Archives for: October 2009

CHUYỆN MÙA DỊCH CÚM: ÔNG GIÀ 112 TUỔI CƯỚI VỢ 17 TUỔI Ở SOMALIA


Ahmed Dhore, 112 tuổi và cô vợ mới Safia Abdulleh, 17 tuổi - Ảnh BBC

Chuyện mùa dịch cúm: ông già 112 tuổi cưới vợ 17 tuổi ở Somalia... và tính sinh con đẻ cháu
Source: BBC, AP, AFP, dailymail

Một ông già gân người Somalia đã cưới một cô gái trẻ hơn ông 95 tuổi... và đang dự tính có con với nhau. Chuyện cưới hỏi giữa quý cụ già và "gái tơ" trẻ hơn mình rất nhiều là chuyện thường xẩy ra ở Somalia, xứ sở của bọn hải tặc nổi tiếng hiện tại. Nếu so sánh với Methuselah trong Cựu Ước (sống đến 969 tuổi), cụ già gân này có lẽ đang chạy theo đuôi đây.

Hàng trăm khách đã tham dự lễ cưới giữa Ahmed Muhamed Dhore, người tuyên bố là 112 tuổi, và cô dâu Safia Abdulleh, trong tuổi 17. Lễ cưới tổ chức tại Galguduud, miền trung Somalia vào tối hôm Thứ Tư vừa rồi, cụ Dhore đã có 114 người con và cháu chắt, và 5 bà vợ, trong đó có 3 bà đã cỡi ngựa gỗ chầu trời. Người con già nhất của cụ năm nay đã 80 tuổi. Đây là đám cưới đầu tiên trở lại với cụ sau ba phần tư thế kỷ! Trong lễ cưới, cụ Dhore tuyên bố là muốn có thêm con cháu với cô vợ trẻ này. Cụ nói: "Hôm nay, Trời đã giúp giấc mơ của tôi trở thành hiện thực". Gia đình cô dâu nói rằng "cô gái rất hạnh phúc với người chồng mới của cô".

Cụ Dhore nói rằng mình và cô dâu mới - tuổi bằng hàng chắt của mình - ở cùng làng, và cụ đã chờ đợi người đẹp lý tưởng lớn lên để xin cưới (có nghĩa là "con quỷ râu xanh" của cụ đã ngắm nghía em bé từ hồi còn.."mang tã"!).

Lễ cưới này diễn ra trong thành phố Guriceel được các nhà sử học Somalia mô tả là hi hữu, lần đầu tiên diễn ra trong hơn một thế kỷ, trong vùng Sừng Châu Phi (Horn of Africa).

"Tôi không hề ép cô ấy lấy tôi, nhưng tôi đã dùng kinh nghiệm của tôi để thuyết phục nàng yêu tôi; và nàng đã đồng ý lấy tôi", cụ Dhore tuyên bố.

Cụ cho biết là các con cháu và hai bà vợ còn sống đều đồng ý, cha mẹ của cô dâu Abdulleh cũng vậy.

Cụ Dhore cho biết là đã 112 tuổi nhưng không có nguồn nào kiểm chứng về con số tuổi này. Tại các nước theo Hồi giáo như Somalia thì chuyện đa thê là đúng theo luật đạo. Tiên tri Muhammad là người có rất nhiều vợ, trong số đó có cả người mà ông cưới năm cô ta mới có 6 tuổi, và phải đợi đến năm cô lên 9 tuổi thì... mới đưa "đại pháo và xe tăng vào thành được"!!!

Ahmed Mohamed Dhore nói với AFP rằng: "Vợ tôi là mười lần trẻ hơn tôi, nhưng chúng tôi hết sức yêu nhau, và tôi có thể cho nàng tình yêu mà không một người trai trẻ nào có thể cho nàng được". Cụ lại nói: " Đời sống hôn nhân chính là tình yêu và đam mê, chứ không phải là tuổi tác và cái đẹp". Cụ cho biết bí quyết kéo dài tuổi thọ là "dùng thực phẩm giàu dinh đưỡng khi còn trẻ", lại nói: "Tôi nay 112 tuổi và có thể sống như một người trẻ... Ý kiến về việc lập gia đình trở lại là do các con cháu của tôi đề nghị", vì bà vợ già của ông đã 90 tuổi và đau yếu bệnh hoạn...

Theo các thống kê của các cơ quan cứu trợ thế giới thì tại Somalia, tuổi thọ trung bình của đàn ông là 47 tuổi, không hiểu sao cụ Dhore lại sống lâu và dai đến thế!!! Cụ Dhore sinh vào năm 1897, là năm mà nữ hoàng Victoria mừng tuổi thọ kim cương của bà, có nghĩa là cụ Dhore đã sống trải qua 3 thế kỷ, mà vẫn còn hung hăng con bọ xít không thua gì bọn trai trẻ!!!

Việc giao phối giữa các thế hệ tuổi tác khác nhau đã làm gia tăng truyền nhiễm vi khuẩn HIV tại Phi châu. Vào năm 2007, tại Uganda, tổ chức Dân số Thế giới đã phát động chiến dịch chống lại khuynh hướng làm tình giữa các thế hệ khác nhau tại Kampala, để chống lại nguy cơ truyền nhiễm HIV cho phái nữ.

KDĐN tổng hợp

TÌNH HÌNH CHIẾN SỰ SÔI ĐỘNG TẠI AFGHANISTAN - NHỚ LẠI CHƯƠNG TRÌNH ẤP CHIẾN LƯỢC TRONG CHIẾN TRANH VN


Bà Ngô đình Nhu đang thị sát vòng đai phòng thủ của một Ấp Chiến Lược vào tháng 7/1962

Lời của ký giả thân cộng người Úc Wilfred G. Burchett phát biểu khi nghe tin T.T Diệm bị lật đổ: “Thật là không thể tin được: chúng nó đã giết người duy nhất có tư tưởng và tổ chức có thể chặn chúng tôi (tức là phe cộng sản)".

Đỗ Ngọc Nhận

Tình hình cuộc chiến Afghanistan mỗi ngày thêm sôi động. Thương vong của quân lực Hoa kỳ trong tháng 10 - 2009 đã trở thành số thương vong cao nhất trong một tháng kể từ ngày cuộc chiến bộc phát cách đây 8 năm. Về chính trị, quốc gia Afghanistan đang ráo riết chuẩn bị cho cuộc bầu cử tổng thống vòng 2 vào 7-11-2009 sắp tới trong khi phiến quân Taliban quyết phá bầu cử cho bằng được. Đề nghị tăng quân số của tướng tư lệnh chiến trường Stanley A. Chrystal vẫn còn đang trong vòng tranh cãi. Thượng nghị sĩ John Kerry, chủ tịch Ủy Ban Đối Ngoại Thương Viện Hoa kỳ cho rằng: “đề nghị tăng 40,000 quân cho Afghanistan đi quá xa và quá nhanh” (VOA, 10-27-2009). Dư luận ủng hộ cuộc chiến của dân chúng Hoa kỳ giảm sút. Tình hình chung cho thấy, dường như Hoa kỳ vẫn chưa tìm được một chiến lược hữu hiệu cho cuộc chiến chống khủng bố. Những diễn biến tại Afghanistan hiện nay làm tôi nhớ lại thời kỳ khủng hoảng về đường lối chỉ đạo chiến lược của Hoa kỳ và VNCH trong chiến tranh tại VN.

Sau biến cố CS tấn công căn cứ Trảng Sụp tại Tây Ninh vào ngày 20-01-1960, gây thiệt hại nặng nề cho bộ chỉ huy Trung Đoàn 32 thuộc sư đoàn 21 BB, tình hình chiến sự trở nên sôi động hẳn, bộc lộ sự bất đồng quan điểm giữa Hoa kỳ và chính phủ VNCH về quan điểm chiến lược của cuộc chiến. Ít tháng sau biến cố Trảng Sụp, tôi được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám Đốc Nha Quân Cụ. Quân cụ là một ngành chuyên môn phụ trách quản trị quân xa, cơ giới, vũ khí và đạn dược trực thuộc Bộ Quốc Phòng và Bộ Tổng Tham Mưu. Vì là một sĩ quan bộ binh không được đào tạo về chuyên môn quân cụ, cho nên tôi hết sức bối rối với lệnh bổ nhiệm này. Bởi vậy khi được lệnh trình diện Tổng Thống Ngô đình Diệm trước khi đáo nhậm nhiệm sở mới, tôi thỉnh cầu Tổng Thống chọn một sĩ quan chuyên môn thay vì sĩ quan gốc bộ binh như tôi để đứng đầu ngành chuyên môn quan trọng hàng đầu của quân lực. Tổng Thống Diệm nghiêm sắc mặt nói với tôi: “Thế ai bày tôi làm tổng thống”. Sau đó tôi nhận được chỉ thị của tổng thống thực hiện công tác đặc biệt với chức vụ mới, đó là cố gắng tìm hoặc biên chế vũ khí và đạn dược nhằm trang bị cho lực lượng Dân Vệ hiện không được Mỹ đặt trong chương trình viện trợ. Dân vệ là tổ chức võ trang để bảo vệ an ninh nông thôn đang bị du kích cộng sản chĩa mũi dùi ra sức đánh phá.

Công tác đặc biệt mà Tổng Thống trao cho tôi lúc ấy phần nào phản ảnh sự mâu thuẫn giữa chính phủ Mỹ và VNCH về đường lối chỉ đạo chiến lược chống lại cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam (MNVN) của cộng sản Bắc Việt (CSBV).

Nhắc lại bối cảnh chính trị phức tạp.

Hiệp định ngưng bắn Genève 21-07-1954 chia đôi Việt Nam, phía Bắc vĩ tuyến 17 do cộng sản (CS) kiểm soát. Chính phủ quốc gia kiểm soát phía Nam do chí sĩ Ngô đình Diệm mới từ ngoại quốc trở về nước lãnh đạo. Tình hình chính trị tại MNVN lúc ấy vô cùng đen tối: trên một triệu người rời bỏ quê cha đất tổ miền Bắc lánh nạn CS di cư vào miền Nam, các đảng phái quốc gia ở trong tình trạng phân hoá, tướng Nguyễn văn Hinh Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội và một số sĩ quan thân Pháp công khai chống chính phủ, lực lượng võ trang giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo và “đảng cướp” Bình Xuyên quyết liệt chống lại quyết định thống nhất quân đội của chính phủ. Tình hình chính trị chỉ ổn định sau khi Tổng Thống Diệm loại trừ dược tướng Hinh, dùng võ lực dẹp bỏ các lực lượng phản nghịch, dành lại nền độc lập trong tay thực dân Pháp, trưng cầu dân ý truất phế quốc trưởng Bảo Đại và thành lập nền Cộng Hoà vào ngày 26-10-1955. Nhiều chính khách cho rằng sự thành công của Tổng Thống Diệm trong việc ổn định tình hình rối ren tại Saigon sau Hiệp định Genève 1954 là một phép lạ chính trị.

Với nền tảng chính trị củng cố, chính nghĩa tỏ rạng, Hoa kỳ được yêu cầu viện trợ giúp chính phủ Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) cải tổ QĐVNCH, xây dựng phát triển một MNVN tự do và dân chủ . Theo đề nghị của Hoa kỳ, Tổng Thống Diệm gởi các sĩ quan cao cấp kể cả hàng tướng lãnh sang Hoa kỳ thụ huấn. Trong chương trình này, năm 1957, tôi được gởi đi thụ huấn khóa học Chỉ Huy và Tham Mưu tại trường Fort Leavenworth, Kansas. Mặt khác, để giải quyết tình trạng thiếu thốn về nhân sự của một quốc gia vừa thoát khỏi ách nô lệ, tổng thống Diệm đặc biệt chú ý đến việc đào tạo các cán bộ tương lai. Nổi bật nhất là thiết lập chương trình huấn luyện 4 năm đào tạo các sĩ quan hiện dịch tại Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN), tổ chức trường Quốc Gia Hành Chánh để đào tạo các cán bộ hành chánh dân sự với trình độ đại học. Để đối phó với các cán bộ cộng sản nằm vùng do CS để lại sau Hiệp Định Genève, chính phủ tổ chức chiến dịch Tố Cộng. Qua chiến dịch này, nhiều cán bộ hạ tầng CS bị bắt giữ hoặc quy thuận với chính quyền. Tổng Thống Diệm cũng thường tiếp kiến các tướng lãnh, những sĩ quan cao cấp và những giới chức dân sự giữ những chức vụ then chốt, vừa để giáo huấn khích lệ, vừa để trực tiếp lượng định hiệu quả thi hành công tác. Mặc dầu có dư luận phê bình về cách làm việc đi ra ngoài hệ thống chỉ huy thông thường của Tổng Thống Diệm, nhưng chính dưới chính thể Đệ Nhất Cộng Hoà, MNVN đã phát triển toàn diện các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá xã hội… phục vụ và nâng cao mức sống của người dân. Từ cảnh hỗn loạn sau Hiệp định Genève, chính phủ Ngô đình Diệm đã vượt qua được mọi khó khăn để xây dựng MNVN thành một quốc gia vững mạnh, phát triển kinh tế ngang bằng các quốc gia lân bang như: Thái Lan, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Đại Hàn, Đài Loan… Miền Bắc không còn hy vọng vào sự sụp đổ của MNVN sau Hiệp định Genève như Hồ chí Minh dự kiến để thôn tính MNVN bằng thủ đoạn chính trị.

Mâu thuẫn giữa Hoa Kỳ và chính phủ VNCH về chỉ đạo chiến lược chiến tranh

Vào tháng 11-1957, trong cuộc hành quân ở Ô Môn, Cần Thơ, VNCH bắt được một số cán binh Việt cộng (VC), tịch thu nhiều vũ khí mà về phẩm chất tối tân hơn hẳn những vũ khí cổ điển thế chiến thứ hai của QĐVNCH. Đây là bằng chứng cụ thể CSBV đã trang bị và lén lút đưa cán bộ tập kết trở lại MNVN. Trước đó một tháng, tháng 10-1957, CSBV đã quyết định cho thành lập 37 đại đội võ trang tại vùng đồng bằng sông Cửu Long và khơi động chiến dịch bắt cóc, ám sát, thủ tiêu các viên chức xã ấp VNCH. Riêng năm 1957 có khoảng 400 người bị sát hại. Năm 1958, sau cuộc tham quan bí mật tại MNVN, Lê Duẫn, một ủy viên trung ương đảng CS báo cáo với Trung Ương đảng bộ rằng chính phủ Ngô đình Diệm chẳng những không sụp đổ mà càng ngày càng vững mạnh. Do đó, năm 1959, CSBV quyết định chính thức phát động chiến tranh nhằm thôn tính MNVN dưới hình thức Chiến Tranh Nhân Dân với chiêu bài chống Mỹ Diệm, thành lập đoàn 559 để vận chuyển người và quân dụng vào MNVN qua đường mòn Hồ chí Minh. Về mặt chính trị, ngày 20-12-1960 Hà nội cho ra đời Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN) để ngụy trang như là phong trào tự phát của nhân dân MNVN chống chế dộ Ngô đình Diệm.

Trong chiến tranh VN, có hai hình thức chiến tranh tiêu biểu: Hình thức Chiến Tranh Quy Ước (CTQU) và hình thức Chiến Tranh Nhân Dân (CTND):

- CTQU mang bản chất quân sự. Cứu cánh CTQU nhằm tiêu diệt lực lượng võ trang và chiếm đóng lãnh thổ của địch, đòn bẫy để thành đạt mục đích chính trị. Lượng giá kết quả các cuộc hành quân của Hoa kỳ và VNCH bằng số lượng địch bị tiêu diệt và võ khí địch bị tịch thâu, xuất phát từ tư tưởng chiến tranh quy ước của Carl Von Clausewitz với định nghĩa: Chiến tranh là sự kế tục của chính trị.

- Khác với CTQU, cứu cánh CTND của CS mang bản chất chính trị nhằm tranh thủ (hay kiểm soát) nhân dân từ cấp bộ hạ tầng thấp nhất. Trọng tâm chủ lực địch nằm trong tổ chức chính trị hạ tầng cơ sở quần chúng chứ không phải lực lượng võ trang. Cộng sản chẳng những không phủ nhận định nghĩa chính trị là mục đích của chiến tranh mà còn đi xa hơn nữa bằng tư tưởng của Mao trạch Đông với định nghĩa: Chính trị là chiến tranh không đổ máu và chiến tranh là chính trị có đổ máu.

Phản ứng của Hoa kỳ đối với tình trạng nông thôn ung thối lúc ấy là thành lập tổ chức mang danh National Intelligence Estimate. Nhưng thay vì theo dõi đánh giá chiến lược chiến thuật của CS, tổ chức này lại đặt trọng tâm công tác vào việc đánh giá chính quyền VNCH. Họ đưa ra nhận định rằng chính quyền Diệm đã không thỏa mãn những đòi hỏi của giới trí thức về tự do, dân chủ và đối lập rồi đưa ra kết luận: chính sách của chính phủ ông Diệm ngăn cản phát triển sự ủng hộ chế độ của đa số quần chúng (Lost Victory, Williams Colby, trang 56). Thực ra, hoạt động CS khủng bố, bắt cóc, thủ tiêu các viên chức xã ấp VNCH nằm trong khuôn khổ đường lối chiến lược CTND của CS, chứ không phải là hậu quả của phong trào nhân dân bất mãn đối với chính quyền.

Bất đồng quan điểm giữa chính phủ VNCH và Hoa kỳ về sự nhận thức chủ trương chiến lược CTND của CS thể hiện rõ qua chương trình viện trợ của Hoa kỳ lúc bấy giờ. Trong khi lực lượng Dân Vệ trở thành mục tiêu chiến lược bị CS ra sức đánh phá, thì Hoa kỳ lại đặt ưu tiên viện trợ cải tổ QĐVNCH theo mô thức tổ chức quy ước mà quân lực Hoa kỳ đã thành công trong chiến tranh Cao Ly. Chính phủ VNCH đành phải tự xoay xở với những phương tiện nghèo nàn cổ hủ để trang bị cho tổ chức Dân Vệ. Sự bổ nhiệm cá nhân tôi làm giám đốc Nha Quân Cụ với công tác ủy nhiệm tìm hoặc biên chế vũ khí đạn dược cho Dân Vệ xẩy ra vào thời điểm này. Mãi cho đến đầu năm 1961, tức bốn năm sau kể từ khi cuộc chiến khởi sự (1957), Hoa kỳ mới đồng ý viện trợ các lực lượng diện địa với kế hoạch 68,000 Bảo An và 40,000 Dân Vệ.

Chương Trình Ấp Chiến Lược, chiến lược chống lại CTND của CS

CTND của CS lấy nhân dân và lúa gạo tại MNVN làm nguồn cung cấp về nhân lực và lương thực để phát động, tổ chức, nuôi dưỡng và phát triển chiến tranh. Cán binh CS không những có nhiều kinh nghiệm về hoạt động khuynh đảo, mà còn thừa hưởng kinh nghiệm đấu tranh chính trị và võ trang của toàn khối CS quốc tế. Họ xử dụng bất cứ thủ đọạn bạo lực nào miễn là phục vụ cho mục đích theo phương châm: Cứu cánh biện minh cho phương tiện. Trong khi đó, phía quốc gia mặc dầu có ưu thế chiến thuật về di động và hoả lực, gây cho địch nhiều tổn thất về nhân mạng và vũ khí trong các cuộc hành quân lớn nhỏ, nhưng tựu trung vẫn không dành được thế chủ động tại chiến trường. Tại nông thôn, CS tiếp tục nới rộng vùng kiểm soát, lực lượng võ trang địch mỗi ngày thêm lớn mạnh. Rõ ràng CS giữ được ưu thế chủ động về chiến lược. Trong chiến tranh, phe nào có ưu thế chiến lược, phe đó sẽ thành đạt thắng lợi cuối cùng. Đó là quy luật. Theo nhận xét của tướng Lionel C. McGarr, trưởng phái bộ quân sự Mỹ tại Saigon thì vào đầu năm1961, CS đã kiểm soát được 40% nông thôn, mặc dầu trong khi ấy phía CS cũng chẳng mấy khả quan, vì theo Lê Duẫn lực lượng quân sự của Diệm vẫn còn nguyên vẹn.

Để dành lại quyền chủ động trong chiến tranh, cuối năm 1961, chính phủ VNCH ban hành quốc sách Ấp Chiến Lược (ACL), một chương trình có quy mô lớn nhằm đối phó với chiến lược CTND của CS. Chương trình do ông Ngô đình Nhu, cố vấn chính phủ khởi xướng và được ủy nhiệm lãnh đạo thực hiện.

Giải pháp ACL là kết quả công trình nghiên cứu những kinh nghiệm của cuộc CTVN lần thứ nhất (1946-1954), những ý kiến của các chuyên gia Hoa kỳ và nhất là của Phái Bộ Anh Quốc tại Saigon do Sir Robert Thompson hướng dẫn. Ông Thompson đã từng thành công trong việc tiễu trừ phiến loạn CS tại Malysia. CT/ACL chủ trương vận dụng mọi khả năng quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội để vãn hồi an ninh tại nông thôn, ngõ hầu nâng cao mức sống của quảng đại quần chúng. CT/ACL lấy đơn vị ấp làm địa bàn hoạt động.

“ACL là một ấp mà nhà cửa của dân chúng ở vào cùng một khu đất, có hàng rào bảo vệ, có chính quyền được bầu cử, dưới sự kiểm soát của chính phủ VNCH. Một ấp được coi là ACL khi hội đủ 6 tiêu chuẩn:

1. Có hàng rào bảo vệ

2. Có Ban Trị Sự do dân bầu ra

3. Có lực lượng Thanh Niên Chiến Đấu được huấn luyện và võ trang an ninh

4. Có kề hoạch phát triển kinh tế

5. Dân chúng được đoàn ngũ hoá

6. Có hương ước

Ngoài ra tuỳ theo khả năng yểm trợ của quận, tỉnh và trung ương, mỗi ấp còn có trường học, trạm y tế, phòng thông tin.

Về quân sự, mỗi ấp tiến tới chỗ có thể tự bảo vệ chống lại hoạt động của du kích CS cấp nhỏ, xây dựng hệ thống tình báo trong dân chúng, triệt hạ mạng lưới tình báo và hạ tầng cơ sở của VC, ngăn chặn VC thu thuế và thu góp thực phẩm cũng như phẩm vật khác dùng cho du kích.

Về chính trị, chính sách ACL nhằm mục tiêu xây dựng dân chủ ở xã ấp, chống nạn cường hào ác bá, nâng cao ý thức chính trị, củng cố tinh thần và ý chí chống cộng để phát triển kinh tế, xã hội, tự do, hoà bình. Các ban Trị Sự ACL do dân chúng bầu cử trực tiếp.

Về kinh tế, mỗi ấp phải có môt số dự án phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá. Mục tiêu tối thiểu là tự túc về lương thực căn bản (lúa, bắp, sắn) sau 2 năm. Ngoài ra còn có những dự án trồng cây công nghiệp nhỏ (cao su, kénaf, đay, bông, mía, cà phê…), các dự án ngư nghiệp, nhà máy chế biến thực phẩm do trung ương tài trợ. Một ấp mà vì điều kiện kém thuận lợi không có dự án kinh tế nào sẽ chỉ được coi là Ấp Chiến Đấu.

Về văn hoá, ACL còn có mục tiêu chống nạn mù chữ, xây dựng các trường sơ học, phát huy truyền thống dân tộc qua việc thực hiện hương ước giống như trong xã ấp thời xưa

Chính sách ACL đề ra mục tiêu hoàn thành việc xây dựng 2/3 trong hơn 8000 ấp của VNCH thành ACL vào năm 1964, và tiến tới xây dựng xong ¾ vào cuối năm 1964. Lúc đó, mục tiêu quân sự được quy định là trao toàn bộ trách nhiệm an ninh phòng vệ lãnh thổ cho Địa Phương Quân. Các bộ tư lệnh Vùng Chiến Thuật, Khu Chiến Thuật và Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu sẽ do Địa Phương Quân đảm trách. Các đại đơn vị quân đoàn, sư đoàn sẽ lưu động 100% trong nhiệm vụ tìm và diệt địch tạì các căn cứ địa của chúng”

(Tài liệu do Nguyễn công Luận, UBPHLB/ACL cung cấp).

Để thực hiện CT/ACL, ông Nhu đưa ra một loạt những chương trình phụ thuộc, nhưng không kém phần quan trọng như:

- Thành lập Ủy Ban Phối Hợp Liên Bộ tại Trung Ương và các Ủy Ban Phối Hợp tại các địa phương để điều hành.

- Tổ chức phong trào học tập trên toàn quốc để hướng dẫn tư tưởng chiến tranh qua quốc sách ACL.

- Tổ chức phong trào Thanh Niên Cộng Hoà có võ trang để vận động chính trị cũng như bảo vệ thôn ấp.

- Áp dụng chính sách chiêu hồi đối với các cán binh CS muốn trở về hợp tác với chính quyền quốc gia.

CT/ACL mới thực hiện được khoảng 2 năm và dĩ nhiên còn nhiều khiếm khuyết cần cải tiến thì bị hủy bỏ sau chính biến 1-11-1963. Tuy vậy, theo ông Williams Colby, cựu Giám Đốc Trung Ương Tình Báo HK: “Đây là lần đầu tiên, CT/ACL đã dành lại thế chủ động chiến lược trong cuộc chiến đương đầu với CS” (Lost Victory, Williams Colby, p.102). Wilfred G. Burchett, một ký giả Úc đại Lợi thân cộng, từng sống trong chiến khu CS và đã có dịp tiếp xúc với nhiều lãnh tụ VC viết như sau về ACL: “Về lãnh thổ cũng như về dân số, Diệm đã lấy lại được một phần đáng kể năm 1962.” Burchett ghi nhận:”Quân đội chính phủ đã dành lại được quyền chủ động về chiến lược và chiến thuật…. Năm 1962 là năm của Diệm.” (Triumph Forsaken, Mark Moyar, p.185)

CT/ACL và vấn đề chủ động chiến lược

Trong một buổi hội thảo về phòng thủ ấp tại Trung Tâm Hội Thảo ACL Suối Lồ Ô dành cho các viên chức cao cấp dân sự và quân sự, chúng tôi đặt vấn đề phải tổ chức phòng thủ chống lại các cuộc tấn kích ACL của VC như thế nào để vừa giữ được ấp, vừa bảo vệ được sinh mạng và tài sản của nhân dân, đáp ứng mục tiêu chính trị của CT/ACL là tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân trong ấp. Các hội thảo viên đề ra một số nguyên tắc:

- Về quân sự, chính sách ACL không đòi hỏi các ACL có khả năng chống trả các cuộc tấn công của lực lượng quân sự địch cấp địa phương. Trên lý thuyết, một tiểu đội hoặc một trung đội thanh niên chiến đấu để giữ an ninh ấp chỉ có thể làm nhiệm vụ chống du kích VC quấy rối, thâu thập tin tức, chiến đấu trì hoãn chờ lực lượng xung kích đến tiếp cứu.

- Bảo vệ an ninh ACL là trách nhiệm của các cấp bộ chỉ huy lãnh thổ địa phương.

- Các đơn vị giữ an ninh ấp và những đơn vị xung kích đến tiếp cứu phải luôn luôn nắm vững tư tưởng chiến lược là bảo vệ sinh mạng và tài sản của nhân dân.

- Đơn vị tiếp cứu chỉ có thể phát huy sở trường về ưu thế di động và hoả lực của mình bằng cách chặn đánh bẻ gẫy quy luật tác chiến của địch như tấn kích căn cứ xuất phát, phục kích đường tiến sát và rút lui của chúng bên ngoài hàng rào ấp, tránh tối đa giao tranh xử dụng pháo binh và súng cối trong nội vi hàng rào ấp.

- Hàng rào ấp không thể được coi là hệ thống phòng thủ chu vi của ấp. Rào kín ấp chỉ giúp cho việc tập trung dân cư để dễ kiểm soát và cản trở địch len lỏi tiếp xúc với các nông dân thâu góp thực phẩm và tiền bạc. Hàng rào ấp còn tạo tác dụng tâm lý an toàn trong ấp.

Như vậy, mấu chốt để dành quyền chủ động chiến lược của CT/ACL tuỳ thuộc vào hai yếu tố:

(1) Toàn bộ các hoạt động quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong CT/ACL phải phục vụ cho mục tiêu chính trị là tranh thủ và bảo vệ nhân dân

(2) Khả năng chiến thuật bẻ gẫy quy luật tác chiến địch của các đơn vị xung kích hành quân bảo vệ an ninh ấp, tuyệt đối tránh làm phương hại đến sinh mạng và tài sản của nhân dân trong ấp.

Chính biến 1-11-1963 và những hậu quả

Bất hạnh thay, CT/ACL đang tiến hành có kết quả hết sức khả quan thì xảy ra chính biến. Cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963 do tướng Dương văn Minh cầm đầu được Hoa kỳ cổ võ, lật đổ chính phủ hợp pháp hợp hiến VNCH, sát hại TT Ngô đình Diệm và người em là ông cố vấn Ngô đình Nhu đã làm sụp đổ nền cộng hoà và chương trình ACL. Sau chính biến, các tướng lãnh lo gây phe cánh để tạo uy thế chính trị làm hàng ngũ quân đội chia rẽ, tệ trạng tham nhũng lan tràn, lòng dân ly tán. Sự chỉ đạo chiến tranh từ nay do Hoa kỳ quyết định, tạo cớ để CSBV giương cao được ngọn cờ chính nghĩa dưới “chiêu bài” Chống Mỹ Cứu Nước, ồ ạt đưa quân tăng viện MTDTGPMN trong mưu đồ thôn tính MNVN. Tình trạng bất ổn này kéo dài mãi cho đến khi Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu ổn định được tình hình chính trị vào năm 1967. Mặc dầu sau này CT/ACL được tiếp nối bởi các chương trình Ấp Tân Sinh, Ấp Đời Mới… nhưng vì mất đi yếu tố chính nghĩa, cho nên về phẩm chất đã không thể đạt được mục đích chính trị ở mức độ cao như CT/ACL nguyên thủy.


Tổng thống Ngô Đình Diệm được Tổng Thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower và Ngoại Trưởng John Foster Dulles đón tiếp tại Phi trường Quốc gia Washington (Washington National Airport) vào ngày 8 tháng 5/1957 - Ảnh ARC

Ký giả thân cộng Wilfred G. Burchett phát biểu khi nghe tin TT Diệm bị lật đổ: “Thật là không thể tin được: chúng nó đã giết người duy nhất có tư tưởng và tổ chức có thể chặn chúng tôi”.

Về phía các lãnh tụ MTDTGPMN thì họ không ngờ là họ lại may mắn như thế. Nguyễn hữu Thọ nói với báo Nhân Dân: “Sự lật đổ Diệm là món quà mà trời ban cho chúng tôi”

Hồ chí Minh thì nói với một nhóm cán bộ: “…Ông Diệm là kẻ thù ghê gớm nhất của Bác. Nay Ông đã bị loại rồi, thì chiến thắng chắc chắn về ta rồi.” ( Trích bài: Phe CS nghĩ sao về TT Ngô đình Diệm - Tôn thất Thiện - Lễ tưởng niệm cố TT N Đ D 2006 )

Nói tóm lại, sự sụp đổ chính phủ Ngô đình Diệm đã dẫn đến nhiều hậu quả vô cùng tai hại cho Hoa kỳ và MNVN:

- Sai lầm nghiêm trọng khi quyết định xoá bỏ CT/ACL sau chính biến 1-11-1963.

- VNCH mất đi yếu tố chính nghĩa, quân lực Hoa kỳ phải thay thế QLVNCH bình định chống lại quân CSBV. Vai trò QLVNCH xuống cấp trở thành đoàn quân phụ thuộc cho quân lực Hoa kỳ.

- Khủng hoảng lãnh đạo chính trị tại MNVN đã vô phương cứu vãn.

- Hoa kỳ phải trả giá quá mắc về sinh mạng, tiền bạc và uy tín quốc tế do sự thất bại tại MNVN.

- MNVN bị CSBV cưỡng chiếm.

Những điểm tương đồng và khác biệt giữa CTVN và CT Afghanistan

Trở lại trường hợp chiến tranh Afghanistan, có nhiều điểm tương đồng và khác biệt so với chiến tranh VN:

Những điểm tương đồng:

- Xét về mặt bản chất thì CSVN và phiến quân Taliban đều dựa trên nền tảng nhân dân để tiến hành cuộc chiến tranh, cho nên cả hai cuộc chiến đều mang bản chất chính trị dưới hình thức CTND được áp dụng tại VN. CSVN lấy chủ nghĩa CS và sự khát khao nền độc lập cho xứ sở để vận dụng sự đồng tình tham gia của quần chúng. Phiến quân Taliban lợi dụng bản chất cực đoan sẵn có của một hệ phái Hồi giáo để vận động tín đồ.

- Cả CSVN lẫn phiến quân Taliban đều nêu cao ngọn cờ chính nghĩa dựa trên chiêu bài tranh đấu chống ngoại bang dành lại chủ quyền quốc gia để vận dụng lòng yêu nước và khí thế đấu tranh.

- Cả CSVN lẫn phiến quân Taliban đều áp dụng thủ đoạn bạo lực khủng bố không giới hạn theo phương châm: cứu cánh biện minh cho phương tiện.

- Cả CSVN lẫn phiến quân Taliban đều dùng biên giới với địa thế hiểm trở làm căn cứ xuất phát cho các hoạt động khủng bố.

- Cả hai cuộc chiến đều mang tính chất trường kỳ và toàn diện. Yếu tố thời gian thuận lợi cho phía CSVN và phiến quân Taliban, trong lúc đó Hoa kỳ và đồng minh rất khó khắc phục nhược điểm của một quốc gia tự do dân chủ dễ nản lòng đối với cuộc chiến kéo dài với nhiều thương vong.

- Cũng như trong CTVN, Hoa kỳ và VNCH đã mất thời gian dài trước khi đề ra chiến lược hữu hiệu cho cuộc chiến. Tại VN, Hoa kỳ và VNCH đã mất thời gian 4 năm, còn tại Afghanistan, Hoa kỳ và NATO đã mất thời gian 8 năm. Thời gian là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong chiến tranh và chiến đấu.

- Chỉ có chính quyền hợp pháp được nhân dân bản xứ ủng hộ mới có thể đối phó hữu hiệu với chiến tranh khuynh đảo.

Những điểm khác biệt:

- Cuộc chiến tại Afghanistan phục vụ cho quyền lợi và nền an ninh của Hoa kỳ.

- CSVN có hậu phương rất vững chắc và to lớn là Cộng Sản Bắc Việt và toàn khối cộng sản quốc tế, đặc biệt là Nga sô và Trung cộng hỗ trợ về các mặt chính trị, tâm lý, kinh tế, võ khí, quân dụng, nhân sự… và kinh nghiệm đấu tranh khuynh đảo. Phiến quân Taliban chỉ nhận được sự hỗ trợ giới hạn của thế giới Hồi Giáo.

- Phiến quân Taliban không có (hoặc chưa có) khả năng tiến hành hình thức chiến tranh CTQU kết hợp với chiến tranh du kích ở quy mô lớn như CSVN.

- Chính phủ Afghanistan không có sẵn tổ chức quân đội và cơ cấu hành chánh quy mô như chính phủ VNCH.

Sự bổ nhiệm Đại tướng Stanley A. McChrystal làm tư lệnh chiến trường Afghanistan với khuynh hướng chiến lược bảo vệ sinh mạng và tài sản nhân dân Afghanistan của quân lực Hoa kỳ và NATO dường như phản ảnh chiến lược CT/ACL của VNCH trước đây.

Để dành lại quyền chủ động chiến lược, kinh nghiệm về CT/ACL trong CTVN cho thấy, vấn đề quan trọng hàng đầu khi có sự thay đổi chiến lược trong chiến tranh là toàn thể các giới chức lãnh đạo dân sự, quân sự, các cơ cấu và các tổ chức quân dân chính liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến chiến trường cần đạt được sự thống nhất về tư tưởng chỉ đạo chiến lược. Phương pháp hữu hiệu nhất là phát động một phong trào học tập ở mọi cấp bộ về tư tưởng chiến lược mới. Bản thân tôi đã tham dự một khóa hội thảo về CT/ACL do Ủy Ban Phối Hợp Liên Bộ Trung Ương của CT/ACL tổ chức vào năm 1962, cho nên tôi nhận thức được nhu cầu và lợi ích của phong trào học tập thống nhất tư tưởng chỉ đạo.

Hiện nay Hoa kỳ và NATO tại Afghanistan đang nắm ưu thế về quân sự tại chiến trường, thế nhưng trong chiến tranh khuynh đảo, chính trị mới là nền tảng, bởi vậy sự thành công hay thất bại của cuộc chiến lại tùy thuộc vào yếu tố hình thành một chính quyền hợp pháp và vững mạnh tại địa phương. Chính quyền ấy không những phải đáp ứng quyền lợi và khát vọng của nhân dân Afghanistan mà còn phải phù hợp với quyền lợi và mục tiêu của Hoa Kỳ và đồng minh. Đó là một vấn đề hết sức khó khăn, nhưng nếu không khai thông được vấn đề chính trị, thì rất có thể Hoa kỳ sẽ đi vào vết xe lầy như trong chiến tranh VN.

Viết nhân ngày giỗ cố tổng thống Ngô Đình Diệm năm 2009

BỌN ÁC ÔN CÔN ĐỒ

Những tướng tá dơ bẩn đã phản bội cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm để nhận $42,000 USD tiền công từ Lucien Conien. Hình chụp vào ngày quốc khánh Việt Nam Cộng Hòa 26/10/1963, 5 ngày trước khi đảo chánh.

Tướng Dương văn Minh, Lê văn Kim, một đại tá không rõ tên, tướng Trần văn Đôn

Tướng Kim, Đính, Đôn, Vỹ, và Xuân bị tướng Khánh ra lệnh bắt tại nhà ở Đà Lạt năm 1964

Saigon ngày 8.11.2003
Tú Gàn

Trong cuốn băng dài 30 tiếng đồng hồ do thư viện Johson Library ở Austin, Texas, công bố ngày 28.2.2003, Tổng Thống Johnson đã gọi các tướng miền Nam Việt Nam được Hoa Kỳ thuê làm đảo chánh lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm là “một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” (a goddam bunch of thugs). Họ là ai và đã làm gì mà bị Tổng Thống Johnson miệt thị như vậy?

NHẬN DIỆN BỌN ÁC ÔN CÔN ĐỒ

Tướng Trần Văn Đôn cho biết các sĩ quan sau đây đã nằm trong nhóm đứng ra tổ chức đảo chánh: Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Trần Văn Đôn, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, Thiếu Tướng Nguyễn Khánh, Thiếu Tướng Lê Văn Kim, Thiếu Tướng Trần Văn Minh, Thiếu Tướng Phạm Xuân Chiểu, Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm, Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, Đại Tá Đỗ Mậu, Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Tá Nguyễn Văn Quan, Đại Tá Nguyễn Hữu Có, Đại Tá Trần Ngọc Huyến, Đại Tá Nguyễn Khương và Đại Tá Đỗ Cao Trí.

Trong một cuộc phỏng vấn, Tướng Khánh có nói với chúng tôi rằng ông là người được CIA tiếp xúc trước tiên khi muốn làm đảo chánh. Nhưng theo tài liệu, CIA đã cho hai điệp viên khác nhau đến gặp Tướng Khiêm và Tướng Khánh cùng một lúc. Điệp viên Lucien Emile Conein đến gặp Tướng Khiêm, một nhân viên CIA, lúc đó là Tham Mưu Trưởng Liên Quân, và cho biết quyết định của Hoa Kỳ muốn lật đổ Tống Thống Ngô Đình Diệm. Tướng Khiêm đồng ý nhận thực hiện kế hoạch đó, nhưng gợi ý nên đi gặp Tướng Dương Văn Minh và Tướng Trần Văn Đôn. Trong khi đó, một điệp viên khác là Al Spera, cố vấn chính trị Bộ Tổng Tham Mưu, đi Pleiku gặp Tướng Nguyễn Khánh, một cộng tác viên khác của CIA, để thảo luận về việc này. Khi Al Spera hỏi Tướng Khánh về tướng Khiêm, Tướng Khánh đã nắm chặt hai bàn tay của mình lại và nói: “Chúng tôi như thế này”.

Sau khi Tướng Khiêm và Lucien Conein phác xong họa kế hoạch hành động, ngày 2.10.1963 khi Tướng Đôn lên phi trường đi Nha Trang thì Lucien Conein đến gặp và hẹn sẽ nói chuyện với nhau ở Nha Trang. Tối hôm đó, tại Nha Trang, Lucien Conein thuyết phục Tướng Đôn làm đảo chánh và Tướng Đôn đã đồng ý. Ngày 5.10.1963, Lucien Conein lại đến bàn chuyện này với Tướng Dương Văn Minh. Tướng Minh cũng đồng ý. Tướng Đôn được giao cho phối trí lực lượng, còn Tướng Minh lãnh đạo Hội Đồng Cách Mạng. Tất cả nằm dưới sự chỉ đạo của Lucien Conein và Tướng Khiêm.

1.- Vai trò của Lucien Emile Conein

Chúng tôi chưa tìm được tài liệu nào nói về điệp viên Al Spera, nhưng chúng tôi có khá nhiều tài liệu về điệp viên Lucien Emile Conein. Ông sinh năm 1919 tại Paris, mồ côi cha sớm, lúc mới 5 tuổi được mẹ gởi sang Hoa Kỳ sống với bà dì tại Kansas City thuộc tiểu bang Kansas, nhưng vẫn giữ quốc tịch Pháp. Ông đã từng làm điệp viên cho OSS (tiền thân của CIA) từ năm 1943 với cấp bậc Trung Úy, hoạt động chống Đức Quốc Xả trong Đệ Nhị Thế Chiến ở Âu Châu, rồi qua Bắc Việt khi chiến tranh chấm dứt. Từ 1954 đến 1956 ông đến Việt Nam hoạt động trong toán đặc nhiệm dưới quyền của Đại Tá Edward Lansdale, người đã giúp Tổng Thống Ngô Đình Diệm chống lại nhóm Bảy Viễn và Tướng Nguyễn Văn Hinh. Sau đó, ông trở về Mỹ và tham gia Lực Lượng Đặc Biệt (Special Force), nhưng vẫn còn làm việc cho CIA.

Năm 1961 ông đã xin về hưu, nhưng năm 1962 ông được CIA gọi làm việc trở lại và phong cho chức Trung Tá với bí danh là Lulu hay Black Luigi, rồi gởi qua Sài Gòn làm cố vấn cho Bộ Nội Vụ. Nhưng trong thực tế, Lucien Conein có nhiệm vụ móc nối với các tướng Việt Nam mà ông đã có dịp quen biết khi phục vụ dưới quyền của Đại Tá Lansdale, để chuẩn bị tổ chức đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Đại Sứ Henry Cabot Lodge gọi Lucien Conein là “the indispensable man” (con người rất cần thiết). Còn trong cuốn "Vietnam: A History," sử gia Stanley Karnow nói rằng Lucien Conein là “một người lập dị, một người náo nhiệt, một nhân viên tình báo rất nhạy cảm và hoàn toàn chuyên nghiệp, thường không thể kiểm soát được” Sau này, Everette E. Howard Hunt cũng đã dự tính dùng Lucien Conein trong vụ Watergate.

Mỗi lần được phỏng vấn, Lucien Conein thường mở đầu câu chuyện bằng câu: “Bây giờ, đây là sự thật hai mặt, là thứ danh dự của hướng đạo sinh, là sự thật hai mặt” hay “Đừng tin bất cứ điều gì tôi nói; tôi là một tên nói dối chuyên nghiệp”

Khi cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963 xẩy ra, Lucien Conein đến Bộ Tổng Tham Mưu chỉ đạo trực tiếp. Ông ngồi trên ghế của Tướng Lê Văn Tỵ, đặt hai túi bạc dưới ghế, hai chân gác lên bàn, bên cạnh có khẩu 375 Magnum, chỉ huy các tướng Việt Nam thực hiện. Trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng, Tướng Trần Văn Đôn cho biết khi hay tin ông Diệm và ông Nhu đã ra khỏi Dinh Gia Long, Lucien Conein đã hỏi: “Hai ông ấy đi đâu? Phải bắt lại cho kỳ được, vì rất quan trọng”. Lucien Conein đã nói với các tướng đảo chánh bằng tiến Pháp: “On ne fait pas d'omelette sans casser les oeufs.” (Người ta không thể làm món trứng rán mà không đập bể những cái trứng.) (trang 228)

Khi bước xuống thuyền đài ngày 3.6.1998 tại Virginia, Lucien Conein đã ôm theo khá nhiều bí mật của cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963.

2.- Tướng Trần Thiện Khiêm

Trong cuốn “Việt Nam nhân chứng”, Tướng Trần Văn Đôn nói rằng trong kế hoạch đảo chánh, ông rất dè dặt với Tướng Khiêm vì tướng này rất được ông Diệm và ông Nhu tin cậy. Vợ ông, bà Đinh Thị Yến, lại có chân trong ban chấp hành Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới Trung Ương của bà Nhu và là dân biểu Quốc Hội, thường đi sát với bà Nhu. Ông nhờ Tướng Minh thăm dò. Qua một người Mỹ “cam kết và tìm hiểu”, Tướng Minh cho biết Tướng Khiêm đồng ý tham gia đảo chánh.

Khi viết như vậy, Tướng Đôn không biết gì nhiều về sự sắp xếp của CIA trong cuộc đảo chánh này. Ngay cả khi lệnh giết ông Diệm và ông Nhu được CIA truyền xuống, Tướng Đôn cũng không hề được cho biết. Một vài câu chuyện sau đây do một nhân chứng có mặt tại Bộ Tổng Tham Mưu trong suốt thời gian cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963 xẩy ra, cũng đủ cho chúng ta thấy vài trò của Tướng Khiêm quan trọng như thế nào:

- Khoảng 1 giờ 25 trưa ngày 1.11.1963, Tướng Khiêm bước ra bước vào nơi ông làm việc. Đúng 1 giờ 30, tin đảo chánh được phổ biến, các tướng lãnh liên miên ra vào văn phòng Tướng Khiêm.

- Sáng 2.11.1963, có người đem bộ complet màu xám sậm đến đứng ở lầu ba chờ. Tuy phái của Tướng Khiêm ra hỏi thì được biết người này được gọi đem áo tới cho Tổng Thống Diệm. Khoảng 9 giờ, một đại tá bước vào phòng Tướng Khiêm. Hai phút sau, đại tá này bước ra và bảo người kia đem bộ đồ complet về, vì Tổng Thống đã chết! Trên lầu, nhiều tướng lãnh ra vào phòng Tướng Khiêm rất nhộn dịp. Buổi tối, sau khi xác ông Diệm và ông Nhu được liệm xong, một báo cáo đã được trình lên cho Tướng Khiêm biết.

- Khuya 3.11.1963, khi mọi việc đã xong xuôi, Tướng Khiêm cho gọi Đại Tá Trần Văn Trung, Tham Mưu Phó Nhân Viên, và Đại Tá Đặng Văn Quang, Tham Mưu Phó Tiếp Vận, vào văn phòng ông và ra lệnh: “Hai ‘toi’ trực ở đây đêm nay, ‘moi’ về nghỉ.

- Một tuần lễ sau, Tướng Khiêm bước vào ban văn thư và hỏi Đại Úy Phạm Bá Hoa, chánh văn phòng của ông: “Có cho anh em mỗi người lên một cấp chưa? Nếu có gì xảy ra, ‘moi’ bay đầu thì các anh em cũng không được yên đâu.”

Đọc thêm cuốn “Đôi dòng ghi nhớ” của Đại Tá Nguyễn Bá Hoa, đọc giả sẽ thấy rõ hơn quyền hành của Tướng Khiêm trong cuộc đảo chánh này.

LỆNH HÀNH QUYẾT

Từ trước đến nay, chúng ta thường tranh luận về ai đã ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Nay cuốn băng của Tổng Thống Johnson đã chính thức xác nhận rằng chính quyền Kennedy (Kennedy administration) đã ra lệnh giết, nên vấn đề này không cần phải tranh luận nữa.

Lệnh hành quyết do Washington truyền cho Đại Sứ Lodge ở Sài Gòn. Ông này truyền cho Trần Thiện Khiêm và Dương Văn Minh qua Lucien Conein. Tướng Minh giao cho cận vệ của mình là Đại Úy Nguyễn Văn Nhung thi hành dưới sự chỉ đạo của Tướng Mai Hữu Xuân. Các sĩ quan khác, kể cả Tướng Đôn, đều không biết gì hết.

Như đã nói ở trước, ngoài Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu, Đại Sứ Henry Cabot Lodge đã quyết định giết thêm Ngô Đình Cẩn và Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt. Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh cho Nguyễn Văn Nhung đưa Đại Tá Lê Quang Tung ra nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế phía sau Bộ Tổng Tham Mưu đâm chết và vùi thây ở đó. Muốn giết ông Ngô Đình Cẩn, CIA phải lừa ông vào Tòa Lãnh Sự Mỹ ở Huế, nói rằng sẽ cho đi ngoại quốc, sau đó dùng công điện báo cáo láo về Washington nói rằng trong nhà ông Cẩn có hầm chôn người và súng, dân chúng đang biểu tình, rồi giao ông Cẩn cho Tướng Khánh giết. Trơng cuốn “Việt Nam Nhân Chứng”, Tướng Đôn xác nhận trong nhà ông Cẩn không hề có hầm chôn người hay súng.

Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng sở dĩ Tổng Thống Johson đã gọi nhóm tướng lãnh được thuê làm đảo chánh là “một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” vì hai lý do: Lý do thứ nhất là cách thức giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu. Chưa một nhà lãnh đạo nào trên thế giới đã bị bọn tay chân bộ hạ thân tín, được hưởng nhiều ơn mưa móc, giết một cách thê thảm như thế trong một cuộc đảo chánh. Lý do thứ hai là sự tham nhũng và bất tài của nhóm này.

HÀNH ĐỘNG ÁC ÔN CÔN ĐỒ

Khoảng 10 giờ ngày 2.11.1963, khi chiếc M113 chở xác ông Diệm và ông Nhu về đến Bộ Tổng Tham Mưu, đậu trên sân cỏ phía tay phải. Mở cửa xe phía sau ra, người ta thấy ông Diệm mặc bộ complet màu xám sậm, ông Nhu mặc bộ complet màu hơi nâu tím. Cả hai bị trói thúc ké tay sau lưng, nằm nghiêng trên sàn xe, máu me dầm dề. Một quân cảnh đứng gác tại đó cho biết, Tướng Dương Văn Minh đã xuống và tự tay vạch quần ông Diệm ra xem có “chim” không!

Với các dấu vết trên hai xác chết như vậy, nhiều người đã đặt câu hỏi: Hai ông đã bị giết như thế nào? Cách tường thuật của mỗi người mỗi khác.

Trong cuốn “Assassin in our Time” (Kẻ sát nhân trong thời đại chúng ta) xuất bản năm 1976, ở trang 142, Sandy Lesberg đã mô tả như sau: Ông Diệm và ông Nhu ngồi với hai tay trói sau lưng. Trong khi ông Diệm giữ im lặng, bất thình lình viên thiếu tá dùng dao găm (bayonet) đâm ông Nhu 15 hay 20 lần. Sau đó, hắn ta rút súng lục bắn vào sau đầu ông Diệm. Thấy ông Nhu còn quằn quại trên sàn, viên thiếu tá ban cho ông ta một cú ân huệ bằng cách cũng bắn vào đầu ông ta.

Sandy Lesberg không cho biết ông đã lấy tin này từ ai. Thật ra, lúc đó Nguyễn Văn Nhung còn là Đại Úy, sau này mới được thăng Thiếu Tá.

Với cuốn “Les Guerres du Vietnam” (Chiến tranh Việt Nam” xuất bản năm 1985, Tướng Trần Văn Đôn không hề mô tả gì đến cách giết ông Diệm và ông Nhu, mà chỉ mô tả về sự tàn ác của sát thủ Nguyễn Văn Nhung mà thôi.

Bà Ellen J. Hammer, tác giả của cuốn “A Death in November” (Cái chết vào tháng mười một), nói rằng khi chiếc xe chở ông Diệm và ông Nhu dừng lại ở cổng xe lửa đường Hồng Thập Tự, Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa từ trên miệng cửa xe lia một tràng tiểu liên vào hai ông Diệm và Nhu. Đại Úy Nhung rút súng Colt ra bồi thêm mấy phát vào đầu. Nhưng thấy chưa thỏa lòng, Nhung rút dao găm đâm tới tấp vào ngực hai anh em ông Diệm.

Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa phủ nhận lời tường thuật này, ông nói rằng ông không ngồi trên xe chở ông Diệm và ông Nhu lúc đó. Nếu chính ông đã giết ông Diệm và ông Nhu, người ta cũng đã giết ông như giết Nguyễn Văn Nhung rồi.

Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa là một đảng viên đảng Đại Việt, thuộc vào loại căm thù nhà Ngô, sau này đã được Tướng Nguyễn Khánh cho ngồi ghế phụ thẩm quân nhân của Tòa Án Các Mạng, xét xứ và tuyên án tử hình ông Ngô Đình Cẩn theo lệnh của Henry Cabot Lodge, mặc dù không có bằng chứng xác thực. Do đó, nhiều người vẫn tin vào lời tường thuật của bà Sandy Lesberg.

Có lẽ Tướng Nguyễn Chánh Thi là người biết rõ Đại Úy Nguyễn Văn Nhung đã giết ông Diệm và ông Nhu như thế nào, vì sau cuộc “chỉnh lý” ngày 30.1.1964, trước khi ra lệnh giết Đại Úy Nhung để phi tang một nhân chứng quan trọng (có lẽ theo lệnh của CIA), ông đã đích thân lấy lời khai của Nhung và còn bắt Nhung ngồi viết lời khai về vụ này. Ông có cho tôi nhìn qua tờ khai này năm 1968 khi đang ở Washington D.C. Nhưng rất tiếc, khi xuất bản cuốn “Việt Nam: Một trời tâm sự”, ông đã không cho in nguyên văn tờ khai này, mà tự ý sửa đổi và cắt bớt đi. Tướng Mai Hữu Xuân được đổi thành Tướng Thu, mặc dầu trong Quân Lực VNCH lúc đó không có tướng nào tên là Tướng Thu cả. Theo tờ khai mà Tương Thi công bố trong cuốn sách nói trên, Đại Úy Nhung đã khai như sau:

Khi xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu chạy được chừng 500 thước, Thiếu Tướng Thu (tức Mai Hữu Xuân) chạy xe ngược chiều trở lại và đưa lên một ngón tay trỏ. Đang còn ú ớ chưa biết giết ai, ông Diệm hay ông Nhu, họ định chạy qua để hỏi lại cho rõ thì dân chúng ùa ra xem rất đông, không chạy qua được. Bổng Thiếu Tướng Thu đưa hai ngón tay, họ hiểu rằng ông ra lệnh bắn cả hai người. Thiếu tá Nhung liền rút súng Colt 12 bắn mỗi người 5 phát, và sau đó bắn ông Nhu thêm ba phát vào ngực nữa.

Tướng Lê Minh Đảo, lúc đó là Đại Úy tùy viên của Tướng Lê Văn Kim, đã cho biết như sau: Sau khi ông Diệm và ông Nhu bị hạ sát ít lâu, Nguyễn Văn Nhung có kể lại chuyện này cho ông nghe. Nhung nói rằng khi được lệnh giết cả hai ông, Nhung đã bắn ông Nhu trước. Ông Diệm thấy thế đã nhắm mắt lại. Nhung liền bắn ông Diệm 5 phát. Sau đó quay qua bắn ông Nhu thêm 3 phát nữa. Điều này phù hợp với lời khai mà Tướng Nguyễn Chánh Thi đã công bố.

Tuy nhiên, sự thật không phải chỉ có thế. Xác ông Diệm và ông Nhu đã được đưa vào bệnh xá của Bộ Tổng Tham Mưu để khám nghiệm. Bác sĩ Huỳnh Văn Hưỡn (hiện nay ở New York), giám đốc bệnh xá này lúc đó, đã khám nghiệm và chứng nhận rằng cả ông Diệm lẫn ông Nhu đã bị bắn từ sau ót ra trước. Xác ông Diệm có nhiều vết bầm, chứng tỏ đã bị đánh đập trước khi bắn. Xác ông Nhu bị đâm nhiều nhát, áo rách nát và đầy máu. Vậy ông Diệm và ông Nhu đã bị trói, đánh đập và đâm lúc nào?

Một nhân chứng rất quan trọng hiện đang ở Melbourne, Úc Châu, cho biết ông là người đi trên chiết M113 chở ông Diệm và ông Nhu từ nhà thờ cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu, nên đã chứng kiến những sự việc xẩy ra. Câu chuyện ông kể lại có vẽ hợp lý hơn cả.

Theo nhân chứng này, vào trưa 1.11.1963, chi đoàn thiết giáp của ông được lệnh vào Sài Gòn để tăng cường bảo vệ thủ đô. Khi đến Sài Gòn, chi đội này được chia làm hai toán, một toán hợp lực với quân bạn bao vây Dinh Gia Long, một toán làm vòng đai an ninh cho Bộ Tổng Tham Mưu. Nhân chứng ở trong toán đóng tại Bộ Tổng Tham Mưu.

Sáng 2.11.1963, khoảng 6 giờ 15 phút, toán ông được lệnh di chuyển ra khỏi Bộ Tổng Tham Mưu. Khi vừa ra khỏi cổng chính thì thấy có 3 chiếc xe Jeep đang chờ. Chiếc thứ nhất có Tướng Mai Hữu Xuân và 3 cận vệ. Chiếc thứ hai chở Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Úy Nguyễn Văn Nhung và Đại Úy Dương Hiếu Nghĩa. Chiếc thứ ba chở 4 người, trong đó có Đại Úy Phan Hòa Hiệp. Sau đó là hai chiếc M113. Nhân chứng ngồi ở chiếc thứ nhì. Cuối cùng là 2 chiếc GMC chở đầy lính có vũ trang đầy đủ.

Khi đến Chợ Lớn, gần một nhà thờ, xe chạy chậm lại, các binh sĩ trên hai chiếc GMC được lệnh nhảy xuống, một số bố trí xung quanh nhà thờ, số còn lại bố trí ở vòng ngoài. Xe Tướng Xuân chạy một vòng rồi đậu lại bên kia đường.

Sau cái phất tay của Đại Tá Dương Ngọc Lắm, ba đại úy Nhung, Nghĩa và Hiệp nhảy xuống xe. Đại Tá Lắm ngoắc chiếc M113 có nhân chứng ngồi trên đó đi theo. Nhân chứng cũng nhảy xuống xe. Khi cách Đại Tá Lắm khoảng 2 thước, nhân chứng thấy có 4 người từ trong nhà thờ đi ra. Người đi đầu là Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Người đi tiếp theo là ông Ngô Đình Nhu. Sau cùng là hai tùy viên (Đại Úy Đỗ Thọ và ông Nguyễn Đắc Khá). Đại Tá Lắm đến chào ông Diệm:

- Thừa lệnh Trung Tướng Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, chúng tôi đến đón cụ và ông cố vấn.

Ông Diệm:

- Ông Đôn và ông Minh đâu hè?

Đại Tá Lắm:

- Thưa cụ, hai ông còn đang bận việc ở Tổng Tham Mưu.

- Thôi được. Thế tôi và ông cố vấn đi cùng xe kia với ông.

Đại Tá Lắm quay người lại chỉ vào chiếc M113 và nói:

- Thưa cụ, xin cụ lên xe này cho.

Ông Nhu khẻ nhíu mày lên tiếng:

- Không thể đón Tổng Thống bằng một chiếc xe như vậy. Để tôi liên lạc với ông Đôn, ông Đính coi xem.

Đại Tá Lắm khẽ nhún vai:

- Tôi không biết. Đây là lệnh của Trung Tướng Chủ Tịch.

Đại Úy Nhung liền oang oang:

- Xin mời hai ông lên xe ngay cho đi.

Mặt ông Nhu đỏ bừng, giọng rất quyết liệt:

- Không được. Để tôi hỏi lại ông Minh, ông Đôn. Tôi đi xe nào cũng được, nhưng còn Tổng Thống...

Đại Úy Nhung:

- Ở đây không còn Tổng Thống nào cả.

Ngay lập tức, nhung bảo hai quân nhân chạy đến đẩy hai ông lên xe và hạ cửa xe xuống...

Xe đi hết đường Nguyễn Trải, vào đường Võ Tánh đến trước Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia thì ngừng lại. Tổng Nha này đã bị chiếm từ ngày hôm trước nên không còn một cảnh sát nào lui tới. Chung quanh, các binh sĩ thuộc Sư Đoàn 5 của Đại Tá Ngưyễn Văn Thiệu canh gác rất cẩn mật.

Một Đại Tá từ trên xe Jeep nhảy xuống, bảo các binh sĩ trên xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu xuống xe hết. Bảy người trên xe nhảy xuống, nhưng tài xế và anh hạ sĩ xạ thủ được ra lệnh ở lại. Xe được lệnh đi vào Tổng Nha.

Khoảng 20 phút sau, chiếc M113 lại từ Tổng Nha chạy ra. Các binh sĩ lúc nảy được lệnh leo lên xe lại. Xe chạy ngược đường Võ Tánh trở lại đường Cộng Hòa. Nhân chứng hỏi hạ sĩ xạ thủ:

- Ông Diệm và ông Nhu đâu?

- Ở dưới.

- Sao rồi?

- Ông Nhu bị tra tấn khủng khiếp rồi bị xiết cổ chết bằng dây điện. Người ta hỏi ông ta nhiều lần: Vàng, bạc, tiền của cất đâu? Ai giữ? Cơ sở kinh tài gồm những cơ sở nào? Ông Nhu trả lời không biết.

- Còn ông Diệm?

- Ông Diệm bị đè cổ ra trói thúc ké rồi ném vào hầm xe.

- Chết hay sống?

- Không biết.

Xe qua khỏi trường Petrus Ký rồi quẹo phải vào đường Hồng Thập Tự thì gặp lại 2 xe Jeep và hai xe chở binh sĩ lúc xuất hành buổi sáng. Xe Đại Tá Dương Ngọc Lắm đi đầu, xe thứ hai có Đại Úy Nhung. Khi đến đường Cao Thắng, bên hông bệnh viện Từ Dũ, xe ngừng lại vì bên kia đang có xe của Tướng Xuân chạy ngược trở lại. Dân chúng ra xem rất đông. Tướng Xuân nhìn Đại Úy Nhung và đưa hai ngón tay trái lên hai lần. Sau đó, ông đưa ngón tay trỏ lên khỏi đầu và co vào duỗi ra đến 4 lần (gióng như bóp cò). Đại Úy Nhung gật đầu rồi đưa tay lên chào.

Khi xe đến gần đường rầy xe lửa thì dừng lại trước cổng xe đã được đóng lại vì đang có đoàn xe lửa đi qua. Đại Úy Nhung từ chiếc xe Jeep nhảy qua chiến M113 có chở ông Diệm và ông Nhu và la lớn: “Xuống! Xuống!” Các binh sĩ trên xe M113 nhảy xuống hết. Nhân chứng vừa nhảy xuống đất thì nghe nhiều tiếng súng nổ...

Những lời tiết lộ của nhân chứng này cho chúng ta thêm những yếu tố mới, nhất là đoạn hai ông bị đưa vào Tổng Nha Cảnh Sát để tra tấn và khảo của. Trò khảo của này là một “sở trường” của Tướng Mai Hữu Xuân. Sự tiết lộ này đã giúp giải thích tại sao hai ông bị trót tay ra phía sau lưng, trên mặt ông Diệm có nhiều vết bầm và trên người ông Nhu có nhiều lát dao đâm. Nguyễn Văn Nhung chỉ leo lên xe M113 trong một thời gian ngắn, không thể gây ra tất cả những thứ đó được.

Sau khi thi hành xong lệnh của chủ và lãnh tiền công, “bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” cấu xé nhau về chức quyền và tiền bạc, đưa tới mất mất chủ quyền quốc gia, rồi đến mất nước.

Bây giờ ở nơi các địa tầng “naraca”, Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim, Đỗ Mậu, Nguyễn Văn Thiệu, Dương Ngọc Lắm, Nguyễn Văn Quan, Nguyễn Văn Nhung... đang cùng với hai “ông thầy” Henry Cabot Lodge, Lucien Emile Conein nghiền ngẩm về lời nguyền rủa của Tổng Thống Johnson. Nghe nói trong những năm cuối cùng, Mai Hữu Xuân đã phát điên, thỉnh thoảng quỳ quay vào tường, chấp tay van lạy: “Xin cụ tha cho con!”.

Nơi chốn luân hồi, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang... không dám bước ra nhìn ánh sáng, Tôn Thất Đính thất thểu như một bóng ma...


Tú Gàn


Gia đình Tổng Thống Ngô Đình Diệm

BÀI HỌC TỪ MỘT SỰ TUẨN TIẾT

Lâm Lễ Trinh
http://www.centralstation.net/lamletrinh

LTS: Dưới đây là bài phát biểu được ghi âm của Luật sư Lâm Lễ Trinh, nguyên Bộ trưởng Nội Vụ và Đại sứ tại Trung Đông thời Đệ nhứt VNCH, hiện là chủ bút tạp chi Anh- Pháp Human Rights / Droits de l'Homme, trong buổi dạ tiệc tở chức ngày 2.11.2001 tại nhà hàng Seafood World, Westminster, Little Saigon, Californie, để kỷ niệm 100 năm của chí sĩ Ngô Đình Diệm (1901-2001).

Suốt 38 năm nay, mỗi khi ngày 1 tháng 11 trở lại, hình ảnh tuẫn tiết của Tổng thống Ngô Đình Diệm vẫn khơi dậy trong tâm thức quần chúng những âm vang chua xót nhưng đồng thời, cũng nhắc nhở những kinh nghiệm bổ ích cho cuộc đấu tranh tương lai.

Chiều nay, chúng ta, những người dân Việt lưu lạc ở hải ngoại, cùng ngồi với nhau để tưởng niệm vị nguyên thủ đã khai sinh nền Đệ nhứt Cọng hòa. Chúng ta sẽ không phí thời giờ để tố giác, một cách tiêu cực, những sai lầm của Hoa kỳ, hành vi bội phản của các người đội lốt quốc gia và sự phá hoại của Cộng sản. Thật vậy, cho đến giờ phút này, vô số văn khố giải mật của chính quyền Mỹ, công trình nghiên cứu của các thức giả, những lời thú nhận của một số nhân chứng liên hệ và, đặc biệt, tình trạng khánh tận của xã hội chủ nghĩa đã và đang làm chuyện đó trước công luận quốc tế.

Lịch sử cận đại Việt Nam sẽ mãi ghi lại một điều sáng tỏ:

Quyết định của TT Diệm tiếp xúc vào giờ chót với quân đảo chính chứng minh ông muốn tìm một giải pháp dân tộc ôn hòa.

Sự hy sinh dũng cảm của Tổng thống Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu đã tránh cho miền Nam VN cảnh nồi da xáo thịt giữa người quốc gia và bảo toàn tiềm năng kháng cộng trong giai đoạn cực kỳ nguy kịch. Sự hy sinh ấy còn là một lời kêu gọi thống thiết gởi đến cho cấp chỉ huy Quân đội đừng vong bổn, vọng ngoại và chễnh mảng trong cuộc chống cộng cứu nước. Tiếc thay, lời kêu này không được lắng nghe. Nhóm tạo phản bị ngoại bang mua chuộc. Với một giá rẻ mạt - 42 ngàn đô, theo lời thú nhận trong Hồi ký của tướng Trần Văn Đôn, một trong những người chủ mưu đảo chính - họ đã giết lãnh tụ và bán đứng tự do của ba chục triệu đồng bào miền Nam. Họ đã giúp Hoa kỳ thay toàn diện một thế cờ. Với 42 ngàn đô.

Trong những giờ phút cuối cùng cuộc đời, Tổng thống Diệm hoàn toàn cô đơn: đồng minh bội bạc, dân tộc hiểu lầm, người thân trở mặt và kẻ thù cộng sản reo mừng. Cầu nguyện lần chót sáng ngày 1.11.1963 tại thánh đường Cha Tam Chợ Lớn, với ông Nhu quỳ bên cạnh nhưng không chắc đồng một tâm tư, TT Diệm hẳn vô cùng xót xa cho đất nước. Rõ là một tâm trạng chán chường ngút trời, lẻ loi vô tận. Nỗi cô đơn ray rứt của một chiến sĩ cùng đường. Của một dân tộc bị chèn ép. Loại cô đơn từng được nhà đại văn hào Gabriel Garcia Marquez diễn tả sâu sắc trong tuyệt phẩm "One Hundred years of Solitude, Một trăm năm tịch liêu."


Tổng thống Ngô Dình Diệm và đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge

Hồ sơ giải mật của Bộ Ngoại giao Hoa kỳ ghi lại như sau nội dung điện đàm lần chót giữa Diệm và Cabot Lodge:

Diệm: "Vài đơn vị đã nổi loạn và tôi muốn biết thái độ của Chính phủ Mỹ."

Lodge: " Tôi không có đủ tin tức để trả lời cho Ngài. Tôi có nghe súng nổ nhưng không biết rõ tất cả các sự kiện. Bây giờ là 4:30 sáng tại Hoa Thịnh Đốn và Chính phủ Hoa kỳ không có quan điểm gì."

Diệm: "Tôi đã cố gắng làm bổn phận của tôi."

Lodge: "Như tôi đã thưa với Ngài sáng nay, tôi khâm phục can đảm của Ngài và những đóng góp to lớn của Ngài cho quý quốc. Nếu tôi có thể làm gì được cho sự an toàn của bản thân Ngài, xin kêu tôi."

Tổng thống Diệm liền gác điện thoại. Ông giữ vững khí phách đến cùng. Dù có những sơ hở khó thể tránh trong lúc cầm quyền - lịch sử về sau sẽ phân tích công và tội - ông quyết không làm nhục quốc thể, J.F. Kennedy lẫn Hồ Chí Minh không dám coi thường. Trước sau như một, TT Diệm không nhân nhượng, không đầu hàng. Làm sao có thể ngẩng đầu cao nếu đi bằng đầu gối?

Di nghiệp chính trị của Tổng thống Diệm lưu cho hậu thế là một thông điệp nóng cháy: Triệt để bảo vệ chủ quyền và thể thống quốc gia trong mọi hoàn cảnh. Ngay từ đầu cuộc chiến, Hoa kỳ và VNCH quan niệm khác nhau mối liên hệ đồng minh giữa hai nước. Từ đó sinh ra những bất đồng dẫn đến bất hòa và kết thúc bằng sự bức tử của Miền Nam. Đúng vậy, quyền lợi của Mỹ và VN chênh lệch: Chính phủ Sàigòn chống Bắc Việt để bảo toàn dân chủ và độc lập, trong khi Hoa kỳ dùng VNCH như con cờ thí trong kế hoạch quân bình thế lực tại Á châu, chống Bắc kinh bành trường và gây chia rẽ giữa Nga – Tàu. Quốc hội Mỹ không bao giờ tuyên chiến công khai với Hà Nội, tránh né bảo đảm an ninh của VNCH bằng một hiệp ước như tại Nam Hàn, không cho Quân dội miền Nam vượt vỹ tuyến 17, khóa tay Hành pháp bằng đạo luật War Power Act và, cuối cùng, không bận tâm thông qua theo thủ tục hiến định Hiệp ước đình chiến Paris.

Sau tháng 11.1963, Mỹ đã dành hết trách nhiệm điều khiển cuộc chiến để đễ bề thao túng. Tùy theo nhu cầu chính sách, Hoa Thịnh Đốn đã ngạo mạn Mỹ hóa, sau đó Việt nam hoá chiến tranh để rồi, năm 1973, hối hả rút khỏi vũng lầy Việt Nam, một erra incognita, xa lạ với Mỹ về tâm lý và tập quán. Đại cường Hoa kỳ thiếu kiên nhẩn, đánh không muốn thắng, không thông hiểu chiến tranh nhân dân, đoán sai quyết tâm của Cộng sản và bỏ rơi Chính phủ miền Nam.

Âm mưu giết hại Tổng thống Diệm là một vết nhơ, một "mối ám ảnh đeo đuổi dai dẵng lương tâm nước Mỹ, quần chúng và nhà lãnh đạo xứ này, tạo ra hội chứng Việt Nam." ("Anne Blair trong tác phẩm Lodge in VN, nhà xuất bản Yale University Press, New Haven, 1995, trang 190)

Tại Hoa kỳ, có một câu thông dụng "Người quá cố không kể chuyện hoang đường, Dead men tell no tales." Cái chết của Tổng thống Diệm, tự nó, đã lớn tiếng tố cáo, mang nặng ý nghĩa và dạy nhiều bài học. Về bạn và thù. Về nhân tình, thế thái. Về Điểm và Diện trong chiến lược trường kỳ, và bao nhiêu chuyện khác. Ít nữa có hai bài học không thể quên:

Trước hết, một quốc gia không có thân hữu, chỉ có quyền lợi. Không một xứ nào liều chết bảo vệ quyền sống còn của một nước khác. Không thể ủy quyền yêu nước cho ngoại bang. Các đại cường dùng chiêu bài Dân chủ, Tự do và Nhân quyền để mặc cả và gây áp lực. Không tự lực tranh thủ kiên trì, quả cảm và có kế hoạch thì không hưởng được Dân chủ và nhân quyền thật sự.

Bài học thứ hai là bất luận sự liên minh nào với một thế lực bên ngoài, dù mạnh ra sao, rồi cũng sẽ đưa đất nước vào ngõ cụt, nếu không có nhân dân hậu thuẫn. Cái thế dân tộc vô địch và vô song. Không tin tưởng, không tạo ra và tận dụng "thế dân tộc" thì thất bại đương nhiên. Thất bại thê thảm. Chủ thuyết, chế độ, quyền lực..., tất cả đều là phù du, rốt cuộc sẽ tan biến với thời gian. Hư danh, mọi việc chỉ là hư danh! Chỉ có Dân tộc mới trường tồn và vĩnh cửu. Dân tộc bất diệt!

Cộng sản đã thiết lập ở Việt Nam một chế độ quản chế hành chính, khủng bố điển hình: khủng bố tôn giáo, khủng bố sắc tộc thiểu số, khủng bố đối lập và khủng bố quần chúng. Xã hội chù nghĩa, trên đà mạt vận, trước sau gì cũng chấm dứt. Vấn đề cốt yếu không phải là chừng nào CS ra đi mà là chúng ta đã và đang làm gì để xúc tiến việc ấy và, đặc biệt, để thay thế họ? Thay thế cách nào? Bằng một thể chế khá hơn, sạch sẽ hơn hay không? Chính sự chia rẽ và thiếu quyết tâm của cánh quốc gia giúp cho Cộng sản tồn tại.

***********************************************************************

Để kết luận, thay vì lạc quan tếu hay bi quan thái quá, thiển nghĩ chúng ta nên bình tĩnh, khách quan nhận thức các biến chuyển trọng đại trong nước và bên ngoài, để hành động thích ứng. Thế giới hiện đang lâm vào một sự khủng hoảng vô tiền khoáng hậu. Hoa kỳ đang trực diện một thách thức mới, hiểm độc hơn chiến tranh Việt Nam, vì không có trận địa rõ ràng, kẻ thù vô danh nhưng hiện diện khắp nơi.

Căn nguyên của mọi vấn đề là siêu cường Hoa kỳ quá mạnh nên coi thường đồng minh, hành động đơn phương, tạo khoảng cách nghèo giàu quá sâu và gây bất mãn trong khối quốc gia nhược tiểu.

Thánh chiến có thể bùng nổ, gây điêu linh cho địa cầu. Với tinh thần quyết tử, võ khí thô sơ và chiến lược du kích tinh vi, dùng "gậy ông đập lưng ông" (còn được mệnh danh chiến lược boomerang), khối Hồi giáo cuồng tín đe dọa người Mỹ ngay trên đất Mỹ. Võ lực suông không đem lại bòa bình. Không thể dùng búa tạ để đập ruồi muỗi. Mỹ cần tái xét toàn bộ, trong đường hướng thực tế và từ tốn, chính sách đối ngoại, quân sự và viện trơ... Mỹ cần chứng minh với thế giới quốc gia này là một quốc gia biết thương xót, a compassionate country, như Tổng thống Bush đã hứa khi ra ứng cử. Nếp sống quần chúng không bao giờ trở lại như trước. Hoa kỳ, thức tỉnh, sẽ hồi sinh.

Cuộc chiến hiện nay được các chiến thuật gia mệnh danh "cuộc chiến không đối xứng, assymetric war",vào dễ, ra khó, như một mê hồn trận... Lần đầu tiên, một siêu cường dồn hết sức mạnh để tiêu diệt một cá nhân, Ben Laden, vô quốc tịch, và hệ thống khủng bố của y, thay vì chống lại một nước. Bằng mọi giá, thế giới tự do phải thắng. Để cứu nền văn minh nhân loại và lý tưởng dân chủ. Không có sự chọn lựa nào khác. Tổng thống George W. Bush nói chí lý: " Tự do và sợ hãi đang tử chiến. Thượng đế không trung lập giữa hai bên."

Cơn lốc toàn cầu sẽ cuốn hút nước Việt Nam hậu tiến để lập một thế quân bình mới. Cuộc diện Việt Nam, bởi vậy, có cơ thay đổi. Sớm hơn chúng ta dự đoán.

Cầu xin hồn thiêng các tiền nhân và chí sĩ Ngô Đình Diệm trợ sức cho các lực lượng quốc gia khai thác vận hội mớI để giật sập Xã hội chủ nghĩa. Lần này, không thể và không có quyền thất bại. Vì nếu thất bại thì đó sẽ là sự thất bại chung của Đất Nước Việt Nam, của tất cả chúng ta là người dân Việt, bất luận thuộc phía nào.

Xin cám ơn sự chú ý của quý vị.

Đọc những bài tiếng Việt, Anh và Pháp của tác giả Lâm Lễ Trinh hoặc trong tạp chí Anh- Pháp Human Rights / Droits de l'Homme hoặc trên Internet website http://www.centralstation.net/lamletrinh


Anh Mâm chia nắm nhang cắm trước mộ ông Ngô Đình Diệm

BÍ ẨN MỘ ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM, NGÔ ĐÌNH NHU
Source: VietnamNet

Sau khi bị lực lượng đảo chính giết vào tháng 11/1963, hai anh em ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu được chôn ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Áo quan của ông Ngô Đình Diệm hình hộp, áo quan của ông Ngô Đình Nhu có nắp tròn. Một nhân chứng thời kỳ này giải thích, người thân của hai ông đi mua vội quan tài nên chỉ mua được một chiếc hạng tốt dành cho ông Diệm, còn chiếc hạng vừa dành cho ông Nhu.

Mộ hai ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu khá đặc biệt: không có nấm mộ, bia, chỉ có tấm đan (bê - tông) đặt bên trên cao hơn mặt đất vài chục phân. Suốt từng ấy năm trước giải phóng, hai ngôi mộ nằm lọt thỏm, đìu hiu giữa nghĩa trang bộn bề mộ kiên cố. Những kẻ cơ hội xưa vụt quay lưng với gia đình họ Ngô đã đành, những người thân tín cũng ngại đến thăm viếng vì sợ chính quyền Sài Gòn cũ dòm ngó. Năm 1964, bà Phạm Thị Thân, thân mẫu của hai ông mất, đám tang không người đưa tang.

Một nhân chứng trong Ban di dời sau này kể: Hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu được chôn trong kim tĩnh (hộp bê tông dày và kín) rất khô ráo. Khi cải lên, thi thể của cả hai ông chỉ khô lại chứ không tan rữa, vẫn có thể nhận ra từng người. Đầu hai người đều quấn băng trắng in dấu máu đen từ những vết thương trước khi chết. Khi băng được mở, vết máu vẫn còn cứng. Sau gáy ông Nhu có một vết thương khá lớn, có thể do va đập.

Trong thời gian di dời, có một người phụ nữ tên là Hạnh từ Huế vào, xưng là cháu, nhận thi hài hai ông. Bà Hạnh quá khó khăn nên chính quyền thành phố phải lo toàn bộ chi phí ăn, ở, chi phí cải táng và xây mộ mới.

Thi hài ông Diệm, ông Nhu được chôn lại tại nghĩa trang Lái Thiêu (Bình Hòa, Thuận An, Bình Dương), với áo quan loại tốt và kim tĩnh. Mộ ông Ngô Đình Cẩn được chôn tại nghĩa trang sân bay Tân Sơn Nhất sau khi bị xử bắn vào năm 1965, và mộ bà thân mẫu Phạm Thị Thân cũng được quy tụ về đây. Trong khu đất rộng hàng nghìn hecta với những rặng cây lớn xanh và mát, mộ gia đình họ Ngô nằm cùng một dãy. Mộ bà Phạm Thị Thân nằm ở giữa, mộ hai ông Diệm, Nhu hai bên. Cách mộ ông Nhu một quãng là mộ ông Cẩn. Trước đây, theo yêu cầu của gia đình, mộ không đề tên, mà chỉ đề "mẫu", "huynh", "đệ". Sau, theo đề nghị của một số người, trong đó có Việt kiều về thăm, mộ được đề đích danh.

Anh Mâm, anh Chẩy - hai trong số hàng chục người trông coi mướn mộ phần tại đây, cho hay: Thời gian đầu, mộ gia đình họ Ngô không có người chăm nom, trong khi đa số ngôi mộ khác có thân nhân thường xuyên lui tới và thuê người chăm nom. Thấy những ngôi mộ đó cỏ mọc tốt, nhiều rêu phong, anh em bảo nhau dọn cỏ, dùng bàn chải chà rêu như những ngôi mộ khác. "Lẽ nào mình quanh quẩn ở đây cả ngày mà lỡ để cho ngôi mộ ngay gần mình lạnh lẽo!" - Mâm nói, sau khi chia đều nắm hương ngút khói, cắm vào từng bát nhang trước bốn ngôi mộ gia đình họ Ngô.


Ba ngôi mộ của gia đình họ Ngô nằm thẳng hàng. Mộ bà Phạm Thị Thân nằm giữa, mộ hai ông Diệm, Nhu hai bên.

Lúc trước, khi chúng tôi không giới thiệu danh tính, hỏi mộ gia đình họ Ngô, anh quản lý nghĩa trang Lái Thiêu tưởng người đến thăm viếng, bèn chỉ lối.

Quả thật khó tìm mộ gia đình họ Ngô, nếu không có người chỉ đường. Bởi hai ngôi mộ của anh em Ngô Đình Diệm không có nét dị biệt: nằm sệt đất như trước, mà được xây cao ráo như bao ngôi mộ khác. Cỏ xung quanh được dọn sạch, mộ nhẵn bóng, rêu xanh chỉ có thể đóng thành những vệt mỏng manh trong những kẽ bê tông mà bàn chải không len vào được.

Một thời gian sau ngày mộ được hoàn thành, thỉnh thoảng có một số Việt kiều tới thăm viếng, đọc kinh cầu nguyện, cho tiền những người trông nom. Có người để lại cả tên tuổi. Thỉnh thoảng, đại diện Công giáo cũng đến thăm viếng.

Theo ban quản lý nghĩa trang Lái Thiêu, những người đến viếng các ngôi mộ quanh đó thường nhân tiện đặt luôn mấy bông hoa huệ trước mộ gia đình họ Ngô. "Nhiều người trong số họ chỉ biết đó là người đã chết. Cũng giống như tôi, mãi về sau tôi mới biết đó là mộ ông Ngô Đình Diệm, ban đầu chỉ nghĩ đó là ngôi mộ của người dân bình thường nào đó. Tiếc gì nén hương, cây bông (cành hoa - NV), mà ai cấm chuyện này!" - Mâm nói.

Source: VietnamNet

LÁ THƯ TỪ BÊN KIA THẾ GIỚI

Bác sĩ Elizabeth Kübler-Ross (1926) gốc người Thụy Sĩ, hiện sống tại Hoa Kỳ, nổi tiếng trong cuốn sách On Death and Dying (1969), cho rằng con người trước khi chết trải qua Năm Giai đoạn Đau khổ (Five Stages of Grief: denial, anger, bargaining, depression, and acceptance) không theo trình tự nhất định, tùy cách chết khác nhau của mỗi người. Ảnh: vietnetlinks.com

Lá Thư Từ Bên Kia Thế Giới

Nguyên Phong

Bác sĩ Elizabeth Kübler-Ross, người tiền phong trong lãnh vực nghiên cứu về hiện tượng hồi sinh cho biết:

“Con người sợ chết như con nít sợ ma, họ đã nhìn cái chết một cách sợ hãi, ghê tởm và cố gắng phủ nhận nó vì nó làm gián đoạn sự liên tục của đời sống. Nhưng nếu họ biết chấp nhận sự chết một cách bình thản, giản dị thì họ sẽ thấy chết là một sự kiện tự nhiên cũng như lúc sinh ra vậy. Bất kỳ lúc nào chung quanh chúng ta, sống và chết cũng luôn luôn tiếp diễn. Lá cây rụng để nhường chỗ cho những mầm non xuất hiện, hết mùa đông lại có mùa xuân. Một hiện tượng tự nhiên và cần thiết như thế không lẽ lại chẳng bao hàm một ý nghĩa thâm sâu nào đó? Phải chăng chính vì có sự chết mà sự sống hiện hữu, có sự xây dựng thì cũng phải có sự hủy diệt, đâu có gì tồn tại vĩnh viễn. Người ta không thể hiểu được ý nghĩa đích thực của sự sống nếu họ không chịu chấp nhận sự chết, và đã đến lúc người ta phải nghiên cứu cặn kẽ các sự kiện này chứ không thể chấp nhận những lý thuyết mơ hồ nào đó được.”

Sau đây là tài liệu được trích lại từ cuốn La Revue Spirite:

Bác sĩ Henri Desrives là một khoa học gia hoạt động, vui vẻ và yêu nghề. Như mọi nhà trí thức khác, ông sống một cuộc đời rất thực tế và không buồn lưu ý đến những điều mà khoa học chưa giải thích được. Ông không tin rằng có một linh hồn tồn tại sau khi chết vì thể xác chỉ là sự kết hợp của các vật chất hữu cơ và trí thông minh chẳng qua chỉ là sản phẩm của các tế bào thần kinh. Khi thể xác đã hư hoại thì trí thông minh cũng không thể tồn tại. Một hôm, khi bàn chuyện với các con về đề tài đời sống sau khi chết, ông hứa sẽ liên lạc với các con nếu quả thật có một đời sống bên kia cửa tử.

Cậu con trai Piere Desrives, cũng là một y sĩ, đã nói: “Nếu đã chết, làm sao cha có thể liên lạc với con được?”

Bác sĩ Henri suy nghĩ một lúc rồi trả lời: “Cha không tin có một đời sống hay cõi giới nào ngoài đời sống này nhưng nếu sau khi chết mà cha thấy được điều gì thì cha sẽ tìm đủ mọi cách để liên lạc với các con.”

Vài năm sau, bác sĩ Desrives từ trần, các con ông vì bận việc nên cũng không để ý gì đến buổi bàn luận đó nữa.

Khoảng hai năm sau, một nhóm nhân viên làm việc trong bệnh viện lập bàn cầu cơ chơi, bất ngờ cơ bút đã viết: “Xin cho gọi bác sĩ Piere Desrives đến vì tôi là cha cậu đó và tôi có mấy lời muốn nhắn nhủ với các con tôi.”

Được thông báo, bác sĩ Piere không tin tưởng mấy nhưng nhớ lại lời dặn của cha, ông bèn gọi các em đến tham dự buổi cầu cơ này. Một người cầm giữ đầu một sợi dây, đầu kia cột vào một cây bút chì và chỉ một lát sau cây bút đã tự động chạy trên các trang giấy thành bức thư như sau:

"Các con thân mến,

Cha rất hài lòng đã gặp đủ mặt các con nơi đây. Gần một năm nay, cha có ý trông đợi để kể cho các con về những điều ở cõi bên này mà cha đã chứng kiến nhưng không có cơ hội nói lại cho các con biết.

Như các con đã biết, hôm đó sau khi ở bệnh viện về, cha thấy trong người mệt mỏi lạ thường, cha bèn lên giường nằm và dần dần lịm đi luôn, không hay biết gì nữa. Một lúc sau cha thấy mình đang lơ lửng trong một bầu ánh sáng trong suốt như thủy tinh. Thật khó có thể tả rõ cảm tưởng của cha khi đó, nhưng không hiểu sao cha thấy trong mình dễ chịu, linh hoạt, thoải mái chứ không bị gò bó, ràng buộc như trước. Các con biết cha bị phong thấp nên đi đứng khó khăn, vậy mà lúc đó cha thấy mình có thể đi đứng, bay nhảy như hồi trai tráng. Cha có thể giơ tay giơ chân một cách thoải mái, không đau đớn gì. Đang vẫy vùng trong biển ánh sáng đó thì bất chợt cha nhìn thấy cái thân thể của cha đang nằm bất động trên giường. Cha thấy rõ mẹ và các con đang quây quần chung quanh đó và phía trên thân thể của cha có một hình thể lờ mờ trông như một lùm mây màu xám đang lơ lửng. Cả gia đình đều đang xúc động và không hiểu sao cha cứ thấy trong mình buồn bực, khó chịu. Cha lên tiếng gọi nhưng không ai trả lời, cha bước đến nắm lấy tay mẹ con nhưng mẹ con không hề hay biết và tự nhiên cha ý thức rằng mình đã chết. Cha bị xúc động mạnh, nhưng may thay lúc đó mẹ con và các con đều lên tiếng cầu nguyện, tự nhiên cha thấy mình bình tĩnh hẳn lại như được an ủi. Cái cảm giác được đắm chìm trong những lời cầu nguyện này thật vô cùng thoải mái dễ chịu không thể tả xiết. Lớp ánh sáng bao quanh cha tự nhiên trở nên sáng chói và cả một cuộc đời của cha từ lúc thơ ấu đến khi trưởng thành bỗng hiện ra rõ rệt như trên màn ảnh. Từ việc gần đến việc xa, ngay cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng đều hiện ra rõ rệt trong tâm trí của cha. Hơn bao giờ hết, cha ý thức tường tận các hành vi của mình, các điều tốt lành, hữu ích mà cha đã làm cũng như các điều xấu xa, vô ích mà cha không tránh được. Tự nhiên cha thấy sung sướng về những điều thiện đã làm và hối tiếc về những điều mà đáng lẽ ra cha không nên làm. Cả một cuốn phim đời hiện ra một cách rõ rệt cho đến khi cha thấy mệt mỏi và thiếp đi như người buồn ngủ.

Cha ở trong tình trạng vật vờ, nửa ngủ nửa thức này một lúc khá lâu cho đến khi tỉnh dậy thì thấy mình vẫn lơ lửng trong một bầu ánh sáng có màu sắc rất lạ không giống như màu ánh sáng lần trước. Cha thấy mình có thể di chuyển một cách nhanh chóng, có lẽ vì không còn xác thân nữa. Cha thấy cũng có những người đang di chuyển gần đó nhưng mỗi lần muốn đến gần họ thì cha lại có cảm giác khó chịu làm sao. Một lúc sau cha đi đến một nơi có đông người tụ họp. Những người này có rung động dễ chịu nên cha có thể bước lại hỏi thăm họ một cách dễ dàng. Một người cho biết tùy theo các rung động thích hợp mà cha có thể tiếp xúc được với những người ở cõi bên này. Sở dĩ cha không thể tiếp xúc với một số người vì họ có sự rung động khác với “tần số rung động” (frequency) của cha. Sự giải thích có tính cách khoa học này làm cha tạm hài lòng. Người nọ cho biết thêm rằng ở cõi bên này tần số rung động rất quan trọng, và tùy theo nó mà người ta sẽ lựa chọn nơi chốn mà họ sống. Cũng như loài cá ở ngoài biển, có loài sống gần mặt nước, có loài sống ở lưng chừng và có loài sống dưới đáy sâu tùy theo sức ép của nước thì ở cõi bên này, tùy theo tần số rung động mà người ta có thể tìm đến được các cảnh giới khác nhau. Sự kiện này làm cha cảm thấy vô cùng thích thú vì như vậy quả có một cõi giới bên kia cửa tử và cõi này lại có nhiều cảnh giới khác nhau nữa.

Khi xưa cha không tin những quan niệm như thiên đàng hay địa ngục nhưng hiện nay cha thấy quan niệm này có thể được giải thích một cách khoa học qua việc các tần số rung động. Những tần số rung động này như thế nào? Tại sao cha lại có những tần số rung động hợp với một số người? Người nọ giải thích rằng tùy theo tình cảm của con người mà họ có những sự rung động khác nhau; người có tình thương cao cả khác với những người tính tình nhỏ mọn, ích kỷ hay những người hung ác, không hề biết thương yêu. Đây là một điều lạ lùng mà trước nay cha không hề nghĩ đến. Cha bèn đặt câu hỏi về khả năng trí thức, phải chăng những khoa học gia như cha có những tần số rung động đặc biệt nào đó, thì người nọ trả lời rằng, khả năng trí thức hoàn toàn không có một giá trị nào ở cõi bên này cả. Điều này làm cho cha ít nhiều thất vọng. Người nọ cho biết rằng cái kiến thức chuyên môn mà cha tưởng là to tát chẳng qua chỉ là những mảnh vụn của một kho tàng kiến thức rất lớn mà bên này ai cũng có thể học hỏi được.

Người nọ nhấn mạnh rằng, điều quan trọng là con người biết làm gì với những kiến thức đó. Xử dụng nó để phục vụ hay tiêu diệt nhân loại? Xử dụng nó vào mục đích vị tha hay ích kỷ? Xử dụng nó để đem lại niềm vui hay để gây đau khổ cho người khác? Thấy cha có vẻ thất vọng, người này bèn đưa cha đến một thư viện lớn, tại đây có lưu trữ hàng triệu cuốn sách mà cha có thể tham cứu, học hỏi. Chưa bao giờ cha lại xúc động như vậy. Có những cuốn sách rất cổ viết từ những thời đại xưa và có những cuốn sách ghi nhận những điều mà từ trước tới nay cha chưa hề nghe nói đến. Sau một thời gian nghiên cứu, cha thấy cái kiến thức mà mình vẫn hãnh diện thật ra chẳng đáng kể gì so với kho tàng kiến thức nơi đây. Đến khi đó cha mới thấm thía điều người kia nói về khả năng trí thức của con người và bắt đầu ý thức về tần số rung động của mình.

Nơi cha đang sống có rất đông người, đa số vẫn giữ nguyên tính nết cũ như khi còn sống ở thế gian. Có người hiền từ vui vẻ, có người tinh nghịch ưa chọc phá người khác, có người điềm đạm, có kẻ lại nóng nảy. Quang cảnh nơi đây không khác cõi trần bao nhiêu; cũng có những dinh thự đồ sộ, to lớn; có những vườn hoa mỹ lệ với đủ các loại hoa nhiều màu sắc; có những ngọn núi rất cao hay sông hồ rất rộng. Lúc đầu cha ngạc nhiên khi thấy những cảnh vật này dường như luôn luôn thay đổi, nhưng về sau cha mới biết cảnh đó hiện hữu là do sức mạnh tư tưởng của những người sống tại đây. Điều này có thể giải thích giống như sự tưởng tượng ở cõi trần. Các con có thể tưởng tượng ra nhà cửa dinh thự trong đầu óc mình, nhưng ở cõi trần sức mạnh này rất yếu, chỉ hiện lên trong trí óc một lúc mà thôi. Bên này vì có những rung động đặc biệt nào đó phù hợp với sự rung động của tư tưởng làm gia tăng thêm sức mạnh khiến cho những hình ảnh này có thể được thực hiện một cách rõ ràng, chính xác và lâu bền hơn.

Các con đừng nghĩ rằng những người bên này chỉ suốt ngày rong chơi, tạo ra các hình ảnh theo ý muốn của họ; mà thật ra tất cả đều bận rộn theo đuổi các công việc riêng để chuẩn bị cho sự tái sinh. Vì mọi tư tưởng bên này đều tạo ra các hình ảnh nên đây là môi trường rất thích hợp để người ta có thể kiểm soát, ý thức rõ rệt hơn về tư tưởng của mình. Vì đời sống bên này không cần ăn uống, làm lụng nên người ta có nhiều thời giờ theo đuổi những công việc hay sở thích riêng. Có người mở trường dạy học, có kẻ theo đuổi các nghành chuyên môn như hội họa, âm nhạc, kiến trúc, văn chương thơ phú, v.v...

Tóm lại, đây là môi trường để họ học hỏi, trau dồi các khả năng để chuẩn bị cho một đời sống mai sau. Phần cha đang học hỏi trong một phòng thí nghiệm khoa học để sau này có thể giúp ích cho nhân loại. Càng học hỏi, cha càng thấy cái kiến thức khi xưa của cha không có gì đáng kể và nền y khoa mà hiện nay các con đang theo đuổi thật ra không lấy gì làm tân tiến lắm nếu không nói rằng rất ấu trĩ so với điều cha được biết nơi đây. Hiển nhiên khoa học phát triển tùy theo khả năng trí thức của con người, mỗi thời đại lại có những sự phát triển hay tiến bộ khác nhau nên những giá trị cũng vì thế mà thay đổi. Có những giá trị mà thời trước là khuôn vàng thước ngọc thì đời sau lại bị coi là cổ hủ, lỗi thời; và như cha được biết thì những điều mà ngày nay đang được người đời coi trọng, ít lâu nữa cũng sẽ bị đào thải. Tuy nhiên cái tình thương, cái ý tưởng phụng sự mọi người, mọi sinh vật thì bất kỳ thời đại nào cũng không hề thay đổi, và đó mới là căn bản quan trọng mà con người cần phải biết. Càng học hỏi cha càng thấy chỉ có những gì có thể tồn tại được với thời gian mà không thay đổi thì mới đáng được gọi là chân lý. Cha mong các con hãy suy ngẫm về vấn đề này, xem đâu là những giá trị có tính cách trường tồn, bất biến để sống theo đó, thay vì theo đuổi những giá trị chỉ có tính cách tạm bợ, hời hợt.

Cha biết rằng mọi ý nghĩ, tư tưởng, hành động đều có những rung động riêng và được lưu trữ lại trong ta như một cuốn sổ. Dĩ nhiên khi sống ở cõi trần, con người quá bận rộn với sinh kế, những ưu phiền của kiếp nhân sinh, không ý thức gì đến nó nên nó khép kín lại; nhưng khi bước qua cõi bên này thì nó từ từ mở ra như những trang giấy phô bày rõ rệt trước mắt. Nhờ vậy mà cha biết rõ rằng hạnh phúc hay khổ đau cũng đều do chính ta tạo ra và lưu trữ trong mình. Cuốn sổ lưu trữ này là bằng chứng cụ thể của những đời sống đã qua và chính nó kiểm soát tần số rung động của mỗi cá nhân. Tùy theo sự rung động mà mỗi cá nhân thích hợp với những cảnh giới riêng và sẽ sống tại đó khi bước qua cõi giới bên này. Do đó, muốn được thoải mái ở cõi bên này, các con phải biết chuẩn bị. Cha mong các con hãy bắt tay vào việc này ngay. Các con hãy rán làm những việc lành, từ bỏ những hành vi bất thiện. Khi làm bất cứ việc gì, các con hãy suy gẫm xem hậu quả việc đó như thế nào, liệu nó có gây đau khổ hay tổn thương cho ai không? Đừng quá bận rộn suy tính những điều hơn lẽ thiệt mà hãy tập quên mình. Đời người rất ngắn, các con không có nhiều thời giờ đâu.

Khi còn sống, đã có lúc cha dạy các con phải biết đầu tư thương mại để dành tiền bạc vào những trương mục tiết kiệm, những bất động sản, những chứng khoán... nhưng bây giờ cha biết rằng mình đã lầm. Một khi qua đến bên đây, các con không thể mang những thứ đó theo được. Danh vọng, địa vị, tài sản vật chất chỉ là những thứ có tính cách tạm bợ, bèo bọt, đến hay đi như mây trôi, gió thổi, trước có sau không. Chỉ có tình thương mới là hành trang duy nhất mà các con có thể mang theo mình qua cõi giới bên này một cách thoải mái, không sợ hư hao mất mát. Tình thương giống như đá nam châm, nó thu hút những người thương nhau thực sự, để họ tiến lại gần nhau, kết hợp với nhau. Nó là một mãnh lực bất diệt, mạnh mẽ, trường tồn và chính nhờ lòng thương này mà người ta có thể tìm gặp lại nhau trải qua không gian hay thời gian.Chắc hẳn các con nghĩ rằng người cha nghiêm nghị đầy uy quyền khi trước đã trở nên mềm yếu chăng? Này các con, chỉ khi nào buông xuôi tay bước qua thế giới bên này, các con mới thực sự trải nghiệm được trạng huống của mình, tốt hay xấu, hạnh phúc hay đau khổ, thích hợp với cảnh giới thanh cao tốt lành hay những nơi chốn thấp thỏi xấu xa. Hơn bao giờ hết, cha xác định rằng điều cha học hỏi nơi đây là một định luật khoa học thật đơn giản mà cũng thật huyền diệu. Nó chính là cái nguyên lý trật tự và điều hòa hằng hiện hữu trong vũ trụ. Sự lựa chọn để sống trong cảnh giới mỹ lệ đẹp đẽ hay tăm tối u minh đều do những tần số rung động của mình mà ra cả và chính mình phải chịu trách nhiệm về cuộc đời của mình hay lựa chọn những nơi mà mình sẽ đến.

Khi còn sống cha tin rằng chết là hết, con người chỉ là sự cấu tạo của các chất hữu cơ hợp lại, nhưng hiện nay cha biết mình đã lầm. Cha không biết phân biệt phần xác thân và phần tâm linh. Sự chết chỉ đến với phần thân xác trong khi phần tâm linh vẫn hoạt động không ngừng. Nó đã hoạt động như thế từ thuở nào rồi và sẽ còn tiếp tục mãi mãi. Hiển nhiên cá nhân của cha không phải là cái thể xác đã bị hủy hoại kia mà là phần tâm linh vẫn tiếp tục hoạt động này, do đó cha mới cố gắng liên lạc với các con để hoàn tất điều mà cha đã hứa với các con khi xưa. Cha nghiệm được rằng sự sống giống như một dòng nước tuôn chảy không ngừng từ nơi này qua nơi khác, từ hình thức này qua hình thức khác. Khi trôi chảy qua những môi trường khác nhau nó sẽ bị ảnh hưởng những điều kiện khác nhau; và tùy theo sự học hỏi, kinh nghiệm mà nó ý thức được bản chất thiêng liêng thực sự của nó. Cũng như sóng biển có đợt cao, đợt thấp thì đời người cũng có những lúc thăng trầm, khi vinh quang tột đỉnh, lúc khốn cùng tủi nhục, nhưng nếu biết nhìn lại toàn vẹn tiến trình của sự sống thì kiếp người có khác chi những làn sóng nhấp nhô, lăng xăng trên mặt biển đâu. Chỉ khi nào biết nhận thức về bản chất thật sự của mình vốn là nước chứ không phải là sóng thì các con sẽ ý thức được tính cách trường cửu của sự sống. Từ đó các con sẽ có một quan niệm rõ rệt rằng chết chỉ là một diễn tiến tất nhiên, một sự kiện cần thiết có tính cách giai đoạn chứ không phải một cái gì ghê gớm như người ta thường sợ hãi.Điều cần thiết không phải là trốn tránh sự chết hay ghê tởm nó, nhưng là sự chuẩn bị cho một sự kiện tất nhiên phải đến một cách thoải mái, ung dung vì nếu khi còn sống các con đã đem hết khả năng và phương tiện của mình để giúp đời, để yêu thương mọi loài thì lúc lâm chung, các con chẳng có gì phải luyến tiếc hay hổ thẹn với lương tâm cả. Trước khi từ biệt các con, cha muốn nói thêm rằng hiện nay cha đang sống một cách thoải mái, vui vẻ và an lạc chứ không hề khổ sở."

Nguyên Phong dịch

CHƯƠNG TRÌNH HỌC BỔNG TRAO ĐỔI TOÀN CẦU DÀNH CHO CÁC SINH VIÊN CHƯA TỐT NGHIỆP (GLOBAL UGRAD - GLOBAL UNDERGRADUATE EXCHANGE PROGRAM) ĐANG NHẬN ĐƠN CHO NĂM HỌC 2010 - 2011


Ảnh chụp các học sinh du học theo chương trình học bổng UGRAD, đang theo học tại trường Đại học Tiểu bang California.

Thông báo về chương trình học bổng Global Undergraduate Exchange Program (Global UGRAD), năm học 2010-2011.
Source: VOA Vietnamese, ugradvietnam

Hiện tại Phòng Văn hoá Thông tin (PAS), Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội đang tìm kiếm ứng viên cho chương trình học bổng Global Undergraduate Exchange Program.

Sinh viên năm thứ nhất đến năm thứ ba các trường đại học Việt Nam có năng lực lãnh đạo thể hiện qua kết quả học tập, sự đóng góp cho cộng đồng cũng như các hoạt động ngoài giảng đường và có khả năng tiếng Anh tốt có thể nộp đơn tham dự chương trình. Hạn chót nộp đơn là lúc 5 giờ chiều ngày 16 tháng 11 năm 2009.

Chương trình học bổng này Do Vụ Giáo dục và Văn hoá thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tài trợ. Chương trình sẽ tài trợ cho sinh viên theo học một năm học hoặc một học kỳ không lấy bằng tại một trường đại học ở Hoa Kỳ.

Năm học 2010-2011, chương trình sẽ cấp học bổng cho khoảng 90 sinh viên từ các nước châu Á, bắt đầu từ tháng 8 năm 2010 hoặc tháng 1 năm 2011. Việt Nam có thể nhận được 10 suất học bổng, bao gồm học bổng cả năm học (khoảng 10 tháng) và học bổng cho một học kỳ (khoảng 5 tháng).

Sinh viên được lựa chọn tham gia chương trình phải trở về Việt Nam sau khi hoàn thành chương trình học.

Để biết thêm chi tiết quí vị và các bạn có thể liên lạc với:

Phòng Văn hoá Thông tin

Đại sứ quán Hoa Kỳ (Số 7 Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội); Tel: 84-4-3850 5000, số máy lẻ: 6034

Email: pas.culture@gmail.com

Hoặc

Phòng Văn hoá Thông tin, Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ, (Tầng 9, Saigon Center Building, 65 Lê Lợi, Thành phố Hồ Chí Minh); Tel: (84) (8) 3821-6400, số máy lẻ: 120

Thời hạn nộp hồ sơ: 17h00 thứ hai, ngày 16 tháng 11 năm 2009.

Nguồn: Ðại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam

Quý vị và các bạn có thể nộp đơn trên mạng tại website chính thức của chương trình sau đây: http://sites.google.com/site/ugradvietnam/

nhưng đồng thời cũng phải nộp đơn bằng hồ sơ chính thức gởi đến Đại sứ quán Hoa Kỳ theo các địa chỉ trong bản văn chi tiết bằng tiếng Anh sau đây:

2010 Global UGRAD Announcement

UNITED STATES EMBASSY HANOI
PUBLIC AFFAIRS SECTION

Announcement

2010 GLOBAL UNDERGRADUATE EXCHANGE SCHOLARSHIP PROGRAM

The Public Affairs Section (PAS), U.S. Embassy Hanoi is seeking candidates for the 2010 Global Undergraduate Exchange Program. First through third year undergraduate students who demonstrate leadership through academic work, community involvement and extracurricular activities and have a good command of English are invited to apply for the program. The application deadline is 5:00 PM, November 16, 2009.

Program Description

Funded by the U.S. Department of State’s Bureau of Educational and Cultural Affairs, the Global Undergraduate Exchange Program provides scholarships for one semester or one academic year, enabling undergraduate students to study in a non-degree program at American universities. The goal of the program is to provide a diverse group of emerging student leaders with a substantive exchange experience at a U.S. college or university.

For the academic year 2010-11, the program will place approximately 90 students from countries in Asia at U.S. colleges and universities, starting in August 2010 or January 2011. Up to 10 scholarships are available for Vietnamese students. Scholarships are for either one academic-year (approximately 10 months) or one semester (approximately five months). The length of the scholarship award will depend upon the student applicant’s interests and availability, as well as placement options and availability of funds. In addition, participants will be eligible for two to four weeks of intensive English language instruction in the United States prior to the start of the academic portion of their program.

All Global Undergraduate Program participants will be enrolled full-time in undergraduate course work chosen from the host institution’s existing curriculum to allow them ample opportunity for ongoing interaction with U.S. faculty and student peers, and for exposure to U.S. academic and classroom culture. To ensure that students succeed in their new academic environments, host institutions will offer tailored instruction on topics including academic research and writing, critical thinking, time management, note-taking, and studying for and taking tests. Participants will live on-campus with American students.

Students will be provided with opportunities to participate in up to ten hours of community service activities per semester. Additionally, an internship component will be offered to all academic-year participants during the academic component of the program. Internships will be related to each participant’s field of study and/or career plans.

Scholarships will be available in all academic fields of study.

Participants in this program must return to Vietnam upon completion of the program, and may not stay on for degree study in the United States at that time.

Candidate Qualifications

Competition will be based on the potential of the candidates to become student leaders through academic performance, community involvement and extracurricular activities, without regard to their field of study, race, religion, or gender. Competition is open to all applicants who:

* Are currently enrolled in an undergraduate degree program in Vietnam;
* Will have completed their first year of undergraduate study by August 2010;
* Must have at least one semester to complete at their universities in Vietnam upon the completion of the program in the U.S;
* Have a good knowledge of English with the minimum ITP TOEFL score of 550 (acceptable) or iBT TOEFL score of 80 (preferred);
* Achieved at least 7.5 GPA in the previous semester;
* Demonstrate strong leadership qualities through academic performance, community involvement and extracurricular activities.

How to apply?

To apply for the program, applicants must download, complete and submit their completed application form from this site and a hard copy of the following documents to the appropriate address below:

1. Completed, signed Global Undergraduate Exchange Program application form

2. Official transcripts for years of university study (with notarized English translations if in Vietnamese)

3. Three letters of recommendation from teachers/professors, including one from the candidate’s secondary level institution (with notarized English translations if in Vietnamese)

Applicants who are studying at a university in northern Vietnam (from Quang Tri Province to the north) are requested to send their required documents, and any questions regarding the program, to:

The Global Undergraduate Exchange Program
Public Affairs Section

U.S. Embassy, 7 Lang Ha,
Ba Dinh, Hanoi
Tel: 84-4-3850 5000, ext. 6034
Email: pas.culture@gmail.com

Applicants who are studying at a university in southern Vietnam (from Thua Thien-Hue Province to the south) are requested to send their required documents, and any questions regarding the program, to:

The Global Undergraduate Exchange Program
Public Affairs Section

United States Consulate General
4 Le Duan, District 1
Ho Chi Minh City.
Tel: (84) (8) 3821-6400, ext. 120.
Email: PhamLTK@state.gov

Deadline for both online and hard copy submissions: 5:00 PM, Monday, November 16, 2009.

Applications received later than 5:00 PM, Monday, November 16, 2009 will not be considered.

Selected candidates will also be asked to provide:

1. Copy of the data/photo pages of your passport

2. Official results of the national general secondary school graduation exam (with notarized English translation if in Vietnamese)

3. TOEFL score report

An information session in Hanoi will be held in early October 2009 at the Multi-purpose Room on the 1st Floor, Rose Garden Tower, 170 Ngoc Khanh St., Hanoi. To register for the session in Hanoi, please click here.

SUCCESSFUL CANDIDATES WILL BE NOTIFIED OF THEIR AWARDS BY MARCH/APRIL 2010.

by AI HUU NINH THUAN
10/11/09. 12:01:09 am. 1458 words, 891 views. Categories: Không ðề, Thông báo (A), Nối vòng tay lớn, Uncategorized, Thông báo, Thông báo (A), Liên kết blogs, Thông báo (F) ,

NHIỀU TÀI KHOẢN EMAIL BỊ XÂM NHẬP


BBC News được cho xem danh sách 20.000 chi tiết tài khoản mạng

Nhiều tài khoản email bị xâm nhập
Source: BBC vietnamese

Jonathan Fildes
Phóng viên kỹ thuật

Hãy thường xuyên thay đổi mật mã đăng nhập điện thư (email), tạo mật mã với độ an toàn cao hơn, không cung cấp các thông tin cá nhân và tài khoản cho bất cứ website nào mà mình chưa biết rõ về nó. Nếu xử dụng credit card để mua bán trên liên mạng toàn cầu thì dùng credit card ít tiền nhất, và phải thường xuyên theo dõi việc chi tiêu với credit card đó, nếu cần nên xin thay thế bằng thẻ mới với số khác (cùng account) và không cung cấp số của thẻ mới nữa, cứ để lại các thông tin về thẻ cũ (nếu không tẩy xóa được), dù có bị ăn cắp thì cũng không xử dụng được nữa.

VNL

Mức độ của cuộc tấn công điện thư vào mạng Hotmail có thể lớn hơn người ta tưởng.

BBC News được xem một danh sách hơn 20.000 tên và mật mã được đăng trên mạng.

Danh sách này bao gồm các địa chỉ email và mật mã từ Hotmail, Yahoo, AOL, Gmail và các nhà cung cấp hộp thư điện tử khác.

Danh sách này cũng được đăng trên cùng trang mạng trước đây từng đăng danh sách chi tiết 10.000 tài khoản của Hotmail.

Một số tài khoản giống như là đã cũ, không ai dùng, hoặc giả tạo. Nhưng BBC News xác nhận là nhiều tài khoản khác - bao gồm các địa chỉ trên Gmail và Hotmail - là có thực.

Một số các tài khoản khác nằm trên mạng Comcast và Earthlink.

Hiện không rõ danh sách này có phải là một phần của cuộc tấn công vào mạng địa chỉ Hotmail, hay một vụ khác.

Kỹ thuật được gọi là phishing được tiến hành qua một trang mạng giả tạo, lừa người ta vào đó cung cấp thông tin cá nhân như số tài khoản và tên truy cập.

Một phát ngôn nhân cho Microsoft nói phishing là "vấn đề của toàn ngành".

"Chúng tôi hướng dẫn khách hàng cần đặc biệt thận trọng khi mở các hồ sơ kèm theo email và các đường link từ các nguồn cả quen thuộc lẫn không quen thuộc, đồng thời cài đặt và thường xuyên cập nhật các phần mềm chống virus."

Đổi mật mã

Trang blog chuyên về kỹ thuật neowin.net là nơi đầu tiên đưa ra các chi tiết về cuộc tấn công ban đầu.

Họ nói các tài khoản được đăng vào ngày 1 tháng Mười trên pastebin.com, một trang mạng thường được những người lập trình dùng để chia xẻ mã nguồn với nhau.

Trang mạng Pastebin gần đây được đóng cửa để sửa chữa.

Người chủ trang mạng Paul Dixon nói với Neowin là gần đây nhận được "lượng truy cập cao chưa từng thấy".

"Pastebin.com chỉ là một dự án vui mà thôi, và hôm nay nó không còn vui nữa. Nó được đóng cửa cả ngày trong khi tôi sửa chữa thêm," anh nói với Neowin.

Chuyên gia về an ninh Graham Cluley từ Sophos tư vấn người xử dụng nên thay đổi mật mã càng sớm càng tốt.

"Người ta khuyến cáo mọi người nên thay đổi mật mã trên bất kỳ trang mạng nào mà họ dùng," anh nói.

Khoảng 40% người xử dụng đặt mật mã giống hệt nhau cho mọi trang mạng mà họ xử dụng, anh nói.

by AI HUU NINH THUAN
10/07/09. 01:57:02 am. 902 words, 321 views. Categories: Trên liên mạng, Liên kết blogs, Thế giới ðiện toán ,

VẬN ĐỘNG CHỐNG ĐÓNG CỬA DI TÍCH TRẠI TỊ NẠN GALANG - XIN HÃY CÙNG NHAU KÝ VÀO THỈNH NGUYỆN THƯ


Tượng đài Đức Quán Âm Đông Hải tại Galang

Vận động chống đóng cửa di tích trại tỵ nạn Galang

Source: VOANews, Văn Khố Thuyền Nhân - Ảnh của vnbp

Cộng đồng người Việt ở hải ngoại tổ chức chuyến đi Galang trong tháng 10 và ký thỉnh nguyện thư trên Internet để yêu cầu chính quyền Indonesia hủy ý định triệt hạ di tích trại tỵ nạn Galang theo yêu cầu của chính phủ Việt Nam.


Bia tưởng niệm trước khi bị đập phá


Bia tưởng niệm ở Galang bị đập phá, tháng 7/2005

Cách nay 4 năm, bất chấp sự phản đối của cộng đồng người Việt tại nước ngoài, hai nước Malaysia và Indonesia đã cho đập bỏ các bia tưởng niệm thuyền nhân tại Bidong và Galang, theo lời yêu cầu của Hà Nội.

Sau đó, các cựu thuyền nhân Việt Nam từ nhiều nước trên thế giới đã tổ chức mấy chuyến đi đến Bidong và Galang để vừa sửa sang lại các mộ phần của người thân, vừa tìm lại những kỷ niệm xưa.

Có lẽ những chuyến đi này làm Hà Nội bực bội, vì thế đã có những áp lực ở cấp chính phủ để đóng cửa khu vực trước đây là trại tỵ nạn Galang, nằm trong quận Batam.

Theo tin của tờ Jakarta Post, chính quyền quận Batam đang nỗ lực để ngăn chận việc đóng cửa trại tỵ nạn này.

Ông Dwi Djoko Wiwoho, Phát ngôn viên của quận Batam cho biết, các giới chức của bộ Ngoại giao và Bộ Văn hóa Du lịch của Indonesia đã đến Galang nghiên cứu tình hình để sau đó sẽ có cuộc họp với Đại sứ Việt Nam tại Jakarta để có quyết định về số phận của trại Galang, bây giờ đã thành một điểm du lịch của Indonesia, vừa thu hút khách trong nước, vừa thu hút khách nước ngoài.

Ông nói tiếp: “Trên nguyên tắc, chính quyền quận Batam không muốn đóng cửa trại Galang vì quyền lợi của người dân địa phương, quyền lợi của các doanh nghiệp trong ngành du lịch, và các du khách; nhưng vì sự kiện này có liên hệ đến bang giao giữa hai chính phủ, do đó, quận sẽ dựa vào quyết định của chính quyền trung ương”.

Ông Kamsa Bakri, Đại diện Hiệp hội các doanh nghiệp tổ chức các tour du lịch của Indonesia nói với báo Jakarta Post rằng đóng cửa trại tỵ nạn là coi như cắt đứt nguồn thu nhập của các nhà tổ chức tour du lịch tại Batam. Ông đặt câu hỏi: Nếu trại đó mang lại nhiều lợi ích cho khu vực thì tại sao lại không giữ nguyên?

Bà Nada Faza Soraya, Chủ Tịch Phòng Thương mại Batam nói rằng trại này quan trọng đối với các doanh nghiệp tổ chức tour du lịch và các doanh nghiệp này không có ý định khai thác quá khứ đen tối của chính phủ Việt Nam.

Cho đến khi đóng cửa vào năm 1996, trại Galang đã là nơi tạm trú cho khoảng 250 ngàn thuyền nhân Việt Nam trước khi đi định cư ở các nước thứ ba.

Theo lời ông Trần Đông, Giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân, một nơi lưu trữ rất nhiều tài liệu về thuyền nhân Việt Nam, thì trong khoảng thời gian đó, trại được chia làm 3 khu, Galang 1 và 2 là khu người ở, và Galang 3 là khu nghĩa trang. Hiện nay trại vẫn còn một số di tích của thời kỳ đó.

Ông Trần Ðông cho biết: “Có 3 cái chùa, có nhà thờ, một nghĩa trang chôn 503 người ở Galang 3. Các dãy nhà tập thể ở Galang 2 cũng vẫn còn. Ở Galang 1, Trung tâm Sinh hoạt Thanh niên vẫn còn, nhà thờ, các dãy nhà ở tập thể vẫn còn đó”.

Ông Trần Đông kêu gọi cộng đồng hải ngoại, nhất là các cựu thuyền nhân, tham gia chuyến đi đến Galang vào ngày 11 tháng này để ủng hộ tinh thần người dân địa phương trong việc giữ lại di tích trại tỵ nạn ở đó.


Cựu thuyền nhân về thăm lại Galang, tháng 3/2005

Ông Trần Ðông nói: “Mục tiêu chánh của chuyến đi là gặp gỡ một vài nhân vật trong chính quyền địa phương để trình thỉnh nguyện thư, và tham khảo với họ về tương lai của trại Galang nó như thế nào. Những áp lực của Hà Nội được làm ngấm ngầm cho nên mình cũng chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra trong tương lai. Mình chỉ dự trù những tình huống xấu nhứt để có biện pháp bảo vệ càng nhiều càng tốt, vậy thôi”.

Ông Trần Đông cũng kêu gọi cộng đồng hải ngoại ký tên vào Thỉnh nguyện thư để yêu cầu chính quyền Indonesia giữ lại trại Galang, nơi được xem là di tích cuối cùng của các trại tỵ nạn Đông Nam Á đã từng dung chấp các thuyền nhân Việt Nam trên bước đường vượt biển.

Bà Vân Hải ở bên Pháp, một trong những người hợp tác với ông Trần Đông tổ chức chuyến đi lần này cho rằng sự tham gia ký vào thỉnh nguyện thư của cộng đồng người Việt ở hải ngoại là quan trọng để giữ lại trại Galang.

Bà Vân Hải nói: “Mục đích của thỉnh nguyện thư là để xin chính quyền Indonesia lưu giữ trại tỵ nạn Galang làm một di tích lịch sử, nói lên lòng biết ơn của người tỵ nạn chúng tôi đối với thế giới, đối với Liên Hiệp Quốc và đặc biệt đối với Indonesia. Xin quý bà con ký tên ủng hộ thỉnh nguyện thư đó. Hiện thời đã thu thập trên 1.200 tên của quý vị đồng hương ở khắp 5 châu. Qua đài VOA tôi kính xin quý thính giả hưởng ứng càng nhiều càng tốt thì hy vọng trại Galang sẽ được giữ lại. Bước kế tiếp là anh Trần Đông ở bên Úc, Giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân sẽ mang thỉnh nguyện thư đó đến nói chuyện với chính quyền Indonesia."

Huy Phương (VOA)


Đài Đức Mẹ Thuyền Nhân tại Galang

Save Galang Refugee Camp - Hãy Cứu Trại Tị Nạn Galang

Tuyên Cáo Chung của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại
về vụ nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đòi chính phủ Nam Dương triệt hạ trại tị nạn đảo Galang, khu Batam, tỉnh Riau, Cộng hòa Nam Dương.

Tháng 3 năm 2005, 150 thuyền nhân ở nhiều nước trên thế giới đã về Bidong và Galang dựng lên Tượng đài Tri Ân và Tưởng Niệm tại Galang (Nam Dương) và Bidong (Mã Lai), hai tháng sau đó sau đó nhà cầm quyền Hà Nội đã áp lực chính quyền sở tại triệt hạ hai tấm bia này, lấy cớ nội dung tri ân và tưởng niệm làm phương hại đến bang giao của hai quốc gia. Hành động vô lương tâm này đã bị Cộng Đồng Người Việt tại Hải Ngoại lên án nặng nề.

Trại tị nạn Galang là nơi hàng trăm ngàn người tị nạn Việt/Miên/Lào đã đuợc dân chúng và chính quyền Nam Dương cùng Phủ Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc tiếp đón trong cuộc hành trình đi tìm tự do sau khi Cộng Sản thôn tính các quốc gia này vào năm 1975.

Bốn năm sau, ngày 30-7-2009 và ngày 2-8-2009 vừa qua, tờ Jakarta Post tại Nam Dương loan tin nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam lại tiếp tục áp lực chính phủ Nam Dương, lần này họ yêu sách đòi Nam Dương triệt hạ di tích trại tị nạn Galang. Được biết, di tích này đã được chính quyền và cư dân địa phương tại đảo Batam trùng tu và bảo quản hàng chục năm nay để làm di tích lịch sử và công viên di sản dành cho khách hành hương, khách du lịch và cư dân địa phương đến chiêm bái và ngơi nghỉ.

Xét vì khu di tích Galang là một di sản mang tính lịch sử, là dấu tích của lòng nhân đạo của người dân và chính phủ Nam Dương, của các nhà hảo tâm trên thế giới, và những nỗ lực của Phủ Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc trong việc che chở, đùm bọc người tị nạn Đông Dương trong cuộc hành trình đi tìm tự do;

Xét vì khu di tích Galang nay đã là di sản của Batam, là một trong những trọng điểm du lịch trong và ngoài nước ở địa phương và hoàn toàn không có ý nghĩa chính trị cũng như không phương hại đến bất cứ cá nhân, tổ chức hay quốc gia nào trên thế giới;

Xét vì việc nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam yêu sách Nam Dương triệt hạ khu di tích Galang là xâm phạm trắng trợn vào chủ quyền và can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Nam Dương và của người dân tại Batam;

Xét vì việc triệt hạ khu di tích Galang cũng đồng nghĩa với việc phủ nhận lòng nhân đạo và sự đóng góp quý báu của người dân và chính phủ Nam Dương, của các nhà hảo tâm trên thế giới và của Phủ Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đối với người tị nạn Đông Dương trong quá khứ;

Xét vì việc triệt hạ khu di tích Galang sẽ làm mất công ăn việc làm của nhiều người, làm giảm lợi tức của ngành du lịch còn đang trong thời kỳ phát triển phôi thai tại địa phương;

Xét vì việc triệt hạ khu di tích Galang sẽ làm mất đi trọng điểm du lịch tại địa phương và cư dân địa phương cũng thiếu đi chỗ ngơi nghỉ cần thiết vào cuối tuần sau những ngày làm việc mệt mỏi;

Vì những lý do nêu trên, chúng tôi long trọng tuyên cáo cùng tất cả các đồng hương Việt Nam trên thế giới như sau:

1. Cực lực lên án và phản đối Cộng Sản Việt Nam đã trắng trợn xâm phạm chủ quyền, can thiệp vào việc nội bộ của chính phủ và người dân Nam Dương với âm mưu gây khó khăn và tạo sự xáo trộn trong sinh hoạt chính trị và đời sống hàng ngày của người bản xứ.

2. Ủng hộ những quyết định đúng đắn, nhân đạo và hợp lý của chính quyền, các thương nghiệp và người dân Batam, Nam Dương trong việc bảo tồn và phát triển khu di tích Galang.

3. Thỉnh cầu chính phủ Nam Dương tiếp tục bảo trì khu di tích Galang như là một biểu tượng trân quý về lòng nhân đạo và văn hoá tốt đẹp của đất nước và người dân Nam Dương dành cho người tị nạn Đông Dương trong cuộc hành trình đi tìm tự do.

4. Thỉnh cầu Phủ Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc và UNESCO công nhận Di tích Tị nạn Galang là Di sản Tị Nạn của Liên Hiệp Quốc.

5. Kêu gọi các cộng đồng và tập thể người Việt trên khắp thế giới đồng thanh lên án hành vi phi đạo đức này của chính quyền Cộng Sản Việt Nam, đồng thời tận dụng mọi phương tiện sẵn có để vận động chính phủ Nam Dương, bằng mọi giá, bảo vệ và bảo tồn di sản văn hoá, lịch sử và lòng nhân đạo lớn lao này của đất nước và người dân Nam Dương cho các thế hệ mai sau.

6. Kêu gọi Cộng Đồng Người Việt, các Hội đoàn Đoàn thể người Việt khắp nơi trên thế giới liên kết sự kiện bia Tưởng niệm Bidong-Galang, sự kiện trại tị nạn Galang chung với tất cả những sự kiện khác như biên giới, hải đảo, lãnh hải, Tây nguyên, Thái Hà, Tam Tòa, Bát Nhã cùng với các phong trào trong nước để dấy lên làn sóng vũ bão lột mặt nạ chế độ Cộng Sản giả trá, độc ác vô nhân, đấu tranh cho Nhân Quyền, Tự do, Tín ngưỡng, Dân chủ, Chủ quyền và Toàn vẹn Lãnh thổ.

Ngày 12 tháng 8 năm 2009

Đại Diện Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ:
Ô. Nguyễn Văn Tánh, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu
Ô. Nguyễn Văn Tần, Chủ Tịch Hội Đồng Chấp Hành
Bác Sĩ Võ Đình Hữu, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát

Đại Diện Cộng Đồng Người Việt Úc Châu:
Ô. Nguyễn Thế Phong, Chủ Tịch Liên Bang

Đại Diện Liên Hội Người Việt Canada:
Ô. Ngô Văn Út, Tổng Thư Ký Liên Hội

Nơi nhận: Tổng Thống và Quốc Hội Nam Dương. Đại Sứ Nam Dương tại Hoa Kỳ, Canada, Úc Châu. QH Hoa Kỳ, QH Canada, QH Liên Âu, QH Úc Châu, QH Việt Nam. Liên Hiệp Quốc.
Cc: Hồ Sơ Lưu.

( Do Văn Khố Thuyền Nhân Úc Châu soạn thảo với sự góp ý của Liên Hội Người Việt Canada và CĐNVQG Hoa Kỳ )

Ký tên vào Thỉnh Nguyện Thư

*********************************************

Cổng chùa Kỳ Viên Tự tại Galang

Joint Declaration of the Overseas Vietnamese Communities
Regarding Communist Vietnam’s Pressure on the Government of Indonesia to demolish the former Refugee Camp in Pulau Galang, Batam (Riau, Indonesia)

In March 2005, 150 former Vietnamese Boat People from several resettlement countries returned to Bidong (Malaysia) and Galang (Indonesia) in order to erect monuments in memory of their fellow refugees who had lost their lives in quest for freedom, and to thank the peoples of Malaysia and Indonesia for their generosity and compassion towards the Indochinese refugees. Two months later, the Vietnamese communist government urged the governments of Malaysia and Indonesia to get rid of the monuments, arguing that they were deemed detrimental to the bi-lateral diplomatic relations. This action has been resolutely condemned by the global Vietnamese diaspora.

The Galang Refugee Camp was a place where hundreds of thousands of refugees from Vietnam, Cambodia, and Laos were assisted by the people and government of Indonesia and the United Nations High Commission for Refugees in their journey for freedom after their own countries had been taken over by the Communists in 1975.

Then on July 30 and August 2, 2009, according to the Jakarta Post in Indonesia, the Hanoi government renewed its pressure on the government of Indonesia, this time to take down the Galang Refugee Camp. This camp has been renovated and maintained over the last decades as a historical monument and a tourist attraction for local and foreign visitors.

WHEREAS the Galang Refugee Camp is a historical site which symbolizes the generosity and compassion of the people of Indonesia, the world community, and the United Nations High Commission for Refugees toward the Indochinese refugees in their desperate journey for freedom;

WHEREAS the Galang Refugee Camp has now become a heritage of Batam, one of the major local tourist attractions which is non-political in nature and which is not meant to have any detrimental impact on any individual, organization or country in the world;

WHEREAS the action on the part of the Hanoi government is a blatant interference into the internal affairs of Indonesia and the people of Batam;

WHEREAS the destruction of the Galang Refugee Camp will displace a symbol of recognition for the generosity and compassion of the people and government of Indonesia, the world community, and the United Nations High Commission for Refugees toward the Indochinese refugees in the past;

WHEREAS the destruction of the Galang Refugee Camp will lead to the loss of employment and income of the local tourist industry which is in its early development stage;

WHEREAS the destruction of the Galang Refugee Camp will deprive the local population of an important recreation facility which provides them with a precious environment for weekend relaxation;

WHERETOFORE, we solemnly declare to all freedom loving individuals and organizations including those with Vietnamese cultural and linguistic background in the world as follows:

1. We condemn and protest against the intervention of the Hanoi government in the internal affairs of Indonesia aiming at creating difficulties and disturbances in the civil society of Indonesia and in the everyday life of its citizens;

2. We support the well-justified decision of the local government, population, and businesses in Batam, Indonesia to preserve and develop the heritage of the Galang Refugee Camp;

3. We appeal to the Indonesian government to continue supporting the Galang Refugee Camp as a historical monument symbolizing the spirit of generosity and compassion of the Indonesian people towards the Indo-Chinese refugees in their journey for freedom;

4. We urge the United Nations High Commission for Refugees and UNESCO to recognize the Galang Refugee Camp as a historical and heritage site of the world;

5. We appeal to all freedom loving individuals and organizations including those of Vietnamese background to voice their indignation toward the inhuman and immoral action of the Hanoi government, and to use all the available means to urge the Indonesian government to preserve this cultural, historical and humanitarian heritage site of Indonesia for the future generations

6. Finally, we urge all Vietnamese organizations and communities in the world to view the incidents regarding the refugee monuments at Bidong and Galang in 2005 and the Galang Refugee Camp in 2009 within the wider context of other serious issues such as the land border and territorial waters concessions, Western Central Highlands mining exploitation, loss of Vietnamese islands and current religious repressions such as in Thai Ha, Tam Toa and Bat Nha, in order to join with other movements inside Vietnam to create a wave of indignation in order to unmask the dark intentions of the lying and inhumane Communist regime, and to contribute to the struggle for democracy, freedom and human rights for Vietnam and the protection of its territorial integrity.

August 12, 2009

The Vietnamese American Community of USA:
Mr. Tanh Van Nguyen, Chairman, Board of Representatives.
Mr. Tan Van Nguyen, Chairman, Executive Board.
Mr. Huu Dinh Vo, MD, Chairman, Board of Controllers.

The Vietnamese Community in Australia:
Mr. Phong The Nguyen, Chairman.

The Vietnamese Canadian Federation:
Mr. Ut Van Ngo, President.

Distributions: President and Congress of the Republic of Indonesia. Indonesian Ambassador to the US, Canada, Australia. United Nations. US Congress, EU Parliament, Australian Parliament, Canadian Parliament, NPC of Vietnam.
Cc: Archives.

*****************************************

Petition:

We, the undersigned organizations, call on the Indonesian government to preserve the Galang Refugee Camp.

Sign the petition

TÁC GIẢ "BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG", ÔNG LIÊN THÀNH TRẢ LỜI PHỎNG VẤN VÀ NÓI CHUYỆN

Những nơi tưởng niệm mồ chôn tập thể các nạn nhân trong vụ thảm sát Mậu Thân tại Huế đều bị Việt Cộng phá hủy để xóa bỏ chứng tích tội ác do bọn chúng và lũ tay sai gây ra.

Với tất cả những ai có những thắc mắc hoặc bất đồng ý kiến với ông Liên Thành, xin vui lòng đọc cuốn "Biến Động Miền Trung" thật kỹ, và xin hãy đưa ra được những chứng cớ phản biện có giá trị mà nó không phải là loại tài liệu ngụy tạo do Việt cộng cung cấp, không phải là những tự ái tôn giáo, đảng phái một cách bất phân phải trái. Chúng ta phải can đảm nhìn nhận những sự thật lịch sử và phơi bày ra ánh sáng những âm mưu đen tối của bọn cộng sản núp dưới các danh nghĩa khác nhau để chỉ huy các biến động trong quá khứ, vạch mặt những bọn bị kích động, theo hùa để gây nên tội ác mà cứ nghĩ rằng mình làm vậy là đúng. Đã đến lúc mà những tội ác của cộng sản và đồng lõa phải bị đưa ra xét xử trước tòa án tội phạm quốc tế, và những cái loa chạy tội cho chúng phải bị bịt lại.

Những sự kiện trước năm 1975 mà ông Liên Thành đã trình bày là hoàn toàn phù hợp với những tài liệu của các cơ quan tình báo Việt Nam Cộng Hòa, và đó là những sự thật đã xẩy ra trong cái gọi là "Biến Động Miền Trung", nó hoàn toàn không xa lạ gì với dân chúng miền Nam trước đây, đến nỗi chuyện Thích Đôn Hậu theo Việt Cộng và có mèo, Thích Trí Quang vừa là cộng sản, vừa làm việc cho CIA Mỹ, có nhiều bà nội trợ cũng đã từng nghe nói tới từ lâu; và rất nhiều người Huế biết rõ bọn Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Văn Giàu, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm .v.v... đều là những tên sát nhân tắm máu đồng bào Huế trong tết Mậu Thân. Rất tiếc thay, ngày hôm nay còn có những kẻ tự xưng mình là người quốc gia có hiểu biết mà còn đả kích ông Liên Thành vì những sự thật mà họ chưa hề biết nhưng ông Liên Thành lại nói ra, hoặc họ cố tình lờ đi vì bản thân họ và gia đình đã từng có lúc bị bọn cộng sản núp dưới danh nghĩa tôn giáo hay đảng phái giật giây, họ đã từng hung hăng tham gia vào những hoạt động mà họ cho đó là "giải trừ pháp nạn"; rất may mắn, những người ấy không sống tại Huế, nếu không thì không chừng họ đã đứng chung trong danh sách những kẻ tắm máu đồng bào mình mà cứ nghĩ là đang làm việc yêu nước hay yêu đạo pháp.

Nếu địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh là những thế giới mà kẻ ác phải đến thì chắc chắn những người bao biện cho loài ác quỷ sẽ cùng đi về sống chung với chúng ở trong các thế giới đó, đừng mơ tưởng đến chốn niết bàn một cách vô ích. Và nếu những người đó đang ở hải ngoại dưới cái mác tị nạn, thì cách hay nhất là nên tống cổ họ về Việt Nam mà sống trong thiên đường cộng sản để bảo vệ loại đạo pháp đang được bè lũ vô thần lãnh đạo!!! Tôn giáo và cộng sản vô thần là 2 kẻ thù bất cộng đái thiên, cho nên những kẻ khoe mình là Phật tử hoặc con chiên mà theo cộng sản chính là những tên phản đồ giết Phật và bán Chúa!!!

KDĐN

TÁC GIẢ "BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG"
ÔNG LIÊN THÀNH TRẢ LỜI PHỎNG VẤN VÀ NÓI CHUYỆN