tỷ đô la nhưng lợi nhuận vẫn biệt chim tăm cá. Nay lại tính tới một công trình khác còn vĩ đại gấp ngàn lần dự án cũ. Ðó chẳng phải là chuyện mơ mơ màng màng hay sao? và trên hết nếu công trình xây dựng nhà máy bị lọt vào Tàu đỏ hay Nga, thì chắc chắn ngày diệt vong của VN đã tới.

Thế giới hiện nay có thể nói được, chỉ nước Mỹ là quốc gia duy nhất đã có kế hoạch 1000 năm cho chất thải của nguyên tử. Ðó là khu bảo tồn Hanford, được xây dựng gần thành phố Richland, có diện tích rộng tới 1300 km2, nằm về phía đông tiểu bang Washington, được coi như một khu vực nguy hiểm nhất, chẳng những trong vùng Bắc Mỹ mà cả nhân loại.

Ðây cũng là địa điểm từ năm 1943-1989 chuyên sản xuất chất Plutonium, để chế tạo các loại phi đạn và bom nguyên tử. Trong thế chiến 2, đặc khu này được coi như là một bộ phận của kế hoạch Mahattan tối mật. Do bên trong các kho chứa tại khu bảo tồn Hanford, còn cất giữ khoảng 200 triệu lít plutonium, uranium, mercure, iodine và đủ các loại chất phóng xạ khác gây bệnh chết người. Theo báo cáo của các nhà khoa học Mỹ thì qua bao nhiêu năm, chất thải đã từ đất thấm vào nước sông Columbia tới 4 triệu lít, gây không biết bao nhiêu hậu quả cho những người sống quanh vùng.

Nhận biết được tai hại nguy khốn này, nên Chính phủ Hoa Kỳ đã giao trách nhiệm bảo quản cho Bộ Năng Lượng và một phương án độc nhất thần sầu được thi hành từ năm 2002. Ðó là xây dựng những nhà máy đặc biệt, để biến chế các chất độc phế thải tại khu bảo tồn Hanford Nuclear Revervation, thành những khối thủy tinh cứng chịu được tới 1000 năm. Các chất thải sẽ biến thành 500.000 tấn thủy tinh, một số được chôn trong lòng đất sâu, số khác sẽ đem tới chôn tại núi Yucca thuộc tiểu bang Nevada. Kinh phí thực hiện chuyện trên, tốn tới 40 tỷ đô la nhưng người Mỹ không thể không làm, vì mọi sự sẽ không còn cứu kịp với thời hạn cuối cùng là năm 2028.

Hiện nay trên thế giới, việc thanh toán các chất độc thải ra từ những nhà máy điện nguyên tử, là một sự kiện sống chết đối với các quốc gia liên hệ. Khắp nơi từ Ðức quốc tận Âu Châu, cho tới Ðại Hàn, Thái Lan, Ðài Loan ở Châu Á. Nói chung các chính phủ đều bị dân chúng phản đối, về việc cất giữ hay tiêu hủy các chất phóng xạ, trong lòng đất hay chôn dưới lòng sông, đáy biển như tại làng Ban Don Bay, cách thủ đô Vọng Các, Thái Lan về phía nam, chừng 550 km.

Theo báo cáo của Tổ Chức Y Tế Quốc Tế (WHO), cho biết hầu hết các nước kỹ nghệ trong vùng Á Châu, đã hành động rất kém cả kỹ thuật lẫn tài chánh, về việc thanh toán các chất độc phóng xạ công nghệ. Nhiều nước đã bỏ các chất trên vào cống rãnh, kênh đào, các hệ thống dẫn nước cũng như bỏ lẫn lộn trong rác rưởi.

Do sự phát triển nhanh các Nhà máy điện nguyên tử tại Nhật Bản, Ðại Hàn, Trung Cộng, Ðài Loan và Bắc Cao cũng đang sắp có hai lò phản ứng điện nguyên tử do Hoa Kỳ hứa tặng, nếu Hàn cộng chịu từ bỏ chuơng trình chế bom hạt nhân, đang có triển vọng đưa thế giới vào cuôc chiến tiêu diệt. Trong chiều hướng này, Thái Lan và Việt Cộng cũng đang ngấp nghé tham dự một trò chơi điện tử thời thượng, một vấn đề làm nát óc những nước giàu tiền, kỹ thuật và kinh nghiệm nhưng đành bó tay trước các sự kiện diễn ra không hề được báo trước, như tại Nhật mới đây.

Hiện Liên Hiệp Quốc đã chia các chất độc phế thải thành hai nhóm: Loại chất thải không phóng xa gồm những bã quặng chrome, phosphore, cyanure cùng các chất xúc tác trong công nghệ hóa chất. Nhóm chất thải có phóng xạ chính là những nhiên liệu dùng điều hành các nhà máy điện nguyên tử. Chất thải này có chứa rất nhiều hạt nguyên tố phóng xạ nguy hiểm như Plutonium và uranium, tồn tại rất lâu trong không gian. Ở Á Châu, các chất thải phóng xạ trên, chỉ mới được cất giữ tạm thời tại các bể nhiên liệu đã xử dụng, trong khu vực nhà máy điện nguyên tử cạnh lò phản ứng. Kế hoạch biến chúng thành khối thủy tinh như Hoa Kỳ đã làm, được hầu hết các nước chấp nhận. Một công ước chung, về việc bảo đảm an toàn các chất phế thải độc hại, từ các nhiên liệu điều hành nhà máy điện nguyên tử, đã được ký kết và phê chuẩn vào tháng 9-1997, tại trụ sở Cơ Quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế (IAEA), ở thủ đô Vienne của nước Áo. Sự kiện cho thấy thế giới đã chịu hợp tác để cùng giải quyết một vấn đề sinh tử, có liên quan đến sự sống của nhân loại hiện nay, trên địa cầu.

Riêng tại VN từ tháng 5-1975 tới nay, cũng có rất nhiều chất thải phóng xạ tối độc nguy hiểm, thoát ra từ Lò Phản Ứng Nguyên Tử Ðà Lạt của Chính Phủ VNCH để lại. Ngoài ra còn những chất thải phóng xạ khác sinh ra từ công nghệ hoá chất, y dược phóng xạ nguyên tử, các công trình địa chất, xây dựng... Cuối năm 1993 sau khi tới VN để xem xét tình hình, đoàn công tác của Tổ Chức Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế (IAEA), gồm các chuyên gia về chất thải phóng xạ (WAMAP), đã cực lực lên án và tố cáo CSVN, trong việc cẩu thả quản lý các chất độc trên, trong cả hai phương diện nhân đạo và thực thi công pháp quốc tế.

Ðể giúp đỡ, đồng bào VN phần nào thoát được thảm kịch như đã xảy ra tại Liên Xô cũ. Ðầu năm 1993, Liên Hiêp Quốc đã giúp VN kỹ thuật cũng như ngân khoản thực hiện các biện pháp an toàn chất phế thải phóng xạ nguyên tử. Do trên, ngày 1-1-1997, đảng ban hành pháp lệnh bảo đảm an toàn và kiểm soát bức xạ. Nhưng tất cả chỉ có trên giấy tờ, còn nhu cầu cấp bách mà LHQ đòi hỏi, là sự VN phải có một nghĩa địa cất giữ chất độc phóng xạ phế thải, thì tới nay vẫn không biết đâu mà mò.

HENRI BECQUEREL VÀ CÔNG TRÌNH PHÁT HIỆN TÍNH PHÓNG XẠ:

Trong hoạt động thường trực tại các nhà máy điện nguyên tử hơn 100 năm qua, các chuyên gia vẫn dùng đơn vị đo lường Becquerel (Bq), để tính mức độ nguy hiểm, của những vụ thất thoát chất phóng xạ. Ðơn vị đo lường Bq cũng là tên của nhà vật lý học, đã phát hiện tính phóng xạ của một số vật thể trong thiên nhiên, làm nền tảng khoa học cho sự nghiên cứu và ứng dụng hơn 100 năm qua, trong lãnh vực nguyên tử học.

Theo sử liêu, Henri Becquerel sinh tại Paris nước Pháp ngày 15-12-1852 trong một gia đình nổi tiếng về khoa học. Do ảnh hưởng từ nội và cha là những giáo sự vật lý làm việc tại viện bảo tàng lịch sử tự nhiên Ba Lê, nên ông cũng là một giáo sư vật lý làm việc tại đây. Từ một biến cố khoa học trọng đại đã xảy ra trong tháng 11-1895, qua phát minh tia X của nhà vật lý người Ðức là Wilhelm Conrad Roentgen đã tạo ấn tượng cho Henri, khi tìm hiểu sự kiện tia X đã tạo ra một luồng ánh sáng huỳnh quang, từ trong một ống thủy tinh chân không, qua tác động bởi một chùm electron âm cực của bóng đèn. Qua sự xuất hiện của tia X, khiến ông hoài nghi về những tia vô hình nào đó, cũng có thể phát sáng từ muối uranium, tác động tới một tấm kính ảnh, được bọc bởi giấy hay lớp kim loại mỏng.

Ngày 2-3-1896, sau nhiều lần theo dõi thí nghiệm, nhà vật lý Becquerel đã khẳng định rằng không cần phải có tia cực tím của mặt trời, những tia bức xạ cũng vẫn được phát ra từ muối uranium. Khám phá quan trọng này, từ đó đã trở thành nền tảng để nhân loại thăng tiến trong lãnh vực chế tạo các loại bom nguyên tử. Hai năm sau, nữ khoa học gia Ba Lan là Marie Curie và nhà vật lý người Ðức Gerhard Carl Schmidt đã phát hiện nguyên tố thorium, cũng phát ra nhiều tia bức xạ gấp nhiều lần muối uranium.
Tóm lại nhờ khám phá đầu tiên của Henri Becquerel về tính phóng xạ của các nguyên tố, mà các nhà bác học sau này như Marie Curie, cùng chồng là Pierre và bạn là Gustave Bemon... đã khám phá ra nhiều chất phóng xạ mới như polonium, radium. Những khám phá của ông dã mở đầu cho một kỷ nguyên khoa học mới, chẳng những trong lãnh vực chế tạo bom nguyên tử, khinh khí, hỏa tiễn... mà còn ứng dụng trong các ngành công nghệ hóa học, y dược phóng xạ và quan trong hơn là sự khám phá tính phóng xạ của chất carbone, dùng định vị giá trị niên đại của các cổ vật, trong ngành địa chất-khảo cổ. Giống như Nobel vua của chất nổ, công trình phát minh của Becquerel mang hai mặt nạ ích lợi và sự hủy diệt.


Hiroshima thành bình địa sau khi trái bom nguyên tử thả xuống vào ngày 6 tháng 8/1945. Credit: Wikipedia

HIROSHIMA VÀ NAGASAKI, THẢM HỌA NGUYÊN TỬ ÐẦU TIÊN CỦA NHÂN LOẠI:

Theo các hồ sơ mật thời chiến tranh lạnh vừa được Hoa Kỳ giải mã, mới biết được Liên Xô, tuy là đồng minh của Anh-Mỹ trong thế chiến 2, nhưng Stalin đã lợi dụng danh nghĩa ngoại giao, cài đặt một mạng lưới tình báo lớn tại Bắc Mỹ, qua danh xưng ‘Net’, do Trung Tá KGB Zabotin, chỉ huy. Cũng nhờ sự khai báo của một điệp viên Nga đào tẩu là Igor Gouzenko nên các Chính Phủ Hoa Kỳ-Anh-Canada mới biết là Stalin đã nắm trong tay, tình hình quân sự của Tây Phương, đặc biệt hơn là hoạt động của các hệ thống nhà máy hóa chất cũng như nhà máy điện nguyên tử, tôi luyện chất Uranium, tại Chalk River, thuộc bang Ontario-Canada.

Ghê gớm nhất, đó là những tuyệt mật của dự án Manhattan, chỉ có Hoa Kỳ-Anh và Canada biết, nhưng qua một điệp viên có bí danh ‘Alek‘ nên Mạc Tư Khoa đã biết rõ mọi chi tiết chế tạo bom, từ trọng lượng chất Uranium và Plutonium trong hai quả bom nguyên tử, sắp thả xuống hai thành phó của Nhật là Hiroshima và Nagasaki... Thần thánh hơn, là điệp viên Nga đã đánh cắp 162 g mẫu chất uranium-235, được chế biến tại nhà máy Chalk River-Canada và chuyển về cho Stalin một cách an toàn. Tóm lại những bật mí của Gouzenko vào ngày 7-9-1945, đã làm cho cả Tổng Thống Mỹ là Truman và tân Thủ Tướng Anh Clement Attlee, như từ trên trời rớt xuống. Sự xấu hổ vì bị cộng sản qua mặt, đã manh nha một cuộc chiến tranh lạnh và chấm dứt đồng minh giữa Liên Xô cùng Tây Phương, ngay khi thế chiến 2 kết cuộc.

Sáng ngày 16-7-1945, hai quả bom nguyên tử đầu tiên của nhân loại, đã chính thức thành công tại phòng thí nghiệm đặc biệt của Mỹ ở Los Alamos, sau 2 năm miệt mài thử nghiệm, qua dự án Manhattan giữa ba nước Hoa Kỳ-Anh-Canada. Theo kế hoạch, thì hai quả bom trên được phe Ðồng Minh đem thả tại Bá Linh của nước Ðức. Nhưng bom chưa xong mà Ðức đã thua trận đầu hàng. Do trên mục tiêu phải thay đổi và Nhật là nạn nhân bị chọn để làm vùng thử nghiệm.

Cũng theo sử liệu thì việc Nhật bị giội bom do mục tiêu chính trị hơn là quân sự, vì lúc đó mật trân Phi-Âu Châu đã kết thúc. Do đó tất cả đồng mình đều dồn hết sức tàn, để diệt Nhật thì cần gì phải thả bom nguyên tử? Tóm lại,hai quả bom thả xuống nước Nhật, không phải nhằm chấm dứt chiến tranh mà Mỹ muốn lấy đó, để răn đe và cảnh cáo Stalin trên bàn hội nghị.

Léo Szilard, nhà bác học Hung gia Lợi, một trong những nhà khoa học đã thuyết phục Tổng Thống Mỹ Roosevelt, thực hiện chế tạo quả bom A đầu tiên. Ông cũng là một trong những nhà khoa học, ngăn cản thuyết phục Tổng Thống Truman, đừng thả hai trái bom nguyên tử vừa chế được xuống nước Nhật. Theo Léo, thì lý do Mỹ không nên xử dụng bom nguyên tử, vì đó là cái cớ để chạy đua vũ khí nguyên tử với Liên Xô.

Hai trái bom nguyên tử đầu tiên của Hoa Kỳ, gồm một trái lớn mang tên là Fat Man loại bom Uranium, có sức tàn phá mạnh bằng 20.000 tấn chất nổ TNT (trinitrotoluene). Riêng trái thứ 2 nhỏ hơn, mang tên Little Boy là loại bom Plutonium, dù rằng trọng lượng cũng là 20.000 tấn chất nổ ( Bây giờ bom nguyên tử nào cũng có sức manh trên cả triệu tấn TNT).

Phi Ðoàn số 509 gồm các pháo đài bay B29 của Hoa Kỳ, do Ðại Tá P.W. Tibbets chỉ huy, từ năm 1944 đã bắt đầu thực tập việc thả các loại bom nguyên tử. Trong lúc đó, Bộ trưởng Quốc Phòng Stimson của TT.Truman, cũng được lệnh thành lập một ‘ Ủy Ban Mục Tiêu ‘, đề nghị những thành phố Nhật, có thể bị ném bom. Theo đó, các thành phố được chấm theo ưu tiên như sau: 1-Hải cảng Hiroshima lúc đó là bản doanh của quân đoàn. 2-Kokura là trung tâm đóng tàu chiến lớn nhất của nước Nhật. 3-Niigata là hải cảng và trung tâm lọc dầu. 4-Kyoto vừa là cố đô, cũng là trung tâm sản xuất quân trang quân dụng nhưng giờ chót, chính Bộ Trưởng Stimson cho rằng Kyoto có nhiều di tích lịch sử, nên đem thành phố Nagasaki thay thế.

Cuối cùng Tổng Thống Mỹ là Truman , quyết định ném trái bom Fat Man xuống thành phố Hiroshima, vào lúc 8 giờ 15 giờ địa phương, ngày 6-8-1945, vừa để chấm dứt chiến tranh cũng vừa để răn đe Liên Xô.

Sau khi thả xong trái bom lớn xuống Hiroshima vào ngày 6-8-1945, nội bộ Nhật cực kỳ hỗn loạn, tuy nhiên lúc đó từ hoàng thân Takamatsu là nhà bác học, cho tới thủ tướng Togo, vẫn không chịu tin vào sức mạnh của nguyên tử, bởi thế không chịu ngưng chiến. Do trên, ngày 9-8-1945, trái bom thứ hai Plutonium được thả xuống Nagasaki. Trái bom này đáng lẽ phải thả xuống thành phố Kokura nhưng vì hôm đó, mây mù dầy đặc toàn đảo Kyushu, không thể nào thực hiện được phi vụ. Do trên, trưởng toán là thiếu tá Sweney, phải đổi mục tiêu tới thành phố Nagasaki.

Theo các nhân chứng, thì trái bom thứ hai dù tên gọi là thằng nhỏ, nhưng sức công phá lớn hơn trái thứ nhất. Và ảnh hưởng của nó, sau khi thả bom đã suýt làm nổ tung máy bay, khiến phi cơ phải hạ cánh khẩn cấp xuống Okinawa... Riêng sức sát hại tại Nagasaki, chỉ có 74.000 người chết, cũng nhờ các đồi chung quanh thành phố che chở, làm giảm bớt sự tàn phá. Riêng tại Hiroshima, trái bom nguyên tử đã giết chết 186.940 người, bao gồm cả người Nhật, lẫn các tù binh Hoa Kỳ, Âu Châu, Trung Hoa và Cao Ly. Những nạn nhân chết vì bỏng và phóng xạ nhưng tử thần vẫn không chịu tha cho họ, mà còn kéo dài cho tới ngày nay, qua các chứng bệnh ung thư, dị tật nơi trẻ sơ sinh.

VỤ NỔ BỂ CHỨA CHẤT THẢI NGUYÊN TỬ TẠI MAYAK-LIÊN XÔ NĂM 1957:

Trong khu vực thử nghiệm vũ khí nguyên tử của Liên Xô, mang ký hiệu là tổ hợp Mayak có một cái hồ Karachay, dùng để chứa các chất thải phóng xạ từ năm 1951, trước khi xây một bể chứa. Ðây là một cái hồ thiên nhiên, không có lối thoát và đã tích tụ một số lượng khổng lồ chất phóng xạ, lên tới 120 Ci, cộng thêm các phóng xạ Strongti-90 và Cesi-157. Tất cả lượng phóng xạ, lớn gấp 100 lần vụ nổ tại nhà máy điện nguyên tử Chernobyl năm 1986.

Theo người Nga, thì chất thải phóng xạ chứa trong hồ Karachay, sẽ không thoát ra ngoài sông biển được, vì đây là cái hồ chết. Nhưng vào năm 1989, tiến sĩ Thomas Cochran, người Mỹ cũng là một khoa học gia, sau khi thăm viếng hồ Karachay, đã phát hiện 93% trọng lượng chất phóng xạ, đã ngấm vào đất dưới đáy hồ và nguy hiểm nhất là lượng chất thải dưới đất này, đã hòa vào nguồn nước tại các sông biển quanh vùng. Năm 1966, trời bỗng dưng hạn hán làm cho nước trong hồ cạn sạch, để lại một lớp bụi phóng xạ từ dưới đáy, lên tới lớp vách quanh hồ. Năm 1967, lớp bụi phóng xạ này lại bị những trận cuồng phong, thổi xa tới một vùng rộng lớn, chiếm một diện tích tới 25.000 km2 và gây hại gần nửa triệu người.

Ðó là chuyện nhỏ bên ngoài không hề có thống kê thiệt hại, dù tổng lượng chất phóng xạ, lên tới 5 triệu Ci tương đương bằng sức tàn phá của trái bom nguyên tử đầu tiên mà Hoa Kỳ đã thả xuống thành phố Hiroshima, vào tháng 8-1945.

Vào ngày 29-9-1957, khu hồ chứa nước thải chất phóng xạ, tại khu vực Mayak, được xây dựng vào năm 1953, để thay thế hồ chứa thiên nhiên Karachay, do hệ thống làm lạnh hồ bị hỏng, nên nước thải đã nóng lên tới 350 độ C, làm tung chiếc nắp đậy bể, nặng hằng chục tấn, phóng một đám mây phóng xạ vào không khí. Thảm kịch đã làm thương vong trên 270.000 người, sống quanh vùng, khiến cho cây cỏ lẩn con người chết dần mòn vì độc chất phóng xạ. Tóm lại thảm họa nguyên tử tại khu vực Chelyabinsk, đã được giữ kín như một bí mật quốc gia hơn 40 năm và đã được cựu Tổng Thống Liên Bang Nga là Mikhail Gorbachev, báo cáo tại hội nghị thượng đỉnh, về môi trường thế giới, tại Ba Tây vào tháng 6-1992.


Lò phản ứng hạt nhân Chernobyl sau tai nạn, lò số 3 (giữa phải) và số 4 (giữa). Tòa nhà chứa động cơ (phía dưới trái) - Credit: wikipedia

THẢM HỌA NGUYÊN TỬ TẠI CHERNOBYL NĂM 1986:

Lúc 1 giờ 23 ngày 25-4-1986, một trong 4 lò phản ứng của nhà máy điện nguyên tử Chernobyl Liên Xô cũ đã bị nổ, dù Nga đã cố gắng giữ an toàn cho nhà máy, như xây tường dầy bao bọc chung quanh và đúc những nắp đậy thật kiên cố. Thế nhưng theo báo cáo nói là do sơ suất kỹ thuật khiến một lò phản ứng đã bị nổ, làm bật tung chiếc nắp đậy bằng bê tông cốt thép trên 2000 tấn để thoát chất phóng xạ ra ngoài. Ðây là một tai họa nguyên tử nghiêm trọng nhất từ xưa tới nay trong lịch sử năng lượng nguyên tử dân dụng. Sau khi xảy ra tai nạn, Liên Xô đã dùng mọi biện pháp, phương tiện dập tắt hỏa hoạn và ngăn chận chất phóng xạ lan tràn.

Cũng từ ngày đó địa danh Chelyabimsk hay Chernobyl của Nga, vẫn xuất hiện thường trực trong tâm khảm của mọi người, như họ đã nhớ tới hai trái bom nguyên tử đầu tiên, mà Hoa Kỳ đã ném xuống Trường Kỳ và Quang Ðảo năm 1945.

Theo thống kê chính thức của Liên Xô thì ngay khi xảy ra thảm họa, đầu tiên đã có 32 người chết vì chất phóng xạ, 130.000 dân phải sơ tán và một diện tích 3.000km2, chung quanh nhà máy điện trở thành khu vực tử thần, cấm địa vì có sự hiện diện của chất phóng xạ. Do lịnh, đã có 600.000 người tham gia công tác tại chỗ, để càng bịt kín câu chuyện càng sớm càng tốt. Nhưng chất phóng xạ thì có cánh, cứ bay và bay chẳng những đầy trời Ukraine, Belarus, Nga... mà còn tít thấu Ðông Âu, Tây Bá Lợi Á.


Thành phố Pripyat bị bỏ hoang như một nghĩa địa, sau tai nạn hạt nhân. Về phía xa là Chernobyl. Credit: Wikipedia

TAI NẠN PHÓNG XẠ NGUYÊN TỬ LỚN NHẤT TẠI TOKAIMURA-NHẬT:

Ðây là một thành phố cách Ðông Kinh về hướng đông bắc chừng 120 km. Tokaimura là một trung tâm nghiên cứu nguyên tử lớn nhất của Nhật Bổn, với 6 cơ sở, 2 lò phản ứng trong 1 nhà máy điện nguyên tử.

Vào lúc 10 giờ 35’ ngày 30-9-1999, tai nạn nguyên tử lại xảy ra tại một xưởng sản xuất nhiên liệu uranium cho lò phản ứng thí nghiệm Joyo, của công ty tư nhân JCO, một chi nhánh thuộc đại công ty khai thác kim loại Sumitomo. Phòng thí nghiệm này nằm cách Tokaimura 30 km. Theo báo cáo, trong lúc công nhân đang làm việc, tới giai đoạn điều chế Hesafluorrure uraium (UF6) thành bột Oxyde Uranium (UO2), thì tai nạn xảy ra qua một phản ứng, gọi là hiện tượng tới hạn. Theo cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), thì tai nạn được xếp ở cấp 4/7, có một hậu quả rất nghiêm trọng, kể từ khi có tai nạn nguyễn tử năm 1986 tại Nga. Trong tai nạn này, có điểm khác, là không có vụ nổ như bom nguyên tử, vì uranium không bị nén và nhờ hiện tượng tới hạn, nên lượng phóng xạ cũng bị dồn ép trong khu vực thí nghiệm.

Sau những thảm họa do chất phóng xạ của những nhà máy điện nguyên tử gây ra liên tiếp tại Liên Xô, Pháp, Nhật và nhiều nơi khác, đã thúc đẩy các nước phải ngồi lại để cùng lo ngăn chận và chống đỡ hiểm họa vô hình, luôn xảy ra ngoài sự mong muốn của con người. Nói chung, muốn hưởng được lợí ích từ một ân huệ của lưởi hái tử thần, đòi hỏi con người phải có sẵn tiền, kỹ thuật và nhất là sự thực tâm trách nhiệm. Phương châm của các nước đang xử dụng năng lượng nguyên tử, là nâng cao hiệu quả kinh tế cũng như tính an toàn cho đồng bào mình. Sự kiện quốc tế đã ký chung hai công ước, cũng không ngoài nhanh chóng cùng nhau ngăn chận được những hiểm họa xảy ra, cũng như bảo đảm được sự an toàn tương đối cho nhà máy phát điện.

Nói chung, muốn có an toàn khi thực hiện nhà máy điện nguyên tử, quốc gia sở quan phải tuyệt đối chấp hành nghiêm chỉnh những điều lệ của công ước quốc tế, qua việc chọn địa thế và vị trí xây dựng. Phải có những máy móc thiết bị an toàn, bảo đảm chống được những biến cố bất ngờ. Cuối cùng là sự hiện diện của những chuyên viên trong ngành, để điều hành máy móc thiết bị cũng như ứng phó kịp thời khi có tai nạn.

Qua hai kinh nghiệm đã xảy ra tại Liên Xô và Nhật Bản, cho ta một bài học về tính thành thật trách nhiêm. Ở Nga, biến cố xảy ra vì nhân viên thiếu trình độ, cẩu thả và vô trách nhiệm. Tại Nhật trái lại, tai nạn do kỹ thuật không báo trước. Về phương diện giải quyết cấp cúu, do đã chuẩn bị sẵn sàng, nên người Nhật đã kịp thời phần nào chận được thảm họa, trái lại Liên Xô chỉ biết chờ đợi sự giúp đỡ của các nước ngoài, trong lúc chỉ giải quyết cho có lệ.

Viết tại Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 7-2009
Mường Giang

1 2 3 4 5 >>