Category: Chuyện vui
PHẢI CHĂNG DÂN TÂY ĐANG TRƯƠNG CỜ VÀNG BIỂU TÌNH ỦNG HỘ VIỆT NAM CỘNG HÒA

Raw Video: Spanish Protesters Demand Autonomy - Các người Tây Ban Nha biểu tình đòi quyền tự trị

AssociatedPress | July 10, 2010
Hơn 1 triệu người biểu tình hôm Thứ Bảy 10/7/2010 ở vùng đông bắc Barcelona để đòi quyền tự trị rộng rãi hơn cho Catalonia, và phản đối lại phán quyết của tòa án Tây Ban Nha ngăn cấm vùng Catalonia trù phú và thịnh vượng này tự gọi mình là một quốc gia. Thoạt trông cờ cứ tưởng là dân Tây đột nhiên biểu tình ủng hộ Việt Nam Cộng hòa và Phong trào Cách Mạng Quốc gia, nhìn kỹ té ra dân Tây may cờ sọc nhiều quá, hơn phe ta một sọc. Thì ra đông Tây cũng có những chọn lựa khá giống nhau, trừ mấy anh cộng sản thì chỉ thích nền cờ màu máu để cho tăng thêm phần háo thắng háo sát đã có sẵn trong bản chất của người cộng sản!!!
07/11/10. 08:07:43 am. 237 words, 3026 views. Categories: Góp nhặt, Thiên hạ sự, Tin tức ðó ðây, Chuyện vui, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn, Vòng quanh thế giới, Chuyện lạ mỗi ngày ,
GÓP NHẶT CHUYỆN ỠM Ờ: THÂN PHẬN ĐỜN ÔNG - CHUYỆN KỲ LẠ VỀ ÔNG MÙ... 11 VỢ
Anh đeo bọc chưa? Em uống tamiflu chưa?
THÂN PHẬN ĐỜN ÔNG
Source: congdongnguoiviet.fr
Gã Siêu
Việt Nam vừa mới trải qua cơn đại dịch cúm gà. Không phải chỉ có gà mà thôi đâu nhé, nhưng còn có cả những loại gia cầm khác, như vịt, ngan, ngỗng…Hơn thế nữa, không phải chỉ có gia cầm mà thôi đâu nhé, nhưng còn có cả những loại chim chóc sống trên rừng cũng như sống trong lồng. Ở đâu dịch bệnh xuất hiện, thì ở đó lập tức mọi gà vịt…đều bị thu gom đem chôn hay đem đốt trong đường bán kính ba cây số.
Thiệt hại do dịch bệnh này gây nên lên tới hàng mấy chục triệu đô la, ấy là chưa kể tới gần hai chục mạng người phiêu diêu miền cực lạc vì bị lây nhiễm.
Ngoài ra, dịch bệnh này còn tạo nên những tình huống giở khóc giở cười, giở mếu máo, gã xin ghi lại để nhỡ lần sau gặp phải thì còn biết đường che chắn, chứ đừng kín trước, hở sau.
Thứ nhất, thật tội nghiệp cho những gia đình nghèo. Vợ chồng và con cái làm lụng quần quật, chắt chiu bao nhiêu năm tháng mới gầy được một đàn vịt đẻ. Vào một buổi sáng đẹp trời, đàn vịt đẻ đang tung tăng bơi lội dưới ao, thì bỗng cán bộ thú y đến và phán:
- Vùng này mắc... dịch.
Và thế là a-lê-hấp, tóm cổ toàn bộ đàn vịt đẻ, cho vào bao tải mà đem đi chôn. Mặc cho đàn vịt đẻ giãy giụa kêu la:
- Cạc, cạc, cạc...
Vợ chồng và con cái chỉ còn biết đứng há hốc miệng mà trông theo đến độ ứa cả nước mắt. Không biết ngày mai sẽ ra sao, nếu không còn những đồng tiền bán trứng.
Thứ hai, thật tội nghiệp cho những người nuôi chim kiểng. Khi lệnh đã được ban ra, thì tất cả những loài chim quí hiếm này cũng đều phải chịu chung một số phận như gà với vịt mà thôi.
Báo “Tuổi Trẻ Chủ Nhật” số 1065 ra ngày 08.02.2004 có đăng một mẩu chuyện ngắn mang tựa đề “Tiếng gọi của con chim sáo” của tác giả Bích Ngân, đại khái như thế này:
Sau nhiều năm tháng vừa học vừa làm, hai vợ chồng trẻ dốc toàn bộ vốn liếng mới thành lập được một trại gà nho nhỏ. Khi trại gà vừa mới ra lò thì anh chồng đột ngột qua đời. Trại gà liên tục phát triển vừa đúng một năm thì xảy ra dịch cúm. Thế là toàn bộ số gà nuôi trong trại đều bị cán bộ đến bắt và mang đi chôn, chỉ còn lại một con chim sáo.
Hôm nay, chị vợ tổ chức lễ giỗ đầy năm cho anh chồng và cũng để nhớ tới đàn gà thân thương của mình đã bị…ngỏm củ tỏi. Đang lúc thắp nén nhang tưởng niệm, thì chị vợ bỗng giật mình vì nghe thấy tiếng nói quen thuộc:
- Hằng ơi, anh yêu em lắm.
Đó là tiếng nói của con chim sáo. Tiếng nói ấy khiến chị vợ cảm thấy như hồn anh chồng đã nhập vào nó. Thế nhưng cùng lúc đó, anh cán bộ thú y xuất hiện và bảo cho chị hay:
- Cả chim sáo cũng phải hủy diệt.
Suốt đêm, chị vợ trằn trọc không tài nào ngủ nổi. Cuối cùng, chị vợ quyết định mở lồng trả tự do cho con chim sáo. Và khi anh cán bộ đến, chị nói:
- Đêm hôm qua, con chim sáo nhà tôi đã bị mèo vồ mất rồi.
Chị vừa dứt lời, thì một giọng nói vang lên:
- Hằng ơi, anh yêu em lắm.
Thì ra đó vẫn là giọng nói của con chim sáo. Mặc dù được tự do, nhưng con chim sáo không nỡ rời xa chủ, nó bay vào kẹt tủ. Và bây giờ nó lên tiếng nói. Tiếng nói của nó là như một lời tố giác:
- Lạy ông tôi ở bụi này.
Và anh cán bộ thú y chỉ cần thò tay ra, chụp lấy và nhét vào bao. Còn chị vợ đứng nhìn. Những giọt nước mắt nóng hổi rơi trên gò má lúc nào cũng chẳng hay.
Và để an ủi cho những khổ chủ, cũng như bù lỗ phần nào những thiệt hại, nhà nước đã qui định như sau:
- Gia cầm đẻ, mười lăm ngàn đồng một con.
- Gia cầm thịt, năm ngàn đồng một con.
- Trứng, hai trăm đồng một quả.
- Thức ăn gia cầm, ba ngàn đồng một ký.
*********************************************
Có một anh chàng cắm dùi tại Vĩnh Long, chuyên nghề gây gà nòi để mang đi đá. Sau nhiều năm lăn lộn trong nghề, anh ta đã huấn luyện được một chú gà nòi, bách chiến bách thắng. Đá đâu thắng đó. Đá nhớn thắng nhớn, đá nhỏ thắng nhỏ, càng đá càng thắng. Có thể nói được rằng chú gà nòi của anh ta thuộc hàng bất khả chiến bại, nổi tiếng khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Một ông phú hộ ở tận Lâm Đồng, cũng là dân mê đá gà, đã chấp nhận mua chú gà nòi của anh ta với gía hai mươi triệu đồng. Mặc dù tiếc đứt ruột, nhưng anh ta vẫn chấp nhận mang chú gà nòi đi bán, vì gia đình đang gặp phải nhiều khó khăn về tiền bạc.
Sáng hôm ấy, anh ta hí hửng ôm chú gà nòi đem trao cho chủ mới. Thế nhưng, khi xe vừa mới qua khỏi Long An, thì liền bị công an ách lại, tịch thu chú gà nòi vì đã có lệnh cấm di chuyển và mua bán gia cầm. Thế là anh ta phải trở về nhà với hai bàn tay trắng, rồi sau đó phát khùng, phát điên.
*******************************************
Nhìn vào bảng giá bù lỗ, gã bỗng cảm thấy tủi phận bởi vì gia cầm đẻ giá những mười lăm ngàn, còn gia cầm thịt giá có năm ngàn. Như vậy có nghĩa là một chị gà mái giá mười lăm ngàn, còn một anh gà trống chỉ có năm ngàn mà thôi. Mái gấp ba lần trống. Từ đó, nhân rộng ra trong xã hội hôm nay, quả thực đờn bà quí giá hơn đờn ông, không phải chỉ gấp ba, mà còn gấp bốn, gấy bảy và gấp…bội lần.
Viết tới đây, gã bèn nhớ tới một câu “ranh ngôn” xác định bậc thang giá trị ở phương tây, vốn thường được quí ông thở dài não nuột mà nhắc tới như để ý thức về thân phận bèo bọt và răn đe cho chính mình:
- Thứ nhất là trẻ nít,
- Thứ hai là đờn bà,
- Thứ ba là chó con,
- Rồi thứ bốn mới tới đờn ông.
Như vậy, phe đờn ông con giai từ xưa vốn đã vỗ ngực tự hào mình là “bậc tu mi nam tử”, thì bây giờ hãy cúi đầu xuống như muông chim, bởi vì mình chỉ nằm vào hàng bét giem, hàng chót hết của bậc thang giá trị mà thôi, thua cả chó con. Đúng như các cụ ta đã cay cú:
- Ba đồng một mớ đờn ông,
Đem về mà bỏ vào lồng cho kiến nó tha.
Ba trăm một mụ đờn bà,
Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi.
Thân phận cánh đờn ông con giai vốn dĩ đã đen như mõm chó. Thế nhưng, để sống cho đúng cái thân phận bẽ bàng của mình lại càng khó hơn, nhất là đối với những anh chàng đã trót dại kéo theo một cái “rờ mọc” là bà xã dấu yêu, sở dĩ như vậy bởi vì đờn bà con gái mãi mãi vẫn là một mầu nhiệm, mãi mãi vẫn là một nghịch lý, mãi mãi vẫn là một sự ngược đời và tréo cẳng ngỗng. Gã xin đưa ra những trường hợp cụ thể, trong đó những anh chồng ở vào cái thế việt vị, bất nhóc nhách, tiến thoái lưỡng nan.
Trường hợp thứ nhất, đó là có những anh đờn ông luôn chăm chú việc nhà, làm tất tật mọi sự mà chẳng hề quản ngại, hay nề hà chi cả, từ sửa chiếc ghế gãy đến thổi cơm và may vá, đúng như tục ngữ đã nói:
- Làm trai rửa bát quét nhà,
Vợ gọi thì dạ: bẩm bà…em đây.
Thế nhưng, xem ra các chị đờn bà lại không ưa týp đờn ông mềm nhũn này là mấy, bởi vì phần lớn các chị thường mơ ước người yêu lý tưởng của mình phải là người có quyền có thế, phải là người xốc vác, dám đương đầu với mọi cơn gian nan thử thách, cũng như dám gánh vác những công việc lớn lao ngoài xã hội, trở thành một điểm tựa vững chắc cho mình nương nhờ. Người yêu lý tưởng ấy đã được tục ngữ mô tả:
- Làm trai cho đáng nên trai,
Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài yên.
- Làm trai quyết chí tang bồng,
Sao cho tỏ mặt anh hùng mới cam.
Tuy nhiên, quyền thế không phải là một quà tặng từ trời rơi xuống, không phải là một thứ tình cho không biếu không, nhưng là kết quả của biết bao nhiêu phấn đấu, của biết bao nhiêu bon chen, thậm chí của cả biết bao nhiêu luồn lách mới leo lên được ghế nọ ghế kia.
Trong khi phấn đấu, bon chen, luồn lách như vậy, anh đờn ông thường tất bật ngược xuôi, bận rộn với hàng đống công việc, thành thử chẳng còn thời giờ dành cho vợ cho con. Điều này thì chẳng chị đờn bà nào ưa cả, bởi vì anh chồng phải là của riêng mình, trọn vẹn “chăm phần chăm”, không được chia sớt một ly ông cụ nào cả.
Cũng trong chiều hướng đó, các cụ ta ngày xưa thường bảo:
- Nhàn cư vi bất thiện. Sự nhàn rỗi vốn là nguyên nhân sinh ra những thói hư tật xấu.
Vì nhàn rỗi, nên mấy anh đờn ông mới tụ họp đàn đúm rồi tổ chức ăn nhậu với nhau. Nhậu đến độ ngoắc cả cần câu, nhậu đến độ quên cả đường về. Nhậu đến độ sáng xỉn, chiều say và cả tối lăn cũng quay.
Vì nhàn rỗi, nên mấy anh đờn ông mới tụ họp, gây sòng đỏ đen với nhau. Ngày xưa thì tổ tôm, xóc đĩa. Ngày nay thì xì phé, sập xám, cá độ bóng đá…nhiều khi mất toi cả cơ đồ, sản nghiệp:
- Cờ bạc là bác thằng bần,
Áo quần bán hết, ngồi trần tô hô.
- Cờ bạc là bác thằng bần,
Ruộng nương bán hết, chôn chân vào cùm.
Dưới mắt các chị đờn bà thì những anh đờn ông nào quá rảnh rỗi, hay nói đúng hơn, những anh đờn ông nào quá lười biếng, chẳng dám động tay vào bất cứ công việc gì, chỉ thích làm dám đốc, dám xúi mà lại chẳng dám làm, những anh đờn ông nào trói gà không chặt, dài lưng tốn vải ăn no lại nằm….tất cả chỉ là hạng vô tích sự mà thôi.
Các chị thích ngắm nhìn những anh đờn ông bận rộn và say mê với công việc. Tuy nhiên, nếu bận rộn và say mê đến độ quên cả vợ lẫn con, thì các chị lại chẳng thích tí nào. Ngoài ra, còn trở nên một mối nguy hiểm đe dọa sự ổn định và tồn tại của gia đình.
Kinh nghiệm cho thấy: Thượng đế đã dựng nên người đờn bà để yêu và để được yêu. Nơi họ, trái tim nắm giữ địa vị ưu tiên, cũng như chiếm lấy vai trò số một. Họ không thể nào chấp nhận bị quên lãng.
Không ít chị vợ đã hậm hực tức tối khi thấy anh chồng mê bóng đá hơn mê chính mình. Một chị vợ đã tâm sự như sau:
- Vào những ngày nghỉ cuối tuần, mình chỉ mong anh ấy ở nhà để chia xẻ tâm sự và sống riêng với nhau, thế mà anh ấy vẫn cứ đi biệt, mất tăm mất tích. Không lao vào công việc thì cũng ngồi xòe hay ăn nhậu với các chiến hữu, tới tận sáng thứ hai mới vác xác về thì làm sao mà chịu nổi. Mình chỉ mong tìm lấy một bờ vai để tựa đầu mà cũng chẳng có.
Rất nhiều cuốn phim đã mổ xẻ về đề tài này và thường dẫn tới một kết quả không mấy sáng sủa, đó là đổ vỡ tan tành.
Chẳng hạn anh chồng là một bác sĩ, ban ngày thì miệt mài làm việc trong phòng thí nghiệm, ban tối về tới nhà lại chăm chú đọc sách, hết ngâm kíu này tới ngâm kíu khác. Mặc cho chị vợ đi vào giấc ngủ cô đơn. Và thế là chị vợ bèn tìm cách trả thù bằng cách tìm một anh bồ nhí, để giải khuây và lấp đầy những khoảng trống cho bõ ghét.
Chẳng hạn anh chồng là một cảnh sát tận tụy với nghề nghiệp của mình. Ngày nghỉ có lệnh, cũng đi. Giữa đêm có điện thoại, cũng lập tức lên đường xuất phát. Mặc cho chị vợ luôn sống trong cảnh phập phồng lo sợ. Và cuối cùng chị vợ đành phải ca bản anh đi đường anh, tôi đi đường tôi, tình nghĩa đôi ta chỉ có thế thôi.
Trường hợp thứ hai, đó là có những anh đờn ông vui vẻ chấp nhận chung sống cùng cái nghèo theo kiểu:
- Người quân tử ăn chẳng cầu no, mặc chẳng cầu ấm.
Hình như không bao giờ có được một đồng xu dính túi:
- Việc nhà phó mặc cho bu nó,
Quắc mắt khinh đời cái bộ anh.
Dưới mắt các chị đờn bà, những anh đờn ông loại này cũng chỉ là hạng vô tích sự, thậm chí còn được phong làm chuyên viên “bám váy vợ”. Các chị thường thích những anh đờn ông giỏi kiếm tiền. Trong những lúc riêng tư, các chị vốn hay chì chiết, đay nghiến và day dứt những anh chồng dốt kiếm tiền như sau:
- Khốn khổ thân tôi lấy phải thằng chồng ngu ơi là ngu. Chồng người ta kiếm tiền như nước đem về nuôi vợ nuôi con. Còn anh thật là vô công rồi nghề. Sản nghiệp này đều do một mình tôi mà có. Rời cái tay tôi ra ấy hả, lập tức cái nhà này tiêu tùng liền.
Kinh nghiệm cũng cho thấy: người ta thường lấy tiền để nhử đờn bà, người ta thường lấy đờn bà để nhử đờn ông và người ta thường lấy đờn ông để nhử…ra tiền. Đúng là một cái vòng lẩn quẩn.
Thế nhưng, tiền nhiều bạc lắm lại nảy sinh ra những hệ lụy mà chẳng chị đờn bà nào muốn. Đúng vậy, khi còn hàn vi, anh đờn ông thường chí thú mần ăn, trung thành với vợ và chăm chỉ với con. Thế nhưng, khi tiền bạc đã rủng rỉnh thì lại thường hay “rửng mỡ”. Và cái thói rửng mỡ này thiên biến vạn hóa đến quỉ thần cũng không lường nổi.
Có anh thì sau một ngày làm việc, thân thể bãi hoải, bèn phải đi tắm hơi một phát hay đi tìm mấy em vừa xoa lại vừa bóp, vừa mát xa lại vừa mát gần, nói một cách văn vẻ là đi “vật lý trị liệu”.
Có anh khi nhậu thì hay ngứa tay ngứa chân, bèn phải gác nhờ lên bờ vai hay cặp đùi của các em. Thậm chí còn táy máy chỗ này chỗ nọ.
Có anh lại cứ đinh ninh:
- Vợ người thì đẹp, văn mình thì hay.
Thế nên bèn kết mô đen với một cô bồ nhí theo kiểu chán cơm nhà thì vác tù và mà đi ăn phở.
Hơn thế nữa, như trên gã đã trình bày: người ta thường lấy tiền để nhử đờn bà. Những anh đờn ông rủnh rỉnh tiền bạc sẽ trở thành như một đốm lửa, khiến cho nhiều bà nhiều cô nhòm ngó và đeo bám, sẵn sàng hóa kiếp thành những con thiêu thân lao mình vào lửa. Chẳng thế mà bây giờ, mấy anh Việt kiều hay mấy ông Đài Loan xếnh xáng bỗng trở nên có giá trên thị trường hôn nhân. Điều này hẳn quí bà quí cô ghét cay ghét đắng ghét vào tận lái tim!!!
Trường hợp thứ ba, đó là có những anh đờn ông thích sống lặng lẽ như một chiếc bóng. Không hào quang. Không tỏa sáng. Sẵn sàng đếm từng bước chân âm thầm của mình trên những sỏi đá cuộc đời.
Dưới mắt các chị đờn bà hạng đờn ông này chỉ là như một thứ cơm nếp nhão, khiến họ ngán đến tận cần cổ. Các chị thích ông xã của mình phải có tiếng có tăm, khiến cả và thiên hạ phải tâm phục khẩu phục và các chị cũng được thơm lây.
Đúng thế, làm đờn bà con gái thế mà sướng. Hôm qua mình chỉ là cái Tèo, cái Mít. Thậm chí còn mang thân phận “ô-sin”, phải đi ở đợ làm đầy tớ cho thiên hạ…nửa chữ cắn đôi sợ cũng chưa thông, thế mà hôm nay bỗng nghiễm nhiên trở thành bà bác sĩ, bà kỹ sư…mà chẳng cần phải chăm chỉ học hành hay vất vả bon chen chi cho mệt.
Thế nhưng, tiếng tăm của anh đờn ông đôi lúc khiến các chị vợ cũng phải thất điên bát đảo, mất ăn mất ngủ, bởi vì một khi được ngưỡng mộ, anh đờn ông sẽ trở nên như một thỏi nam châm thu hút được sự chú ý nhiều người phụ nữ khác, khiến họ mê tít thò lò, hay ít nữa anh ta cũng trở thành người của quần chúng, chứ không còn là riêng của chị vợ nữa. Những điểm này các chị vợ muốn tống khứ đi càng sớm càng tốt.
Và sau cùng, trường hợp thứ tư, đó là có những anh đờn ông cù lần cù lèo, như chàng hai lúa miền quê.
Loại đờn ông này xem ra không đủ sức làm cho các chị vợ nở mày mở mặt cùng bá quan văn võ. Các chị thường ưa thích những anh chồng vừa đẹp trai, lại vừa hào hoa phong nhã. Thế nhưng sự hào hoa phong nhã này lại thường là đầu mối gây nên khổ đau.
Thực vậy, làm sao các chị có thể chịu đựng nổi anh chồng lúc nào cũng mỉm cười mần duyên hay liếc mắt đưa tình với những cô gái khác.
Có lẽ phe đờn ông con giai nên ghi tâm khắc cốt và phải thuộc nằm lòng cái nguyên tắc căn bản này, đó là ở mọi nơi và trong mọi lúc, nếu có ga lăng thì chỉ được phép ga lăng với một mình bà xã mà thôi. Bằng không, thì tẩu hỏa nhập ma, cơn giận bốc lên đùng đùng…lúc đó bà xã sẽ biến thành bà chằng, hay bà chi chi nữa, thì chỉ có trời mới biết.
Tóm lại, thân phận anh đờn ông con giai vốn dĩ đã rẻ như bèo, thế mà sống đúng cái thân phận bèo bọt ấy lại chẳng dễ tí nào, bởi vì:
- Bằng lòng với số phận phó thường dân, trên răng dưới các tút cũng chẳng xong, mà có quyền có thế cũng chẳng ổn.
- Hàn vi không một đồng xu dính túi cũng chẳng xong, mà có tiền có bạc cũng chẳng ổn.
- Vô danh tiểu tốt cũng chẳng xong, mà có tiếng có tăm cũng chẳng ổn.
- Cù lần cù lèo theo kiểu hai lúa cũng chẳng xong, mà hào hoa phong nhã cũng chẳng ổn.
Làm đờn ông con giai quả là khó lắm vậy thay. Vì thế, gã bèn thầm thĩ nguyện cầu cho phe ta:
- Kiếp sau xin chớ làm chồng,
Làm cây thông đứng mà trông….qưới bà!!!
Tác giả: Chuyện Phiếm của Gã Siêu (gasieu@gmail. com)
**************************************************************************

Huy hiệu đa thê ở Utah
CHUYỆN KỲ LẠ VỀ ÔNG MÙ... 11 VỢ
Source: Gia đình & Xã hội
Ông là một nông dân nghèo độc nhất. Từ nhỏ đôi mắt đã không được tỏ tường. Nhưng, ông đã lập một "chiến tích" hết sức tiêu cực là lấy 11 bà vợ và có đến 24 người con.
Mọi người nói, đây có thể là người đàn ông lập kỷ lục Việt Nam về việc vi phạm luật Hôn nhân gia đình và chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình.
Người mù và hành tung bí ẩn
Đến xã Quang Minh (huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc) hỏi ông Nguyễn Văn Sơn ở thôn Chi Đông thì ai cũng chỉ đường vanh vách. Bởi ông là người “nổi tiếng”. Thậm chí, khi hỏi đường, nhiều người còn hỏi với theo: “Nhà báo à? Đến gặp ông ấy để làm... Chuyện lạ Việt Nam à?”.
Hỏi mãi rồi tôi cũng tìm tới nơi ông ở, đó là ngôi nhà tuềnh toàng ở tận cùng con ngõ nhỏ cuối thôn. Thế nhưng, bởi không hẹn trước nên sáng ấy, công tôi hoá dã tràng. Ông đi vắng. Người nhà ông bảo, ông đã ra khỏi nhà thì đừng nói chuyện tìm, bởi tìm như thể tìm chim, hành tung của ông ngẫu hứng và bí ẩn. Chẳng ai có thể biết ông đi đâu, tạt ngang, tạt ngửa ở “cơ sở” nào! Nước tốt nhất là về và cho gia đình cái hẹn.

Ông Nguyễn Văn Sơn. (Ảnh: Đào Tuy)
Lần sau, đúng hẹn, tôi sang. Để chắc ăn, trước khi đi, tôi điện, dặn ông ở nhà đợi khách. Thế nhưng, nghe máy, người nhà ông bảo, chẳng biết việc làng hay bà lẽ nào có chuyện nên ông đã đi từ sáng sớm. Tuy thế, trước khi ra khỏi nhà ông đã dặn: “Khách đến, cứ chờ. Gần trưa ông sẽ về!”. Tôi đành ngồi đợi.
Nhà ông như ong vỡ tổ. Chẳng là làng đang có hội, các cháu ông khắp nơi túa về chơi, nô đùa.
Đợt rét vừa qua quá khắc nghiệt, ruộng mạ gia đình ông cấy hỏng cả. Nắng ấm lên đành phải gieo lại. Việc ấy, bà cả đang cùng với mấy cô con dâu lúi húi làm ngoài sân. Đông người làm nên chỉ loáng cái là khoảng sân gạch trước nhà đã được phủ một lớp bùn đen kịt. Mất chỗ chạy nhảy, bọn trẻ con láo nháo đành dồn cả vào nhà, chí choé nô đùa. Ba gian nhà ngói bỗng trở nên chật chội. Nhức óc đinh tai!
Nhìn thấy ổ gà, chướng ngại vật bằng... não
Đúng hẹn, gần trưa ông về. Xe đạp phanh két trước cửa. Sự xuất hiện của ông trên chiếc xe đạp khiến tôi không khỏi ngạc nhiên. Mắt ông thế thì đi bộ còn khó huống chi vi vu xe đạp?! Thấy sự ngạc nhiên của tôi, mọi người trong nhà ùa vào lý giải: “Từ xưa tới giờ, 50 năm có lẻ, đi đâu ông vẫn dùng xe đạp!”.
Nghe mọi người nói thế, ông cũng vội khoe luôn cái biệt tài của mình. Ông bảo, ông có trực giác và trí nhớ rất tuyệt vời. Đường trong huyện, thậm chí đường lên tỉnh, ông chỉ cần đi một lần là nhớ từng ổ gà, khúc cua ngoắt nghéo. Nhớ chi tiết rồi thì cứ xe đạp, chầm chậm ông đi, không lạc bao giờ.
Ra đường, bởi mắt không còn trông thấy gì nên ông phải “tham gia giao thông” bằng đôi tai rất thính của mình (như thể tai ông được gắn camera và chíp điện tử để phân tích thông tin). Ông bảo, nghe tiếng máy nổ là ông nhận biết được mình sắp gặp ô tô hay xe máy. Căn cứ vào những gì nghe được ông sẽ đưa ra cách tránh, né an toàn. Đến bây giờ, sau nhiều năm dùng tai thay cho đôi mắt, ông còn có thể nhận biết, chiếc xe máy đang chạy trước mặt mình là xe của... Tàu hay Nhật.
Tuy trực giác siêu phàm vậy nhưng cũng đã vài lần ông gặp nạn. Đang bon bon bỗng gặp một chiếc xe chết máy giữa đường. Đâm! Khi đi thì con đường nhẵn nhụi, phẳng phiu, khi về thì bởi “vấn nạn đào đường”, ông “sập bẫy”. Bởi những “sự cố hi hữu” ấy mà đã có lần ông phải nhập viện. Tuy thế, ông vẫn chẳng chừa. Vẫn phải đánh đu với xe đạp vì phải nay chỗ này, mai chỗ khác tong tả thăm nom các bà vợ của mình.
Hỏng mắt, vẫn được làm... “quan chức Nhà nước”
Ông Sơn sinh năm 1946 trong một gia đình bần nông. Năm lên hai tuổi, ông bảo, phải vía trời, mắt trái ông bỗng dưng hỏng hẳn. Mắt phải cũng từ ngày ấy mà mờ dần đi, đến khi trai tráng thì tối hẳn.
Khi ấy chiến tranh, neo người, nên dù không còn đôi mắt, ông vẫn xin được thoát ly, làm ở ngành đường sắt. Không nhìn thấy lại hoá hay, bởi khi còn làm nhà nước hay sau này về quê làm dân công, ông đều được chỉ định làm tổ trưởng (mọi người đùa vui: Cũng là quan nhà nước)
Anh em sáng mắt thì lao động trực tiếp, tổ trưởng không thấy gì thì “ăn khâu”... chỉ đạo. Như bao gia đình thôn quê khác, năm ông vừa tròn 20 tuổi, bố mẹ đã... ép duyên, cưới cho ông một cô gái ngoan hiền ở trong xã.
Về phép, thấy bố mẹ đã... tự ý lấy vợ cho mình, ông giận, chẳng nói chẳng rằng đùng đùng bỏ đi. Lên xí nghiệp ở lì tại đó, gần 1 năm sau ông mới chính thức... lấy vợ cho mình.
“Giăng lưới” được nữ sinh duyên dáng
Người khiến trái tim ông loạn nhịp là bà Nguyễn Thị Lan, khi gặp ông, tuổi mới 15 trăng tròn. Tình yêu thật khó lý giải, vướng vào rồi thì chẳng khác nào dính phải bùa lú thuốc mê. Khi ấy, ông là một người tật nguyền còn bà Lan là một nữ sinh duyên dáng. Thêm nữa, bà lại là người Hà Nội, chỉ bởi nhà có người làm cùng xí nghiệp ông mà một vài lần lên thăm đã mắc phải bùa yêu. Khuyên can chẳng được, thôi thì đũa lệch so vừa, gia đình bà Lan đành cho đôi trẻ nên duyên nên lứa.
Hơn một năm sau bởi cảnh nhà neo người, ông xin thôi không làm ngành đường sắt nữa, đưa vợ con về quê sinh sống. Về đến nhà, bữa cơm đầu tiên, phát hiện ra mình chỉ là vợ bé, bà Lan giận, tu tu khóc bỏ về Hà Nội.
Cũng thời gian ấy, sống chung một mái nhà, tìm hiểu, thấy hoàn cảnh cô vợ mà bố mẹ cưới cho éo le, ông đã động lòng trắc ẩn. Thôi thì duyên trời đã định, ông đành chấp thuận nghe theo. Nhưng với bà Lan, chả hiểu sao, ông vẫn thường xuyên qua lại như vợ chồng.
Hôn nhân 3 tháng
Về nhà, ông bôn ba với đủ mọi thứ nghề, miễn sao là ra tiền, ra thóc để nuôi vợ, nuôi con. Trong một chuyến tàu buôn từ Phú Thọ về, bà thứ ba đã xuất hiện.
Bà tên là Hoàng Thị Chuyền, quê ở xã Thanh Lâm, cùng huyện Mê Linh, kém ông 1 tuổi. Bà Chuyền là người lận đận về đường tình duyên. Gặp nhau trên chuyến tàu chợ chật chội ấy, chẳng biết khám phá ở ông điều gì hấp dẫn mà bà đã xiêu lòng.
Quái lạ thay, tình yêu này vẫn nhận được sự đồng ý của hai bên gia đình. Tuy thế, với ông, đó là hôn nhân ngắn nhất trong đời. Ông quen bà hồi tháng 10 thì đến tháng giêng năm sau, bởi thấy hai bên phát sinh những tính nết không hợp nhau, nên ông đã quyết định đôi đường đôi ngả. Tuy nhiên, chỉ với 3 tháng sống với nhau, mối tình ngắn ngủi và vi phạm Luật Hôn nhân gia đình ấy cũng kịp có kết quả. Ông đã có với bà một mụn con.
Năm 1973, bà thứ tư lại xuất hiện. Bà tên Vương Thị Xuân, quê gốc ở Bình Định, theo cha là cán bộ kháng chiến tập kết ra Bắc. Hai người gặp nhau ở ga Gia Cẩm ( Phú Thọ ).
Cảm thấy sống “không thể thiếu nhau” nên ông đã về thuyết phục gia đình đem lễ đến hỏi. Và cái gia đình lạ lùng này lại đồng ý. Có với nhau một cô con gái thì bà Xuân theo bố mẹ vào Nam . Từ dạo đó, bởi đường xá xa xôi, hai người đã không còn qua lại nữa. Tuy nhiên, mấy năm trước, biết tin cô con gái lấy chồng, ông cũng lặn lội vào tận nơi để dự đám cưới.
Chuyến buôn... trâu và người vợ 14 tuổi
Cưới bà Xuân được đúng 3 năm thì “trái tim tội lỗi” của ông lại run lên bần bật khi nhìn thấy một người phụ nữ khác.
Bà thứ năm, tên là Nguyễn Thị Xâm cũng là người cùng huyện. Bà Xâm trẻ lắm, ngày gặp ông mới hơn 14 tuổi đầu. Nhà quê lam lũ lại ốm đau, quặt quẹo luôn nên bà trông già trước tuổi.
Ngày ấy, ông đi buôn trâu, thấy bà, ông Sơn nên đã đem lòng... dan díu. Đến với nhau từ năm 1976 và có với nhau 2 mặt con nhưng phải mãi đến năm 1990 ông mới “hợp lý hoá” được mối quan hệ ấy. Thường thì mỗi bà khi muốn “sống là người nhà ông, chết làm con ma nhà ông” thì đều được ông làm lễ cưới, hỏi. Tất nhiên, tuỳ hoàn cảnh, nên cỗ bàn chỉ gọi là báo cáo với họ hàng nhưng phần “nghi lễ” thì ông vẫn làm đầy đủ. Suốt những năm ấy, bởi bù đầu với việc kiếm ăn, ông đành để bà Xâm sống cảnh thiệt thòi. Đầu năm 1990, khi công việc đã tạm ngơi tay, ông đã bảo bà cả sắm lễ đến, chính thức hỏi bà Xâm làm vợ. Hôm ấy, nhà ông làm hẳn 10 mâm cơm, xóm làng, họ mạc đến, liên hoan vui đáo để.
Ông kể, khi lấy mấy bà vợ đầu thì còn có người phản đối, điều ong tiếng ve này nọ. Cưới đến bà thứ 5 thì chẳng ai còn có ý kiến gì nữa. Có lẽ, tất thảy mọi người trong làng, đều nghĩ rằng ông đã mù lòa nên có làm việc gì thì cũng không chấp.
Bà thứ sáu, ông đón về vào năm 1978. Bà ở thôn Đường Lệ, xã Đại Thịnh, cũng huyện Mê Linh. Ông quen bà cũng từ một lần đi chợ. Bà đi bán rau về, gặp ông nên mời vào nhà chơi. Vào mới biết hoàn cảnh nhà bà túng quẫn, khó khăn trăm bề. Qua lại một vài lần, bà này mạnh dạn: “Anh có thương thì trở đi trở về qua lại. Đời em cơ cực đã nhiều, chỉ mong một chỗ dựa về sau!”.
Được nhời như cởi tấm lòng, cái “tính quen thuộc” của ông trỗi dậy. Tuy thế, mối tình ngang trái này cũng đi đến kết cục chẳng ra làm sao. Có với nhau một mặt con, năm 1984, ông bà đã đường ai nấy đi bởi tính nết mỗi người một khác.
Chồng mù với vợ què, vợ hen
Chia tay bà thứ sáu được đúng 3 ngày thì ông gặp bà thứ bảy. Theo cái lý lạ lùng của ông, “đó là người phụ nữ gặp nhiều bất hạnh, ông không thể không thương”. Bà Ngải, tên bà thứ bảy, bị bom đánh mất một cánh tay từ tấm bé. Cũng như những bà trước, ông đem lễ đến xin. Lần này, khó khăn bởi gia đình nhà gái nằng nặc từ chối. Lý do, không phải vì ông đã có nhiều vợ mà bởi họ bảo: “Chồng mù, vợ què không được”. Thế nhưng, lần lữa mãi thì trời cũng đành phải chịu đất bởi “gạo đã nấu thành cơm”, “ván đã đóng thành thuyền”, “mầm sống” đã “sinh sôi”. Có con, ông cứ đón bà về và sau cùng, khó tính mấy thì “nhà gái” cũng phải gật đầu ưng thuận.
Bà Ngải ở thôn Tráng Việt, xã Tráng Việt (Mê Linh). Và những lần qua lại thôn ấy, ông lại thêm vướng lưới tình.
Bà thứ tám đến và sống với ông vừa đủ 20 năm rồi âm dương cách biệt. Bà tên Lê Thị Thân, kém ông 9 tuổi, là người nổi tiếng dịu dàng, phúc hậu. Thế nhưng, trời chẳng cho ai tất cả mọi thứ, đẹp người, đẹp nết nhưng bà lại mắc chứng bệnh hen, khiến trai làng không ai muốn đón về để chung xây tổ ấm.
Lỡ thì, bà gặp ông vậy là lại mắc lưới của “Đông Gioăng”. Theo ông Sơn, khi hai người đến với nhau, bên nhà bà Thân, nhiều người cũng phản đối rầm rầm. Tuy thế có một người đã rất ủng hộ ông, đó là bố đẻ ra bà. Có “chỗ dựa”, ông đã tới tấp tấn công và chỉ ít lâu sau, tất cả mọi người trong gia đình bà Thân đều gật đầu...
11 vợ chưa phải con số cuối cùng...
Theo thời gian, số bà vợ của ông Sơn tăng dần. Đến nay, đã có 11 phụ nữ... phải lòng người đàn ông "đặc biệt" này. Nhưng, không ai dám chắc đó là con số cuối cùng...
“Sự tích” về bà vợ thứ 9, 10,11
“Mối tình” với bà Thân vẫn còn hôi hổi thì ông có thêm bà thứ chín. Bà có cái tên mộc mạc: Nguyễn Thị Tỵ, người ở làng Táo, xã Tiến Thắng, Mê Linh.
Bà Tỵ kém ông đến hơn 20 tuổi, chỉ ngặt nỗi người không được hoạt bát do ít nhiều nhiễm độc da cam từ người bố đi bộ đội. Hoàn cảnh bà Tỵ khó khăn bởi bố mất sớm, mình bà tần tảo sớm hôm chăm sóc mẹ già và đứa em ốm đau, què quặt. Cảnh ấy khiến ông... thương, muốn chung tay, chung sức cùng bà đẩy lùi cam khó (???). Vậy là được sự đồng thuận của hai nhà, ông và bà Tỵ lại thành phu phụ.
“Đã thương thì thương... cho trót” - cái lý của ông Sơn là vậy. Theo lẽ thông thường, người đáng thương phải là ông, nhưng ông luôn cho rằng các bà mà ông muốn lấy làm vợ mới là đáng thương và cần một nơi nương tựa vững chãi - đó là ông (???). Vì thế, ở thôn Đường Lệ, xã Đại Thịnh, nơi bà vợ thứ 6 của ông ở có bà Vũ, cũng hoàn cảnh éo le như bà Tỵ, đã được ông “thương nốt cho trót”. Bố bà Vũ đi kháng chiến, nhiễm độc và để di họa lại cho con. Bà Vũ tuy học hết lớp 6 nhưng cũng chẳng được nhanh nhẹn như người. Ông gặp, “cảm thương số phận hẩm hiu” của bà nên quyết định nên vợ nên chồng. Ông bảo, ông đến với bà thứ 10 là bởi ông thấy mình cần phải có trách nhiệm với người đàn bà tạo hóa không thương ấy (???).
Trò chuyện cởi mở, ông tiết lộ một... bí mật mà ở làng ít người được biết. Đó là việc ông có bà thứ 11 hiện đang sống ở Bình Lục, Hà Nam . Bà này đã có với ông một mặt con và hai người quen nhau từ năm 1967. Khi ấy, ông đi nộp thóc thuế, gặp bà làm ở kho lương thực Phúc Yên. “Tiếng sét ái tình” kỳ quái nổ ra ngay từ lần gặp đầu tiên và người phụ nữ ấy dành cho ông nhiều ưu ái. Ông kể về sự ưu ái đầy tiêu cực ấy rằng, hồi đó, gánh thóc đến kho lương thực nộp, nếu gặp bà thì thóc rối bà cũng gật đầu cho là thóc sạch. “Sướng lắm!” - ông Sơn kể. Sau này, bà về quê Hà Nam sinh sống, bởi xa cách nên ông không thể đem lễ đến hỏi được. Cũng bởi phần lễ nghi này chưa được thực hiện nên dù đã có con với nhau từ lâu nhưng ông vẫn phải xếp bà ở vị trí thứ... 11.
Cái mồm đầy... ma lực
Mắt hỏng, nhưng trông vẻ ngoài ông còn mạnh mẽ lắm. Hỏng mắt, nhưng ông Sơn lại rất khéo ăn khéo nói. Đây cũng là lý do khiến ông vi phạm nặng nề chính sách DS-KHHGĐ và Luật Hôn nhân & Gia đình, nhưng vẫn được các “người tình” chấp thuận về sống kiếp chồng chung.
Cái mồm ông đầy ma lực, chuyện giời chuyện bể ông đều biết cả. Càng ngồi, càng thấy người đàn ông trông bề ngoài chẳng có gì nổi bật ấy... có điểm gì đó hấp dẫn. Ông có khả năng hút hồn người khác bằng những câu chuyện khó tin nhưng có vẻ rất thật của mình. Chuyện ông kể, tuy chẳng có gì lớn lao, chẳng có gì bóng bảy nhưng nó khiến người đối diện thích nghe bởi những tình tiết bất ngờ, bằng chất giọng nghe như quê mùa nhưng vô cùng hóm hỉnh.
Bởi thế, theo “thói quen”, theo cái lý khó chấp nhận được của riêng ông: “thương thì thương cho trót”, nhiều người đã nhận định, với ông, “tình vẫn chưa yên”. Rất có thể một ngày đẹp trời, trên con đường làng quen thuộc hay trên một chuyến tàu chật ních người, gặp một phụ nữ có hoàn cảnh đáng thương, ông lại thêm một lần “sét đánh”. Điều ấy chẳng ai dám chắc là sẽ không xảy ra! Chuyện ấy tế nhị, hỏi ông, ông chỉ cười.
Những khả năng đặc biệt
Ngay khi gặp, tôi không tin là ông Sơn hỏng mắt hoàn toàn. Ông vẫn đi xe đạp và làm nhiều việc như người sáng mắt.
Thế nhưng, sự thật là người đàn ông hỏng mắt hoàn toàn ấy đã làm được rất nhiều chuyện không giống ai mà người sáng mắt cũng phải kinh ngạc. Ông đi buôn trâu, nhưng chỉ cần sờ là biết con trâu ấy tuổi tác, sức khoẻ thế nào. Thậm chí, với đồ gỗ, ông cũng là người sành sỏi. Ông đã giúp những người ít am hiểu về lĩnh vực này chọn được những bộ đồ gỗ chất lượng.
Ông bảo, chỉ cần sờ tay vào vân, thớ gỗ ông cũng có thể nhận biết đó là gỗ gì. Trình độ ấy đã được ông “kiểm nghiệm” qua lần một mình lụi cụi đạp xe về Đồng Kỵ, Bắc Ninh để mua cho gia đình mình chiếc tủ chè mà đến giờ ai vào nhà cũng đều phải trầm trồ khen đẹp.
Ngoài sự nhạy cảm của đôi tay, thì đôi tai và trí nhớ của ông cũng ở mức tuyệt vời. Ở làng, nhiều người mua đài, đầu đĩa cũng phải nhờ đến ông. Dân quê nghèo, làm gì có tiền mà đến cửa hàng, đại lý để mua hàng mới, sản phẩm của những hãng nổi tiếng. Đồ cũ, đồ đã qua sử dụng thì mới có giá mềm. Bởi thế nên họ phải nhờ ông vì chỉ cần nghe tiếng, ông có thế nhận biết những thứ đó của hãng nào, “tuổi thọ” còn được bao lâu. Con ông mua chiếc tivi, về mở, nghe tiếng, chẳng cần hỏi ông cũng biết đó là “đồ Tàu” dù bề ngoài, trông như hàng xịn.
Trí nhớ của ông thì khó người nào sánh kịp. Bởi thế mà trong huyện, đường ngang ngõ tắt ông thuộc như lòng bàn tay. Đến “vùng đất mới”, chưa biết đường, thì chỉ cần có người ngồi sau xe “xi nhan” một lần là khi về, ông đi đâu vào đấy.
Biến “ớt cay” thành “ớt ngọt”
Ông thống kê, tới thời điểm này, ông đã có cả thảy 24 người con. Là con trưởng nên nhà ông nhiều giỗ chạp. Mỗi lần có việc, các bà vợ cùng các con, cháu kéo về chật ních cả nhà. Cỗ bàn bày ra cả chục mâm, ngồi kín trong nhà, nhiều khi còn tràn cả ra sân.
Ớt nào mà ớt chẳng cay, gái nào mà lại chẳng hay ghen chồng! Thế nhưng, trường hợp các bà vợ của ông thì khác. Rất lạ từ trước đến nay giữa các bà chưa từng một lần xảy ra cãi vã, ghen tuông. Điều này đã được mọi người... kiểm chứng.
Cách đây hơn chục năm, bà thứ bảy - Nguyễn Thị Ngải - đã về ở hẳn trên mảnh đất nhà ông. Tuy gọi là ở riêng nhưng chẳng khác nào ở chung bởi hai nhà chung ngõ, chỉ cách nhau bức tường chưa vượt quá đầu người. Mấy lần tôi đến vẫn thấy bà chạy qua chạy lại chuyện trò. Đặc biệt, để ý, thấy bà Ngải với bà cả trò chuyện tíu tít với nhau. Sự thân thiện ấy không chỉ khiến một người lạ là tôi khó hiểu, mà nó còn khiến nhiều người dân ở Chi Đông, nơi ông ở cũng phải mắt tròn mắt dẹt kinh ngạc. Mọi người đã rất băn khoăn bởi không biết ông có phép màu gì hiệu nghiệm khiến hai bà thân nhau đến thế, lúc nào cũng sát cánh kề vai, có nhau trong mọi việc?!
Ông bảo, ông có bí quyết riêng để biến “ớt cay” thành “ớt ngọt”. Khôn ngoan chẳng lọ thật thà, trước khi đồng thuận đến với nhau, ông cứ “lột trần” hết những khó khăn, thuận lợi khi về nhà ông cho các bà nghe. Nếu các bà thực sự hiểu và thông cảm thì mới bàn đến chuyện se duyên kết tóc, không thì “sét đánh” có dữ dội mấy ông cũng “vẫy tay chào”.
“Chiêu” ấy hoá hiệu nghiệm bởi nó như một mũi tên, trúng liền hai đích. Thứ nhất, nó sẽ khiến đối phương nghĩ rằng chỉ những người thật lòng mới có những lời lẽ chân thành đến vậy. Thứ hai, nó giúp ông giải quyết “bài toán” “hậu hôn nhân” sau này. “Bài toán” ấy không dễ hóa giải. Xã hội, ối người chỉ một lần duy nhất lập “phòng nhì” đã phải trả giá đắt. Thậm chí có người còn vào tù cũng chỉ vì mù quáng trong chuyện quyết liệt giữ “mảnh trời riêng” cho mình. Do được “làm công tác tư tưởng” từ trước nên khi lấy ông, “các bà đều biết rõ bổn phận và trách nhiệm của mình” (lời ông khoe). Bởi thế, về nhà ông, các bà vẫn vui vẻ ngồi chung mâm, trong êm ngoài ấm.
Hệ lụy... buồn
Ông Sơn bảo, các con ông ai cũng ngoan hiền bởi có sự chăm chút, dạy dỗ tới nơi tới chốn của ông.
Thế nhưng, điều ông không nói ra nhưng ai cũng biết, đó là: Chúng khổ vì cái sự đa mang kỳ quái của ông. Tối ngày chúng túi bụi với công việc để toan lo cuộc sống thường ngày.
Ông giờ đang ở với người con út, con của bà cả trong ngôi nhà ngói tồi tàn. Anh con út ấy cũng như bao anh em khác của mình, không được học hành tới nơi tới chốn. Tí tuổi đầu anh đã phải tìm về thành phố tần tảo làm thuê để kiếm sống qua ngày.
Lớn lên, lấy vợ, cũng vẫn nghiệp làm thuê, tối mắt tối mũi. Bởi quá bận rộn nên đến giờ, có một sự thật phũ phàng là anh vẫn chưa biết hết mặt... anh em mình.
Anh bảo, quanh năm tất tả với công với việc, chẳng lúc nào được nghỉ ngơi nên cũng chẳng có điều kiện để đi thăm nom anh em ở các nơi. Buồn lắm! Ngày giỗ, ngày Tết, nhà bố đẻ ở đây, ai có lòng thì đến, uống được với nhau chén rượu rồi lại về. Thế nhưng, đâu phải ai cũng nhiệt tâm, người thế này, người thế nọ, xum họp đầy đủ khó lắm!
Họ cũng như anh, cũng phải tất bật với những lo toan của riêng mình, vì ai cũng giống ai, bố chẳng lo cho được gì, nhà thì neo đơn.
Thêm nữa, nếu muốn đi thăm để tận thấy tất cả anh em mình, với điều kiện kinh tế của các anh bây giờ thì có lẽ là điều... không tưởng. Kẻ nam người bắc, người ở phố kẻ ở quê đi hết thì có mà... cả tháng. Bởi thế nên đành chịu, bởi thế nên đành ngồi nhà, ai đến thì biết người đấy chứ đến người này, bỏ người kia cũng không được.
Chính quyền địa phương: Bó tay!
Trong tổng số 11 bà vợ trên, thì chỉ có bà vợ cả do bố mẹ ông cưới cho là có thủ tục đăng ký kết hôn đàng hoàng. Số bà còn lại, ông đều... cưới chui hoặc cứ đến sinh sống với nhau như vợ chồng. Điều ấy, làng xóm láng giềng biết và đương nhiên, chính quyền địa phương cũng biết. Thế nhưng, biện pháp ngăn chặn thì tưởng dễ nhưng đụng đến lại... khó vô cùng.
Theo ông Nguyễn Mạnh Sinh, Chủ tịch xã Quang Minh - nơi ông Sơn sinh sống - “vấn đề ông Sơn nhiều vợ”, trước đây, Ban Tuyên giáo huyện Mê Linh đã về xã và có buổi làm việc nghiêm túc.
Tại buổi làm việc đó, xã đã trình bày tất cả những khó khăn của mình. Những khó khăn đó, theo ông Sinh, các bà vợ bé của ông Sơn đều là người xã khác, bởi thế, xã không có quyền can thiệp. Thêm nữa, từ trước tới nay, chính quyền xã cũng chưa phải đứng ra để giải quyết tranh chấp, kiện tụng gì giữa các “bà vợ” của ông Sơn, cũng như những người liên quan nên không có lý do gì để đưa biện pháp ngăn chặn.
Còn chuyện bà Ngải, bà vợ thứ bảy, hiện nay đang ở trên mảnh đất trước đây là của ông Sơn thì lại là một câu chuyện dài. Câu chuyện “hai trong một” này, theo ông Trương Quang Dũng, Cán bộ hộ khẩu, Công an xã Quang Minh thì cũng rất... hợp lý (???).
Bà Ngải ở xã Tráng Việt đã theo ông làm vợ lẽ. Trước đó, ông Sơn ra làm kinh tế ở thôn Ấp Tre, (xã Quang Minh) bà Ngải theo đến ở cùng. Việc ấy chính quyền xã đã nhiều lần ngăn cản, thế nhưng, dù nhiều lần bị “trục xuất” nhưng “thuyền” vẫn một lòng quay về “bến cũ”. Ông về mua đất ở thôn Chi Đông, bà vẫn theo ông. Ông Sơn đã nhiều lần lên xã lạy lục để xin xã cho phép bà được nhập hộ khẩu vào nhà mình. Đương nhiên, xã không giải quyết bởi danh không chính ngôn không thuận, bà Ngải và ông Sơn không có quan hệ gì.
Tuy thế, ông Sơn vẫn “cắt đất” để mẹ con bà Ngải dựng nhà ngay sát nhà mình. Mãi đến tháng 5/2007 vừa rồi, bà Ngải mới được chính quyền xã cho đăng ký hộ khẩu vì theo luật cư trú mới, người nào có đất, sinh sống ổn định trên địa bàn thì phải được làm hộ khẩu!
Nỗi đau của người cha mù
Ông đang ấp ôm trong mình một nỗi đau tê tái. Cô con gái thứ hai con của ông với bà cả bị kẻ xấu lừa bán sang Trung Quốc. Thương con, năm 1995, gom góp tiền, dù cảnh mù loà, ông vẫn lặn lội sang đó kiếm tìm.
Lặn lội từ Quảng Đông đến Quảng Tây, lang thang đến tất cả những nơi có thể nhưng con gái ông vẫn bặt vô âm tín. Giờ, điều mong ước lớn nhất của ông là tìm lại được cô con gái tội nghiệp ấy.
Nhiều đêm, nhớ đến con mà nước mắt đầm đìa. Thương con nhưng cũng đành chịu chứ biết tính làm sao! Nhiều lúc ông cũng nghĩ: “Giá mà cảnh nhà khá giả, được học hành tới nơi tới chốn thì con gái mình đã không thành “miếng mồi ngon” cho bầy lang sói!”.
Lấy 11 vợ, đẻ 24 đứa con, liệu ông chăm sóc và gặp gỡ họ được mấy ngày? Những bà vợ có thể tự hào điều gì khi kể về chồng? Những đứa con học được gì từ tấm gương của bố?
Chắc rằng những đêm nhiều nước mắt như vậy không phải là hiếm đối với người đàn ông kỳ lạ ấy.
Đào Thanh Tuy (báo Gia Đình & Xã Hội)
04/04/10. 04:18:50 am. 12199 words, 144 views. Categories: Góp nhặt, Chuyện vui, Những chuyện ỡm ờ, Liên kết blogs ,
XEM VIDEO CUỐI TUẦN GIẢI TRÍ
Hai lão già thất bại!
Triết Học và Lễ Cưới: Con Vẹt
Diễm xưa - Lee Kirby
01/30/10. 04:41:47 pm. 25 words, 350 views. Categories: Góp nhặt, Âm nhạc và nghệ thuật, Văn chương triết lý, Video tếu, Chuyện vui, Những chuyện ỡm ờ, Liên kết blogs, Video chuyên ðề, Xã hội và nhân văn ,
GÓP NHẶT: XÃ HỘI ƯU VIỆT, NHỚ LỜI "CHÚ" NÓI..., TRÍ THỨC THỔ TẢ, PHỎNG VẤN MỘT CON TRÂU, "THAM QUAN" VIỆT NAM, TIÊN SƯ BỐ BỌN PHẢN ĐỘNG!

XÃ HỘI ƯU VIỆT
Source: phiemdamonline
Năm 1945 ông Tý đang miệt mài đèn sách, hy vọng ra trường được bổ dụng làm quan tham tá, thì xếp bút nghiên theo tiếng gọi của sông núi. Cầm súng đánh đuổi giặc Tây đang trở lại, để giành độc lập cho quê hương. Năm 1954 nước Việt Nam chia cắt ra hai miền, ông đi tập kết ra Bắc. Năm 1975, sau khi miền Bắc chiến thắng trong cuộc nội chiến tương tàn do súng đạn ngoại bang cung cấp và thúc giục, ông hân hoan trở về. Trong trí tưởng tượng của nhiều người bà con giòng họ, thì ông là một kẻ anh hùng oai phong lẫm liệt, cưỡi ngựa chiến, mang chiến bào, cầm gươm báu sáng ngời chỉ vào thiên địa hiên ngang. Nhưng họ thất vọng, vì thấy ông, mặt mày bủng beo hốc hác, tiều tụy, chân mang dép râu, đầu đội nón cối sờn mục và áo quần nhàu nát lụng thụng màu phân ngựa.
Trong một bữa ăn đoàn viên do bà chị ông tổ chức. Một người cháu trẻ tuổi hỏi: “Trong chế độ cộng sản, thanh thiếu niên có quyền yêu đương không?”
Ông cười đáp: “Được chứ, đó là tự do cơ bản, ai cũng có quyền, nhưng phải báo cáo và thông qua tổ chức. Được tổ chức cho phép thì tha hồ, nhưng nếu tổ chức không chấp thuận, thì không nên tiếp tục tình yêu sai trái đó”.
Đứa cháu nhún vai cười mỉm. Hỏi tiếp: “Thưa chú, người ta nói rằng, chế độ tư bản bất công, người giàu kẻ nghèo chênh lệch. Chế độ cộng sản tạo được công bằng gần như tuyệt đối, là mọi người đều khốn khổ bần cùng như nhau. Ngoại trừ một nhóm đảng viên cao cấp. Có đúng như vậy không?”
“Tuyên truyền phản động. Nhưng có lẽ không phải là không có cơ sở” - Ông Tý gắp một mớ cá lòng tong kho tiêu vào chén. Ông hỏi: “Cá nầy là cá gì mà ngon quá. Kho tiêu cay, ăn thấm miệng”.
Bà chị dâu ông cười và trả lời : “Đây là cá lòng tong”.
- “Cá lòng tong lá cá gì?”
- “Là một loại cá voi, đã được sống trong xã hội chủ nghĩa lâu năm.”
Cả nhà đều cười. Ông Tý đỏ mặt, nhưng không muốn tranh luận làm chi với những người mà ông cho là cực kỳ phản động. Ông Tý hỏi: “Ở đây có ai biết cái khác nhau giữa xã hội chủ nghĩa với tư bản chủ nghĩa? Tại sao ta xây dựng xã hội chủ nghĩa?”
Đứa cháu lại nghiêm mặt và trả lời: “Trong tư bản chủ nghĩa, thiểu số tư nhân giàu có bóc lột nhân dân lao động. Trong xã hội chủ nghĩa, thiểu số của thiểu số đảng viên cầm quyền bóc lột toàn nhân dân, triệt để và khốc liệt hơn. Xã hội chủ nghĩa được xây dựng nên, cho người người được dịp làm biếng hơn, phè hơn, hoặc không làm chi cả cho khỏe”.
Ông Tý chưa kịp phản ứng thì bà chị dâu lại hỏi: “Tôi đố chú, nói được sự khác nhau ở dưới địa ngục tư bản, và địa ngục cộng sản?”
Ông Tý lúng túng: “Tôi không biết. Chị nói cho tôi nghe với”.
- “Dưới địa ngục tư bản, người có tội phải nhảy bàn chông, và tắm vạc dầu. Dưới địa ngục xã hội chủ nghĩa, cũng như vậy, nhảy bàn chông và tắm vạc dầu. Nhưng rất nhiều khi, thiếu chông, và thiếu dầu, nên chỉ nhảy sàn đất, và tắm không khí mà thôi”.
Cả nhà cùng cười. Ông Tý nói: “Thật là phản động và bôi bác...”
Đứa cháu gái kêu ông Tý bằng cậu nói: “Cậu biết không? Cách nay nhiều năm, trước thời chiến tranh, có một ông già nhà giàu vào một tiệm bách hóa và trả tiền mua hết tất cả hàng hóa trong tiệm, nhưng không mang về, để lại tặng không cho các khách hàng đến sau ông, họ khỏi trả tiền. Chủ tiệm cười, sung sướng đồng ý. Ông già bắc ghế ngồi trước cửa tiệm xem chơi. Sau khi vài người khách vào tiệm mua, được cho không khỏi trả tiền, thì dân chúng ào ào kéo đến. Mười lăm phút sau, cả cái tiệm thành đống rác, đổ vỡ tan hoang. Ông già ngồi cười. Chủ tiệm mếu máo hỏi ông già rằng: “Ông có thù ghét chi tôi không mà hại tôi đến thế? Tan nát cái tiệm rồi. Từ nay làm sao buôn bán chi được nữa? Ác chi mà ác đến thế ông ơi! Tại sao thế? “ Cụ già chậm rãi giải thích: “Tôi đã già quá. Tôi biết không thể sống cho đến ngày cộng sản vào đây. Tôi muốn được thấy tận mắt thế nào là xã hội cộng sản”.
Bố của cháu gái lườm mắt nhìn con và nói: “Để cho cậu của con ăn ngon miệng, nói chi ba cái chuyện tào lao mà nghẹn họng, nuốt không vô. Ngày vui đoàn tụ mà”.
Đứa cháu gái trả lời: “Nhưng con không ưa chế độ, xã hội đó”.
Ông Tý nhìn đứa cháu gái và nói: “Cậu hỏi con rằng, trong xã hội tư bản, con có thể bỏ việc mà đi chơi bất cứ khi nào con muốn không?”
- “Không bao giờ”.
- “Trong xã hội tư bản, con có thể lấy phương tiện, vật liệu của sở về xây nhà riêng không?”
- “Không bao giờ”.
Ông Tý dồn tiếp: “Trong xã hội tư bản, con có thể dùng thời giờ của sở để xây nhà riêng không?
- “Không bao giờ”.
- “Chú cho con biết, trong xã hội chủ nghĩa, mọi người đều làm được những điều đó. Thế thì tại sao con không ưa thích xã hội chủ nghĩa?”
Một đứa cháu khác hỏi tiếp: “Đọc nghị quyết của đảng cộng sản, cháu thấy họ viết rằng: “Trước đây chúng ta đang đứng trên bờ vực. Từ đó đến nay, chúng ta đã tiến được nhiều bước vượt bực”. Đứng trên bờ vực mà tiến được nhiều bước vượt bực, thì có lộn mèo xuống hố hay không? Trong bài diễn văn gần đây, đồng chí tổng bí thư có đọc: “Chế độ cộng sản đang ở chân trời”. Có nghĩa là sao?”.
Thằng cháu nhỏ khác cười giải thích: “Chân trời là cái ranh giới trông vào thì thấy như mặt đất giáp trời. Nhưng càng đi đến, thì càng xa, và không bao giờ gặp cả”.
Ông Tý đang nuốt miếng thịt heo béo bùi mà nghẹn họng, đưa tay vuốt ngực, ho hen. Bà chị dâu lại hỏi: “Tôi đố chú, nếu chế độ cộng sản thành lập được giữa sa mạc Sahara, thì chuyện gì sẽ xảy ra sau đó?”
- “Tôi không biết”.
- “Thì chỉ trong vài năm thôi, sa mạc sẽ thiếu cát, và phải nhập cảng cát. Tương tự Liên Xô, là một xứ nông nghiệp, mà mấy chục năm qua phải nhập cảng lương thực”.
Bà chị dâu nhìn ông Tý mà hỏi thêm: “Chú nói ở miền Bắc, dân chủ gấp vạn lần các xứ tư bản. Thế thì chú có thể đứng ở lăng Bác Hồ, kêu tên Bác ra mà chửi Bác ngu hay không?”
Ông Tý nhìn mọi người, rồi nói: “Tôi có thể làm điều ghê gớm hơn nữa, mà chẳng sợ rắc rối, chẳng ai bắt bớ tôi”.
- “ Điều gì?”
- “Tôi có thể ra ị trước lăng Bác, mà không ai làm gì tôi cả. Dân chủ quá đi chứ?”
- “Có thật không?” Bà chị dâu tròn mắt ngạc nhiên hỏi.
Ông Tý cười bí hiểm, nói: “Cứ ị mà đừng tuột quần xuống thì thôi. Ai mà bắt bẻ?”
Đang ngồi ăn, bỗng nghe tiếng đạn đại bác bắn đì đùng. Bà chị dâu sợ hãi, hỏi ông Tý: “Có chuyện chi mà bắn súng dữ vậy? Có gì nguy hiểm không?”
Ông Tý giải thích: “Đồng chí bí thư thành phố Mát-cơ-va qua thăm, tham quan ngoại giao.”
Bà chị nhăn mặt nói: “Thế thì không ai bắn giỏi cả hay sao, mà bắn hoài không trúng ông ấy?”
Chị ông Tý xen vào câu chuyện: “Nầy cậu Tý, tôi nghe nói, khi hấp hối, Bác Hồ nói với đồng chí Tổng bí thư rằng: “Ta lo lắm, liệu nhân dân có theo anh hay không?” Đồng chí Tổng bí thư trả lời: “Chắc chắn theo”. Bác hỏi: “Có chắc không, nếu họ không theo thì sao?” Đồng chí Tổng bí thư trả lời rất rành mạch rằng: “ Bác đừng lo. Họ phải theo tôi, nếu ai không theo tôi, thì tôi cho họ đi theo Bác ngay”. Chuyện nầy có thật hay không?”
Ông Tý lắc đầu nói: “Những chuyện bí mật của nhà nước như thế, chúng tôi không được quyền biết đến, và không ai được quyền tiết lộ.”
Một đứa cháu trai đặt câu hỏi: “Thưa chú, chắc chú chưa quên ông Adam là tổ phụ loài người, như đã chép trong Thánh Kinh. Theo chú thì ông Adam là người nước nào?”
- “Chú đã theo đảng cộng sản và bỏ đạo từ lâu. Không còn biết ông Adam là ông nào, và là người xứ nào nữa. Thế thì cháu nghĩ ông ta là người xứ nào?”
- “Ông ấy là người Liên Xô ạ”
- “Sao vậy?”
- “Vì ông ấy trần truồng, không có được một cái khố che mông, và trên tay chỉ có một trái táo, mà vẫn tin tưởng là đang sống tại thiên đàng!”
- “Khỉ, khỉ, bọn mầy đã bị Mỹ ngụy đầu độc tư tưởng. Cần phải được đi cải tạo thay đổi tư duy, có cái nhìn đứng đắn hơn về xã hội chủ nghĩa ưu việt. Các cháu có biết không, nước ta đang tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa. Chỉ một thời gian ngắn nữa, chúng ta sẽ vượt lên, và đi trước cả nước Mỹ nữa”
- “Thưa chú, cháu đề nghị đi ngang nước Mỹ thôi, đừng đi trước họ”.
- “Sao vậy?”
- “Bởi mình mà đi trước, họ thấy cái quần rách nát lòi mông của mình thì kỳ lắm, xấu hổ”.
Cả nhà cùng cười vang. Ông Tý cũng cười theo. Một đứa cháu nói: “Chú đã nghe chuyện của bác Hai chưa? Bác Hai ra miền Bắc làm việc từ trước khi có chiến tranh. Không có tội gì cả, nhưng bác bị bắt giam. Vị cai tù hỏi bác bị kết án bao nhiêu năm, vì tội danh gì? Bác trả lời là bị kết án mười năm và không có tội danh gì cả. Ông cai tù trợn mắt lên, mắng rằng: “Láo khoét, thường thường, không có tội gì cả, thì chỉ bị kết án có bốn năm mà thôi”. Vợ bác ở nhà, gởi thơ vào trại tù than thở là không có ai xới đất làm vườn để trồng khoai. Bác gởi một thơ ngắn về nhà, ghi: “ Chôn ở trong vườn”. Tuần sau, vợ bác gởi thơ lên, đại ý nói công an đã xới, đào khắp vườn, không bỏ sót một tấc đất nào cả. Bác gởi thơ về rằng: “Vườn đã được xới xong, chờ chi nữa mà không trồng trọt”.
Ông Tý gắt lên: “Toàn cả chuyện bố láo. Nhưng chuyện sau đây, thì có thật. Có một anh cán bộ sở tôi, chạy gấp về nhà, thấy bà vợ đang nằm trên giường với một người đàn ông lạ. Anh gào lên rằng, bà chẳng được cái tích sự gì cả, giờ nầy mà còn nằm đó. Bà có biết trên cửa hàng lương thực đang bán khoai mì, chỉ còn lại mấy chục kí. Không chạy mau lên thì người ta mua hết bây giờ.”
Bà chị ông Tý nói: “Khi bác Hồ mất, cậu biết chuyện gì xảy ra không?”
- “Không. Chuyện gì thế?”
- “Hôm ấy chú Huy trực. Có người kêu điện thoại vào xin được nói chuyện với Bác. Chú bảo Bác đã qua đời. Một lúc sau, người ấy kêu điện thoại lại và được trả lời như cũ. Người đó kêu thêm hai ba lần nữa. Bực quá, chú Huy gắt lên: “Tôi đã nói, Bác chết rồi. Ông không nghe, không hiểu sao?” Bên kia đáp rằng: “Tôi nghe ‘đã’ cái lỗ tai quá, nên kêu đi kêu lại nghe thêm cho sướng tai”. Thế thì chú Huy chưa kể chuyện nầy cho nghe sao?”
Khi bữa cơm gần tàn. Ông Tý nói với các cháu: “Các con phải tích cực phấn đấu để sau này được vào đoàn, vào đảng. May ra mới ngóc đầu lên được”.
- “Vâng, chúng cháu sẽ đi khám bệnh thần kinh trước. Đứa nào bị bệnh nặng, sẽ xin gia nhập đảng.. Người ta kể rằng, khi gặp khó khăn, chính trị bộ bên Liên Xô cho người ngồi đồng, gọi hồn ông Các-Mác lên để vấn kế. Khi nhập đồng, thì hồn khóc rủ rượi. Hồn chỉ nói một câu, là cho gởi lời xin lỗi đến toàn thể nhân dân lao động khắp các xứ xã hội chủ nghĩa trên thế giới?”
Một người bà con hỏi, trong xã hội chủ nghĩa, thiên hạ có thích chuyện tiếu lâm hay không? Ông Tý thành thực trả lời: “Nhiều người kể chuyện tiếu lâm, châm biếm mà bị tù đông lắm. Lần nọ, tôi gặp một anh chánh án nhân dân, đi ra khỏi tòa và cười rũ rượi, cười chảy nước mắt. Tôi hỏi sao vậy? Anh nói là vừa nghe một chuyện khôi hài tuyệt vời. Tôi yêu cầu anh kể lại. Anh quắc mắt lên hỏi tôi đã điên chưa mà yêu cầu anh kể. Vì người kể câu chuyện đó, vừa bị anh kết án mười năm tù lao động khổ sai”.
Một bà hỏi ông Tý: “Có phải trong xã hội chủ nghĩa, thời gian qua mau hơn trong tư bản chủ nghĩa không?”
- “Chị muốn nói gì?”
-”Tôi đọc, thấy báo cáo của các hợp tác xã nông nghiệp, họ đạt thành tích thi đua, khoai sắn chỉ trồng qua đêm là đã gặt hái được. Thế nghĩa là sao? Làm được phép tiên sao?”
Ông Tý gật gù: “Báo cáo thành tích thì phải làm vậy. Không ai làm khác cả. Đó là cách khôn ngoan nhất để sống còn. Cấp trên họ cũng biết sự thực ra sao, nhưng họ lại muốn được thấy những báo cáo đó mà thôi”.
Bà chị ông Tý lắc đầu bực mình nói: “Cậu bảo rằng xã hội cộng sản đã làm được những điều tốt đẹp cho con người. Tốt đẹp ở đâu, cậu cho tôi xem vài thí dụ đi”.
Ông Tý bóp trán rồi trả lời: “Ví dụ như chị Năm Lài, trước kia mù chữ, đi chân đất, chuyên nghề chửi mướn, đánh ghen thuê. Bây giờ là chủ tịch hội phụ nữ yêu nước. Anh Tám Râu, thất học, nghèo không có quần xà lỏn mà mang, bây giờ đã có dép râu đi, và làm trưởng ban tuyên huấn giáo dục huyện. Và đồng chí Mười Búa , trước đây đâm thuê chém mướn ở bến xe, làm nghề hoạn heo, ai thấy cũng khinh bỉ, nhổ nước bọt. Nay đã là một thành viên trong Bộ Chính Trị. Đó, cái siêu việt của xã hội chủ nghĩa, chị thấy chưa?”
Bà chị ông Tý nheo mắt nhìn kỹ, và hỏi ông: “Nầy, cậu bị thương tích trong trận đánh nào, mà bây giờ cái đầu cậu cứ gật gật mãi, và tay cậu cứ đưa lên, đưa xuống hoài vậy?”
Ông Tý cười bẻn lẻn thú nhận: “Tôi làm đại biểu nhân dân ở quốc hội. Cứ gật đầu và dong tay nhất trí hoài nên thành tật, nay không thế nào chữa khỏi được.”
Bà chị hỏi: “Tại sao cậu lại binh vực và kính mến và thương yêu lão Ba Dừa? Lão đánh đập vợ mỗi ngày, tống cổ mẹ ra đường, lấy trộm tài sản nhà nước, chơi cờ gian bạc lận, hiếp dâm con bé bán vé số. Có gì mà cậu binh vực hắn thế?”
- “Dù gì đi nữa, đồng chí Ba Dừa cũng là một người cộng sản chân chính, nên tôi binh vực và kính trọng”.
Một giọng con gái rụt rè hỏi: “Nghe nói ở bên Liên Xô vĩ đại hàng năm có thi đua kể chuyện tiếu lâm phải không?”
- “Có. Người kể chuyện hay nhất, được lảnh giải 20 năm đi đày, người lãnh giải nhì được 15 năm, người lảnh giải an ủi được 10 năm. Tất cả đều được đi lao động khổ sai bên Siberia.”
Đứa cháu cười và hỏi: “Theo chú, thì ai là người theo, ai là người chống cộng sản?”
“Người theo cộng sản là người cố tình như “tin” vào Mác và Lê-Nin. Người chống lại cộng sản, là người “hiểu” rõ Mác và Lê-Nin.”
Buổi cơm đoàn tụ đã chấm dứt từ lâu, ông Tý cáo từ ra về. Ra khỏi cửa nhà, ông lẩm bẩm: “Toàn cả một lũ cực kỳ phản động. Ông mà báo cáo, thì cả bọn đi tù cải tạo mục xương, mút mùa”.

NHỚ LỜI "CHÚ" NÓI...
Source: Quê Hương Ta
Trần Văn Giang
Nhờ giời, đất nước Việt Nam mình thật may mắn đặc biệt có hai chủ tịch nhà nước với đạo đức và trí tuệ thuộc hạng ưu việt, qua từng giai đoạn của lịch sử, đã giáo hóa dẫn dắt nhân dân Việt một cách mênh mông tình dân và đậm đà ý đảng: Đó là “bác” Hồ và “chú” Triết.
Vì vấn đề “phạm húy,” nên phải tạm thời gọi chủ tịch Triết là “Chú” cho nó long trọng. Chứ cái danh xưng “Bác” đã được đảng và nhà nước lộng kiếng, “đăng ký” hẳn hoi riêng cho “Bác Hồ” rồi; thành ra chủ tịch Triết vì vai vế còn thấp (hơi lùn) và hậu sinh kể cũng còn lâu mới đủ sức lấn sân, và khó mà tiếm cái danh “Bác” của bác vĩ đại. Phải chờ chú Triết “làm việc” khá hơn rồi sẽ hạ hồi phân giải sau về danh xưng của chú. Tất cả còn tùy ở chú Triết về lâu về dài…
Ngôn từ ngoại giao của vẹm trên vấn đề gọi tên người xem ra còn độc hơn vịt xiêm lai. Hồi trước, đối với những nhân vật lãnh đạo, nhân vật đã nổi tiếng thế giới đã được mọi nơi kính nể; nhưng nếu chẳng may vì một vài lý do nào đó mà CS không thích họ (mà CS thì có kính nể ai đâu?) thì CS đều gọi là “thằng” hết ráo trọi. Chẳng hạn thằng “Dơn sơn “(TT Johnson), thằng “Ních xơn” (TT Nixon), thằng “Bảo đại,” thằng “Diệm,” thằng “Thiệu,” thằng “Kỳ,” thằng “Mác na ma ra” (cựu Bộ trưởng quốc phòng Hoa kỳ Mac Namara) ... Ngược lại, CS gọi nhau là Bác ( Hồ ) là Chú (bác Hồ gọi mọi người, mọi lứa tuổi nhân dân, mọi cấp bậc đảng nhà nước là các “chú” cả!); là Anh (Nguyễn Văn Trỗi); là Chị (“Dên phôn đa” – Jane Fonda) hết ráo.... Bây giờ, qua mầu thời gian, vẹm lại đổi tông và gọi Clinton, Bush, Obama… và ngay cả thuyền nhân vượt biển tị nạn CS (năm 1980) Bs Bùi Duy Tâm là “Ngài!” Thật oái oăm!!!
Những lời “bác” dậy thì đã được nhân dân ta học tập đi học tập lại rất “tốt” và nhuyễn nhừ rồi. Bây giờ đã đến lúc phải bắt đầu ghi chép và phân giải lời “chú” Triết là vừa. Để mai đây, lỡ chú có phải gió hay ăn uống nhằm món độc nào đó ( đ/c Dương Bạch Mai ngày trước cũng trong hoàn cảnh tương tự ) lăn quay ra xùi bọt mép thì ít ra đảng ta còn có sẵn “tư liệu” mà tiếp tục đem ra dậy dỗ nhân dân giai đoạn hai - hậu bác Hồ - chứ!
Sau đây là phần ghi chép những nhời vàng ngọc đáng đồng tiền bát gạo của chú Triết qua từng giai đoạn.
Ngày 23 tháng 6 năm 2007, chú Triết đi thăm Mỹ và nói chuyện với các “đại biểu” doanh nhân Việt gốc vẹm. Mỹ gốc Việt, và Mỹ gốc Mỹ… ở Dana Point, California là:
“Mời các nhà đầu tư đến Việt nam; vì Việt nam có nhiều gái đẹp lắm!”
Thiệt tình! Hình như hồi còn trai trẻ chú Triết “bị” sống dưới thời “phồn vinh giả tạo” của chế độ các “thằng” Thiệu-Kỳ, có dư ăn dư mặc và dư chút đỉnh tiền đi thư giản ở ngã ba chú ía, ngã năm chuồng chó; rồi hào sảng ghi tâm lời rao hàng ngọt như mía lùi của mấy “em gái” đứng ở các đầu ngã ba ngã năm. Lời rao cũ có “ép-phê” thứ thiệt đã làm chú Triết không từ chối được... Cho nên bây giờ chú Triết nhớ lại lời rao hàng đã có kết quả chứng nghiệm đầy “kinh nghiệm bản thân” này, đem ra sửa chữa chút đỉnh, “recycle” dùng lại kêu gọi đầu tư vào Việt Nam chắc phải có hiệu quả chăm phần trăm...
Có một “sự cố” là chỉ số thông minh (“IQ”) của chú Triết chưa vượt qua con số của nhiệt độ trong nhà (“room temperature”) nên chú không thể thấy là câu chào hàng này có vẻ hơi phản thùng, chơi khăm, chửi bố thím Triết ở nhà (?)
Chả là, “con gái Việt Nam đẹp lắm” nhưng mà thím Triết toàn diện tính cả vốn lẫn lời chỉ có mỗi cái tên do cha mẹ đặt ra là đẹp (Trần Thị Kim Chi) còn lại nhan sắc, vóc dáng của thím nhìn rất thảm hại không kém gì Thị Nở. Thím nhìn thoang thoáng qua giống y chang như một thím bán hột vịt lộn gánh?! Nhưng nhìn kỹ lại thì thấy giống thiệt (Tôi xin lỗi các thím bán hộn vịt lộn ở chỗ này. Tôi muốn nói là chỉ có người là xấu chứ không có nghề nào xấu cả. Dáng dấp của thím Triết là cái dáng đi bán hột vịt lộn gánh mà làm đệ nhất phu nhân nước Việt Nam thì hình như trước khi cách mạng thành công chỉ có trong chuyện thần thoại mà thôi!).
Ngày 27 tháng 8 năm 2007, chú Triết trong “bài nói” về “an ninh quốc phòng” khi chú thăm Tổng cục chính trị, Bộ quốc phòng đã “cảnh báo” là:
“Dù ai nói ngả nói nghiêng. Dù ai muốn bỏ điều 4 hiến pháp gì đó (*) thì không có chuyện đó. Bỏ cái đó [“điều 4”] đồng nghĩa với việc chúng ta tuyên bố tự sát.”
Bỗng nhiên CS và chú Triết sợ chết thế nhỉ? CS từng coi mạng sống của mình và nhân dân ta như tiền bác Hồ. Như CS đã tuyên truyền là người của cách mạnh anh hùng tự đốt mình thành đuốc rồi miệng thổi sáo tay ôm bom đi tà tà (?) vào kho đạn của địch cho nổ tung; hoặc lấy thân xác gầy gò của mình làm vật cản súng nặng tầm xa khi súng đang được kéo lên núi cao bị trượt xuống dốc; hoặc đã ôm chất nổ ngậm ống đu đủ lặn lội dưới nước để nổ tung phá cầu cống; hoặc lăn ra chết như rạ hàng hàng lớp lớp trong các trận đánh biển người; hoặc quyết tử tự khóa chân vào ổ súng lớn để đánh đến chết... cơ mà??? Ậy! Sao chậm hiểu quá! Bi giờ là thời buổi “đổi mới,” “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” khác rồi. Đâu còn cái thuở mặc quần xà loỏng cởi trần công đồn nữa. Chú nào mặt cũng béo đẫy đầy thịt, làm chủ 2-3 căn nhà, có vợ lớn vợ bé cả tiểu đội, có tiền của rủng rỉnh bỏ ở nhà băng ngoại quốc... Nếu bỏ (“điều 4 hiến pháp”) tức là bỏ quyền lực độc tài đảng trị để nhân dân có cơ hội vùng lên giành lấy quyền làm chủ thì đảng viên CS cỡ chú Triết chết là cái chắc; làm gì có đủ thời giờ để tự sát cho tốn thuốc chuột, phí đạn... Mà lỡ chết đi thì của cải tài sản đã cất công vơ vét kỹ lưỡng của nhân dân làm sao còn giữ được? Chú Triết tuy là hơi lùn nhưng chú cũng có cố gắng ráng nhìn xa xa: thấy bài học lịch sử của đảng CS Liên sô và Đông âu đã đi trước và to lớn hơn Việt Nam nhiều mà còn tan rã; còn rét hơn nữa là có anh Sô-sét-cu (**) chủ tịch nhà nước của CS Romania suốt 24 năm mà còn bị dân cho đi bán muối; thì chú Triết lo lắng “cẩn trọng” nhắn nhủ các đảng viên CSVN là đúng quá. Làm gì phải phản bác.
Ngày 29 tháng 9 năm 2009, chú Triết viếng thăm nước Cu Ba và phát biểu một câu xanh rờn được khán giả (?) vỗ tay vang dội (!).
“Có người (?) ví von, Việt Nam Cu Ba, như là trời đất sinh ra. Một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới. Cu Ba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam thức thì Cu Ba nghỉ...”
Sổ sách “tư liệu” của đảng ta đâu có cái mảng nào ghi chép là chú Triết học trường kịch nghệ ngành hài đâu mà Chú Triết ăn nói thiệt mắc cười. Chú cứ ấm a ấm ớ chẳng cho ai biết “có người ?” là người nào? Hay là chính chú đã tự ý vẽ ra cái vụ ví von dzui quá xá này? “Có người (?)” nói chú nhái lại lời bác Hồ đã nói về nước Cu ba từ ngày trước; nay chú sửa chữa lại chút đỉnh cho hợp thời trang, hợp tình hợp cảnh cho dzui hơn!
“Một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây?” Phía Đông là ở phía Đông của cái gì? Phía Tây là phía Tây của cái gì mới được? Xin nhắc tuồng chú Triết một tí là phía Đông của Việt Nam là Trường sa và Hoàng sa. Đây mới chính là cái “phía Đông” mà chú nên nhắc đến. May ra anh Phi-đen “góp ý” cho chú cách “xử lý” cái lưỡi bò phá lấu!...
“Việt Nam và Cu Ba, như trời đất sinh ra!” Trời đất! Chỉ có hai nước CS ưu việt này được trời đất sinh ra thôi hả? Còn các quốc gia khác thì dưới đất chui hay ai sinh ra vậy hả ông nội? Chú nói khơi khơi kiểu đó người ta biết chú nói cái gì? Chú ví von cái củ cải gì vậy hỡi trời? Không biết chú có hiểu chú đang nói kí rì?
“Việt Nam thức thì Cu Ba nghỉ???” Hay là chú nhớ lại chuyện cũ lúc trước hai thằng cùng nghèo (vì bị Mỹ cấm vận) nên hùa nhau tổ chức đi ăn trộm đồ đạc của hàng xóm: Một thằng phải thức canh cho thằng kia khiêng đồ; rồi bây giờ chú nhớ ra, cũng lại sửa chút đỉnh là “một thằng thức canh cho thằng kia ngủ?”
Mà nè. Cu ba ngủ thì Cu má đang làm gì mà chú không nói, không nhắc nhở gì cà? Chú làm phước cho bàng dân thiên hạ biết thêm cho nó hoàn tất tập phim bộ...
“Canh giữ hòa bình thế giới?” Việt Nam mất Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Bãi biển Tục Lãm; rồi lại mất luôn các đảo Hoàng Sa, Trường Sa vào tay của Tàu. Chú Triết có làm gì được không mà đòi làm chuyện đa đoan gìn giữ hòa bình cho thế giới??? Canh giữ hòa bình kiểu này thì mai mốt đây chú phải diễn hài bằng tiếng tầu mất! Ở Cu ba, chú Triết còn làm một chiêu ruồi bu khác là “cắt miệng” một số dân Việt đang đói bằng cách đem “tặng” nhân dân của anh râu xồm Phi-đen 3000 tấn gạo! Cu Ba lo ăn còn không xong, nói gì đến gìn giữ hòa bình cho thế giới? Anh Phi-đen chỉ ăn đậu (“bean”) chứ có thích ăn gạo đâu mà chú Triết cất công làm cái chuyện “cho sư mượn lược, cầm c... cho chó tè” này. Nhìn lại biến chuyển của thế giới từ khi CS “cướp” chính quyền năm 1945 đến nay, thế giới có lúc nào hòa bình đâu? Từ chiến tranh quốc cộng Trung hoa, Triều tiên, chiến tranh Đông dương, Việt Nam; đến chiến tranh ở Trung Đông, Phi châu, Iraq, A phú hãn... chú Triết chỉ có tài nói phét...
Ngày 24 tháng 11 năm 2009 mới là một ngày đặc biệt nổi bật nhất của chú Triết. Chú Triết có một “bài nói” trước “đại hội vịt cừu yêu nước” họp ở Mỹ đình Hà nội rất đáng đồng tiền bát gạo với rất nhiều câu bất hủ cùng một lúc biểu dương cả ba bốn vấn đề lớn của người CS: trí tuệ, tư cách, và văn hóa CSVN... “Bài nói” này cũng được “vịt cừu” hoan hô vang dội!!!
Đây là câu thứ nhất:
"... Chúng ta từ một nước trong chiến tranh, chưa có những cái kinh nghiệm trong quản lý, và ở nước người ta đó thì muốn tiêu cực, muốn tham nhũng cũng khó, vì hệ thống luật pháp nó chặt chẽ. Còn ở Việt nam của mình, thì có khi không muốn tham cũng động lòng tham. Cái người thủ quĩ cứ giữ tiền khư khư. Ở quĩ lúc nào cũng có số dư, cho nên lúc bí quá thì em mượn một chút. Mượn không thấy ai đòi hết, thì em mượn thêm. Chứ không phải người Việt nam tham nhũng nhứt thế giới. Không phải vậy! Cho nên tui đề nghị quí vị ở nước ngoài khi nghe những thông tin này, rồi nhìn về Việt nam cũng đừng có hốt hoảng; cứ nghĩ rằng trong nước mình tiêu cực quá... Mấy hồi sao mấy ổng oánh giặc sao giỏi thế?! Mà bây giờ ổng tiêu cực thế... Đây là qui luật muôn đời.”
"... Chúng ta từ một nước trong chiến tranh, chưa có những cái kinh nghiệm trong quản lý.” Mẹ kiếp! Chú Triết có cần được nhắc tuồng là chiến tranh đã chấm dứt 34 -35 năm rồi chứ không phải mới năm ngoái! Đảng và lãnh đạo nhà nước có cần thêm 35 năm nữa để học cách quản lý hay không? Nên biết Việt Nam đang tụt hậu 97 năm so với Singapore rồi đấy. Người Tây phương họ nói “Time is money!” 35 năm tính ra tiền thì biết bao nhiêu mà kể???
"Lúc bí quá thì em mượn một chút. Mượn không thấy ai đòi hết, thì em mượn thêm." Chú Triết luôn luôn tìm ra cách thật tốt để trổ cái tài ví von văn minh miệt vườn của mình. Rất tiếc chú đang là chủ tịch nhà nước chứ không phải đứa trẻ học mẫu giáo. Ví von kiểu ngô nghê: “ở Việt nam của mình, thì có khi không muốn tham cũng động lòng tham” ra cái điều “ở Việt Nam có muốn trong sạch cũng không được!” Nhưng nhức đầu và đau bụng là chỗ ngay sau đó chú lại giải nghĩa là: “Chứ không phải người Việt nam tham nhũng nhứt thế giới. Không phải vậy!!?" Sau đó chú có một cái “punch line” để vỗ về các em “vịt cừu” rằng: “Cho nên tui đề nghị quí vị ở nước ngoài khi nghe những thông tin này, rồi nhìn về Việt nam cũng đừng có hốt hoảng; cứ nghĩ rằng trong nước mình tiêu cực quá?" Lại muốn chửi thề khi nghe câu này! Chú Triết là con người “trí tuệ” nên ăn nói phải khác người thường. Tuy nhiên, cái đám thính giả đại đa số là “khoa bảng, trí thức cục phân” ngồi nghe cách giải lý kỳ cục như vậy mà vổ tay đồm độp thì không hiểu họ thuộc Giống gì? Người hay ngợm? Học trường nào? Bằng cấp lấy ở đâu?
Câu thứ hai:
“Con người ta, trong mỗi người, ai cũng có hỉ, nộ, ái, ố hết chơn. Chúng ta là con một nhà, là con Lạc, cháu Hồng, cùng một bọc trứng sinh ra. Trên thế giới này ít nơi nào có cái đó lắm..."
Đang dùng một lô từ ngữ thật súc tích như : “có người,” “con người ta,” “cái người,” “người ta,” “mấy ổng...” để dậy dỗ đám khoa bảng áo gấm về làng về chuyện “tham nhũng;” đột nhiên chú Triết lại quẹo mà không ra dấu (“signal”) trước, nhắc tới tình nghĩa đồng bào "cùng một bọc trứng sinh ra." Chú Triết muốn họ động lòng “cùng là bà con” mà mau mau gởi thêm tiền về Việt Nam để cho “vì nghĩa đồng bào" nên cán bộ đảng viên chúng ông "không tham không được?" Càng giải mã các câu nói ngây ngô của chú càng muốn ứa máu... mồm.
Câu thứ ba nêu ra rất rõ cái trí tuệ của CS khi vấn kế cho TT Hoa kỳ Obama và cũng phơi bày ra cái tư cách người CS trên vấn đề ngoại giao. Chú Triết phang bừa là:
“Nhưng mà tôi nói rằng ông Obama ơi, vấn đề này là khó lắm đó… Tôi nói mà tôi nhìn Obama, tôi thấy ổng thế này cũng chăm chú lắm á, cũng lắng nghe. Như thế là mình vừa động viên ông Obama, nhưng mà mình vừa phân hoá cái nội bộ của ổng.
Như vậy, tôi muốn nói với các đồng chí, với quý vị rằng: Cái vai trò, cái vị thế của mình bây giờ cũng… ngang hàng với người ta, cũng nói năng cũng đúng mức, đàng hoàng.”
“... là mình vừa động viên ông Obama, nhưng mà mình vừa phân hoá cái nội bộ của ổng” Ậy! Thật tai hại! Ông Obama nhìn xuống chú Triết hơi kỹ (chăm chú) chủ ý xem chú Triết có khùng không mà chú Triết lại hiểu lầm (!) Obama có cả một “think tank” làm cố vấn gồm những tay có ăn có học đàng hoàng và đầu óc thuộc cỡ thầy của chú Triết, hà cớ gì mà Obama phải nghe chú Triết thất học vấn kế này kế nọ? Còn cái nghịch lý “vừa động viên... vừa phân hóa” thì có gì là lạ. Đó là cái bản chất lật lọng cơ bản của con người CS. Tương tự như CS vừa lấy tiền của Việt kiều gởi về vừa chửi Việt kiều là phản động chạy theo liếm giầy đế quốc... Mà nè nè! Nhân tiện đây, tôi cũng xin hỏi chú Triết là lúc trước chú đi thăm Hồ Cẩm Đào ở Bắc kinh, không biết chú “động viên” và “phân hóa” Hồ Cẩm Đào ra làm sao mà ngay sau đó thì Hồ Cẩm Đào cho hải quân Trung cộng cưỡng chiếm Trường sa và Hoàng sa; đồng thời gởi một lô “tầu lạ” đánh chìm tầu đánh cá và bắt giam ngư phủ Việt Nam ở ngay trong hải phận Việt Nam. Nhiều ngư phủ ta phải quỳ lậy “tầu lạ” như tế sao để xin tha mạng???
“ Cái vai trò, cái vị thế của mình bây giờ cũng… ngang hàng với người ta.” “Cái vai trò, cái vị thế” của chú Triết chỉ đứng ngang ”háng” (dấu sắc) “người ta (?)” có đẹp đẽ gì mà gì mà bốc phét!
“Cũng nói năng cũng đúng mức, đàng hoàng.” Ái chà chà! Cách nói chuyện tiếu lâm vỡ lòng như vậy mà chú Triết gọi là “đúng mức, đàng hoàng?” Khó mà tin là loại chuyện vỡ lòng diễu dở này lại có thể cho cái đám “trí thức cục phân” ngồi “Nơi giữa Đại Hội Vịt cừu” “Một nỗi bình an???” Theo tôi, đây có khác gì cái “bình an” mà cộng sản Bắc Việt, MTGPMN và cả chính khách xu thời của Mỹ đã cho quân, cán chính miền Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cái “bình an” mà TT Nguyễn Văn Thiệu đã có lần gọi là “bình an của nhà mồ” (“Peace of grave!”)
Quả tình tổ quốc Việt Nam đã đến lúc mạt vận cho nên mới có loại người (hay ngợm) với cái trí tuệ như chú Triết làm chủ tịch nhà nước. Đọc lại từng câu nói của chú Triết chỉ thấy toàn là dấu hỏi??? Chú Triết là một sự mỉa mai đau đớn mà trời đất đã phạt nuớc Việt và dân tộc Việt.
Hết ý kiến.
Trần Văn Giang
(Orange County – 10/12/2009)

TRÍ THỨC THỔ TẢ
Source: Quê Hương Ta
Lời mở đầu:
Qua nhiều lần trao đổi ý kiến giữa tôi và hai đồng môn cùng học, trước năm 1975, tại trường “Cao Đẳng Canh Nông - Sài Gòn:” một người là thuyền nhân hiện định cư tại Hoa kỳ, một người là sinh viên Việt Nam du học cao học ở Nhật (trước năm 1975) và bây giờ định cư tại Úc; tôi mạn phép được thu hợp các ý kiến này lại rồi viết lại thành ra bài nhận định này. Nội dung bàn về một giới rất “ồn ào” mà chúng ta vẫn thường gọi là “Trí thức thiên tả.”
Tôi thấy cũng nên đề cập thêm ở phần mở đầu này về tư cách của “trí thức cục phân (trâu)” Nguyễn hữu Liêm (theo những tin mới về việc Nguyễn hữu Liêm được CS “hú còi” tại Hà nội) như sau:
“Nguyễn hữu Liêm chỉ là con giòi lớn nhất trong bãi cứt (trâu)… có gì phải ồn ào !!!”
***********************************************************************
1- Nhận định của đồng môn cư trú tại Hoa Kỳ:
Những người Việt Nam ở ngoại quốc có học vị cao rất nhiều, họ giỏi về chuyên môn, nhưng một số lớn còn rất kém cỏi về trình độ chính trị. Vì thế nên họ dễ bị cộng sản tuyên truyền rồi trở thành mù quáng, quá tin tưởng vào cái thiên đàng bánh vẽ của XHCN và cái lý thuyết trời ơi đất hỡi của đảng cộng sản. Ngày xưa (trước năm 1975) thì không nói làm gì, vì lúc đó lịch sử chưa sang trang, chưa rõ ràng; lại đi du học ngoại quốc với nổi dằn vặt quê hương đang có chiến tranh thì hình ảnh người lính bộ đội bắc Việt hay du kích của MTGPMN dễ làm cho người Việt trí thức ở ngoại quốc suy nghĩ thiên vị, không rõ đâu là chính nghĩa. Có lẽ đó là một phần nguyên nhân đã khiến họ trở thành thiên tả. Ngay tại Sài gòn vào thời chiến tranh, sinh viên mà cứ mãi, ham đọc những tạp chí như “Đối diện,” “Thức tỉnh” của Linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan… là muốn cuốn gói vô Hố Bò, Tam Giác Sắt, Chiến khu Đ rồi; Đâu cần dùng tới bộ máy tuyên truyền bất kể hao tốn của Việt cộng.
Nhưng mà… đảng cộng sản đã cai trị đất nước trên 34 năm rồi, hồ sơ sử liệu đã được bạch hóa, cùng với sự lên tiếng của những nhân chứng còn sống từng là nạn nhân của chế độ cộng sản bạo tàn đầy rẫy đây mà.
Mình đâu có sống dai để đủ kiếp học hết bài học đắng cay này đến bài học cay đắng khác từ cộng sản. Hãy nhìn lại nỗi đắng cay nghiệt ngã của kẻ đã đi vào quỹ đạo của CS. Họ là “trí thức” chứ không phải là bần nông khố rách ít học. Họ đã được cộng sản Hà nội trả công khuyển mã của họ cái gì?
Thời xa xưa kia, Nguyễn Văn Trấn (đại gia chợ Đệm) [1], Dương Bạch Mai (đại địa chủ, “parler francais” như gió) Trần Văn Giàu (lý thuyết gia cộng sản, công lao quá xá trời trong Nam). Những người nầy đã cúng dường tam bảo cho CS, cho “cách mạng” không biết bao nhiêu của cải, tim óc, sức lực của mình từ thời kỳ Việt minh còn mặc quần xà loỏng chơi tầm vông vạt nhọn. Năm 1975, khi về Nam, ông “khai quốc công thần” Nguyễn Văn Trấn “được” bộ chính trị CS cho công an “hầu hạ” canh gác cửa 24/24 vì thấy thả hổ về rừng nguy hiểm qúa… Mấy chục năm công lao mà CS chỉ cho người ta chức “Bật mã ôn” (giữ ngựa) thì lỡ người ta quậy thì sao? Trần Văn Giàu thì đã bị thất sủng từ lâu lắm rồi. Chủ tịch quốc hội Dương Bạch Mai vì phổi bò và thẳng ruột ngựa Nam kỳ nên được đảng cho đi chầu Lenin sớm để vừa tiện sổ sách vừa tiết kiệm ngân quỹ nhà nước. Nên biết Dương Bạch Mai chết trong lúc nghỉ giải lao trong một phiên họp quốc hội CS. Nhiều nguồn tin cho biết Dương Bạch Mai uống chén nước trà bị bỏ thuốc độc(?!) Cay hơn nữa là Dương Bạch Mai còn được chính ngay kẻ đã “trừ khử” mình đến dự tang lễ làm tuồng khóc thống thiết “kính chúc đồng chí chết mạnh giỏi!” Thế mới biết chính trị cao là gì!
Gần hơn chút nữa, những tay “trí thức” của MTGPMN anh hùng làm được trò trống gì sau ngày 30 tháng 4 năm 1975? Nguyễn Hữu Thọ, “người” được “Bác” giao cho nhiệm vụ lãnh đạo mặt trợn và cũng là “người” đã đi đến cuối con đường… đã hoàn thành một cách xuất sắc nhiệm vụ mà dân tộc đã giao cho…” Ai có theo dõi tin tức, báo chí cũng biết thân phận của “người” này như thế nào trước khi đi chầu “Bác” rồi. Nguyễn Thị Định (người Giồng Trôm, Bến Tre) chưa hề biết sờ (hay bóp) cò súng đến một lần lấy hên mà lại được CS phong là “nữ tướng tóc dài,” “tư lịnh phó lực lượng võ trang quân đội Giải phóng,” trong khi kẻ nhắc tuồng cho em Định là đồng chí Nguyễn Chí Thanh – một cánh tay dài của Hà nội. Sau ngày MTGPMN bị xóa sổ, em Định được làm cái giống gì (?) ở chức vụ “thứ truởng bộ thương binh” và “chủ tịt hội liên hiệp phụ nữ?” Nguyễn Thị Bình (tên thật là Nguyễn Châu Sa sinh tại Sa đéc, sau đổi tên mới là Nguyễn thị Bình vào năm 1962) “được” làm “phó chủ tịch nhà nước,” “phó trưởng ban đối ngoại trung ương đảng.” Mấy cái hàm “phó” và “thứ” đó cũng chỉ lại là những cái chức ngồi chơi xơi nuớc cho đẹp mắt với bà con miền Nam, đâu có ý nghĩa gì trong chế độ lúc nào cũng duy trì các Nhiếp Chính Vương (còn gọi là bộ chính trị - nếu thu hẹp hơn thì có Duẩn, Thọ, sau nầy thì thêm Mười, Anh…), khi các Nhiếp Chính Vương nầy phát cân đai áo mão cho ai thì hãy coi như hồng ân từ bác và đảng. Sống dưới thời buổi “độc lập tự do hạnh phúc” mà “than vãn” thì cũng được CS xem như đồng nghĩa với đang chán sống; có mà tiêu tùng sớm. Còn ông giám đốc công ty đường thời Tổng thống Ngô Đình Diệm là ông Trương Như Tảng đường mía nữa chứ! Me xừ này phải chờ đến lúc CS thu hết miền Nam mới biết “đường” nào là đường trắng, “đường” nào là đường thẻ. May phước me xừ này gài kịp “số de,” chứ chậm chân một chút nữa có thể bị tai nạn lưu thông chết hết cả nhà (như trường hợp kịch tác gia Lưu Quang Vũ và gia đình). Đề nghị “trí thức” phe ta nên đọc cuốn “memoir” của cái gọi là “Tảng đường mía chết hụt này” để cho sáng mắt sáng lòng.
Thôi, phải cất công nói chi cho xa xôi, tấm gương sát bên mình là thầy (?) Châu Tâm Luân [2], bà (?) Ngô Bá Thành [3], ông Chu Phạm Ngọc Sơn, Trần Ngọc Liễng… bằng cấp treo đầy cả tường, nhìn phát chóng mặt… hay là các ông cố đạo Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín không lo phận sự rao giảng phúc âm của Chúa mà cứ lo nói xa nói gần để ru ngủ mọi người dân miền Nam bỏ súng hướng về xã hội “thiên đường.” Nhưng ngay chính cá nhân của mình lại phải đợi được đối diện thật sự với “thiên đường” (?) mới “thức tỉnh” (!)
Đừng mong đợi người cộng sản đang ngồi ghế lãnh đạo hồi tâm (còn được gọi cho hoa mỹ mị dân là “đổi mới”). Họ tra thêm son trét thêm phấn vào mặt, thay đổi ngoại hình chút chút để dễ diển màn (bỉ ổi) khác thôi. Trí thức tay mơ thấy gái bia ôm lên giọng “em đang đổi mới” mà lại dại dột “yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ” là bỏ mẹ cả đám. Cứ rước em về nâng khay sửa tráp (văn chương bình dân giáo dục gọi là “nâng bi sửa d..”) đi, ba bảy 21 ngày là biết liền hà... Cộng sản là cái gì? Bộ chính trị là cái quái gì trong trào lưu dân chủ trên thế giới ngày nay? Các trào lưu dân chủ và nhân quyền đang làm cho họ xanh mặt, toát mồ hôi… trán. Ở ngoài mặt họ vẫn đang khoác cái áo cộng sản chứ thật ra họ là đại tư bản từ lâu rồi. Phải giữ cái áo cộng sản thì họ mới có thể chơi ngang, đàn áp, cầm tù, bịt mồm và cướp giật của người dân đồng thời bảo vệ tài sản đã vơ vét mà không sợ pháp luật! “Organized Crime” ở Mỹ như Mafia chỉ đáng sách dép cho mấy tên CSVN.
Trí thức mà quá kém cỏi về sự gian xảo trong chính trị thì thua là phải rồi… nhưng mà cũng thấy tội nghiệp cho cái đám trí thức loại này. Đến giờ này vẫn còn muốn thua thêm chút nữa cho nó trọn vẹn, cho nó đầy đủ, hoàn tất cho nó xong phim! Bởi vậy nên anh Ba Bếp (tên gọi của “Bác” Hồ khi lên làm việc đầu bếp trên tầu buôn của Pháp từ hãng nhà Rồng Sài gòn 1910?) đâu cần học hành gì nhiều cho tốn thời giờ! Từ ngày anh Ba (bếp) bị quan Tây bác đơn (1911) xin học trường hậu bổ (của Tây thuộc địa) để làm quan cho Tây, anh Ba hơi căm, chuyển qua học nghề làm chính trị gian ác nên sai khiến hết đám trí thức nhẹ dạ dễ dàng như lấy đồ trong túi ra. Thấy mà tội nghiệp!!!
-------------------------------------------
Phụ Chú:
[1] Nguyễn Văn Trấn đây là Bảy Trấn (chứ không phải là ông Nguyễn Văn Trấn hậu sinh nào đó mới “về thăm Việt Nam sau 32 năm” đâu!) Đây là Trấn “Camel” (dân cậu miệt vườn, chỉ hút thuốc lá hiệu Camel) người chợ Đệm Long An, loại trí thức địa chủ, một đại thụ của cộng sản thời thập niên 30… Đại thụ nầy là tác giả cuốn sách “Viết cho mẹ và quốc hội;”( để chửi xéo đảng CSVN đã vắt chanh bỏ vỏ ). Hắn cùng cỡ tuổi với các tên trùm CS khác như Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Ung Văn Khiêm… đã bỏ lúa ruộng không ai thâu, nhà lầu không ai ở để đi theo cộng sản. Nguyễn Văn Trấn đã từng là chính ủy khu 9 ( miền Tây nam bộ ), chủ nhiệm báo “Le Peuple” đấu tranh công khai với thực dân thời cộng sản miền nam như vịt mới ra ràng. Tập kết ra bắc (cùng lúc với Tô Ký, Đồng Văn Cống, Huỳnh Văn Nghệ...) Sau này Lê Duẫn không cho Nguyễn Văn Trấn được đến một cục xương còn dính chút thịt để gặm cho đỡ tủi! Về Nam sau năm 75, chả có chức vụ gì dù đã có 62 tuổi đảng (tính đến năm 1997), ôm nỗi uất ức cho tới ngày chết.
[2] Ông Châu Tâm Luân người Việt gốc “xì dầu củ cải muối,” được đi du học Hoa kỳ bằng học bổng quốc gia của VNCH, tốt nghiệp Tiến sĩ Kinh tế (đại học Illinois năm 1966), về Việt Nam cuối thập niên 60, dậy môn “Kinh tế nông thôn” và “Quản trị nông trại” tại Trung tâm quốc gia Nông nghiệp (TTQGNN) Sài gòn (và cũng dậy môn Kinh tế tại đại học Vạn Hạnh). Ông Châu Tâm Luân đã có lần giữ chức vụ “Giám đốc” TTQGNN (gồm cả 3 trường Cao đẳng Canh nông, Cao đẳng Thủy lâm và Cao đẳng Thú y Sài gòn) trong một thời gian ngắn (vào giai đoạn mà các chính trị gia mới trổ mã dậy thì Huỳnh Tấn Mẫm và Lê Văn Nuôi sách động sinh viên, học sinh Sài gòn “xuống đường” biểu tình chống Mỹ và chống chính phủ VNCH mạnh mẽ nhất). Trong các lớp học kinh tế mà ông Luân dậy, ông công khai giảng cho sinh viên là “Xã hội chủ nghĩa là con đường duy nhất (sic) để đưa Việt Nam đến vinh quang (Giỏi nhỉ! Tiến sĩ củ cải này chép y chang lại lời của việt gian HCM)” mà không hề thấy ông ta bị công an cảnh sát của chính phủ VNCH đến hỏi thăm (?) – Có lẽ ông ta “too visible!” lúc bấy giờ vì thường xuyên được truyền thông của Mỹ đến trường phóng vấn dài dài (đài CBS, NBC, ABC…) Vào những năm, những ngày cuối cùng của VNCH, xì thẩu Châu Tâm Luân đứng cùng danh sách với các nhân vật của “thành phần (lòng thòng ở chính giữa!) gọi là thứ 3,” rất ồn ào hô hào hòa giải hòa hợp dân tộc… Sau 30 tháng 4 năm 1975, con vẹt ngây thơ này không được CS dùng đến 1 ngày để quét lá đa (không phải đi “cải tạo” vì đã tốt nghiệp tiến sĩ tại Hoa kỳ là may lắm rồi). Sau đó ông Châu Tâm Luân trốn vượt biên đi định cư ở ngọai quốc (định cư ở Thụy sĩ? - Chứ Mỹ chắc chắn là họ không chấp nhận con két “thổ tả” này!)
[3] Bà (?) Ngô Bá Thành tên thật là Phạm Thị Thanh Vân (Ngô bá Thành là tên chồng của bà). Ông Ngô Bá Thành cũng là công chức của VNCH, dậy học trường Cao đẳng Canh nông Sài Gòn. Kể ra chinh phủ VNCH dân chủ và dễ dãi thiệt, vẫn trả lương tháng đầy đủ, vẫn cho ông Ngô bá Thành dậy học như chẳng hề có chuyện gì xẩy ra… Bà Thành tốt nghiệp tiến sĩ Luật tại Pháp và sau đó có học và làm việc trong một thời gian ngắn tại đại học Columbia (New York) Hoa Kỳ. Ở Sàigòn, bà Ngô bá láp này tự phong cho mình là “chủ tịt” của “Phong trào phụ nữ đòi quyền sướng;” biểu tình, tuyệt thực chống chính phủ VNCH (và sự hiện diện của đồng minh ở Việt Nam) rất kịch liệt. Sau 30 tháng 4 năm 1975 được CS cho làm đại biểu quốc hội CS trong 3 khóa (6,7 và 8). Đến khóa 9 thì bị gạt ra. Bà chỉ bày tỏ sự tức giận của mình (bà cho là mình bị gian lận bầu cử? Xin nhờ bà một tí: Chế độ CS làm quái gì có bầu cử dân chủ?) qua sự phỏng vấn của đài BBC chứ chả bao giờ dám biểu tình hay tuyệt thực gì cả? (nên biết, CS chỉ chờ bà này tuyệt thực là tụi nó “cúp” nước luôn thì có mà uống nước tè!)
---------------------------------------------------------
2- Nhận định của đồng môn cư trú tại Úc:
Về Thành phần thứ ba (còn được bà con miền Nam gọi là “bộ phận nằm ở giữa!”) hay còn gọi là cho oai, cho kêu là "Trí thức thiên tả!"
Đa số họ là những người đi du học thời VNCH (con nhà nghèo đi học bổng quốc gia cũng có; con nhà giàu - đại đa số - đi du học tự túc cũng có…) mà lại theo, hay ít ra cũng thích làm dáng CS!? (cái vụ nầy nghe hơi nghịch lý khó tin nhưng là chuyện có thiệt – còn gọi nôm na là “ăn cơm quốc gia thờ ma CS”).
Tôi có những người bạn thân hồi học đại học ở Sài gòn vô bưng theo CS (giờ thì có ít danh phận, con cái đi du học tự túc ở Mỹ hay Canada) và những người bạn “thiên tả”của lúc tôi qua Nhật du học (bây giờ họ vẫn còn thiên tả một cách thầm lặng - tức là không ồn ào binh vực chính quyền CS như xưa - nhưng hầu như vẫn còn mong mỏi CS đổi mới, hồi tâm y như người vợ đã bị chồng bỏ theo vợ bé nhưng vẫn mong chồng có ngày quay trở về mái gia đình xưa!!!) Ở ngọai quốc, CS Bắc Việt thi hành triệt để chính sách tuyên truyền. Qua hình ảnh (tuyên truyền), họ là “những người đại diện cho một quốc gia nghèo khó nhưng quyết tâm chống lại cuộc chiến tranh ‘xâm lược’ của Mỹ!!!” Thế giới và sinh viên Nhật lúc đó còn mông muội và tin lời dối trá (như vẹm) của họ. Những vụ như Mỹ Lai được thiên hạ biết rất nhiều và hình ảnh người lính VNCH bị xem như là “lính đánh thuê…” lãnh thổ VNCH bị xem như một cái thùng rác để các chính trị gia Mỹ (ngạo mạn) và các ông lãnh đạo Việt Nam (bất xứng) tự tiện phóng uế bừa bãi...
Tôi cũng có những người bạn thân “thiên tả” đã “can đảm” về Việt Nam sau 1975 làm việc (khoảng đầu năm 1980). Đa số bây giờ nếu không nghèo thì cũng không giàu nhưng tạm đủ để gởi con đi du học xứ ngoài. Con cái họ muốn đi học bổng nhà nước thì chắc không được rồi vì lý lịch không nặng cân bằng mấy tay vô bưng hay cán bộ CS ngoài Bắc. Nhưng họ cũng không dám nói gì ngoài chuyện khuyên tôi có về thì “đợi khi già có tiền hưu rồi hãy về sống với tiền hưu của mầy." Tôi đã có lần hỏi thử họ là “muốn làm cái gì để đóng góp cho quê hương thì phải làm gì?" thì được họ trả lời là “về Việt Nam chơi, đem tiền về xài cũng là đã đóng góp cho quê hương rồi!!!” Tôi nghĩ đây là câu trả lời này nghe thấy nửa chua chát nửa khôi hài nhưng là câu trả lời chân thật nhất của họ.
Tôi cũng đã có nhiều cơ hội tiếp xúc với những đàn anh, đàn em “thiên tả” hồi học ở Nhật cũng như bây giờ sống và làm việc bên Úc. Tôi dự định trong tương lai sẽ viết về họ một cách khách quan, trình bày những “political psychology,” “paranoia,” “autism...” của họ.
Có điều là “thiên tả trầm lặng ở ngoài” (muốn về Việt Nam) hay “thiên tả im lặng ở trong nước” (muốn trốn ra ngoại quốc) đều có chung một tâm lý: cả hai hình như lúc nào nơm nớp sợ Công an CS bắt (nên nhớ là CS chủ trương “bắt và giết lầm hơn tha lầm!”). CS đã có rất nhiều tuyệt chiêu và sáng kiến về sự bắt bớ này: khi bắt chẳng những họ bắt đương sự mà còn bắt luôn cả gia đình đương sự để khủng bố. Thí dụ như hồi bắt lính đi “Kampuchia” năm 1980, thằng em vợ tôi trốn lính (CS gọi là trốn “nghĩa vụ quân sự!”) công an phường bắt bà mẹ vợ tôi mỗi ngày phải lên phường “làm việc” liên tục trong 3 tháng trời, hăm he sẽ bỏ tù bà cụ nếu em tôi không ra trình diện). Lọai “thiên tả” này không bao giờ sợ Cảnh sát tư bản vì khi họ bị bắt ít ra còn có luật sư bào chữa, báo chí truyền thông hô hóan là vi phạm “human right” dùm!
Riêng “thiên tả ở ngoài nước” dầu “trầm lặng” hay vẫn còn “ồn ào” ủng hộ CS bằng cách thỉnh thoảng rình rập cơ hội xả rác, phê bình đá giò lái, chọc gậy bánh xe tư bản Mỹ, Anh, Pháp, Úc etc... thì đều có chung một đặc điểm: “Vẫn đi cày lãnh lương ở xứ người cho đến ngày tàn hơi, mà không bao giờ dám về làm việc luôn dưới chính quyền CS để xây dựng CHXHVN độc lập - tự do – hạnh phúc!!!" Bởi vì họ biết thừa là về Việt Nam sẽ bị “thổ tả” đầy quần ngay!!!
Tôi không biết luật Nhân Quả của nhà Phật sẽ áp dụng như thế nào vào các hoàn cảnh (“thiên tả”) này? Muốn bàn thêm nhưng lại sợ bị đụng chạm!! Thành ra… tốt nhất là im cho được việc thôi! Có điều tôi tin rằng “muốn biết những gì họ có trong tương lai thì hãy nhìn những gì họ làm trong quá khứ và hiện tại." Đôi khi biết phân tích mà không dám (hay không có cách) giải quyết được cũng là cái khổ của đời sống.
Nghĩ lại đôi khi tôi cũng thấy “thông cảm” cho mấy ông “thiên tả” bạn hay đàn anh của tôi: cái khổ của người bên phe thua cuộc như tôi thì nó quá rõ ràng nên không có gì ấm ức, ít ra còn có đối tượng để “chửi bới” cho đã miệng khi giận; còn cái khổ của “kẻ đứng trong hàng ngũ chiến thắng” sau khi thấy “xã hội chủ nghĩa” lý tưởng của mình không hơn câu nói thực tế của tài phiệt báo chí lá cải (tabloid papers) Rupert Murdoch ( người Úc quốc tịch Mỹ ):
“Khi còn trẻ mà không có lý tưởng xã hội thì mình là người không có con tim; còn vào tuổi trung niên mà vẫn còn ôm ấp "xã hội chủ nghĩa" thì mình là người không có đầu óc (mindless)(*)."
Mấy ông nội trong bộ chính trị CSVN xem ra biết áp dụng câu nói nầy; còn mấy ông “trí thức thiên tả” thì vẫn còn ôm ấp nó; dù đã vào lứa tuổi lục (hay thất) tuần rồi nên đó là nỗi khổ thiên thu của “loài chó hoang” không biết phải trở về với chủng loại nào cho hợp: Loài chó hay loài chồn…??!!
-----------------------------------------------------
Phụ Chú:
(*) “Khi còn trẻ mà không có lý tưởng xã hội thì mình là người không có con tim; còn vào tuổi trung niên mà vẫn còn ôm ấp "xã hội chủ nghĩa" thì mình là người không có đầu óc (mindless)."
Câu nói này thực ra có nhiều nguồn khác nhau như sau:
1- “If you're not a liberal when you're young, you have no heart. If you're not a conservative when you're old, you have no brain." - An old Swedish saying.
2- Người đầu tiên phát biểu câu này có ghi trên sử sách là François Guizot, một chính trị gia dưới thời vua Louis Philippe của Pháp: "Not to be a republican at twenty is proof of want of heart; to be one at thirty is proof of want of head." - Francois Guisot (1787-1874)
4- Câu này được Thủ tướng Pháp Georges Clemenceau sửa lại (revised) là: "Not to be a socialist at twenty is proof of want of heart; to be one at thirty is proof of want of head." - Georges Clemenceau (1841-1929)
5- Nên biết, rất nhiều người lầm tưởng câu nói ( tương tự ) này là của Thủ tướng Anh Winston Churchill. Họ cho là Churchill đã nói: “If you're not a liberal when you're young, you have no heart; if you're not a conservative when you're old, you have no mind.”
Tuy nhiên rất khó kết là luận câu nói này của Churchill bởi vì, đọc qua tiểu sử của Churchill, chúng ta thấy : Churchill đi lính năm 20 tuổi, làm đảng viên đảng Bảo thủ (“Conservative Party”) của quốc hội Anh năm 25 tuổi. Vài năm sau ông đổi qua đảng “cấp tiến” (“Liberal Party”) (nên biết chữ “cấp tiến” - Liberal - thời Churchill khác hẳn với “cấp tiến” bây giờ!); và sau đó lại bỏ đảng “cấp tiến” và trở về với đảng Bảo thủ.
6- Hiện nay, có nhiều báo điện tử Việt ngữ trích câu nói tương tự này và chua là của Tổng thống Nga Vladimir Putin (?): “If you're not a communist when you're young, you have no heart; if you're still a communist when you're old, you have no mind.”
Nhưng tôi không thể nào “verify” câu nói này là của Putin qua “Googling” trên “Internet search.”
Trần Văn Giang
22-12-2009
-------------------------------
Phụ chú của KDĐN
Thật ra thì theo W.Gurney Benham trong cuốn "A Book of Quotations" (1948), và theo Ralph Keyes trong "False Phrases, Spurious Sayings, and Familiar Misquotations" (1992), François Guizot là người đầu tiên đã nói câu "N'être pas républicain à vingt ans est preuve d'un manque de cœur; l'être après trente ans est preuve d'un manque de tête." dịch sang tiếng Anh là "Not to be a republican at twenty is proof of want of heart; to be one at thirty is proof of want of head."
Georges Clemenceau là người đã dùng ý tưởng trên và thay chữ "republican" bằng chữ "socialist", và diễn đạt hơi khác: "A young man who isn't a socialist hasn't got a heart; an old man who is a socialist hasn't got a head."
Quý vị và các bạn có thể xem thêm một số câu nói nổi tiếng khác của Georges Clemenceau ở đây: http://en.wikiquote.org/wiki/Georges_Clemenceau
Chúng tôi cũng xin phép được sửa lại một số lỗi đánh máy trong bài viết của tác giả để quý vị và các bạn cảm thấy dễ chịu khi đọc được những bài viết rất có giá trị.

TIÊN SƯ BỐ BỌN PHẢN ĐỘNG!
Source: phiemdamonline
Nghe tin tượng Lê Nin bị đặt bom em cảm thấy phẫn nộ vô cùng. Tiên sư bố bọn phản động nào dám đặt bom phá tượng vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản toàn thế giới.Nếu bắt được bọn phản động này mà nước Nga nương tay với bọn chúng thì em xin đề nghị với Bộ Công an VN yêu cầu Nga chuyển bọn chúng sang VN để xử tội tử hình. Mà tiên sư bố chúng nó, em nhìn qua hình ảnh thấy bọn chúng đặt bom ở phần đít bức tượng. Hình như bọn chúng cố tình triệt hạ bộ phận sinh sản của bác Lê nin thì phải?
Chúng định không cho bác Lê Nin sản sinh ra cho cách mạng thế giới những ông Lê Nin con nữa hay sao?
Nghe tin này chắc Bác Hồ nhà ta cũng lo lắm thì phải. Nói như nhà thơ Nguyễn Duy:
Bác Hồ đang ngủ trong Lăng
Nghe tin Bác bỗng nghiến răng, giật mình.
Một tin động trời như thế làm sao mà Bác không giật mình được. Lê Nin đã vậy, còn phận mình sao đây?
Em còn nhớ hồi còn sống Bác Tố Hữu đã có câu:
Ông Lê Nin ở nước Nga
Mà sao em thấy rất là Việt Nam
Em xin có một sáng kiến thế này: Đề nghị với bác Mạnh, bác Triết, bác Dũng.... đánh công văn sang bên Nga để xin tất cả các tượng và cả thi hài của Lê Nin về đặt ở cạnh Bác Hồ nhà mình cho các bác đỡ buồn. Dù sao thì ở Ba Đình nhà mình cũng có hẳn cả một Trung đoàn bảo vệ lăng Bác cơ mà.Thậm chí có thể biến quảng trường Ba Đình thành một khu thăm quan như kiểu công viên Thủ Lệ để hàng ngày cho bà con và cả khách quốc tế đến chiêm ngưỡng dung nhan các vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản thế giới.

PHỎNG VẤN MỘT CON TRÂU
Source: Tuổi Trẻ
Phóng viên: Này anh trâu, anh làm sao mà ngơ ngác thế?
Trâu: Tôi không ngơ ngác. Tôi ngạc nhiên.
Phóng viên: Ngạc nhiên vì vấn đề gì?
Trâu: Vì tôi vừa nghe được câu nói của một ông cán bộ khi bình luận về kinh phí cho một công trình lên tới mấy trăm tỷ, ông bảo: "Đừng so sánh nó với trâu bò".
Phóng viên: A, so sánh trâu bò! Tôi biết sự tích này
. Nó bắt nguồn khi người ta bàn về một chiếc xe hơi cao cấp cũng do một quan chức xử dụng. Họ bảo nó đáng giá hơn cả trăm con trâu.
Trâu: Đúng. Và từ đó trở đi, tiêu chuẩn "trâu" lâu lâu lại xuất hiện trên báo chí. Một tiêu chuẩn cực hay.
Phóng viên: Thưa anh trâu, hay ở chỗ nào?
Trâu: 80% dân số Việt Nam vẫn là nông dân. Điều này chả có gì bàn cãi. Và chính số dân đông đảo này làm nên phần lớn thu nhập quốc gia.
Phóng viên: Tôi biết.
Trâu: Và chẳng có gì bí mật khi phần lớn nông dân đang sống ở nước nghèo, thậm chí rất nghèo, con trâu, con bò, vẫn là một tài sản to.
Phóng viên: Tôi biết.
Trâu: Không những to, nhiều gia đình vẫn coi nó là to nhất. Sau bao nhiêu năm, con trâu con bò vẫn là đầu cơ nghiệp như thuở hoang sơ.
Phóng viên: Tôi hiểu mà.
Trâu: Với một chế độ, nhất là chế độ ta, thì việc quan tâm đến dân nghèo rõ ràng phải là mục đích hàng đầu. Và sự quan tâm này không thể chỉ nói bằng khẩu hiệu trên tường hoặc trong sách vở.
Phóng viên: Tất nhiên!
Trâu: Do đó, việc dùng trâu là tiêu chuẩn đánh giá mọi chi tiêu ngân sách không có gì sai, nếu không nói là phát minh vĩ đại.
Phóng viên: Ái chà, vĩ đại!
Trâu: Chứ sao. Nó khiến người nghe hiểu được ngay, và so sánh được ngay. Chả phải ngày nào hay năm nào cũng tìm được một phát minh như thế.
Phóng viên: Đúng.
Trâu: Có thể nói, trên khắp đất nước này, từ bác dân cày đến vị giáo sư, từ bà bán xôi đến ông tiến sĩ, cứ kể tới trâu bò là hình dung ra thịt, xương và tâm linh của nó. Từ trong tranh sơn mài đến bát phở, từ câu hát đến lũy tre làng, con trâu, con bò đã trở thành biểu tượng.
Phóng viên: Đúng!
Trâu: Tôi tin chắc, việc của các nhà lãnh đạo, nhất là những nhà lãnh đạo khi quyết định đến chuyện xử dụng tiền của quốc gia, là phải nghĩ tới biểu tượng này, chứ không phải cho nó chỉ là một "ngoại lệ", một sự so sánh trong một cơn ngẫu hứng rồi thôi.
Phóng viên: Đúng!
Trâu: Việc có một số cán bộ không muốn dùng trâu để tính, chỉ đơn giản là các ông ấy khinh trâu. Trong thâm tâm, ông cho rằng đó là một lối so sánh tủn mủn, thiếu cái vĩ mô của một nhà tư tưởng lớn.
Phóng viên: Tôi cũng nghĩ thế!
Trâu: Tôi muốn thưa với ông ấy rằng: Nhiệm vụ của ông ấy, hay nói đúng hơn, nhiệm vụ của tất cả các ông ấy là phải nghĩ đến chúng tôi từng giây, từng phút không được nghỉ phút nào. Và xin nhắc, đấy không phải là xin. Đấy là điều bắt buộc.
Phóng viên: Bắt buộc?
Trâu: Phải, bắt buộc nếu tôi có quyền. Quyền đúng như tôi đáng ra phải có khi tôi đại diện cho 80% dân số, tôi sẽ cách chức ngay kẻ nào coi thường con trâu. Điều đó chứng tỏ kẻ đó không hiểu gì về nỗi khát khao cháy bỏng của số đông dân chúng.
Phóng viên: Đúng không?
Trâu: Đúng. Nếu anh là con người, hay thậm chí là con trâu, anh phải rơi nước mắt khi nhìn thấy vừa qua, ở một tỉnh nông thôn Bắc Bộ, khi có dịch trâu bò, lúc người ta mang con bò đi đập chết, nhiều phụ nữ nông dân đã lăn lộn kêu khóc tới độ nào. Họ vật vã như con cái qua đời vậy. Nếu anh nhìn cảnh đó, anh muốn cho những kẻ coi thường trâu đến ruộng để kéo cày.
Phóng viên: Xin anh trâu bình tĩnh.
Trâu: Mặc complê, ngồi trong phòng máy lạnh, phát biểu những câu hùng hồn về sự vớ vẩn của đám trâu bò, quả không có gì kém văn hóa hơn thế. Nếu không tôn trọng chúng tôi, thì tốt nhất hãy lặng im.
Phóng viên: Anh trâu ạ, chẳng qua ông cán bộ ấy coi trâu là một tiêu chuẩn kém. Ông ấy muốn đưa ra một tiêu chuẩn cao hơn.
Trâu: Vậy ông ta cũng chả hiểu gì về kinh tế. Nếu con trâu, con bò đáng giá vài xu, thì bất kỳ sự phá sản nào cũng xuất phát từ xu mới đến tỷ. Và bất kỳ nhà quản lý nào cũng hiểu rõ điều này. Lấy dân làm gốc có nghĩa là lấy trâu bò làm tiêu chuẩn khi quyết định một thứ chi tiêu. Đấy là khoa học và cũng là đạo đức. Tại sao khi vừa qua một số người tử tế đến thăm bà con bị nạn, lại tặng trâu bò chứ không tặng vé xem phim? Vì họ hiểu trâu bò ở đó giá trị hơn tất cả.
Phóng viên: Anh trâu ạ, giá của anh không niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Trâu: Tôi biết. Tôi cũng xin thông báo. Đa số người dân chả quan tâm, cũng chả hiểu gì các chỉ số. Họ cũng còn lâu mới hiểu về ODP, về BOT hay GDP. Nhưng nói về trâu thì họ hiểu. Vậy hãy cố gắng nói về trâu nhiều, để giữa cán bộ và nhân dân không cần phiên dịch.
Lê Thị Liên Hoan

"THAM QUAN" VIỆT NAM
Source: phiemdamonline
Chúng tôi những người Việt từ xưa đến nay hay dùng những chữ thưởng ngoạn, thăm viếng, đi xem phong cảnh, thế mà sau năm 75, từ khi thực dân đàng ngoài vào đô hộ đàng trong, thì nảy sinh nhiều chữ lạ - đàng ngoài dùng chữ từ - nghe rất kêu nào là đi tham quan hiện trường, tham quan Hồ Gươm....và lây lan ra cả Hải Ngoại. Trên cửa miệng của một số Việt Kiều cũng thốt ra nào tham quan khu Phước Lộc Thọ, tham quan Sài Gòn Nhỏ... Trên Báo Chí, Đài Phát Thanh, ngay cả BBC, VOA (gọi tắt theo kiểu trong nước là báo đài) cũng đầy tai hai chữ tham quan. Phải chăng Dân Việt Nam ai cũng thích làm quan??? đến nỗi dân Mỹ chính gốc cũng phải thốt ra, không hiểu sao VN có nhiều sĩ quan thế, như vậy có lính không??? Ở hãng này có một ông tướng Việt Nam đang làm assembler đấy. Thôi thì cũng ậm ừ cho qua chuyện.
Làm quan mà tham thì gọi là tham quan là đúng quá rồi. Trong nước hay dùng chữ tham quan thảm nào trong nước tham quan chạy đầy đường, từ cấp "dưới" cho chí cấp "cao", từ ông sĩ quan công an cho đến các quan lớn trong Bắc Bộ Phủ, ai nấy đều có máu tham bừng bừng cả mặt giống y như bản mặt "bác" Phiêu ấy.
Cũng từ khi chữ tham quan được người Việt Hải Ngoại ưa dùng thì có nhiều quan Đốc, Lang Tây ở Sài Gòn nhỏ bị tố cáo gian lận Oeo Phe, bòn tiền bảo hiểm sức khoẻ của chính phủ cấp cho dân nghèo và mới đây có tin choáng váng mặt mày là có một ông quan ba Mỹ gốc Việt ăn cắp hơn 600,000 USD từ tiền tái thiết xứ Iraq, chắc ông quan này nghĩ rằng cái dân Iraq vô ơn bạc nghĩa, khi ông nhìn thấy cảnh trẻ con, người lớn Iraq nổ mìn giết lính Mỹ, reo mừng nhảy múa trên trực thăng, thiết giáp Mỹ bị bắn cháy trên lòng phố Bá Đa, quan ba không lấy cũng uổng vong linh tử sĩ. Hay là ông nghe tin TT Obama hăm hở rút quân ra khỏi Iraq, ông cũng hăm hở rút tiền tái thiết kẻo khi trở về Mỹ thất nghiệp thì cũng còn có tí tiền xài, chờ "gói kích cầu"(1) cuả Obama thì có mà dã họng. Lo xa như vậy thì dù ông là quan ba Mỹ nhưng vẫn còn giữ được tính nhịn ăn hôm nay, nghĩ đến ngày mai "đậm đà bản sắc dân tộc". Chí lý quá.
Bàn về chữ quan tại sao mình không động chạm đến danh từ hải quan nhỉ, ngày xưa mình gọi là nhân viên quan thuế, hoặc gọi tắt là thuế vụ, thế mà mấy tờ báo chợ tại Little Saigon cũng đăng một bản tin ngớ ngẩn đại khái như "hải quan" tại phi trường Los Angeles khám xét hành lý hành khách đi Việt Nam về Mỹ rất nghiêm nhặt. Ơ thế ra hải quan VN qua Mỹ hồi nào vậy hè?
Hải quan tạm dịch là cửa biển hay là quan biển. Cửa biển- bây giờ người ta gọi chung là cửa khẩu, dịch nôm ra là cửa mồm- đâu có thể mọc ra ở phi trường được mà phải gọi là không quan hay phi quan hay là quan ở phi trường mới chính xác chứ, nếu có không quan thì phải có bộ quan, lâm quan, hà quan, ao quan, lộ quan.... Nghe nói mấy anh cu hải quan VC cũng phải chạy chọt khá bộn tiền mới có được chức vị ngon lành này, vì chẳng bao lâu họ sẽ kiếm lại được vốn mà lại còn ăn nên làm ra nữa.
Ôi dào lại còn tiếng cảnh quan nữa, sao quan đâu mà lắm thế, - cảnh quan là phong cảnh, là quang cảnh như người mình vẫn dùng rất là bình dân ấy mà -. Đi tham quan cảnh quan Tràng An ( cứ như Tràng An bên Tầu ấy, nhờ anh tý. Từ khi có bức tượng Lê Thái Tổ đội mũ chào mào của vua Tầu sừng sững như tượng Hạng Võ cử đỉnh cạnh Hồ Gươm, giới sĩ phu sồn sồn choai choai Bắc Hà ngay đến cả đài BBC cũng một hai đua nhau gọi người Hà Nội là người Tràng An). Sang trọng quá, dân kinh đô có khác, có giống nhau là quên tiệt cái kinh đô cổ kính Huế ấy đi. Cứ thấy cảnh bẻ hoa của người Tràng An là thấy văn hoá quá đi chứ nị.
Đọc báo trong nước chúng ta thường gặp những đoạn văn đại khái như sau:
Đi tham quan Hà Nội, chúng tôi thấy nhân dân than phiền thủ đô đầy rẫy tham quan, ô lại thế này nữa nhá có nhiều quan chức - lại quan nữa, người mình có tí tinh thần dân chủ nên gọi là viên chức - lương ít nhưng nhà lại to "đùng" - người mình gọi là to tổ bố, to tướng, tiếng đùng là tiếng nổ, VD tiếng súng nổ đùng đùng - Những sĩ quan công an - dịch sát nút từ chữ Police officer của Mẽo, thực ra phần lớn - người ta gọi là đa phần - mấy anh cu này chưa học hết tiểu học - đã ngăn chặn hiệu quả các gánh hàng rong khiến cảnh quan Hà Nội bớt nhếch nhác. Kể từ khi các đồng chí hải quan triển khai đóng chốt trên các tuyến đường ra ngoại thành, đã tác động đến dân "buôn chuyến". Chúng trở nên e dè hơn.
Thiết nghĩ khỏi cần dịch.
đồ biển
Chú thích:
(1) Gói Kích Cầu Kinh Tế: Nghe lố bịch quá, chắc các học (dịch) giả trong nước dịch nguyên văn từ chữ Economic Stimulus Package của Mỹ, người mình có thể dịch là Kế Hoạch Kích Thích Kinh Tế, Economic Stimulus Bill, là Đạo Luật Kích Thích Kinh Tế, Economic Stimulus Plan là Chương Trình Kích Thích Kinh Tế. Coi chừng mấy ông chủ báo chợ lại bê luôn nguyên văn kích cầu lên trên trang bìa thì khổ.
Bàn thêm: Travel Packages có nghĩa là khi Hãng Du Lịch có một chương trình du lịch Âu Châu 7 ngày, gồm trọn gói gồm tiền vé máy bay, khách sạn.... Nếu chúng ta ưng thuận thì mua cái package này, bằng không mua package khác. Chữ packages khó dịch ra tiếng Việt nhưng không thể dùng bừa là Gói được. Travel Packages không thể dịch là Gói Du Lịch được mà có thể dịch là Lịch Trình Du Lịch, hoặc Chương Trình đi Du Lịch....hoặc to tát hơn là Kế Hoạch đi Du Lịch thế là bà con cô bác cũng đã ngầm hiểu như thế nào. Kính thỉnh cao ý.(đb)
01/17/10. 09:34:31 pm. 19291 words, 547 views. Categories: Góp nhặt, Thiên hạ sự, Chuyện vui, Những chuyện ỡm ờ, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn ,
HITLER BỊ CẤM XÀI FACEBOOK Ở VIỆT NAM

Đỉnh cao trí tuệ nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ngăn chặn việc dùng mạng xã hội Facebook ở Việt Nam, vì sợ giới trẻ bị trúng độc "tự do dân chủ" do thế giới bên ngoài đưa đến. Thật là hết sức khôi hài, có khác nào đang đau bụng tiêu chảy mà lại đi bít cái... hậu môn lại thì nó cũng phải tìm đường mà xì ra chứ chịu sao nổi!!! Đã trễ quá rồi các con Việt cộng ơi, đừng bắt chước Trung cộng mà làm cái trò ngu muội nữa, lo ăn năn sám hối và tìm đường chạy trước đi kẻo dân họ đập cho vỡ đầu bây giờ. Thời buổi bây giờ chứ đâu phải cái lúc "cách mạng mùa Thu" trá hình yêu nước chơi trò tầm vông vạc nhọn đâm sau lưng các chiến sĩ quốc gia, chụp mũ vu cáo cho người ta là cường hào ác bá đem ra đấu tố chôn sống hoặc bỏ bị thả sông cho đi mò tôm, rất là dã man mọi rợ!
Hít Le bị cấm xài Facebook ở Việt Nam là tên của video khôi hài rất đáng nên xem... cho đỡ buồn.
Thánh Sống Lão Bà
01/06/10. 12:26:58 pm. 308 words, 272 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Video tếu, Chuyện vui, Những chuyện ỡm ờ, Liên kết blogs ,