Category: Những chuyện ỡm ờ
30-04-1975: MÁU VÀ NƯỚC MẮT - NGHỊ QUYẾT 36 ĐANG THỰC THI TẠI MỸ - LM NGUYỄN THUẬN LÀ AI MÀ DẸP CỜ VÀNG TẠI NHÀ THỜ ARIZONA? - BỊ HÃM HIẾP, VẪN CÒN TRINH!

Dương Văn Minh - Thích Đôn Hậu - Thích Trí Quang

Thảm sát Mậu Thân...

... đầu hàng Việt cộng...

... thư đầu hàng của Dương văn Minh...

... Việt cộng ngơ ngáo vào chiếm Dinh Độc Lập

... người di tản trên mẫu hạm Midway...
30-04-1975: Máu và Nước Mắt
Source: congdongnguoiviet.fr
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
2010/04/20
Kể từ giờ phút tên phản tặc Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng để dâng Miền Nam Tự Do vào tay của cộng sản Hà Nội; thì hàng năm cứ đến ngày Quốc Hận 30-04, là mọi người dân Việt, dù ở quốc nội, hay nơi hải ngoại cũng đều cảm thấy xót đau; bởi tất cả đều không bao giờ quên; và mãi mãi vẫn nhớ đến một ngày tang thương đã trùm phủ xuống quê hương. Ngày nước Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay giặc thù cộng sản.
Ngày 29/03/1975. Nhưng riêng thành phố Đà Nẵng quê hương tôi vì nhờ có «công lao » của « Lực lượng Hòa hợp Hòa giải Phật Giáo Thống Nhất (Ấn Quang)» đã đưa từng đoàn xe ra tận núi rừng để đón rước bộ đội Bắc Việt vào thành phố sớm hơn một tháng.
Từ ngày vượt biển ra hải ngoại cho đến hôm nay, tôi vẫn hằng mong đợi một bài viết thật trung thực và đầy đủ về những cuộc bạo loạn, cũng như những ngày cuối cùng của thành phố Đà Nẵng trước khi mất nước. Song, cho đến giờ phút này tôi vẫn chưa hề thấy, nên tôi, một phụ nữ không biết gì về văn chương lại thấp kém về mọi mặt. Nhưng, bởi mấy chục năm qua lòng tôi vẫn xót đau, khi những hình ảnh của những người đã bị chết oan, trong đó có những bé thơ, cứ hiện về như trách móc bảo tôi hãy lên tiếng. Vì thế, tôi phải hết sức cố gắng để viết lại những gì mà chính tôi đã mắt thấy, tai nghe, những điều mà có rất nhiều người đã biết, nhưng vì một lẽ nào đó nên tất cả đều im lặng. Họ không muốn hay không dám nói.
Tôi đã chứng kiến từ ngày 20/03/1975, với từng đoàn người di tản từ các tỉnh Trị-Thiên, Nam-Tín-Ngãi, đổ về Đà Nẵng mỗi ngày một đông, họ chỉ mong được lên tàu di tản vì ở những nơi đó VC đã hoàn toàn kiểm soát, không còn gì để hy vọng.
Tại Đà Nẵng, trong khi từng đoàn người bồng bế nhau chạy xuống bến Bạch Đằng, thì từng loạt pháo kích của VC bắn theo nổ chặn đường, làm kẻ chết, người bị thương, ai còn sống, bỏ tất cả lại để chạy thoát thân. Nhưng rồi chuyến tầu cuối cùng cũng đã rời bến Bạch Đằng; những người còn lại đành quay trở về. Trên đường phố từng toán người dìu dắt nhau trở lại, sau khi trở về nhà, họ đóng cửa, chỉ nhìn ra đường qua cửa sổ, họ đã sống trong những giờ phút hãi hùng, chờ đợi, không biết những gì sẽ xãy ra. Thành phố ngưng mọi sinh hoạt.
Thầy chùa đã đưa xe ra tận núi rừng để đón Cộng quân vào Đà Nẵng:
Tôi vẫn nhớ mãi về buổi sáng 29/03/1975, lúc ấy, vì phải đi tìm người thân bị thất lạc nên tôi có mặt tại ngã ba Huế, nhìn kim đồng hồ tay đương chỉ đúng tám giờ, khi nghe những tiếng động ồn ào, đồng bào mở cửa nhìn ra. Tôi cùng đồng bào đều nhìn thấy trên đường phố, từng đoàn xe đủ loại, xe Jeep, xe chở khách, xe nhà binh của các đơn vị quân sự bỏ lại. Trên các đầu xe, tất cả đều có cắm song song một lá cờ ngũ sắc của Phật giáo và một lá cờ nửa đỏ, nửa xanh, ở giữa có ngôi sao vàng của «Mặt trận Giải phóng miền Nam » tất cả đều có gắn loa phóng thanh đang ầm ầm tiến ra hai ngã một về phía Hòa Mỹ hướng ra đèo Hải Vân để đi Huế; và một về phía Phước Tường hướng về Hòa Cầm để đi vào Tam Kỳ-Quảng Nam. (xin lỗi tôi phải nói như thế, để các vị chưa biết về Đà Nẵng sẽ dễ hiểu hơn).
Đến 13 giờ cùng ngày, cả thành phố đều nghe những tiếng hô vang dậy:
« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng, yêu cầu đồng bào hãy mau mau mở cửa ra để chào mừng và hoan hô bộ đội giải phóng miền Nam anh hùng! ».
Cả thành phố đều mở cửa nhìn ra. Trên đường phố từng đoàn xe từ hai ngã đang tiến vào thành phố, đồng bào nhìn kỹ thì ra là hai đoàn xe đã ra đi hồi tám giờ sáng, chỉ khác hơn là trên các xe bây giờ chở đầy bộ đội miền Bắc, còn được cắm thêm những cành lá mà trước kia VC thường gọi « cành lá ngụy trang ». Tiếp theo sau là những xe thiết giáp trang bị đầy đủ hỏa tiển phòng không, đại bác và tiếng hô vẫn tiếp tục vang vang, bây giờ mọi người mới nhìn thấy rõ ràng, tất cả các xe, ngoài người tài xế, còn có một « ông hoà giải » và một « vị sư » mặc áo cà sa vàng ngồi bên cạnh, và những tiếng hô đó cứ thay phiên phát ra từ hai cái mồm của hai người này.

Đại đức Thích Minh Tuấn
Đến chiều, vẫn chưa tìm được người thân, tôi được tin là có nhiều người đã bị « An ninh Phật giáo » bắt giam ở các « chùa », nên tôi đến chùa Pháp Lâm tức chùa tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng, số 500 đường Ông Ích Khiêm ĐN, để cầu cứu « Thượng tọa » Thích Quang Thể, Chánh đại diện Phật giáo QN-ĐN. Vì thế, khoảng 17 giờ tôi nhìn thấy một chiếc xe Jeep nhà binh dừng lại ngay cổng chùa, từ trên xe có hai « thầy » bước xuống đó là « Đại đức » Thích Minh Tuấn, người Huế, Hiệu trưởng trường trung học Bồ Đề, Phó Đại diện tỉnh Giáo hội QN-ĐN, Thích Minh Tuấn là một trong những người lãnh đạo trong Viện Hóa Đạo 1 của Ấn Quang. Sau đó là Thượng tọa-Thị giả của Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại Tu viện Nguyên Thiều. Và hiện nay là Thượng tọa Viện chủ Tu viện Nguyên Thiều, Bình Định. Và « Đại đức » Thích Như Ký tức Mai Đăng Em, quê ở Mân Lập, quận 3, Đà Nẵng, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam - Đà Nẵng. Tiếp theo là hai « ông hòa giải » quần tây, áo sơ mi trắng, cả hai cùng mang băng đỏ như hai «thầy ». Cả bốn người cùng vào nhà khách của chùa gặp Thượng tọa Thích Quang Thể.
Mở đầu bằng giọng Huế, Thích Minh Tuấn nói:
"Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia ruớc sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chon vào thành phố, mọi việc đều tốt".
Tiếp theo, Thích Như ký nói:
"Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe vô tận Hà Lam, Thăng Bình, đã đón bộ đội ta, do Đại Tá Phan Hoan chỉ huy vào thành phố một cách an toàn".
Thượng tướng Lê Quang Hòa (tên thật Lê Thành Kim, 1914-1993), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng thanh tra Quân đội, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Chính ủy đầu tiên Quân đoàn 1, Chính ủy Cánh quân Duyên hải rồi cánh quân Đông trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.
« Thượng tọa » Thích Quang Thể gật đầu vui vẻ định nói gì với hai « thầy », nhưng ngay lúc đó Lê Quang Hòa (Trung tướng Việt cộng) tức Nguyễn Văn Hòa, quê Điện Bàn, Quảng Nam, tập kết ra Bắc trở về, là Tư lệnh phó quân khu 5 cùng đi với mấy tên cận vệ bước vào chùa, Thượng Tọa Thích Quang Thể đứng lên chào, Lê Quang Hòa nói:
« Tôi đến đây để thăm chùa, đồng thời để nói lên lời cám ơn Thượng Tọa và giáo hội đã tích cực trong công việc đưa, đón bộ đội giải phóng vào thành phố, một thành quả không ngờ, vì khi nghe Ngô Quang Trưởng tuyên bố: "Các Lực luợng Quân-Cán-Chính tại Đà Nẵng sẽ tử thủ và có 45 ngày để dân Đà Nẵng di tản". Chúng tôi nghĩ là sẽ có môt lực luợng hùng hậu, nên Bộ tư lệnh quân khu 5 đã dự tính lập vòng đai bao vây trong vòng ba tháng, mới có thể vào thành phố Đà Nẵng được. Vì vậy, khi các thầy đưa xe ra đón, chúng tôi không tin, nên phải lấy tin từ quân báo thật chính xác, mới dám cho bộ đội lên xe của các thầy. »
Quay sang hai « thầy » Lê Quang Hòa nói:
« Tôi đặc biệt khen ngợi Đại đức Thích Minh Tuấn đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia để đón Sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chon vào thành phố một cách an toàn. Tướng Chon rất vui mừng khi được trở lại quê hương Thanh Khê, Đà Nẵng, và công lao của Đại đức Thích Như Ký cũng không kém vì Đại đức cũng đưa xe vào tận Hà Lam, Thăng Bình để đón bộ đội của Đại tá Phan Hoan vào thành phố không hề gặp trở ngại".
Giữa lúc đó, tôi nhìn thấy Thượng tọa Thích Quang Thể quay vào phía góc chùa nhìn tôi một cách ái ngại. Tôi hiểu ý, nên liền chào Thượng tọa và ra về.
Sau đó, "Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo" đã hướng dẫn các đoàn xe của bộ đội VC vào chiếm giữ các đơn vị của quân đội cũ, và lại dùng loa phóng thanh kêu gọi:
« Yêu cầu tất cả đồng bào hãy treo cờ Phật giáo! »
Phải công nhận là Phật giáo nói Phật tử chiếm 80% là đúng, Nhưng chỉ đúng trong những ngày này mà thôi, vì thấy các « chùa » đồng loạt treo cờ «Mặt trận giải phóng » cũng như thấy khí thế của Phật giáo như vậy, nên nhiều người bình thường chỉ theo đạo thờ cúng ông bà hoặc Khổng Giáo nhưng vì muốn an thân, họ đã đến các « chùa » mua cờ ngũ sắc đem về treo trước cửa, xem như là lá bùa hộ mệnh. Trừ ba tôn giáo đã chấp nhận mọi thứ, cương quyết không treo cờ Phật giáo đó là Công Giáo, Tin Lành và Cao Đài.
Ngoài ra, để lập công với « cách mạng » Đại đức Thích Minh Tuấn, đã nhân danh: « Là phó đại diện tỉnh giáo hội Phật giáo QN-ĐN, Hiệu trưởng trường Trung tiểu học Bồ Đề, xin dâng hiến tất cả các trường Bồ Đề và các cơ sở khác của giáo hội cho cách mạng ». Thấy vậy, có nhiều Phật tử phản đối, Thích Minh Tuấn trả lời:
« Bây giờ mình đâu có cần gì những thứ đó nữa, vì chúng ta có công đánh đuổi Mỹ-Ngụy, thống nhất đất nuớc, mọi việc Giáo hội cần đến thì có chính phủ giúp đỡ».
Khi nói đến LLHG, thì ngoài những công lao trên họ còn có những thành tích khác đáng kể như sau đây:
Trong lúc đồng bào trên đường di tản, LLHG đã xuống tận bến Bạch Đằng dùng loa phóng thanh kêu gọi:
« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp, Hòa giải thị bộ Đà Nẵng. Trụ sở đặt tại chùa Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng, thiết tha kêu gọi đồng bào đừng di tản, hãy ở lại với chính quyền cách mạng ; ngụy quân, ngụy quyền cấp bậc, chức vụ gì sẽ được trả nguyên cấp bậc và chức vụ ấy. »
Vì thế, mà ở trại cải tạo T.154, Tiên Phước, Quảng Nam, tôi biết có người không phải sĩ quan mà đã khai là « Trung úy », mục đích để được « trả lại »… cấp bậc cũ! Nhưng không ngờ, rồi sau đó đã phải ở tù như những sĩ quan thật. Và rồi, cấp bậc, chức vụ gì thì phải ở tù theo cấp bậc, chức vụ ấy!!!

Tái hiện sự tích Đức Phật đản sinh tại chùa Pháp Lâm (Đà Nẵng).
Nhân đây, tôi xin viết thêm một trường hợp khác. Trong cơn say máu người, Hòa giải Phật giáo cũng đã đến nhà ông bà Trần Quốc Thái ở số 06 đường Lý Thường Kiệt, Đà Nẵng, nhưng khi ập vào nhà thì chỉ còn căn nhà trống. Ông bà Trần Quốc Thái đã chạy thoát, mất mồi, chúng tức tối la hét, đập phá lung tung. Tôi nghĩ là ông bà Trần Quốc Thái đã có được một hồng ân quá lớn, nếu không thì chúng đã xé xác ông rồi, nhẹ lắm cũng như ông Trần Sô vậy.
Nhân đây, tôi xin nói rõ về ngôi nhà này: Tôi biết ông bà Trần Quốc Thái đã vay muợn của nhiều người để xây cất, Nhưng sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn đâm thuê chém mướn giết chết, Hội đồng Gian nhân Phản loạn đã tịch thu với lý do là « tài sản của đảng Cần Lao » và dùng làm cơ quan Nha Cảnh sát Quốc gia vùng 1. Ông bà Trần Quốc Thái đã dắt con cái đi ở nhờ nhà người khác, Nhưng cũng phải thắt lưng, buộc bụng để có tiền trả cho đến mười năm mới hết nợ làm nhà.
Năm 1973, vì truy tìm mãi vẫn không có bằng chứng là « tài sản của Cần Lao » nên ngôi nhà mới được trả lại cho ông bà Trần Quốc Thái.
Đến năm 1975, Hòa giải Phật giáo chiếm giữ, sau đó giao cho VC lấy làm Bộ chỉ huy công an vũ trang.
Từ ngày 30/04/1975, Việt cộng ra lệnh truy tầm ông Trần Quốc Thái, « Bí thư đảng Cần Lao miền Trung ». Tôi cũng biết ông Trần Quốc Thái là người Bắc di cư, thời Đệ Nhất Cộng Hòa có làm Quận trưởng quận Điện Bàn, Quảng Nam, còn có Cần lao hay không thì khó biết được, vì đảng Cần Lao không công khai hoạt động như các đảng phái khác
Một nạn nhân khác là ông Trần Quốc Dân, người Thanh Khê, quận 2, Đà Nẵng, đi kháng chiến chống Pháp, sau đó là Thiếu tá Quân đội Bắc Việt xâm nhập vào Nam. Lúc đó, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, (sau là Sư đoàn Sao Vàng) Nguyễn Chon cũng người Thanh Khê, Đà Nẵng là Trung đoàn phó. Ông là người đầu tiên rời bỏ hàng ngũ VC trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia vào năm 1962. Ông kể với người thân:
"Trước đó tôi có gặp người của ông Ngô Đình Cẩn, nên mới dám quyết định trở về. Sau khi quyết định, tôi đã lợi dụng trong một lần giao tranh với quân đội VNCH tại chiến trường Đại Lộc, Quảng Nam, tôi vượt sông Thu Bồn và theo sự hướng dẫn của người tôi đã gặp, tôi được gặp ông Ngô Đình Cẩn. Và tôi được sự giới thiệu của ông Cố vấn nên tôi vào Sài Gòn trình diện Tổng Thống Ngô Đình Diêm., vì tôi tin tưởng rằng Tổng Thống chắc chắn hiểu được những người đi tham gia kháng chiến. Và tôi đã nghĩ đúng, vì khi gặp mặt Tổng Thống, sau khi nói rõ về mình và trình bày ý nguyện của tôi, thì Tổng Thống dạy rằng:
Tôi đã hiểu được chú em, bây giờ đáng lẽ ra tôi trả lại em quân hàm Trung tá, vì ngoài đó có cấp Thượng tá, Nhưng thôi vì danh dự Quốc Gia em hãy nhận quân hàm Thiếu tá. Tôi xin được ra chiến đấu, Nhưng Tổng Thống bảo:
Không được, hãy về đoàn tụ với gia đình trước khi nhận công tác. Và Tổng Thống ban thưởng tôi ba trăm ngàn đồng từ tay của Tổng Thống".
Ông Trần Quốc Dân trở về Đà Nẵng, sau một thời gian ngắn ông mua một căn nhà tại đường Trần Cao Vân và cuới vợ. Rồi ông được làm việc tại Bộ Công Dân Vụ.
Một năm sau, Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn đâm thuê, chém mướn giết chết. Là một người cứng cỏi, Nhưng ông Dân đã rơi nuớc mắt, ông kêu lên:
"Thế là hết! Tổng Thống không còn nữa, thì sẽ không còn ai hiểu tôi ngoài Tổng Thống".
Vài tháng sau ông tâm sự với người thân:
"Tôi chán nản trước nạn kiêu binh và kiêu tăng ngày càng lộng hành trên đất nuớc, chắc tôi sẽ xin xuất ngũ".
Tôi không nhớ rõ ngày tháng, Nhưng sau đó ông đã xin xuất ngũ và cộng tác với cụ Vũ Hồng Khanh. Chức vụ cuối cùng VNQDĐ của ông là một trong bốn Phó chủ tịch Thành bộ Đà Nẵng.
Ngày 24-03-1975, trong lúc ông Trần Quốc Dân chuẩn bị đưa gia đình đi di tản, thì bất ngờ hai ông: Đại đức Thích Như Ký, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam-Đà Nẵng cùng Huỳnh Phổ, cư sĩ Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo quận 2, Đà Nẵng (cả hai đều là cố vấn của LLHG Thị bộ ĐN) dắt theo một đám "Thanh niên Phật tử" có vũ trang đến nơi (sau này tất cả trở thành công an VC). Hai người này vào nhà ông Dân, Thích Như Ký nói:
"Chúng tôi Ban lãnh đạo Lực luợng Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng, mời ông lên chùa tỉnh Giáo hội để cùng làm việc, ông hãy tin tưởng vào chúng tôi và ông sẽ có một chỗ đứng trong lòng lịch sử".
Nói là "mời" Nhưng đám thanh niên Phật tử đứng sau lưng hai ông, tên nào cũng lăm lăm tay súng. Không còn cách nào khác, ông Dân đành phải theo chúng lên chùa.
Ông Dân đi rồi, gia đình biết ông sẽ gặp nguy, nên vợ ông dắt hai đứa con thơ của ông bà đến chùa Pháp Lâm tức chùa Tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng để xin gặp chồng; Nhưng đội An ninh Phật tử chặn ngay ở ngoài cổng không cho vào. Vợ ông Dân khóc lóc, van lạy thế nào cũng không được, nên đành dắt hai con trở về.
Ngày 30-03-1975, khoảng 10 giờ sáng, LLHG Phật giáo đưa ông Dân từ chùa Pháp Lâm đến nhà giam Kho Đạn ở số 15, đường Đào Duy Từ, Đà Nẵng. Lúc giải giao, chúng đã trói hai tay ông ra sau, còn tròng thêm một vòng thòng lọng lên cổ, cách trói này giống như chúng đã trói các vị quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa, trong cuộc bạo loạn bàn Phật xuống đường, vào mùa hè 1966; khi áp giải các vị nói trên đến chùa Phổ Đà. Bởi cách trói này, nếu nạn nhân bỏ chạy, thì sợi dây sẽ tự thắt cổ lại mà chết. Như thế, vẫn chưa đủ, mà đội "An ninh Phật tử" còn cầm súng đi kèm hai bên. Thấy vậy, đồng bào Đà Nẵng đã gọi chúng là "Ủy ban Áp giải".
Ngày 03-04-1975, khoảng 21 giờ tối, Nguyễn Chon, tướng VC. Đến nhận ông Dân tại nhà giam Kho Đạn. Sáng hôm sau, người ta phát hiện xác chết của ông Dân đã chết, xác được bỏ vào Nhà Vĩnh Biệt của Quân Y Viện Duy Tân ĐN, trên thân thể của ông có nhiều vết đạn.
Chúng tôi xin nhắc lại. Năm 1962, ông Dân là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, thì Nguyễn Chơn là Trung đoàn phó. Sau khi ông Dân bỏ đơn vị trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia, thì Nguyễn Chơn đã thay thế ông Trần Quốc Dân làm Trung đoàn trưởng. Đến 1975, Nguyễn Chơn lên tướng. Như vậy, cho chúng ta thấy, một mặt Phật giáo đã bắt ông Trần Quốc Dân đem giam trong chùa Pháp Lâm. Mặt khác ra lệnh cho Thích Minh Tuấn đem xe ra tận đèo Phú Gia để rước Sư đoàn Sao Vàng của Nguyễn Chơn (tướng VC), rồi sau đó giao ông Dân cho Nguyễn Chơn xử bắn, theo chỉ thị của VC một cách rõ ràng không thể chối cãi.
Sau khi ông Dân chết, bọn "An ninh Phật tử" đã hướng dẫn VC, xông vào nhà ông Trần Quốc Dân dùng bạo lực đuổi vợ con ông ra khỏi nhà, mà chúng nói là "Nhà của Diệm".
Vợ ông Dân chỉ được ôm mấy bộ áo quần và dắt các con ông bà về nương tựa với gia đinh tại chợ Tân Lập, Đà Nẵng.
Những người đã chết dưới bàn tay tàn bạo của "Lực luợng An ninh Phật giáo Ấn Quang":
Tối 29-03-1975, Đội "An ninh Phật giáo" đã bắn chết bảy người tại quận 3 Đà Nẵng. Trong số này chúng tôi biết mặt, biết tên bốn người, đó là các ông:
1- Hồ Hân, quê Quảng Ngãi, nhà ở An Thị, An Hải Bắc, nguyên Trưởng ban Thẩm vấn Ty Cảnh sát Quốc gia, thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Năm 1964, ông bị Phật giáo bắt đánh về tội "Dư đảng Cần Lao".
2- Nguyễn Phận, nhà ở An Tân, An Hải Bắc, nhân viên ban 2 Chi khu quận 3, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, thuộc Khu đảng bộ Yên Bái.
3- Phạm Lý, quê Tứ Câu, Thanh Thủy, Điện Bàn, Quảng Nam, nhà ở An Cu 3, An Hải Đông, công nhân sở Mỹ, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cả hai vị nói trên đều trực thuộc Trung ương Pháp định do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo.
4- Riêng ông Bùi Ngọc Cang, Phường trưởng Phường An Hải Bắc. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa ông là nhân viên phòng 2, Thị đoàn Bảo An Đà Nẵng. Năm 1964, ông bị Phật giáo bắt đánh về tội "Dư đảng Cần Lao".
Lúc "Lực luợng An Ninh Phật giáo đến nhà, vợ ông Cang ra mở cửa. Vừa thấy mặt ông Cang là một tên đã bắn xả vào người ông liền mấy phát. Ông Bùi Ngọc Cang gục chết ngay giữa nhà, trước sự kinh hoàng của vợ con; bà Cang ngất xỉu, các con ông gào thét lên kêu cứu, còn "Đội An Ninh Phật Giáo lạnh lùng bỏ đi ra!!!
Cùng bị bắn với bốn vị kể trên, còn có ba người nữa. Tôi nhớ một người tên Mua, một người tôi quên tên cả hai người này đều là người An Hải Đông, quận 3 Đà Nẵng, là Cán bộ Liên hiệp Nghiệp đoàn lao công, đảng viên Đảng Công Nông do Chủ tịch Trung ương Trần Quốc Bửu lãnh đạo; và một người khác là nhân viên Cảnh sát, người Quảng Trị (chúng tôi cũng quên tên) đã bị bắn chết ngay trước Trại Ngô Quyền, An Hải Bắc, quận 3. Sau khi chết được đồng bào chôn cất ngay tại chỗ. Cho đến trước ngày vượt biển chúng tôi vẫn còn thấy nấm mộ của người này tại đó, đồng bào vẫn thường đến thắp hương cho nấm mộ vô chủ này. Không biết bây giờ có dời đi nơi khác hay không?
Ngoài ra, vào buổi chiều 29-03-1975, khoảng 19 giờ, vì không lên tầu di tản được, tôi trở về nhà, khi xe tôi chạy đến ngã ba Huế, bỗng thấy một đám đông vây quanh trước một căn nhà ở góc phía trái thuộc phuờng An Khê, quận 2, Đà Nẵng làm kẹt xe. Tôi phải dừng lại, trước mặt tôi là một lũ "An ninh Phật giáo" Đang đằng đằng sát khí trực chỉ vào một căn nhà khá khang trang, đang đóng cửa, bọn này la hét:
"Tất cả mọi người ở trong nhà phải đều ra ngoài hết, nếu không thì chúng tao sẽ đốt nhà".
Sau một hồi lâu không thấy động tĩnh; tôi nhận thấy trên khuôn mặt của đồng bào ai cũng đều lo sợ. Có lẽ ở gần nhà nên họ biết về những người trong nhà này. Trong lúc đồng bào đang lo lắng, thì bỗng có hai người đàn ông khoảng chưa tới ba mươi tuổi đã mở cánh cửa ở bên hông trái của căn nhà bước ra. Nhưng thật bất ngờ là khi hai người này vừa bước xuống chưa hết bậc tam cấp; thì bọn "An Ninh Phật Tử" liền nổ súng bắn xả vào hai người này. Cả hai vị đều gục chết trên vũng máu, thân thể nằm vắt ngang nửa trên nửa dưới của bậc tam cấp nơi thềm nhà của họ. Thấy vậy, tôi mới hỏi thăm đồng bào ở đó và tôi được biết: hai vị đó là hai anh em ruột và đều là nhân viên Cảnh Sát.
Trước cái chết của hai vị này, đồng bào đã khiếp đảm vội giải tán ngay, ai về nhà nấy, tôi cũng phải rời hiện trường lập tức. Nhưng cho đến bây giờ và mãi mãi, tôi vẫn không bao giờ quên được hình ảnh của hai vị cũng như căn nhà của họ, tôi vẫn tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại quê hương để tìm cho ra tên họ của những người đã chết một cách tức tuởi và oan uổng dưới bàn tay tàn ác của Phật giáo Ấn Quang; bởi tôi không muốn tên tuổi của họ sẽ bị đi vào quên lãng.
« Ủy ban lãnh đạo Lực luợng hòa hợp, hòa giải dân tộc thị bộ Đà Nẵng »
Người đứng đầu cái Ủy ban nầy là La Thành Tỵ, một tên tàn ác đã từng ra tay sát hại đồng bào trong cuộc tấn công phường Thanh Bồ - Đức Lợi, làm Chủ tịch LLHHHG Thị bộ, trụ sở được đặt tại chùa Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng, nơi trụ trì của Thượng tọa Thích Quang Thể, Chánh Đại diện Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng.
Chúng tôi vẫn nhớ, bắt đầu từ ngày 01/04/1975, sau khi đã có công ra tận vùng giặc đón VC vào thành phố, LLHHHG liên tiếp từng ngày cho xe chạy khắp đường phố dùng loa phóng thanh kêu gọi:
« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng. Yêu cầu tất cả ngụy quân, ngụy quyền, đảng phái chính trị thuộc chế độ Sài Gòn, hãy mau mau tập trung về chùa Pháp Lâm, tức chùa tỉnh giáo hội giao nộp vũ khí và trình diện. »
Đối với Quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa đều chưa biết số phận mình sẽ ra sao, khi nghe lời kêu gọi đó họ đã đến « chùa » để trình diện.
Một điều mà chắc nhiều người còn nhớ, là lúc chạy giặc đa số sĩ quan vứt bỏ súng, khi đến chùa trình diện không có súng đã bị La Thành Tỵ, một trong những tên sát thủ trong cuộc tấn công hai Phường Thanh Bồ - Đức Lợi, 24-8-1964. Lúc này là Chủ tịch LLHHHG thị bộ Đà Nẵng, cùng lũ lâu la trong cái thị bộ này, lớn tiếng la lối, nạt nộ đủ điều:
« Các anh phải giao nộp súng ngắn, vì sĩ quan phải có súng ngắn, các anh giữ súng lại để tìm cách chống phá cách mạng à? Không có súng ngắn chúng tôi không cấp giấy chứng nhận đâu".
Vậy là các vị sĩ quan này phải về đi tìm súng, Nhưng súng còn đâu nữa mà tìm, bởi lúc hỗn loạn xảy ra, La Thành Tỵ đã ra lệnh cho thanh niên Phật tử phải đi thu nhặt hết đem về chất trước sân chùa. Nhưng có vị đã đi đến những hang cùng, ngõ hẻm tìm được súng, có vị tìm được cả chục khẩu súng như M.16, R.15... vác lên chùa. Trong số đó, tôi biết có một người là Thiếu Tá Đỗ Công Hào, Thuộc Tiểu đoàn 10, Chiến Tranh Chính Trị, cũng ôm một bó súng, ông yên tâm đem vào chùa; Nhưng không ngờ khi nộp súng ông lại càng bị La Thành Tỵ la hét càng to hơn nữa:
" Các anh có đem hàng trăm súng dài cũng không được, vì Sĩ quan thì phải giao nộp súng ngắn, các anh phải nộp súng ngay, không thì đừng có trách".
Đến nuớc này, thì các vị không có "súng ngắn" chỉ còn có một cách là về nhà đem tiền lên chùa để đưa cho "Lực Luợng An Ninh phật Giáo" đám này hễ ai có tiền thì chúng lấy những cây "súng ngắn" trong cái đống súng ở trước sân chùa trao cho, để nộp và để đổi lấy cái "Giấy chứng nhận trình diện" của "Thị Bộ Hòa Hợp-Hòa Giải". Thiếu tá Đỗ Công Hào cũng phải đem tiền mua súng. Sau đó, ông đã phải vào nhà tù "cải tạo" T.154, đến gần mười năm sau khi đã bị què một chân mới được ra tù. Và bây giờ, dù đã trải qua những năm dài bị hành hạ, đọa đày, nhưng Thiếu tá Đỗ Công Hào vẫn còn giữ nguyên được cái cây... súng ngắn. Chẳng biết bây giờ bọn Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo có còn muốn đòi Thiếu tá Đỗ Công Hào phải trình ra cái cây... súng ngắn nữa không???
Việt Cộng trả công cho "Lực luợng Hòa hợp Hòa giải Phật giáo Ấn Quang"
Trở lại với cái gọi là LLHHHG, sau khi Quân, cán, chính VNCH đã giao nộp vũ khí, thì trước sân chùa một đống súng cao như núi; Lực luợng Hòa hợp - Hòa giải đã đến Tòa Thị Chính mời "Ủy ban Quân quản" đến nhận súng. UBQQ cử Hoàng văn Lai, ủy viên an ninh (sau Lai là Đại tá Trưởng ty công an QN-ĐN) đến chùa Pháp Lâm, Lai đứng ở sân « chùa » dằn từng tiếng:
« Các anh hãy trả lời: Cách mạng chiến thắng hay Phật giáo chiến thắng? Hòa giải là cái gì? Mỹ, ngụy bỏ chạy, chúng tôi tiếp thu chớ có có ai đánh đâu mà hòa giải, còn súng, chúng tôi không cần, cho các anh đấy!!!".
Bấy giờ đến luợt « Ban lãnh đạo hòa giải » lạy Hoàng văn Lai để y chở đống súng đi, vì để đống súng nằm hoài ở sân « chùa » thì … không tiện.
Sau đó « Ủy ban quân quản » ra lệnh như sau:
“- Sĩ quan trình diện tại số 03 Duy Tân.
- Ngụy quyền trình diện tại số 12 Bạch Đằng.
- Đảng phái chính trị trình diện tập thể tại số 09 Gia Long”.
Có người nghĩ rằng đã có giấy chứng nhận của « Lực lượng Hòa hợp, Hòa giải Phật giáo » nên không đi trình diện nữa. Nhưng nhiều vị đã bị bắt vì không có giấy chứng nhận của "Ủy ban quân quản", có người xuất trình giấy chứng nhận của « LLHHHG » thì bọn an ninh nói:
« Giấy chứng nhận của hòa giải hãy bỏ vào sọt rác vì không có giá trị, chỉ có giấy chứng nhận của ủy ban quân quản, có chữ ký của ông Hoàng văn Lai mới có giá trị".
Cuối cùng Quân, Cán, Chính VNCH ở thành phố phải đi trình diện hai lần, Nhưng may là lần sau không bị đòi nộp súng ngắn nữa!!!
Bây giờ đến lượt « cách mạng thưởng công » cho « Lực luợng hòa giải:
Qua sự thanh lọc, một số đông bị rớt, riêng La thành Tỵ được tiếp tục làm việc trong « Mặt trận tổ quốc » hiện nay La Thành Tỵ là « Trưởng ban hướng dẫn gia đình Phật tử Quảng Nam - Đà Nẵng ».
" Chính quyền Phật Giáo ":
Một điều, hơn ai hết chính LLHG Phật giáo chắc khó quên, ấy là trong thời gian hơn một tháng từ 20/03/1975, LLHG đã nổi lên cướp chính quyền phường, khóm xã, thôn, bởi chính quyền cũ có người đã di tản, còn những người kẹt lại vì thấy những bộ mặt đằng đằng sát khí của những « ông » hòa giải nên chẳng ai dám nói gì. Họ cũng tự xưng là Phường trưởng, Xã trưởng, Thôn, Khóm trưởng, đã làm mưa làm gió, bắt giết người, lập tòa án nhân dân đấu tố nhiều người đến 29/03/1975, VC vào thành phố rồi, chúng cũng không hề nói gì mà còn vui vẻ bắt tay « các ông » hòa giải gọi là « đồng chí ». Nhưng sau ngày 30/04/1975, Việt cộng mới yêu cầu các khuôn hội bàn giao chính quyền cho chúng. Điều này đã làm « Hòa giải Phật giáo » bị mất mặt trước dân chúng, nên « Chính quyền Hòa giải » nhất định không chịu bàn giao, vì đã nắm quyền hơn một tháng rồi, giết người chẳng ít, bắt giam cũng nhiều ( như tôi đã viết ở bài trước). Nên chính quyền hòa giải đòi VC phải hợp thức hóa cho họ trở thành những cán bộ lãnh đạo phường, khóm, xã, thôn vì đã có công lao đưa xe đi đón bộ đội Bắc Việt vào thành phố.
Cuối cùng Việt cộng tổ chức một cuộc mít-tinh tại Đài phát thanh Đà Nẵng, trong buổi mít tinh ban tổ chức đã giới thiệu tên Trần Thận, Thường vụ tỉnh ủy Quảng-Đà lên phát biểu như sau:
« Sở dĩ có cuộc mét-tinh hôm nay là do sự đòi hỏi của Phật giáo. Tôi nhấn mạnh là Phật giáo chớ không có hòa hợp, hòa giải chi hết á. Vì cái chiêu bài hòa hợp, hòa giải là chỉ do Phật giáo tổ chức ra để lừa bịp với chế độ Sài Gòn mà thôi. Chúng tôi công nhận Phật giáo Ấn Quang đã có công đóng góp với cách mạng đánh đổ Mỹ- ngụy. Nhưng, đó là nghĩa vụ công dân chớ không vì thế mà Phật giáo đòi cầm quyền. Hiện nay, còn có một số phường, khóm, xã, thôn thuộc các khuôn hội còn nắm giữ không chịu bàn giao cho ủy ban nhân dân các địa phương. Phật giáo nên biết, ngày xưa ông Lý Vạn Hạnh là cha ruột ông Lý Công Uẩn nên Phật giáo muốn làm gì thì làm, còn hiện nay ông Đôn Hậu không phải là cha của đồng chí Lê Duẩn, và chính quyền cách mạng chứ không phải là triều Lý. Vậy chúng tôi yêu cầu Phật giáo phải khẩn trương bàn giao gấp, nếu chậm trễ chúng tôi sẽ có biện pháp… ».
Nói đến đây, y nổi nóng vung tay hét:
« Nay đất nước đã có độc lập tự do rồi mà không lo tu thân, tăng gia sản xuất để góp phần xây dựng đất nuớc, mà cứ đòi cầm quyền! Phật giáo lấy tư cách gì để đòi cầm quyền? Ai cho cầm quyền? Phật giáo chỉ có cầm …cầm … cầm… »
Bỗng nhiên có tiếng cười nổi lên, nhiều bà cười lớn quá khiến tên Thận phải khựng lại, rồi không biết phải nói tiếp những gì nên y nói đại:
« O … cầm … cầm … cầm …cái gì cũng được nhưng không được cầm quyền".
Thích Đôn Hậu bắt buộc đồng bào phải đi diễn hành mừng sinh nhật Hồ Chí Minh:

Chùa Phổ Đà, 340 Phan Chu Trinh, Đà Nẵng
Ngày 18/05/1975, Thích Đôn Hậu chỉ thị tỉnh giáo hội Quảng Nam - Đà Nẵng và Thị bộ Hòa giải tổ chức sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Pháp Lâm. Trước khi tổ chức sinh nhật, các khuôn hội tại các quận lân cận và thành phố Đà Nẵng đã ra lệnh cho đồng bào phải tập trung về « chùa » Phổ Đà « để bắt đầu cuộc diễn hành chào mừng chiến thắng và dự sinh nhật của bác Hồ vị cha già của dân tộc ». "Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải " đã bắt đồng bào ở các quận như: Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An, Hòa Vang… phải đi bộ, mọi người phải tay cầm đèn gió để đem xuống thì thắp sáng lên cho nó ra vẻ « phấn khởi hồ hởi » và gói cơm đem theo để ăn dọc đường vì có nơi phải đi bộ một ngày một đêm mới tới Đà Nẵng. Trước khi đi, các khuôn hội đã tập dượt cho đồng bào hô khẩu hiệu như sau: Khi những « ông » hòa giải tay cầm loa phóng thanh, mồm hô:
« Hoan hô bộ đội giải phóng miền nam anh hùng.»
thì đồng bào phải hô lớn « hoan hô… hoan hô… » còn khi mấy « ông » hô:
« Đả Đảo đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai bán nuớc », thì đồng bào phải hô « đả đảo…đả đảo… »
Nhưng sau một đêm ngày đi bộ vì mệt và buồn ngủ, nên đồng bào chẳng còn nhớ những gì khác cả, mà chỉ còn nhớ bốn tiếng « hoan hô » và « đả đảo » mà thôi. Tôi vẫn nhớ như in vào đêm ấy đã hơn một giờ sáng ngày 19/05/1975. Lúc đó tôi đang ngủ, thì bỗng nghe tiếng chân người đi, tiếng ồn ào, tiếng loa phóng thanh cùng với tiếng hô « hoan hô…đả đảo… » Bây giờ mỗi lần nhớ lại chuyện đêm ấy, nếu có ai thì tôi kể lại để cùng cười, còn nếu chỉ mình tôi, thì tôi … cười một mình.
Đêm ấy, khi đoàn người đã bị các «ông» hòa giải hành hạ đang đi qua nhà, tôi đã vừa cảm thương đồng bào vừa không nén được tiếng cuời, khi nghe mấy «ông» hòa giải tay cầm loa phóng thanh mồm la ơi ới:
«Bà con ơi! ai rớt gói cơm?»
thì có tiếng của đồng bào đáp trả:
« hoan hô... hoan hô… »
Nghe vậy mấy « ông » hòa giải lại la lớn:
« Bà con ơi! gói cơm ai rớt? »
Đồng bào lại hô
« đả đảo … đả đảo …».
Cứ tiếp tục như vậy, một hồi lâu, đồng bào cứ mắt nhắm, mắt mở cũng chỉ biết có
« hoan hô »
với
« đả đảo » cái... gói cơm.
Cuối cùng, các « ông Hòa giải» tức quá mới đi tới gần từng nhóm người, tay đập mạnh vào người họ mồm hét:
«Gần sáng rồi, tỉnh táo đi, nghe chúng tôi nói đây nè ai…làm…rớt…gói…cơm…thì nhận lại, chứ nghe cái gì đâu mà cứ hoan hô với đả đảo hoài…vậy hả? »
Lúc đó đồng bào mới biết là có « sự cố ».
Nên biết là lúc đó, đồng bào rất sợ Hòa giải Phật giáo, các khuôn hội buộc mỗi gia đình ít nhất phải có một người phải cầm đèn gió đi diễn hành. Tại thành phố Đà Nẵng, để cho nó có « hệ thống » trước khi diễn hành đến « chùa » Pháp Lâm, các khuôn hội dùng loa phóng thanh kêu gọi:
" Yêu cầu tất cả đồng bào hãy tập trung về tại « chùa » Phổ Đà ở số 340 đường Phan Châu Trinh ĐN, tức Phật học viện Trung phần, để bắt đầu cuộc diễn hành trên khắp thành phố suốt đêm để mừng cách mạng chiến thắng, cho đến sáng ngày 19-05, trước khi đến chùa Pháp Lâm tại số 500, đường Ông Ích Khiêm để mừng sinh nhật Hồ Chủ tịch vĩ đại"
Trở lại với cuộc diễn hành hay đúng hơn là Hành diễn. Sau khi đã thấy những sự kiện kể trên, tôi nghĩ chờ Trời sáng sẽ xuống chùa Pháp Lâm xem thử mọi việc ra sao.
Khi đến « chùa » Pháp Lâm, tôi cùng vào với đồng bào diễn hành. Chúng tôi đã chứng kiến « Thượng tọa » Thích Đôn Hậu ngỏ lời nói:
"Yêu cầu đồng bào từ nay hãy lập tại nhà một bàn thờ thật trang trọng, phải có ảnh bác Hồ kính yêu để thờ vị cha già của dân tộc, ảnh đang có tại các chùa, đồng bào hãy đến để mua đem về mà thờ ».
Tiếp theo Thích Đôn Hậu (dân Đà Nẵng thường gọi là Thích Đoản Hậu hoặc Thích Đâm Hậu), giới thiệu một « cán bộ cách mạng lên nói chuyện với đồng bào » khi người này lên nói chuyện đã tự giới thiệu tên là Hoàng Châu Ký, Giám đốc Sở Thông tin văn hóa khu trung, Trung bộ.

Giáo sư Hoàng Châu Ký, sinh năm 1921 tại xã Cẩm Kim, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình khá giả. Ông tham gia cách mạng ngay từ năm 16 tuổi, từ trần ngày 31 tháng 1 năm 2008 tại Đà Nẵng, hưởng thọ 87 tuổi.
Hoàng Châu Ký đã ngỏ lời khen ngợi có đoạn như sau:
« … Quý Thượng tọa, đại đức và quý vị thuộc lực luợng hòa hợp hòa giải, là những người đã có công với cách mạng, tham gia đánh đổ Mỹ- ngụy, thật là đáng ngợi khen. Trước đây, quý vị nói là bị Mỹ-Ngụy áp bức, kềm kẹp không có tự do, nay cách mạng đã giải phóng, không còn ai bị áp bức nữa. Từ nay, quý vị tu sĩ đều được tự do ở lại chùa tu hành. Ngoài ra, cách mạng sẽ giúp đỡ bằng cách tạo điều kiện cho có đất đai để quý vị được tự do làm chủ, tự do lao động sản xuất, để góp phần xây dựng đất nước, và để được vinh dự là không còn ăn bám vào thiên hạ nữa.
Còn đối với những người không phải tu hành, tôi biết ở đây có nhiều người có bằng cấp cao như tiến sĩ, bác sĩ, giáo sư, kỹ sư … Các anh sẽ được trọng dụng trở lại, làm việc theo nghành nghề chuyên môn, bác sĩ trở lại bệnh viện, giáo sư trở lại trường học … Các anh sẽ được bình đẳng như những giáo sư, bác sĩ, kỹ sư cách mạng miền Bắc. Nghĩa là, hàng tháng họ được bao nhiêu ký rau muống, bao nhiêu mì chính (bột ngọt)… thì các anh cũng được lãnh bấy nhiêu. Ngoài ra, muốn cải thiện, nếu ở thành phố không có đất, chúng tôi sẽ giúp đỡ cho các anh có điều kiện để tự do nuôi heo, tự do nuôi gà, tự do nuôi vịt, tự do… tự do... ».
Hoàng Châu Ký còn nói thêm nhiều thứ tự do nữa, Nhưng sao tôi thấy trên từng khuôn mặt của những « vị trí thức » này bỗng trở nên nhợt nhạt khi biết mình đã có đầy đủ những thứ… tự do!!!
Trong lúc y còn nói chuyện, nhưng chúng tôi không thể đứng nhìn những đồng bào tội nghiệp của mình, mà chúng tôi biết chắc chắn là họ phải nằm đường, ngủ chợ, lê lết một ngày, một đêm nữa mới trở về đến nhà của họ, nên chúng tôi phải ra về.
"Trại Cải Tạo T.154":
Đến đây, tôi xin nói qua về trại cải tạo T.154, là hậu thân của trại cải tạo Đá Trắng. Nhân đây, vì tôi vốn là dân gốc tại làng Thạnh Bình, Tiên Phước, Quảng Nam; từ nhà tôi đến nhà cụ Huỳnh Thúc Kháng chỉ cần đi bộ, tôi biết rất rõ về trại này, nơi Bác ruột của tôi đã bỏ mình tại trại vào năm 1964, nên tôi phải nói rõ về cái tên T.154. Bởi khi quận Tiên Phước mất vào ngày 13/03/1975, thì VC đã cấp tốc khởi công phá bỏ trại Đá Trắng vốn ở dưới hầm, để thành lập trại tù mới lớn hơn, từ lúc đầu VC đã bắt thanh niên quận Tiên Phước làm công việc xây dựng bằng nhà tranh vách đất, đến ngày 15/04/1975, Việt cộng cho « khánh thành » và trại Đá Trắng chính thức đổi tên thành "Trại cải tạo T.154", để rồi các vị ai đã vào đấy, thì ít có vị nào ra trại trước mười năm, có vị đã bỏ mình tại trại vì bị hành hạ đến bệnh tật không được điều trị, có vị bị xử bắn, bị bỏ đói chết trong nhà biệt giam.
Sau đó, khi đưa tất cả các vị quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã trình diện tại « chùa » Pháp Lâm vào đây, VC lại bắt các vị tù trong trại tự xây nhà tù mới, mái lợp ngói, nền lát gạch. Trại chính là Trại 1, bên nam gồm có 12 (mười hai) nhà, mỗi nhà có bốn phòng, mỗi phòng có hai dãy sạp gỗ dài song song và một sạp chiếc, mỗi sạp chứa được trên dưới 20 ( hai mươi) người. Tất cả các phòng, các cánh cửa đều có gài một thanh sắt dài có gắn khóa sắt, để mỗi tối sau một ngày lao động, mọi người tù phải vào phòng để một công an gọi là « Cán bộ trực trại » điểm danh xong rồi khóa cửa lại. Nhưng chưa đủ mà còn có một nhà Biệt Giam, trong nhà nầy có những thanh sắt gài hai chiếc cùm sắt xuyên qua tường gạch kiên cố, để cùm hai chân người tù, phòng chỉ bốn mét vuông, không có cửa sổ, chỉ có một lỗ thông hơi hình tròn đường kính khoảng 08 cm (tám phân), bên ngoài là cánh cửa sắt có gài một thanh sắt có khóa sắt. Trong trại còn có nhà cấp dưỡng ( nhà bếp) một trạm xá.
Ngoài ra, quanh trại VC còn xây thêm các phân trại như các trại: Trại Thôn Năm, Thôn Tư, Na Son, Nà Thao, Lò gạch, Nhà chăn nuôi, Nhà máy ly tâm sản xuất đường (chỉ phân phối cho công an, còn tù cải tạo thì chỉ được nhìn mà thôi). Đầu năm 1979, vì đánh nhau với Tàu nên VC chuẩn bị đưa một số vị tù ra Bắc, đã phải ngưng lại, thay vào đó VC đã lập thêm nhà biệt giam 02.79 ( Đồng Mộ ). Rồi thay vì đưa ra Bắc; vào đêm 03-05-1979, các vị này đã bị trói dính chặt vào nhau. Sau đó, các vị đã bị công an vũ trang dao kề cổ, súng kề lưng, đưa vào nhà biệt giam 02.79 ( Đồng Mộ ) trong một đêm khuya tối Trời. Trong số này có bốn vị tu sĩ đó là quý ngài:
- Linh mục Đặng Đình Canh, hiện nay quản nhiệm giáo xứ Thanh Bồ, Đà Nẵng,
- Linh mục Vũ Dần, hiện nay quản nhiệm giáo xứ Phú Thượng, Đà Nẵng,
- Linh mục Nguyễn Đình Ánh.
Riêng Linh Mục Tống Kiên Hùng sau khi ra tù ngài trở về giáo xứ Tam Tòa, nhưng công an QN-ĐN đã trục xuất ngài vào miền Nam, rồi ngài sang Hoa Kỳ, hiện nay ngài đã vào dòng tu kín tại Hoa Kỳ, và Mục sư Dương Đình Nguyện, hiện cũng đã tiếp tục hầu việc Chúa ở Hoa Kỳ.
Ngoài các trại tù nam, VC cũng lập thêm phân Trại Nữ gồm có năm nhà, có nhà cấp dưỡng, trạm xá riêng, các phòng cũng kiên cố như trại nam. Nhưng mỗi khi nữ tù « vi phạm nội quy » thì công an trại nữ lại "Lập biên bản" để đưa vào cùm trong nhà biệt giam của trại nam, vì trại nữ không có nhà cùm biệt giam. Ví thế, nữ tù vì mắc cỡ nên rất sợ bị vào nhà cùm ở bên trại nam; bởi bất kể một nữ tù nào chỉ cần có một giờ bị ôm áo quần đi vào nhà cùm ở trại nam, là cả hai trại nam - nữ tù đều biết tất cả.
Hai trại nam, nữ cách nhau một giòng suối nhỏ, « tuy xa mà gần, tuy gần mà xa » chung một hội trường để hai trại nam, nữ cùng học tập chính trị, hoặc họp toàn trại mỗi khi trong trại có nhiều người « vi phạm nội quy » hoặc xem văn nghệ vào dịp Tết, hay ngày 2/09, « nghệ sĩ » là các anh chị em đa số là các anh chị em thuộc Chiến Tranh Chính Trị cũ.
Nói đến nhà tù này, thật là kinh hoàng, khủng khiếp!!! Vì là nhà tù lao động chuyên về nông nghiệp, nên cả nam lẫn nữ tù đều phải làm những công việc vô cùng nặng nhọc. Hàng ngày, nữ tù chúng tôi thường đi làm chung với quý vị nhà 08 do Trung tá Nguyễn Văn Chước « Tự quản » (nhà trưởng) quý vị này đã từng qua nhà biệt giam 02-79 ( Đồng Mộ ) và nhà 10 do Thiếu tá Trương Quang Dõng làm nhà trưởng, ngày nào hai nhà này cũng thay phiên lao động bên nữ tù. Các anh đã thay trâu bò cày, bừa cho nữ cấy, gặt. Với chỉ tiêu chung, ba người một sào, bắt buộc phải đạt trong ngày. Ngoài ra phải leo lên đồi cao cuốc đất trồng sắn, mỗi ngày với chỉ tiêu vừa cuốc vừa trồng phải « đạt » 500 cây hom sắn, hay cuốc đất trồng mía, tỉa đậu, trồng khoai, lên rừng nam đốn củi, nữ vác xuống chất thành mét khối, cũng phải "đạt chỉ tiêu". Nói tóm lại làm việc gì cũng phải « đạt chỉ tiêu » hết.
Nhưng không phải « đạt chỉ tiêu » rồi mà tối về phòng được ngủ sớm, mà tất cả chúng tôi, sau giờ ăn tối còn phải «làm tranh thủ» hái đậu phụng (lạc) cũng «chỉ tiêu» cho ba người đầy một thúng mới được về phòng, đặt lưng xuống chưa được bao lâu thì 06 giờ sáng phải thức dậy để bắt đầu một ngày lao động khác. Có khi vừa ăn tối xong, phải «tranh thủ» làm cỏ mía... Thôi thì đủ thứ «tranh thủ» không làm sao kể hết.
Chúng tôi vẫn nhớ, có những lần suốt ngày dầm mình dưới sình, lầy, tới ngực, tới bụng làm mồi cho đỉa; Nhưng vẫn "không đạt chỉ tiêu". Vì vậy, đến chiều về trại, chúng tôi đã bị phạt, bằng cách không cho tắm rửa. Những lần như thế, chúng tôi cứ khóc như mưa, chẳng làm sao nuốt nổi chén sắn độn cơm, cũng không sao ngủ được vì trên người còn dây dính những bùn lầy, hôi hám!!!
Chúng tôi cũng không bao giờ quên những năm tháng lao động bên các vị Quân, cán, chính VNCH, thuộc nhà 08 và nhà 10. Tôi vẫn nhớ mãi những ánh mắt đầy thương cảm và lo lắng của các anh, khi nhìn chúng tôi với những tấm thân yếu đuối, mà các anh chỉ nhìn thấy từ bụng, từ ngực nổi trên sình lầy, trong những ngày đông buốt giá, đến những ngày hạ nắng như thiêu đốt. Đôi chân của chúng tôi lúc nào cũng phải lần bước theo những cây đà, do chính các anh đốn từ trên rừng đem bỏ xuống ruộng. Các anh luôn luôn lưu ý đến chúng tôi, để khi nào nữ tù có ai lỡ trượt chân khỏi cây đà, thì các anh kịp thời nối cuốc, nối tay, kéo chúng tôi lên. Vì thế, có nhiều người rơi xuống ruộng, nhưng không hề có một ai bị chết vùi thân dưới sình lầy cả.

Nhưng với tôi, mặc dù bị tù đày. Tôi vẫn thấy mình có cái « may mắn » là « được » chứng kiến những trận đòn thù dã man, tàn bạo nhất mà công an trại đã giáng trên những tấm thân gầy yếu, trơ xương của nhiều vị tù, nhưng vì là một bài viết có hạn, nên tôi chỉ nói đến những trường hợp như sau đây:
- Thiếu tá Hồ Minh, ông đã bị « kỷ luật » cùm tay, chân, miệng, và ở phòng biệt giam. Chẳng những thế, mà ông còn bị công an trại dùng những khúc củi đánh đập nhiều lần, đến nỗi mỗi lần ông bị đánh, tù nhân chỉ nghe tiếng hét, tiếng rú của ông chứ không hề nghe tiếng ông nói thành lời. Một lần, tù nhân nghe tiếng mở cửa của thanh sắt phòng biệt giam. Họ thấy ông Hồ Minh bị hai tên công an vũ trang lôi ra khỏi phòng, rồi dùng những khúc củi đánh tới tấp lên người ông. Đau quá, ông bỏ chạy quanh khu biệt giam, lúc ấy, nhiều người mới nhìn thấy chiếc cùm đã không còn trên miệng của ông nữa, Nhưng ông không còn hét thành lời, mà chỉ có tiếng rú vô cùng man dại, đôi mắt vô hồn, nét mặt thất thần, có lẽ ông đã mất trí, cũng có thể vì chiếc cùm lâu ngày trên miệng đã làm ông không còn nói được nữa. Nhưng bọn công an vẫn đánh vì nói ông giả câm, chúng cứ tiếp tục đánh, buộc ông phải nói. Khi ông ngã sấp xuống mặt đất thì chúng không đánh bằng những khúc củi nữa, mà chúng thẳng chân giày đạp lên đầu, lên lưng ông, cho đến lúc ông nằm bất động, chúng mới cho « trật tự » trại khiêng xuống trạm xá trại 1. Nhưng đã quá trễ, vì khi vào trạm xá, thì thân xác ông đã lạnh ngắt tự bao giờ. Mọi người mới hay rằng bọn công an trại đã đạp lên cái xác chết của ông.
- Đại úy Nguyễn Phượng, bị cùm bỏ đói cho đến chết. Khi chết rồi, mà đôi chân của ông vẫn còn trong đôi cùm sắt treo trên tường, thân thể quắt queo trên nền gạch lạnh lẽo của phòng biệt giam tăm tối!!!
- Thiếu tá Nguyễn Xuân Giáo, cựu Trưởng ty Cảnh sát Quốc gia Quảng Nam (thời Đệ Nhất Cộng Hòa). Trước khi chết, ông đã bị hành hạ đến không còn nhìn ra được là con người nữa. Ngày ông chết trong nhà biệt giam, khi đưa ra ngoài, không biết là vô tình hay hữu ý, mà bọn công an đã cho người con trai ruột của ông cùng đồng tù là anh Nguyễn Xuân Đức khiêng xác đi chôn, mà vẫn không biết đó là cha ruột của mình. Cho đến khi huyệt mộ đã lấp đất xong, tên công an trại ra lệnh cho « trật tự » trại mang tấm bảng gỗ đến và viết tên Nguyễn Xuân Giáo, đem cắm dưới chân mộ. Lúc ấy, anh Đức mới kinh hoàng, chết điếng ngã lăn xuống đất, ôm lấy nấm mộ của đấng sinh thành vừa lạy vừa kêu Trời. Nhưng Trời thì ở trên cao và xa quá, còn công an thì ở gần, nên chúng ra lệnh cho « trật tự » trại vực anh dậy và lôi về phòng. Trước cảnh Trời sầu, đất thảm ấy, tất cả tù nhân chỉ biết rơi lệ vì cảm thương và đau xót!!!
- Chúng tôi cũng đã chứng kiến tại "Đồng Cừ", hôm ấy là ngày cấy lúa, bọn công an bảo Trung tá Không quân, anh Nguyễn Văn Đức nấu ăn, đến khi dọn cơm ra cho chúng, bỗng chúng nói anh rửa rau muống không sạch, là muốn đầu độc chúng, rồi mấy tên công an vũ trang đã dùng báng súng, dùng giày, đánh, đạp vào người anh đến ngã ngụy xuống mặt đất trước mặt Mục sư Dương Đình Nguyện và Giáo sư Đồng Sĩ Ninh, là hai vị tù chịu trách nhiệm đắp nước ruộng và đồi sắn tại "Đồng Cừ", cùng đông đảo tù cải tạo. Chúng tôi hết sức kinh hoàng và vô cùng đau đớn, nhưng không biết phải làm gì hơn là cúi mặt để giấu đi những dòng nước mắt cứ trào tuôn từ đáy lòng thương cảm, và cũng từ nỗi uất hận. Bởi, anh Đức đã lớn tuổi, mắt kém nhưng không có kính, nếu anh có rửa rau không được sạch thì đó không phải là lỗi của anh. Tại sao chúng không bảo những người tù khác mắt còn nhìn rõ hơn để nấu ăn cho chúng. Vả lại, chúng biết rõ là anh Nguyễn Văn Đức không có ý đầu độc chúng, Nhưng chúng muốn đánh anh vì lòng thù hận. Nên biết, bọn công an luôn luôn tìm một sơ hở nhỏ nào đó của tù cải tạo để có cớ mà đánh, đập, cùm kẹp để hành hạ trả thù mà thôi.
- Trung tá Nguyễn Tối Lạc, quận trưởng quận Đức Dục, người từng bị cùm cả tay, chân, có khi bị cùm cả miệng. Trước khi bị cùm miệng, ông đã xin Linh mục Vũ Dần, Linh Mục Đặng Đình Canh, Linh Mục Nguyễn Đình Ánh, Linh Mục Tống Kiên Hùng, truyền dạy Kinh Thánh cho ông, nên mỗi lần bị cùm miệng, nhưng còn hai tai nên qua cái lỗ thông hơi của phòng biệt giam, ông vẫn học thuộc hai câu Kinh Thánh mỗi ngày. Và nhiệm mầu thay, ông đã thoát chết. Bây giờ ông đã sang Hoa Kỳ theo diện tù cải tạo.
Người ta thường bảo khi cùng đường, sắp chết mới thấy Trời. Quả đúng như vậy, khi vào các nhà tù của Việt Cộng là đi vào tử lộ, và chính ở nơi ấy con người mới biết đến Đấng Toàn Năng.
- Ngoài ra, còn có nhiều vị bị xử bắn tại trại như Đại tá Nguyễn Văn Bình… Đặc biệt là Kỹ sư Trung úy Trần Quang Trân đã bị xử bắn vì tổ chức giải thoát tất cả tù nhân. Nên biết, ông Trần Quang Trân là một Kỹ sư điện tử, từng được tu nghiệp tại Nhật và Hoa Kỳ, ông được công an trại giao cho tất cả công việc bảo quản điện, đài trong trại, được tự do về thành phố Đà Nẵng mua phụ tùng các loại máy móc cho trại, ông cũng là một tay trống của đội văn nghệ trại, nhưng ông không thể ung dung để hưởng những ưu đãi của Việt cộng, không thể nhìn những người đồng cảnh ngộ bị đọa đày. Nên ông phải hành động, để rồi ông phải chịu chết thảm!!!
- Ngày ông Trần Quang Trân bị xử bắn, một buổi chiều khoảng 06 h 30 ngày 27/05/1982, khi cả hai trại nam, nữ đã ăn « cơm » xong. Trại nam đã điểm danh khóa cửa, nhưng trại nữ chưa điểm danh. Vì thế, chúng tôi còn rủ nhau đi quanh sân trại để « tâm sự ». Bỗng nhiên, chúng tôi thấy một tiểu đội công an vũ trang xuất hiện, chúng kềm ông Trần Quang Trân ở giữa và dắt theo bốn nam « trật tự » khiêng một chiếc quan tài, tất cả đang đi về hướng Hố Ông Hức, là nơi dành để chôn tù cải tạo. Riêng tôi, là thợ cắt, may được Âu-Việt phục, nên thỉnh thoảng công an trại bảo đi lấy số đo ở gia đình chúng để vào may trong trại nam, vì trại nam có bốn máy may, trại nữ không có, máy may chỉ dành để may áo quần cho công an, còn tù phải tự vá áo quần rách bằng những sợi nylon, tách ra từ bao cát mà ngày xưa thường dùng để làm hầm tránh đạn. Mỗi lần một « cán bộ » nào muốn nhờ tôi cắt, may, thì chính « cán bộ » ấy phải đích thân ra trại nữ xin phép « cán bộ trực trại » để nhận và cùng đi với tôi đến nhà, sau khi đo, đến ngày tôi vào trại nam để may công an cũng phải đi kèm, may xong, lại dắt tôi về trả cho « cán bộ trực trại ».
Vì vậy, lúc ấy tôi đang từ nhà của vợ chồng Phó giám thị Nguyễn Văn Bá và vợ là Nguyễn Thị Thanh Yên người Kỳ Hà, quận Lý Tín, Quảng Tín. Yên là « cán bộ y tế ». Thời gian này Nguyễn Văn Bá đã lên Phân trại Thôn 05 để kiêm luôn chức Trưởng trại Thôn 05. Nhưng không hiểu vì quên giờ hành quyết ông Trần Quang Trân, hay vì tôi đo áo quần cho cả gia đình nên bị chậm trễ giờ giấc. Nhà của vợ chồng tên Bá ở gần Hố ông Hức. Trên đường về trại có « cán bộ » Yên đi kèm, tôi đã nhìn thấy ông Trần Quang Trân bị bịt mắt và cùm miệng, vì sợ ông Trân có thể có lời nói bất lợi, hoặc hô khẩu hiệu, ngay như Trung tá Nguyễn Tối Lạc, khi bị kỷ luật cũng phải bị cùm miệng, bọn công an trong trại không bao giờ cho tù nói những lời mình muốn nói... Ông Trần Quang Trân bị đưa đến Hố ông Hức. Vừa thấy tôi, mấy tên công an hét lớn, bảo tôi nhanh chân về trại, « cán bộ » Yên bảo tôi chạy ngay về trại, không được nhìn cái gì cả, còn y thị cũng chạy biến vào đám mía của nhà «Phó giám thị » Nguyễn Văn Tài và vợ là Trần thị Lệ cán bộ phụ trách hồ sơ tù cải tạo. Tôi lén nhìn ông Trân rồi cúi đầu đi thẳng. Khi về trại, tôi thấy mọi nữ tù đều khóc, vì họ cũng đã thấy, và đã biết những gì sẽ xảy ra!!! Khoảng nửa giờ sau, có mấy phát súng nổ. Mặc dù trừ bốn « trật tự » và đội công an hành quyết, không có một ai biết, hay thấy được giây phút cuối cùng của ông Trần Quang Trân, Nhưng nữ tù đều hiểu khi nhìn thấy chiếc quan tài khiêng đi bên cạnh ông, nên họ biết chắc chắn những phát súng đó là đã bắn vào ông Trân. Không cầm lòng được nữa, cả trại nữ khóc thét lên, tiếng khóc thấu Trời, làm bọn công an trên cơ quan nghe được. Vì thế, « cán bộ trực trại » tên Trịnh Thị Thư vợ của « giám thị » Huỳnh văn Hưng người Bình Dương, Thăng Bình, Quảng Nam, đã xuống trại, y thị phùng mang trợn mắt hét chúng tôi, bảo tất cả vào phòng khóa cửa lại. Y còn nói: « Nếu các chị còn khóc tui sẽ cùm đầu hết ». Nhưng chúng tôi không sợ, vì cùm hết thì lấy ai ngày mai đi lao động.
Trong những ngày đi cắt bổi (cắt những cành lá trên ngọn để bỏ vào chuồng trâu, bò làm phân bón ruộng) quanh Hố ông Hức, tôi đã bốn lần lén lút đến gần ngôi mộ ông Trần Quang Trân. Ông được chôn riêng trên ngọn đồi, dưới chân mộ là một gốc cây cao, có bóng mát tỏa xuống chở che một nắm xương tàn, một linh hồn, mà lúc sinh tiền là một tâm hồn cao thượng. Những ngày bị cùm kẹp trong phòng biệt giam, những vị tù bị cùm bên cạnh phòng của ông, vẫn thường nghe ông hát lên những Bài Thánh Ca với lời nguyện cầu cho đất nuớc, cho đồng bào, cho những người tù đồng cảnh ngộ. Mỗi lần viếng mộ ông, tôi chỉ vừa đi vừa nhìn, chứ không bao giờ dám đứng lại, vì tất cả tù nhân nếu ai đến thăm mộ ông mà bị chúng bắt được, sẽ bị vào nhà cùm biệt giam cả.
Tôi cũng biết chắc chắn, khi VC mở tòa án tại trại để tuyên án tử hình ông Trần Quang Trân, cũng như lúc xử bắn VC đều không cho thân nhân và vợ, con ông ở Xuân Hòa, Xuân Lộc, Đồng Nai được biết.
Nói về những vị đã chết trong trại tù còn nhiều lắm, khó có thể viết đầy đủ trên một trang báo. Nên tôi lại xin phép nữa để viết về một hòan cảnh thương tâm khác của một người, hay nói đúng hơn là của một gia đình đã bị VC đọa đày đến cảnh khốn cùng, nếu không có niềm tin nơi Đấng Tối Cao thì tôi chắc họ đã không làm sao vuợt qua được những đớn đau, nghiệt ngã, oan khiên mà đảng Cộng sản Việt Nam đã giáng cho gia đình ấy, đó là trường hợp của gia đình Giáo Sư Thượng Nghị Sĩ Bùi Văn Giải. Khi di cư vào Nam năm 1954, ông làm nghề dạy học, bà tảo tần buôn bán, tiết kiệm dành dụm tạo được một căn nhà tại phuờng Tam Tòa, đường Trần Cao Vân Đà Nẵng. Khi ông vào tù cải tạo, công an Đà Nẵng đã tịch thu căn nhà của ông bà. Bà đau buồn, ngã bệnh rồi mất ở tuổi đời 36. Ngày mất mẹ, các con ông và người thân đồng cầu khẩn VC cho ông về chôn cất vợ xong rồi tiếp tục vào tù, nhưng VC vẫn không cho. Ông đã không được nhìn mặt người bạn trăm năm vào giây phút cuối cùng!!! Nhờ bà con giúp đỡ, các con ông chôn mẹ, trong lúc cha vẫn ở trong tù!!! Chỉ có Trời cao mới thấu được nỗi đau thương của các con ông Bùi Văn Giải khi vấn vành khăn tang khóc mẹ, cũng như nỗi đớn đau của ông Bùi Văn Giải ở trong trại tù "cải tạo"!!!
Những năm dài ở trong lao lý, Giáo Sư Bùi Văn Giải đã từng bị đưa vào nhà "Biệt giam 2.79" tức Đồng Mộ và nhà "Biệt giam Nhà Trắng" cùng với nhiều vị sĩ quan cao cấp và các vị cán bộ lãnh đạo cao cấp của các chính đảng. Khi bị bệnh nặng Giáo sư Bùi Văn Giải phải vào bệnh xá Trại 1 (trại chính), khi xuất viện ông lao động ở tổ rau xanh sau trại nữ, thời gian này tôi vẫn thường thấy ông với mái tóc bạc phơ, tấm thân gầy yếu, nhưng tiếng hát của ông qua những Bài Thánh Ca nghe vẫn vút cao như bay đến tận Trời xanh.
Ngày ra tù, theo lời Thầy, tôi đến thăm các con của Thầy. Được biết khi tịch thu nhà, công an Đà Nẵng nói là vì « nhân đạo » nên chừa lại một phòng trong căn nhà của ông bà chỉ bốn mét vuông, để các con ông ăn, ngủ, còn nấu nuớng thì phải nhóm bếp ngoài sân. Nhưng những ngày mưa và mùa đông thì phải dời bếp vào phòng, bốn đứa con ông bà phải ăn, ngủ chung với tro và khói bếp. Nhưng chưa đủ, công an còn buộc các con của Giáo Sư Bùi Văn Giải phải trả tiền nhà hàng tháng cho Ty nhà đất, vì căn nhà đã thuộc sự quản lý của nhà nuớc!!!
Với hoàn cảnh bơ vơ, cha ở tù, mất mẹ, các con ông phải bỏ học, đứa vá xe đạp, đứa làm thuê. Riêng Thu con gái út, là con gái yếu đuối lại còn nhỏ, nên phải làm nghề thêu, may mướn để góp phần trả tiền thuê cho chính căn nhà mà do mồ hôi, nuớc mắt của cha mẹ mình đã tạo nên. Vì nếu không trả thì sẽ bị đuổi ra khỏi phòng, rồi phải lang thang đầu đường xó chợ. Sau 13 năm tù cải tạo, ông đã sang Hoa Kỳ và hiện đang là Chủ nhiệm Nguyệt san Về Bên Mẹ La Vang tại Portland, Hoa Kỳ.
Tạm thay lời kết:
Khi viết đến những dòng này, tôi bỗng thấy có hơi buồn; bởi chúng tôi biết có rất nhiều người đã biết, đã thấy những hành vi tàn ác của Phật Giáo Ấn Quang trong suốt bao nhiêu năm qua. Song cho đến giờ này cũng chỉ thấy xuất hiện một số ít bài viết về các biến cố như: Cuộc thảm sát tại Thanh Bồ - Đức Lợi, 24-08-1964- Cuộc Bạo Loạn tại miền Trung, mùa hè 1966, Cuộc Thảm Sát Tết Mậu Thân, 1968 và về ngày nước Việt Nam Cộng Hòa đã rơi vào tay của cộng sản Hà Nội: 30-04-1975. Nhưng, tất cả họ đã vì một lẽ nào đó, nên đều tránh né, không muốn hay không dám viết hết những sự thật. Chúng tôi nghĩ rằng, có thể bởi bị ám ảnh với những hình ảnh giết người của Ấn Quang nên họ sợ đụng chạm, hoặc vì đang đứng ở vào một tổ chức nào đó mà phải cần đến Ấn Quang; và còn một lý do khác nữa là họ sợ một ngày nào đó phải cần đến lá phiếu của Ấn Quang. Riêng kẻ viết bài này là một người không hề có tham vọng về chính trị, nên dù bất kể một thế lực nào cầm quyền tại Việt Nam, kẻ này cũng không màng đến một địa vị, chức tước gì cả. Vì thế, nên không bao giờ cần đến bất cứ một lá phiếu nào; mà điều duy nhất của người viết những loạt bài này là đã tâm nguyện: Suốt đời chỉ làm một người cầm bút, để viết lên tất cả những gì mắt thấy, tai nghe, thấy sao nói vậy, nhớ đâu viết đó. Viết với tất cả tâm thành để cho lớp trẻ sau này còn biết đến những hành vi tàn ác, bất nhân của những kẻ đã từng gieo rắc tang thương, máu lệ cho đồng bào vô tội; hầu cho họ biết đường mà tránh xa phường lục lâm, tặc phỉ, để khỏi rơi xuống hố sâu của tội ác. Bởi đó, chính là lương tâm và trách nhiệm của người cầm bút.
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.
************************************************

Nhà thờ Thánh Tử Đạo tại Phoenix, Arizona
NGHỊ QUYẾT 36 ĐANG THỰC THI TẠI MỸ - LM NGUYỄN THUẬN LÀ AI MÀ DẸP CỜ VÀNG TẠI NHÀ THỜ ARIZONA?
Source: RVNAF 2010/04/23
Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ bị triệt hạ tại buổi Lễ Khánh Thành Thánh Đường Giáo Xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam tại Phoenix ngày 18.04.2010

Ngày 11 tháng 4, 2010, linh mục Nguyễn Trường Luân và ban tổ chức Đại Hội Suy Tôn Lòng Thương Xót Chúa tại Đại Học Cal State Long Beach đã dùng lực lượng cảnh sát và an ninh hộ tống Hồng Y Phạm Minh Mẫn vào nơi hành lễ cũng như cho nhân viên an ninh chìm, nổi kiểm soát gắt gao giáo dân đến dự lễ.
Một tuần sau, không kém phần sỉ nhục, sáng chúa nhật ngày 18 tháng 4, 2010 linh mục chánh xứ Nguyễn Thuận đã dùng tất cả biện pháp an ninh để ngăn chận cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trong dịp khánh thành nhà thờ.

Từ ngã tư đến cửa nhà thờ, khoảng 20 "quần chúng tự phát" được linh mục Thuận tổ chức thành nhân viên an ninh nội chính với đồng phục áo tím dàn hàng "đón" quan khách và ngăn chặn cờ Vàng của giáo dân mang theo mừng lễ. Cũng may Hoa Kỳ là một đất nước có luật pháp nên "quần chúng tự phát áo tím" của linh mục Nguyễn Thuận chỉ tịch thu cờ Vàng, hình Đức Giáo Hoàng Cổ Quàng Cờ Vàng của giáo dân chứ không đến nỗi sử dụng "bạo lực cách mạng" như "quần chúng tự phát áo xanh" đã man rợ tấn công giáo dân cầu nguyện cho công lý và sự thật trước tòa Khâm Sứ tại Hà Nội.
Ngay cửa nhà thờ 4 cảnh sát Mỹ mặc sắc phục trấn giữ và cảnh sát chìm đứng vòng trong có nhiệm vụ được giao phó từ linh mục Thuận: dẹp bỏ, tịch thu cờ Vàng.

Trước ngày khánh thành lm Nguyễn Thuận đã dằn mặt giáo dân:“ cờ Mỹ tôi cũng cấm chứ nói gì cờ Vàng!“ khi giáo dân yêu cầu với linh mục cho phép rước cờ Vàng, cờ Mỹ và cờ hội thánh Công Giáo để tăng phần long trọng cho buổi lễ và cám ơn nước Mỹ đã đón nhận người Việt tị nạn cộng sản cũng như dương cao biểu tượng của người Việt quốc gia. Chính người công giáo Việt Nam tị nạn cộng sản tại Arizona này chứ không ai khác đã đóng góp mồ hôi nước mắt để xây dựng nên ngôi nhà thờ mới này.
Trong không khí hân hoan ngày đại lễ, nhiều giáo dân đã mang cờ Vàng đến mừng lễ với sự mong mỏi chính đáng: ngọn cờ chính nghĩa sẽ được tung bay trong ngày giáo xứ ăn mừng lễ khánh thành nhà thờ mới, nhưng mọi người đã thất vọng vì nhân viên an ninh Mỹ và "quần chúng tự phát áo tím" của linh mục chánh xứ Nguyễn Thuận đã cương quyết không cho mang cờ Vàng vào sân nhà thờ. Nhóm áo tím đã còn ngang nhiên cướp cờ trên tay giáo dân.
Một số giáo dân đã truyền cho nhau hình Đức Thánh Cha Benedic 16 Choàng Cờ Vàng kèm theo thư ngỏ song ngữ Anh-Việt lời lẽ ôn hoà giài thích về cờ Vàng và lý do tại sao lá cờ được tôn vinh.
Nhưng sau đó "quần chúng tự phát áo tím" đã hung hăng "thu" lại từ tay một số giáo dân VN và xé nát, chà đạp dưới chân, mặc dù đó là chân dung vị Cha chung của giáo hội Công Giáo toàn cầu. (đây chứng tỏ họ không phải là người công giáo, mà chính là bọn công an CS được gửi sang Mỹ để lũng đoạn quần chúng VN TỴ NẠN CS).

Để phản đối, hàng chục giáo dân, nhiều cựu chiến binh Hoa Kỳ và một số thành viên cộng đồng tay cầm cờ Vàng cũng như phất đại kỳ trước nhà thờ. Niềm vui ngày đại lễ tan biến, ai cũng lấy làm đau buồn vì linh mục chánh xứ đã thành công trong việc dẹp lá cờ Vàng tại giáo xứ. Biểu tượng của người Việt Quốc Gia bị xoá bỏ trong sự im lặng cúi đầu chịu đựng của hàng ngàn giáo dân. Ai cũng sợ hành động ủng hộ cờ Vàng của mình là chống cha vì cha luôn chống cờ Vàng và chống cha là chống Chúa.
Dù đau xót vì biểu tượng hồn thiêng sông núi bị linh mục Thuận nhất quyết loại trừ khỏi giáo xứ, mọi người vẫn giữ ôn hoà, chỉ dương cờ Vàng và yên lặng tưởng nhớ đến các linh hồn tử sĩ đã dùng máu mình để tô thắm màu cờ bảo vệ chính nghiã quốc gia cũng như hiệp thông với giáo hội và đất nước đang bị đàn áp thô bạo tại Việt Nam.
Hai trong số cựu chiến binh Hoa Kỳ đã không thể chấp nhận sự bán đứng chính nghiã tự do ngay trên đất Hoa Kỳ, đã tay cầm cờ Vàng, tay cờ Mỹ đi vào sân nhà thờ nhưng cảnh sát Mỹ đã cương quyết ngăn cản theo lệnh của linh mục Thuận. Hai cựu chiến binh này đã chất vấn cảnh sát Mỹ: “ Tại sao nhà thờ này nằm trên đất Mỹ mà quý ông là công dân Mỹ lại chấp nhận cho họ ra lệnh loại bỏ quốc kỳ Mỹ? Ngoài ra, cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là biểu tượng của một dân tộc yêu công bằng, bác ái, dân chủ, tự do và hơn 50 ngàn chiến binh Mỹ đã hy sinh để bảo vệ nó cũng bị loại bỏ ở cái nhà thờ này, quý ông có thấy xấu hổ không?“
Thật ngược ngạo khi linh mục Nguyễn Thuận dùng tiền của giáo xứ do giáo dân Việt Nam đóng góp để mướn cảnh sát Mỹ đàn áp lại giáo dân và biểu tượng của họ.
Sau thánh lễ Dâng Hiến Thánh Đường do Đức giám mục giáo phận Phoenix chủ sự, các giám mục, linh mục tiến ra sân nhà thờ xem đốt pháo, muá lân mừng thánh đường mới. Một số giáo dân đã vui mừng và phất cao lá cờ Vàng. Một điều nghịch lý mà không một ai có thể hiểu, trong khi các vị giám mục, linh mục Hoa Kỳ vui vẻ ban phép lành cho lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của dân tộc Việt Nam, có linh mục còn khoác lên vai như vị Giáo Hoàng cuả họ, thì các linh mục Việt Nam một số làm ngơ, một số đi thì thầm cái gì đó với các linh mục Mỹ để các linh mục Mỹ lấy cờ Vàng đang khoác trên người xuống, thậm chí có 1 linh mục còn giật lá cờ VN trên tay một giáo dân và lẩn mất.
Trong niềm hân hoan có nhà thờ mới, giáo dân ra về không quên tự hỏi, linh mục Nguyễn Thuận là ai? Linh mục muốn gì khi bất chấp dư luận, bằng mọi cách triệt hạ cờ Vàng Ba Sọc Đỏ? Và linh mục có giữ lời hứa “xây xong nhà thờ là tôi đi” không, để giáo xứ sớm có lại bình an, đoàn kết, thương yêu nhau như trước ngày linh mục đến nhận xứ cách đây 10 năm (?)?
Phoenix, ngày 22.04.2010
Gián điệp công an Việt cộng "Nguyễn Thuận" đã lòi đuôi chồn, sau hơn năm nằm yên tại Phoenix đã được lệnh trung ương phải ra mặt thi hành NQ 36. Các giáo dân ở Phoenix và CĐ người Việt tại Mỹ phải có thái độ với tên Việt cộng này.
*********************************************************
BỊ HÃM HIẾP, VẪN CÒN TRINH!
Trần Thanh
TRƯỚC KHI VÀO TRUYỆN:
............................................
Tình cũng khó theo thời cơm áo, khó
Ta dìu nhau đi dưới bóng nợ nần!
.............................
Khăn tăm tối hãy ngang đầu quấn nốt
Quấn cho nhau, quấn bạo, quấn cuồng điên
Vòng sau cùng sẽ gặp quỷ SA TĂNG (Lê Thị Công Nhân)
Bởi hạnh phúc mơ hồ như Thượng Đế!
..................................
Đời vốn không nương người thất thế
Thì thôi, Ô NHỤC cũng là danh!
....................................
Những câu thơ trên do thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên sáng tác năm 1973. Bài thơ mang tựa đề "Hai hàng me ở đường Gia Long", nội dung nhuốm màu bi quan, yếm thế, thụ động, buông xuôi, chấp nhận số phận nghiệt ngã, coi như mọi sự đều do Thượng Đế an bài!
Khi đề cập đến sự đau khổ của toàn dân tộc ta dưới ách cai trị của bọn việt gian cộng sản, nhiều người đã cho rằng, ấy là "mệnh trời" đã quy định như vậy! Chẳng hạn, con tắc kè Đinh Thạch Bích thường xuyên đề cập đến "thuyết Định Mệnh": người Mỹ đã thay mặt cho "thuyết Định Mệnh", quyết định cho bọn việt gian cộng sản được xuống cọp an toàn rồi, đừng có chống cộng nữa, vô ích!
Do bị ảnh hưởng bởi "thuyết Định Mệnh" nên nhiều người trong chúng ta đâm ra buông xuôi mọi chuyện. Thay vì tích cực hành động để chấm dứt kiếp nô lệ thì ngày đêm họ cầu mong Thượng Đế cứu giúp, nhưng Thượng Đế đâu không thấy, chỉ thấy quỷ Sa Tăng Lê Thị Công Nhân xuất hiện, trong vai "thánh nữ", vị "cứu tinh" của dân tộc, mang màu sắc tôn giáo!
Chúng ta đang chiến đấu chống bọn việt gian cộng sản và đã chiến đấu ròng rã ba phần tư thế kỷ, từ năm 1945 đến nay. Chúng ta sẽ thua bọn chúng nếu chúng ta không thắng được trên mặt trận tôn giáo. Mặt trận tôn giáo là địa bàn hết sức quan trọng mà bọn giặc đã và đang triệt để khai thác. Ðó là nơi bọn cán bộ cộng sản đội lốt những nhà "tu hành" để bòn rút xương tủy của chúng ta và đâm chúng ta những nhát dao lút cán vào thấu tim gan, phèo phổi. Nhiều người đã bị chết mà vẫn không hiểu vì sao mình chết, ngược lại, còn cám ơn bọn chúng!
Hiện nay tại hải ngoại, bọn cán bộ cộng sản đội lốt tôn giáo đang hoạt động dày đặc. Có thể nói, khoảng 90 phần trăm những chùa và nhà thờ tại hải ngoại đều là những ổ rắn độc của bọn việt gian cộng sản. Ðó là những căn cứ địa hết sức an toàn của bọn chúng, nơi đó, chúng đã ra sức bòn rút máu tủy của chúng ta qua những chiến dịch "từ thiện", và đồng thời thi hành nghị quyết 36, quyết tâm thôn tính toàn bộ cộng đồng người Việt tại hải ngoại, biến chúng ta thành những kẻ nô lệ như 85 triệu nô lệ ở trong nước!
Vì sao bọn giặc đã và đang thành công trên mặt trận tôn giáo? Trước năm 1975, bọn chúng đã thành công và bây giờ, vẫn bổn cũ soạn lại mà chúng ta vẫn cứ bị sa vào cạm bẫy?
Sở dĩ bọn giặc thành công vì chúng dựa vào các yếu tố sau đây:
1. Dựa vào sự ngu dốt chính trị của quần chúng
2. Dựa vào sự mê tín của quần chúng
3. Dựa vào lòng tham của quần chúng
Ngu dốt về chính trị chính là cứ thấy những thằng nào cạo đầu trọc, mặc áo cà sa là cứ cắm đầu cắm cổ vái lạy mà không hề dám tìm hiểu lai lịch, gốc gác của bọn chúng từ những cái lỗ nẻ nào chui ra? Cho đến bây giờ vẫn còn rất nhiều người chưa hề biết những tên sát nhân hết sức ghê tởm như Thích Ðôn Hậu, Thích Trí Quang là những tên cán bộ cộng sản thứ thiệt! Toàn bộ những "đức tăng thống", đệ nhị, đệ tam, đệ tứ của Phật giáo đều là bọn cộng sản đội lốt!
Đúng ra, có thể nhiều người đã biết điều này nhưng không dám lên tiếng. Sự hèn nhát của họ cộng với sự ngu dốt chính trị của quần chúng đã là mảnh đất mầu mỡ hết sức thuận lợi cho bầy vi trùng ho lao sinh sôi nẩy nở để gặm nát hai lá phổi của toàn dân Việt!
Thế còn sự mê tín? Xin thưa, sự mê tín của quần chúng nằm ở chỗ, đa số đã hiểu rất sai về tôn giáo của mình. Tôn giáo vốn dĩ, từ hàng ngàn năm nay, đã bị vô số những bọn lưu manh lợi dụng, sửa đổi giáo lý, vẽ rắn thêm chân, làm cho nó khác đi rất nhiều so với những điều giảng dạy nguyên thủy của những đấng Cứu Thế hoặc Giáo Chủ. Lấy ví dụ, cốt lõi của đạo Phật là sự TỰ GIẢI THOÁT. Ðức Phật chỉ hướng dẫn phương pháp tự giải thoát, còn tự mỗi tín đồ phải thực hành để tự giải thoát cho bản thân mình. Cũng ví như Ðức Phật chỉ cho những người sắp chết đói, chết khát biết nên đi về hướng nào để gặp con suối, nơi đó có cá và cây cối. Và khi đến được con suối rồi thì chính bản thân những người chết khát phải tự múc nước mà uống, muốn ăn trái cây thì tự họ phải trèo lên cây hái trái. Ðức Phật không thể "ăn giùm" hoặc "uống giùm" cho bất cứ người nào!
Tương tự như vậy, muốn thoát kiếp nô lệ thì chính chúng ta phải đứng dậy lật đổ chế độ cộng sản chớ không thể "biểu tình tại gia", nằm trốn dưới gầm giường trùm mền mà tự nhiên chế độ cộng sản bị sụp đổ! Người Mỹ không thể chống cộng giùm chúng ta, Liên Hiệp Quốc cũng chỉ gãi ghẻ và những hình bóng "đấng cứu thế" Góc Ba Chớp Việt Nam cũng chỉ là hoang đường!
Chế độ của bọn việt gian cộng sản sẽ không bao giờ tự hủy hoại, tự sụp đổ như tên điếm chính trị Đinh Thạch Bích đang ra sức tuyên truyền trên diễn đàn paltalk và tờ điện báo VietNam Exodus. Đinh Thạch Bích là tên lưu manh chính trị, khoác áo "người quốc gia" để lừa bịp đồng bào. Sự nguy hiểm của hắn cũng không thua gì Ali Baba Nguyễn Chí Thiện, "linh mục" Nguyễn Hữu Lễ hoặc "giáo sư" đại học Đặng Văn Nhâm!!!
Thế nhưng, như đã nói trên, vì mê tín và tham lam cho nên đã có rất nhiều người làm vô số điều ác rồi cứ đến chùa bỏ tiền vào thùng "phước sương", hy vọng rằng tội ác của họ sẽ được xóa hết! Ðây chính là hành động mình khát nước mà lại nhờ Ðức Phật uống nước giùm! Giả sử, chúng ta thèm ăn phở thì chính chúng ta phải chịu khó đi đến tiệm phở. Không có người nào điên khùng tới mức, nói là:" Anh ơi, chị ơi, tôi đang thèm phở quá nhưng bận việc không đi được. Anh chị có đi ăn phở thì nhớ ĂN GIÙM TÔI một tô cho tôi được no bụng nhé!"
Ðó là lý do vì sao đã có những kẻ đi ăn cướp nhà băng được một triệu đô la rồi đem mười ngàn đô bỏ vào thùng "phước sương" ở chùa để làm "từ thiện"!
Sự mê tín của quần chúng được thể hiện qua rất nhiều khía cạnh, và chính nhờ đó, bọn cán bộ cộng sản - công an đầu trọc - đã và đang ung dung sống một cách huy hoàng như những ông vua trong những ngôi chùa nguy nga như những cung vàng điện ngọc, có đầy đủ những cung tần mỹ nữ phục vụ!
Sự mê tín đã đẻ ra lòng tham, hay nói theo kiểu cộng sản, hai cái này có mối quan hệ biện chứng! Hầu như ai đi đến chùa là cũng mong CẦU ÐƯỢC MỘT ÐIỀU GÌ ÐÓ. Cầu được danh, cầu được lợi, cầu được trúng số, cầu được tình duyên suông sẻ ..v..v... Và ai sẽ là người "đại diện" cho Ðức Phật để gia hộ độ trì cho các phật tử? Chính là quý "thầy", tức những tên công an đầu trọc chớ còn ai vào đó! Chính vì vậy mà đôi khi các tín đồ sùng bái quý "thầy" tới mức, nếu "thầy" bảo ăn cứt, họ cũng không dám từ chối!
Tất cả những điều Ðức Phật dạy, họ đã quên hết, hay nói cho đúng, họ học giáo lý như những con vẹt, học mà không bao giờ chịu suy gẫm và thực hành. Nếu may mắn, có những người học-hiểu, thì oái oăm thay, những kẻ này không bao giờ dám dùng sự hiểu biết của mình như tấm kính chiếu yêu để nhìn rõ chân tướng của những tên công an đầu trọc, như "đại đức", "thượng tọa", "hòa thượng"! (học-hiểu mà không học-hành là đồ bỏ!)
Cứ như thế, từ năm này sang năm khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, nếu chúng ta không có can đảm ÐỂ TỰ GIẢI THOÁT thì chín mươi triệu dân Việt sẽ mãi mãi làm nô lệ!
Muốn thoát kiếp nô lệ, chúng ta phải mạnh dạn lột mặt nạ của những tên công an đầu trọc và đưa bọn chúng lên giàn hỏa thiêu .....
Câu chuyện sau đây đáng để chúng ta suy gẫm. Xin mời quý vị theo dõi ....
*******
Nàng là thiếu nữ 22 tuổi, sinh ra và lớn lên tại nước Mỹ. Cha mẹ nàng là người Việt nên nàng có tên Việt Nam là "Thắm", còn cái tên Mỹ "Tracy" chỉ dùng khi nàng đi học. Thắm là sinh viên năm thứ tư chuyên ngành về hóa học, sắp sửa ra trường. Nàng là sinh viên xuất sắc, biết đọc viết và nói tiếng Việt rất thông thạo. Tuy sinh trưởng tại Mỹ nhưng cái gốc Việt Nam của nàng đã được vun bồi khá đầy đủ. Ðây là công lao rất lớn của cha mẹ nàng, tuy xuất thân từ giới bình dân, lao động nhưng không bao giờ quên cội nguồn dân tộc. Cha mẹ nàng có ba người con, Thắm là trưởng nữ, rất hiền ngoan, học rất giỏi cho nên hai ông bà cưng quý nàng như một bảo vật. Một lý do nữa, Thắm là một cô gái sắc nước hương trời, hoa ghen thua "Thắm", liễu hờn kém xanh, là niềm tự hào lớn cho cả gia đình nàng và có lẽ cho cả cộng đồng người Việt tại tiểu bang Texas. Nhiều người đã đến xúi dục cha mẹ nàng, cho Thắm đi thi hoa hậu để kiếm "danh và lợi", theo đúng lời dạy của đại lão hòa thượng Thích Quảng Ðộ* nhưng cha mẹ nàng đã gạt phắt đi. Con gái mà đi thi hoa hậu thì sớm muộn gì cũng biến thành một loài đĩ công cộng, bị những bọn lưu manh thương mại lợi dụng, và không khéo cuộc đời sẽ bị kết thúc một cách bi thảm!
Tuy đang sở hữu một viên ngọc quý nhưng cha mẹ Thắm lúc nào cũng lo ngay ngáy trong bụng, nhất là nàng đã đến tuổi cần phải lấy chồng. Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân nhưng "chốn ba quân" nào mới được chứ, xã hội bây giờ rất phức tạp, bọn ma cô, lưu manh, điếm đàng nhiều như ruồi ở khắp mọi nơi, lơ mơ là giao trứng cho ác! Cha mẹ Thắm thường bàn tính với nhau như sau:
Vợ: - Anh à, tụi mình đã thống nhất với nhau, con gái mình phải lấy chồng là người Việt. Em không thích con mình lấy Mỹ đen hay Mỹ trắng hay Mễ Tây Cơ, để rồi nó bị ảnh hưởng lối sống Mỹ, tụi mình sẽ mất con!
Chồng: - Ðúng! Bởi vậy, anh đang nghĩ nên cho con mình đến sinh hoạt trong những tổ chức của cộng đồng người Việt để nó có điều kiện kiếm chồng là người Việt!
Vợ: - Anh à, em thấy hiện nay có mấy tổ chức của người Việt quốc gia như "Ðoàn Thanh Niên Phan Bội Châu", "Tuổi Trẻ Lên Ðường", "Tuổi Trẻ Tiếp Bước Cha Anh", "Ðoàn thanh niên Hưng Việt", "Đoàn Thanh Niên Cờ Vàng" ..v..v.. Ðây là những tổ chức chống cộng, có nội quy sinh hoạt rất đàng hoàng, có cả đồng phục nữa, toàn là những thanh niên trí thức ở hải ngoại tham gia. Có lẽ mình nên cho con nó tham gia, một công đôi chuyện, vừa ích nước lợi nhà, vừa có cơ hội kiếm được tấm chồng đàng hoàng!
Chồng: (giật nảy người như bị điện giật)
- Ấy chết! Em không biết gì sao? Giao trứng cho ác! Ðó là những tổ chức do đảng cướp Việt Tân dựng lên, dưới sự chỉ đạo của bọn việt gian cộng sản! Con gái mình vào đó là tàn mạt cuộc đời! Có thể nói một trăm phần trăm tất cả những tổ chức "giáo dục tuổi trẻ" hiện nay tại hải ngoại đều là do bọn việt gian cộng sản núp trong bóng tối chỉ đạo! Tụi nó muốn biến giới trẻ tại hải ngoại thành những tên nô lệ ngu đần chỉ biết mù quáng tin tưởng vào bác và đảng, giống như những tổ chức như "Ðoàn thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh" và "Ðội thiếu niên tiền phong" ở trong nước!
Vợ: - Hay là mình cho con nó tham gia mấy tổ chức từ thiện, chuyên đi làm việc phước đức?
Chồng: (lắc đầu thở dài ngao ngán)
- Anh đã tìm hiểu rất kỹ rồi. Toàn bộ những tổ chức "từ thiện" tại hải ngoại đều là do bọn cướp Việt Tân và bọn việt gian cộng sản lãnh đạo! Con gái mình mà vào đó là tan nát đời hoa, là tự nguyện đi làm nô lệ cho bọn giặc! Nếu em xem băng Thúy Nga Paris, ở cuối cuộn băng có xuất hiện một thằng chó đẻ khoác áo "linh mục", kêu gọi đồng bào góp tiền để giúp những người "nghèo" ở Việt Nam! Toàn bộ số tiền quyên góp đó sẽ chui vào túi bọn giặc, đó là lý do vì sao hiện nay bọn cộng sản đã trở nên giàu nứt vách, mồi thuốc lá bằng giấy bạc 100 đô, mỗi khi đi ỉa thì tụi nó dùng giấy bạc NĂM TRĂM ÐÔ để chùi đít!!!
Vợ: - Còn mấy đoàn thể dành cho tuổi trẻ do nhật báo Người Việt và đài truyền hình Sinh Bắc Tử Nam tổ chức thì sao anh?
Chồng: (lắc đầu quầy quậy)
- Ðó là hai cái Ổ RẮN ÐỘC của đảng cướp Việt Tân và bọn việt gian cộng sản, em không biết hay sao? Nội em nghe mấy chữ "sinh bắc tử nam" là biết rồi! Tụi nó là rắn độc nhưng đã khéo léo hóa trang thành những con lươn vô hại, hiền lành! Thằng chó đẻ nào cũng khoác áo "người quốc gia chống cộng" nhưng thực chất lại là cộng sản thứ thiệt!
Vợ: (tỏ vẻ thất vọng)
- Như vậy thì còn chỗ nào cho con mình sinh hoạt nữa? Không lẽ mình cứ giam nhốt nó mãi trong nhà để nó bị ế chồng?
Chồng: (nét mặt rất buồn bã, u sầu)
- Anh nói thiệt với em, đôi khi anh cảm thấy hết sức buồn chán và thất vọng. Có thể nói hiện nay thiên la, địa võng của bọn việt gian cộng sản đã giăng ra khắp nơi tại hải ngoại. Giới trẻ tại hải ngoại như những con chim non hầu như không còn lối thoát, đâm đầu vào bất cứ chỗ nào cũng đều là hang ổ rắn độc của bọn giặc! Tổ chức nào cũng trương lá cờ vàng ba sọc với hình năm vị tướng đã tuẫn tiết hồi năm 1975 nhưng thực chất lại là ổ rắn độc của cộng sản! Nói đâu xa, chẳng hạn như đài phát thanh Việt Nam Hải Ngoại. Sáng nào con mẹ giám đốc Lưu Lệ Ngọc cũng kêu gọi đồng bào "nghiêm chỉnh chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa" nhưng đến tối thì nó đi dự tiệc với mấy thằng cán bộ chó đẻ trong tòa đại sứ việt cộng! Nói đâu xa, tờ điện báo VietLand thường xuyên treo cờ Việt Nam Cộng Hòa, thường xuyên in hình năm vị tướng tuẫn tiết năm 1975, rồi cả hình các chiến sĩ hải quân VNCH đã hy sinh trong trận chiến Hoàng Sa năm 1974, nhưng thực chất bọn chó đẻ này chính là những tên chó săn, tay sai của việt gian cộng sản! Bọn chúng thường ngụy biện rằng tờ báo của chúng là diễn đàn "dân chủ, đa chiều" nhưng bọn chúng chỉ đăng một vài bài "chống cộng" (dỏm) làm kiểng để ngụy trang, che mắt, còn 95% những bài viết khác đều là những bài tuyên truyền, có lợi cho bọn giặc! Nói thiệt với em, nếu bọn chúng mà dám đăng bài của những người chống cộng thứ thiệt thì anh sẽ tình nguyện .... ăn cứt chớ không thèm ăn cơm nữa!
Vợ: (cặp mắt chợt bừng sáng)
- Anh à, em nhớ ra rồi. Tại sao mình không cho con mình đến chùa sinh hoạt, làm công quả? Tụi mình là phật tử thuần thành, cho con mình đi theo con đường "tu tại gia" là rất hợp lý. Biết đâu, nhờ đến chùa làm công quả, nhờ ơn Phật tổ, mà con mình kiếm được một tấm chồng xứng đáng!
Chồng: ( nét mặt rạng rỡ )
- À, phải rồi. Em nói đúng. Anh đã quên khuấy đi môi trường tôn giáo chính là nơi rất lành mạnh để giáo dục con người! Cám ơn em đã có ý kiến này rất hay!
Vợ: - Theo em biết, ở chùa hiện nay đang có nhiều đoàn thể dành cho các gia đình phật tử, chẳng hạn như gia đình phật tử Long Hoa, Quảng Ðức, Lý Công Uẩn ..v..v.. Mình cho con Thắm tham gia vào những đoàn thể này là rất phù hợp!
Chồng: (vỗ đùi đánh đét)
- Phải rồi, đúng quá! Vậy mà hồi giờ anh nghĩ không ra! Thôi, ngày mai mình đưa con đến chùa, xin cho nó gia nhập gia đình phật tử!
Thế là sau đó, cha mẹ Thắm đã đưa nàng đến một ngôi chùa lớn nhất tiểu bang Texas để xin cho nàng được gia nhập đoàn thể gia đình phật tử. Hai ông bà rất yên tâm vì đây là môi trường tôn giáo, chắc chắn là không có những bàn tay nhám nhúa, tàn độc của đảng cướp Việt Tân và bọn việt gian cộng sản thò vào. Kể từ đó, cô Thắm được phát một bộ đồng phục màu lam và trở thành đoàn viên của gia đình phật tử. Chủ nhật hàng tuần, cô chăm chỉ đến chùa học giáo lý và làm công quả. Nhờ giỏi tiếng Anh lẫn tiếng Việt, lại là người trí thức nên cô được các anh huynh trưởng và quý thầy cô hết sức quý mến. Tính tình của Thắm lại rất ngoan hiền, chăm chỉ học giáo lý để thấm nhuần Phật pháp nên ai cũng thương mến. Và có lẽ, đặc biệt nhất, là cái nhan sắc "Tây Thi" của nàng đã làm mọi người mê mẩn, càng thương mến nàng hơn. Nhan sắc của nàng vốn được nuôi dưỡng bằng bơ sữa của Mỹ chính cống từ nhỏ đến lớn mà mấy con đĩ hoa hậu Hải Phòng ở trong nước không bao giờ có thể sánh kịp.
Ðược sinh hoạt trong gia đình phật tử, Thắm cảm thấy vô cùng thích thú vì nàng có dịp được mở mang kiến thức và quen nhiều bạn mới. Có điều Thắm hơi e ngại vì có một vài anh "huynh trưởng" mặt mũi trông rất bậm trợn tựa như du đãng bến xe, nói rặt giọng bắc Hải Phòng. Nàng đã loáng thoáng nghe một vài lời xầm xì rằng những "huynh trưởng" này chính là những đảng viên cộng sản, vượt biên qua ngã Hồng Kông, được cài vào chùa để hoạt động! Tuy nhiên, Thắm vốn là người kín đáo, thủ khẩu như bình, giả câm giả điếc để được an toàn tu học!
Một hôm, một tên huynh trưởng việt cộng nói với Thắm:
- Chị Thắm, thầy hòa thượng trụ trì cần mời chị lên để .... làm việc!
Thắm không hiểu hai chữ "làm việc" nên hỏi lại:
- Anh nói sao, em không hiểu?
Huynh trưởng việt cộng giảng ... "pháp":
- Nói chung trong thời gian qua, chúng tôi thấy chị phấn đấu tốt, học tập tốt và nàm công quả tốt nên đã kiến nghị lên thầy trụ trì giao cho chị nàm công tác quản ní thư viện!
Từ khi sinh hoạt ở chùa, Thắm chỉ được trông thấy thầy trụ trì có một vài lần. Nghe nói thầy là đại lão hòa thượng, đã trên tám mươi tuổi, đi tu từ khi ông nội của nàng vừa mới .... chào đời! Tuy đã lớn tuổi nhưng trông thầy rất quắc thước, dáng đi và những động tác vẫn còn cứng cáp, nhanh nhẹn. Thầy chỉ xuất hiện làm chủ lễ trong những buổi lễ lớn, ngoài ra, hàng ngày thầy nhập thất, muốn gặp thầy phải qua ba bốn lớp đệ tử canh gác cửa! Thắm cũng đã nghe loáng thoáng những lời xầm xì rằng thầy là đảng viên cộng sản từ hồi năm 1945 và thầy vừa mới về Việt Nam tham dự đại hội việt kiều!
Sau khi làm "công tác tư tưởng" xong, tên huynh trưởng việt cộng dẫn Thắm lên gặp thầy trụ trì. Lần đầu tiên được đứng đối diện với thầy trụ trì, Thắm không khỏi "run như run thần tử thấy long nhan". Thầy trụ trì tuy đã ngoài tám mươi, da mặt đã bị "xếp li" nhiều nhưng đỏ au và bóng lưỡng, chứng tỏ thầy được hấp thụ chất bổ rất nhiều. Ðặc biệt, thầy có cặp lông mày chổi xể rất rậm rạp, đã trổ màu bạc trắng như cước và cặp lông mi cũng đều trắng bạc, khiến bất cứ người nào mới thoạt nhìn cũng có ý nghĩ thầy giống như ... thần "Bạch Mi"!
Căn phòng riêng của thầy vừa là nơi làm việc và cũng là phòng ngủ. Ðiều đầu tiên đập vào mắt Thắm khiến nàng vô cùng kinh ngạc là ngay trong phòng có treo một tấm hình .... bác Hồ và một lá cờ đỏ sao vàng! Phía dưới lá cờ là ba khung hình lộng kiếng, có ghi mấy giòng chữ thật lớn như: "Huân chương chiến công hạng nhì", "Huân chương Ðộc Lập", "Huân chương đại đoàn kết dân tộc". Linh tính báo cho Thắm biết có một cái gì đó không ổn. Tại sao phía bên ngoài chùa thì treo cờ vàng ba sọc còn bên trong này thì treo cờ việt cộng? Thắm đã từng tham gia và chứng kiến nhiều cuộc biểu tình, nơi đó người ta đốt lá cờ máu và đốt hình Hồ Chí Minh. Nàng hiểu đại khái đó là những cái gì tượng trưng cho những tội ác hết sức ghê tởm, tựa như bọn khủng bố hoặc bọn phát xít hồi đệ nhị thế chiến! Vậy thì tại sao, tại sao lại có điều nghịch lý đến như vầy, Thắm thoáng có một dấu hỏi trong đầu.
Thầy trụ trì đang ngồi bật ngửa trên ghế, phì phèo điếu thuốc lá. Phía sau lưng thầy là một chú tiểu đang ra sức đấm bóp. Vừa trông thấy Thắm vào, thầy khoát tay ra hiệu cho chú tiểu và tên huynh trưởng việt cộng lui ra ngoài. Thầy chỉ tay vào chiếc ghế, nói với Thắm:
- Ngồi đi con!
Thầy có giọng nói rổn rảng, âm vực khá mạnh, đó là lý do vì sao đôi khi thầy thuyết pháp tại chánh điện, trước hàng ngàn phật tử mà không cần dùng máy phóng thanh! Thắm bẽn lẽn ngồi xuống ghế. Nàng vừa e thẹn, rụt rè, vừa cảm thấy hãnh diện vì không ngờ hôm nay nàng được ngồi đối diện với một vị đại lão hòa thượng, được giới tín đồ xưng tụng như "đấng giáo chủ" tại hải ngoại! Tuy nhiên, Thắm cũng hơi lo trong bụng, không biết thầy cần gặp mình có chuyện gì? Thầy trụ trì đích thân rót một tách trà rồi nở một nụ cười hiền từ, thân thiện:
- Con uống trà đi. Dạo này việc học giáo lý của con có tốt không?
Thắm đáp lí nhí:
- Thưa thầy, con học được!
Thầy hỏi tiếp:
- Mấy anh huynh trưởng giảng bằng tiếng Việt, con có hiểu không?
- Thưa thầy, hiểu!
Thầy đưa ra nhận xét:
- Thầy biết các con sinh đẻ bên Mỹ, tiếng Việt không rành cho nên nhiều con gặp khó khăn trong việc học giáo lý. Thầy đang cố gắng đào tạo những anh huynh trưởng có khả năng giảng giáo lý bằng song ngữ Anh-Việt nhưng chưa tìm được. Thật là may mắn, thầy nghe quý phật tử nói con thông thạo cả hai ngôn ngữ Việt-Mỹ. Con cố gắng học để trong tương lai làm công tác giảng dạy giúp cho Giáo Hội nghen. Phước đức nhiều lắm đó!
Ðược thầy khen, Thắm đỏ bừng mặt sung sướng. Ðúng là nàng giỏi tiếng Việt nhưng trong giáo lý có nhiều từ ngữ phức tạp, khó hiểu quá. Nghe nói đó là những từ ngữ bắt nguồn từ tiếng Tàu. Chẳng hạn như Thắm thường nghe anh huynh trưởng giảng thao thao bất tuyệt:
- .... trong các hạnh bố thí, có ba loại bố thí quan trọng nhất, đó là "Pháp thí, tài thí và vô úy thí" ...
Pháp thí và tài thí thì Thắm đã hiểu, còn "vô úy thí" là gì thì nàng mù tịt! Có lần Thắm đã hỏi anh huynh trưởng nhưng anh ta phớt lờ, viện cớ "bận việc", chắc có lẽ anh ta cũng chẳng hiểu! Thế là Thắm tự nhủ:
- Thật may quá, sẵn dịp này được gặp thầy thì mình nhờ thầy giảng cho thế nào là "vô úy thí"!
Nghĩ vậy, nên Thắm rụt rè hỏi:
- Thưa thầy, con không hiểu "vô úy thí" là gì. Xin nhờ thầy giảng cho con!
Thầy hòa thượng cười hiền từ:
- Giáo lý Phật Pháp nó vô cùng lắm. Nó thay đổi theo thời gian, tùy hoàn cảnh mà ta áp dụng! Ðể từ từ rồi thầy cắt nghĩa cho!
Nói xong, thầy nhìn hau háu vào khuôn mặt trắng hồng, đẹp tuyệt vời của Thắm khiến nàng e thẹn cúi đầu nhìn xuống sàn nhà. Tiếp theo, thầy hòa thượng đủng đỉnh tiến lại chiếc giường nệm của thầy và ra lệnh:
- Con lại đây, thầy có chuyện cần hỏi con!
Nghe thầy ra lệnh đến bên "long sàng" của thầy, tự nhiên Thắm sợ hãi phát run. Bản năng tự vệ của nàng bùng dậy, nàng muốn chống lại mệnh lệnh nhưng không có đủ can đảm. Ðể tự trấn an mình, Thắm tự nhủ:
- Mình đang nói chuyện với thầy đại lão hòa thượng mà. Thầy đáng tuổi .... ông cố nội của mình. Không sao đâu!
Nghĩ vậy nên Thắm rụt rè, co ro cóm róm tiến đến, ngồi nơi mép giường, diện đối diện với thầy hòa thượng. Tự nhiên linh tính của nàng báo cho nàng biết có một điều gì đó không được bình thường mặc dù nàng đã hết sức tự trấn an. Nàng khẽ liếc mắt nhìn trộm "long nhan" của thầy thì tự nhiên nàng thấy kinh sợ quá. Tất cả những nét hiền lành, đạo cao đức trọng, từ bi độ lượng của một vị chân tu trên bảy mươi tuổi đạo, đã hoàn toàn biến mất. Nhường chỗ vào đó là cặp mắt hau háu đầy dục vọng như mắt của con chó sói vừa trông thấy con cừu non. Bằng giác quan thứ sáu, Thắm cảm nhận được sự thèm khát nhục dục qua ánh mắt và sắc mặt của "thầy" hòa thượng. Nàng cảm nhận được hơi thở của con chó sói đang gia tăng cường độ, ánh mắt của nó như những mũi dao bén nhọn đang săm soi vào lồng ngực của nàng. Bản năng tự vệ bùng dậy, hốt nhiên Thắm lấy hai tay che lồng ngực của mình. Tất nhiên, tất cả những sự hốt hoảng của Thắm đều không qua được cặp mắt lão luyện của con chó sói. Gã hòa thượng ôn tồn, nói bằng giọng nhỏ nhẹ như để trấn an Thắm:
- À, thầy định hỏi con một chuyện. Như con biết, sự học phải luôn luôn đi đôi với hành. Con đã học về đức bố thí, vậy từ trước tới nay,có bao giờ con đã bố thí cho bá tánh điều gì chưa?
Thắm lí nhí đáp:
- Thưa thầy, "Pháp thí" thì con không có khả năng để giảng "Pháp". Còn "tài thí" thì con cũng chưa làm được vì còn đang đi học nên không có... tiền!
Gã hòa thượng bật cười trước sự ngây thơ, thật thà của Thắm:
- Như vậy là con không có cái gì để bố thí cho bá tánh, như vậy thì làm sao tu đạt được chánh quả?
Thắm cảm thấy rất bối rối và mặc cảm trước sự nhận xét này của "thầy" hòa thượng. Ðúng vậy, nàng chẳng có cái gì để bố thí cho bá tánh, con đường tu học của nàng chắc chắn sẽ còn nhiều gian nan lắm! Người Mỹ cũng thường nói "give and take". Có cho thì mới có nhận. Mình phải làm phước cho bá tánh thì những điều phước đức nó mới tự nhiên tìm tới mình. Ðây là điều hiển nhiên gần như những định luật trong khoa học vật lý! Từ chỗ bối rối, mặc cảm, Thắm cúi gầm đầu, hai tay cuống quýt vân vê tà áo. Gã hòa thượng tiếp tục nhìn Thắm bằng cặp mắt của con chó sói đói mồi:
- Con không có gì để bố thí cho bá tánh, cũng không có gì để cúng dường cho Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), thì thôi, để thầy gợi ý với con điều này, giúp con giải quyết được "vấn nạn" ....
Nghe thầy gợi ý giúp đỡ, Thắm hơi mừng, khẽ ngước nhìn lên nhưng bắt gặp cặp mắt đỏ ngầu đầy thèm khát của con chó sói, nàng run bắn người, gục đầu xuống như con đà điểu vùi đầu trong cát nóng, chạy trốn sự thật. Tiếp theo đó, bằng giọng hơi run run, khàn khàn, thầy hòa thượng nói nhỏ với Thắm:
- Con không có "tài thí", không cúng dường được phải không .... Hay là, ... con cúng dường cái .... lồn của con cho thầy được không???!!!
Lời đề nghị táo bạo của gã hòa thượng như tiếng sét nổ ngang tai của Thắm. Nàng tá hỏa tam tinh, thấy bảy ông trời. Tuy nhiên, nàng hy vọng chắc là mình vì quá bối rối mà nghe lộn chăng? Vẻ mặt của Thắm vụt trở nên tái mét vì sợ hãi. Nàng cất giọng run run hỏi:
- Thưa thầy, thầy vừa nói cái gì?
Gã hòa thượng tự động tiến tới ngồi sát bên Thắm, đưa tay vuốt má nàng và nói thì thầm vào tai của nàng:
- Thầy đề nghị con nên cúng dường cái .... lồn của con cho thầy! Phước đức lắm đó con. Thầy đại diện cho Phật Tổ Như Lai sẽ gia hộ độ trì cho con được trúng số độc đắc, trở thành triệu phú! Pháp thí, tài thí và .... lồn thí là ba điều bố thí quan trọng nhất trong thời đại ngày nay. "Vô úy thí" là xưa rồi. Thời đại ngày nay phải là "lồn thí" thì mới tạo được nhiều phước báu, có thể trở thành tỷ phú đô la như mấy đồng chí trong trung ương đảng! Mấy cô hoa hậu ở trong nước đều là "lồn thí", nhờ vậy mà họ đều được giàu sang, phú quý!
Ðến nước này thì Thắm bỗng bật lên khóc òa, khóc một cách hết sức đau đớn, tức tưởi. Nàng khóc không phải vì nhân phẩm, nhân cách của nàng bị xúc phạm mà khóc vì .... thần tượng sụp đổ! Nàng không thể ngờ được một vị đại lão hòa thượng mà lại thốt lên những điều ngoài sự tưởng tượng của nàng! Có ngủ mơ chắc cũng không bao giờ nàng mơ thấy một cơn ác mộng đang xảy ra trong thực tế như vậy! Trời ơi là trời! Tại sao, tại sao và tại sao??? Rõ ràng từ bao lâu nay, nàng đã chứng kiến vị đại lão hòa thượng này là một vị cao tăng được rất nhiều người kính nể như một ông Phật sống. Một lời vàng ngọc của thầy ban ra, thiên hạ bá tánh răm rắp tuân theo và gần như là những sự vâng lời vô điều kiện. Có nhiều tín đồ sùng bái thầy tới mức, giá như, thầy bảo họ ăn cứt chắc họ cũng không dám từ chối! Như thế, đủ thấy uy lực của thầy lớn tới cỡ nào. Chắc chắn thầy phải là một bậc chân tu, đạo rất cao, đức rất trọng, cỡ như thượng tọa Thích Quảng Ðức đã dám xả thân tự thiêu vì đạo pháp. Vậy mà .... trời ơi, tại sao? Thật không hiểu nổi!
Thấy Thắm bật khóc, gã hòa thượng bèn đưa tay xoa nhẹ lên má của nàng, rồi bỗng nhiên, tựa như một con hổ đói, cầm lòng không đậu, gã đè ngửa con mồi ra, hôn chùn chụt, hôn lia lịa vào khuôn mặt đẹp của nàng. Sự sợ hãi, sự thất vọng, sự đau đớn về tinh thần đã làm cho sức kháng cự của Thắm hoàn toàn bị tê liệt. Nàng nằm xuôi cò trên giường tựa như Thúy Kiều, cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu, mặc tình cho con chó sói tha hồ tung hoành ngang dọc! Phước báu đâu không thấy, chỉ thấy chữ trinh đáng giá ngàn vàng của nàng sắp sửa bị tước đoạt!
Gã hòa thượng đã mở được cửa thiên đàng mà không hề gặp một sự kháng cự nào thì tội tình gì mà gã không thừa thắng xông lên, "tới luôn bác tài"! Gã nhanh chóng lột tuốt luốt toàn bộ quần áo của Thắm, biến nàng thành một con nhộng nằm tô hô ở trên giường, rõ ràng trong ngọc trắng ngà, dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên! Tiếp theo, gã vùi đầu vào cặp vú của nàng và bú chùn chụt, bú lia bú lịa như một đứa trẻ bị khát sữa lâu ngày. Sau đó, như một dân chơi thứ thiệt ở động đĩ ngã ba Chú Ía, gã hòa thượng vùi đầu vào háng của Thắm, bú, mút và liếm một cách hết sức say sưa như một con chó sói đang khát máu. Thương thay một đóa trà mi, dâm tăng đã tỏ đường đi lối về!!!
Bây giờ thì gã hòa thượng đảng viên cộng sản đã hiện nguyên hình là một con quỷ dâm dục. Gã đã trần truồng một trăm phần trăm và đang nằm đè lên cô Thắm cũng đang trần truồng như nhộng. Gã ôm hôn Thắm lia lịa và thì thầm vào tai nàng qua hơi thở dồn dập:
- Tao thèm ... lồn quá!
Thắm gần như bị thôi miên hoặc tê liệt về thần kinh. Ðầu óc của nàng mơ mơ màng màng, thân thể của nàng hầu như bị mất hết cảm giác. Hay là vì nàng đã uống phải tách trà do gã hòa thượng pha, trong đó có bỏ thuốc mê? Trong cơn mê sảng, nàng chỉ loáng thoáng nghe những lời nói hằn học của gã hòa thượng:
- Hừ, trên bảo dưới không nghe! Trên bảo dưới không nghe!
********
Ngày hôm sau, Thắm vừa khóc vừa kể lại hết tất cả mọi sự cho cha mẹ nàng. Cha mẹ Thắm đã rụng rời chân tay, muốn ngất xỉu khi nghe câu chuyện kinh thiên động địa này. Hai ông bà rất tin Thắm vì nàng vốn là cô gái hết sức ngây thơ, thành thật, không bao giờ biết nói dối. Mẹ của Thắm, mặt tái nhợt như bị trúng gió, hỏi Thắm bằng giọng run run:
- Thiệt vậy sao con? Thiệt vậy sao con? Trời ơi, chắc tôi chết!
Sự lo sợ của hai ông bà tập trung vào hai điều. Thứ nhất, là câu nói của vị đại lão hòa thượng "Trên bảo dưới không nghe". Thắm đã thuật lại nguyên văn câu nói này cho cha mẹ nàng để cả hai tùy nghi nhận xét! Thứ hai, hai ông bà sợ Thắm đã bị mất trinh! Không khéo nàng mang bầu thì nguy lắm. Luật pháp nước Mỹ cấm phá thai, ai mà vi phạm, lơ mơ là đi tù! Trời ơi, chắc là phải đưa con Thắm về Việt Nam để nó phá thai!!! Thật là đại họa!
Cha mẹ của Thắm là phật tử thuần thành, rất tin vào đạo Phật, rất sùng bái mấy ông thầy chùa. Có lẽ đây là truyền thống của gia đình vì ông nội của Thắm, hồi năm 1965, đã sùng bái thầy Trí Quang tới mức, nghe theo lời thầy "dạy", đem luôn bàn thờ Phật ra ngoài đường để "đấu tranh cho đạo pháp"!
Mẹ của Thắm lo lắng hỏi chồng:
- Anh à, con Thắm làm cho thầy không vừa ý, thầy quở nó. Ðiều này làm cho gia đạo của mình bị tổn phước .... Em lo quá!
Cha của Thắm hỏi lại:
- Sao em biết là thầy quở nó?
- Thì nó kể là thầy cằn nhằn "trên bảo dưới không nghe"! Anh quên rồi sao?
Cha của Thắm đưa hai tay ôm đầu, nét mặt đăm chiêu, suy nghĩ rất dữ dội. Mỗi khi có chuyện gì quan trọng, ông thường làm như vậy. Khoảng chừng năm phút sau thì bỗng ông thở phào như trút được một gánh nặng ngàn cân. Ông mừng rỡ nói:
- Em à, con Thắm nhà mình vẫn còn .... trinh! Không phải thầy hòa thượng quở nó đâu! Anh đã tìm ra đáp số rồi!
Mẹ của Thắm hỏi dồn:
- Sao ông biết, sao ông biết?
Cha của Thắm nở một nụ cười tự hào và nói nhỏ với vợ:
- Tại em ít có theo dõi tình hình chính trị nên không biết. Cái câu nói "trên bảo dưới không nghe", nguyên thủy là câu nói của thằng chó đẻ Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước của việt cộng. Sau đó, báo chí ở hải ngoại người ta nhạo báng, biến nó thành ra câu "tục ngữ", ám chỉ mấy người bị liệt dương! Thầy đại lão hòa thượng của tụi mình là cộng sản chính cống đó. Thầy là thiếu tướng công an, trước đây đã từng là ủy viên trung ương đảng, hồi thằng Võ Văn Kiệt còn làm thủ tướng. Chính thằng Kiệt đã đưa thầy ra hải ngoại hoạt động để "gom bi" toàn bộ việt kiều! Anh biết điều này đã lâu nhưng anh không dám hé răng. Lơ mơ là tụi điệp viên của cộng sản nó tìm tới tận nhà, nó ám sát mình!
Mẹ của Thắm lại théc méc:
- Thầy là cộng sản thì có dính dáng gì đến việc con mình không bị mất trinh?
Cha của Thắm tiếp tục giải thích:
- Thầy đã cởi truồng nằm đè lên người con Thắm mà thầy thốt lên câu nói "trên bảo dưới không nghe", tức là ý thầy bất mãn, lực bất tòng tâm! Thầy muốn, nhưng "chú tiểu" không muốn! Thầy đã ngoài tám mươi tuổi thì "trên bảo dưới không nghe" là chuyện bình thường. Nhờ vậy mà con Thắm nhà mình vẫn .... còn trinh! Tôi dám cá một trăm phần trăm là nó vẫn còn trinh. Nó mắc cở không dám nói hết, chớ nếu bà hỏi nó chi tiết thì mọi chuyện sẽ minh bạch!
Nghe chồng giải đáp xong mọi chuyện, mẹ của Thắm thở phào mừng rỡ:
- Cám ơn Trời Phật. Nhà mình thiệt còn có phước lớn! Tôi chỉ sợ nó bị tai tiếng vì vụ này thì có nước ế chồng!
Ông chồng tỏ ra là người hiểu biết "nghệ thuật" sống ở đời:
- Nhưng dầu gì vợ chồng mình cũng là đệ tử của thầy. Dầu thầy của tụi mình có sai trái gì đi chăng nữa thì bổn phận là phật tử, tụi mình vẫn phải thờ kính thầy như thờ Phật, huống chi trong trường hợp này, thầy đã "nhân đạo" không làm cho con mình bị mất trinh! Bởi vậy tôi bàn với bà là ngày mai, hai vợ chồng mình phải mua trái cây, bông hoa và tiền mặt đem tới chùa làm lễ cúng tạ ơn thầy đại lão hòa thượng. Xin tạ ơn thầy đã "nhân đạo" buông tha cho con Thắm nhà mình!
PHẦN KẾT LUẬN:
Câu chuyện cô Thắm bị hãm hiếp là một trong hàng ngàn tấn bi kịch đã và đang xảy ra, trong đó, nạn nhân là những phật tử ngu dốt, mê tín và tràn đầy lòng tham. Chính vì tham lam, lười biếng, không muốn tự giải thoát cho chính mình nên họ đã nhờ các "thầy" đại diện cho Phật Tổ giải thoát giùm! Những tên công an đầu trọc thừa cơ nước đục thả câu, vừa bốc hốt đô la, vừa "gia hộ độ trì" cho nhiều cô gái bị mang bầu!
Cha của cô Thắm thừa biết tên đại lão hòa thượng là cán bộ cộng sản. Hắn đã công khai đi dự cái gọi là "đại hội việt kiều" ở Việt Nam. Nhưng cha của cô Thắm, cũng như vô số những phật tử khác đã ngậm câm miệng hến, tiếp tục cam tâm làm những tên nô lệ hèn nhát đến ngu xuẩn và tội nghiệp!
Con gái của mình bị hãm hiếp, không dám đi tố cáo với chính quyền, đã vậy hai vợ chồng còn tiếp tục rủ nhau đến chùa dâng lễ tạ ơn "thầy" đã giàu lòng "nhân đạo" không làm cho cô Thắm bị mất trinh!
Có lẽ sau khi đọc xong câu chuyện này, nhiều người sẽ kêu lên: - Ồ, đây là sản phẩm tưởng tượng của tiểu thuyết! Thực tế làm gì có ở ngoài đời?
Không đâu, xin thưa với quý vị, không phải là tưởng tượng. Bằng cớ là bọn việt gian cộng sản đang tiếp tục đổ tiền ra hải ngoại xây thật nhiều ngôi chùa thật "hoành tráng". Chắc chắn là bọn chúng thấy vấn đề kinh doanh tôn giáo, nhất bản vạn lợi nên mới làm như vậy! Ở trong nước, bọn chúng đã dám bỏ ra hàng chục triệu đô la để xây ngôi chùa lớn nhất Đông Nam Á, rồi còn thuê nguyên một chuyến bay rước "xá lợi Phật" từ bên Ấn Độ về!
Chế độ của bọn việt gian cộng sản sẽ không bao giờ tự hủy hoại, tự sụp đổ như tên điếm chính trị Đinh Thạch Bích - biệt hiệu "con tắc kè"- vẫn cứ ra rả tuyên truyền trên diễn đàn paltalk, được tờ điện báo VietNam Exodus tiếp tay phổ biến! Ngày nào bọn công an đầu trọc còn tung hoành ngang dọc, ngày đó chúng ta còn làm nô lệ.
Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa, trong lần ghé thăm Việt Nam thuyết pháp, đã dạy chúng ta rằng:
- Muốn tự giải thoát, chúng ta phải chịu khó suy nghĩ, tìm hiểu đâu là nguyên nhân gây ra sự đau khổ và phải hành động để chấm dứt nó. Ngài Drukpa đã dạy rõ rằng, nếu biết ý thức và tích cực hành động thì chúng ta vẫn có thể thay đổi, biến cái xấu thành cái tốt, làm cho số phận của chúng ta trở nên khá hơn. Lỗi của chúng ta chính là KHÔNG CHỊU TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN NÀO ĐÃ GÂY RA ĐAU KHỔ VÀ ĐÃ THỤ ĐỘNG CHẤP NHẬN SỰ ĐAU KHỔ, COI ĐÓ NHƯ MỘT SỰ MẶC NHIÊN, một loại ĐỊNH MỆNH ĐÃ được AN BÀI!!!
Trở lại trường hợp của cô Thắm, chúng ta thấy nguyên nhân gây ra sự đau khổ chính là tên dâm tăng đại lão hòa thượng. Trong trường hợp này, muốn chấm dứt sự đau khổ cho bản thân mình và cho nhiều người khác thì bản thân cô Thắm và cha mẹ cô phải làm đơn thưa tên dâm tăng ra tòa để hắn vô nhà đá mà gỡ lịch.
Ý THỨC và HÀNH ĐỘNG phải đi đôi với nhau. Cha mẹ cô Thắm ý thức được tên dâm tăng là nguyên nhân của sự đau khổ nhưng họ không đã dám hành động. Sự hèn nhát đó đã đưa đến hậu quả là bản thân họ và con gái của họ phải tiếp tục làm nô lệ!
Xin đưa thêm một ví dụ khác: - Trong chúng ta, ắt hẳn nhiều người đã từng có sự nghi ngờ về cặp bài trùng dân chủ cuội Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Lý. Tuy nhiên, họ đã không dám đi ngược lại những cái loa truyền thông bất lương của bọn giặc. Thay vì dám lên tiếng thì họ đã chọn thái độ buông xuôi, câm lặng, để mặc cho bọn giặc tung hoành, coi như định mệnh đã an bài! Họ thường tự nhủ rằng: - một tiếng nói lẻ loi của mình thì liệu có ai tin, không khéo lại bị chụp mũ là "đánh phá tôn giáo, đánh phá "anh hùng dân tộc" thì bỏ mẹ!
Tương tự như vậy, nhiều người trong chúng ta đã ý thức được tập đoàn việt gian cộng sản là nguyên nhân gây ra nỗi khổ đau cho toàn dân tộc. Nhưng họ không dám hành động, thậm chí không dám lên tiếng nói đấu tranh, thay vào đó, họ đã chọn thái độ thụ động, buông xuôi, coi như định mệnh đã an bài!
Do đó, qua tấn thảm kịch của cô Thắm, chúng ta có thể kết luận rằng: SỰ HÈN NHÁT, SỰ NGU DỐT, SỰ MÊ TÍN VÀ LÒNG THAM đã làm cho nhiều người TÌNH NGUYỆN ĐI LÀM NÔ LỆ CHO BỌN VIỆT GIAN CỘNG SẢN!!!
Trần Thanh
Ngày 11 tháng 4 năm 2010
=========================
Chú thích:
* Thầy Quảng Ðộ đã "dạy" rằng: - phàm khi làm bất cứ việc gì, chúng ta phải nhắm vào hai chữ "DANH và LỢI"!!!
04/24/10. 07:00:11 am. 31558 words, 683 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Không ðề, Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Lịch sử thế giới, Chiến tranh và hòa bình, Hậu trường, Những chuyện ỡm ờ, Liên kết blogs, Lịch sử và ðịa dư Việt Nam, Ôn cố nhi tri tân, Tại sao?, Tôn giáo và tín ngưỡng, Xã hội và nhân văn ,
GÓP NHẶT CHUYỆN ỠM Ờ: THÂN PHẬN ĐỜN ÔNG - CHUYỆN KỲ LẠ VỀ ÔNG MÙ... 11 VỢ
Anh đeo bọc chưa? Em uống tamiflu chưa?
THÂN PHẬN ĐỜN ÔNG
Source: congdongnguoiviet.fr
Gã Siêu
Việt Nam vừa mới trải qua cơn đại dịch cúm gà. Không phải chỉ có gà mà thôi đâu nhé, nhưng còn có cả những loại gia cầm khác, như vịt, ngan, ngỗng…Hơn thế nữa, không phải chỉ có gia cầm mà thôi đâu nhé, nhưng còn có cả những loại chim chóc sống trên rừng cũng như sống trong lồng. Ở đâu dịch bệnh xuất hiện, thì ở đó lập tức mọi gà vịt…đều bị thu gom đem chôn hay đem đốt trong đường bán kính ba cây số.
Thiệt hại do dịch bệnh này gây nên lên tới hàng mấy chục triệu đô la, ấy là chưa kể tới gần hai chục mạng người phiêu diêu miền cực lạc vì bị lây nhiễm.
Ngoài ra, dịch bệnh này còn tạo nên những tình huống giở khóc giở cười, giở mếu máo, gã xin ghi lại để nhỡ lần sau gặp phải thì còn biết đường che chắn, chứ đừng kín trước, hở sau.
Thứ nhất, thật tội nghiệp cho những gia đình nghèo. Vợ chồng và con cái làm lụng quần quật, chắt chiu bao nhiêu năm tháng mới gầy được một đàn vịt đẻ. Vào một buổi sáng đẹp trời, đàn vịt đẻ đang tung tăng bơi lội dưới ao, thì bỗng cán bộ thú y đến và phán:
- Vùng này mắc... dịch.
Và thế là a-lê-hấp, tóm cổ toàn bộ đàn vịt đẻ, cho vào bao tải mà đem đi chôn. Mặc cho đàn vịt đẻ giãy giụa kêu la:
- Cạc, cạc, cạc...
Vợ chồng và con cái chỉ còn biết đứng há hốc miệng mà trông theo đến độ ứa cả nước mắt. Không biết ngày mai sẽ ra sao, nếu không còn những đồng tiền bán trứng.
Thứ hai, thật tội nghiệp cho những người nuôi chim kiểng. Khi lệnh đã được ban ra, thì tất cả những loài chim quí hiếm này cũng đều phải chịu chung một số phận như gà với vịt mà thôi.
Báo “Tuổi Trẻ Chủ Nhật” số 1065 ra ngày 08.02.2004 có đăng một mẩu chuyện ngắn mang tựa đề “Tiếng gọi của con chim sáo” của tác giả Bích Ngân, đại khái như thế này:
Sau nhiều năm tháng vừa học vừa làm, hai vợ chồng trẻ dốc toàn bộ vốn liếng mới thành lập được một trại gà nho nhỏ. Khi trại gà vừa mới ra lò thì anh chồng đột ngột qua đời. Trại gà liên tục phát triển vừa đúng một năm thì xảy ra dịch cúm. Thế là toàn bộ số gà nuôi trong trại đều bị cán bộ đến bắt và mang đi chôn, chỉ còn lại một con chim sáo.
Hôm nay, chị vợ tổ chức lễ giỗ đầy năm cho anh chồng và cũng để nhớ tới đàn gà thân thương của mình đã bị…ngỏm củ tỏi. Đang lúc thắp nén nhang tưởng niệm, thì chị vợ bỗng giật mình vì nghe thấy tiếng nói quen thuộc:
- Hằng ơi, anh yêu em lắm.
Đó là tiếng nói của con chim sáo. Tiếng nói ấy khiến chị vợ cảm thấy như hồn anh chồng đã nhập vào nó. Thế nhưng cùng lúc đó, anh cán bộ thú y xuất hiện và bảo cho chị hay:
- Cả chim sáo cũng phải hủy diệt.
Suốt đêm, chị vợ trằn trọc không tài nào ngủ nổi. Cuối cùng, chị vợ quyết định mở lồng trả tự do cho con chim sáo. Và khi anh cán bộ đến, chị nói:
- Đêm hôm qua, con chim sáo nhà tôi đã bị mèo vồ mất rồi.
Chị vừa dứt lời, thì một giọng nói vang lên:
- Hằng ơi, anh yêu em lắm.
Thì ra đó vẫn là giọng nói của con chim sáo. Mặc dù được tự do, nhưng con chim sáo không nỡ rời xa chủ, nó bay vào kẹt tủ. Và bây giờ nó lên tiếng nói. Tiếng nói của nó là như một lời tố giác:
- Lạy ông tôi ở bụi này.
Và anh cán bộ thú y chỉ cần thò tay ra, chụp lấy và nhét vào bao. Còn chị vợ đứng nhìn. Những giọt nước mắt nóng hổi rơi trên gò má lúc nào cũng chẳng hay.
Và để an ủi cho những khổ chủ, cũng như bù lỗ phần nào những thiệt hại, nhà nước đã qui định như sau:
- Gia cầm đẻ, mười lăm ngàn đồng một con.
- Gia cầm thịt, năm ngàn đồng một con.
- Trứng, hai trăm đồng một quả.
- Thức ăn gia cầm, ba ngàn đồng một ký.
*********************************************
Có một anh chàng cắm dùi tại Vĩnh Long, chuyên nghề gây gà nòi để mang đi đá. Sau nhiều năm lăn lộn trong nghề, anh ta đã huấn luyện được một chú gà nòi, bách chiến bách thắng. Đá đâu thắng đó. Đá nhớn thắng nhớn, đá nhỏ thắng nhỏ, càng đá càng thắng. Có thể nói được rằng chú gà nòi của anh ta thuộc hàng bất khả chiến bại, nổi tiếng khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Một ông phú hộ ở tận Lâm Đồng, cũng là dân mê đá gà, đã chấp nhận mua chú gà nòi của anh ta với gía hai mươi triệu đồng. Mặc dù tiếc đứt ruột, nhưng anh ta vẫn chấp nhận mang chú gà nòi đi bán, vì gia đình đang gặp phải nhiều khó khăn về tiền bạc.
Sáng hôm ấy, anh ta hí hửng ôm chú gà nòi đem trao cho chủ mới. Thế nhưng, khi xe vừa mới qua khỏi Long An, thì liền bị công an ách lại, tịch thu chú gà nòi vì đã có lệnh cấm di chuyển và mua bán gia cầm. Thế là anh ta phải trở về nhà với hai bàn tay trắng, rồi sau đó phát khùng, phát điên.
*******************************************
Nhìn vào bảng giá bù lỗ, gã bỗng cảm thấy tủi phận bởi vì gia cầm đẻ giá những mười lăm ngàn, còn gia cầm thịt giá có năm ngàn. Như vậy có nghĩa là một chị gà mái giá mười lăm ngàn, còn một anh gà trống chỉ có năm ngàn mà thôi. Mái gấp ba lần trống. Từ đó, nhân rộng ra trong xã hội hôm nay, quả thực đờn bà quí giá hơn đờn ông, không phải chỉ gấp ba, mà còn gấp bốn, gấy bảy và gấp…bội lần.
Viết tới đây, gã bèn nhớ tới một câu “ranh ngôn” xác định bậc thang giá trị ở phương tây, vốn thường được quí ông thở dài não nuột mà nhắc tới như để ý thức về thân phận bèo bọt và răn đe cho chính mình:
- Thứ nhất là trẻ nít,
- Thứ hai là đờn bà,
- Thứ ba là chó con,
- Rồi thứ bốn mới tới đờn ông.
Như vậy, phe đờn ông con giai từ xưa vốn đã vỗ ngực tự hào mình là “bậc tu mi nam tử”, thì bây giờ hãy cúi đầu xuống như muông chim, bởi vì mình chỉ nằm vào hàng bét giem, hàng chót hết của bậc thang giá trị mà thôi, thua cả chó con. Đúng như các cụ ta đã cay cú:
- Ba đồng một mớ đờn ông,
Đem về mà bỏ vào lồng cho kiến nó tha.
Ba trăm một mụ đờn bà,
Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi.
Thân phận cánh đờn ông con giai vốn dĩ đã đen như mõm chó. Thế nhưng, để sống cho đúng cái thân phận bẽ bàng của mình lại càng khó hơn, nhất là đối với những anh chàng đã trót dại kéo theo một cái “rờ mọc” là bà xã dấu yêu, sở dĩ như vậy bởi vì đờn bà con gái mãi mãi vẫn là một mầu nhiệm, mãi mãi vẫn là một nghịch lý, mãi mãi vẫn là một sự ngược đời và tréo cẳng ngỗng. Gã xin đưa ra những trường hợp cụ thể, trong đó những anh chồng ở vào cái thế việt vị, bất nhóc nhách, tiến thoái lưỡng nan.
Trường hợp thứ nhất, đó là có những anh đờn ông luôn chăm chú việc nhà, làm tất tật mọi sự mà chẳng hề quản ngại, hay nề hà chi cả, từ sửa chiếc ghế gãy đến thổi cơm và may vá, đúng như tục ngữ đã nói:
- Làm trai rửa bát quét nhà,
Vợ gọi thì dạ: bẩm bà…em đây.
Thế nhưng, xem ra các chị đờn bà lại không ưa týp đờn ông mềm nhũn này là mấy, bởi vì phần lớn các chị thường mơ ước người yêu lý tưởng của mình phải là người có quyền có thế, phải là người xốc vác, dám đương đầu với mọi cơn gian nan thử thách, cũng như dám gánh vác những công việc lớn lao ngoài xã hội, trở thành một điểm tựa vững chắc cho mình nương nhờ. Người yêu lý tưởng ấy đã được tục ngữ mô tả:
- Làm trai cho đáng nên trai,
Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài yên.
- Làm trai quyết chí tang bồng,
Sao cho tỏ mặt anh hùng mới cam.
Tuy nhiên, quyền thế không phải là một quà tặng từ trời rơi xuống, không phải là một thứ tình cho không biếu không, nhưng là kết quả của biết bao nhiêu phấn đấu, của biết bao nhiêu bon chen, thậm chí của cả biết bao nhiêu luồn lách mới leo lên được ghế nọ ghế kia.
Trong khi phấn đấu, bon chen, luồn lách như vậy, anh đờn ông thường tất bật ngược xuôi, bận rộn với hàng đống công việc, thành thử chẳng còn thời giờ dành cho vợ cho con. Điều này thì chẳng chị đờn bà nào ưa cả, bởi vì anh chồng phải là của riêng mình, trọn vẹn “chăm phần chăm”, không được chia sớt một ly ông cụ nào cả.
Cũng trong chiều hướng đó, các cụ ta ngày xưa thường bảo:
- Nhàn cư vi bất thiện. Sự nhàn rỗi vốn là nguyên nhân sinh ra những thói hư tật xấu.
Vì nhàn rỗi, nên mấy anh đờn ông mới tụ họp đàn đúm rồi tổ chức ăn nhậu với nhau. Nhậu đến độ ngoắc cả cần câu, nhậu đến độ quên cả đường về. Nhậu đến độ sáng xỉn, chiều say và cả tối lăn cũng quay.
Vì nhàn rỗi, nên mấy anh đờn ông mới tụ họp, gây sòng đỏ đen với nhau. Ngày xưa thì tổ tôm, xóc đĩa. Ngày nay thì xì phé, sập xám, cá độ bóng đá…nhiều khi mất toi cả cơ đồ, sản nghiệp:
- Cờ bạc là bác thằng bần,
Áo quần bán hết, ngồi trần tô hô.
- Cờ bạc là bác thằng bần,
Ruộng nương bán hết, chôn chân vào cùm.
Dưới mắt các chị đờn bà thì những anh đờn ông nào quá rảnh rỗi, hay nói đúng hơn, những anh đờn ông nào quá lười biếng, chẳng dám động tay vào bất cứ công việc gì, chỉ thích làm dám đốc, dám xúi mà lại chẳng dám làm, những anh đờn ông nào trói gà không chặt, dài lưng tốn vải ăn no lại nằm….tất cả chỉ là hạng vô tích sự mà thôi.
Các chị thích ngắm nhìn những anh đờn ông bận rộn và say mê với công việc. Tuy nhiên, nếu bận rộn và say mê đến độ quên cả vợ lẫn con, thì các chị lại chẳng thích tí nào. Ngoài ra, còn trở nên một mối nguy hiểm đe dọa sự ổn định và tồn tại của gia đình.
Kinh nghiệm cho thấy: Thượng đế đã dựng nên người đờn bà để yêu và để được yêu. Nơi họ, trái tim nắm giữ địa vị ưu tiên, cũng như chiếm lấy vai trò số một. Họ không thể nào chấp nhận bị quên lãng.
Không ít chị vợ đã hậm hực tức tối khi thấy anh chồng mê bóng đá hơn mê chính mình. Một chị vợ đã tâm sự như sau:
- Vào những ngày nghỉ cuối tuần, mình chỉ mong anh ấy ở nhà để chia xẻ tâm sự và sống riêng với nhau, thế mà anh ấy vẫn cứ đi biệt, mất tăm mất tích. Không lao vào công việc thì cũng ngồi xòe hay ăn nhậu với các chiến hữu, tới tận sáng thứ hai mới vác xác về thì làm sao mà chịu nổi. Mình chỉ mong tìm lấy một bờ vai để tựa đầu mà cũng chẳng có.
Rất nhiều cuốn phim đã mổ xẻ về đề tài này và thường dẫn tới một kết quả không mấy sáng sủa, đó là đổ vỡ tan tành.
Chẳng hạn anh chồng là một bác sĩ, ban ngày thì miệt mài làm việc trong phòng thí nghiệm, ban tối về tới nhà lại chăm chú đọc sách, hết ngâm kíu này tới ngâm kíu khác. Mặc cho chị vợ đi vào giấc ngủ cô đơn. Và thế là chị vợ bèn tìm cách trả thù bằng cách tìm một anh bồ nhí, để giải khuây và lấp đầy những khoảng trống cho bõ ghét.
Chẳng hạn anh chồng là một cảnh sát tận tụy với nghề nghiệp của mình. Ngày nghỉ có lệnh, cũng đi. Giữa đêm có điện thoại, cũng lập tức lên đường xuất phát. Mặc cho chị vợ luôn sống trong cảnh phập phồng lo sợ. Và cuối cùng chị vợ đành phải ca bản anh đi đường anh, tôi đi đường tôi, tình nghĩa đôi ta chỉ có thế thôi.
Trường hợp thứ hai, đó là có những anh đờn ông vui vẻ chấp nhận chung sống cùng cái nghèo theo kiểu:
- Người quân tử ăn chẳng cầu no, mặc chẳng cầu ấm.
Hình như không bao giờ có được một đồng xu dính túi:
- Việc nhà phó mặc cho bu nó,
Quắc mắt khinh đời cái bộ anh.
Dưới mắt các chị đờn bà, những anh đờn ông loại này cũng chỉ là hạng vô tích sự, thậm chí còn được phong làm chuyên viên “bám váy vợ”. Các chị thường thích những anh đờn ông giỏi kiếm tiền. Trong những lúc riêng tư, các chị vốn hay chì chiết, đay nghiến và day dứt những anh chồng dốt kiếm tiền như sau:
- Khốn khổ thân tôi lấy phải thằng chồng ngu ơi là ngu. Chồng người ta kiếm tiền như nước đem về nuôi vợ nuôi con. Còn anh thật là vô công rồi nghề. Sản nghiệp này đều do một mình tôi mà có. Rời cái tay tôi ra ấy hả, lập tức cái nhà này tiêu tùng liền.
Kinh nghiệm cũng cho thấy: người ta thường lấy tiền để nhử đờn bà, người ta thường lấy đờn bà để nhử đờn ông và người ta thường lấy đờn ông để nhử…ra tiền. Đúng là một cái vòng lẩn quẩn.
Thế nhưng, tiền nhiều bạc lắm lại nảy sinh ra những hệ lụy mà chẳng chị đờn bà nào muốn. Đúng vậy, khi còn hàn vi, anh đờn ông thường chí thú mần ăn, trung thành với vợ và chăm chỉ với con. Thế nhưng, khi tiền bạc đã rủng rỉnh thì lại thường hay “rửng mỡ”. Và cái thói rửng mỡ này thiên biến vạn hóa đến quỉ thần cũng không lường nổi.
Có anh thì sau một ngày làm việc, thân thể bãi hoải, bèn phải đi tắm hơi một phát hay đi tìm mấy em vừa xoa lại vừa bóp, vừa mát xa lại vừa mát gần, nói một cách văn vẻ là đi “vật lý trị liệu”.
Có anh khi nhậu thì hay ngứa tay ngứa chân, bèn phải gác nhờ lên bờ vai hay cặp đùi của các em. Thậm chí còn táy máy chỗ này chỗ nọ.
Có anh lại cứ đinh ninh:
- Vợ người thì đẹp, văn mình thì hay.
Thế nên bèn kết mô đen với một cô bồ nhí theo kiểu chán cơm nhà thì vác tù và mà đi ăn phở.
Hơn thế nữa, như trên gã đã trình bày: người ta thường lấy tiền để nhử đờn bà. Những anh đờn ông rủnh rỉnh tiền bạc sẽ trở thành như một đốm lửa, khiến cho nhiều bà nhiều cô nhòm ngó và đeo bám, sẵn sàng hóa kiếp thành những con thiêu thân lao mình vào lửa. Chẳng thế mà bây giờ, mấy anh Việt kiều hay mấy ông Đài Loan xếnh xáng bỗng trở nên có giá trên thị trường hôn nhân. Điều này hẳn quí bà quí cô ghét cay ghét đắng ghét vào tận lái tim!!!
Trường hợp thứ ba, đó là có những anh đờn ông thích sống lặng lẽ như một chiếc bóng. Không hào quang. Không tỏa sáng. Sẵn sàng đếm từng bước chân âm thầm của mình trên những sỏi đá cuộc đời.
Dưới mắt các chị đờn bà hạng đờn ông này chỉ là như một thứ cơm nếp nhão, khiến họ ngán đến tận cần cổ. Các chị thích ông xã của mình phải có tiếng có tăm, khiến cả và thiên hạ phải tâm phục khẩu phục và các chị cũng được thơm lây.
Đúng thế, làm đờn bà con gái thế mà sướng. Hôm qua mình chỉ là cái Tèo, cái Mít. Thậm chí còn mang thân phận “ô-sin”, phải đi ở đợ làm đầy tớ cho thiên hạ…nửa chữ cắn đôi sợ cũng chưa thông, thế mà hôm nay bỗng nghiễm nhiên trở thành bà bác sĩ, bà kỹ sư…mà chẳng cần phải chăm chỉ học hành hay vất vả bon chen chi cho mệt.
Thế nhưng, tiếng tăm của anh đờn ông đôi lúc khiến các chị vợ cũng phải thất điên bát đảo, mất ăn mất ngủ, bởi vì một khi được ngưỡng mộ, anh đờn ông sẽ trở nên như một thỏi nam châm thu hút được sự chú ý nhiều người phụ nữ khác, khiến họ mê tít thò lò, hay ít nữa anh ta cũng trở thành người của quần chúng, chứ không còn là riêng của chị vợ nữa. Những điểm này các chị vợ muốn tống khứ đi càng sớm càng tốt.
Và sau cùng, trường hợp thứ tư, đó là có những anh đờn ông cù lần cù lèo, như chàng hai lúa miền quê.
Loại đờn ông này xem ra không đủ sức làm cho các chị vợ nở mày mở mặt cùng bá quan văn võ. Các chị thường ưa thích những anh chồng vừa đẹp trai, lại vừa hào hoa phong nhã. Thế nhưng sự hào hoa phong nhã này lại thường là đầu mối gây nên khổ đau.
Thực vậy, làm sao các chị có thể chịu đựng nổi anh chồng lúc nào cũng mỉm cười mần duyên hay liếc mắt đưa tình với những cô gái khác.
Có lẽ phe đờn ông con giai nên ghi tâm khắc cốt và phải thuộc nằm lòng cái nguyên tắc căn bản này, đó là ở mọi nơi và trong mọi lúc, nếu có ga lăng thì chỉ được phép ga lăng với một mình bà xã mà thôi. Bằng không, thì tẩu hỏa nhập ma, cơn giận bốc lên đùng đùng…lúc đó bà xã sẽ biến thành bà chằng, hay bà chi chi nữa, thì chỉ có trời mới biết.
Tóm lại, thân phận anh đờn ông con giai vốn dĩ đã rẻ như bèo, thế mà sống đúng cái thân phận bèo bọt ấy lại chẳng dễ tí nào, bởi vì:
- Bằng lòng với số phận phó thường dân, trên răng dưới các tút cũng chẳng xong, mà có quyền có thế cũng chẳng ổn.
- Hàn vi không một đồng xu dính túi cũng chẳng xong, mà có tiền có bạc cũng chẳng ổn.
- Vô danh tiểu tốt cũng chẳng xong, mà có tiếng có tăm cũng chẳng ổn.
- Cù lần cù lèo theo kiểu hai lúa cũng chẳng xong, mà hào hoa phong nhã cũng chẳng ổn.
Làm đờn ông con giai quả là khó lắm vậy thay. Vì thế, gã bèn thầm thĩ nguyện cầu cho phe ta:
- Kiếp sau xin chớ làm chồng,
Làm cây thông đứng mà trông….qưới bà!!!
Tác giả: Chuyện Phiếm của Gã Siêu (gasieu@gmail. com)
**************************************************************************

Huy hiệu đa thê ở Utah
CHUYỆN KỲ LẠ VỀ ÔNG MÙ... 11 VỢ
Source: Gia đình & Xã hội
Ông là một nông dân nghèo độc nhất. Từ nhỏ đôi mắt đã không được tỏ tường. Nhưng, ông đã lập một "chiến tích" hết sức tiêu cực là lấy 11 bà vợ và có đến 24 người con.
Mọi người nói, đây có thể là người đàn ông lập kỷ lục Việt Nam về việc vi phạm luật Hôn nhân gia đình và chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình.
Người mù và hành tung bí ẩn
Đến xã Quang Minh (huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc) hỏi ông Nguyễn Văn Sơn ở thôn Chi Đông thì ai cũng chỉ đường vanh vách. Bởi ông là người “nổi tiếng”. Thậm chí, khi hỏi đường, nhiều người còn hỏi với theo: “Nhà báo à? Đến gặp ông ấy để làm... Chuyện lạ Việt Nam à?”.
Hỏi mãi rồi tôi cũng tìm tới nơi ông ở, đó là ngôi nhà tuềnh toàng ở tận cùng con ngõ nhỏ cuối thôn. Thế nhưng, bởi không hẹn trước nên sáng ấy, công tôi hoá dã tràng. Ông đi vắng. Người nhà ông bảo, ông đã ra khỏi nhà thì đừng nói chuyện tìm, bởi tìm như thể tìm chim, hành tung của ông ngẫu hứng và bí ẩn. Chẳng ai có thể biết ông đi đâu, tạt ngang, tạt ngửa ở “cơ sở” nào! Nước tốt nhất là về và cho gia đình cái hẹn.

Ông Nguyễn Văn Sơn. (Ảnh: Đào Tuy)
Lần sau, đúng hẹn, tôi sang. Để chắc ăn, trước khi đi, tôi điện, dặn ông ở nhà đợi khách. Thế nhưng, nghe máy, người nhà ông bảo, chẳng biết việc làng hay bà lẽ nào có chuyện nên ông đã đi từ sáng sớm. Tuy thế, trước khi ra khỏi nhà ông đã dặn: “Khách đến, cứ chờ. Gần trưa ông sẽ về!”. Tôi đành ngồi đợi.
Nhà ông như ong vỡ tổ. Chẳng là làng đang có hội, các cháu ông khắp nơi túa về chơi, nô đùa.
Đợt rét vừa qua quá khắc nghiệt, ruộng mạ gia đình ông cấy hỏng cả. Nắng ấm lên đành phải gieo lại. Việc ấy, bà cả đang cùng với mấy cô con dâu lúi húi làm ngoài sân. Đông người làm nên chỉ loáng cái là khoảng sân gạch trước nhà đã được phủ một lớp bùn đen kịt. Mất chỗ chạy nhảy, bọn trẻ con láo nháo đành dồn cả vào nhà, chí choé nô đùa. Ba gian nhà ngói bỗng trở nên chật chội. Nhức óc đinh tai!
Nhìn thấy ổ gà, chướng ngại vật bằng... não
Đúng hẹn, gần trưa ông về. Xe đạp phanh két trước cửa. Sự xuất hiện của ông trên chiếc xe đạp khiến tôi không khỏi ngạc nhiên. Mắt ông thế thì đi bộ còn khó huống chi vi vu xe đạp?! Thấy sự ngạc nhiên của tôi, mọi người trong nhà ùa vào lý giải: “Từ xưa tới giờ, 50 năm có lẻ, đi đâu ông vẫn dùng xe đạp!”.
Nghe mọi người nói thế, ông cũng vội khoe luôn cái biệt tài của mình. Ông bảo, ông có trực giác và trí nhớ rất tuyệt vời. Đường trong huyện, thậm chí đường lên tỉnh, ông chỉ cần đi một lần là nhớ từng ổ gà, khúc cua ngoắt nghéo. Nhớ chi tiết rồi thì cứ xe đạp, chầm chậm ông đi, không lạc bao giờ.
Ra đường, bởi mắt không còn trông thấy gì nên ông phải “tham gia giao thông” bằng đôi tai rất thính của mình (như thể tai ông được gắn camera và chíp điện tử để phân tích thông tin). Ông bảo, nghe tiếng máy nổ là ông nhận biết được mình sắp gặp ô tô hay xe máy. Căn cứ vào những gì nghe được ông sẽ đưa ra cách tránh, né an toàn. Đến bây giờ, sau nhiều năm dùng tai thay cho đôi mắt, ông còn có thể nhận biết, chiếc xe máy đang chạy trước mặt mình là xe của... Tàu hay Nhật.
Tuy trực giác siêu phàm vậy nhưng cũng đã vài lần ông gặp nạn. Đang bon bon bỗng gặp một chiếc xe chết máy giữa đường. Đâm! Khi đi thì con đường nhẵn nhụi, phẳng phiu, khi về thì bởi “vấn nạn đào đường”, ông “sập bẫy”. Bởi những “sự cố hi hữu” ấy mà đã có lần ông phải nhập viện. Tuy thế, ông vẫn chẳng chừa. Vẫn phải đánh đu với xe đạp vì phải nay chỗ này, mai chỗ khác tong tả thăm nom các bà vợ của mình.
Hỏng mắt, vẫn được làm... “quan chức Nhà nước”
Ông Sơn sinh năm 1946 trong một gia đình bần nông. Năm lên hai tuổi, ông bảo, phải vía trời, mắt trái ông bỗng dưng hỏng hẳn. Mắt phải cũng từ ngày ấy mà mờ dần đi, đến khi trai tráng thì tối hẳn.
Khi ấy chiến tranh, neo người, nên dù không còn đôi mắt, ông vẫn xin được thoát ly, làm ở ngành đường sắt. Không nhìn thấy lại hoá hay, bởi khi còn làm nhà nước hay sau này về quê làm dân công, ông đều được chỉ định làm tổ trưởng (mọi người đùa vui: Cũng là quan nhà nước)
Anh em sáng mắt thì lao động trực tiếp, tổ trưởng không thấy gì thì “ăn khâu”... chỉ đạo. Như bao gia đình thôn quê khác, năm ông vừa tròn 20 tuổi, bố mẹ đã... ép duyên, cưới cho ông một cô gái ngoan hiền ở trong xã.
Về phép, thấy bố mẹ đã... tự ý lấy vợ cho mình, ông giận, chẳng nói chẳng rằng đùng đùng bỏ đi. Lên xí nghiệp ở lì tại đó, gần 1 năm sau ông mới chính thức... lấy vợ cho mình.
“Giăng lưới” được nữ sinh duyên dáng
Người khiến trái tim ông loạn nhịp là bà Nguyễn Thị Lan, khi gặp ông, tuổi mới 15 trăng tròn. Tình yêu thật khó lý giải, vướng vào rồi thì chẳng khác nào dính phải bùa lú thuốc mê. Khi ấy, ông là một người tật nguyền còn bà Lan là một nữ sinh duyên dáng. Thêm nữa, bà lại là người Hà Nội, chỉ bởi nhà có người làm cùng xí nghiệp ông mà một vài lần lên thăm đã mắc phải bùa yêu. Khuyên can chẳng được, thôi thì đũa lệch so vừa, gia đình bà Lan đành cho đôi trẻ nên duyên nên lứa.
Hơn một năm sau bởi cảnh nhà neo người, ông xin thôi không làm ngành đường sắt nữa, đưa vợ con về quê sinh sống. Về đến nhà, bữa cơm đầu tiên, phát hiện ra mình chỉ là vợ bé, bà Lan giận, tu tu khóc bỏ về Hà Nội.
Cũng thời gian ấy, sống chung một mái nhà, tìm hiểu, thấy hoàn cảnh cô vợ mà bố mẹ cưới cho éo le, ông đã động lòng trắc ẩn. Thôi thì duyên trời đã định, ông đành chấp thuận nghe theo. Nhưng với bà Lan, chả hiểu sao, ông vẫn thường xuyên qua lại như vợ chồng.
Hôn nhân 3 tháng
Về nhà, ông bôn ba với đủ mọi thứ nghề, miễn sao là ra tiền, ra thóc để nuôi vợ, nuôi con. Trong một chuyến tàu buôn từ Phú Thọ về, bà thứ ba đã xuất hiện.
Bà tên là Hoàng Thị Chuyền, quê ở xã Thanh Lâm, cùng huyện Mê Linh, kém ông 1 tuổi. Bà Chuyền là người lận đận về đường tình duyên. Gặp nhau trên chuyến tàu chợ chật chội ấy, chẳng biết khám phá ở ông điều gì hấp dẫn mà bà đã xiêu lòng.
Quái lạ thay, tình yêu này vẫn nhận được sự đồng ý của hai bên gia đình. Tuy thế, với ông, đó là hôn nhân ngắn nhất trong đời. Ông quen bà hồi tháng 10 thì đến tháng giêng năm sau, bởi thấy hai bên phát sinh những tính nết không hợp nhau, nên ông đã quyết định đôi đường đôi ngả. Tuy nhiên, chỉ với 3 tháng sống với nhau, mối tình ngắn ngủi và vi phạm Luật Hôn nhân gia đình ấy cũng kịp có kết quả. Ông đã có với bà một mụn con.
Năm 1973, bà thứ tư lại xuất hiện. Bà tên Vương Thị Xuân, quê gốc ở Bình Định, theo cha là cán bộ kháng chiến tập kết ra Bắc. Hai người gặp nhau ở ga Gia Cẩm ( Phú Thọ ).
Cảm thấy sống “không thể thiếu nhau” nên ông đã về thuyết phục gia đình đem lễ đến hỏi. Và cái gia đình lạ lùng này lại đồng ý. Có với nhau một cô con gái thì bà Xuân theo bố mẹ vào Nam . Từ dạo đó, bởi đường xá xa xôi, hai người đã không còn qua lại nữa. Tuy nhiên, mấy năm trước, biết tin cô con gái lấy chồng, ông cũng lặn lội vào tận nơi để dự đám cưới.
Chuyến buôn... trâu và người vợ 14 tuổi
Cưới bà Xuân được đúng 3 năm thì “trái tim tội lỗi” của ông lại run lên bần bật khi nhìn thấy một người phụ nữ khác.
Bà thứ năm, tên là Nguyễn Thị Xâm cũng là người cùng huyện. Bà Xâm trẻ lắm, ngày gặp ông mới hơn 14 tuổi đầu. Nhà quê lam lũ lại ốm đau, quặt quẹo luôn nên bà trông già trước tuổi.
Ngày ấy, ông đi buôn trâu, thấy bà, ông Sơn nên đã đem lòng... dan díu. Đến với nhau từ năm 1976 và có với nhau 2 mặt con nhưng phải mãi đến năm 1990 ông mới “hợp lý hoá” được mối quan hệ ấy. Thường thì mỗi bà khi muốn “sống là người nhà ông, chết làm con ma nhà ông” thì đều được ông làm lễ cưới, hỏi. Tất nhiên, tuỳ hoàn cảnh, nên cỗ bàn chỉ gọi là báo cáo với họ hàng nhưng phần “nghi lễ” thì ông vẫn làm đầy đủ. Suốt những năm ấy, bởi bù đầu với việc kiếm ăn, ông đành để bà Xâm sống cảnh thiệt thòi. Đầu năm 1990, khi công việc đã tạm ngơi tay, ông đã bảo bà cả sắm lễ đến, chính thức hỏi bà Xâm làm vợ. Hôm ấy, nhà ông làm hẳn 10 mâm cơm, xóm làng, họ mạc đến, liên hoan vui đáo để.
Ông kể, khi lấy mấy bà vợ đầu thì còn có người phản đối, điều ong tiếng ve này nọ. Cưới đến bà thứ 5 thì chẳng ai còn có ý kiến gì nữa. Có lẽ, tất thảy mọi người trong làng, đều nghĩ rằng ông đã mù lòa nên có làm việc gì thì cũng không chấp.
Bà thứ sáu, ông đón về vào năm 1978. Bà ở thôn Đường Lệ, xã Đại Thịnh, cũng huyện Mê Linh. Ông quen bà cũng từ một lần đi chợ. Bà đi bán rau về, gặp ông nên mời vào nhà chơi. Vào mới biết hoàn cảnh nhà bà túng quẫn, khó khăn trăm bề. Qua lại một vài lần, bà này mạnh dạn: “Anh có thương thì trở đi trở về qua lại. Đời em cơ cực đã nhiều, chỉ mong một chỗ dựa về sau!”.
Được nhời như cởi tấm lòng, cái “tính quen thuộc” của ông trỗi dậy. Tuy thế, mối tình ngang trái này cũng đi đến kết cục chẳng ra làm sao. Có với nhau một mặt con, năm 1984, ông bà đã đường ai nấy đi bởi tính nết mỗi người một khác.
Chồng mù với vợ què, vợ hen
Chia tay bà thứ sáu được đúng 3 ngày thì ông gặp bà thứ bảy. Theo cái lý lạ lùng của ông, “đó là người phụ nữ gặp nhiều bất hạnh, ông không thể không thương”. Bà Ngải, tên bà thứ bảy, bị bom đánh mất một cánh tay từ tấm bé. Cũng như những bà trước, ông đem lễ đến xin. Lần này, khó khăn bởi gia đình nhà gái nằng nặc từ chối. Lý do, không phải vì ông đã có nhiều vợ mà bởi họ bảo: “Chồng mù, vợ què không được”. Thế nhưng, lần lữa mãi thì trời cũng đành phải chịu đất bởi “gạo đã nấu thành cơm”, “ván đã đóng thành thuyền”, “mầm sống” đã “sinh sôi”. Có con, ông cứ đón bà về và sau cùng, khó tính mấy thì “nhà gái” cũng phải gật đầu ưng thuận.
Bà Ngải ở thôn Tráng Việt, xã Tráng Việt (Mê Linh). Và những lần qua lại thôn ấy, ông lại thêm vướng lưới tình.
Bà thứ tám đến và sống với ông vừa đủ 20 năm rồi âm dương cách biệt. Bà tên Lê Thị Thân, kém ông 9 tuổi, là người nổi tiếng dịu dàng, phúc hậu. Thế nhưng, trời chẳng cho ai tất cả mọi thứ, đẹp người, đẹp nết nhưng bà lại mắc chứng bệnh hen, khiến trai làng không ai muốn đón về để chung xây tổ ấm.
Lỡ thì, bà gặp ông vậy là lại mắc lưới của “Đông Gioăng”. Theo ông Sơn, khi hai người đến với nhau, bên nhà bà Thân, nhiều người cũng phản đối rầm rầm. Tuy thế có một người đã rất ủng hộ ông, đó là bố đẻ ra bà. Có “chỗ dựa”, ông đã tới tấp tấn công và chỉ ít lâu sau, tất cả mọi người trong gia đình bà Thân đều gật đầu...
11 vợ chưa phải con số cuối cùng...
Theo thời gian, số bà vợ của ông Sơn tăng dần. Đến nay, đã có 11 phụ nữ... phải lòng người đàn ông "đặc biệt" này. Nhưng, không ai dám chắc đó là con số cuối cùng...
“Sự tích” về bà vợ thứ 9, 10,11
“Mối tình” với bà Thân vẫn còn hôi hổi thì ông có thêm bà thứ chín. Bà có cái tên mộc mạc: Nguyễn Thị Tỵ, người ở làng Táo, xã Tiến Thắng, Mê Linh.
Bà Tỵ kém ông đến hơn 20 tuổi, chỉ ngặt nỗi người không được hoạt bát do ít nhiều nhiễm độc da cam từ người bố đi bộ đội. Hoàn cảnh bà Tỵ khó khăn bởi bố mất sớm, mình bà tần tảo sớm hôm chăm sóc mẹ già và đứa em ốm đau, què quặt. Cảnh ấy khiến ông... thương, muốn chung tay, chung sức cùng bà đẩy lùi cam khó (???). Vậy là được sự đồng thuận của hai nhà, ông và bà Tỵ lại thành phu phụ.
“Đã thương thì thương... cho trót” - cái lý của ông Sơn là vậy. Theo lẽ thông thường, người đáng thương phải là ông, nhưng ông luôn cho rằng các bà mà ông muốn lấy làm vợ mới là đáng thương và cần một nơi nương tựa vững chãi - đó là ông (???). Vì thế, ở thôn Đường Lệ, xã Đại Thịnh, nơi bà vợ thứ 6 của ông ở có bà Vũ, cũng hoàn cảnh éo le như bà Tỵ, đã được ông “thương nốt cho trót”. Bố bà Vũ đi kháng chiến, nhiễm độc và để di họa lại cho con. Bà Vũ tuy học hết lớp 6 nhưng cũng chẳng được nhanh nhẹn như người. Ông gặp, “cảm thương số phận hẩm hiu” của bà nên quyết định nên vợ nên chồng. Ông bảo, ông đến với bà thứ 10 là bởi ông thấy mình cần phải có trách nhiệm với người đàn bà tạo hóa không thương ấy (???).
Trò chuyện cởi mở, ông tiết lộ một... bí mật mà ở làng ít người được biết. Đó là việc ông có bà thứ 11 hiện đang sống ở Bình Lục, Hà Nam . Bà này đã có với ông một mặt con và hai người quen nhau từ năm 1967. Khi ấy, ông đi nộp thóc thuế, gặp bà làm ở kho lương thực Phúc Yên. “Tiếng sét ái tình” kỳ quái nổ ra ngay từ lần gặp đầu tiên và người phụ nữ ấy dành cho ông nhiều ưu ái. Ông kể về sự ưu ái đầy tiêu cực ấy rằng, hồi đó, gánh thóc đến kho lương thực nộp, nếu gặp bà thì thóc rối bà cũng gật đầu cho là thóc sạch. “Sướng lắm!” - ông Sơn kể. Sau này, bà về quê Hà Nam sinh sống, bởi xa cách nên ông không thể đem lễ đến hỏi được. Cũng bởi phần lễ nghi này chưa được thực hiện nên dù đã có con với nhau từ lâu nhưng ông vẫn phải xếp bà ở vị trí thứ... 11.
Cái mồm đầy... ma lực
Mắt hỏng, nhưng trông vẻ ngoài ông còn mạnh mẽ lắm. Hỏng mắt, nhưng ông Sơn lại rất khéo ăn khéo nói. Đây cũng là lý do khiến ông vi phạm nặng nề chính sách DS-KHHGĐ và Luật Hôn nhân & Gia đình, nhưng vẫn được các “người tình” chấp thuận về sống kiếp chồng chung.
Cái mồm ông đầy ma lực, chuyện giời chuyện bể ông đều biết cả. Càng ngồi, càng thấy người đàn ông trông bề ngoài chẳng có gì nổi bật ấy... có điểm gì đó hấp dẫn. Ông có khả năng hút hồn người khác bằng những câu chuyện khó tin nhưng có vẻ rất thật của mình. Chuyện ông kể, tuy chẳng có gì lớn lao, chẳng có gì bóng bảy nhưng nó khiến người đối diện thích nghe bởi những tình tiết bất ngờ, bằng chất giọng nghe như quê mùa nhưng vô cùng hóm hỉnh.
Bởi thế, theo “thói quen”, theo cái lý khó chấp nhận được của riêng ông: “thương thì thương cho trót”, nhiều người đã nhận định, với ông, “tình vẫn chưa yên”. Rất có thể một ngày đẹp trời, trên con đường làng quen thuộc hay trên một chuyến tàu chật ních người, gặp một phụ nữ có hoàn cảnh đáng thương, ông lại thêm một lần “sét đánh”. Điều ấy chẳng ai dám chắc là sẽ không xảy ra! Chuyện ấy tế nhị, hỏi ông, ông chỉ cười.
Những khả năng đặc biệt
Ngay khi gặp, tôi không tin là ông Sơn hỏng mắt hoàn toàn. Ông vẫn đi xe đạp và làm nhiều việc như người sáng mắt.
Thế nhưng, sự thật là người đàn ông hỏng mắt hoàn toàn ấy đã làm được rất nhiều chuyện không giống ai mà người sáng mắt cũng phải kinh ngạc. Ông đi buôn trâu, nhưng chỉ cần sờ là biết con trâu ấy tuổi tác, sức khoẻ thế nào. Thậm chí, với đồ gỗ, ông cũng là người sành sỏi. Ông đã giúp những người ít am hiểu về lĩnh vực này chọn được những bộ đồ gỗ chất lượng.
Ông bảo, chỉ cần sờ tay vào vân, thớ gỗ ông cũng có thể nhận biết đó là gỗ gì. Trình độ ấy đã được ông “kiểm nghiệm” qua lần một mình lụi cụi đạp xe về Đồng Kỵ, Bắc Ninh để mua cho gia đình mình chiếc tủ chè mà đến giờ ai vào nhà cũng đều phải trầm trồ khen đẹp.
Ngoài sự nhạy cảm của đôi tay, thì đôi tai và trí nhớ của ông cũng ở mức tuyệt vời. Ở làng, nhiều người mua đài, đầu đĩa cũng phải nhờ đến ông. Dân quê nghèo, làm gì có tiền mà đến cửa hàng, đại lý để mua hàng mới, sản phẩm của những hãng nổi tiếng. Đồ cũ, đồ đã qua sử dụng thì mới có giá mềm. Bởi thế nên họ phải nhờ ông vì chỉ cần nghe tiếng, ông có thế nhận biết những thứ đó của hãng nào, “tuổi thọ” còn được bao lâu. Con ông mua chiếc tivi, về mở, nghe tiếng, chẳng cần hỏi ông cũng biết đó là “đồ Tàu” dù bề ngoài, trông như hàng xịn.
Trí nhớ của ông thì khó người nào sánh kịp. Bởi thế mà trong huyện, đường ngang ngõ tắt ông thuộc như lòng bàn tay. Đến “vùng đất mới”, chưa biết đường, thì chỉ cần có người ngồi sau xe “xi nhan” một lần là khi về, ông đi đâu vào đấy.
Biến “ớt cay” thành “ớt ngọt”
Ông thống kê, tới thời điểm này, ông đã có cả thảy 24 người con. Là con trưởng nên nhà ông nhiều giỗ chạp. Mỗi lần có việc, các bà vợ cùng các con, cháu kéo về chật ních cả nhà. Cỗ bàn bày ra cả chục mâm, ngồi kín trong nhà, nhiều khi còn tràn cả ra sân.
Ớt nào mà ớt chẳng cay, gái nào mà lại chẳng hay ghen chồng! Thế nhưng, trường hợp các bà vợ của ông thì khác. Rất lạ từ trước đến nay giữa các bà chưa từng một lần xảy ra cãi vã, ghen tuông. Điều này đã được mọi người... kiểm chứng.
Cách đây hơn chục năm, bà thứ bảy - Nguyễn Thị Ngải - đã về ở hẳn trên mảnh đất nhà ông. Tuy gọi là ở riêng nhưng chẳng khác nào ở chung bởi hai nhà chung ngõ, chỉ cách nhau bức tường chưa vượt quá đầu người. Mấy lần tôi đến vẫn thấy bà chạy qua chạy lại chuyện trò. Đặc biệt, để ý, thấy bà Ngải với bà cả trò chuyện tíu tít với nhau. Sự thân thiện ấy không chỉ khiến một người lạ là tôi khó hiểu, mà nó còn khiến nhiều người dân ở Chi Đông, nơi ông ở cũng phải mắt tròn mắt dẹt kinh ngạc. Mọi người đã rất băn khoăn bởi không biết ông có phép màu gì hiệu nghiệm khiến hai bà thân nhau đến thế, lúc nào cũng sát cánh kề vai, có nhau trong mọi việc?!
Ông bảo, ông có bí quyết riêng để biến “ớt cay” thành “ớt ngọt”. Khôn ngoan chẳng lọ thật thà, trước khi đồng thuận đến với nhau, ông cứ “lột trần” hết những khó khăn, thuận lợi khi về nhà ông cho các bà nghe. Nếu các bà thực sự hiểu và thông cảm thì mới bàn đến chuyện se duyên kết tóc, không thì “sét đánh” có dữ dội mấy ông cũng “vẫy tay chào”.
“Chiêu” ấy hoá hiệu nghiệm bởi nó như một mũi tên, trúng liền hai đích. Thứ nhất, nó sẽ khiến đối phương nghĩ rằng chỉ những người thật lòng mới có những lời lẽ chân thành đến vậy. Thứ hai, nó giúp ông giải quyết “bài toán” “hậu hôn nhân” sau này. “Bài toán” ấy không dễ hóa giải. Xã hội, ối người chỉ một lần duy nhất lập “phòng nhì” đã phải trả giá đắt. Thậm chí có người còn vào tù cũng chỉ vì mù quáng trong chuyện quyết liệt giữ “mảnh trời riêng” cho mình. Do được “làm công tác tư tưởng” từ trước nên khi lấy ông, “các bà đều biết rõ bổn phận và trách nhiệm của mình” (lời ông khoe). Bởi thế, về nhà ông, các bà vẫn vui vẻ ngồi chung mâm, trong êm ngoài ấm.
Hệ lụy... buồn
Ông Sơn bảo, các con ông ai cũng ngoan hiền bởi có sự chăm chút, dạy dỗ tới nơi tới chốn của ông.
Thế nhưng, điều ông không nói ra nhưng ai cũng biết, đó là: Chúng khổ vì cái sự đa mang kỳ quái của ông. Tối ngày chúng túi bụi với công việc để toan lo cuộc sống thường ngày.
Ông giờ đang ở với người con út, con của bà cả trong ngôi nhà ngói tồi tàn. Anh con út ấy cũng như bao anh em khác của mình, không được học hành tới nơi tới chốn. Tí tuổi đầu anh đã phải tìm về thành phố tần tảo làm thuê để kiếm sống qua ngày.
Lớn lên, lấy vợ, cũng vẫn nghiệp làm thuê, tối mắt tối mũi. Bởi quá bận rộn nên đến giờ, có một sự thật phũ phàng là anh vẫn chưa biết hết mặt... anh em mình.
Anh bảo, quanh năm tất tả với công với việc, chẳng lúc nào được nghỉ ngơi nên cũng chẳng có điều kiện để đi thăm nom anh em ở các nơi. Buồn lắm! Ngày giỗ, ngày Tết, nhà bố đẻ ở đây, ai có lòng thì đến, uống được với nhau chén rượu rồi lại về. Thế nhưng, đâu phải ai cũng nhiệt tâm, người thế này, người thế nọ, xum họp đầy đủ khó lắm!
Họ cũng như anh, cũng phải tất bật với những lo toan của riêng mình, vì ai cũng giống ai, bố chẳng lo cho được gì, nhà thì neo đơn.
Thêm nữa, nếu muốn đi thăm để tận thấy tất cả anh em mình, với điều kiện kinh tế của các anh bây giờ thì có lẽ là điều... không tưởng. Kẻ nam người bắc, người ở phố kẻ ở quê đi hết thì có mà... cả tháng. Bởi thế nên đành chịu, bởi thế nên đành ngồi nhà, ai đến thì biết người đấy chứ đến người này, bỏ người kia cũng không được.
Chính quyền địa phương: Bó tay!
Trong tổng số 11 bà vợ trên, thì chỉ có bà vợ cả do bố mẹ ông cưới cho là có thủ tục đăng ký kết hôn đàng hoàng. Số bà còn lại, ông đều... cưới chui hoặc cứ đến sinh sống với nhau như vợ chồng. Điều ấy, làng xóm láng giềng biết và đương nhiên, chính quyền địa phương cũng biết. Thế nhưng, biện pháp ngăn chặn thì tưởng dễ nhưng đụng đến lại... khó vô cùng.
Theo ông Nguyễn Mạnh Sinh, Chủ tịch xã Quang Minh - nơi ông Sơn sinh sống - “vấn đề ông Sơn nhiều vợ”, trước đây, Ban Tuyên giáo huyện Mê Linh đã về xã và có buổi làm việc nghiêm túc.
Tại buổi làm việc đó, xã đã trình bày tất cả những khó khăn của mình. Những khó khăn đó, theo ông Sinh, các bà vợ bé của ông Sơn đều là người xã khác, bởi thế, xã không có quyền can thiệp. Thêm nữa, từ trước tới nay, chính quyền xã cũng chưa phải đứng ra để giải quyết tranh chấp, kiện tụng gì giữa các “bà vợ” của ông Sơn, cũng như những người liên quan nên không có lý do gì để đưa biện pháp ngăn chặn.
Còn chuyện bà Ngải, bà vợ thứ bảy, hiện nay đang ở trên mảnh đất trước đây là của ông Sơn thì lại là một câu chuyện dài. Câu chuyện “hai trong một” này, theo ông Trương Quang Dũng, Cán bộ hộ khẩu, Công an xã Quang Minh thì cũng rất... hợp lý (???).
Bà Ngải ở xã Tráng Việt đã theo ông làm vợ lẽ. Trước đó, ông Sơn ra làm kinh tế ở thôn Ấp Tre, (xã Quang Minh) bà Ngải theo đến ở cùng. Việc ấy chính quyền xã đã nhiều lần ngăn cản, thế nhưng, dù nhiều lần bị “trục xuất” nhưng “thuyền” vẫn một lòng quay về “bến cũ”. Ông về mua đất ở thôn Chi Đông, bà vẫn theo ông. Ông Sơn đã nhiều lần lên xã lạy lục để xin xã cho phép bà được nhập hộ khẩu vào nhà mình. Đương nhiên, xã không giải quyết bởi danh không chính ngôn không thuận, bà Ngải và ông Sơn không có quan hệ gì.
Tuy thế, ông Sơn vẫn “cắt đất” để mẹ con bà Ngải dựng nhà ngay sát nhà mình. Mãi đến tháng 5/2007 vừa rồi, bà Ngải mới được chính quyền xã cho đăng ký hộ khẩu vì theo luật cư trú mới, người nào có đất, sinh sống ổn định trên địa bàn thì phải được làm hộ khẩu!
Nỗi đau của người cha mù
Ông đang ấp ôm trong mình một nỗi đau tê tái. Cô con gái thứ hai con của ông với bà cả bị kẻ xấu lừa bán sang Trung Quốc. Thương con, năm 1995, gom góp tiền, dù cảnh mù loà, ông vẫn lặn lội sang đó kiếm tìm.
Lặn lội từ Quảng Đông đến Quảng Tây, lang thang đến tất cả những nơi có thể nhưng con gái ông vẫn bặt vô âm tín. Giờ, điều mong ước lớn nhất của ông là tìm lại được cô con gái tội nghiệp ấy.
Nhiều đêm, nhớ đến con mà nước mắt đầm đìa. Thương con nhưng cũng đành chịu chứ biết tính làm sao! Nhiều lúc ông cũng nghĩ: “Giá mà cảnh nhà khá giả, được học hành tới nơi tới chốn thì con gái mình đã không thành “miếng mồi ngon” cho bầy lang sói!”.
Lấy 11 vợ, đẻ 24 đứa con, liệu ông chăm sóc và gặp gỡ họ được mấy ngày? Những bà vợ có thể tự hào điều gì khi kể về chồng? Những đứa con học được gì từ tấm gương của bố?
Chắc rằng những đêm nhiều nước mắt như vậy không phải là hiếm đối với người đàn ông kỳ lạ ấy.
Đào Thanh Tuy (báo Gia Đình & Xã Hội)
04/04/10. 04:18:50 am. 12199 words, 144 views. Categories: Góp nhặt, Chuyện vui, Những chuyện ỡm ờ, Liên kết blogs ,
TƯỢNG KHỎA THÂN CỦA PHƯƠNG VŨ MẠNH BỊ CẤM VÌ GIỐNG HỒ CHÍ MINH

Nghệ sĩ Phương Vũ Mạnh dời bức tượng khỏa thân mô tả chính ông, ra khỏi cuộc triển lãm ở trung tâm văn hóa Pháp tại Hà Nội, theo lời yêu cầu của nhà cầm quyền cộng sản. Tượng này bị coi là giống cái xác ướp của Hồ chí Minh - Ảnh: France24.com
Tượng khỏa thân của Phương Vũ Mạnh bị cấm vì giống Hồ Chí Minh
Source: VOA NEWS
Một nghệ sĩ Việt Nam đã bị buộc phải dỡ bỏ một bức tượng khỏa thân của ông vì giới hữu trách cho rằng bức tượng này có tính chất khiêu dâm hoặc có thể khá giống với tượng chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bản tin của hãng thông tấn Đức trích lời nghệ sĩ Phương Vũ Mạnh cho hay sáng hôm thứ Ba, 6 người trong đó có cả công an và các giới chức Bộ Văn hóa đã đến thăm một cuộc triển lãm nghệ thuật của ông tại L'Espace, trung tâm văn hóa của Pháp ở Hà Nội.
Ông Mạnh cho biết ngay sau đó ông đã bị thư ký của giám đốc L'Espace gọi vào và nói rằng ông phải hạ bức tượng đó xuống ngay lập tức.
Bức tượng khỏa thân được sơn màu xanh có hình vẽ những bông hồng và các dòng chữ Nôm. Bức tượng nằm trong một lăng kính, xung quanh là các giá đỡ của bệnh viện treo những chai lọ và những ống truyền dịch.
Ông Mạnh giải thích rằng bức tượng mô tả về ô nhiễm và biến đổi khí hậu và tác động của nó đến con người trong xã hội hiện đại. Ông cũng cho hay những chữ viết trên đó có liên quan đến các phương pháp chữa bệnh bằng y học cổ truyền.
Theo ông Mạnh giới hữu trách tức giận bởi bản thảo được nộp cho giới hữu trách cho thấy bức tượng không phải là tượng khỏa thân.
Ngoài ra ấn tượng về tác phẩm này có thể khiến người ta hiểu nhầm rằng đây là thi thể của chủ tịch Hồ Chí Minh, vốn cũng nằm trong một lăng kính như vậy, mặc dù ông Mạnh đã để một tấm biển viết rõ là “Tượng Phương Vũ Mạnh”.
Hãng thông tấn Pháp trích lời một giới chức ngoại giao không muốn nêu danh tính nói rằng lệnh tháo bỏ tác phẩm này là “một biện pháp hành chính” chứ không phải kiểm duyệt bởi tác phẩm “đã không hoàn toàn được thực hiện đúng như theo bản thảo đã nộp cho giới hữu trách”.
Nguồn: DPA, AFP
**************************************************************************
Nguyên các bản tin bằng tiếng Anh:
VIETNAM NIXES ART CENTRE'S GREEN NUDE
http://www.google.com/hostednews/afp/article/ALeqM5gpX4Zs-Beq8ZT6jgK1GLbDAFoCmA
(AFP) – 1 day ago
HANOI — Vietnamese officials offended by a nude statue have asked a French cultural centre in Hanoi to remove the artwork more than a week after it went on display, according to its creator.
The "L'Espace" centre told sculptor-painter Phuong Vu Manh that six officials, including police and Ministry of Culture representatives, visited the place Tuesday, all angered by his work, the artist said.
The sculpture, called "A Statue of Phuong Vu Manh" depicts him painted green, labelled with diseases and on a drip, to depict, he says, how pollution affects people in modern society.
The statue had been on display for about 10 days without apparently raising any eyebrows, the artist said.
He suspected that the removal of a floral display obscuring the statue's private organs may have triggered officials' disapproval.
A French diplomat, who asked not to be named, said the artwork's removal was a case of "administrative authorisation" rather than censorship, as the work displayed "was not completely in line with the file shown to the authorities".
The exhibition, which was supposed to last until Friday, "was inaugurated in the presence of Vietnamese officials," the source insisted, adding that the statue had been "removed in agreement with the artist".
Copyright © 2010 AFP. All rights reserved
************************************************************************
VIETNAM AUTHORITIES BAN NUDE STATUE RESEMBLING HO CHI MINH
Hanoi - A Vietnamese artist was ordered Tuesday to take down an installation involving a nude statue of himself lying in a glass case, either because authorities considered it obscene or because it too closely resembled Ho Chi Minh.
On Tuesday morning, six officials from the police and the Ministry of Culture visited an exhibition by artist Phuong Vu Manh at L'Espace, the official French cultural center in Hanoi, the artist said.
Manh said he was called shortly afterwards by the secretary of the director of L'Espace and told he would have to take down the installation immediately.
The management of L'Espace and the Vietnamese Ministry of Culture could not be reached for comment.
The installation centred on a green plaster statue of a nude, supine Manh covered with roses, inscribed with characters in the ancient Vietnamese Nom script. The statue was encased in a glass prism and surrounded by hospital stands carrying bottles and intravenous tubing.
"It's about pollution, and climate change," Manh said. "As Vietnam develops, we have all these problems with pollution." Manh said the characters written on the statue were associated with traditional Vietnamese medicine and healing.
Manh said he had been told the authorities were angry because the initial sketch of the installation submitted to censors for approval before the opening, as is required in Vietnam, had shown the sculpture wearing clothes.
The ensemble also bore an unmistakable resemblance to the body of Ho Chi Minh, the founding father of Communist Vietnam, which is embalmed and displayed in a glass case in a massive mausoleum at the center of Hanoi. Like Ho, Manh has a pointed goatee.
To defray any association with Ho, Manh said, he had placed a label at the front of the installation reading "Statue of Phuong Vu Manh".
"According to Vietnamese tradition, these sorts of nude bodies are something unusual, a bit capitalist and bourgeois," said Pham Quang Minh, a professor of international relations at Vietnam National University, who was visiting the exhibition. "The artists don't want problems with the government, it's just their feelings. But the government says, you are violating ethics."
The exhibition at L'Espace opened on March 12, and had been scheduled to close on Friday.
International cultural institutions such as L'Espace and the Goethe Institute often serve as safe venues for Vietnamese art too controversial to be shown in local galleries. In several incidents over the past few years, authorities have asked that exhibitions be altered or removed because of perceived political references.
Copyright DPA
Read more: http://www.earthtimes.org/articles/show/315439,vietnam-authorities-ban-nude-statue-resembling-ho-chi-minh.html#ixzz0jBk2DdDA
03/25/10. 11:44:42 am. 1358 words, 563 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Âm nhạc và nghệ thuật, Mỹ thuật, nhiếp ảnh và hội họa, Tin tức ðó ðây, Những chuyện ỡm ờ, Liên kết blogs, Thời trang, Xã hội và nhân văn, Chuyện lạ mỗi ngày ,
THƯỞNG THỨC NHẠC ĐẦU NĂM: NHỮNG BẢN NHẠC RẤT LẠ (CẤM TRẺ EM DƯỚI... 13 TUỔI!)
Dưới đây là 3 bản nhạc đặc biệt về cả phần nội dung lẫn cách trình bày và xảo thuật làm hình, ngó thấy "dzậy" mà không phải "dzậy"!
ELECTRIC 6 "Bodyshot" dir: NABIL
by nabil elderkin
ELECTRIC 6 "Bodyshot" dir: NABIL from nabil elderkin on Vimeo.
NSFW!!
BAND: Electric 6
SONG: Bodyshot
LABEL: Metropolis
DIRECTOR: NABIL
PROD CO: Partizan
PRODUCER: Kathleen Heffernan
EDITOR: Isaac Hagy (heyzoos)
POST: Wizardflex (gustavo & Clara)
KANYE WEST "Coldest Winter" Directed by: NABIL "ITUNES link below"
by nabil elderkin
KANYE WEST "Coldest Winter" Directed by: NABIL "ITUNES link below" from nabil elderkin on Vimeo.
VIDEO AVAILABLE ON ITUNES: itunes.apple.com/us/video/coldest-winter/id355707021
Artist: Kanye West
Song: Coldest Winter
Director: NABIL
Label: Island/ Def jam
Producer: Kathleen Heffernan
DP: Josh Reis
Editor: DJ Sing
CG post: Baked FX lead artist: Kyle Belko
After Effects: Gustavo & Clara
Production Co: Partizan
KANYE WEST "Glow in the Dark" book promo by: NABIL
by nabil elderkin
KANYE WEST "Glow in the Dark" book promo by: NABIL from nabil elderkin on Vimeo.
KANYE WEST "Glow in the Dark"
video and book Photography by: Nabil Elderkin
post/edit: Gustavo and Clara for Wizardflex
book design by: Base Design
Published by: Rizzoli, USA
Available now at:
amazon.com/Kanye-West-Glow-Dark/dp/0847832406/ref=sr_1_2?ie=UTF8&s=books&qid=1255110925&sr=1-2
02/25/10. 04:03:26 am. 238 words, 558 views. Categories: Góp nhặt, Âm nhạc và nghệ thuật, Mỹ thuật, nhiếp ảnh và hội họa, Nghệ thuật sân khấu và phim ảnh, Video tếu, Chuyện lạ ðó ðây, Những chuyện ỡm ờ, Âm nhạc, Thế giới ðiện toán ,
XEM PHIM VUI ĐẦU NĂM: "HERCULES IN NEW YORK", TỰ HỎI XEM CÓ NÊN TRƯỜNG SINH BẤT LÃO HAY KHÔNG
Hercules tại Nữu Ước (Hercules In New York)
Sau nhiều thế kỷ, Hercules đã chán sống trên ngọn Olympus, và quyết định dời về... Nữu Ước (New York). Nhưng, lẽ dĩ nhiên, đâu phải dễ gì để cho một anh sống từ thời cổ đại Hy Lạp làm quen với đời sống văn minh hiện tại. Vì vậy mọi sự trở nên rắc rối, đặc biệt khi thần Zeus, cha của Hercules gởi vài thần khác sang New York để mang lão nửa thần nửa người Hercules về lại núi Olympus.
Chắc quý vị và các bạn cũng đã nghe tin về 3 nhà khoa học Mỹ được giải Nobel năm 2009 vì đã tìm ra chất xúc tác sinh học Telomerase với hy vọng có thể kéo dài tuổi thọ và ngăn ngừa bệnh tật nguy hiểm như ung thư và bệnh tim mạch v.v... vì vậy, người ta còn gọi chất xúc tác này là chất xúc tác bất tử (The Immortallity Enzyme). Các nhà khoa khọc hy vọng là có thể ứng dụng những thành quả nghiên cứu về Telomerase vào con người trong những thập niên đầu của thế kỷ này, đặc biệt trong lãnh vực tái tạo các tế bào mầm (stem cells) hữu ích. Như vậy, chúng ta có thể hy vọng đón những tin vui về trường sinh bất lão trong thế kỷ mà chúng ta đang sống. Chuyện "đi thăm bạn gái" hoặc "bồ nhí" mấy trăm năm sau e không chừng trở thành sự thực.
Trong khi chờ đợi thuốc trường sinh bất lão (chắc chắn không phải là cái đồ "dỏm" làm chết sớm "Viagra"), mời quý vị và các bạn hãy xem ngài Thống đốc California, Arnold Schwarzenegger đã làm cái trò gì trong vai Hercules tại New York?!
Kính chúc quý vị và các bạn Năm Mới vui vẻ,
Kình Dương Đạo Nhân
Hercules In New York

Click vào chữ PLAY để xem phim trực tiếp trên Youtube
02/17/10. 01:29:15 am. 479 words, 610 views. Categories: Không ðề, Nghệ thuật sân khấu và phim ảnh, Video tếu, Những chuyện ỡm ờ, Liên kết blogs, Viễn tưởng hay giả tưởng ,
