Category: Hậu trường

CHIẾN TRANH VIỆT NAM VÀ NGÀY 30 THÁNG 4 DƯỚI MẮT TIẾN SĨ CÙ HUY HÀ VŨ

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (phải) và Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ - Hình: Cù Huy Hà Vũ

Chiến tranh Việt Nam và ngày 30 tháng 4 dưới mắt Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ
Source: VOA News

Huy Phương Thứ Năm, 29 tháng 4 2010

VOA: Thưa Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, nhiều người cho rằng trong chiến tranh Việt Nam người Mỹ không thua trận trên chiến trường mà thua tại sân nhà, do các làn sóng phản chiến trên các đường phố Hoa Kỳ lúc bấy giờ. Một trong những người này là Tiến sĩ Roger Canfield đã nói như vậy trong một cuốn sách của ông ấy mới đây. Tiến sĩ nghĩ sao về nhận định này?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Hoa Kỳ cho rằng họ can thiệp quân sự ở Việt Nam là nhằm ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản mà Miền Bắc Việt Nam là “tiền đồn” ở Đông Nam Á trong bối cảnh chiến tranh lạnh. Vì vậy, việc Hoa Kỳ đã thua trong chiến tranh Việt Nam đương nhiên có nghĩa họ đã bại trận trước chủ nghĩa cộng sản, điều mà Nhà trắng và nhiều người khác hẳn không thể và không muốn chấp nhận.

Vậy cần phải có một lý giải khác về thất bại quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam và tôi cho rằng Tiến sĩ Roger Canfield đã đi theo hướng đó bằng cách cho rằng Hoa Kỳ thua trận là do người dân nuớc này phản chiến.

Quan điểm của cá nhân tôi là Hoa Kỳ đã thật sự thua trên chiến trường Việt Nam và các làn sóng phản chiến trên các đường phố New York, Washington… chỉ là hệ quả, phản ánh sự mất kiên nhẫn của người dân Mỹ, đặc biệt trước thiệt hại quá lớn về sinh mạng của lính Mỹ.

Thực vậy, ngoài con số hơn 300.000 lính Mỹ bị thương, số lính Mỹ chết trong “Chiến tranh cục bộ” từ 1965 đến 1968 tại Miền Nam Việt Nam là khoảng 58.000, gấp đôi số lính Mỹ chết trong chiến tranh Triều Tiên từ 1951 đến 1953, trong khi cộng sản Triều Tiên còn có sự hỗ trợ của gần 3 triệu lượt quân Trung Quốc.

VOA: Vậy theo ý ông chủ nghĩa cộng sản đã thắng Hoa Kỳ tại Việt Nam cách nay 35 năm?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Có một thực tế là Mỹ đã thua trận trước các lực lượng cộng sản Việt Nam nhưng điều này tuyệt nhiên không có nghĩa chủ nghĩa cộng sản đã thắng Mỹ.

Như chúng ta đã thấy, chủ nghĩa cộng sản dưới màu sắc chủ nghĩa xã hội chưa bao giờ là một hiện thực ở Việt Nam bởi cho đến ngày hôm nay hệ tư tưởng ấy vẫn chỉ là “định hướng” như chính ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam thừa nhận.

Nói cách khác, tính ưu việt hay hơn hẳn của chủ nghĩa xã hội so với chủ nghĩa tư bản mà Hoa Kỳ đại diện chưa bao giờ được chứng minh ở Việt Nam nên sẽ là quàng xiên khi nói rằng bên chiến thắng trong cuộc chiến tranh Việt Nam là hệ tư tưởng cộng sản. Sự sụp đổ ngoạn mục của Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước chỉ có thể xác nhận quan điểm này của tôi.

VOA: Vậy theo Tiến sĩ, Hoa Kỳ thua trong chiến tranh Việt Nam là vì những lý do gì?

TS Cù Huy Hà Vũ: Phải khẳng định rằng không có sự giúp đỡ đắc lực của Liên Xô và Trung Quốc thì khó có thể tưởng tượng nổi Hà Nội đã có thể giành chiến thắng trước Hoa Kỳ. Tuy nhiên, phương tiện chiến tranh mà các lực lượng cộng sản Việt Nam nhận được từ hai cường quốc cộng sản này chắc chắn không thể bì được với phương tiện chiến tranh mà Hoa Kỳ sở hữu tại chiến trường cả về số lượng lẫn chất lượng.

Để nói rằng, sự giúp đỡ mà Liên Xô và Trung Quốc đã dành cho Việt Nam trong cuộc chiến với Mỹ là đặc biệt quan trọng nhưng rõ ràng không phải là nhân tố quyết định chiến thắng của Việt Nam.

Tất nhiên không ai có thể sửa lại được lịch sử nhưng theo tôi, lẽ ra đã không có chiến tranh Việt Nam và tất nhiên đã không có chuyện Hoa Kỳ thua trận nếu như siêu cường quốc này đã không cố tình mắc sai lầm trong đánh giá đối phương. Thực vậy, việc Hoa Kỳ bao cho Pháp đến 80% chi phí quân sự vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất rốt cuộc không cứu vãn nổi sự thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ vào năm 1954 ngay từ lúc đó đã chứng tỏ ưu thế về phương tiện chiến tranh không phải cái để bảo đảm chiến thắng trước những chiến binh Việt Nam cộng sản.

Nói cách khác, lẽ ra chiến tranh Việt Nam đã có thể tránh được nếu như trước đó Mỹ đã không ngộ nhận những người lính của Tướng Giáp là những rô-bốt của Trung Quốc và Liên Xô, hay lính đánh thuê cho chủ nghĩa cộng sản, nếu như Hoa Kỳ đã dụng công để hiểu người Việt.

VOA: Như vậy phải chăng ý Tiến sĩ muốn nói rằng muốn xử lý quan hệ với Việt Nam, thì điều kiện tiên quyết là phải hiểu người Việt? Nếu đúng vậy thì tại sao?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Khi tiến hành chiến tranh ở Việt Nam, Hoa Kỳ đã quy những người cộng sản Việt Nam và những người ủng hộ họ vào chủ nghĩa cộng sản, tức những người này được điều khiển bởi một hệ tư tưởng duy nhất là chủ nghĩa cộng sản. Sai lầm chết người của Hoa Kỳ chính là chỗ này: người Việt có hệ tư tưởng riêng của họ nên không còn chỗ cho hệ tư tưởng khác, mà ở đây là chủ nghĩa cộng sản, trú ngụ.

Hiểu như thế thì chủ nghĩa cộng sản chỉ là phương tiện mà người Việt sử dụng để phục vụ hệ tư tưởng riêng của mình.

Như vậy, Hoa Kỳ vào Việt Nam là để đánh chặn hệ tư tưởng cộng sản nhưng thực tế lại phải giao chiến với hệ tư tưởng của người Việt, điều mà Hoa Kỳ không hề tính tới trước khi lâm trận nên thất bại là tất yếu.

VOA: Ông vừa nói người Việt có một hệ tư tưởng, vậy hệ tư tưởng đó là gì, thưa ông?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Việt Nam là một nước đa sắc tộc và người Việt chiếm tới 90% dân số, do đó cái tên Việt được các triều đại phong kiến Việt Nam dùng để chỉ cư dân và làm cơ sở để đặt tên nước như Đại Cù Việt, Đại Việt rồi Việt Nam.

Người Việt hiện nay còn được gọi là người Kinh. Còn tại sao có cái tên này thì chưa có nghiên cứu nào, từ điển nào đề cập. Nhưng theo tôi, cái tên “Kinh” là đặt theo tên của Kinh Dương Vương, thủy tổ của người Việt theo huyền sử và điều này chứng tỏ người Việt rất có ý thức về nguồn cội của mình.

Như vậy, có thể nói dân tộc Việt Nam là một dân tộc thuần Việt suốt chiều dài lịch sử và chính đặc điểm “thuần Việt” này đã hình thành cho người Việt tư tưởng Một dân tộc, Một quốc gia hay Dân tộc đồng nhất với Quốc gia, để từ đó đi đến nguyên lý bất di bất dịch: không thể có độc lập dân tộc thực sự với một quốc gia bị chia cắt về lãnh thổ, hay độc lập dân tộc phải gắn liền với thống nhất lãnh thổ quốc gia, thống nhất đất nước.

Cũng phải nói rõ rằng sự hình thành của người Việt miền Nam Việt Nam là do di dân từ Bắc Việt Nam xuống. Thực vậy, năm 1611, Chúa Nguyễn Hoàng là bề tôi Nhà Hậu Lê, đã từ Thuận Hoá, tức là Quảng Trị - Thừa Thiên - Huế ngày nay, là nơi ông trấn thủ, thực hiện cuộc Nam tiến đầu tiên để mở rộng bờ cõi Đại Việt xuống phía Nam.

Do đó, cái gốc Bắc của người Việt Miền Nam bản thân nó đã là một sự kháng cự khủng khiếp chống lại mọi toan tính hay hành vi chia cắt miền Nam khỏi miền Bắc.

Nhà thơ Xuân Diệu, bác ruột và là cha nuôi tôi, trong cuộc diễn thuyết đầu tháng 12/1945 tại Hà Nội với tiêu đề không gì rõ hơn: “Miền Nam nước Việt và người Việt Miền Nam” kêu gọi thanh niên Miền Bắc gia nhập các đội quân Nam tiến để cùng “đồng bào” Nam bộ chống Pháp tái chiếm, đã nhắc tới cái đau đáu nguồn cội của những người Việt theo Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam bằng những câu thơ bất tử của Huỳnh Văn Nghệ: “Từ thuở mang gươm đi mở cõi/Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”.

Tóm lại, hệ tư tưởng của người Việt là Việt Nam là một thể thống nhất và vì vậy là sự phủ nhận chủ nghĩa ly khai. Tôi gọi hệ tư tưởng ấy của người Việt là chủ nghĩa Nhất thể Việt, tạm dịch là Vietnamunism, tương tự như chủ nghĩa Bài Ly Khai vậy.

Tôi cũng khẳng định rằng một dân tộc có hệ tư tưởng của riêng mình là bất diệt.

VOA: Lịch sử Việt Nam là sự đan xen của các cuộc chiến tranh vói nước ngoài và các cuộc nội chiến. Vậy liệu chủ nghĩa Nhất thể Việt hay chủ nghĩa Bài Ly Khai của người Việt mà ông vừa nói tới liệu có mâu thuẫn với các cuộc nội chiến không, thưa ông?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đúng là lịch sử Việt Nam không chỉ gồm các cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc và vệ quốc. Thế nhưng có một điều vô cùng đặc biệt và tưởng chừng mâu thuẫn là các cuộc nội chiến lại không dẫn đến sự chia cắt lãnh thổ mà ngược lại, củng cố sự thống nhất của quốc gia.

Thực vậy, các cuộc nội chiến đều nổ ra vào giai đoạn thoái trào của triều đình đương thời như một sự tất yếu để bầu chọn người lãnh đạo mới của quốc gia. Điều này là cốt tử đối với người Việt vì nếu không kịp thời thay thế triều đình suy vi thì Việt Nam sẽ là miếng mồi ngon cho phong kiến Trung Hoa. Nghĩa là “Nội chiến hay là Chết” trong bối cảnh Việt Nam luôn bị nước lớn phương Bắc này rình rập thôn tính.

Tóm lại, cần xem nội chiến như chất kháng thể có sẵn trong cơ thể quốc gia Việt Nam có chức năng can thiệp kịp thời để lành mạnh hoá cơ thể.

Cũng bởi đều nhằm tới sứ mạng quốc gia ấy nên không bên tham chiến nào có ý đồ cát cứ, ly khai dẫn tới chia cắt lãnh thổ quốc gia. Nghĩa là “được ăn cả, ngã về không” như cách nói dân gian và thỏa hiệp nếu có thì chỉ là tạm thời.

Điển hình cho quyết tâm nội chiến để duy trì và củng cố sự thống nhất quốc gia Việt Nam là Chúa Nguyễn Ánh. Sau khi đánh bại Chúa Trịnh rồi Triều Tây Sơn trong cuộc nội chiến nổ ra khi Triều Lê mạt vận, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế và để chứng tỏ thống nhất đất nước là mục tiêu tối thượng của cuộc chiến do ông tiến hành, đã ghép chữ đầu của Gia Định là thủ phủ Miền Nam với chữ cuối của Thăng Long là kinh đô Nhà Lê ở Miền Bắc để làm niên hiệu Gia Long.

Để nói thống nhất Bắc-Nam, thống nhất đất nước Việt Nam là vấn đề có tính lịch sử, là yêu cầu tối thượng của hệ tư tưởng của người Việt hay chủ nghĩa Nhất thể Việt và vì vậy là bất khả kháng. Do không hiểu được người Việt như thế nên Hoa Kỳ đã can thiệp quân sự nhằm duy trì Vĩ tuyến 17 chia đôi Việt Nam và thất bại là cái giá phải trả.

VOA: Vậy theo Tiến sĩ, chiến tranh Việt Nam kết thúc vào ngày 30/4/1975 là cuộc chiến của Hoa Kỳ hay là nội chiến giữa người Việt với người Việt?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Theo tôi chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ được bắt đầu từ cuối cuộc chiến tranh của Pháp tại Đông Dương khi Hoa Kỳ quyết định tài trợ 80% chi phí cho cuộc chiến tranh này như đã đề cập. Tuy nhiên cuộc chiến tranh này của Hoa Kỳ lại dẫn đến cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa những người Việt. Vì vậy nói chiến tranh Việt Nam là một cuộc nội chiến là không sai nhưng đó chỉ là một cuộc chiến trong một cuộc chiến khác, cuộc chiến tranh do Hoa Kỳ tiến hành.

Trên thực tế, giai đoạn sau khi Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam vào năm 1973 theo Hiệp định Paris được các chuyên gia quốc tế gọi là giai đoạn “Việt nam hoá” chiến tranh của Hoa Kỳ.
Chính vì vậy tôi cho rằng ngày 30/4/1975 là ngày kết thúc cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ tại Việt Nam, đồng thời cũng là ngày kết thúc cuộc nội chiến giữa những người Việt.

VOA: Ông nghĩ sao về cách diễn đạt của ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam và nguyên cả bộ máy tuyên truyền cho rằng ngày 30/4/1975 là “Ngày giải phóng Miền Nam” ?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Khi nói “giải phóng Miền Nam” thì không thể không xác định giải phóng Miền Nam khỏi ai, khỏi cái gì.

Trước hết, chắc chắn không phải “giải phóng Miền Nam” khỏi sự chiếm đóng của Hoa Kỳ vì ngày 30/4/1975 quân đội cộng sản nhận sự đầu hàng của Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Dương Văn Minh, đó chưa kể Hoa Kỳ đã rút hết quân khỏi Miền Nam từ năm 1973 theo Hiệp định Paris.

Vậy chỉ còn khả năng “giải phóng Miền Nam” khỏi chế độ tư bản, kẻ thù của chủ nghĩa xã hội theo học thuyết Mác – Lê nin. Tại thời điểm năm 1975 thì đúng là như vậy do có sự ngộ nhận của một bộ phận những người cộng sản Việt Nam, mà bằng chứng là các chiến dịch “cải tạo công thương nghiệp tư doanh” và “tập thể hoá nông nghiệp” trên cơ sở quốc hữu hoá cơ sở sản xuất, đất đai thuộc sở hữu tư nhân do chính quyền mới tiến hành ngay sau đó.

Tuy nhiên tại thời điểm hiện nay thì quan niệm đó chắc chắn không chỉ là lỗi thời mà còn là phản động theo đúng nghĩa đen của từ này vì ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam đã công khai đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

VOA: Ông có thể chứng minh điều này được không vì cho đến thời gian gần đây, lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tuyên bố kiên định với chủ nghĩa Xã hội?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Cốt lõi của chủ nghĩa xã hội theo học thuyết Mác-Lê Nin là kinh tế Nhà nước chỉ huy hay kinh tế tập trung, kinh tế tư nhân được coi là “bóc lột người” bị loại trừ. Thế nhưng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã phá sản tuyệt đối vào năm 1985 khi chính sách giá-lương-tiền của Chính phủ Việt Nam gây lạm phát tới 900%, dẫn đến kinh tế tư nhân hay kinh tế thị trường được Đảng cộng sản Việt Nam phục hồi tại Đại hội 6 của Đảng vào năm sau, 1986.

Nhưng phải đến năm 1990 thì chủ nghĩa tư bản mới được chính danh bằng Luật Công ty và doanh nghiệp tư nhân. Và Đại hội 10 của đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra cách đây 4 năm đã hoàn tất công cuộc phá bỏ chủ nghĩa xã hội bằng cách chính thức cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân.

Ngoài ra, hai giai cấp được đảng Cộng sản Việt Nam coi là nòng cốt xây dựng chủ nghĩa xã hội và là đối tượng được hưởng sự chăm sóc đặc biệt của chế độ này là công nhân và nông dân, Búa và Liềm ấy, hiện nay trên thực tế lại thuộc những người cùng khổ của xã hội, tựa những gì mà Nguyễn Ái Quốc đã mô tả cách đây 90 năm trong báo Le Paria - Người cùng khổ.

Thực vậy, ở nhiều địa phương công nhân bị bóc lột và bị xúc phạm nhân phẩm thậm tệ, không có quyền đình công trên thực tế, còn nông dân thì bị chính quyền công nhiên chiếm đoạt đất đai, nguồn sống có thể nói là duy nhất của họ.

VOA: Nếu vậy tại sao ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tuyên bố kiên định chủ nghĩa xã hội theo học thuyết Mác-Lê nin, thưa ông?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Sở dĩ có chuyện ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam nói một đằng, làm một nẻo là vì họ sợ mất quyền lợi của bản thân. Thực vậy, nếu chính thức tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa xã hội thì Đảng cộng sản Việt Nam sẽ mất độc quyền lãnh đạo đất nước trong khi quyền lực lại là phương tiện làm giàu của đại đa số đảng viên có chức vụ.

Tóm lại, việc duy trì cho Đảng cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo đất nước không gì khác hơn là để phục vụ lợi ích phi pháp của một nhóm nhỏ trong Đảng cộng sản Việt Nam, đi ngược lại lợi ích của tuyệt đại đa số nhân dân trong đó có hàng triệu đảng viên cộng sản và vì vậy quyết không thể kéo dài hơn được nữa!

Do đó, để tránh cho ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam một sự sụp đổ như đã diễn ra với các chính thể cộng sản tại Liên Xô và Đông Âu, thậm chí tồi tệ hơn rất nhiều vì hành xử của tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân đáng tiếc là vẫn đậm chất nông dân theo đó cách mạng đồng nghĩa với trả thù, phục hận, cách duy nhất là mau chóng thực hiện chế độ đa đảng, điều mà Hiến pháp Việt Nam chưa bao giờ cấm và bản thân Hồ Chí Minh người sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam đã chủ trương và thực hiện.

VOA: Nghĩa là Tiến sĩ cho rằng cách diễn đạt “Ngày giải phóng Miền Nam” theo ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam và bộ máy tuyên truyền bây giờ là không đúng?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đúng như vậy và vì thế cần phải bỏ. Đó là chưa kể cách diễn đạt này dễ bị diễn giải thành “Miền Bắc thôn tính Miền Nam” và trong trường hợp đó lại trở thành mầm mống gây chia rẽ Bắc – Nam không chỉ trong nhân dân mà trước hết và ngay trong chính nội bộ những người cộng sản.

Mặt khác, không thể nào thực hiện được hoà hợp, hoà giải với những người Việt bên kia chiến tuyến như Nhà nước cộng sản Việt Nam chủ trương nếu Nhà nước này vẫn duy trì cách diễn đạt mang đậm chất “thắng – thua” như trên.

Mặc dầu vậy, không thể phủ nhận tính lịch sử của ngày 30/4/1975 vì đó là ngày đất nước Việt Nam thống nhất sau 30 năm chiến tranh, độc lập dân tộc được Chính phủ Hồ Chí Minh mà phụ thân tôi, Cù Huy Cận là bộ trưởng thành viên, tuyên ngày 2/9/1945 đến lúc đó mới thực sự trọn vẹn.

So với những nước khác cũng bị Chiến tranh lạnh chia cắt thì đó dứt khoát là một kỳ tích của người Việt Nam. Thực vậy, mãi 14 năm sau bức tường Berlin mới sụp đổ còn bán đảo Triều Tiên thì chưa biết khi nào mới có thể chứng kiến Bàn Môn Điếm được tháo dỡ. Hoàn cảnh Trung Quốc và Đài Loan tuy có khác đôi chút, nhưng cũng vậy, chưa biết bao giờ mới chung một màu cờ.

Do đó “Ngày thống nhất đất nước” theo tôi là thích hợp nhất để diễn đạt ngày 30/4/1975 và cũng là trung thành với nguyên lý “Độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất đất nước” của chủ nghĩa Nhất thể Việt hay hệ tư tưởng của người Việt.

VOA: Chúng tôi được biết vào tháng 3 vừa qua, Tiến sĩ có gửi lãnh đạo Nhà nước Việt Nam kiến nghị xây Đài tưởng niệm chung cho các chiến sĩ hy sinh trong chiến đấu bảo vệ Hoàng sa và Trường Sa, trong đó ông đề nghị tôn vinh các quân nhân quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh bằng cách công nhận họ là liệt sĩ. Xin ông cho biết mục đích khi ông đã đưa ra sáng kiến này?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Thực lòng khi đưa ra Kiến nghị tôi không nhằm bất cứ mục đích chính trị nào mà chỉ đơn giản nghĩ rằng tất cả những ai đã hy sinh để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam đều có quyền được Nhà nước thay mặt nhân dân Việt Nam tri ân và tri ân một cách xứng đáng.

Trừ những kẻ phản bội Tổ quốc Việt Nam, không ai có quyền tước đoạt cái quyền thiêng liêng ấy của những người lính Việt Nam Cộng Hoà đã ngã xuống trong cuộc chiến bảo vệ Hoàng sa, lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam.

Tất nhiên khi Kiến nghị này được Nhà nước Việt Nam nghiêm túc thực hiện thì đó sẽ là sự khởi đầu quan trọng cho hòa hợp, hoà giải giữa những người Việt từng ở hai bờ chiến tuyến.

Nhưng để có được hoà hợp, hoà giải dân tộc thực sự và bền vững thì Nhà nước Việt Nam phải thay đổi căn bản tư duy về vấn đề này.

VOA: Ông có thể nói rõ hơn về chuyện thay đổi căn bản tư duy này, chẳng hạn thay đổi như thế nào, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Hoà hợp, hoà giải dân tộc là xuất phát từ lợi ích chung, lợi ích quốc gia nên dứt khoát không phải là sự ban phát của nhà cầm quyền mà phía bên kia là kẻ chịu ơn, không phải là sự tha thứ, khoan dung dành cho những đứa con hư biết hối lỗi như cách Nhà nước Việt Nam thể hiện bấy lâu nay.

Hoà hợp, hoà giải dân tộc là biết tôn trọng và tốt hơn nữa, biết nhân nhượng những quan điểm chính trị khác biệt, kể cả đối lập để phụng sự Tổ quốc Việt Nam một cách tốt nhất, hiệu quả nhất. Nói cách khác, hoà hợp, hoà giải dân tộc là chấp nhận chung sống của các quan điểm chính trị khác biệt

Cần lưu ý rằng chính sách đoàn kết toàn dân tộc mà Nhà nước Việt Nam luôn đề cao trước hết phải là đoàn kết chính trị, tức đoàn kết các quan điểm chính trị khác biệt bởi nếu cùng chính kiến thì cần gì phải đoàn kết.

Tổ quốc Việt Nam không của riêng ai và vì vậy sẽ là có tội nếu Nhà nước Việt Nam chần chừ hoặc tồi tệ hơn, không thực tâm thực hiện hoà hợp, hoà giải dân tộc để mọi người Việt bất luận chính kiến đều có cơ hội cứu nước trước nguy cơ Trung Quốc xâm lược Trường Sa nói riêng, lãnh thổ Việt Nam nói chung, rõ ràng hơn bao giờ hết!

Nhân đây một lần nữa tôi kêu gọi ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam mau chóng thực hiện chế độ đa đảng ở Việt Nam bởi nếu không, Hoà hợp, hoà giải dân tộc sẽ lại trở thành Lừa dối dân tộc với hậu họa đã có thể nhìn thấy trước.

VOA: Xin cảm ơn Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ về sự chân thành và thẳng thắn cũng như thời gian mà ông đã dành cho chúng tôi trong cuộc phỏng vấn này.

***********

ĐÔI LỜI GÓP Ý

Lại thêm một quan điểm lạ, dĩ nhiên là khá hơn "Tiến sĩ" vừa dỏm-vừa láu cá-vừa ngu Đỗ Ngọc Bích nhiều (y thị đã có một bài viết rác rưởi vô giá trị đăng trên trang Việt ngữ BBC mà Diễn Đàn Ái Hữu Ninh Thuận không đăng lại vì sợ làm dơ bẩn và làm mất giá trị của Diễn Đàn này), nhưng vẫn không đúng với sự thật lịch sử. Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ tuy có một lập trường và ý thức dân tộc nhưng lại rất phiến diện trong cái phạm trù "Nam tiến", không phù hợp với những gì thực sự đã diễn ra. Thực ra thì cộng sản lợi dụng dân tộc chủ nghĩa và những người quốc gia yêu nước tại miền Bắc làm lính xung kích cho cái gọi là chiến tranh "chống Mỹ cứu nước", tức là "chống xâm lăng", để mang lại chiến thắng cho người cộng sản, đảng cộng sản, và chủ nghĩa cộng sản; nhưng rủi thay cái chiến thắng mà cộng sản giành được tại Việt Nam cũng là cái chiến thắng sau cùng của chủ nghĩa cộng sản trên thế giới. Chính cái chiến thắng đó đã đẩy cả hai triệu cái miệng đi khắp thế giới mà nói với mọi người rằng "chúng tôi đã phải chạy trối chết để trốn thoát khỏi cái địa ngục kinh hoàng cộng sản, chúng tôi là những nhân chứng sống đây, hãy nhìn gương chúng tôi đây mà tránh xa bọn cộng sản và đừng bao giờ theo bọn cộng sản", và chính những chứng nhân lịch sử đó đã góp phần trong cuộc đánh sập chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu và làm cho cộng sản quốc tế tan nát vô phương cứu chữa.

Bọn Việt cộng phải đổi mới về kinh tế để tự cứu mình, nhưng chúng vẫn là Việt cộng từ mấy thế hệ liên tục. Chúng đổi mới về kinh tế nhưng không đổi mới về chính trị, là cách mà chúng học đòi từ Trung cộng để duy trì và củng cố quyền lực, làm gì có chuyện cộng sản Việt Nam lại không phải là cộng sản. Những khuôn mặt ấy, những con người cộng sản ấy từ Hồ chí Minh đến Võ nguyên Giáp, Trường Chinh, Lê Duẫn, Võ văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh... đều là những kẻ đã dạy cho đàn em đấu tố cha mẹ mình, tàn sát đồng bào mình, tắm máu dân tộc mình. Nếu chúng không phải là người cộng sản thì là ai vậy? Chỉ lấy ví dụ như vụ thảm sát Mậu Thân chẳng hạn, để thấy rõ bản chất cộng sản tàn ác, chuyên chính của chúng. Chúng đã có khi nào nhận tội trước quốc dân đâu? Vậy chúng yêu nước, yêu dân tộc ở chỗ nào?

Cả miền Bắc chẳng qua bị bọn cộng sản lừa bịp, lợi dụng làm lính xung kích cho chủ nghĩa cộng sản núp dưới chiêu bài giải phóng dân tộc, chống Mỹ cứu nước, liên tục tấn công đánh vào miền Nam, trong khi miền Nam chỉ lo phòng thủ nằm chờ địch tới thì đánh, không tới thì nghỉ, luận về chiến thuật chiến lược, miền Nam Việt Nam bị bó tay trong thế thủ trước một đối phương liên tục tấn công với cả một hậu phương hùng hổ không lo sợ bị tấn công. Chiến tranh mà như vậy thì đã thấy sự hơn thua từ lâu, nhưng không ngờ là miền Nam bị sụp đổ quá nhanh mà thôi!

Ngày 30 tháng 4/1975, chẳng phải là ngày thống nhất Bắc Nam, cũng chẳng phải là ngày giải phóng miền Nam, mà nó chính là ngày cộng sản xâm lăng và cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, và là ngày tang tóc của dân chúng miền Nam Việt Nam. Ngày đó không phải là ngày thống nhất nhân tâm mà là ngày phân rẽ nhân tâm, để rồi từ đó cha không còn tin con, vợ không còn tin chồng, không còn ai tin ai cả... và nếu như cái cột đèn mà có chân thì cũng đã bỏ nước mà ra đi từ lâu. Vậy thì thống nhất cái gì vậy? Chẳng lẽ việc xâm lăng cướp đoạt mọi thứ, vơ vét tất cả vào tay mình, tóm thu tất cả mọi thứ chở về miền Bắc, gom 3/4 dân miền Nam đưa vào khu kinh tế mới hay trại cải tạo, như thế gọi là thống nhất hay sao? Còn về những kiến nghị, đề nghị của Tiến sĩ Hà Vũ đối với những tên điếc, tham và ác cộng sản thì hãy chờ xem. Sớm hay muộn bọn chúng cũng sẽ nhốt ông vào tù, chỉ trừ phi ông là cò mồi đi mở lối thoát thân cho những tên tội đồ của dân tộc.

Kình Dương Đạo Nhân

KHUÔN MẶT "VIỆT KIỀU YÊU VIỆT CỘNG" CẦN ĐƯỢC SỞ THUẾ CHIẾU CỐ


Ông Phạm Văn Thủy (thứ hai từ trái sang) trong buổi trao tặng xe chữa cháy (ảnh do tổng lãnh sự VN tại Houston phổ biến).

Khuôn mặt "Việt Kiều Yêu Việt Cộng" cần được sở thuế chiếu cố

Source: TTO, vietnamnet, take2tango

Chúng tôi yêu cầu quý vị luật sư, quý vị chuyên ngành về thuế khóa trong cộng đồng người Việt quốc gia tại Hoa Kỳ nên điều tra hoặc tìm cách thông tri cho sở thuế liên bang và tiểu bang, và các cơ quan công lực để điều tra chiếu cố đến tên "Việt Kiều yêu Việt cộng này" và các hoạt động thương mại của y. Công ty của y trên danh nghĩa chỉ là một công ty nhỏ (xem các thông tin đính kèm bên dưới), vậy lấy đâu ra tiền để làm những việc rất tốn phí như vậy. Không chừng nguồn tài chánh của y có thể là do rửa tiền hoặc y là một kinh tài cho Việt cộng, dùng tiền do nhà nước Việt cộng cung cấp để thực hiện các mục đích do chúng hoạch định. Tất cả mọi nghi vấn khả dĩ đều có thể đặt ra để mang ra trước luật pháp những kẻ có hành vi bất chính và mờ ám, bất kể họ là ai. Trách nhiệm của chúng ta là phải báo cáo cho chính quyền sở tại các hoạt động mà chúng ta nghi ngờ là phi pháp.

Những bọn lợi dụng danh nghĩa tỵ nạn cộng sản để được định cư tại nước ngoài, nhưng thực chất bọn chúng chỉ là những kẻ ra đi vì lý do kinh tế, muốn sang Tây Mỹ để làm giàu rồi trở lại làm ăn hợp tác với cộng sản, những bọn này là những thành phần cực kỳ nguy hiểm vì chúng nằm vùng phá hoại hình ảnh của những người tỵ nạn chân chính và phá hoại cộng đồng người Việt quốc gia, những nạn nhân đau thương của chế độ cộng sản tàn bạo dã man. Theo định nghĩa "REFUGEE" của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) thì rõ ràng chúng đã man khai và lừa bịp thế giới. Không rõ các nhà luật gia trong cộng đồng người Việt tỵ nạn nghĩ sao về việc này, chúng ta có thể làm được gì để tống cổ bọn chúng về Việt Nam sống vĩnh viễn với bác đảng của chúng... và chờ đợi ngày bị cộng sản "lột truồng" như tên Trần Trường ngu dốt.

KDĐN

Báo Tuổi Trẻ trong số phát hành ngày thứ Năm, 01/04/2010, đã đăng một bản tin có liên quan đến Cộng Ðồng Người Việt Tị Nạn Cộng sản tại Houston Texas dưói tựa đề như sau: Một Việt kiều tặng 20 xe cứu hỏa cho VN.

Nguồn tin từ Tổng lãnh sự quán VN tại Houston ( Texas, Mỹ ) cho biết chiều 29-3, ông Phạm Văn Thủy (Việt kiều) cùng gia đình đã trao tặng cho lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy VN 20 xe cứu hỏa và đồ cứu hộ.

Có mặt tại buổi lễ, tổng lãnh sự VN tại Houston Lê Dũng đã cảm ơn sự giúp đỡ của gia đình ông Thủy cho lực lượng phòng cháy chữa cháy của VN. Các xe cứu hỏa, cứu hộ sẽ được chuyển đến lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy của Bộ Công an, Công an TP.HCM và một số tỉnh khác.

Trong dịp này, một công ty của Mỹ có tên Lion Dell đã trao tặng đoàn công tác của Bộ Công an một số thiết bị phòng cháy chữa cháy.

Trước đó, ông Thủy từng tặng xe cứu hỏa cho lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy của Bộ Công an, Công an TP.HCM, Bình Dương và Ninh Bình (mỗi nơi hai chiếc).

Ông Thủy hiện là tổng giám đốc Công ty Sunrise Plastic có trụ sở tại thành phố Houston. Chi nhánh của công ty tại tỉnh Bình Dương, xí nghiệp Hừng Đông, đã hoạt động 12 năm nay.

(THANH TUẤN).....

Link tới các tin đã đăng về việc này:

Một Việt kiều tặng xe cứu hỏa cho lực lượng PCCC Việt Nam

Một Việt kiều tặng 20 xe cứu hỏa cho VN

Một Việt kiều Mỹ tặng 20 xe cứu hỏa, cứu hộ cho Việt Nam

Overseas Vietnamese presents fire truck to Binh Duong
Source: vietnamnet
16/11/2007

Pham Van Thuy, an overseas Vietnamese from the US on November 16 presented two fire trucks to the southern province of Binh Duong .

Thuy also sent US firemen to help their local peers use the trucks, which have 32-m ladders.

Thuy is CEO of the Sunrise Plastic Enterprise Inc., which invested in Vietnam ’s Hung Dong Plastic Company eight years ago. Hung Dong has a plant in Song Than 2 industrial zone, in Binh Duong province.

***********************************

INFORMATION ABOUT THIS BUSINESS:

Sunrise Plastic Enterprise Inc.
Phone: (281) 458-4772

Owner Name & Mailing Address:

SUNRISE PLASTICS ENT INC
PO BOX 489
PEARLAND TX 77588-0489

Andrew Franco
Operations Coordinator at Sunrise Plastic Enterprise, Inc.
Chemicals | Houston, Texas Area

Vị trí của công ty:
13301 Beaumont Hwy Bldg 16
Houston Texas 77049-1455

Website: http://www.nhuahungdong.com (website này hiện không hoạt động)

Bản đồ hướng dẫn đến trụ sở công ty:


View Larger Map

********************************************

COMPANY OVERVIEW by CORTERA
http://start.cortera.com/company/research/k3s7nsj5l/sunrise-plastic-enterprise-inc/

SUNRISE PLASTIC ENTERPRISE INC is in the Plastics Materials and Basic Forms and Shapes industry in HOUSTON, TX. This company currently has approximately 10 to 20 employees and annual sales of $1,000,000 to $4,999,999.

COMPANY DETAILS

Location Type
Headquarters

Industry
Plastics Materials and Basic Forms and Shapes

Year Founded
1987

Sales Range
$1,000,000 to $4,999,999

Employees
10 to 20

******************************************

COMPANY OVERVIEW by MANTA
http://www.manta.com/c/mm7cwz9/sunrise-plastics

Sunrise Plastics ( Sunrise Plastic Enterprise Inc* )

13301 Beaumont Hwy # 12
Houston, TX 77049-1455(Houston, TX Metro Area)
Phone: (281) 458-4772

Business Categories

Plastics-Products-Retail in Houston, TX
Whol Plastic Materials/Shapes, Store Retailers Not Specified Elsewhere

Sunrise Plastics Business Information

Sunrise Plastics is a private company categorized under Plastics Resins and located in Houston, TX. Current estimates show this company has an annual revenue of $500,000 to $1 million and employs a staff of approximately 1 to 4.

Also Does Business As

Sunrise Plastic Enterprise Inc

HQ, Branch or Single Location

Single Location

Annual Sales (Estimated)
$500,000 to $1 million

D&B: $3,000,000

Employees (Estimated)
1 to 4
D&B: 10

NAICS Code and Description
453998, Store Retailers Not Specified
Elsewhere

by AI HUU NINH THUAN
04/24/10. 08:24:02 pm. 1458 words, 801 views. Categories: Không ðề, Thiên hạ sự, Thông báo (A), Nối vòng tay lớn, Tin tức ðó ðây, Hậu trường, Thông báo (A), Liên kết blogs, Thông báo (F) ,

30-04-1975: MÁU VÀ NƯỚC MẮT - NGHỊ QUYẾT 36 ĐANG THỰC THI TẠI MỸ - LM NGUYỄN THUẬN LÀ AI MÀ DẸP CỜ VÀNG TẠI NHÀ THỜ ARIZONA? - BỊ HÃM HIẾP, VẪN CÒN TRINH!


Dương Văn Minh - Thích Đôn Hậu - Thích Trí Quang

Thảm sát Mậu Thân...

... đầu hàng Việt cộng...

... thư đầu hàng của Dương văn Minh...

... Việt cộng ngơ ngáo vào chiếm Dinh Độc Lập

... người di tản trên mẫu hạm Midway...

30-04-1975: Máu và Nước Mắt
Source: congdongnguoiviet.fr

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
2010/04/20



Kể từ giờ phút tên phản tặc Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng để dâng Miền Nam Tự Do vào tay của cộng sản Hà Nội; thì hàng năm cứ đến ngày Quốc Hận 30-04, là mọi người dân Việt, dù ở quốc nội, hay nơi hải ngoại cũng đều cảm thấy xót đau; bởi tất cả đều không bao giờ quên; và mãi mãi vẫn nhớ đến một ngày tang thương đã trùm phủ xuống quê hương. Ngày nước Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay giặc thù cộng sản.

Ngày 29/03/1975. Nhưng riêng thành phố Đà Nẵng quê hương tôi vì nhờ có «công lao » của « Lực lượng Hòa hợp Hòa giải Phật Giáo Thống Nhất (Ấn Quang)» đã đưa từng đoàn xe ra tận núi rừng để đón rước bộ đội Bắc Việt vào thành phố sớm hơn một tháng.

Từ ngày vượt biển ra hải ngoại cho đến hôm nay, tôi vẫn hằng mong đợi một bài viết thật trung thực và đầy đủ về những cuộc bạo loạn, cũng như những ngày cuối cùng của thành phố Đà Nẵng trước khi mất nước. Song, cho đến giờ phút này tôi vẫn chưa hề thấy, nên tôi, một phụ nữ không biết gì về văn chương lại thấp kém về mọi mặt. Nhưng, bởi mấy chục năm qua lòng tôi vẫn xót đau, khi những hình ảnh của những người đã bị chết oan, trong đó có những bé thơ, cứ hiện về như trách móc bảo tôi hãy lên tiếng. Vì thế, tôi phải hết sức cố gắng để viết lại những gì mà chính tôi đã mắt thấy, tai nghe, những điều mà có rất nhiều người đã biết, nhưng vì một lẽ nào đó nên tất cả đều im lặng. Họ không muốn hay không dám nói.

Tôi đã chứng kiến từ ngày 20/03/1975, với từng đoàn người di tản từ các tỉnh Trị-Thiên, Nam-Tín-Ngãi, đổ về Đà Nẵng mỗi ngày một đông, họ chỉ mong được lên tàu di tản vì ở những nơi đó VC đã hoàn toàn kiểm soát, không còn gì để hy vọng.

Tại Đà Nẵng, trong khi từng đoàn người bồng bế nhau chạy xuống bến Bạch Đằng, thì từng loạt pháo kích của VC bắn theo nổ chặn đường, làm kẻ chết, người bị thương, ai còn sống, bỏ tất cả lại để chạy thoát thân. Nhưng rồi chuyến tầu cuối cùng cũng đã rời bến Bạch Đằng; những người còn lại đành quay trở về. Trên đường phố từng toán người dìu dắt nhau trở lại, sau khi trở về nhà, họ đóng cửa, chỉ nhìn ra đường qua cửa sổ, họ đã sống trong những giờ phút hãi hùng, chờ đợi, không biết những gì sẽ xãy ra. Thành phố ngưng mọi sinh hoạt.

Thầy chùa đã đưa xe ra tận núi rừng để đón Cộng quân vào Đà Nẵng:

Tôi vẫn nhớ mãi về buổi sáng 29/03/1975, lúc ấy, vì phải đi tìm người thân bị thất lạc nên tôi có mặt tại ngã ba Huế, nhìn kim đồng hồ tay đương chỉ đúng tám giờ, khi nghe những tiếng động ồn ào, đồng bào mở cửa nhìn ra. Tôi cùng đồng bào đều nhìn thấy trên đường phố, từng đoàn xe đủ loại, xe Jeep, xe chở khách, xe nhà binh của các đơn vị quân sự bỏ lại. Trên các đầu xe, tất cả đều có cắm song song một lá cờ ngũ sắc của Phật giáo và một lá cờ nửa đỏ, nửa xanh, ở giữa có ngôi sao vàng của «Mặt trận Giải phóng miền Nam » tất cả đều có gắn loa phóng thanh đang ầm ầm tiến ra hai ngã một về phía Hòa Mỹ hướng ra đèo Hải Vân để đi Huế; và một về phía Phước Tường hướng về Hòa Cầm để đi vào Tam Kỳ-Quảng Nam. (xin lỗi tôi phải nói như thế, để các vị chưa biết về Đà Nẵng sẽ dễ hiểu hơn).

Đến 13 giờ cùng ngày, cả thành phố đều nghe những tiếng hô vang dậy:

« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng, yêu cầu đồng bào hãy mau mau mở cửa ra để chào mừng và hoan hô bộ đội giải phóng miền Nam anh hùng! ».

Cả thành phố đều mở cửa nhìn ra. Trên đường phố từng đoàn xe từ hai ngã đang tiến vào thành phố, đồng bào nhìn kỹ thì ra là hai đoàn xe đã ra đi hồi tám giờ sáng, chỉ khác hơn là trên các xe bây giờ chở đầy bộ đội miền Bắc, còn được cắm thêm những cành lá mà trước kia VC thường gọi « cành lá ngụy trang ». Tiếp theo sau là những xe thiết giáp trang bị đầy đủ hỏa tiển phòng không, đại bác và tiếng hô vẫn tiếp tục vang vang, bây giờ mọi người mới nhìn thấy rõ ràng, tất cả các xe, ngoài người tài xế, còn có một « ông hoà giải » và một « vị sư » mặc áo cà sa vàng ngồi bên cạnh, và những tiếng hô đó cứ thay phiên phát ra từ hai cái mồm của hai người này.


Đại đức Thích Minh Tuấn

Đến chiều, vẫn chưa tìm được người thân, tôi được tin là có nhiều người đã bị « An ninh Phật giáo » bắt giam ở các « chùa », nên tôi đến chùa Pháp Lâm tức chùa tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng, số 500 đường Ông Ích Khiêm ĐN, để cầu cứu « Thượng tọa » Thích Quang Thể, Chánh đại diện Phật giáo QN-ĐN. Vì thế, khoảng 17 giờ tôi nhìn thấy một chiếc xe Jeep nhà binh dừng lại ngay cổng chùa, từ trên xe có hai « thầy » bước xuống đó là « Đại đức » Thích Minh Tuấn, người Huế, Hiệu trưởng trường trung học Bồ Đề, Phó Đại diện tỉnh Giáo hội QN-ĐN, Thích Minh Tuấn là một trong những người lãnh đạo trong Viện Hóa Đạo 1 của Ấn Quang. Sau đó là Thượng tọa-Thị giả của Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại Tu viện Nguyên Thiều. Và hiện nay là Thượng tọa Viện chủ Tu viện Nguyên Thiều, Bình Định. Và « Đại đức » Thích Như Ký tức Mai Đăng Em, quê ở Mân Lập, quận 3, Đà Nẵng, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam - Đà Nẵng. Tiếp theo là hai « ông hòa giải » quần tây, áo sơ mi trắng, cả hai cùng mang băng đỏ như hai «thầy ». Cả bốn người cùng vào nhà khách của chùa gặp Thượng tọa Thích Quang Thể.

Mở đầu bằng giọng Huế, Thích Minh Tuấn nói:

"Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia ruớc sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chon vào thành phố, mọi việc đều tốt".

Tiếp theo, Thích Như ký nói:

"Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe vô tận Hà Lam, Thăng Bình, đã đón bộ đội ta, do Đại Tá Phan Hoan chỉ huy vào thành phố một cách an toàn".

Thượng tướng Lê Quang Hòa (tên thật Lê Thành Kim, 1914-1993), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng thanh tra Quân đội, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Chính ủy đầu tiên Quân đoàn 1, Chính ủy Cánh quân Duyên hải rồi cánh quân Đông trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.

« Thượng tọa » Thích Quang Thể gật đầu vui vẻ định nói gì với hai « thầy », nhưng ngay lúc đó Lê Quang Hòa (Trung tướng Việt cộng) tức Nguyễn Văn Hòa, quê Điện Bàn, Quảng Nam, tập kết ra Bắc trở về, là Tư lệnh phó quân khu 5 cùng đi với mấy tên cận vệ bước vào chùa, Thượng Tọa Thích Quang Thể đứng lên chào, Lê Quang Hòa nói:

« Tôi đến đây để thăm chùa, đồng thời để nói lên lời cám ơn Thượng Tọa và giáo hội đã tích cực trong công việc đưa, đón bộ đội giải phóng vào thành phố, một thành quả không ngờ, vì khi nghe Ngô Quang Trưởng tuyên bố: "Các Lực luợng Quân-Cán-Chính tại Đà Nẵng sẽ tử thủ và có 45 ngày để dân Đà Nẵng di tản". Chúng tôi nghĩ là sẽ có môt lực luợng hùng hậu, nên Bộ tư lệnh quân khu 5 đã dự tính lập vòng đai bao vây trong vòng ba tháng, mới có thể vào thành phố Đà Nẵng được. Vì vậy, khi các thầy đưa xe ra đón, chúng tôi không tin, nên phải lấy tin từ quân báo thật chính xác, mới dám cho bộ đội lên xe của các thầy. »

Quay sang hai « thầy » Lê Quang Hòa nói:

« Tôi đặc biệt khen ngợi Đại đức Thích Minh Tuấn đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia để đón Sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chon vào thành phố một cách an toàn. Tướng Chon rất vui mừng khi được trở lại quê hương Thanh Khê, Đà Nẵng, và công lao của Đại đức Thích Như Ký cũng không kém vì Đại đức cũng đưa xe vào tận Hà Lam, Thăng Bình để đón bộ đội của Đại tá Phan Hoan vào thành phố không hề gặp trở ngại".

Giữa lúc đó, tôi nhìn thấy Thượng tọa Thích Quang Thể quay vào phía góc chùa nhìn tôi một cách ái ngại. Tôi hiểu ý, nên liền chào Thượng tọa và ra về.

Sau đó, "Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo" đã hướng dẫn các đoàn xe của bộ đội VC vào chiếm giữ các đơn vị của quân đội cũ, và lại dùng loa phóng thanh kêu gọi:

« Yêu cầu tất cả đồng bào hãy treo cờ Phật giáo! »

Phải công nhận là Phật giáo nói Phật tử chiếm 80% là đúng, Nhưng chỉ đúng trong những ngày này mà thôi, vì thấy các « chùa » đồng loạt treo cờ «Mặt trận giải phóng » cũng như thấy khí thế của Phật giáo như vậy, nên nhiều người bình thường chỉ theo đạo thờ cúng ông bà hoặc Khổng Giáo nhưng vì muốn an thân, họ đã đến các « chùa » mua cờ ngũ sắc đem về treo trước cửa, xem như là lá bùa hộ mệnh. Trừ ba tôn giáo đã chấp nhận mọi thứ, cương quyết không treo cờ Phật giáo đó là Công Giáo, Tin Lành và Cao Đài.

Ngoài ra, để lập công với « cách mạng » Đại đức Thích Minh Tuấn, đã nhân danh: « Là phó đại diện tỉnh giáo hội Phật giáo QN-ĐN, Hiệu trưởng trường Trung tiểu học Bồ Đề, xin dâng hiến tất cả các trường Bồ Đề và các cơ sở khác của giáo hội cho cách mạng ». Thấy vậy, có nhiều Phật tử phản đối, Thích Minh Tuấn trả lời:

« Bây giờ mình đâu có cần gì những thứ đó nữa, vì chúng ta có công đánh đuổi Mỹ-Ngụy, thống nhất đất nuớc, mọi việc Giáo hội cần đến thì có chính phủ giúp đỡ».

Khi nói đến LLHG, thì ngoài những công lao trên họ còn có những thành tích khác đáng kể như sau đây:

Trong lúc đồng bào trên đường di tản, LLHG đã xuống tận bến Bạch Đằng dùng loa phóng thanh kêu gọi:

« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp, Hòa giải thị bộ Đà Nẵng. Trụ sở đặt tại chùa Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng, thiết tha kêu gọi đồng bào đừng di tản, hãy ở lại với chính quyền cách mạng ; ngụy quân, ngụy quyền cấp bậc, chức vụ gì sẽ được trả nguyên cấp bậc và chức vụ ấy. »

Vì thế, mà ở trại cải tạo T.154, Tiên Phước, Quảng Nam, tôi biết có người không phải sĩ quan mà đã khai là « Trung úy », mục đích để được « trả lại »… cấp bậc cũ! Nhưng không ngờ, rồi sau đó đã phải ở tù như những sĩ quan thật. Và rồi, cấp bậc, chức vụ gì thì phải ở tù theo cấp bậc, chức vụ ấy!!!


Tái hiện sự tích Đức Phật đản sinh tại chùa Pháp Lâm (Đà Nẵng).

Nhân đây, tôi xin viết thêm một trường hợp khác. Trong cơn say máu người, Hòa giải Phật giáo cũng đã đến nhà ông bà Trần Quốc Thái ở số 06 đường Lý Thường Kiệt, Đà Nẵng, nhưng khi ập vào nhà thì chỉ còn căn nhà trống. Ông bà Trần Quốc Thái đã chạy thoát, mất mồi, chúng tức tối la hét, đập phá lung tung. Tôi nghĩ là ông bà Trần Quốc Thái đã có được một hồng ân quá lớn, nếu không thì chúng đã xé xác ông rồi, nhẹ lắm cũng như ông Trần Sô vậy.

Nhân đây, tôi xin nói rõ về ngôi nhà này: Tôi biết ông bà Trần Quốc Thái đã vay muợn của nhiều người để xây cất, Nhưng sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn đâm thuê chém mướn giết chết, Hội đồng Gian nhân Phản loạn đã tịch thu với lý do là « tài sản của đảng Cần Lao » và dùng làm cơ quan Nha Cảnh sát Quốc gia vùng 1. Ông bà Trần Quốc Thái đã dắt con cái đi ở nhờ nhà người khác, Nhưng cũng phải thắt lưng, buộc bụng để có tiền trả cho đến mười năm mới hết nợ làm nhà.

Năm 1973, vì truy tìm mãi vẫn không có bằng chứng là « tài sản của Cần Lao » nên ngôi nhà mới được trả lại cho ông bà Trần Quốc Thái.

Đến năm 1975, Hòa giải Phật giáo chiếm giữ, sau đó giao cho VC lấy làm Bộ chỉ huy công an vũ trang.

Từ ngày 30/04/1975, Việt cộng ra lệnh truy tầm ông Trần Quốc Thái, « Bí thư đảng Cần Lao miền Trung ». Tôi cũng biết ông Trần Quốc Thái là người Bắc di cư, thời Đệ Nhất Cộng Hòa có làm Quận trưởng quận Điện Bàn, Quảng Nam, còn có Cần lao hay không thì khó biết được, vì đảng Cần Lao không công khai hoạt động như các đảng phái khác

Một nạn nhân khác là ông Trần Quốc Dân, người Thanh Khê, quận 2, Đà Nẵng, đi kháng chiến chống Pháp, sau đó là Thiếu tá Quân đội Bắc Việt xâm nhập vào Nam. Lúc đó, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, (sau là Sư đoàn Sao Vàng) Nguyễn Chon cũng người Thanh Khê, Đà Nẵng là Trung đoàn phó. Ông là người đầu tiên rời bỏ hàng ngũ VC trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia vào năm 1962. Ông kể với người thân:

"Trước đó tôi có gặp người của ông Ngô Đình Cẩn, nên mới dám quyết định trở về. Sau khi quyết định, tôi đã lợi dụng trong một lần giao tranh với quân đội VNCH tại chiến trường Đại Lộc, Quảng Nam, tôi vượt sông Thu Bồn và theo sự hướng dẫn của người tôi đã gặp, tôi được gặp ông Ngô Đình Cẩn. Và tôi được sự giới thiệu của ông Cố vấn nên tôi vào Sài Gòn trình diện Tổng Thống Ngô Đình Diêm., vì tôi tin tưởng rằng Tổng Thống chắc chắn hiểu được những người đi tham gia kháng chiến. Và tôi đã nghĩ đúng, vì khi gặp mặt Tổng Thống, sau khi nói rõ về mình và trình bày ý nguyện của tôi, thì Tổng Thống dạy rằng:

Tôi đã hiểu được chú em, bây giờ đáng lẽ ra tôi trả lại em quân hàm Trung tá, vì ngoài đó có cấp Thượng tá, Nhưng thôi vì danh dự Quốc Gia em hãy nhận quân hàm Thiếu tá. Tôi xin được ra chiến đấu, Nhưng Tổng Thống bảo:

Không được, hãy về đoàn tụ với gia đình trước khi nhận công tác. Và Tổng Thống ban thưởng tôi ba trăm ngàn đồng từ tay của Tổng Thống".

Ông Trần Quốc Dân trở về Đà Nẵng, sau một thời gian ngắn ông mua một căn nhà tại đường Trần Cao Vân và cuới vợ. Rồi ông được làm việc tại Bộ Công Dân Vụ.

Một năm sau, Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn đâm thuê, chém mướn giết chết. Là một người cứng cỏi, Nhưng ông Dân đã rơi nuớc mắt, ông kêu lên:

"Thế là hết! Tổng Thống không còn nữa, thì sẽ không còn ai hiểu tôi ngoài Tổng Thống".

Vài tháng sau ông tâm sự với người thân:

"Tôi chán nản trước nạn kiêu binh và kiêu tăng ngày càng lộng hành trên đất nuớc, chắc tôi sẽ xin xuất ngũ".

Tôi không nhớ rõ ngày tháng, Nhưng sau đó ông đã xin xuất ngũ và cộng tác với cụ Vũ Hồng Khanh. Chức vụ cuối cùng VNQDĐ của ông là một trong bốn Phó chủ tịch Thành bộ Đà Nẵng.

Ngày 24-03-1975, trong lúc ông Trần Quốc Dân chuẩn bị đưa gia đình đi di tản, thì bất ngờ hai ông: Đại đức Thích Như Ký, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam-Đà Nẵng cùng Huỳnh Phổ, cư sĩ Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo quận 2, Đà Nẵng (cả hai đều là cố vấn của LLHG Thị bộ ĐN) dắt theo một đám "Thanh niên Phật tử" có vũ trang đến nơi (sau này tất cả trở thành công an VC). Hai người này vào nhà ông Dân, Thích Như Ký nói:

"Chúng tôi Ban lãnh đạo Lực luợng Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng, mời ông lên chùa tỉnh Giáo hội để cùng làm việc, ông hãy tin tưởng vào chúng tôi và ông sẽ có một chỗ đứng trong lòng lịch sử".

Nói là "mời" Nhưng đám thanh niên Phật tử đứng sau lưng hai ông, tên nào cũng lăm lăm tay súng. Không còn cách nào khác, ông Dân đành phải theo chúng lên chùa.

Ông Dân đi rồi, gia đình biết ông sẽ gặp nguy, nên vợ ông dắt hai đứa con thơ của ông bà đến chùa Pháp Lâm tức chùa Tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng để xin gặp chồng; Nhưng đội An ninh Phật tử chặn ngay ở ngoài cổng không cho vào. Vợ ông Dân khóc lóc, van lạy thế nào cũng không được, nên đành dắt hai con trở về.

Ngày 30-03-1975, khoảng 10 giờ sáng, LLHG Phật giáo đưa ông Dân từ chùa Pháp Lâm đến nhà giam Kho Đạn ở số 15, đường Đào Duy Từ, Đà Nẵng. Lúc giải giao, chúng đã trói hai tay ông ra sau, còn tròng thêm một vòng thòng lọng lên cổ, cách trói này giống như chúng đã trói các vị quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa, trong cuộc bạo loạn bàn Phật xuống đường, vào mùa hè 1966; khi áp giải các vị nói trên đến chùa Phổ Đà. Bởi cách trói này, nếu nạn nhân bỏ chạy, thì sợi dây sẽ tự thắt cổ lại mà chết. Như thế, vẫn chưa đủ, mà đội "An ninh Phật tử" còn cầm súng đi kèm hai bên. Thấy vậy, đồng bào Đà Nẵng đã gọi chúng là "Ủy ban Áp giải".

Ngày 03-04-1975, khoảng 21 giờ tối, Nguyễn Chon, tướng VC. Đến nhận ông Dân tại nhà giam Kho Đạn. Sáng hôm sau, người ta phát hiện xác chết của ông Dân đã chết, xác được bỏ vào Nhà Vĩnh Biệt của Quân Y Viện Duy Tân ĐN, trên thân thể của ông có nhiều vết đạn.

Chúng tôi xin nhắc lại. Năm 1962, ông Dân là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, thì Nguyễn Chơn là Trung đoàn phó. Sau khi ông Dân bỏ đơn vị trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia, thì Nguyễn Chơn đã thay thế ông Trần Quốc Dân làm Trung đoàn trưởng. Đến 1975, Nguyễn Chơn lên tướng. Như vậy, cho chúng ta thấy, một mặt Phật giáo đã bắt ông Trần Quốc Dân đem giam trong chùa Pháp Lâm. Mặt khác ra lệnh cho Thích Minh Tuấn đem xe ra tận đèo Phú Gia để rước Sư đoàn Sao Vàng của Nguyễn Chơn (tướng VC), rồi sau đó giao ông Dân cho Nguyễn Chơn xử bắn, theo chỉ thị của VC một cách rõ ràng không thể chối cãi.

Sau khi ông Dân chết, bọn "An ninh Phật tử" đã hướng dẫn VC, xông vào nhà ông Trần Quốc Dân dùng bạo lực đuổi vợ con ông ra khỏi nhà, mà chúng nói là "Nhà của Diệm".

Vợ ông Dân chỉ được ôm mấy bộ áo quần và dắt các con ông bà về nương tựa với gia đinh tại chợ Tân Lập, Đà Nẵng.

Những người đã chết dưới bàn tay tàn bạo của "Lực luợng An ninh Phật giáo Ấn Quang":

Tối 29-03-1975, Đội "An ninh Phật giáo" đã bắn chết bảy người tại quận 3 Đà Nẵng. Trong số này chúng tôi biết mặt, biết tên bốn người, đó là các ông:

1- Hồ Hân, quê Quảng Ngãi, nhà ở An Thị, An Hải Bắc, nguyên Trưởng ban Thẩm vấn Ty Cảnh sát Quốc gia, thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Năm 1964, ông bị Phật giáo bắt đánh về tội "Dư đảng Cần Lao".

2- Nguyễn Phận, nhà ở An Tân, An Hải Bắc, nhân viên ban 2 Chi khu quận 3, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, thuộc Khu đảng bộ Yên Bái.

3- Phạm Lý, quê Tứ Câu, Thanh Thủy, Điện Bàn, Quảng Nam, nhà ở An Cu 3, An Hải Đông, công nhân sở Mỹ, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cả hai vị nói trên đều trực thuộc Trung ương Pháp định do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo.

4- Riêng ông Bùi Ngọc Cang, Phường trưởng Phường An Hải Bắc. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa ông là nhân viên phòng 2, Thị đoàn Bảo An Đà Nẵng. Năm 1964, ông bị Phật giáo bắt đánh về tội "Dư đảng Cần Lao".

Lúc "Lực luợng An Ninh Phật giáo đến nhà, vợ ông Cang ra mở cửa. Vừa thấy mặt ông Cang là một tên đã bắn xả vào người ông liền mấy phát. Ông Bùi Ngọc Cang gục chết ngay giữa nhà, trước sự kinh hoàng của vợ con; bà Cang ngất xỉu, các con ông gào thét lên kêu cứu, còn "Đội An Ninh Phật Giáo lạnh lùng bỏ đi ra!!!

Cùng bị bắn với bốn vị kể trên, còn có ba người nữa. Tôi nhớ một người tên Mua, một người tôi quên tên cả hai người này đều là người An Hải Đông, quận 3 Đà Nẵng, là Cán bộ Liên hiệp Nghiệp đoàn lao công, đảng viên Đảng Công Nông do Chủ tịch Trung ương Trần Quốc Bửu lãnh đạo; và một người khác là nhân viên Cảnh sát, người Quảng Trị (chúng tôi cũng quên tên) đã bị bắn chết ngay trước Trại Ngô Quyền, An Hải Bắc, quận 3. Sau khi chết được đồng bào chôn cất ngay tại chỗ. Cho đến trước ngày vượt biển chúng tôi vẫn còn thấy nấm mộ của người này tại đó, đồng bào vẫn thường đến thắp hương cho nấm mộ vô chủ này. Không biết bây giờ có dời đi nơi khác hay không?

Ngoài ra, vào buổi chiều 29-03-1975, khoảng 19 giờ, vì không lên tầu di tản được, tôi trở về nhà, khi xe tôi chạy đến ngã ba Huế, bỗng thấy một đám đông vây quanh trước một căn nhà ở góc phía trái thuộc phuờng An Khê, quận 2, Đà Nẵng làm kẹt xe. Tôi phải dừng lại, trước mặt tôi là một lũ "An ninh Phật giáo" Đang đằng đằng sát khí trực chỉ vào một căn nhà khá khang trang, đang đóng cửa, bọn này la hét:

"Tất cả mọi người ở trong nhà phải đều ra ngoài hết, nếu không thì chúng tao sẽ đốt nhà".

Sau một hồi lâu không thấy động tĩnh; tôi nhận thấy trên khuôn mặt của đồng bào ai cũng đều lo sợ. Có lẽ ở gần nhà nên họ biết về những người trong nhà này. Trong lúc đồng bào đang lo lắng, thì bỗng có hai người đàn ông khoảng chưa tới ba mươi tuổi đã mở cánh cửa ở bên hông trái của căn nhà bước ra. Nhưng thật bất ngờ là khi hai người này vừa bước xuống chưa hết bậc tam cấp; thì bọn "An Ninh Phật Tử" liền nổ súng bắn xả vào hai người này. Cả hai vị đều gục chết trên vũng máu, thân thể nằm vắt ngang nửa trên nửa dưới của bậc tam cấp nơi thềm nhà của họ. Thấy vậy, tôi mới hỏi thăm đồng bào ở đó và tôi được biết: hai vị đó là hai anh em ruột và đều là nhân viên Cảnh Sát.

Trước cái chết của hai vị này, đồng bào đã khiếp đảm vội giải tán ngay, ai về nhà nấy, tôi cũng phải rời hiện trường lập tức. Nhưng cho đến bây giờ và mãi mãi, tôi vẫn không bao giờ quên được hình ảnh của hai vị cũng như căn nhà của họ, tôi vẫn tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại quê hương để tìm cho ra tên họ của những người đã chết một cách tức tuởi và oan uổng dưới bàn tay tàn ác của Phật giáo Ấn Quang; bởi tôi không muốn tên tuổi của họ sẽ bị đi vào quên lãng.

« Ủy ban lãnh đạo Lực luợng hòa hợp, hòa giải dân tộc thị bộ Đà Nẵng »

Người đứng đầu cái Ủy ban nầy là La Thành Tỵ, một tên tàn ác đã từng ra tay sát hại đồng bào trong cuộc tấn công phường Thanh Bồ - Đức Lợi, làm Chủ tịch LLHHHG Thị bộ, trụ sở được đặt tại chùa Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng, nơi trụ trì của Thượng tọa Thích Quang Thể, Chánh Đại diện Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng.

Chúng tôi vẫn nhớ, bắt đầu từ ngày 01/04/1975, sau khi đã có công ra tận vùng giặc đón VC vào thành phố, LLHHHG liên tiếp từng ngày cho xe chạy khắp đường phố dùng loa phóng thanh kêu gọi:

« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng. Yêu cầu tất cả ngụy quân, ngụy quyền, đảng phái chính trị thuộc chế độ Sài Gòn, hãy mau mau tập trung về chùa Pháp Lâm, tức chùa tỉnh giáo hội giao nộp vũ khí và trình diện. »

Đối với Quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa đều chưa biết số phận mình sẽ ra sao, khi nghe lời kêu gọi đó họ đã đến « chùa » để trình diện.

Một điều mà chắc nhiều người còn nhớ, là lúc chạy giặc đa số sĩ quan vứt bỏ súng, khi đến chùa trình diện không có súng đã bị La Thành Tỵ, một trong những tên sát thủ trong cuộc tấn công hai Phường Thanh Bồ - Đức Lợi, 24-8-1964. Lúc này là Chủ tịch LLHHHG thị bộ Đà Nẵng, cùng lũ lâu la trong cái thị bộ này, lớn tiếng la lối, nạt nộ đủ điều:

« Các anh phải giao nộp súng ngắn, vì sĩ quan phải có súng ngắn, các anh giữ súng lại để tìm cách chống phá cách mạng à? Không có súng ngắn chúng tôi không cấp giấy chứng nhận đâu".

Vậy là các vị sĩ quan này phải về đi tìm súng, Nhưng súng còn đâu nữa mà tìm, bởi lúc hỗn loạn xảy ra, La Thành Tỵ đã ra lệnh cho thanh niên Phật tử phải đi thu nhặt hết đem về chất trước sân chùa. Nhưng có vị đã đi đến những hang cùng, ngõ hẻm tìm được súng, có vị tìm được cả chục khẩu súng như M.16, R.15... vác lên chùa. Trong số đó, tôi biết có một người là Thiếu Tá Đỗ Công Hào, Thuộc Tiểu đoàn 10, Chiến Tranh Chính Trị, cũng ôm một bó súng, ông yên tâm đem vào chùa; Nhưng không ngờ khi nộp súng ông lại càng bị La Thành Tỵ la hét càng to hơn nữa:

" Các anh có đem hàng trăm súng dài cũng không được, vì Sĩ quan thì phải giao nộp súng ngắn, các anh phải nộp súng ngay, không thì đừng có trách".

Đến nuớc này, thì các vị không có "súng ngắn" chỉ còn có một cách là về nhà đem tiền lên chùa để đưa cho "Lực Luợng An Ninh phật Giáo" đám này hễ ai có tiền thì chúng lấy những cây "súng ngắn" trong cái đống súng ở trước sân chùa trao cho, để nộp và để đổi lấy cái "Giấy chứng nhận trình diện" của "Thị Bộ Hòa Hợp-Hòa Giải". Thiếu tá Đỗ Công Hào cũng phải đem tiền mua súng. Sau đó, ông đã phải vào nhà tù "cải tạo" T.154, đến gần mười năm sau khi đã bị què một chân mới được ra tù. Và bây giờ, dù đã trải qua những năm dài bị hành hạ, đọa đày, nhưng Thiếu tá Đỗ Công Hào vẫn còn giữ nguyên được cái cây... súng ngắn. Chẳng biết bây giờ bọn Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo có còn muốn đòi Thiếu tá Đỗ Công Hào phải trình ra cái cây... súng ngắn nữa không???

Việt Cộng trả công cho "Lực luợng Hòa hợp Hòa giải Phật giáo Ấn Quang"

Trở lại với cái gọi là LLHHHG, sau khi Quân, cán, chính VNCH đã giao nộp vũ khí, thì trước sân chùa một đống súng cao như núi; Lực luợng Hòa hợp - Hòa giải đã đến Tòa Thị Chính mời "Ủy ban Quân quản" đến nhận súng. UBQQ cử Hoàng văn Lai, ủy viên an ninh (sau Lai là Đại tá Trưởng ty công an QN-ĐN) đến chùa Pháp Lâm, Lai đứng ở sân « chùa » dằn từng tiếng:

« Các anh hãy trả lời: Cách mạng chiến thắng hay Phật giáo chiến thắng? Hòa giải là cái gì? Mỹ, ngụy bỏ chạy, chúng tôi tiếp thu chớ có có ai đánh đâu mà hòa giải, còn súng, chúng tôi không cần, cho các anh đấy!!!".

Bấy giờ đến luợt « Ban lãnh đạo hòa giải » lạy Hoàng văn Lai để y chở đống súng đi, vì để đống súng nằm hoài ở sân « chùa » thì … không tiện.

Sau đó « Ủy ban quân quản » ra lệnh như sau:

“- Sĩ quan trình diện tại số 03 Duy Tân.
- Ngụy quyền trình diện tại số 12 Bạch Đằng.
- Đảng phái chính trị trình diện tập thể tại số 09 Gia Long”.

Có người nghĩ rằng đã có giấy chứng nhận của « Lực lượng Hòa hợp, Hòa giải Phật giáo » nên không đi trình diện nữa. Nhưng nhiều vị đã bị bắt vì không có giấy chứng nhận của "Ủy ban quân quản", có người xuất trình giấy chứng nhận của « LLHHHG » thì bọn an ninh nói:

« Giấy chứng nhận của hòa giải hãy bỏ vào sọt rác vì không có giá trị, chỉ có giấy chứng nhận của ủy ban quân quản, có chữ ký của ông Hoàng văn Lai mới có giá trị".

Cuối cùng Quân, Cán, Chính VNCH ở thành phố phải đi trình diện hai lần, Nhưng may là lần sau không bị đòi nộp súng ngắn nữa!!!

Bây giờ đến lượt « cách mạng thưởng công » cho « Lực luợng hòa giải:

Qua sự thanh lọc, một số đông bị rớt, riêng La thành Tỵ được tiếp tục làm việc trong « Mặt trận tổ quốc » hiện nay La Thành Tỵ là « Trưởng ban hướng dẫn gia đình Phật tử Quảng Nam - Đà Nẵng ».

" Chính quyền Phật Giáo ":

Một điều, hơn ai hết chính LLHG Phật giáo chắc khó quên, ấy là trong thời gian hơn một tháng từ 20/03/1975, LLHG đã nổi lên cướp chính quyền phường, khóm xã, thôn, bởi chính quyền cũ có người đã di tản, còn những người kẹt lại vì thấy những bộ mặt đằng đằng sát khí của những « ông » hòa giải nên chẳng ai dám nói gì. Họ cũng tự xưng là Phường trưởng, Xã trưởng, Thôn, Khóm trưởng, đã làm mưa làm gió, bắt giết người, lập tòa án nhân dân đấu tố nhiều người đến 29/03/1975, VC vào thành phố rồi, chúng cũng không hề nói gì mà còn vui vẻ bắt tay « các ông » hòa giải gọi là « đồng chí ». Nhưng sau ngày 30/04/1975, Việt cộng mới yêu cầu các khuôn hội bàn giao chính quyền cho chúng. Điều này đã làm « Hòa giải Phật giáo » bị mất mặt trước dân chúng, nên « Chính quyền Hòa giải » nhất định không chịu bàn giao, vì đã nắm quyền hơn một tháng rồi, giết người chẳng ít, bắt giam cũng nhiều ( như tôi đã viết ở bài trước). Nên chính quyền hòa giải đòi VC phải hợp thức hóa cho họ trở thành những cán bộ lãnh đạo phường, khóm, xã, thôn vì đã có công lao đưa xe đi đón bộ đội Bắc Việt vào thành phố.

Cuối cùng Việt cộng tổ chức một cuộc mít-tinh tại Đài phát thanh Đà Nẵng, trong buổi mít tinh ban tổ chức đã giới thiệu tên Trần Thận, Thường vụ tỉnh ủy Quảng-Đà lên phát biểu như sau:

« Sở dĩ có cuộc mét-tinh hôm nay là do sự đòi hỏi của Phật giáo. Tôi nhấn mạnh là Phật giáo chớ không có hòa hợp, hòa giải chi hết á. Vì cái chiêu bài hòa hợp, hòa giải là chỉ do Phật giáo tổ chức ra để lừa bịp với chế độ Sài Gòn mà thôi. Chúng tôi công nhận Phật giáo Ấn Quang đã có công đóng góp với cách mạng đánh đổ Mỹ- ngụy. Nhưng, đó là nghĩa vụ công dân chớ không vì thế mà Phật giáo đòi cầm quyền. Hiện nay, còn có một số phường, khóm, xã, thôn thuộc các khuôn hội còn nắm giữ không chịu bàn giao cho ủy ban nhân dân các địa phương. Phật giáo nên biết, ngày xưa ông Lý Vạn Hạnh là cha ruột ông Lý Công Uẩn nên Phật giáo muốn làm gì thì làm, còn hiện nay ông Đôn Hậu không phải là cha của đồng chí Lê Duẩn, và chính quyền cách mạng chứ không phải là triều Lý. Vậy chúng tôi yêu cầu Phật giáo phải khẩn trương bàn giao gấp, nếu chậm trễ chúng tôi sẽ có biện pháp… ».

Nói đến đây, y nổi nóng vung tay hét:

« Nay đất nước đã có độc lập tự do rồi mà không lo tu thân, tăng gia sản xuất để góp phần xây dựng đất nuớc, mà cứ đòi cầm quyền! Phật giáo lấy tư cách gì để đòi cầm quyền? Ai cho cầm quyền? Phật giáo chỉ có cầm …cầm … cầm… »

Bỗng nhiên có tiếng cười nổi lên, nhiều bà cười lớn quá khiến tên Thận phải khựng lại, rồi không biết phải nói tiếp những gì nên y nói đại:

« O … cầm … cầm … cầm …cái gì cũng được nhưng không được cầm quyền".

Thích Đôn Hậu bắt buộc đồng bào phải đi diễn hành mừng sinh nhật Hồ Chí Minh:


Chùa Phổ Đà, 340 Phan Chu Trinh, Đà Nẵng

Ngày 18/05/1975, Thích Đôn Hậu chỉ thị tỉnh giáo hội Quảng Nam - Đà Nẵng và Thị bộ Hòa giải tổ chức sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Pháp Lâm. Trước khi tổ chức sinh nhật, các khuôn hội tại các quận lân cận và thành phố Đà Nẵng đã ra lệnh cho đồng bào phải tập trung về « chùa » Phổ Đà « để bắt đầu cuộc diễn hành chào mừng chiến thắng và dự sinh nhật của bác Hồ vị cha già của dân tộc ». "Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải " đã bắt đồng bào ở các quận như: Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An, Hòa Vang… phải đi bộ, mọi người phải tay cầm đèn gió để đem xuống thì thắp sáng lên cho nó ra vẻ « phấn khởi hồ hởi » và gói cơm đem theo để ăn dọc đường vì có nơi phải đi bộ một ngày một đêm mới tới Đà Nẵng. Trước khi đi, các khuôn hội đã tập dượt cho đồng bào hô khẩu hiệu như sau: Khi những « ông » hòa giải tay cầm loa phóng thanh, mồm hô:

« Hoan hô bộ đội giải phóng miền nam anh hùng.»

thì đồng bào phải hô lớn « hoan hô… hoan hô… » còn khi mấy « ông » hô:

« Đả Đảo đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai bán nuớc », thì đồng bào phải hô « đả đảo…đả đảo… »

Nhưng sau một đêm ngày đi bộ vì mệt và buồn ngủ, nên đồng bào chẳng còn nhớ những gì khác cả, mà chỉ còn nhớ bốn tiếng « hoan hô » và « đả đảo » mà thôi. Tôi vẫn nhớ như in vào đêm ấy đã hơn một giờ sáng ngày 19/05/1975. Lúc đó tôi đang ngủ, thì bỗng nghe tiếng chân người đi, tiếng ồn ào, tiếng loa phóng thanh cùng với tiếng hô « hoan hô…đả đảo… » Bây giờ mỗi lần nhớ lại chuyện đêm ấy, nếu có ai thì tôi kể lại để cùng cười, còn nếu chỉ mình tôi, thì tôi … cười một mình.

Đêm ấy, khi đoàn người đã bị các «ông» hòa giải hành hạ đang đi qua nhà, tôi đã vừa cảm thương đồng bào vừa không nén được tiếng cuời, khi nghe mấy «ông» hòa giải tay cầm loa phóng thanh mồm la ơi ới:

«Bà con ơi! ai rớt gói cơm?»

thì có tiếng của đồng bào đáp trả:

« hoan hô... hoan hô… »

Nghe vậy mấy « ông » hòa giải lại la lớn:

« Bà con ơi! gói cơm ai rớt? »

Đồng bào lại hô

« đả đảo … đả đảo …».

Cứ tiếp tục như vậy, một hồi lâu, đồng bào cứ mắt nhắm, mắt mở cũng chỉ biết có

« hoan hô »

với

« đả đảo » cái... gói cơm.

Cuối cùng, các « ông Hòa giải» tức quá mới đi tới gần từng nhóm người, tay đập mạnh vào người họ mồm hét:

«Gần sáng rồi, tỉnh táo đi, nghe chúng tôi nói đây nè ai…làm…rớt…gói…cơm…thì nhận lại, chứ nghe cái gì đâu mà cứ hoan hô với đả đảo hoài…vậy hả? »

Lúc đó đồng bào mới biết là có « sự cố ».

Nên biết là lúc đó, đồng bào rất sợ Hòa giải Phật giáo, các khuôn hội buộc mỗi gia đình ít nhất phải có một người phải cầm đèn gió đi diễn hành. Tại thành phố Đà Nẵng, để cho nó có « hệ thống » trước khi diễn hành đến « chùa » Pháp Lâm, các khuôn hội dùng loa phóng thanh kêu gọi:

" Yêu cầu tất cả đồng bào hãy tập trung về tại « chùa » Phổ Đà ở số 340 đường Phan Châu Trinh ĐN, tức Phật học viện Trung phần, để bắt đầu cuộc diễn hành trên khắp thành phố suốt đêm để mừng cách mạng chiến thắng, cho đến sáng ngày 19-05, trước khi đến chùa Pháp Lâm tại số 500, đường Ông Ích Khiêm để mừng sinh nhật Hồ Chủ tịch vĩ đại"

Trở lại với cuộc diễn hành hay đúng hơn là Hành diễn. Sau khi đã thấy những sự kiện kể trên, tôi nghĩ chờ Trời sáng sẽ xuống chùa Pháp Lâm xem thử mọi việc ra sao.

Khi đến « chùa » Pháp Lâm, tôi cùng vào với đồng bào diễn hành. Chúng tôi đã chứng kiến « Thượng tọa » Thích Đôn Hậu ngỏ lời nói:

"Yêu cầu đồng bào từ nay hãy lập tại nhà một bàn thờ thật trang trọng, phải có ảnh bác Hồ kính yêu để thờ vị cha già của dân tộc, ảnh đang có tại các chùa, đồng bào hãy đến để mua đem về mà thờ ».

Tiếp theo Thích Đôn Hậu (dân Đà Nẵng thường gọi là Thích Đoản Hậu hoặc Thích Đâm Hậu), giới thiệu một « cán bộ cách mạng lên nói chuyện với đồng bào » khi người này lên nói chuyện đã tự giới thiệu tên là Hoàng Châu Ký, Giám đốc Sở Thông tin văn hóa khu trung, Trung bộ.


Giáo sư Hoàng Châu Ký, sinh năm 1921 tại xã Cẩm Kim, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình khá giả. Ông tham gia cách mạng ngay từ năm 16 tuổi, từ trần ngày 31 tháng 1 năm 2008 tại Đà Nẵng, hưởng thọ 87 tuổi.

Hoàng Châu Ký đã ngỏ lời khen ngợi có đoạn như sau:

« … Quý Thượng tọa, đại đức và quý vị thuộc lực luợng hòa hợp hòa giải, là những người đã có công với cách mạng, tham gia đánh đổ Mỹ- ngụy, thật là đáng ngợi khen. Trước đây, quý vị nói là bị Mỹ-Ngụy áp bức, kềm kẹp không có tự do, nay cách mạng đã giải phóng, không còn ai bị áp bức nữa. Từ nay, quý vị tu sĩ đều được tự do ở lại chùa tu hành. Ngoài ra, cách mạng sẽ giúp đỡ bằng cách tạo điều kiện cho có đất đai để quý vị được tự do làm chủ, tự do lao động sản xuất, để góp phần xây dựng đất nước, và để được vinh dự là không còn ăn bám vào thiên hạ nữa.

Còn đối với những người không phải tu hành, tôi biết ở đây có nhiều người có bằng cấp cao như tiến sĩ, bác sĩ, giáo sư, kỹ sư … Các anh sẽ được trọng dụng trở lại, làm việc theo nghành nghề chuyên môn, bác sĩ trở lại bệnh viện, giáo sư trở lại trường học … Các anh sẽ được bình đẳng như những giáo sư, bác sĩ, kỹ sư cách mạng miền Bắc. Nghĩa là, hàng tháng họ được bao nhiêu ký rau muống, bao nhiêu mì chính (bột ngọt)… thì các anh cũng được lãnh bấy nhiêu. Ngoài ra, muốn cải thiện, nếu ở thành phố không có đất, chúng tôi sẽ giúp đỡ cho các anh có điều kiện để tự do nuôi heo, tự do nuôi gà, tự do nuôi vịt, tự do… tự do... ».

Hoàng Châu Ký còn nói thêm nhiều thứ tự do nữa, Nhưng sao tôi thấy trên từng khuôn mặt của những « vị trí thức » này bỗng trở nên nhợt nhạt khi biết mình đã có đầy đủ những thứ… tự do!!!

Trong lúc y còn nói chuyện, nhưng chúng tôi không thể đứng nhìn những đồng bào tội nghiệp của mình, mà chúng tôi biết chắc chắn là họ phải nằm đường, ngủ chợ, lê lết một ngày, một đêm nữa mới trở về đến nhà của họ, nên chúng tôi phải ra về.

"Trại Cải Tạo T.154":

Đến đây, tôi xin nói qua về trại cải tạo T.154, là hậu thân của trại cải tạo Đá Trắng. Nhân đây, vì tôi vốn là dân gốc tại làng Thạnh Bình, Tiên Phước, Quảng Nam; từ nhà tôi đến nhà cụ Huỳnh Thúc Kháng chỉ cần đi bộ, tôi biết rất rõ về trại này, nơi Bác ruột của tôi đã bỏ mình tại trại vào năm 1964, nên tôi phải nói rõ về cái tên T.154. Bởi khi quận Tiên Phước mất vào ngày 13/03/1975, thì VC đã cấp tốc khởi công phá bỏ trại Đá Trắng vốn ở dưới hầm, để thành lập trại tù mới lớn hơn, từ lúc đầu VC đã bắt thanh niên quận Tiên Phước làm công việc xây dựng bằng nhà tranh vách đất, đến ngày 15/04/1975, Việt cộng cho « khánh thành » và trại Đá Trắng chính thức đổi tên thành "Trại cải tạo T.154", để rồi các vị ai đã vào đấy, thì ít có vị nào ra trại trước mười năm, có vị đã bỏ mình tại trại vì bị hành hạ đến bệnh tật không được điều trị, có vị bị xử bắn, bị bỏ đói chết trong nhà biệt giam.

Sau đó, khi đưa tất cả các vị quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã trình diện tại « chùa » Pháp Lâm vào đây, VC lại bắt các vị tù trong trại tự xây nhà tù mới, mái lợp ngói, nền lát gạch. Trại chính là Trại 1, bên nam gồm có 12 (mười hai) nhà, mỗi nhà có bốn phòng, mỗi phòng có hai dãy sạp gỗ dài song song và một sạp chiếc, mỗi sạp chứa được trên dưới 20 ( hai mươi) người. Tất cả các phòng, các cánh cửa đều có gài một thanh sắt dài có gắn khóa sắt, để mỗi tối sau một ngày lao động, mọi người tù phải vào phòng để một công an gọi là « Cán bộ trực trại » điểm danh xong rồi khóa cửa lại. Nhưng chưa đủ mà còn có một nhà Biệt Giam, trong nhà nầy có những thanh sắt gài hai chiếc cùm sắt xuyên qua tường gạch kiên cố, để cùm hai chân người tù, phòng chỉ bốn mét vuông, không có cửa sổ, chỉ có một lỗ thông hơi hình tròn đường kính khoảng 08 cm (tám phân), bên ngoài là cánh cửa sắt có gài một thanh sắt có khóa sắt. Trong trại còn có nhà cấp dưỡng ( nhà bếp) một trạm xá.

Ngoài ra, quanh trại VC còn xây thêm các phân trại như các trại: Trại Thôn Năm, Thôn Tư, Na Son, Nà Thao, Lò gạch, Nhà chăn nuôi, Nhà máy ly tâm sản xuất đường (chỉ phân phối cho công an, còn tù cải tạo thì chỉ được nhìn mà thôi). Đầu năm 1979, vì đánh nhau với Tàu nên VC chuẩn bị đưa một số vị tù ra Bắc, đã phải ngưng lại, thay vào đó VC đã lập thêm nhà biệt giam 02.79 ( Đồng Mộ ). Rồi thay vì đưa ra Bắc; vào đêm 03-05-1979, các vị này đã bị trói dính chặt vào nhau. Sau đó, các vị đã bị công an vũ trang dao kề cổ, súng kề lưng, đưa vào nhà biệt giam 02.79 ( Đồng Mộ ) trong một đêm khuya tối Trời. Trong số này có bốn vị tu sĩ đó là quý ngài:

- Linh mục Đặng Đình Canh, hiện nay quản nhiệm giáo xứ Thanh Bồ, Đà Nẵng,
- Linh mục Vũ Dần, hiện nay quản nhiệm giáo xứ Phú Thượng, Đà Nẵng,
- Linh mục Nguyễn Đình Ánh.

Riêng Linh Mục Tống Kiên Hùng sau khi ra tù ngài trở về giáo xứ Tam Tòa, nhưng công an QN-ĐN đã trục xuất ngài vào miền Nam, rồi ngài sang Hoa Kỳ, hiện nay ngài đã vào dòng tu kín tại Hoa Kỳ, và Mục sư Dương Đình Nguyện, hiện cũng đã tiếp tục hầu việc Chúa ở Hoa Kỳ.

Ngoài các trại tù nam, VC cũng lập thêm phân Trại Nữ gồm có năm nhà, có nhà cấp dưỡng, trạm xá riêng, các phòng cũng kiên cố như trại nam. Nhưng mỗi khi nữ tù « vi phạm nội quy » thì công an trại nữ lại "Lập biên bản" để đưa vào cùm trong nhà biệt giam của trại nam, vì trại nữ không có nhà cùm biệt giam. Ví thế, nữ tù vì mắc cỡ nên rất sợ bị vào nhà cùm ở bên trại nam; bởi bất kể một nữ tù nào chỉ cần có một giờ bị ôm áo quần đi vào nhà cùm ở trại nam, là cả hai trại nam - nữ tù đều biết tất cả.

Hai trại nam, nữ cách nhau một giòng suối nhỏ, « tuy xa mà gần, tuy gần mà xa » chung một hội trường để hai trại nam, nữ cùng học tập chính trị, hoặc họp toàn trại mỗi khi trong trại có nhiều người « vi phạm nội quy » hoặc xem văn nghệ vào dịp Tết, hay ngày 2/09, « nghệ sĩ » là các anh chị em đa số là các anh chị em thuộc Chiến Tranh Chính Trị cũ.

Nói đến nhà tù này, thật là kinh hoàng, khủng khiếp!!! Vì là nhà tù lao động chuyên về nông nghiệp, nên cả nam lẫn nữ tù đều phải làm những công việc vô cùng nặng nhọc. Hàng ngày, nữ tù chúng tôi thường đi làm chung với quý vị nhà 08 do Trung tá Nguyễn Văn Chước « Tự quản » (nhà trưởng) quý vị này đã từng qua nhà biệt giam 02-79 ( Đồng Mộ ) và nhà 10 do Thiếu tá Trương Quang Dõng làm nhà trưởng, ngày nào hai nhà này cũng thay phiên lao động bên nữ tù. Các anh đã thay trâu bò cày, bừa cho nữ cấy, gặt. Với chỉ tiêu chung, ba người một sào, bắt buộc phải đạt trong ngày. Ngoài ra phải leo lên đồi cao cuốc đất trồng sắn, mỗi ngày với chỉ tiêu vừa cuốc vừa trồng phải « đạt » 500 cây hom sắn, hay cuốc đất trồng mía, tỉa đậu, trồng khoai, lên rừng nam đốn củi, nữ vác xuống chất thành mét khối, cũng phải "đạt chỉ tiêu". Nói tóm lại làm việc gì cũng phải « đạt chỉ tiêu » hết.

Nhưng không phải « đạt chỉ tiêu » rồi mà tối về phòng được ngủ sớm, mà tất cả chúng tôi, sau giờ ăn tối còn phải «làm tranh thủ» hái đậu phụng (lạc) cũng «chỉ tiêu» cho ba người đầy một thúng mới được về phòng, đặt lưng xuống chưa được bao lâu thì 06 giờ sáng phải thức dậy để bắt đầu một ngày lao động khác. Có khi vừa ăn tối xong, phải «tranh thủ» làm cỏ mía... Thôi thì đủ thứ «tranh thủ» không làm sao kể hết.

Chúng tôi vẫn nhớ, có những lần suốt ngày dầm mình dưới sình, lầy, tới ngực, tới bụng làm mồi cho đỉa; Nhưng vẫn "không đạt chỉ tiêu". Vì vậy, đến chiều về trại, chúng tôi đã bị phạt, bằng cách không cho tắm rửa. Những lần như thế, chúng tôi cứ khóc như mưa, chẳng làm sao nuốt nổi chén sắn độn cơm, cũng không sao ngủ được vì trên người còn dây dính những bùn lầy, hôi hám!!!

Chúng tôi cũng không bao giờ quên những năm tháng lao động bên các vị Quân, cán, chính VNCH, thuộc nhà 08 và nhà 10. Tôi vẫn nhớ mãi những ánh mắt đầy thương cảm và lo lắng của các anh, khi nhìn chúng tôi với những tấm thân yếu đuối, mà các anh chỉ nhìn thấy từ bụng, từ ngực nổi trên sình lầy, trong những ngày đông buốt giá, đến những ngày hạ nắng như thiêu đốt. Đôi chân của chúng tôi lúc nào cũng phải lần bước theo những cây đà, do chính các anh đốn từ trên rừng đem bỏ xuống ruộng. Các anh luôn luôn lưu ý đến chúng tôi, để khi nào nữ tù có ai lỡ trượt chân khỏi cây đà, thì các anh kịp thời nối cuốc, nối tay, kéo chúng tôi lên. Vì thế, có nhiều người rơi xuống ruộng, nhưng không hề có một ai bị chết vùi thân dưới sình lầy cả.



Nhưng với tôi, mặc dù bị tù đày. Tôi vẫn thấy mình có cái « may mắn » là « được » chứng kiến những trận đòn thù dã man, tàn bạo nhất mà công an trại đã giáng trên những tấm thân gầy yếu, trơ xương của nhiều vị tù, nhưng vì là một bài viết có hạn, nên tôi chỉ nói đến những trường hợp như sau đây:

- Thiếu tá Hồ Minh, ông đã bị « kỷ luật » cùm tay, chân, miệng, và ở phòng biệt giam. Chẳng những thế, mà ông còn bị công an trại dùng những khúc củi đánh đập nhiều lần, đến nỗi mỗi lần ông bị đánh, tù nhân chỉ nghe tiếng hét, tiếng rú của ông chứ không hề nghe tiếng ông nói thành lời. Một lần, tù nhân nghe tiếng mở cửa của thanh sắt phòng biệt giam. Họ thấy ông Hồ Minh bị hai tên công an vũ trang lôi ra khỏi phòng, rồi dùng những khúc củi đánh tới tấp lên người ông. Đau quá, ông bỏ chạy quanh khu biệt giam, lúc ấy, nhiều người mới nhìn thấy chiếc cùm đã không còn trên miệng của ông nữa, Nhưng ông không còn hét thành lời, mà chỉ có tiếng rú vô cùng man dại, đôi mắt vô hồn, nét mặt thất thần, có lẽ ông đã mất trí, cũng có thể vì chiếc cùm lâu ngày trên miệng đã làm ông không còn nói được nữa. Nhưng bọn công an vẫn đánh vì nói ông giả câm, chúng cứ tiếp tục đánh, buộc ông phải nói. Khi ông ngã sấp xuống mặt đất thì chúng không đánh bằng những khúc củi nữa, mà chúng thẳng chân giày đạp lên đầu, lên lưng ông, cho đến lúc ông nằm bất động, chúng mới cho « trật tự » trại khiêng xuống trạm xá trại 1. Nhưng đã quá trễ, vì khi vào trạm xá, thì thân xác ông đã lạnh ngắt tự bao giờ. Mọi người mới hay rằng bọn công an trại đã đạp lên cái xác chết của ông.

- Đại úy Nguyễn Phượng, bị cùm bỏ đói cho đến chết. Khi chết rồi, mà đôi chân của ông vẫn còn trong đôi cùm sắt treo trên tường, thân thể quắt queo trên nền gạch lạnh lẽo của phòng biệt giam tăm tối!!!

- Thiếu tá Nguyễn Xuân Giáo, cựu Trưởng ty Cảnh sát Quốc gia Quảng Nam (thời Đệ Nhất Cộng Hòa). Trước khi chết, ông đã bị hành hạ đến không còn nhìn ra được là con người nữa. Ngày ông chết trong nhà biệt giam, khi đưa ra ngoài, không biết là vô tình hay hữu ý, mà bọn công an đã cho người con trai ruột của ông cùng đồng tù là anh Nguyễn Xuân Đức khiêng xác đi chôn, mà vẫn không biết đó là cha ruột của mình. Cho đến khi huyệt mộ đã lấp đất xong, tên công an trại ra lệnh cho « trật tự » trại mang tấm bảng gỗ đến và viết tên Nguyễn Xuân Giáo, đem cắm dưới chân mộ. Lúc ấy, anh Đức mới kinh hoàng, chết điếng ngã lăn xuống đất, ôm lấy nấm mộ của đấng sinh thành vừa lạy vừa kêu Trời. Nhưng Trời thì ở trên cao và xa quá, còn công an thì ở gần, nên chúng ra lệnh cho « trật tự » trại vực anh dậy và lôi về phòng. Trước cảnh Trời sầu, đất thảm ấy, tất cả tù nhân chỉ biết rơi lệ vì cảm thương và đau xót!!!

- Chúng tôi cũng đã chứng kiến tại "Đồng Cừ", hôm ấy là ngày cấy lúa, bọn công an bảo Trung tá Không quân, anh Nguyễn Văn Đức nấu ăn, đến khi dọn cơm ra cho chúng, bỗng chúng nói anh rửa rau muống không sạch, là muốn đầu độc chúng, rồi mấy tên công an vũ trang đã dùng báng súng, dùng giày, đánh, đạp vào người anh đến ngã ngụy xuống mặt đất trước mặt Mục sư Dương Đình Nguyện và Giáo sư Đồng Sĩ Ninh, là hai vị tù chịu trách nhiệm đắp nước ruộng và đồi sắn tại "Đồng Cừ", cùng đông đảo tù cải tạo. Chúng tôi hết sức kinh hoàng và vô cùng đau đớn, nhưng không biết phải làm gì hơn là cúi mặt để giấu đi những dòng nước mắt cứ trào tuôn từ đáy lòng thương cảm, và cũng từ nỗi uất hận. Bởi, anh Đức đã lớn tuổi, mắt kém nhưng không có kính, nếu anh có rửa rau không được sạch thì đó không phải là lỗi của anh. Tại sao chúng không bảo những người tù khác mắt còn nhìn rõ hơn để nấu ăn cho chúng. Vả lại, chúng biết rõ là anh Nguyễn Văn Đức không có ý đầu độc chúng, Nhưng chúng muốn đánh anh vì lòng thù hận. Nên biết, bọn công an luôn luôn tìm một sơ hở nhỏ nào đó của tù cải tạo để có cớ mà đánh, đập, cùm kẹp để hành hạ trả thù mà thôi.

- Trung tá Nguyễn Tối Lạc, quận trưởng quận Đức Dục, người từng bị cùm cả tay, chân, có khi bị cùm cả miệng. Trước khi bị cùm miệng, ông đã xin Linh mục Vũ Dần, Linh Mục Đặng Đình Canh, Linh Mục Nguyễn Đình Ánh, Linh Mục Tống Kiên Hùng, truyền dạy Kinh Thánh cho ông, nên mỗi lần bị cùm miệng, nhưng còn hai tai nên qua cái lỗ thông hơi của phòng biệt giam, ông vẫn học thuộc hai câu Kinh Thánh mỗi ngày. Và nhiệm mầu thay, ông đã thoát chết. Bây giờ ông đã sang Hoa Kỳ theo diện tù cải tạo.

Người ta thường bảo khi cùng đường, sắp chết mới thấy Trời. Quả đúng như vậy, khi vào các nhà tù của Việt Cộng là đi vào tử lộ, và chính ở nơi ấy con người mới biết đến Đấng Toàn Năng.

- Ngoài ra, còn có nhiều vị bị xử bắn tại trại như Đại tá Nguyễn Văn Bình… Đặc biệt là Kỹ sư Trung úy Trần Quang Trân đã bị xử bắn vì tổ chức giải thoát tất cả tù nhân. Nên biết, ông Trần Quang Trân là một Kỹ sư điện tử, từng được tu nghiệp tại Nhật và Hoa Kỳ, ông được công an trại giao cho tất cả công việc bảo quản điện, đài trong trại, được tự do về thành phố Đà Nẵng mua phụ tùng các loại máy móc cho trại, ông cũng là một tay trống của đội văn nghệ trại, nhưng ông không thể ung dung để hưởng những ưu đãi của Việt cộng, không thể nhìn những người đồng cảnh ngộ bị đọa đày. Nên ông phải hành động, để rồi ông phải chịu chết thảm!!!

- Ngày ông Trần Quang Trân bị xử bắn, một buổi chiều khoảng 06 h 30 ngày 27/05/1982, khi cả hai trại nam, nữ đã ăn « cơm » xong. Trại nam đã điểm danh khóa cửa, nhưng trại nữ chưa điểm danh. Vì thế, chúng tôi còn rủ nhau đi quanh sân trại để « tâm sự ». Bỗng nhiên, chúng tôi thấy một tiểu đội công an vũ trang xuất hiện, chúng kềm ông Trần Quang Trân ở giữa và dắt theo bốn nam « trật tự » khiêng một chiếc quan tài, tất cả đang đi về hướng Hố Ông Hức, là nơi dành để chôn tù cải tạo. Riêng tôi, là thợ cắt, may được Âu-Việt phục, nên thỉnh thoảng công an trại bảo đi lấy số đo ở gia đình chúng để vào may trong trại nam, vì trại nam có bốn máy may, trại nữ không có, máy may chỉ dành để may áo quần cho công an, còn tù phải tự vá áo quần rách bằng những sợi nylon, tách ra từ bao cát mà ngày xưa thường dùng để làm hầm tránh đạn. Mỗi lần một « cán bộ » nào muốn nhờ tôi cắt, may, thì chính « cán bộ » ấy phải đích thân ra trại nữ xin phép « cán bộ trực trại » để nhận và cùng đi với tôi đến nhà, sau khi đo, đến ngày tôi vào trại nam để may công an cũng phải đi kèm, may xong, lại dắt tôi về trả cho « cán bộ trực trại ».

Vì vậy, lúc ấy tôi đang từ nhà của vợ chồng Phó giám thị Nguyễn Văn Bá và vợ là Nguyễn Thị Thanh Yên người Kỳ Hà, quận Lý Tín, Quảng Tín. Yên là « cán bộ y tế ». Thời gian này Nguyễn Văn Bá đã lên Phân trại Thôn 05 để kiêm luôn chức Trưởng trại Thôn 05. Nhưng không hiểu vì quên giờ hành quyết ông Trần Quang Trân, hay vì tôi đo áo quần cho cả gia đình nên bị chậm trễ giờ giấc. Nhà của vợ chồng tên Bá ở gần Hố ông Hức. Trên đường về trại có « cán bộ » Yên đi kèm, tôi đã nhìn thấy ông Trần Quang Trân bị bịt mắt và cùm miệng, vì sợ ông Trân có thể có lời nói bất lợi, hoặc hô khẩu hiệu, ngay như Trung tá Nguyễn Tối Lạc, khi bị kỷ luật cũng phải bị cùm miệng, bọn công an trong trại không bao giờ cho tù nói những lời mình muốn nói... Ông Trần Quang Trân bị đưa đến Hố ông Hức. Vừa thấy tôi, mấy tên công an hét lớn, bảo tôi nhanh chân về trại, « cán bộ » Yên bảo tôi chạy ngay về trại, không được nhìn cái gì cả, còn y thị cũng chạy biến vào đám mía của nhà «Phó giám thị » Nguyễn Văn Tài và vợ là Trần thị Lệ cán bộ phụ trách hồ sơ tù cải tạo. Tôi lén nhìn ông Trân rồi cúi đầu đi thẳng. Khi về trại, tôi thấy mọi nữ tù đều khóc, vì họ cũng đã thấy, và đã biết những gì sẽ xảy ra!!! Khoảng nửa giờ sau, có mấy phát súng nổ. Mặc dù trừ bốn « trật tự » và đội công an hành quyết, không có một ai biết, hay thấy được giây phút cuối cùng của ông Trần Quang Trân, Nhưng nữ tù đều hiểu khi nhìn thấy chiếc quan tài khiêng đi bên cạnh ông, nên họ biết chắc chắn những phát súng đó là đã bắn vào ông Trân. Không cầm lòng được nữa, cả trại nữ khóc thét lên, tiếng khóc thấu Trời, làm bọn công an trên cơ quan nghe được. Vì thế, « cán bộ trực trại » tên Trịnh Thị Thư vợ của « giám thị » Huỳnh văn Hưng người Bình Dương, Thăng Bình, Quảng Nam, đã xuống trại, y thị phùng mang trợn mắt hét chúng tôi, bảo tất cả vào phòng khóa cửa lại. Y còn nói: « Nếu các chị còn khóc tui sẽ cùm đầu hết ». Nhưng chúng tôi không sợ, vì cùm hết thì lấy ai ngày mai đi lao động.

Trong những ngày đi cắt bổi (cắt những cành lá trên ngọn để bỏ vào chuồng trâu, bò làm phân bón ruộng) quanh Hố ông Hức, tôi đã bốn lần lén lút đến gần ngôi mộ ông Trần Quang Trân. Ông được chôn riêng trên ngọn đồi, dưới chân mộ là một gốc cây cao, có bóng mát tỏa xuống chở che một nắm xương tàn, một linh hồn, mà lúc sinh tiền là một tâm hồn cao thượng. Những ngày bị cùm kẹp trong phòng biệt giam, những vị tù bị cùm bên cạnh phòng của ông, vẫn thường nghe ông hát lên những Bài Thánh Ca với lời nguyện cầu cho đất nuớc, cho đồng bào, cho những người tù đồng cảnh ngộ. Mỗi lần viếng mộ ông, tôi chỉ vừa đi vừa nhìn, chứ không bao giờ dám đứng lại, vì tất cả tù nhân nếu ai đến thăm mộ ông mà bị chúng bắt được, sẽ bị vào nhà cùm biệt giam cả.

Tôi cũng biết chắc chắn, khi VC mở tòa án tại trại để tuyên án tử hình ông Trần Quang Trân, cũng như lúc xử bắn VC đều không cho thân nhân và vợ, con ông ở Xuân Hòa, Xuân Lộc, Đồng Nai được biết.

Nói về những vị đã chết trong trại tù còn nhiều lắm, khó có thể viết đầy đủ trên một trang báo. Nên tôi lại xin phép nữa để viết về một hòan cảnh thương tâm khác của một người, hay nói đúng hơn là của một gia đình đã bị VC đọa đày đến cảnh khốn cùng, nếu không có niềm tin nơi Đấng Tối Cao thì tôi chắc họ đã không làm sao vuợt qua được những đớn đau, nghiệt ngã, oan khiên mà đảng Cộng sản Việt Nam đã giáng cho gia đình ấy, đó là trường hợp của gia đình Giáo Sư Thượng Nghị Sĩ Bùi Văn Giải. Khi di cư vào Nam năm 1954, ông làm nghề dạy học, bà tảo tần buôn bán, tiết kiệm dành dụm tạo được một căn nhà tại phuờng Tam Tòa, đường Trần Cao Vân Đà Nẵng. Khi ông vào tù cải tạo, công an Đà Nẵng đã tịch thu căn nhà của ông bà. Bà đau buồn, ngã bệnh rồi mất ở tuổi đời 36. Ngày mất mẹ, các con ông và người thân đồng cầu khẩn VC cho ông về chôn cất vợ xong rồi tiếp tục vào tù, nhưng VC vẫn không cho. Ông đã không được nhìn mặt người bạn trăm năm vào giây phút cuối cùng!!! Nhờ bà con giúp đỡ, các con ông chôn mẹ, trong lúc cha vẫn ở trong tù!!! Chỉ có Trời cao mới thấu được nỗi đau thương của các con ông Bùi Văn Giải khi vấn vành khăn tang khóc mẹ, cũng như nỗi đớn đau của ông Bùi Văn Giải ở trong trại tù "cải tạo"!!!

Những năm dài ở trong lao lý, Giáo Sư Bùi Văn Giải đã từng bị đưa vào nhà "Biệt giam 2.79" tức Đồng Mộ và nhà "Biệt giam Nhà Trắng" cùng với nhiều vị sĩ quan cao cấp và các vị cán bộ lãnh đạo cao cấp của các chính đảng. Khi bị bệnh nặng Giáo sư Bùi Văn Giải phải vào bệnh xá Trại 1 (trại chính), khi xuất viện ông lao động ở tổ rau xanh sau trại nữ, thời gian này tôi vẫn thường thấy ông với mái tóc bạc phơ, tấm thân gầy yếu, nhưng tiếng hát của ông qua những Bài Thánh Ca nghe vẫn vút cao như bay đến tận Trời xanh.

Ngày ra tù, theo lời Thầy, tôi đến thăm các con của Thầy. Được biết khi tịch thu nhà, công an Đà Nẵng nói là vì « nhân đạo » nên chừa lại một phòng trong căn nhà của ông bà chỉ bốn mét vuông, để các con ông ăn, ngủ, còn nấu nuớng thì phải nhóm bếp ngoài sân. Nhưng những ngày mưa và mùa đông thì phải dời bếp vào phòng, bốn đứa con ông bà phải ăn, ngủ chung với tro và khói bếp. Nhưng chưa đủ, công an còn buộc các con của Giáo Sư Bùi Văn Giải phải trả tiền nhà hàng tháng cho Ty nhà đất, vì căn nhà đã thuộc sự quản lý của nhà nuớc!!!

Với hoàn cảnh bơ vơ, cha ở tù, mất mẹ, các con ông phải bỏ học, đứa vá xe đạp, đứa làm thuê. Riêng Thu con gái út, là con gái yếu đuối lại còn nhỏ, nên phải làm nghề thêu, may mướn để góp phần trả tiền thuê cho chính căn nhà mà do mồ hôi, nuớc mắt của cha mẹ mình đã tạo nên. Vì nếu không trả thì sẽ bị đuổi ra khỏi phòng, rồi phải lang thang đầu đường xó chợ. Sau 13 năm tù cải tạo, ông đã sang Hoa Kỳ và hiện đang là Chủ nhiệm Nguyệt san Về Bên Mẹ La Vang tại Portland, Hoa Kỳ.

Tạm thay lời kết:

Khi viết đến những dòng này, tôi bỗng thấy có hơi buồn; bởi chúng tôi biết có rất nhiều người đã biết, đã thấy những hành vi tàn ác của Phật Giáo Ấn Quang trong suốt bao nhiêu năm qua. Song cho đến giờ này cũng chỉ thấy xuất hiện một số ít bài viết về các biến cố như: Cuộc thảm sát tại Thanh Bồ - Đức Lợi, 24-08-1964- Cuộc Bạo Loạn tại miền Trung, mùa hè 1966, Cuộc Thảm Sát Tết Mậu Thân, 1968 và về ngày nước Việt Nam Cộng Hòa đã rơi vào tay của cộng sản Hà Nội: 30-04-1975. Nhưng, tất cả họ đã vì một lẽ nào đó, nên đều tránh né, không muốn hay không dám viết hết những sự thật. Chúng tôi nghĩ rằng, có thể bởi bị ám ảnh với những hình ảnh giết người của Ấn Quang nên họ sợ đụng chạm, hoặc vì đang đứng ở vào một tổ chức nào đó mà phải cần đến Ấn Quang; và còn một lý do khác nữa là họ sợ một ngày nào đó phải cần đến lá phiếu của Ấn Quang. Riêng kẻ viết bài này là một người không hề có tham vọng về chính trị, nên dù bất kể một thế lực nào cầm quyền tại Việt Nam, kẻ này cũng không màng đến một địa vị, chức tước gì cả. Vì thế, nên không bao giờ cần đến bất cứ một lá phiếu nào; mà điều duy nhất của người viết những loạt bài này là đã tâm nguyện: Suốt đời chỉ làm một người cầm bút, để viết lên tất cả những gì mắt thấy, tai nghe, thấy sao nói vậy, nhớ đâu viết đó. Viết với tất cả tâm thành để cho lớp trẻ sau này còn biết đến những hành vi tàn ác, bất nhân của những kẻ đã từng gieo rắc tang thương, máu lệ cho đồng bào vô tội; hầu cho họ biết đường mà tránh xa phường lục lâm, tặc phỉ, để khỏi rơi xuống hố sâu của tội ác. Bởi đó, chính là lương tâm và trách nhiệm của người cầm bút.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.

************************************************


Nhà thờ Thánh Tử Đạo tại Phoenix, Arizona

NGHỊ QUYẾT 36 ĐANG THỰC THI TẠI MỸ - LM NGUYỄN THUẬN LÀ AI MÀ DẸP CỜ VÀNG TẠI NHÀ THỜ ARIZONA?

Source: RVNAF 2010/04/23

Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ bị triệt hạ tại buổi Lễ Khánh Thành Thánh Đường Giáo Xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam tại Phoenix ngày 18.04.2010



Ngày 11 tháng 4, 2010, linh mục Nguyễn Trường Luân và ban tổ chức Đại Hội Suy Tôn Lòng Thương Xót Chúa tại Đại Học Cal State Long Beach đã dùng lực lượng cảnh sát và an ninh hộ tống Hồng Y Phạm Minh Mẫn vào nơi hành lễ cũng như cho nhân viên an ninh chìm, nổi kiểm soát gắt gao giáo dân đến dự lễ.

Một tuần sau, không kém phần sỉ nhục, sáng chúa nhật ngày 18 tháng 4, 2010 linh mục chánh xứ Nguyễn Thuận đã dùng tất cả biện pháp an ninh để ngăn chận cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trong dịp khánh thành nhà thờ.



Từ ngã tư đến cửa nhà thờ, khoảng 20 "quần chúng tự phát" được linh mục Thuận tổ chức thành nhân viên an ninh nội chính với đồng phục áo tím dàn hàng "đón" quan khách và ngăn chặn cờ Vàng của giáo dân mang theo mừng lễ. Cũng may Hoa Kỳ là một đất nước có luật pháp nên "quần chúng tự phát áo tím" của linh mục Nguyễn Thuận chỉ tịch thu cờ Vàng, hình Đức Giáo Hoàng Cổ Quàng Cờ Vàng của giáo dân chứ không đến nỗi sử dụng "bạo lực cách mạng" như "quần chúng tự phát áo xanh" đã man rợ tấn công giáo dân cầu nguyện cho công lý và sự thật trước tòa Khâm Sứ tại Hà Nội.

Ngay cửa nhà thờ 4 cảnh sát Mỹ mặc sắc phục trấn giữ và cảnh sát chìm đứng vòng trong có nhiệm vụ được giao phó từ linh mục Thuận: dẹp bỏ, tịch thu cờ Vàng.



Trước ngày khánh thành lm Nguyễn Thuận đã dằn mặt giáo dân:“ cờ Mỹ tôi cũng cấm chứ nói gì cờ Vàng!“ khi giáo dân yêu cầu với linh mục cho phép rước cờ Vàng, cờ Mỹ và cờ hội thánh Công Giáo để tăng phần long trọng cho buổi lễ và cám ơn nước Mỹ đã đón nhận người Việt tị nạn cộng sản cũng như dương cao biểu tượng của người Việt quốc gia. Chính người công giáo Việt Nam tị nạn cộng sản tại Arizona này chứ không ai khác đã đóng góp mồ hôi nước mắt để xây dựng nên ngôi nhà thờ mới này.

Trong không khí hân hoan ngày đại lễ, nhiều giáo dân đã mang cờ Vàng đến mừng lễ với sự mong mỏi chính đáng: ngọn cờ chính nghĩa sẽ được tung bay trong ngày giáo xứ ăn mừng lễ khánh thành nhà thờ mới, nhưng mọi người đã thất vọng vì nhân viên an ninh Mỹ và "quần chúng tự phát áo tím" của linh mục chánh xứ Nguyễn Thuận đã cương quyết không cho mang cờ Vàng vào sân nhà thờ. Nhóm áo tím đã còn ngang nhiên cướp cờ trên tay giáo dân.

Một số giáo dân đã truyền cho nhau hình Đức Thánh Cha Benedic 16 Choàng Cờ Vàng kèm theo thư ngỏ song ngữ Anh-Việt lời lẽ ôn hoà giài thích về cờ Vàng và lý do tại sao lá cờ được tôn vinh.

Nhưng sau đó "quần chúng tự phát áo tím" đã hung hăng "thu" lại từ tay một số giáo dân VN và xé nát, chà đạp dưới chân, mặc dù đó là chân dung vị Cha chung của giáo hội Công Giáo toàn cầu. (đây chứng tỏ họ không phải là người công giáo, mà chính là bọn công an CS được gửi sang Mỹ để lũng đoạn quần chúng VN TỴ NẠN CS).



Để phản đối, hàng chục giáo dân, nhiều cựu chiến binh Hoa Kỳ và một số thành viên cộng đồng tay cầm cờ Vàng cũng như phất đại kỳ trước nhà thờ. Niềm vui ngày đại lễ tan biến, ai cũng lấy làm đau buồn vì linh mục chánh xứ đã thành công trong việc dẹp lá cờ Vàng tại giáo xứ. Biểu tượng của người Việt Quốc Gia bị xoá bỏ trong sự im lặng cúi đầu chịu đựng của hàng ngàn giáo dân. Ai cũng sợ hành động ủng hộ cờ Vàng của mình là chống cha vì cha luôn chống cờ Vàng và chống cha là chống Chúa.

Dù đau xót vì biểu tượng hồn thiêng sông núi bị linh mục Thuận nhất quyết loại trừ khỏi giáo xứ, mọi người vẫn giữ ôn hoà, chỉ dương cờ Vàng và yên lặng tưởng nhớ đến các linh hồn tử sĩ đã dùng máu mình để tô thắm màu cờ bảo vệ chính nghiã quốc gia cũng như hiệp thông với giáo hội và đất nước đang bị đàn áp thô bạo tại Việt Nam.

Hai trong số cựu chiến binh Hoa Kỳ đã không thể chấp nhận sự bán đứng chính nghiã tự do ngay trên đất Hoa Kỳ, đã tay cầm cờ Vàng, tay cờ Mỹ đi vào sân nhà thờ nhưng cảnh sát Mỹ đã cương quyết ngăn cản theo lệnh của linh mục Thuận. Hai cựu chiến binh này đã chất vấn cảnh sát Mỹ: “ Tại sao nhà thờ này nằm trên đất Mỹ mà quý ông là công dân Mỹ lại chấp nhận cho họ ra lệnh loại bỏ quốc kỳ Mỹ? Ngoài ra, cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là biểu tượng của một dân tộc yêu công bằng, bác ái, dân chủ, tự do và hơn 50 ngàn chiến binh Mỹ đã hy sinh để bảo vệ nó cũng bị loại bỏ ở cái nhà thờ này, quý ông có thấy xấu hổ không?“

Thật ngược ngạo khi linh mục Nguyễn Thuận dùng tiền của giáo xứ do giáo dân Việt Nam đóng góp để mướn cảnh sát Mỹ đàn áp lại giáo dân và biểu tượng của họ.

Sau thánh lễ Dâng Hiến Thánh Đường do Đức giám mục giáo phận Phoenix chủ sự, các giám mục, linh mục tiến ra sân nhà thờ xem đốt pháo, muá lân mừng thánh đường mới. Một số giáo dân đã vui mừng và phất cao lá cờ Vàng. Một điều nghịch lý mà không một ai có thể hiểu, trong khi các vị giám mục, linh mục Hoa Kỳ vui vẻ ban phép lành cho lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của dân tộc Việt Nam, có linh mục còn khoác lên vai như vị Giáo Hoàng cuả họ, thì các linh mục Việt Nam một số làm ngơ, một số đi thì thầm cái gì đó với các linh mục Mỹ để các linh mục Mỹ lấy cờ Vàng đang khoác trên người xuống, thậm chí có 1 linh mục còn giật lá cờ VN trên tay một giáo dân và lẩn mất.

Trong niềm hân hoan có nhà thờ mới, giáo dân ra về không quên tự hỏi, linh mục Nguyễn Thuận là ai? Linh mục muốn gì khi bất chấp dư luận, bằng mọi cách triệt hạ cờ Vàng Ba Sọc Đỏ? Và linh mục có giữ lời hứa “xây xong nhà thờ là tôi đi” không, để giáo xứ sớm có lại bình an, đoàn kết, thương yêu nhau như trước ngày linh mục đến nhận xứ cách đây 10 năm (?)?

Phoenix, ngày 22.04.2010

Gián điệp công an Việt cộng "Nguyễn Thuận" đã lòi đuôi chồn, sau hơn năm nằm yên tại Phoenix đã được lệnh trung ương phải ra mặt thi hành NQ 36. Các giáo dân ở Phoenix và CĐ người Việt tại Mỹ phải có thái độ với tên Việt cộng này.

*********************************************************

BỊ HÃM HIẾP, VẪN CÒN TRINH!

Trần Thanh


TRƯỚC KHI VÀO TRUYỆN:
............................................

Tình cũng khó theo thời cơm áo, khó

Ta dìu nhau đi dưới bóng nợ nần!
.............................

Khăn tăm tối hãy ngang đầu quấn nốt

Quấn cho nhau, quấn bạo, quấn cuồng điên

Vòng sau cùng sẽ gặp quỷ SA TĂNG (Lê Thị Công Nhân)

Bởi hạnh phúc mơ hồ như Thượng Đế!
..................................

Đời vốn không nương người thất thế

Thì thôi, Ô NHỤC cũng là danh!
....................................

Những câu thơ trên do thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên sáng tác năm 1973. Bài thơ mang tựa đề "Hai hàng me ở đường Gia Long", nội dung nhuốm màu bi quan, yếm thế, thụ động, buông xuôi, chấp nhận số phận nghiệt ngã, coi như mọi sự đều do Thượng Đế an bài!

Khi đề cập đến sự đau khổ của toàn dân tộc ta dưới ách cai trị của bọn việt gian cộng sản, nhiều người đã cho rằng, ấy là "mệnh trời" đã quy định như vậy! Chẳng hạn, con tắc kè Đinh Thạch Bích thường xuyên đề cập đến "thuyết Định Mệnh": người Mỹ đã thay mặt cho "thuyết Định Mệnh", quyết định cho bọn việt gian cộng sản được xuống cọp an toàn rồi, đừng có chống cộng nữa, vô ích!

Do bị ảnh hưởng bởi "thuyết Định Mệnh" nên nhiều người trong chúng ta đâm ra buông xuôi mọi chuyện. Thay vì tích cực hành động để chấm dứt kiếp nô lệ thì ngày đêm họ cầu mong Thượng Đế cứu giúp, nhưng Thượng Đế đâu không thấy, chỉ thấy quỷ Sa Tăng Lê Thị Công Nhân xuất hiện, trong vai "thánh nữ", vị "cứu tinh" của dân tộc, mang màu sắc tôn giáo!

Chúng ta đang chiến đấu chống bọn việt gian cộng sản và đã chiến đấu ròng rã ba phần tư thế kỷ, từ năm 1945 đến nay. Chúng ta sẽ thua bọn chúng nếu chúng ta không thắng được trên mặt trận tôn giáo. Mặt trận tôn giáo là địa bàn hết sức quan trọng mà bọn giặc đã và đang triệt để khai thác. Ðó là nơi bọn cán bộ cộng sản đội lốt những nhà "tu hành" để bòn rút xương tủy của chúng ta và đâm chúng ta những nhát dao lút cán vào thấu tim gan, phèo phổi. Nhiều người đã bị chết mà vẫn không hiểu vì sao mình chết, ngược lại, còn cám ơn bọn chúng!

Hiện nay tại hải ngoại, bọn cán bộ cộng sản đội lốt tôn giáo đang hoạt động dày đặc. Có thể nói, khoảng 90 phần trăm những chùa và nhà thờ tại hải ngoại đều là những ổ rắn độc của bọn việt gian cộng sản. Ðó là những căn cứ địa hết sức an toàn của bọn chúng, nơi đó, chúng đã ra sức bòn rút máu tủy của chúng ta qua những chiến dịch "từ thiện", và đồng thời thi hành nghị quyết 36, quyết tâm thôn tính toàn bộ cộng đồng người Việt tại hải ngoại, biến chúng ta thành những kẻ nô lệ như 85 triệu nô lệ ở trong nước!

Vì sao bọn giặc đã và đang thành công trên mặt trận tôn giáo? Trước năm 1975, bọn chúng đã thành công và bây giờ, vẫn bổn cũ soạn lại mà chúng ta vẫn cứ bị sa vào cạm bẫy?

Sở dĩ bọn giặc thành công vì chúng dựa vào các yếu tố sau đây:

1. Dựa vào sự ngu dốt chính trị của quần chúng

2. Dựa vào sự mê tín của quần chúng

3. Dựa vào lòng tham của quần chúng

Ngu dốt về chính trị chính là cứ thấy những thằng nào cạo đầu trọc, mặc áo cà sa là cứ cắm đầu cắm cổ vái lạy mà không hề dám tìm hiểu lai lịch, gốc gác của bọn chúng từ những cái lỗ nẻ nào chui ra? Cho đến bây giờ vẫn còn rất nhiều người chưa hề biết những tên sát nhân hết sức ghê tởm như Thích Ðôn Hậu, Thích Trí Quang là những tên cán bộ cộng sản thứ thiệt! Toàn bộ những "đức tăng thống", đệ nhị, đệ tam, đệ tứ của Phật giáo đều là bọn cộng sản đội lốt!

Đúng ra, có thể nhiều người đã biết điều này nhưng không dám lên tiếng. Sự hèn nhát của họ cộng với sự ngu dốt chính trị của quần chúng đã là mảnh đất mầu mỡ hết sức thuận lợi cho bầy vi trùng ho lao sinh sôi nẩy nở để gặm nát hai lá phổi của toàn dân Việt!

Thế còn sự mê tín? Xin thưa, sự mê tín của quần chúng nằm ở chỗ, đa số đã hiểu rất sai về tôn giáo của mình. Tôn giáo vốn dĩ, từ hàng ngàn năm nay, đã bị vô số những bọn lưu manh lợi dụng, sửa đổi giáo lý, vẽ rắn thêm chân, làm cho nó khác đi rất nhiều so với những điều giảng dạy nguyên thủy của những đấng Cứu Thế hoặc Giáo Chủ. Lấy ví dụ, cốt lõi của đạo Phật là sự TỰ GIẢI THOÁT. Ðức Phật chỉ hướng dẫn phương pháp tự giải thoát, còn tự mỗi tín đồ phải thực hành để tự giải thoát cho bản thân mình. Cũng ví như Ðức Phật chỉ cho những người sắp chết đói, chết khát biết nên đi về hướng nào để gặp con suối, nơi đó có cá và cây cối. Và khi đến được con suối rồi thì chính bản thân những người chết khát phải tự múc nước mà uống, muốn ăn trái cây thì tự họ phải trèo lên cây hái trái. Ðức Phật không thể "ăn giùm" hoặc "uống giùm" cho bất cứ người nào!

Tương tự như vậy, muốn thoát kiếp nô lệ thì chính chúng ta phải đứng dậy lật đổ chế độ cộng sản chớ không thể "biểu tình tại gia", nằm trốn dưới gầm giường trùm mền mà tự nhiên chế độ cộng sản bị sụp đổ! Người Mỹ không thể chống cộng giùm chúng ta, Liên Hiệp Quốc cũng chỉ gãi ghẻ và những hình bóng "đấng cứu thế" Góc Ba Chớp Việt Nam cũng chỉ là hoang đường!

Chế độ của bọn việt gian cộng sản sẽ không bao giờ tự hủy hoại, tự sụp đổ như tên điếm chính trị Đinh Thạch Bích đang ra sức tuyên truyền trên diễn đàn paltalk và tờ điện báo VietNam Exodus. Đinh Thạch Bích là tên lưu manh chính trị, khoác áo "người quốc gia" để lừa bịp đồng bào. Sự nguy hiểm của hắn cũng không thua gì Ali Baba Nguyễn Chí Thiện, "linh mục" Nguyễn Hữu Lễ hoặc "giáo sư" đại học Đặng Văn Nhâm!!!

Thế nhưng, như đã nói trên, vì mê tín và tham lam cho nên đã có rất nhiều người làm vô số điều ác rồi cứ đến chùa bỏ tiền vào thùng "phước sương", hy vọng rằng tội ác của họ sẽ được xóa hết! Ðây chính là hành động mình khát nước mà lại nhờ Ðức Phật uống nước giùm! Giả sử, chúng ta thèm ăn phở thì chính chúng ta phải chịu khó đi đến tiệm phở. Không có người nào điên khùng tới mức, nói là:" Anh ơi, chị ơi, tôi đang thèm phở quá nhưng bận việc không đi được. Anh chị có đi ăn phở thì nhớ ĂN GIÙM TÔI một tô cho tôi được no bụng nhé!"

Ðó là lý do vì sao đã có những kẻ đi ăn cướp nhà băng được một triệu đô la rồi đem mười ngàn đô bỏ vào thùng "phước sương" ở chùa để làm "từ thiện"!

Sự mê tín của quần chúng được thể hiện qua rất nhiều khía cạnh, và chính nhờ đó, bọn cán bộ cộng sản - công an đầu trọc - đã và đang ung dung sống một cách huy hoàng như những ông vua trong những ngôi chùa nguy nga như những cung vàng điện ngọc, có đầy đủ những cung tần mỹ nữ phục vụ!

Sự mê tín đã đẻ ra lòng tham, hay nói theo kiểu cộng sản, hai cái này có mối quan hệ biện chứng! Hầu như ai đi đến chùa là cũng mong CẦU ÐƯỢC MỘT ÐIỀU GÌ ÐÓ. Cầu được danh, cầu được lợi, cầu được trúng số, cầu được tình duyên suông sẻ ..v..v... Và ai sẽ là người "đại diện" cho Ðức Phật để gia hộ độ trì cho các phật tử? Chính là quý "thầy", tức những tên công an đầu trọc chớ còn ai vào đó! Chính vì vậy mà đôi khi các tín đồ sùng bái quý "thầy" tới mức, nếu "thầy" bảo ăn cứt, họ cũng không dám từ chối!

Tất cả những điều Ðức Phật dạy, họ đã quên hết, hay nói cho đúng, họ học giáo lý như những con vẹt, học mà không bao giờ chịu suy gẫm và thực hành. Nếu may mắn, có những người học-hiểu, thì oái oăm thay, những kẻ này không bao giờ dám dùng sự hiểu biết của mình như tấm kính chiếu yêu để nhìn rõ chân tướng của những tên công an đầu trọc, như "đại đức", "thượng tọa", "hòa thượng"! (học-hiểu mà không học-hành là đồ bỏ!)

Cứ như thế, từ năm này sang năm khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, nếu chúng ta không có can đảm ÐỂ TỰ GIẢI THOÁT thì chín mươi triệu dân Việt sẽ mãi mãi làm nô lệ!

Muốn thoát kiếp nô lệ, chúng ta phải mạnh dạn lột mặt nạ của những tên công an đầu trọc và đưa bọn chúng lên giàn hỏa thiêu .....

Câu chuyện sau đây đáng để chúng ta suy gẫm. Xin mời quý vị theo dõi ....

*******

Nàng là thiếu nữ 22 tuổi, sinh ra và lớn lên tại nước Mỹ. Cha mẹ nàng là người Việt nên nàng có tên Việt Nam là "Thắm", còn cái tên Mỹ "Tracy" chỉ dùng khi nàng đi học. Thắm là sinh viên năm thứ tư chuyên ngành về hóa học, sắp sửa ra trường. Nàng là sinh viên xuất sắc, biết đọc viết và nói tiếng Việt rất thông thạo. Tuy sinh trưởng tại Mỹ nhưng cái gốc Việt Nam của nàng đã được vun bồi khá đầy đủ. Ðây là công lao rất lớn của cha mẹ nàng, tuy xuất thân từ giới bình dân, lao động nhưng không bao giờ quên cội nguồn dân tộc. Cha mẹ nàng có ba người con, Thắm là trưởng nữ, rất hiền ngoan, học rất giỏi cho nên hai ông bà cưng quý nàng như một bảo vật. Một lý do nữa, Thắm là một cô gái sắc nước hương trời, hoa ghen thua "Thắm", liễu hờn kém xanh, là niềm tự hào lớn cho cả gia đình nàng và có lẽ cho cả cộng đồng người Việt tại tiểu bang Texas. Nhiều người đã đến xúi dục cha mẹ nàng, cho Thắm đi thi hoa hậu để kiếm "danh và lợi", theo đúng lời dạy của đại lão hòa thượng Thích Quảng Ðộ* nhưng cha mẹ nàng đã gạt phắt đi. Con gái mà đi thi hoa hậu thì sớm muộn gì cũng biến thành một loài đĩ công cộng, bị những bọn lưu manh thương mại lợi dụng, và không khéo cuộc đời sẽ bị kết thúc một cách bi thảm!

Tuy đang sở hữu một viên ngọc quý nhưng cha mẹ Thắm lúc nào cũng lo ngay ngáy trong bụng, nhất là nàng đã đến tuổi cần phải lấy chồng. Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân nhưng "chốn ba quân" nào mới được chứ, xã hội bây giờ rất phức tạp, bọn ma cô, lưu manh, điếm đàng nhiều như ruồi ở khắp mọi nơi, lơ mơ là giao trứng cho ác! Cha mẹ Thắm thường bàn tính với nhau như sau:

Vợ: - Anh à, tụi mình đã thống nhất với nhau, con gái mình phải lấy chồng là người Việt. Em không thích con mình lấy Mỹ đen hay Mỹ trắng hay Mễ Tây Cơ, để rồi nó bị ảnh hưởng lối sống Mỹ, tụi mình sẽ mất con!

Chồng: - Ðúng! Bởi vậy, anh đang nghĩ nên cho con mình đến sinh hoạt trong những tổ chức của cộng đồng người Việt để nó có điều kiện kiếm chồng là người Việt!

Vợ: - Anh à, em thấy hiện nay có mấy tổ chức của người Việt quốc gia như "Ðoàn Thanh Niên Phan Bội Châu", "Tuổi Trẻ Lên Ðường", "Tuổi Trẻ Tiếp Bước Cha Anh", "Ðoàn thanh niên Hưng Việt", "Đoàn Thanh Niên Cờ Vàng" ..v..v.. Ðây là những tổ chức chống cộng, có nội quy sinh hoạt rất đàng hoàng, có cả đồng phục nữa, toàn là những thanh niên trí thức ở hải ngoại tham gia. Có lẽ mình nên cho con nó tham gia, một công đôi chuyện, vừa ích nước lợi nhà, vừa có cơ hội kiếm được tấm chồng đàng hoàng!

Chồng: (giật nảy người như bị điện giật)

- Ấy chết! Em không biết gì sao? Giao trứng cho ác! Ðó là những tổ chức do đảng cướp Việt Tân dựng lên, dưới sự chỉ đạo của bọn việt gian cộng sản! Con gái mình vào đó là tàn mạt cuộc đời! Có thể nói một trăm phần trăm tất cả những tổ chức "giáo dục tuổi trẻ" hiện nay tại hải ngoại đều là do bọn việt gian cộng sản núp trong bóng tối chỉ đạo! Tụi nó muốn biến giới trẻ tại hải ngoại thành những tên nô lệ ngu đần chỉ biết mù quáng tin tưởng vào bác và đảng, giống như những tổ chức như "Ðoàn thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh" và "Ðội thiếu niên tiền phong" ở trong nước!

Vợ: - Hay là mình cho con nó tham gia mấy tổ chức từ thiện, chuyên đi làm việc phước đức?

Chồng: (lắc đầu thở dài ngao ngán)

- Anh đã tìm hiểu rất kỹ rồi. Toàn bộ những tổ chức "từ thiện" tại hải ngoại đều là do bọn cướp Việt Tân và bọn việt gian cộng sản lãnh đạo! Con gái mình mà vào đó là tan nát đời hoa, là tự nguyện đi làm nô lệ cho bọn giặc! Nếu em xem băng Thúy Nga Paris, ở cuối cuộn băng có xuất hiện một thằng chó đẻ khoác áo "linh mục", kêu gọi đồng bào góp tiền để giúp những người "nghèo" ở Việt Nam! Toàn bộ số tiền quyên góp đó sẽ chui vào túi bọn giặc, đó là lý do vì sao hiện nay bọn cộng sản đã trở nên giàu nứt vách, mồi thuốc lá bằng giấy bạc 100 đô, mỗi khi đi ỉa thì tụi nó dùng giấy bạc NĂM TRĂM ÐÔ để chùi đít!!!

Vợ: - Còn mấy đoàn thể dành cho tuổi trẻ do nhật báo Người Việt và đài truyền hình Sinh Bắc Tử Nam tổ chức thì sao anh?

Chồng: (lắc đầu quầy quậy)

- Ðó là hai cái Ổ RẮN ÐỘC của đảng cướp Việt Tân và bọn việt gian cộng sản, em không biết hay sao? Nội em nghe mấy chữ "sinh bắc tử nam" là biết rồi! Tụi nó là rắn độc nhưng đã khéo léo hóa trang thành những con lươn vô hại, hiền lành! Thằng chó đẻ nào cũng khoác áo "người quốc gia chống cộng" nhưng thực chất lại là cộng sản thứ thiệt!

Vợ: (tỏ vẻ thất vọng)

- Như vậy thì còn chỗ nào cho con mình sinh hoạt nữa? Không lẽ mình cứ giam nhốt nó mãi trong nhà để nó bị ế chồng?

Chồng: (nét mặt rất buồn bã, u sầu)

- Anh nói thiệt với em, đôi khi anh cảm thấy hết sức buồn chán và thất vọng. Có thể nói hiện nay thiên la, địa võng của bọn việt gian cộng sản đã giăng ra khắp nơi tại hải ngoại. Giới trẻ tại hải ngoại như những con chim non hầu như không còn lối thoát, đâm đầu vào bất cứ chỗ nào cũng đều là hang ổ rắn độc của bọn giặc! Tổ chức nào cũng trương lá cờ vàng ba sọc với hình năm vị tướng đã tuẫn tiết hồi năm 1975 nhưng thực chất lại là ổ rắn độc của cộng sản! Nói đâu xa, chẳng hạn như đài phát thanh Việt Nam Hải Ngoại. Sáng nào con mẹ giám đốc Lưu Lệ Ngọc cũng kêu gọi đồng bào "nghiêm chỉnh chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa" nhưng đến tối thì nó đi dự tiệc với mấy thằng cán bộ chó đẻ trong tòa đại sứ việt cộng! Nói đâu xa, tờ điện báo VietLand thường xuyên treo cờ Việt Nam Cộng Hòa, thường xuyên in hình năm vị tướng tuẫn tiết năm 1975, rồi cả hình các chiến sĩ hải quân VNCH đã hy sinh trong trận chiến Hoàng Sa năm 1974, nhưng thực chất bọn chó đẻ này chính là những tên chó săn, tay sai của việt gian cộng sản! Bọn chúng thường ngụy biện rằng tờ báo của chúng là diễn đàn "dân chủ, đa chiều" nhưng bọn chúng chỉ đăng một vài bài "chống cộng" (dỏm) làm kiểng để ngụy trang, che mắt, còn 95% những bài viết khác đều là những bài tuyên truyền, có lợi cho bọn giặc! Nói thiệt với em, nếu bọn chúng mà dám đăng bài của những người chống cộng thứ thiệt thì anh sẽ tình nguyện .... ăn cứt chớ không thèm ăn cơm nữa!

Vợ: (cặp mắt chợt bừng sáng)

- Anh à, em nhớ ra rồi. Tại sao mình không cho con mình đến chùa sinh hoạt, làm công quả? Tụi mình là phật tử thuần thành, cho con mình đi theo con đường "tu tại gia" là rất hợp lý. Biết đâu, nhờ đến chùa làm công quả, nhờ ơn Phật tổ, mà con mình kiếm được một tấm chồng xứng đáng!

Chồng: ( nét mặt rạng rỡ )

- À, phải rồi. Em nói đúng. Anh đã quên khuấy đi môi trường tôn giáo chính là nơi rất lành mạnh để giáo dục con người! Cám ơn em đã có ý kiến này rất hay!

Vợ: - Theo em biết, ở chùa hiện nay đang có nhiều đoàn thể dành cho các gia đình phật tử, chẳng hạn như gia đình phật tử Long Hoa, Quảng Ðức, Lý Công Uẩn ..v..v.. Mình cho con Thắm tham gia vào những đoàn thể này là rất phù hợp!

Chồng: (vỗ đùi đánh đét)

- Phải rồi, đúng quá! Vậy mà hồi giờ anh nghĩ không ra! Thôi, ngày mai mình đưa con đến chùa, xin cho nó gia nhập gia đình phật tử!

Thế là sau đó, cha mẹ Thắm đã đưa nàng đến một ngôi chùa lớn nhất tiểu bang Texas để xin cho nàng được gia nhập đoàn thể gia đình phật tử. Hai ông bà rất yên tâm vì đây là môi trường tôn giáo, chắc chắn là không có những bàn tay nhám nhúa, tàn độc của đảng cướp Việt Tân và bọn việt gian cộng sản thò vào. Kể từ đó, cô Thắm được phát một bộ đồng phục màu lam và trở thành đoàn viên của gia đình phật tử. Chủ nhật hàng tuần, cô chăm chỉ đến chùa học giáo lý và làm công quả. Nhờ giỏi tiếng Anh lẫn tiếng Việt, lại là người trí thức nên cô được các anh huynh trưởng và quý thầy cô hết sức quý mến. Tính tình của Thắm lại rất ngoan hiền, chăm chỉ học giáo lý để thấm nhuần Phật pháp nên ai cũng thương mến. Và có lẽ, đặc biệt nhất, là cái nhan sắc "Tây Thi" của nàng đã làm mọi người mê mẩn, càng thương mến nàng hơn. Nhan sắc của nàng vốn được nuôi dưỡng bằng bơ sữa của Mỹ chính cống từ nhỏ đến lớn mà mấy con đĩ hoa hậu Hải Phòng ở trong nước không bao giờ có thể sánh kịp.

Ðược sinh hoạt trong gia đình phật tử, Thắm cảm thấy vô cùng thích thú vì nàng có dịp được mở mang kiến thức và quen nhiều bạn mới. Có điều Thắm hơi e ngại vì có một vài anh "huynh trưởng" mặt mũi trông rất bậm trợn tựa như du đãng bến xe, nói rặt giọng bắc Hải Phòng. Nàng đã loáng thoáng nghe một vài lời xầm xì rằng những "huynh trưởng" này chính là những đảng viên cộng sản, vượt biên qua ngã Hồng Kông, được cài vào chùa để hoạt động! Tuy nhiên, Thắm vốn là người kín đáo, thủ khẩu như bình, giả câm giả điếc để được an toàn tu học!

Một hôm, một tên huynh trưởng việt cộng nói với Thắm:

- Chị Thắm, thầy hòa thượng trụ trì cần mời chị lên để .... làm việc!

Thắm không hiểu hai chữ "làm việc" nên hỏi lại:

- Anh nói sao, em không hiểu?

Huynh trưởng việt cộng giảng ... "pháp":

- Nói chung trong thời gian qua, chúng tôi thấy chị phấn đấu tốt, học tập tốt và nàm công quả tốt nên đã kiến nghị lên thầy trụ trì giao cho chị nàm công tác quản ní thư viện!

Từ khi sinh hoạt ở chùa, Thắm chỉ được trông thấy thầy trụ trì có một vài lần. Nghe nói thầy là đại lão hòa thượng, đã trên tám mươi tuổi, đi tu từ khi ông nội của nàng vừa mới .... chào đời! Tuy đã lớn tuổi nhưng trông thầy rất quắc thước, dáng đi và những động tác vẫn còn cứng cáp, nhanh nhẹn. Thầy chỉ xuất hiện làm chủ lễ trong những buổi lễ lớn, ngoài ra, hàng ngày thầy nhập thất, muốn gặp thầy phải qua ba bốn lớp đệ tử canh gác cửa! Thắm cũng đã nghe loáng thoáng những lời xầm xì rằng thầy là đảng viên cộng sản từ hồi năm 1945 và thầy vừa mới về Việt Nam tham dự đại hội việt kiều!

Sau khi làm "công tác tư tưởng" xong, tên huynh trưởng việt cộng dẫn Thắm lên gặp thầy trụ trì. Lần đầu tiên được đứng đối diện với thầy trụ trì, Thắm không khỏi "run như run thần tử thấy long nhan". Thầy trụ trì tuy đã ngoài tám mươi, da mặt đã bị "xếp li" nhiều nhưng đỏ au và bóng lưỡng, chứng tỏ thầy được hấp thụ chất bổ rất nhiều. Ðặc biệt, thầy có cặp lông mày chổi xể rất rậm rạp, đã trổ màu bạc trắng như cước và cặp lông mi cũng đều trắng bạc, khiến bất cứ người nào mới thoạt nhìn cũng có ý nghĩ thầy giống như ... thần "Bạch Mi"!

Căn phòng riêng của thầy vừa là nơi làm việc và cũng là phòng ngủ. Ðiều đầu tiên đập vào mắt Thắm khiến nàng vô cùng kinh ngạc là ngay trong phòng có treo một tấm hình .... bác Hồ và một lá cờ đỏ sao vàng! Phía dưới lá cờ là ba khung hình lộng kiếng, có ghi mấy giòng chữ thật lớn như: "Huân chương chiến công hạng nhì", "Huân chương Ðộc Lập", "Huân chương đại đoàn kết dân tộc". Linh tính báo cho Thắm biết có một cái gì đó không ổn. Tại sao phía bên ngoài chùa thì treo cờ vàng ba sọc còn bên trong này thì treo cờ việt cộng? Thắm đã từng tham gia và chứng kiến nhiều cuộc biểu tình, nơi đó người ta đốt lá cờ máu và đốt hình Hồ Chí Minh. Nàng hiểu đại khái đó là những cái gì tượng trưng cho những tội ác hết sức ghê tởm, tựa như bọn khủng bố hoặc bọn phát xít hồi đệ nhị thế chiến! Vậy thì tại sao, tại sao lại có điều nghịch lý đến như vầy, Thắm thoáng có một dấu hỏi trong đầu.

Thầy trụ trì đang ngồi bật ngửa trên ghế, phì phèo điếu thuốc lá. Phía sau lưng thầy là một chú tiểu đang ra sức đấm bóp. Vừa trông thấy Thắm vào, thầy khoát tay ra hiệu cho chú tiểu và tên huynh trưởng việt cộng lui ra ngoài. Thầy chỉ tay vào chiếc ghế, nói với Thắm:

- Ngồi đi con!

Thầy có giọng nói rổn rảng, âm vực khá mạnh, đó là lý do vì sao đôi khi thầy thuyết pháp tại chánh điện, trước hàng ngàn phật tử mà không cần dùng máy phóng thanh! Thắm bẽn lẽn ngồi xuống ghế. Nàng vừa e thẹn, rụt rè, vừa cảm thấy hãnh diện vì không ngờ hôm nay nàng được ngồi đối diện với một vị đại lão hòa thượng, được giới tín đồ xưng tụng như "đấng giáo chủ" tại hải ngoại! Tuy nhiên, Thắm cũng hơi lo trong bụng, không biết thầy cần gặp mình có chuyện gì? Thầy trụ trì đích thân rót một tách trà rồi nở một nụ cười hiền từ, thân thiện:

- Con uống trà đi. Dạo này việc học giáo lý của con có tốt không?

Thắm đáp lí nhí:

- Thưa thầy, con học được!

Thầy hỏi tiếp:

- Mấy anh huynh trưởng giảng bằng tiếng Việt, con có hiểu không?

- Thưa thầy, hiểu!

Thầy đưa ra nhận xét:

- Thầy biết các con sinh đẻ bên Mỹ, tiếng Việt không rành cho nên nhiều con gặp khó khăn trong việc học giáo lý. Thầy đang cố gắng đào tạo những anh huynh trưởng có khả năng giảng giáo lý bằng song ngữ Anh-Việt nhưng chưa tìm được. Thật là may mắn, thầy nghe quý phật tử nói con thông thạo cả hai ngôn ngữ Việt-Mỹ. Con cố gắng học để trong tương lai làm công tác giảng dạy giúp cho Giáo Hội nghen. Phước đức nhiều lắm đó!

Ðược thầy khen, Thắm đỏ bừng mặt sung sướng. Ðúng là nàng giỏi tiếng Việt nhưng trong giáo lý có nhiều từ ngữ phức tạp, khó hiểu quá. Nghe nói đó là những từ ngữ bắt nguồn từ tiếng Tàu. Chẳng hạn như Thắm thường nghe anh huynh trưởng giảng thao thao bất tuyệt:

- .... trong các hạnh bố thí, có ba loại bố thí quan trọng nhất, đó là "Pháp thí, tài thí và vô úy thí" ...

Pháp thí và tài thí thì Thắm đã hiểu, còn "vô úy thí" là gì thì nàng mù tịt! Có lần Thắm đã hỏi anh huynh trưởng nhưng anh ta phớt lờ, viện cớ "bận việc", chắc có lẽ anh ta cũng chẳng hiểu! Thế là Thắm tự nhủ:

- Thật may quá, sẵn dịp này được gặp thầy thì mình nhờ thầy giảng cho thế nào là "vô úy thí"!

Nghĩ vậy, nên Thắm rụt rè hỏi:

- Thưa thầy, con không hiểu "vô úy thí" là gì. Xin nhờ thầy giảng cho con!

Thầy hòa thượng cười hiền từ:

- Giáo lý Phật Pháp nó vô cùng lắm. Nó thay đổi theo thời gian, tùy hoàn cảnh mà ta áp dụng! Ðể từ từ rồi thầy cắt nghĩa cho!

Nói xong, thầy nhìn hau háu vào khuôn mặt trắng hồng, đẹp tuyệt vời của Thắm khiến nàng e thẹn cúi đầu nhìn xuống sàn nhà. Tiếp theo, thầy hòa thượng đủng đỉnh tiến lại chiếc giường nệm của thầy và ra lệnh:

- Con lại đây, thầy có chuyện cần hỏi con!

Nghe thầy ra lệnh đến bên "long sàng" của thầy, tự nhiên Thắm sợ hãi phát run. Bản năng tự vệ của nàng bùng dậy, nàng muốn chống lại mệnh lệnh nhưng không có đủ can đảm. Ðể tự trấn an mình, Thắm tự nhủ:

- Mình đang nói chuyện với thầy đại lão hòa thượng mà. Thầy đáng tuổi .... ông cố nội của mình. Không sao đâu!

Nghĩ vậy nên Thắm rụt rè, co ro cóm róm tiến đến, ngồi nơi mép giường, diện đối diện với thầy hòa thượng. Tự nhiên linh tính của nàng báo cho nàng biết có một điều gì đó không được bình thường mặc dù nàng đã hết sức tự trấn an. Nàng khẽ liếc mắt nhìn trộm "long nhan" của thầy thì tự nhiên nàng thấy kinh sợ quá. Tất cả những nét hiền lành, đạo cao đức trọng, từ bi độ lượng của một vị chân tu trên bảy mươi tuổi đạo, đã hoàn toàn biến mất. Nhường chỗ vào đó là cặp mắt hau háu đầy dục vọng như mắt của con chó sói vừa trông thấy con cừu non. Bằng giác quan thứ sáu, Thắm cảm nhận được sự thèm khát nhục dục qua ánh mắt và sắc mặt của "thầy" hòa thượng. Nàng cảm nhận được hơi thở của con chó sói đang gia tăng cường độ, ánh mắt của nó như những mũi dao bén nhọn đang săm soi vào lồng ngực của nàng. Bản năng tự vệ bùng dậy, hốt nhiên Thắm lấy hai tay che lồng ngực của mình. Tất nhiên, tất cả những sự hốt hoảng của Thắm đều không qua được cặp mắt lão luyện của con chó sói. Gã hòa thượng ôn tồn, nói bằng giọng nhỏ nhẹ như để trấn an Thắm:

- À, thầy định hỏi con một chuyện. Như con biết, sự học phải luôn luôn đi đôi với hành. Con đã học về đức bố thí, vậy từ trước tới nay,có bao giờ con đã bố thí cho bá tánh điều gì chưa?

Thắm lí nhí đáp:

- Thưa thầy, "Pháp thí" thì con không có khả năng để giảng "Pháp". Còn "tài thí" thì con cũng chưa làm được vì còn đang đi học nên không có... tiền!

Gã hòa thượng bật cười trước sự ngây thơ, thật thà của Thắm:

- Như vậy là con không có cái gì để bố thí cho bá tánh, như vậy thì làm sao tu đạt được chánh quả?

Thắm cảm thấy rất bối rối và mặc cảm trước sự nhận xét này của "thầy" hòa thượng. Ðúng vậy, nàng chẳng có cái gì để bố thí cho bá tánh, con đường tu học của nàng chắc chắn sẽ còn nhiều gian nan lắm! Người Mỹ cũng thường nói "give and take". Có cho thì mới có nhận. Mình phải làm phước cho bá tánh thì những điều phước đức nó mới tự nhiên tìm tới mình. Ðây là điều hiển nhiên gần như những định luật trong khoa học vật lý! Từ chỗ bối rối, mặc cảm, Thắm cúi gầm đầu, hai tay cuống quýt vân vê tà áo. Gã hòa thượng tiếp tục nhìn Thắm bằng cặp mắt của con chó sói đói mồi:

- Con không có gì để bố thí cho bá tánh, cũng không có gì để cúng dường cho Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), thì thôi, để thầy gợi ý với con điều này, giúp con giải quyết được "vấn nạn" ....

Nghe thầy gợi ý giúp đỡ, Thắm hơi mừng, khẽ ngước nhìn lên nhưng bắt gặp cặp mắt đỏ ngầu đầy thèm khát của con chó sói, nàng run bắn người, gục đầu xuống như con đà điểu vùi đầu trong cát nóng, chạy trốn sự thật. Tiếp theo đó, bằng giọng hơi run run, khàn khàn, thầy hòa thượng nói nhỏ với Thắm:

- Con không có "tài thí", không cúng dường được phải không .... Hay là, ... con cúng dường cái .... lồn của con cho thầy được không???!!!

Lời đề nghị táo bạo của gã hòa thượng như tiếng sét nổ ngang tai của Thắm. Nàng tá hỏa tam tinh, thấy bảy ông trời. Tuy nhiên, nàng hy vọng chắc là mình vì quá bối rối mà nghe lộn chăng? Vẻ mặt của Thắm vụt trở nên tái mét vì sợ hãi. Nàng cất giọng run run hỏi:

- Thưa thầy, thầy vừa nói cái gì?

Gã hòa thượng tự động tiến tới ngồi sát bên Thắm, đưa tay vuốt má nàng và nói thì thầm vào tai của nàng:

- Thầy đề nghị con nên cúng dường cái .... lồn của con cho thầy! Phước đức lắm đó con. Thầy đại diện cho Phật Tổ Như Lai sẽ gia hộ độ trì cho con được trúng số độc đắc, trở thành triệu phú! Pháp thí, tài thí và .... lồn thí là ba điều bố thí quan trọng nhất trong thời đại ngày nay. "Vô úy thí" là xưa rồi. Thời đại ngày nay phải là "lồn thí" thì mới tạo được nhiều phước báu, có thể trở thành tỷ phú đô la như mấy đồng chí trong trung ương đảng! Mấy cô hoa hậu ở trong nước đều là "lồn thí", nhờ vậy mà họ đều được giàu sang, phú quý!

Ðến nước này thì Thắm bỗng bật lên khóc òa, khóc một cách hết sức đau đớn, tức tưởi. Nàng khóc không phải vì nhân phẩm, nhân cách của nàng bị xúc phạm mà khóc vì .... thần tượng sụp đổ! Nàng không thể ngờ được một vị đại lão hòa thượng mà lại thốt lên những điều ngoài sự tưởng tượng của nàng! Có ngủ mơ chắc cũng không bao giờ nàng mơ thấy một cơn ác mộng đang xảy ra trong thực tế như vậy! Trời ơi là trời! Tại sao, tại sao và tại sao??? Rõ ràng từ bao lâu nay, nàng đã chứng kiến vị đại lão hòa thượng này là một vị cao tăng được rất nhiều người kính nể như một ông Phật sống. Một lời vàng ngọc của thầy ban ra, thiên hạ bá tánh răm rắp tuân theo và gần như là những sự vâng lời vô điều kiện. Có nhiều tín đồ sùng bái thầy tới mức, giá như, thầy bảo họ ăn cứt chắc họ cũng không dám từ chối! Như thế, đủ thấy uy lực của thầy lớn tới cỡ nào. Chắc chắn thầy phải là một bậc chân tu, đạo rất cao, đức rất trọng, cỡ như thượng tọa Thích Quảng Ðức đã dám xả thân tự thiêu vì đạo pháp. Vậy mà .... trời ơi, tại sao? Thật không hiểu nổi!

Thấy Thắm bật khóc, gã hòa thượng bèn đưa tay xoa nhẹ lên má của nàng, rồi bỗng nhiên, tựa như một con hổ đói, cầm lòng không đậu, gã đè ngửa con mồi ra, hôn chùn chụt, hôn lia lịa vào khuôn mặt đẹp của nàng. Sự sợ hãi, sự thất vọng, sự đau đớn về tinh thần đã làm cho sức kháng cự của Thắm hoàn toàn bị tê liệt. Nàng nằm xuôi cò trên giường tựa như Thúy Kiều, cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu, mặc tình cho con chó sói tha hồ tung hoành ngang dọc! Phước báu đâu không thấy, chỉ thấy chữ trinh đáng giá ngàn vàng của nàng sắp sửa bị tước đoạt!

Gã hòa thượng đã mở được cửa thiên đàng mà không hề gặp một sự kháng cự nào thì tội tình gì mà gã không thừa thắng xông lên, "tới luôn bác tài"! Gã nhanh chóng lột tuốt luốt toàn bộ quần áo của Thắm, biến nàng thành một con nhộng nằm tô hô ở trên giường, rõ ràng trong ngọc trắng ngà, dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên! Tiếp theo, gã vùi đầu vào cặp vú của nàng và bú chùn chụt, bú lia bú lịa như một đứa trẻ bị khát sữa lâu ngày. Sau đó, như một dân chơi thứ thiệt ở động đĩ ngã ba Chú Ía, gã hòa thượng vùi đầu vào háng của Thắm, bú, mút và liếm một cách hết sức say sưa như một con chó sói đang khát máu. Thương thay một đóa trà mi, dâm tăng đã tỏ đường đi lối về!!!

Bây giờ thì gã hòa thượng đảng viên cộng sản đã hiện nguyên hình là một con quỷ dâm dục. Gã đã trần truồng một trăm phần trăm và đang nằm đè lên cô Thắm cũng đang trần truồng như nhộng. Gã ôm hôn Thắm lia lịa và thì thầm vào tai nàng qua hơi thở dồn dập:

- Tao thèm ... lồn quá!

Thắm gần như bị thôi miên hoặc tê liệt về thần kinh. Ðầu óc của nàng mơ mơ màng màng, thân thể của nàng hầu như bị mất hết cảm giác. Hay là vì nàng đã uống phải tách trà do gã hòa thượng pha, trong đó có bỏ thuốc mê? Trong cơn mê sảng, nàng chỉ loáng thoáng nghe những lời nói hằn học của gã hòa thượng:

- Hừ, trên bảo dưới không nghe! Trên bảo dưới không nghe!

********

Ngày hôm sau, Thắm vừa khóc vừa kể lại hết tất cả mọi sự cho cha mẹ nàng. Cha mẹ Thắm đã rụng rời chân tay, muốn ngất xỉu khi nghe câu chuyện kinh thiên động địa này. Hai ông bà rất tin Thắm vì nàng vốn là cô gái hết sức ngây thơ, thành thật, không bao giờ biết nói dối. Mẹ của Thắm, mặt tái nhợt như bị trúng gió, hỏi Thắm bằng giọng run run:

- Thiệt vậy sao con? Thiệt vậy sao con? Trời ơi, chắc tôi chết!

Sự lo sợ của hai ông bà tập trung vào hai điều. Thứ nhất, là câu nói của vị đại lão hòa thượng "Trên bảo dưới không nghe". Thắm đã thuật lại nguyên văn câu nói này cho cha mẹ nàng để cả hai tùy nghi nhận xét! Thứ hai, hai ông bà sợ Thắm đã bị mất trinh! Không khéo nàng mang bầu thì nguy lắm. Luật pháp nước Mỹ cấm phá thai, ai mà vi phạm, lơ mơ là đi tù! Trời ơi, chắc là phải đưa con Thắm về Việt Nam để nó phá thai!!! Thật là đại họa!

Cha mẹ của Thắm là phật tử thuần thành, rất tin vào đạo Phật, rất sùng bái mấy ông thầy chùa. Có lẽ đây là truyền thống của gia đình vì ông nội của Thắm, hồi năm 1965, đã sùng bái thầy Trí Quang tới mức, nghe theo lời thầy "dạy", đem luôn bàn thờ Phật ra ngoài đường để "đấu tranh cho đạo pháp"!

Mẹ của Thắm lo lắng hỏi chồng:

- Anh à, con Thắm làm cho thầy không vừa ý, thầy quở nó. Ðiều này làm cho gia đạo của mình bị tổn phước .... Em lo quá!

Cha của Thắm hỏi lại:

- Sao em biết là thầy quở nó?

- Thì nó kể là thầy cằn nhằn "trên bảo dưới không nghe"! Anh quên rồi sao?

Cha của Thắm đưa hai tay ôm đầu, nét mặt đăm chiêu, suy nghĩ rất dữ dội. Mỗi khi có chuyện gì quan trọng, ông thường làm như vậy. Khoảng chừng năm phút sau thì bỗng ông thở phào như trút được một gánh nặng ngàn cân. Ông mừng rỡ nói:

- Em à, con Thắm nhà mình vẫn còn .... trinh! Không phải thầy hòa thượng quở nó đâu! Anh đã tìm ra đáp số rồi!

Mẹ của Thắm hỏi dồn:

- Sao ông biết, sao ông biết?

Cha của Thắm nở một nụ cười tự hào và nói nhỏ với vợ:

- Tại em ít có theo dõi tình hình chính trị nên không biết. Cái câu nói "trên bảo dưới không nghe", nguyên thủy là câu nói của thằng chó đẻ Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước của việt cộng. Sau đó, báo chí ở hải ngoại người ta nhạo báng, biến nó thành ra câu "tục ngữ", ám chỉ mấy người bị liệt dương! Thầy đại lão hòa thượng của tụi mình là cộng sản chính cống đó. Thầy là thiếu tướng công an, trước đây đã từng là ủy viên trung ương đảng, hồi thằng Võ Văn Kiệt còn làm thủ tướng. Chính thằng Kiệt đã đưa thầy ra hải ngoại hoạt động để "gom bi" toàn bộ việt kiều! Anh biết điều này đã lâu nhưng anh không dám hé răng. Lơ mơ là tụi điệp viên của cộng sản nó tìm tới tận nhà, nó ám sát mình!

Mẹ của Thắm lại théc méc:

- Thầy là cộng sản thì có dính dáng gì đến việc con mình không bị mất trinh?

Cha của Thắm tiếp tục giải thích:

- Thầy đã cởi truồng nằm đè lên người con Thắm mà thầy thốt lên câu nói "trên bảo dưới không nghe", tức là ý thầy bất mãn, lực bất tòng tâm! Thầy muốn, nhưng "chú tiểu" không muốn! Thầy đã ngoài tám mươi tuổi thì "trên bảo dưới không nghe" là chuyện bình thường. Nhờ vậy mà con Thắm nhà mình vẫn .... còn trinh! Tôi dám cá một trăm phần trăm là nó vẫn còn trinh. Nó mắc cở không dám nói hết, chớ nếu bà hỏi nó chi tiết thì mọi chuyện sẽ minh bạch!

Nghe chồng giải đáp xong mọi chuyện, mẹ của Thắm thở phào mừng rỡ:

- Cám ơn Trời Phật. Nhà mình thiệt còn có phước lớn! Tôi chỉ sợ nó bị tai tiếng vì vụ này thì có nước ế chồng!

Ông chồng tỏ ra là người hiểu biết "nghệ thuật" sống ở đời:

- Nhưng dầu gì vợ chồng mình cũng là đệ tử của thầy. Dầu thầy của tụi mình có sai trái gì đi chăng nữa thì bổn phận là phật tử, tụi mình vẫn phải thờ kính thầy như thờ Phật, huống chi trong trường hợp này, thầy đã "nhân đạo" không làm cho con mình bị mất trinh! Bởi vậy tôi bàn với bà là ngày mai, hai vợ chồng mình phải mua trái cây, bông hoa và tiền mặt đem tới chùa làm lễ cúng tạ ơn thầy đại lão hòa thượng. Xin tạ ơn thầy đã "nhân đạo" buông tha cho con Thắm nhà mình!

PHẦN KẾT LUẬN:

Câu chuyện cô Thắm bị hãm hiếp là một trong hàng ngàn tấn bi kịch đã và đang xảy ra, trong đó, nạn nhân là những phật tử ngu dốt, mê tín và tràn đầy lòng tham. Chính vì tham lam, lười biếng, không muốn tự giải thoát cho chính mình nên họ đã nhờ các "thầy" đại diện cho Phật Tổ giải thoát giùm! Những tên công an đầu trọc thừa cơ nước đục thả câu, vừa bốc hốt đô la, vừa "gia hộ độ trì" cho nhiều cô gái bị mang bầu!

Cha của cô Thắm thừa biết tên đại lão hòa thượng là cán bộ cộng sản. Hắn đã công khai đi dự cái gọi là "đại hội việt kiều" ở Việt Nam. Nhưng cha của cô Thắm, cũng như vô số những phật tử khác đã ngậm câm miệng hến, tiếp tục cam tâm làm những tên nô lệ hèn nhát đến ngu xuẩn và tội nghiệp!

Con gái của mình bị hãm hiếp, không dám đi tố cáo với chính quyền, đã vậy hai vợ chồng còn tiếp tục rủ nhau đến chùa dâng lễ tạ ơn "thầy" đã giàu lòng "nhân đạo" không làm cho cô Thắm bị mất trinh!

Có lẽ sau khi đọc xong câu chuyện này, nhiều người sẽ kêu lên: - Ồ, đây là sản phẩm tưởng tượng của tiểu thuyết! Thực tế làm gì có ở ngoài đời?

Không đâu, xin thưa với quý vị, không phải là tưởng tượng. Bằng cớ là bọn việt gian cộng sản đang tiếp tục đổ tiền ra hải ngoại xây thật nhiều ngôi chùa thật "hoành tráng". Chắc chắn là bọn chúng thấy vấn đề kinh doanh tôn giáo, nhất bản vạn lợi nên mới làm như vậy! Ở trong nước, bọn chúng đã dám bỏ ra hàng chục triệu đô la để xây ngôi chùa lớn nhất Đông Nam Á, rồi còn thuê nguyên một chuyến bay rước "xá lợi Phật" từ bên Ấn Độ về!

Chế độ của bọn việt gian cộng sản sẽ không bao giờ tự hủy hoại, tự sụp đổ như tên điếm chính trị Đinh Thạch Bích - biệt hiệu "con tắc kè"- vẫn cứ ra rả tuyên truyền trên diễn đàn paltalk, được tờ điện báo VietNam Exodus tiếp tay phổ biến! Ngày nào bọn công an đầu trọc còn tung hoành ngang dọc, ngày đó chúng ta còn làm nô lệ.

Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa, trong lần ghé thăm Việt Nam thuyết pháp, đã dạy chúng ta rằng:

- Muốn tự giải thoát, chúng ta phải chịu khó suy nghĩ, tìm hiểu đâu là nguyên nhân gây ra sự đau khổ và phải hành động để chấm dứt nó. Ngài Drukpa đã dạy rõ rằng, nếu biết ý thức và tích cực hành động thì chúng ta vẫn có thể thay đổi, biến cái xấu thành cái tốt, làm cho số phận của chúng ta trở nên khá hơn. Lỗi của chúng ta chính là KHÔNG CHỊU TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN NÀO ĐÃ GÂY RA ĐAU KHỔ VÀ ĐÃ THỤ ĐỘNG CHẤP NHẬN SỰ ĐAU KHỔ, COI ĐÓ NHƯ MỘT SỰ MẶC NHIÊN, một loại ĐỊNH MỆNH ĐÃ được AN BÀI!!!

Trở lại trường hợp của cô Thắm, chúng ta thấy nguyên nhân gây ra sự đau khổ chính là tên dâm tăng đại lão hòa thượng. Trong trường hợp này, muốn chấm dứt sự đau khổ cho bản thân mình và cho nhiều người khác thì bản thân cô Thắm và cha mẹ cô phải làm đơn thưa tên dâm tăng ra tòa để hắn vô nhà đá mà gỡ lịch.

Ý THỨC và HÀNH ĐỘNG phải đi đôi với nhau. Cha mẹ cô Thắm ý thức được tên dâm tăng là nguyên nhân của sự đau khổ nhưng họ không đã dám hành động. Sự hèn nhát đó đã đưa đến hậu quả là bản thân họ và con gái của họ phải tiếp tục làm nô lệ!

Xin đưa thêm một ví dụ khác: - Trong chúng ta, ắt hẳn nhiều người đã từng có sự nghi ngờ về cặp bài trùng dân chủ cuội Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Lý. Tuy nhiên, họ đã không dám đi ngược lại những cái loa truyền thông bất lương của bọn giặc. Thay vì dám lên tiếng thì họ đã chọn thái độ buông xuôi, câm lặng, để mặc cho bọn giặc tung hoành, coi như định mệnh đã an bài! Họ thường tự nhủ rằng: - một tiếng nói lẻ loi của mình thì liệu có ai tin, không khéo lại bị chụp mũ là "đánh phá tôn giáo, đánh phá "anh hùng dân tộc" thì bỏ mẹ!

Tương tự như vậy, nhiều người trong chúng ta đã ý thức được tập đoàn việt gian cộng sản là nguyên nhân gây ra nỗi khổ đau cho toàn dân tộc. Nhưng họ không dám hành động, thậm chí không dám lên tiếng nói đấu tranh, thay vào đó, họ đã chọn thái độ thụ động, buông xuôi, coi như định mệnh đã an bài!

Do đó, qua tấn thảm kịch của cô Thắm, chúng ta có thể kết luận rằng: SỰ HÈN NHÁT, SỰ NGU DỐT, SỰ MÊ TÍN VÀ LÒNG THAM đã làm cho nhiều người TÌNH NGUYỆN ĐI LÀM NÔ LỆ CHO BỌN VIỆT GIAN CỘNG SẢN!!!

Trần Thanh

Ngày 11 tháng 4 năm 2010

=========================

Chú thích:

* Thầy Quảng Ðộ đã "dạy" rằng: - phàm khi làm bất cứ việc gì, chúng ta phải nhắm vào hai chữ "DANH và LỢI"!!!

TIỄN ĐƯA TỔNG THỐNG BA LAN - 100 NGÀN NGƯỜI DỰ LỄ TRUY ĐIỆU TỔNG THỐNG BA LAN KACZYNSKI - TỔNG THỐNG CỦA DÂN - VỀ NHÂN VẬT CHÍNH TRỊ LECH KACZYNSKI

Hôm Thứ Bảy 17/4/2010, các vị Hồng y và Tổng giám mục đang tiến lên khán đài dựng tại quãng trường Pilsudski Square là nơi cử hành lễ quốc tang cho Tổng thống Ba Lan Lech Kaczynski và 95 người khác tử nạn vì tai nạn phi cơ tại Nga hôm Thứ Bảy vừa qua - AP Photo/Markus Schreiber.

TIỄN ĐƯA TỔNG THỐNG BA LAN
Source: BBC Vietnamese

Xem slideshow

Hàng ngàn người có mặt ở Krakow tiễn đưa Tổng thống Ba Lan Lech Kaczynski. Sau khi cử hành tang lễ, Tổng thống sẽ được chôn cất tại Thánh đường Wawel, nơi yên nghỉ của các vua Ba Lan và các anh hùng dân tộc.

Ông và 95 người khác tử nạn cách đây tám ngày khi máy bay của họ gặp nạn trong sương mù trên đường đến dự một nghi lễ ở Nga.

Nhiều lãnh đạo thế giới không thể tới dự tang lễ vì không phận nhiều nước bị đóng do tro bụi núi lửa từ Iceland.



Tổng thống Nga Dimitri Medvedev đã tới Krakow bằng máy bay, bất chấp hạn chế hàng không, phát ngôn viên Kremlin nói.

7881; cuối cùng

Tang lễ cấp nhà nước sẽ bắt đầu với một Thánh Lễ tại nhà thờ Basilica St Mary ở Krakow.

Từ quảng trường trung cổ của thành phố, linh cữu vợ chồng cố tổng thống sẽ được rước qua một con đường có quốc kỳ Ba Lan và băng đen, với hình ảnh của ông Lech Kaczynski và vợ ông là bà Maria.

Theo dự kiến sẽ có rất nhiều người tới dự tang lễ sau một tuần quốc tang.


Phi cơ chính phủ Ba Lan bị rơi tại phía tây nước Nga ngày 10 tháng Tư.

Giới điều tra tin rằng phi công gây lỗi do đụng phải tán cao của cây lúc hạ cánh trong sương mù tại khu vực Smolensk, nơi phái đoàn Ba Lan tới để tham dự một lễ tưởng niệm cho người Ba Lan bị mật vụ của Stalin giết tại Katyn trong Đệ nhị Thế chiến.

Các nhà lãnh đạo chính trị và quân đội cao cấp của Ba Lan đã thiệt mạng trong vụ tai nạn, bao gồm người đứng đầu của ba nhánh trong quân đội Ba Lan.

Vào ngày thứ Bảy, hàng trăm ngàn người đã tham gia một buổi lễ tưởng niệm ngoài trời ở trung tâm Warsaw.

Tổng thống Mỹ Barack Obama sẽ không tham dự tang lễ ông Kaczynski, vào ngày chủ nhật vì đình trệ không phận khắp châu Âu, Tòa Bạch Ốc cho biết.

Những lãnh đạo khác không thể tham dự bao gồm Thái tử xứ Wales, Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy và Thủ tướng Đức Angela Merkel.

Một loạt nhà lãnh đạo miền đông châu Âu đã cho biết họ sẽ tới dự bằng đường bộ.

Những chính khách tham dự gồm Tổng thống Nga Dmitry Medvedev, Tổng thống Cộng hòa Czech Vaclav Klaus, Tổng thống Slovakia Ivan Gasparovic, Tổng thống Slovenia Danilo Turk, Tổng thống Ukraina Viktor Yanukovych, Tổng thống Latvia Valdis Zatlers; Tổng thống Romania Traian Basescu; Tổng thống Hungary Solyom Lazslo.


Hàng chục ngàn người dự lễ tưởng niệm tổng thống Kaczynski tại Quảng trường Pilsudski ở Warsaw, ngày 17 tháng 4, 2010 - Hình: AP

100 NGÀN NGƯỜI DỰ LỄ TRUY ĐIỆU TỔNG THỐNG BA LAN KACZYNSKI

Còi hụ và chuông nhà thờ đã được gióng lên trong lúc hàng ngàn người tụ tập ở thủ đô Ba Lan để dự lễ truy điệu Tổng thống Lech Kaczynski.

Nhiều người mang theo quốc kỳ Ba Lan và băng đen tới Quảng trường Pilsudski ở Warsaw để dự lễ tưởng niệm dành cho ông Kaczynski, vợ ông và 94 người khác thiệt mạng trong tai nạn máy bay ở Nga hôm thứ 7 tuần trước.

Tổng thống lâm thời Bronislaw Komorowski nói với những người dự lễ rằng “thế giới sụp đổ” cùng với tai nạn này.

Ông Kaczynski và vợ ông sẽ được mai táng vào ngày chủ nhật sau lễ quốc tang ở Krakow. Mấy mươi nhà lãnh đạo thế giới dự định đến dự lễ, nhưng một số đã hủy bỏ chuyến đi vì mây tro núi lửa che phủ phần lớn bầu trời ở miền bắc Âu châu.

Máy bay đã bị rơi trong lúc chở phái đoàn Ba Lan do Tổng thống Kaczynski hướng dẫn đến dự một buổi lễ tưởng niệm 22 ngàn sĩ quan Ba Lan và những người khác bị Liên Sô sát hại trong cánh rừng Katyn thời thế chiến thứ hai.


Người dân BaLan tập trung trước Dinh Tổng thống cầu nguyên trong đêm

TỔNG THỐNG CỦA DÂN

Source: boxitvn

Mạc Văn Trang

Đất nước Việt Nam hiện nay còn thiếu cái gì? “Cái gì” mà chúng tôi nói ở đây là cái nhân tố đóng vai trò như một nút bấm then chốt, bấm vào đấy thì cả xã hội sẽ dần dần đi vào quy củ, giảm bớt đi đến bình ổn theo một quy trình không gây xáo động mọi hỗn loạn trên bề mặt cũng như tận đáy sâu mà ta đang phải gồng mình chịu đựng. Để giải đáp cho câu hỏi này một cách không trực tiếp mà bằng sự liên tưởng thâm thúy, tưởng không gì hơn là mời bạn đọc hãy đọc bài viết chân tình và cảm động dưới đây của bạn Mạc Văn Trang viết gửi riêng cho BVN.

Ba Lan giữa mùa tuyết tan. Tin Tổng thống Lech Kaczynxki và phu nhân cùng đoàn tuỳ tùng tử nạn trong vụ rơi máy bay đã làm bàng hoàng cả đất nước. Chẳng ai còn thiết làm ăn gì, chỉ chờ mong tin tức. Ngày chủ nhật (11/4) biết tin buổi chiều linh cữu của Tổng thống sẽ được đưa về trước, người ta cứ lặng lẽ ra đường phố, đi về phía sân bay để đón linh cữu Tổng thống. Người nối người đi như vô tận. Truyền thông BaLan nói hàng trăm ngàn người đã đứng dọc hai bên đường từ sân bay Warszawa về đến Dinh Tổng thống. Họ đã đứng đón như thế từ trưa cho đến tận chiều, rồi kéo về quảng trường trước Dinh Tổng thống, thắp lên hàng ngàn ngọn nến và cầu nguyên qua đêm… Có những cụ già mái đầu bạc phơ, cố chống gậy đến đây; nhiều cặp vợ chồng bồng bế theo con nhỏ; mọi tầng lớp xã hội dường như muốn sát cánh bên nhau để cùng sẻ chia nỗi đau thương của dân tộc. Chỉ thấy những gương mặt thẫn thờ, nước mắt và hoa! Nhiều người Việt và dân nhập cư khác cũng rơi nước mắt. Tất cả bao trùm một lòng thương tiếc chân thành, tự đáy lòng người dân đối với Tổng thống của mình.

Lech Kaczynxki sinh ngày 18 -6-1949 tại Warszawa, ông nhận bằng Tiến sĩ Luật (1980), bảo vệ luận án TS khoa học (Dr Habil) năm 1990 và là giáo sư Đại học. Ông thành lập Đảng Pháp luật và Công lý, ra tranh cử và nhân dân trực tiếp bỏ phiếu bầu ông làm Tổng thống (nhiệm kỳ 2005 – 2010).

Là Tổng thống, tạm rời căn hộ chung cư vào sống trong Dinh Tổng thống, ông vẫn giữ nếp sống tiết kiệm, làm việc cần mẫn của một Giáo sư. Vợ ông, bà Maria, một trí thức sống quá khiêm nhường giản dị, như người bình dân. Con gái ông bà làm Luật sư ở một tỉnh lẻ. Những người đối lập và giới báo chí thường xuyên “săm soi”, “bới lông tìm vết” các chính trị gia, nhưng họ đã chẳng tìm ra được tì vết gì về tham nhũng, tiêu cực, xa hoa, lãng phí từ ông và gia đình. Họ đành chê ông quá giản di “như một củ khoai tây”, bà thì lúc nào cũng mặc mầu tối “như một con chuột xám”, không thể hiện rõ là một Đệ nhất phu nhân!… Giờ đây những người đó lại ca ngợi ông bà. Có người nói: “Ông không còn để tha lỗi cho tôi!”…

Nhưng điều quan trọng nhất, ông đã tiếp nối sự nghiệp của hai Tổng thống tiền nhiệm sau “cuộc Cách mạng dân chủ”, đưa Ba Lan phát triển nhanh và vững chắc trên con đường dân chủ, xã hội dân sự theo những tiêu chuẩn văn minh châu Âu. Đồng thời ông khẳng định mạnh mẽ những giá trị truyền thống của dân tộc Ba Lan và thực thi pháp luật nghiêm minh, đem lại cho người dân một đời sống an lành. Những điều tất nhiên trong xã hội Ba Lan hiện nay thì người Viêt Nam ta lại khó tin.

Tất cả trẻ em, kể cả dân nhập cư chưa có thẻ định cư, cứ 6 tuổi là UBND quận (không có cấp phường) đưa giấy đến tận nhà mời cho cháu đến trường. Tất cả học sinh từ lớp 1 đến lớp 12 đều học miễn phí. Sinh viên học các trường đại học công đều không phải đóng học phí. Học sinh chỉ đóng tiền cho sinh hoạt của bản thân: ăn uống, đi tham quan, cắm trại… cho Hội phụ huynh (giáo viên không được đụng đến tiền nong với học trò). Còn nhớ năm 2005, khi tôi sang Ba Lan, thấy cô giáo dạy thằng cháu mình suốt từ lớp 1 đến lớp 4, tuần nào cũng phải kèm thêm mấy buổi chiều để cháu theo kịp các bạn (cháu từ Việt Nam sang vào lớp 1 ngay, chưa biết tiếng Ba Lan), thì cảm động quá. Tôi liền bảo con đưa đến nhà cô để cám ơn và tặng chút “quà quê hương”. Con tôi dãy nảy lên, ở đây không phụ huynh nào được làm như thế! Cuối năm học, tôi đi dự tổng kết lớp, thấy cháu học khá. Ban phụ huynh đưa cho mỗi cháu 2 bông hồng để từng cháu lần lượt lên tặng 2 cô giáo; còn đại diện phụ huynh tặng mỗi cô một gói quà. Giản dị thế thôi. Có một chuyện buồn: cuối năm các cháu đi cắm trại, không may xảy ra tai nạn làm chết một học sinh. Vào ngày nghỉ, thầy Hiệu trưởng ở nhà, không liên quan gì đến tai nạn đó, nhưng thày xin từ chức. Thày rất có uy tín nên Hội phụ huynh xin thầy hãy tiếp tục làm Hiệu trưởng. Thày nói: hãy cho tôi từ chức đề lương tâm được thanh thản! Mới mấy hôm rồi, thằng cháu tôi học lớp 10, về nhà, mặt buồn, bảo bị cô phạt, vì văng tục với một bạn gái. Cô giáo bảo con phải mua một bó hoa đẹp, đến tặng bạn trước lớp và nói lời xin lỗi. Cả nhà bảo đúng quá rồi. Nhưng bố mẹ không cho tiền, phải lấy tiền tiết kiệm ra mà mua hoa để trả giá cho bài học.

Tôi thường nói đùa hai thằng cháu này “gà công nghiệp” quá, ở Ba Lan có muốn hư một tí cũng khó. Trẻ dưới 16 tuổi, mua rượu, bia, thuốc lá không ai bán (dù cháu tôi đã cao 1m75). Trước các trường học không thấy các hàng quán ăn nhậu, càng không tìm đâu ra các quán café đèn mờ, bia tươi mát, quán Nét, hiệu cầm đồ, nhà nghỉ. Người lớn “ăn có nơi, chơi có chốn”, nơi ấy trẻ em dưới 18 tuổi không được phép vào. Cái gì đã cấm mà vi phạm thì xấu hổ lắm…

Cuối 2009 và đầu 2010 con gái tôi phải vào bệnh viện 3 lần. Phải gọi điện để được hẹn ngày khám, rồi hẹn ngày vào bệnh viện (trừ cấp cứu). Người bệnh đã vào nằm viện, mọi viêc đều do bệnh viện chịu trách nhiệm. Người nhà chỉ được thăm ngoài giờ chừng 10 phút/ ngày. Mỗi lần ra viện, bệnh nhân và người nhà (người Việt) cứ băn khoăn, vì có thẻ bảo hiểm rồi, không phải trả một đồng nào, tặng quà bác sĩ không nhận, chỉ nhận bó hoa.

Con tôi nói, có chuyện buồn: đã có 2 người phụ nữ Việt vào “cấp cứu” sinh con trong bệnh viện, không có giấy tờ gì, sắp đến ngày ra viện, họ bế con trốn mất! Bác sĩ phàn nàn, sao lại làm thế?. Không có tiền thì sẽ kê khai xin nhà nước, còn Bác sĩ chỉ chữa trị cho bệnh nhân theo lương tâm và trách nhiệm của mình, chứ có phải vì tiền đâu! Điều tự nhiên như thế nhưng người Việt mình cứ ngỡ ngàng, không tin!…

Tôi cố truy tìm xem “cái mặt trái của cơ chế thị trường” đã hủy hoại giáo dục và y tế ra sao, nhưng không thấy! Các việc khác, chưa trải nghiệm, không dám nói. Nhưng có người Việt tưởng rằng Ba Lan nghèo khổ quá, Tổng thống phải đi máy bay TU 154 do Liên Xô sản xuất hơn 20 năm trước, nay Nga đã không còn dùng! Không phải thế đâu. Đúng là Ba Lan có những cái kém hơn Việt Nam: dân số chỉ có 38,6 triệu, diện tích 322.577 km2, xấp xỉ Việt Nam, nhưng chỉ có vài ba sân golf… GDP của Ba Lan từ 2005 đến 2008 chỉ tăng trưởng 4- 6% năm, năm 2009 chỉ 1,7% năm. Tổng GDP của Ba Lan năm 2007 là 604,4 tỉ USD ( VN hơn 80 tỉ ), GDP bình quân đầu người/năm là 15.894 USD (VN 1.040 USD)… Chắc vì tiết kiệm cho công quỹ, chắt chiu từng đồng tiền thuế của dân dành cho giáo dục, y tế, chăm lo cho người nghèo, giúp đỡ người nhập cư… mà Tổng thống không cho mua máy bay mới!

Tôi không muốn khóc mà viết những dòng này, nước mắt cứ trào ra!

Ngày 14/4/2010

HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập



VỀ NHÂN VẬT CHÍNH TRỊ LECH KACZYNSKI

Lê Diễn Đức

Gửi tới BBC từ Warsaw

Hàng triệu người Ba Lan đã, đang và vẫn đổ về thủ đô Warsaw, ngày cũng như đêm, sẵn sàng xếp hàng mười mấy tiếng đồng hồ để vào Dinh Tổng thống tưởng niệm vợ chồng cố Tổng thống Ba Lan Lech Kaczynski, cùng 94 người Ba Lan khác tử nạn tại Smolensk hôm mồng 10 tháng Tư.

Thứ bảy dự kiến có buổi lễ tang chung trọng thể của nhà nước dành cho tất cả các nạn nhân.

Tang lễ riêng cho vợ chồng cố Tổng thống được tổ chức tại thành phố Krakow vào chủ nhật. Bất ngờ chỉ trong vài ngày phải đón một lượng lớn khách quan trọng, cả thành phố Krakow đang chạy đua với thời gian.

Các nguyên thủ quốc gia gồm vua, thái tử, lãnh đạo tín ngưỡng, tổng thống và thủ tướng của nhiều nước, các đài truyền hình quốc tế và hàng trăm ngàn người Ba Lan sẽ tới dự lễ.

Tôi hòa vào dòng lệ chung của cả Ba Lan đang khóc.

Không phải là người hâm mộ ông Lech Kaczynski, lại trong bối cảnh này, viết về ông, quả thật khó khăn.

Giản dị và tình cảm

Tôi sẽ cố gắng viết về ông như một con người bình thường. Những ví dụ lặt vặt chẳng dính dấp gì đến huyền thoại dành cho vua chúa.

Vốn không ưa lễ hội ồn ào, lãng phí, ông Kaczynski chỉ thích giao du với bạn bè trong phạm vi hẹp, gặp gỡ những người bình dị, những người bị an ninh cộng sản theo dõi, hoặc cùng vợ đi đến họ trong bộ quần áo giản dị.

Khi làm Thị trưởng Warsaw (2002-2005), nhìn thấy một phụ nữ lớn tuổi tàn tật trên xe lăn nhiều lần trước cổng Tòa thị chính, ông đã xuống xe dẫn người phụ nữ vào phòng làm việc để hỏi cho ra lẽ. Khi biết bà mơ ước được viếng mộ Giáo hoàng John Paul II, ông đã quyết định giúp bà đi Italy.

Kaczynski chỉ thích giao du với bạn bè trong phạm vi hẹp, gặp gỡ những người bình dị, những người bị an ninh cộng sản theo dõi, hoặc cùng vợ đi đến họ trong bộ quần áo giản dị.

Cũng giống như ông đã có thái độ quyết liệt với Bộ trưởng Nội vụ để cứu các tổ thiên nga bị đe dọa giết bỏ vì sợ truyền nhiễm dịch cúm gà; hay từ chối nhiếp ảnh gia yêu cầu chụp hình với những con chó cho một tạp chí, vì không muốn làm mệt chúng.

37 năm chung sống với người vợ yêu thương, nhưng ông cho rằng, có lúc người chồng nên có tiếng nói quyết định, dù không vừa lòng vợ, nhưng ngược lại, vợ cũng có quyền như thế. Không thích phái đẹp bao quanh mình, nhưng ông thường nhắc các cộng sự phải lịch lãm và ưu ái với phụ nữ.

Sự giản dị của ông cũng là mục tiêu của các cuộc tấn công thiếu sáng suốt. Ông bị chê trách khi vợ ông đựng bánh mì kẹp thịt trong túi nylon cầm lên máy bay của tổng thống.

Có người còn chế diễu ông về chiều cao hay phong thái không tương xứng của một vị tổng thống.

Sau khi ông chết, Ngoại trưởng Sikorski nói rất vui vì đã kịp xin lỗi ông vì những lời bất xứng. Nhiều người ân hận về sự khắt khe đối với ông.

Thức thời, mưu lược

Là con một gia đình có truyền thống khởi nghĩa, từ lúc còn là sinh viên năm thứ nhất, tháng 3 năm 1968, ông theo người em song sinh tham dự biểu tình chống đối chính quyền.

Năm 1979 ông tốt nghiệp luận án tiến sĩ luật và giảng dạy ở đại học Gdansk, thường xuyên làm nhiệm vụ chuyển tài liệu bất hợp pháp từ Warsaw tới Gdańsk.

Năm 1980 khi công nhân dình công ở nhà máy đóng tàu Gdansk, ông đến ở lại nhiều ngày với họ dù không mang theo quần áo để thay, và cũng không biết rồi hậu quả sẽ ra sao khi mạo hiểm đối đầu với chế độ. Tháng 8 năm 1988, lại thấy ông tại nhà máy tham gia các cuộc đình công tiếp theo.

Ông bị bắt giữ nhiều lần và ngồi tù một năm vì tham gia hoạt động trong Công đoàn Đoàn kết. Năm 1989, ông tham gia “Hội nghị Bàn tròn” lịch sử đàm phán với chính quyền cộng sản, rồi trở thành cộng sự gần gũi của thủ lĩnh Công đoàn Đoàn kết Lech Walesa, Tổng thống dân chủ đầu tiên, với chức Bộ trưởng an ninh (1990).

Sau xung đột với Lech Walesa (1991) và bị quốc hội đa số cánh tả bãi nhiệm chức Chủ tịch Ủy ban Kiểm tra Tối cao (1995), ông từ giã chính trị.

Năm 2000, đang đi tàu tới gặp gỡ các sinh viên khoa luật, ông nhận được điện thoại của Thủ tướng Buzek mời làm Bộ trưởng Tư pháp. Ông báo ngay cho vợ lúc ấy đang đi mua đồ ăn. Vợ đồng ý.

Thế là ông quay lại chính trường. Bằng bàn tay sắt, ông đã làm giảm sút hẳn tình tạng tội phạm ở Ba Lan, gây được uy tín trong quần chúng. Nhân đà, năm 2001 ông cùng người em thành lập đảng “Luật pháp và Công lý” (PiS). Chỉ bốn năm sau, là ứng viên của PiS ông trúng cử Tổng thống, cùng một lúc với chiến thắng của PiS tại quốc hội và em ông đứng đầu chính phủ (2005-2007).

Những điểm yếu


Thủ tướng Ba Lan và Nga tại lễ tưởng niệm vụ Katyn

Thẳng thắn nói về quan điểm chống đối chính quyền Ba Lan vào năm 1977, nhưng Lech Kaczynski cũng không giấu diếm sự do dự của mình bấy giờ, thậm chí cả cảm giác hai mặt. Ông cũng không che giấu sự chỉ đạo tư tưởng của người em song sinh. Nếu không có người em, có lẽ bây giờ ông là giáo sư đại học có khuynh hướng thiên tả.

Với chức Tổng thống, tự đóng vai người bảo vệ di sản Ba Lan, trong mắt một số người thuộc giới tinh hoa và truyền thông, ông là người ngớ ngẩn. Không có sự hiểu lầm nào lớn hơn.

Lòng yêu nước đã nhắc nhở ông ghi nhớ các anh hùng Ba Lan trong mọi cuộc nổi dậy. Cho đến lúc ông trả giá bằng cái chết khi thực hiện nhiệm vụ tại khu rừng lịch sử Katyn, mọi người mới nhận ra.

Mặc dù với tất cả tính chuyên nghiệp, ông hay có những phản ứng căng thẳng và nổi nóng đến hài hước. Ông mệt mỏi với các trách nhiệm nhà nước nặng nề. Đôi khi ông mạo hiểm thái quá, ví dụ chuyến công du đến Tbilisi vào năm 2008, đối mặt với cuộc chiến Nga-Gruzia.

Có thể nghi ngờ về một động thái chính trị có chủ ý. Nhưng nhiều người đã rơi lệ khi nghe ông nói tại quốc hội Gruzia về thân phận và mối đe dọa chung cho hai dân tộc nhỏ trước tham vọng phục hồi đế chế của Nga.

Người ta cũng cho rằng, vai trò tổng thống đã được ông xem như công cụ để thực hiện ý tưởng của mình và em trai hơn là đoàn kết mọi lực lượng chính trị. Vì thế ông bị thấm mệt với những cú đòn tấn công.

Quan hệ phức tạp giữa ông với Thủ tướng Donald Tusk gây ra những tình huống khó xử trong quan hệ đối ngoại nên ông cũng bị dư luận phê phán.

Cứng rắn nhưng khôn ngoan

Chính sách của Lech Kaczynski là đại diện tốt nhất cho lợi ích của Ba Lan ở châu Âu. Ông là chính trị gia lớn của trào lưu cánh hữu quốc gia và đưa nó vào Liên minh châu Âu.

Ông không bài Nga hay Đức, và càng không muốn đối đầu với hai cường quốc láng giềng. Ông biết rất rõ đây là hai đối tác chính trị và kinh tế quan trọng, nhưng ông tỏ thái độ cứng rắn, không muốn bị áp đặt và quyền tự quyết bị xâm phạm. Ông không chống nước Nga mà chỉ lên án chế độ cộng sản Xô-Viết, chủ nghĩa Stalin và đòi hỏi Kremlin nhìn nhận sự thật lịch sử. Ông không cũng chống Kremlin mà chỉ chỉ trích nhân quyền bị vi phạm, báo chi truyền thông bị kiểm soát ở nước Nga.

Tiếc thay, không phải lúc nào ông cũng được hiểu đúng, thậm chí còn gây ác cảm cho Berlin và Moscow. Tuy nhiên, với tư tưởng hội nhập châu Âu sáng suốt, ông đã ứng xử khôn ngoan trong thời gian cuối và được mọi người nhìn nhận, tôn trọng.

Trong lễ tang của ông dự kiến có sự hiện diện của cả Tổng thống và Thủ tướng Đức, cũng như Tổng thống Nga.

Ông cũng đã được Moscow mời dự lễ 65 năm chiến thắng phát xít Đức vào tháng 5 tới, với sự tham gia duyệt binh của quân đội Ba Lan cùng với Hoa Kỳ, Anh, Pháp. Những sự kiện này nói lên rất nhiều.

Di sản của ông và của những người Ba Lan tử nạn tại Smolensk ngày 10/04 là sự mang lại cái nhìn đúng đắn về lịch sử, là cơ hội có tính bước ngoặt cho tiến trình đoàn kết và phát triển hợp tác giữa ba dân tộc Nga, Đức, Ba Lan – tiến trình có thể làm thay đổi tích cực bản đồ địa chính trị của cả châu Âu.

TIẾP TỤC THẦN PHỤC TRUNG CỘNG - TẾT MẬU THÂN TRONG CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU CỦA TRUNG CỘNG - DỰ ĐOÁN VẬN NƯỚC - VẬN MỆNH NƯỚC VIỆT THEO DỊCH LÝ


Hồ chí Minh và tập đoàn lãnh đạo của Việt cộng thần phục Trung cộng, gây nên vô số tội ác với đồng bào và tổ quốc. Ngày nào chủ nghĩa cộng sản còn tồn tại thì nguy cơ mất nước về tay Tàu cộng là không thể tránh khỏi.

TIẾP TỤC THẦN PHỤC TRUNG CỘNG
Source: Radio Chân Trời Mới

Ngô Nhân Dụng

Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam mới họp xong bữa đầu tháng, vẫn tiếp tục “nhai lại” khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã hội” để chuẩn bị cho Ðại Hội thứ 11 sắp tới. Như đã trình bày trong mục này, khẩu hiệu đó có nghĩa là Ðảng Cộng Sản vẫn tiệp tục bảo vệ kinh tế quốc doanh để giữ quyền lợi của các đảng viên thiếu khả năng cạnh tranh trên thị trường. Nhưng trên mặt ngoại giao, thì khẩu hiệu này có nghĩa là Cộng Sản Việt Nam phải tiếp tục lệ thuộc vào Cộng Sản Trung Quốc, không thể thoát. Sau khi “tổ quốc Liên Xô” của ông Lê Duẩn tan rã năm 1989, thì từ thời Nguyễn Văn Linh cho đến thời Lê Khả Phiêu, các tổng bí thư vẫn coi việc quy phục Trung Quốc là cách duy nhất để cứu vãn cơ đồ thống trị của đảng trên nước Việt Nam.

Nhưng lấy lý do nào để biện minh cho việc quay về thần phục Trung Quốc, sau khi đã bị quân đội Trung Cộng tấn công ở biên giới năm 1979 và ở Trường Sa năm 1988? Các ông tổng bí thư này phải nêu lý do cao siêu hơn quyền lợi. Họ giải thích hai nước “đồng chí anh em” là những thành trì cuối cùng bảo vệ thứ gọi là “chủ nghĩa xã hội!”

Từ đó, Việt Cộng bắt đầu theo con đường lệ thuộc Trung Cộng. Cho nên, trong ngôn ngữ ngoại giao của Cộng Sản Việt Nam, khi nào còn đề cao chủ nghĩa xã hội là còn chủ trương mối bang giao với Trung Cộng là trọng tâm chiến lược.

Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh là người có kinh nghiệm cá nhân đau đớn khiến chính bản thân ông coi việc quy phục Trung Cộng là điều không thể tránh được. Tháng 10 năm 1989, Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự quốc khánh Ðông Ðức, được chứng kiến cảnh diễu võ dương oai của “Cộng Hòa Dân Chủ Ðức” với các cuộc mít tinh hàng trăm ngàn người hô các khẩu hiệu chủ nghĩa cộng sản muôn năm đầy “hồ hởi phấn khởi.” Trong cuộc tiếp tân, Nguyễn Văn Linh được lãnh tụ cộng sản Ðông Ðức Honecker báo tin là chế độ Cộng Sản Ðức sẽ tồn tại vĩnh viễn mặc dù làn sóng người Ðông Ðức đang chạy ào ào qua Hung, Tiệp rồi qua Tây Ðức. Khi Nguyễn Văn Linh về tới Hà Nội thì bức tường Berlin bị sập, Honecker bị chính các đàn em lật đổ. Theo cuốn hồi ký “Hồi Ức và Suy Nghĩ” của Trần Quang Cơ, viết năm 2001, thì trong cuộc đại lễ ở Berlin, Linh cũng gặp lãnh tụ Rumani là Chủ Tịch Ceaucescu. Lãnh tụ tối cao cha già dân tộc Rumani và “anh Linh xem ra tâm đầu ý hợp trong việc bàn chuyện tâm huyết cứu vãn sự nghiệp xã hội chủ nghĩa thế giới đang lâm nguy.” Nhưng ngay sau đó, Linh nghe tin cả hai vợ chồng Ceaucescu bị các đàn em đảo chính và đem bắn. Những kinh nghiệm đó khiến Linh phải lo lắng cho số phận của chính mình và các lãnh tụ cộng sản Việt Nam khác. Phải tìm cách tự cứu!

“Trước tình hình ấy,” Trần Quang Cơ viết, trong nội bộ Ðảng Cộng Sản Việt Nam “nổi lên một ý kiến... phải bằng mọi giá bắt tay ngay với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” (trang 22, bản thảo sách trên). Xin nhấn mạnh những chữ “bằng mọi giá” và “ngay” lập tức. Cựu Thứ Trưởng Ngoại Giao Trần Quang Cơ mô tả luận điểm của Nguyễn Văn Linh dùng để thuyết phục Bộ Chính Trị nên chịu thua Trung Cộng là: “Dù bành trướng thế nào, Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa.” (trang 10). Linh đã nhấn mạnh lý luận trên khi Bộ Chính Trị thảo luận về kết quả cuộc gặp gỡ các lãnh tụ Trung Cộng ở Thành Ðô năm 1990, trong đó, Linh đã chấp nhận ngay phương cách giải quyết cuộc chiến ở Căm Pu Chia do Trung Cộng đề nghị, mặc dù Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch đã chống nên không được mời sang Tầu (trang 37).

Trước đó, khi Liên Xô bắt đầu giảm bớt viện trợ kinh tế, mà các chính sách xã hội chủ nghĩa của Cộng Sản Việt Nam đã đưa quốc dân đến kiệt quệ, năm 1988 đảng đã đành nhẫn nhục, tự sửa cả điều lệ đảng lẫn Hiến Pháp, chịu xóa bỏ những câu ngu dốt viết trong thời Lê Duẩn, gọi tên “Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất.” Ngày 5 tháng 6 năm 1990, để xin hòa trước khi sang Thành Ðô, Nguyễn Văn Linh đã mời Ðại Sứ Trung Cộng Trương Ðức Duy tới, tự thú nhận là Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã sai lầm, đồng thời khoe công nay đã thay đổi: “Trong 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi lời nói đầu Hiến Pháp, có cái sai đang sửa.” Linh ngỏ ý muốn sang Tầu gặp các nhà lãnh đạo Trung Quốc để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội;” vì “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội.” Lời nói của Nguyễn Văn Linh được Trần Quang Cơ thuật lại nguyên văn như sau, “Chúng tôi muốn cùng những người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội... Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc... Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay... Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin...” (trang 26). Lúc đó Nguyễn Văn Linh đóng vai người lãnh đạo cao nhất nước mà nhún mình nói, “các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay!” Không có cách nào “khiêm tốn” hơn!

Ba ngày trước khi Linh, Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng lên đường sang Thành Ðô, Bộ Chính Trị họp ngày 30 tháng 8 năm 1990. Trần Quang Cơ kể, “Anh Linh nêu ý kiến là sẽ bàn hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc...” Linh được Lê Ðức Anh ủng hộ, mặc dầu có những người không tin việc hợp tác với Trung Cộng có thể thực hiện được, như Nguyễn Cơ Thạch, Võ Chí Công. Sau cuộc họp Thành Ðô, khi các lãnh tụ cộng sản Việt Nam bay sang Cam Pu Chia giải thích phương cách giải quyết này với Hunsen, Lê Ðức Anh nói thêm cho rõ, “Mỹ muốn cơ hội này xóa bỏ cộng sản. Nó đang xóa ở Ðông Âu... Ta phải tìm đồng minh. Ðồng minh này là Trung Quốc.” (trang 36).

Qua những lời tường thuật trung thực của Trần Quang Cơ, một người tỏ ra rất trung thành với đảng và kính trọng Nguyễn Văn Linh, chúng ta thấy động cơ khiến Linh và tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã lựa chọn con đường hợp tác với Trung Cộng chỉ vì họ thấy hoàn toàn cô đơn, không còn biết nương tựa vào đâu để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Trong thực tế là bảo vệ quyền hành của họ. Nguyễn Cơ Thạch, Trần Quang Cơ sau này đều bị loại dần dần ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng Cộng Sản vì không “nhất trí!”

Nguyễn Văn Linh đã khởi xướng chủ trương quy phục Trung Cộng, có thể chỉ vì biết mình đã được lọt vào mắt xanh giới lãnh đạo cộng sản bên Tầu. Tháng 10 năm 1989, tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Lào là Kayson Phomvihan đã qua Bắc Kinh, được Ðặng Tiểu Bình tiếp đãi trong 70 phút, trong đó 60 phút là nói chuyện về Việt Nam. Qua Kayson, Ðặng Tiểu Bình đã “bắn tin” cho các lãnh tụ Hà Nội. Trần Quang Cơ viết, “Trong khi không tiếc lời phê phán Lê Duẩn, Ðặng đã hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh. Ðặng kể lại khi làm tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 1963 (Ðặng) đã tổ chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam (Việt Nam) sang Hồng Kông để đi Bắc Kinh gặp nhau, (Ðặng) khen Anh Linh là ’người tốt, sáng suốt, có tài’; nhờ Kayson chuyển lời thăm anh Linh...” (trang 22).

Không thể nói Nguyễn Văn Linh đã ngả theo Trung Cộng vì bị “ăn bánh phỉnh” của Ðặng Tiểu Bình. Bởi vì chính sách quy phục Trung Cộng không do một cá nhân quyết định là vì đa số các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam thời đó đồng ý. Vì họ không có chỗ tựa nào khác. Muốn dựa vào Trung Cộng, họ phải nêu một lý do cao cả hơn quyền lợi của nhóm thiểu số cầm quyền này, lý do cao cả đó là “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Mặc dù không ai biết chủ nghĩa nó thực hiện thế nào, ngoài chế độ công an và hệ thống doanh nghiệp nhà nước!

Ðiều tội nghiệp cho Việt Cộng là Trung Cộng hoàn toàn thờ ơ với ý kiến hoàn toàn lý thuyết cao siêu đó. Họ chỉ nghĩ tới quyền lợi quốc gia của họ, và sẵn sàng đánh sau lưng Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Trung Cộng đã “mở bài” làm “lộ tẩy” những bí mật trong cuộc đàm phán về Cam Pu Chia giữa hai nước. Trần Quang Cơ kể, “Hiểm độc nhất là Trung Quốc đã thông báo khá rộng rãi với các nước những điều Nguyễn Văn Linh và Lê Ðức Anh nói riêng với Trương Ðức Duy.” (đại sứ Trung Cộng ở Hà Nội). “Sáng ngày 26 tháng 6, 1990 đại sứ Cộng Hòa Liên Bang Ðức gặp Bộ Ngoại Giao ta, cho biết là ngày ngày 22 tháng 6 Trung Quốc đã thông báo cho đại sứ các nước Liên Hiệp Âu Châu ở Bắc Kinh nội dung cuộc họp giữa Từ Ðôn Tín và tôi ( Trần Quang Cơ ) và đưa ra kết luận: ’Việt Nam là những người rất xảo trá, rất xấu xa...’” Một tháng sau cuộc họp ở Thành Ðô, Ngoại Trưởng Mỹ James Baker nói với các nhà báo rằng Trung Quốc tố cáo các lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam nói rồi không giữ lời. Baker được Trung Cộng mớm cho, tuyên bố thẳng, “Không thể tin được ngay cả lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam.” Trần Quang Cơ thuật lại, “Baker còn nói rằng Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị... ’Việt Nam và Trung Quốc đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xã hội...’” mà giới lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đưa ra. Bắc Kinh nói một cách công khai, lại khuyến khích ngoại trưởng Mỹ nhắc lại, để làm mất mặt nhóm lãnh tụ ở Hà Nội. Nhưng nhóm lãnh tụ này vẫn cắn răng chịu đựng!

Trước những thủ đoạn xảo trá của Bắc Kinh như vậy, thật không thể hiểu được tại sao các Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn bám lấy con đường hợp tác với Bắc Kinh để bảo vệ chủ nghĩa xã hội! Ðến thời Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, ông ta còn đi sang Tầu năn nỉ tái lập một tổ chức quốc tế cộng sản, với Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn, mà Trung Cộng đứng lãnh đạo! Có phải các lãnh tụ cộng sản bây giờ vẫn muốn trung thành với di sản chủ nghĩa xã hội do Hồ Chí Minh để lại, hay không?

Ðiều này khó tin. Vì tất cả các lãnh tụ trung ương đều đang lo vơ vét của cải cho vợ, con, gia đình. Họ chỉ lo bảo vệ những của cải đó chứ không thiết tha đến chủ nghĩa nào cả.

Vậy tai sao cuộc họp Trung Ương Ðảng Cộng Sản vừa qua vẫn nhấn mạnh đến khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã hội” trên “giai đoạn quá độ” dài dằng dặc không biết bao giờ tới bờ bên kia?

Vì khẩu hiệu đó cũng là một tín hiệu về ngoại giao. Hô khẩu hiệu đó là cho biết đảng vẫn tiếp tục chính sách của Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu: Vẫn tuyệt đối trung thành với các đồng chí Trung Quốc. Kể từ thời Nguyễn Văn Linh, bất cứ ai lên cầm quyền ở Hà Nội, đều phải được Bắc Kinh phê chuẩn. Trung Cộng không cho Nguyễn Cơ Thạch đi trong phái đoàn sang Thành Ðô năm 1990. Thế là sau đó Thạch bị rút ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng, suốt đời không còn ngóc lên được nữa. Trung Cộng mời Phó Thủ Tướng Vũ Khoan sang Bắc Kinh năm 2005, nhưng Khoan tới nơi bèn bị bỏ rơi giữa chợ, không cho gặp một nhân vật quan trọng nào cả. Thế là mọi người đều hiểu: Vũ Khoan không thể lên chức thủ tướng được, mặc dù đã có công vận động để ký thỏa ước thương mại song phương với Mỹ cho Việt Nam vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Vì thế Nguyễn Tấn Dũng, một phó thủ tướng khác, đã lên ngồi ghế thủ tướng cho tới bây giờ.

Chỉ khi nào Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính thức từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê, đổi tên đảng, bỏ những chữ “xã hội chủ nghĩa” trong tên nước; khi nào dân Việt Nam được sống làm người Việt bình thường không theo chủ nghĩa nào cả, không bám lấy cường quốc nào để nhận làm anh em cả, thì lúc đó Việt Nam mới thực sự độc lập!

********************************************************************


Thảm sát Mậu Thân

TẾT MẬU THÂN TRONG CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU CỦA TRUNG QUỐC
Source: Radio Chân Trời Mới

Nguyễn Quang Duy

Tết Mậu Thân 1968, quân đội cộng sản vi phạm ngưng bắn mở cuộc tổng tấn công thủ đô Sài Gòn và hầu hết các thành phố tỉnh lỵ tại miền Nam . Trên bốn mươi năm qua, do thiếu tài liệu và phân tích, chúng ta không quan tâm lắm đến vai trò và chiến lược của nhà cầm quyền Bắc kinh trong biến cố lịch sử này. Chúng ta thường chỉ xem vai trò của họ là viện trợ quân trang, quân cụ, quân nhu cho cộng sản Việt Nam .

Bài viết này dựa trên những tài liệu nội bộ hai đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc được giải mật để chỉ ra vai trò chỉ đạo và chiến lược toàn cầu của những người cầm quyền Bắc Kinh trong trận tổng tấn công này. Tòan bộ các tài liệu từ phía trung quốc là biên bản các buổi họp bằng tiếng Trung Hoa, được dịch sang Anh ngữ và phổ biến trên mạng "Cold War International History Project" Woodrow Wilson International Center for Scholar. Tài liệu từ phía Việt Nam chủ yếu từ tập tài liệu Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua. Tập tài liệu này được nhà xuất bản Sự Thật cho phổ biến khi chiến tranh Việt -Trung bắt đầu năm 1979.

Từ những năm đầu 1950, khi hai đảng Cộng sản Việt – Trung chính thức lập quan hệ ngọai giao, Trung Quốc đã trực tiếp chỉ đạo và tham gia chiến tranh Việt Nam . Chỉnh quân, chỉnh huấn, cải cách ruộng đất, các chiến dịch quân sự đều được đặt dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của các cố vấn Trung Quốc và được huấn luyện bởi các chuyên gia Trung Quốc. Hiệp định Genève chia đôi đất nước đã được Chu Ân Lai trực tiếp đề ra và tiến hành.

Sau 1954, miền Bắc đã xẩy ra một cuộc tranh chấp giữa hai phe lãnh đạo. Phe theo Trung Quốc nắm đa số và luôn luôn thắng thế. Phe thân Liên Sô là thiểu số lại bị mang tiếng là thiếu tích cực thống nhất đất nước, không cổ vũ việc “giải phóng” miền Nam .

Hội nghị lần thứ 15 cuả Trung Ương tháng 1-1959, bí mật ra quyết định điều động bộ đội miền Bắc chuyển vũ khí vào Nam, để tiến hành võ trang thống nhất đất nước. Ngày 7-1-1959, Hồ chí Minh chính thức xác nhận: “Như vậy là ở Đông Nam Châu Á, chúng tôi đã đứng ở tiền đồn của mặt trận dân chủ và hoà bình toàn thế giới chống lại chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh.” (1)

Tháng 5-1963, Lưu Thiếu Kỳ đi thăm và đưa Bắc Việt đứng hẳn về phía Trung Quốc. Hồ chí Minh và Lưu Thiếu Kỳ đã ký một Tuyên Bố chung gọi “chủ nghĩa xét lại” và “cơ hội hữu khuynh” là đe dọa chính cho phong trào cộng sản quốc tế. Tháng 7-1963, Hồ chí Minh họp riêng với Chu Ân Lai và đã tuyên bố như sau: “Đừng nói là phải đánh 5 năm, 10 năm, dù có 20 năm, 30 năm, thậm chí 50 năm cũng phải đánh, đánh cho đến khi thắng lợi hoàn toàn!”. (2) Câu tuyên bố trên chỉ nhái lại khẩu hiệu: “Đánh đế quốc, đánh, đánh, đánh, đánh cho đến thắng lợi” do Mao Trạch Đông đề ra.

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 9, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đã phê phán chủ trương chung sống hòa bình và hội nghị kết thúc với nghị quyết đẩy mạnh công cuộc đấu tranh bằng vũ lực ở miền Nam. Sau Hội nghị Trung Ương lần thứ 9, nhóm do Lê Duẩn cầm đầu tăng cường phê phán “chủ nghĩa xét lại hiện đại” ( ám chỉ chủ trương thi đua hòa bình giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau, mà Liên Sô, Khrushchev, cổ vũ ). Tại hội trường Ba Đình, tháng 1-1964, trước các cán bộ cao và trung cấp học tập nghị quyết 9, Trường Chinh tuyên bố: “Đường lối đối nội và đối ngoại của Đảng ta và Nhà nước ta là thống nhất về cơ bản với đường lối đối ngoại và đối nội của Đảng Cộng Sản và nhà nước Trung Quốc.” (3) Để tăng cường xâm nhập miền Nam , ngày 08-04-1965, Lê Duẩn sang Trung Quốc xin quân viện. Lê Duẩn lên tiếng:"Chúng tôi muốn một số phi công và thiện chí quân, ... và những người thiện nguyện khác, bao gồm những đơn vị xây dựng cầu cống, đường sá." (4) Lưu Thiếu Kỳ đáp lại "Đó chính là chính sách của chúng tôi, chúng tôi sẽ làm tốt nhất để đóng góp với các đồng chí." (5)

Tài liệu về phía Việt Nam cho biết: “…về nguyên tắc, đến tháng 6 năm 1965 phía Trung Quốc phải gửi phi công sang giúp Việt Nam . Nhưng ngày 16 tháng 7 năm 1965 Bộ Tổng tham mưu Quân giải phóng Trung Quốc đã báo cho Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam là phía Trung Quốc không thể gửi phi công sang Việt Nam được vì ‘thời cơ chưa thích hợp’ và ‘làm như vậy không ngăn cản được địch đẩy mạnh oanh tạc’. Trong một cuộc hội đàm với phía Việt Nam tháng 8 năm 1966 họ cũng nói: ‘Trung Quốc không đủ khả năng về không quân giúp bảo vệ Hà Nội’ ”. (6) Thay vào đó, Liên Sô đã gởi phi công sang chiến trường Việt Nam .

Tại Hà Nội, ngày 13-4-1965, Tao Zhu, bí thư Trung ương đảng cộng sản Trung Quốc Nam phân bộ, báo cho Hồ chí Minh Trung ương đảng cộng sản Trung Quốc và Mao đã giao trách nhiệm viện binh cho 4 tỉnh phía Nam . Để chắc chắn, ngày 16-05-1965, Hồ chí Minh đã sang Trung Quốc hội kiến Mao trạch Đông. Ông trình bày với Mao kế họach xây dựng hệ thống giao thông phía Bắc để tiếp nhận quân viện từ các quốc gia trong khối cộng sản qua biên giới Trung Quốc. Cùng với kế họach xây dựng đường mòn Hồ chí Minh để xâm nhập miền Nam . Ông nói với Mao: "Nếu chủ tịch Mao đồng ý Trung Quốc sẽ giúp, chúng tôi sẽ gởi người của chúng tôi vào Nam ." Mao trạch Đông trả lời:"Chúng tôi chấp nhận. Chúng tôi sẽ làm. Không có vấn đề gì cả." (7)

Ngày 23-3-1966, Lê Duẩn sang Trung Quốc bị Chu Ân Lai chất vấn về việc Việt Nam chính thức kêu gọi viện binh từ các quốc gia cộng sản khác, nhất là từ Sô Viết. Chuyến cầu viện này có lẽ đã thất bại, ba tuần sau Lê Duẩn lại phải sang Trung Quốc một lần nữa. Biên bản buổi họp ngày 13-4-1966, giữa Chu Ân Lai, Đặng tiểu Bình, Kang Shen, Lê Duẩn và Nguyễn Duy Trinh, được tường trình với nhiều dữ kiện lịch sử quan trọng.

Đặng tiểu Bình cho biết chỉ chưa đến một năm Trung Quốc đã gởi sang Việt Nam 130.000 quân để xây dựng cơ sở hạ tầng chiến lược, hằng chục ngàn quân chiến đấu hiện đang túc trực ở biên giới, đã có những thảo luận về việc Trung Quốc sẽ tham chiến nếu chiến tranh xảy ra. Lê Duẩn góp ý:" Bây giờ đã có hằng trăm ngàn quân Trung Quốc tại Việt Nam , nhưng chúng tôi nghĩ rằng nếu có chuyện nghiêm trọng xẩy ra, ở đó cần thiết 500.000 quân." (8) Phía Trung Quốc cũng miễn cưỡng chấp nhận để Việt Nam nhận viện binh từ các quốc gia cộng sản khác.

Trong cùng buổi họp, Chu Ân Lai tuyên bố dự định sẽ gởi chừng 4 đến 5 tóan nghiên cứu quân sự gồm chừng 100 người vào Nam Việt Nam để trực tiếp quan sát tình hình quân sự. Chu Ân Lai nhấn mạnh các toán này có thể sẽ đến tận ngọai ô Sài Gòn.

Tháng 6-1967, đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định mở cuộc tổng tấn công Tết Mậu thân. Ngày 4-7-1967, Võ Nguyên Giáp và Phạm văn Đồng đã sang Trung Quốc tường trình Bắc Kinh tình hình và chiến lược quân sự. Phạm văn Đồng đã báo cáo Chu ân Lai như sau: "Một số chiến lược đang được áp dụng trên chiến trường miền Nam theo lời đề nghị khi trước của các đồng chí. Việc này chứng tỏ chiến lược quân sự của chúng tôi, và của các đồng chí, là chính đáng, với tiến triển khả quan". (9)

"Lấy nông thôn bao vây thành thị" và "vũ trang tổng tấn công" là chiến lược do Mao Trạch Đông đề xướng. Chiến lược này được sử dụng như kim chỉ nam cho cuộc tổng tấn công Mậu Thân. Nhà cầm quyền Hà Nội còn tin rằng dân chúng miền Nam sẽ nổi dậy, quân đội Việt Nam Cộng Hòa sẽ chạy theo quân đội cộng sản, vì thế họ còn gọi là “cuộc tổng tiến công và nổi dậy”. Điều này đã không xảy ra, ngược lại quân và dân miền Nam đã anh dũng bẻ gẫy, đánh tan tòan bộ cuộc tấn công.

Trong buổi họp, ngày 4-7-1967, Chu ân Lai than thở, ông và các đồng chí của ông đều đã trên dưới bẩy mươi, và nhấn mạnh:"Mặc dù tôi đã già, tham vọng vẫn còn đó. Nếu chiến tranh ở miền Nam không chấm dứt vào năm tới, tôi sẽ thăm các đồng chí và tham quan." (10) Năm tới mà Chu ân Lai muốn nhấn mạnh là Mậu Thân 1968. Điều này cho thấy cả nhà cầm quyền Bắc Kinh lẫn Hà Nội đều rất kỳ vọng vào chiến thắng quân sự trong cuộc tổng tấn công này.

Phạm văn Đồng cũng đã báo cho Chu ân Lai biết Liên Sô đề nghị Trung Quốc cho gia tăng số lượng quân viện Liên Sô chuyển sang Việt Nam qua ngõ Trung Quốc từ 10.000 lên 30.000 tấn mỗi tháng. Có thể, Liên Sô sẽ gởi một số đầu máy xe lửa sang Trung Quốc. Để sửa sọan cuộc tổng tấn công, riêng nửa năm 1967, Phạm văn Đồng cho biết Trung Quốc đã quyết định viện trợ Việt Nam 500.000 tấn lương thực.

Tài liệu từ phía Trung Quốc cho thấy Liên Sô đã không được báo cáo tường tận cuộc tổng tấn công này. Sau Tết Mậu Thân, Liên Sô đã chỉ trích nhà cầm quyền Hà nội và cho rằng quyết định tổng tấn công Mậu thân là một quyết định sai lầm.

Có thuyết cho rằng có bất đồng trong Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam về quyết định tổng tấn công. Tuy nhiên các tài liệu đã giải mật từ cả hai phía Trung Quốc lẫn Việt Nam đều không hổ trợ cho thuyết này.

Qua các tài liệu được giải mật từ phía Trung Quốc, chúng ta có thể thấy được vài lý do khiến Trung Quốc trực tiếp chỉ đạo và tham gia tổng tấn công:

(1) bành trướng ảnh hưởng khối cộng sản nói chung, Trung Quốc nói riêng;

(2) tranh giành ảnh hưởng với Liên Sô;

(3) thất bại xây dựng kinh tế, Trung Quốc cần lý do "giải phóng miền Nam Việt Nam" và " đế quốc Mỹ đe dọa tấn công Trung Quốc" để giải tỏa áp lực từ quần chúng và nội bộ đảng cộng sản Trung Quốc;

(4) thất bại chiếm đóng Đài Loan, Trung Quốc sử dụng miền Nam như một thí điểm quân sự cho chiến lược vũ trang tổng tấn công và nổi dậy;

(5) bất ổn quân sự Nam Việt Nam bắt buộc quân đội Hoa Kỳ phải dồn nỗ lực giải quyết, do đó sẽ giải tỏa áp lực quân sự trực tiếp lên Trung Quốc;

(6) chiến thắng quân sự của cộng sản Việt Nam (nếu có) sẽ tạo uy tín cho các lãnh tụ Trung Quốc, nhất là trong giai đọan cách mạng văn hóa đang được rầm rộ phát động.

Tập tài Liệu “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” tuy không đề cập nhiều đến trận Mậu Thân, lại tố cáo: “Trong chiến lược toàn cầu của những người lãnh đạo Trung Quốc, nếu họ coi Liên Xô và Mỹ là những đối tượng chủ yếu cần phải chiến thắng, thì họ coi Việt Nam là một đối tượng quan trọng cần khuất phục và thôn tính để dễ bề đạt được lợi ích chiến lược của họ.” (11)

Theo tài liệu này Mao Trạch Đông còn khẳng định trong cuộc họp của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản Trung Quốc, tháng 8 năm 1965: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malayxia và Singapo…Một vùng như Đông nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản…xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy…Sau khi giành được Đông nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô-Đông Âu, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây…”. (12)

Tài liệu cũng tố cáo trong cuộc gặp giữa đại biểu bốn đảng cộng sản Việt nam, Trung Quốc, Nam Dương và Lào tại Quảng Đông tháng 9-1963, Chu Ân Lai nói: “Nước chúng tôi thì lớn nhưng không có đường ra, cho nên rất mong Đảng Lao động Việt Nam mở cho một con đường mới xuống Đông nam châu Á”. (13) Để mở con đường xuống Đông nam châu Á, tập tài liệu cho biết: “Như nhiều nhà chính trị và báo chí Tây Âu nhận định, Trung Quốc quyết tâm ‘đánh Liên Xô đến người Tây Âu cuối cùng’ cũng như Trung Quốc trước đây đã quyết tâm ‘đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng’ ”. (14)

Tập tài liệu còn cho biết (Trung Quốc): “Ngăn cản nhân dân Việt Nam thương lượng với Mỹ, khuyến khích Mỹ tăng cường ném bom miền bắc Việt Nam, đây chính là cái mà tướng Mỹ M. Taylơ gọi là quyết tâm của những người lãnh đạo Trung Quốc “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”, nhằm làm suy yếu Việt Nam, có lợi cho chính sách bành trướng của họ.” (15)

Nạn nhân của Mậu thân 1968 là hàng ngàn thường dân vô tội đã bị cộng sản chôn sống, giết chết hay gây thương tích bản thân. Là những chiến sỹ của quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh hay mang thương tích do quân đội cộng sản vi phạm ngưng bắn. Là tâm lý của hằng chục triệu người dân miền Nam khi phải chứng kiến tội ác của cộng sản Việt Nam.

Thế nhưng trong khi kế họach tổng tấn công Mậu Thân được sửa sọan ở Bắc Kinh và Hà Nội. Để "bảo đảm bí mật", các thành viên Mặt trận Giải Phóng Miền Nam, các lực lượng vũ trang Bắc Việt xâm nhập chỉ biết được khi tham gia cuộc tổng tấn công. Đa số cán binh cộng sản bị lường gạt đưa vào cuộc chiến mệnh danh "giải phóng miền Nam" và "nhân dân miền Nam" sẽ nổi dậy phối hợp với họ để giải phóng Miền Nam. Hậu quả của cuộc tổng tấn công là hằng trăm ngàn cán binh cộng sản tử trận, hằng trăm ngàn người còn mang thương tích từ thể xác lẫn tinh thần. Họ và gia đình cũng cần được kể là những nạn nhân của những người cầm quyền Bắc Kinh — Hà Nội trong chiến lược tòan cầu “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng” của Trung Quốc.

Một nhân vật được nhiều lần nhắc đến trong bài này, Phạm văn Đồng, ở cuối đời đã sám hối và nhắc nhở các đồng chí của ông như sau: “tất cả chúng ta vừa là nạn nhân, vừa là thủ phạm, vừa là công tố, vừa là quan tòa và cũng vừa là bị cáo.”

Mậu thân đã xảy ra 42 năm trước, nhưng trong nội tâm từng người Việt từ cả hai phía Quốc Gia hay Cộng Sản vẫn còn nhiều chia rẽ. Sự chia rẽ làm suy yếu nội lực dân tộc lại chính là thành quả lớn nhất mà những người cầm quyền Bắc Kinh gặt hái trong quá trình 60 năm chỉ đạo đảng Cộng sản Việt Nam. Mậu Thân nói riêng cuộc chiến Quốc Gia – Cộng Sản nói chung được đặt trong chiến lược tòan cầu của những người cầm quyền Bắc Kinh.

Ngày nay nhiều phần đất ông cha để đã sáp nhập lãnh thổ Trung Quốc. Hằng chục ngàn cây số vuông vịnh Bắc Bộ đã mất vào tay Trung Quốc. Hòang Sa, Trường Sa và Biển Đông đang bị quân đội Trung Quốc chiếm đóng. Trung Quốc ảnh hưởng từ Trung ương đảng đến hạ tầng cơ sở, từ kinh tế đến chính trị văn hóa, từ tư tưởng đến hành động … Việt Nam được ví như một chư hầu, một bán thuộc địa, một tỉnh nhỏ nghèo của Trung Quốc. Sáu mươi năm chiến tranh hận thù chia rẽ đều nằm trong chiến lược tòan cầu của của những người cầm quyền Bắc Kinh.

Hy vọng xuân Canh Dần năm nay, chúng ta dành chút ít thời gian suy ngẫm sự thực quan hệ Việt – Trung để đồng hướng đến một Việt Nam tự do, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

10/2/2010

(1) Hồ Chí Minh Toàn Tập, 1989, Tập 8, trang 258, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội.

(2) Hồ Chí Minh Toàn Tập, 1989, Tập 8, trang 457, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội.

(3) Nguyễn minh Cần, 2001, Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Những Biến Động Trong Phong Trào Quốc Tế Cộng Sản, trang 129, Tuổi Xanh xuất bản.

(4), (5), (7), (8), (9) và (10) Cold War International History Project, Woodrow Wilson International Center for Scholar

(6), (11), (12), (13), 14 và (15) Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, 1979, nhà xuất bản Sự Thật.

**********************************

DỰ ĐOÁN VẬN NƯỚC
Source: vietquoc.org

Phỏng vấn T.T. Thích Thiện Minh


Tải về máy/Download

Nghe bằng player của máy bạn

Thích Thiện Minh

Những sự trùng hợp kỳ lạ trong Dự Đoán Vận Nước của Thượng Toạ Thích Thiện Minh người trải qua 26 năm tù trong chế độ Cộng Sản Việt Nam. Bài Dự Đoán Vận Nước của Thượng Tọa Thích Thiên Minh đã được đăng trên Nhật Báo THE LITTLE SAIGON DAILY NEWS số 182 phát hành ngày Thứ Bảy 2 tháng 5 năm 2009.

KÍNH THƯA QUÝ VỊ!

Thầy Thích Thiện Minh đã ở tù 26 năm nhằm mục đích để bày tỏ lòng hiếu đạo của thầy. Mặc dù cảnh tù đày lao lý khủng bố nhưng không làm thầy nản lòng, nhắm thẳng đường đạo thầy vững tiến.

Đến ngày hôm nay thầy không còn là một bậc thầy tu nữa mà là một vị chiêm tinh gia tiên đoán thời vận của loài người trong thế kỷ 21. Thưa rằng! Cũng chưa sai sự thật cho lắm. Mà là một vị bồ tát cứu đời độ thế. Thầy đã tu hành chứng quả Minh, Huệ để đưa ra điềm triệu nhận định vận nước, thế giới trong những năm Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu sắp tới ở điểm: con số 9 để đánh dấu sự cáo chung của một chu kỳ lịch sử. Nhằm mục đích để cứu độ bá tánh chúng sanh. Biết thức tỉnh quay về việc thiện. Vì vận nước có lúc thịnh lúc suy. Đó là luật tuần hoàn của vũ trụ không sao tránh khỏi. Biến để tiến là quy luật từ ngàn xưa mãi đến ngàn sau.

“… Vô ngôn độc đoái đinh tiền trúc
Sương tuyết tiêu thời hợp hóa Long…”


Mình phải thức tỉnh việc làm phải đúng thời đúng lúc để bắt kịp nhịp cầu trên con đường hòa nhập xây đời bình an.

Kính thưa thầy! Đây là sự nhận định riêng của con. Kính mong thầy rộng lòng tha thứ và kính nhờ quý vị nhận được bài này vui lòng phát tán rộng rãi để thực hiện lòng bồ tát đạo.

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát. Ma Ha Tát.

TRUNG HIẾU ĐẠO

DỰ ĐOÁN VẬN NƯỚC

Thích Thiện Minh

Mấy mươi năm trong chốn lao tù, cho đến nay khi ra khỏi nhà giam. Tôi tâm đắc nhất đó là một ít hành trang nho nhỏ về lĩnh vực tâm linh mà lúc nào tôi cũng trân quý xem như là một món bửu bối thiên thư khi nghĩ về đất nước… . Nhờ từ ấu thơ bản thân tôi có hạnh duyên nắm bắt một vài quy luật biến dịch của vũ trụ liên quan đến mệnh đồ thế giới và vận nước VN. Tôi biết được đã trên 40 năm qua, đó là một bài thi Sấm ký ngắn tôi học thuộc nằm lòng hồi còn bé do cha tôi tức Ông Huỳnh Văn Cầm truyền lại. Mặc dầu nhiều sự kiện xảy ra của thế giới và đất nước VN đều do con người gây nên, nhưng những mốc thời gian xảy ra ấy lại trùng hợp tương tục một cách lạ thường đều diễn ra vào các năm Tý, Ngọ, Mẹo và Dậu, tôi nhận xét dường như có một bàn tay vô hình nào đã định sẵn. Tôi xin liệt nêu khái lược sau đây, mong quý bậc cao minh vui lòng góp ý bổ sung thêm cho những lời chỉ giáo.

Trước nhất, cha mẹ tôi người gốc Đạo Cao Đài, quê ở Bạc Liêu, vào năm 1956 (Bính Thân) lúc ấy tôi chỉ được 1 tuổi thôi, cha mẹ tôi lưu lạc sang đất nước Chùa Tháp nhân chuyến đưa Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc Giáo Chủ Đạo Cao Đài sang lánh nạn tại CamPuchia, thời gian được 3 năm Đức Phạm Công Tắc quy thiên tại CamPuchia vào ngày mùng 10 tháng 04 năm 1959 (nhằm tuần lễ Phật Đản mùng 8 đến ngày rằm tháng tư năm kỷ Hợi), vài năm sau, Cha Mẹ tôi lần lượt về VN, tạm làm ăn sinh sống tại tỉnh Trà Vinh tức tỉnh Vĩnh Bình, cha tôi có mang theo những di huấn và huyền cơ do Đức Ngài truyền dạy, khi tôi lên 12 tuổi cha tôi bảo tôi học thuộc lòng. Cho dù, khi lớn lên tôi xuất gia theo Đạo Phật, nhưng những lời dạy của cha tôi, lúc bé tôi vẫn còn ghi nhớ. Đặc biệt, những lời lưu truyền có nhiều điểm rất chính xác với những sự kiện xảy ra của thế giới và các mốc lịch sử của VN, kể cả liên quan đến những nhà lãnh đạo có tên tuổi gắn liền với lịch sử vui buồn, thăng trầm, thịnh suy (tốt-xấu) của dân tộc.

Nay tôi xin tường thuật lại 1 bài thi ngắn như sau để quý hiền giả, các bậc sĩ phu, những nhà nghiên cứu sử liệu, quý đồng bào VN trong ngoài nước nghiền ngẫm về cuộc đời và vận nước, với bài thi ngắn khoảng trên 30 câu như sau:

Sự biến thiên thăng trầm của tổ quốc!

Theo chu kỳ quy ước định phân

Xưa Xuân Thu nay lại Thu Xuân?

Và Quy luật bất luân chữ Cửu?

Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu là tháng năm trong lịch sử?

Còn ngày giờ thứ tự đúng kỳ tam

Lập cửu trùng cảnh Nghiêu Thuấn trời nam

Dân hạnh phúc muôn năm an hưởng

Theo Nga Mỹ, nào quan to Tá Tướng

Nào lầu đài, nào phủ trướng vinh sang

Kẻ vong thân, người danh phận lỡ làng

Kẻ lao ngục, người lên đàng biệt xứ

Sống tha phương trở thành người lữ thứ

Xa gia đình kẻ cự phú cũng trắng tay

Bỏ tiền tài hạnh phúc rẽ chia hai

Bao sự nghiệp lầu đài ôi tiếc mến

Thuở sinh tiền ta thường khuyên Hội thánh

Phải gìn tâm nơi tịnh cảnh tu hành

Đừng theo Mỹ Diệm để hưởng chút lợi danh

Sau phải chịu cam đành buồn tủi

Khi Cộng sản đúng thời đúng buổi

Chiếm Nam Quan cho đến mũi Cà Mau

Lúc bấy giờ Hội Thánh phải nói sao?

Khi đã lở lâm vào trong thế khó

Khi Cộng Sản chiếm quyền hành trong lúc đó

Biết bao nhà tôn giáo phải suy vi

Cấp lãnh đạo và các phẩm chỉ huy

Đứng không vững cho nên vấp ngã

Làm tên tuổi lợi danh tiêu mất cả

Cộng ngày sau sẽ tan rã không còn

Khi dân tình khôi phục lại nước non

Khuyên tín hữu lòng son cố tránh.


Lúc ấy tôi nhờ cha tôi giải thích các câu hỏi:

Tại sao xưa Xuân Thu nay lại Thu Xuân là thế nào?
Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu sao gọi là những tháng năm trong lịch sử?
Quy luật chữ Cửu là sao?
Còn ngày giờ thứ tự đúng kỳ tam xin giải thích?

Cha tôi trả lời:

1/ Ngày xưa bên Trung quốc có Phong kiếm Xuân Thu và Xuân Thu oanh liệt, tức mùa Xuân và mùa Thu, còn Việt Nam thì ngược lại sẽ có những sự kiện trọng đại liên quan đến 2 mùa Thu và Xuân, dần dần tôi tìm ra như:

- Ký 2 Hiệp Định:

Thứ nhất ký Hiệp Định Giơ-ne vào ngày 20/07/1954, tháng 7 tức vào mùa Thu

Thứ hai ký Hiệp định Paris vào ngày 27/01/1973, tháng giêng là vào mùa Xuân

2/ Còn Tý Ngọ Mẹo Dậu là những biến cố lớn của thế giới trong đó có liên quan đến VN đều xảy ra vào các năm Tý Ngọ Mẹo Dậu, chẳng hạn như:

- Đệ Nhứt thế chiến xảy ra năm 1914-1918, năm 1918 là năm ( Mậu Ngọ )

- Đệ Nhị thế chiến xảy ra năm 1939-1945, năm 1939 (Kỷ Mẹo) và năm 1945 là năm (Ất Dậu)

- Đảng CS Liên Xô thành lập tháng 1 năm 1912 (Nhâm Tý) sụp năm 1989-1990 ( Canh Ngọ ) sau nầy tái thành lập vào ngày 14/2/1993 (Quý Dậu) ), -----Đảng CS Trung Quốc thành lập 1/07/1921 (Tân Dậu)

- Đảng CSVN thành lập, ngày 03/02/1930 ( Canh Ngọ ),

- Thành lập nước VNDCCH, ngày 2/9/ 1945 (Ất Dậu)

- Chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 7/5/1954 ( Giáp Ngọ ),

- Ký Hiệp Định Giơ-Ne- ngày 20/07/1954 ( Giáp Ngọ )

- Kể cả các nhà lãnh tụ có liên hệ trực tiếp đến lịch sử cũng chết vào những năm Tý, Ngọ, Mẹo và Dậu điển hình như:

- Cụ Ngô Đình Diệm chết năm 1963 (Quý Mẹo)

- Cụ Hồ Chí Minh qua đời 1969 (Kỷ Dậu).

( Xin lỗi… mong được miễn thứ vì trên tư cách nhà tu hành tôi gọi các vị cao niên bằng Cụ )

Đặc biệt, nên chú ý ngày Quốc Khánh, 02/09/45 (Ất Dậu) thì Cụ Hồ mất trùng ngày Quốc Khánh 02/09/1969 (Kỷ Dậu) chết cùng ngày, cùng tháng và cùng năm.

Điển hình thêm ngày 20/12/1960 ( Canh Tý ) thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam thì Ông Chủ tịch MT. Nguyễn Hữu Thọ chết ngày 24 tháng 12 năm1996 ( Bính Tý ) tức chết trùng tháng và trùng năm, cách nhau chỉ có 4 hôm so với ngày thành lập MTDTGPMN

- Ông Lê Duẫn, một nhân vật dưới một người trên vạn người chết ngày 10/07/1996 (Bính Tý )

- Ông Võ Văn Kiệt chết năm 2008 ( tức năm Mậu Tý )

- Chiếm Miền Nam 30/04/75 (Ất Mẹo)

Nhìn lại lịch sử VN thời cận đại, kể từ đêm 22 qua 23/4/1885 (Ất Dậu) Pháp chính thức chiếm Hoàng Thành, kinh Đô Huế. Rồi lại 60 năm sau đến 9/3/45 (Ất Dậu) Pháp bị Nhật đảo chính.

Xét ra, Pháp thắng vào năm Ất Dậu và thua cũng năm Ất Dậu. Thậm chí Nhật đảo chính Pháp năm Dậu rồi lại đầu hàng đồng Minh vào ngày 19/08/45 cũng năm Ất Dậu.

3/- Quy luật bất luân chữ Cửu:

- Hiệp Định Giơ-Ne ngày 20/07/54, ta thấy 20+7= con số 9 và năm 1954, 54 cũng là con số 9

- Hiệp Định Paris, ngày 27/01/73, ta thấy 27= con số 9, ngoài ra, 27/01/73 tức 24 tháng Chạp âm lịch, năm Nhâm Tý, cũng là năm Tý.

Đổi tên thành nước CHXHCNVN ngày 02/07/1976, số 02+07=số 9 và Hiệp ước Sơ Bộ 6/3/46 thì 6+3= số 9. Nhật đảo chính Pháp 9/3/45, cũng là con số 9 (số cửu)

Ngoài ra, những sự kiện gần đây như:

- Bình thường hóa quan hệ Việt Mỹ ngày 11/7/1995 thì 11+7=số 9

- Việt Nam gia nhập Tổ chức Mậu Dịch Thế giới WTO vào ngày 7/11/2006 thì 7+11= số 9

- VN trở thành thành viên không thường trực LHQ ngày 16/10/2007 năm 2007= tức số 9

4/ Ngày giờ thứ tự đúng kỳ tam?

Theo cha tôi là VN sẽ ký 3 lần có tính cách quyết định lớn cho vận mệnh đất nước… tất cả đều ký vào mùa Thu hoặc Xuân và con số Cửu.

Tôi chỉ đoán có thể là đã ký 2 Hiệp Định, Giơ-Ne vào ngày 20/7/54 và Paris ngày 27/01/73… còn ký lần 3 không lẽ bình thường hóa quan hệ Việt Mỹ vào ngày 11/7/95, tức 11+7 là con số Cửu và vào mùa Thu chăng? Về việc ký kết quan hệ bình thường hóa giữa 2 nước lại mang tính quyết định lớn cho vận mệnh VN hay chăng? Điều nầy cần phải chờ đợi tương lai xem VN có ký kết một Hiệp định nào quan yếu nữa không về những việc liên quan đến tổ quốc?

Xin chú ý:

- Từ năm thành lập Đảng CS 3/2/1930 đến ngày 30/04/1975, (1975-1930=45) được 45 năm cũng là con số 9.

- Từ năm 1975 (Ất Mẹo) đến năm 2011 (Tân mẹo) (2011-1975=36) được 36 năm cũng là con số 9.

hoặc

-Tính từ khi thành lập Đảng CS năm 1930 đến 2011 đúng 81 năm cũng là con số 9…

Ta hãy chờ xem số Cửu nào hay một trong các năm Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu nào ở tương lai sẽ quyết định về số phận của chế độ CSVN.

Có 2 điều cần bàn:

- Một là chiến thắng vào năm 1975 (Ất Mẹo) sẽ gặp năm 2011 (Tân Mẹo) thời gian đúng 36 năm. tức Mẹo gặp lại Mẹo phối hợp với số Cửu quyết định sự suy vong.

- Hai là Đảng CSVN thành lập năm 1930 ( Canh Ngọ ) cho đến 2014 ( Giáp Ngọ ) tức Ngọ gặp lại Ngọ, được 84 năm, sẽ hết hạn kỳ và tàn lụi vào năm nầy.

Người xưa thường nói Dân có Tuần, Nước có Vận. Họa nạn quê hương bởi vì Vận nước còn mịt mờ… còn sự biến dịch của luật tuần hoàn vũ trụ hễ Âm thịnh thì Dương suy, tiểu nhân đắc chí thì quân tử phải khốn cùng... và mỗi khi Âm thịnh đến cực điểm của thái âm thì sẽ rút lui nhường chỗ trả lại cho Dương đó là theo cơ cấu"Phản Phục" căn cứ lý của Dịch. Đây là quy luật tự nhiên “Âm cực Dương hồi” mỗi vật đi đến cực độ phải biến, biến trở về cái đối đích đó là quan niệm trong trời đất và Dương đến cực điểm của thái dương thì cũng sẽ nhường lại cho âm thế thôi! Hễ khí âm cực thịnh thì khí dương tái lai, quy luật xưa nay, luân lưu thịnh suy bĩ thái và ngược lại khi dương đến cực thịnh thì cũng thế, phải trả lại cho Âm.

Hiện nay, nhiều dấu hiệu cho thấy Âm đã và đang suy thoái trầm trọng, càng ngày càng xuống dốc thật sự, rất khó cứu vãn… và ắt sẽ chuẩn bị trả lại cho Dương.

Như trên tôi đã phân tích... từ đây cho đến 2011 năm Tân Mẹo hoặc tối đa 2014 tức năm Giáp Ngọ, định mệnh đất nước VN sẽ có chuyển biến lớn theo quy luật tự nhiên như đã trình bày trên không? Chúng ta bình tĩnh chờ xem vận nước đến hồi kết cục.

Nói tóm lại: những năm Tý, Ngọ, Mẹo và Dậu là tháng năm chu kỳ của lịch sử VN có liên quan đến tình hình thế giới, mà Đảng CSVN thành lập ngày 3/2/1930 ( năm Canh Ngọ ) và chắc chắn sẽ cáo chung vào những năm Tý, Ngọ, Mẹo Dậu mà thôi. Hãy nhìn lại các triều đại lịch sử VN, thời Lý hưng thịnh nhất từ Lý Thái Tổ đến Lý Huệ Tôn. Vua Lý Huệ Tôn không có Hoàng Tử, chỉ sinh ra công chúa Phật Kim tức Lý Chiêu Hoàng, vua cha truyền ngôi cho công chúa, rồi xuất gia đi tu tại chùa Chơn giáo tự xưng là Huệ Quang Đại Sư.

Do mưu thần của Thái Sư Trần Thủ Độ xe duyên mai mối ép gả công chúa (Nữ Hoàng) cho Trần Cảnh, và sau đó bắt buộc Nữ Hoàng phải nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, tức Trần Thái Tôn, thế là chấm dứt nhà Lý.

Đời Lý kể từ năm 1010 đến 1225, trải qua 8 đời vua, trị vì 215 năm, đây là triều đại hưng thịnh lâu nhất trong lịch sử VN chứ chưa có triều đại nào kéo dài muôn năm, như người ta thường chúc tụng, tung hô vạn tuế hoặc có thời đại còn bắt buộc nhân dân phải ca ngợi về mình quả thật chỉ là mộng tưởng. Qua bài thơ trên cha tôi còn nhắc nhỡ một câu nói đi kèm như sau:

“Đức lập quyền thì dân mới đặng chu toàn, còn quyền xua đức dân tan khốn khổ, lấy chí thánh dìu người giác ngộ, dụng bạo tàn không đem nổi an bang, chỉ đưa dân chúng đi đến chỗ lầm than và đem đến con đường tận diệt, dụng 4 chữ minh, cang, liêm, khiết dầu đời hay đạo trăm việc cũng thành”

Chúng ta hãy nghiền ngẫm và chiêm nghiệm câu trên cũng như chờ xem những gì sẽ xảy ra cho vận nước vào những năm Tý, Ngọ, Mẹo và dậu ở tương lai

Tôi xin bưng hồng chung gióng lên một tiếng lưu bố khắp gần xa… mang thông điệp đem hỷ tín đến cho mọi người có lòng khoắc khoải mong chờ vận nước đổi thay, hay ước mơ quê hương có một ngày rực sáng. Mỗi khi đã biết sự biến dịch có quy luật cơ bản tự nhiên thì mọi diễn biến của vận nước không thể đến sớm hơn hay muộn hơn so với khát vọng mong chờ của lòng người, vì thế mọi người không nên thất vọng hay sờn lòng nản chí. Có điều quan trọng là:

“Thiên thời, địa lợi đôi đều sẵn
Chỉ thiếu hòa nhân để hợp quần”

Có lẽ: Non nước đang dật dờ chờ tạo khách bởi vì thiếu hòa nhân nên còn phải thêm thời gian nữa mới đúng thiên cơ chăng?

Nhân mùa Phật Đản lần thứ 2553. Nguyện cầu hồn thiêng sông núi, u hiển oai linh mong sao những nhà lãnh đạo Đảng CSCN, những người cầm cân nẩy mực đang bị trí rối chướng sâu, tập khí nặng nề, kém đức kém tu, sớm gội nhuần ơn pháp nhũ của chư Phật để căn lành tăng trưởng, nhanh chóng phản thân tu đức, đoạn nghiệp mê lầm, tin sâu nhân quả, cấp thiết tỉnh thức quay hồi, triệt hủy tà niệm, lấy đức hiếu sinh mà thương dân, lấy lòng nhân mà đối đãi, cách cố đỉnh tân, tận tâm tận lực đổi mới để đem đến cho quê hương VN một xã hội thực sự dân chủ, tự do, công bằng, nhân ái, dân phú quốc cường và dân an quốc thái.

Cuối cùng tôi chân thành gửi đến quý vị thức giả, quý đồng bào, đồng hương VN, quý tôn giáo bạn, quý phật tử xa gần trong ngoài nước nhân mùa Phật Đản lời chúc cầu được an vui lợi lạc.

30/04/2009

Thích Thiện Minh



VẬN MỆNH NƯỚC VIỆT THEO DỊCH LÝ
Source: vietland.net

Dịch lý là lý của luật tiến hoá tất yếu siêu việt và bất di bất dịch của Càn Khôn, còn gọi là ĐẠO, là Thượng Đế, là Chân Lý .v.v... mà trong mục này qua những bài trích đăng ở đây đều nói lên cái triết tức là cái ý nghĩa thấu triệt của cái gọi là Dịch lý này. Nên vận mệnh của con người, của nhân loại cũng như của đất nước Việt Nam đều không thoát ra khỏi quy luật này. Vì vậy mà những ai hiểu biết và thông suốt về Dịch lý có thể tiên đoán những chuyện sẽ xảy ra không chỉ trong một tương lai gần mà là cả mấy trăm năm sau đó, như những tiên đoán của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm mà với thời gian khi kiểm chứng lại những gì đã xảy ra thì ai nấy đều xanh mặt, kể cả hiền nhân Nguyễn Công Trứ (http://vhvn.vietland.net/Danh Nhân Nước Việt/Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm). Vì vậy chúng ta cần phải học hỏi để hiểu biết cái quy luật tất yếu này để đừng có mê tín hay cố chấp, nhưng là để tự tìm cho mình cái vị trí đúng chỗ trong vũ trụ thì mình cũng sẽ biết những gì sẽ xảy ra. Nên:

"Chỉ khi nào dân tộc Việt Nam nhìn ra được thời cuộc và tiến trình tất yếu của lịch sử, giành lấy quyền lực về cho nhân dân, tự quyết định vận mệnh của dân tộc để chủ động tham gia vào xu thế đó một cách có chiến lược thì mới tạo ra cho mình một vận hội mới tốt đẹp hơn.

Quy luật của tất yếu

Chỉ khi đó Việt Nam mới trở thành lựa chọn tối ưu mang tính chiến lược, chứ không phải là một căn cứ chiến thuật để lợi dụng nhất thời nên chỉ có lợi cho những kẻ cơ hội. Trong cuộc chiến với chủ nghĩa cộng sản ở Đông Á, Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc là những điểm nhắm chiến lược tối ưu trong khi đó Indonesia và Philippines chỉ là những căn cứ chiến thuật trong chiến lược của Mỹ chống sự bành trướng đỏ thời kỳ đầu chiến tranh lạnh. Mục tiêu chiến lược thời kỳ đó là đánh bại chủ nghĩa cộng sản nên Mỹ sẵn sàng chấp nhận thậm chí dung dưỡng cho những chế độ độc tài tham nhũng, điển hình nhất là Suharto ở Indonesia.

Đó là một bài học mà chúng ta cần hiểu rõ để tránh cho Việt Nam. Chế độ Suharto cuối cùng cũng bị lật đổ bởi một cuộc khủng hoảng tài chính dẫn đến nền kinh tế Indonesia sụp đổ vì sự mục ruỗng được khéo léo che đậy trước đó bị phơi bày ra ánh sáng. Sẽ rất ngây thơ nếu cho rằng kịch bản tương tự sẽ xảy ra ở Việt Nam cho dù có nhiều sự kiện tương đồng, nhưng sẽ càng kém khôn ngoan hơn nếu không hiểu rằng những quy luật suy vọng như thế không diễn ra ở trên đất nước này ở một hình thái khác, có khi còn nhanh chóng và khốc liệt hơn nhiều.

Quy luật tất yếu là một thực tế khách quan tồn tại từ thời mới khai thiên lập địa để chi phối sự vận hành của tất cả những gì trong vũ trụ này, và độc lập với ý chí con người – thực thể thông minh và phức tạp nhất của vũ trụ. Luật vạn vật hấp dẫn không phải mới có từ lúc nhà bác học Newton phát hiện ra, mà chỉ là từ lúc đó con người mới bắt đầu hiểu biết đến quy luật này. Thật khó mà hình dung được vũ trụ này tồn tại ra sao nếu không có một quy luật như thế vận hành.

Thế giới ý thức và tâm linh của con người cũng vậy, chắc chắn tồn tại những quy luật khác nhau chi phối sự vận hành. Thật khó có thể tin rằng một thế giới phức tạp đến như vậy đã có thể tồn tại và phát triển cả ngàn năm nay mà không theo những quy luật nào đó. Nói cách khác, những gì trái với quy luật đều không thể tồn tại. Tùy trí tuệ con người phát triển tới đâu thì loài người mới nhìn ra và hiểu biết được các quy luật tất yếu khách quan đến đấy. Những gì chưa được biết là do trí tuệ con người chưa vươn được tới chứ không phải thực tế khách quan đó không tồn tại. Lịch sử của khoa học đã cho thấy khi nào con người hiểu biết và thuận theo những qui luật tất yếu thì sẽ có sự phát triển vượt bậc.

Luật lục thất thập phân

Ngay cả sự tồn vong của các triều đại cũng tuân theo một quy luật. Những ai đọc qua sấm Trạng Trình đều có thể thấy rằng cụm từ lục thất, lục thất gian hay lục thất nguyệt gian được lặp lại nhiều lần trong các câu thơ sấm. Đó là một quy luật tồn vong của các triều đại được thiên tài Nguyễn Bỉnh Khiêm mô hình hóa thành một cách tính toán đơn giản. Một gian lục thất (6+7) là 13 năm, một nguyệt gian hay một gian thập phân là 10 năm (đây là cách ẩn dụ của Trạng Trình, ngày xưa theo âm lịch, 1 tuần trăng – nguyệt là 10 ngày). Hãy xem xét 3 triều đại liền kề nhau từ Hậu Lê, Tây Sơn và Nguyễn.

Nhà Hậu Lê do Lê Lợi sáng lập năm 1428 và kết thúc hoàn toàn vào năm 1789 sau khi Lê Chiêu Thống cầu viện quân Thanh và bị Quang Trung Nguyễn Huệ đánh tan. Tổng cộng tồn tại 361 năm, tương đương với 27 gian lục thất (27 x 13 = 351 năm) cộng thêm 1 gian thập phân (351 + 10 = 361 năm). 27 gian lục thất từ năm thành lập, tức rơi vào năm 1779 (1428 + 351), đây là năm đánh dấu sự suy vong của triều đại nhà hậu Lê vì năm đó Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế nhà Tây Sơn.

Nhà Hậu Lê đã suy yếu từ cả trăm năm trước, có thời gian bị nhà Mạc lật đổ, sau đó khôi phục lại và dẫn đến hình thành triều Lê Trung Hưng với chúa Trịnh đàng Ngoài chúa Nguyễn đàng Trong. Dù vậy danh nghĩa nhà Lê vẫn ngự trị trong lòng dân chúng nên cho dù nắm mọi quyền bính trong triều đình Bắc Hà nhưng các đời chúa Trịnh không bao giờ dám xưng đế vì sợ mất lòng dân. Ngay cả ở đàng Trong, dù hùng cứ một phương nhưng các chúa Nguyễn vẫn tôn nhà Lê là thiên tử. Nhưng vào năm 1779, một triều đại mới ra đời dám xưng đế và không chịu bất kỳ ảnh hưởng và quyền lực nào của triều Lê. Và đúng 10 năm sau đó, chính nhà Tây Sơn đã tiêu diệt hoàn toàn nhà Hậu Lê.

Tóm lại, nhà Hậu Lê sinh năm 1428, vong năm 1779 (sau sinh 27 gian lục thất) và tận năm 1789 (sau vong thêm một gian thập phân nữa).

Nhà Tây Sơn được khởi sự bởi 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. Khởi nghĩa vào năm 1771, đến năm Mậu Tuất 1778 thì Tây Sơn đã làm chủ gần một nửa đất nước, từ Quảng Nam đến Hà Tiên. Vào cuối năm Mậu Tuất (tức đầu năm 1779) thì Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế, đóng đô tại Qui Nhơn và lấy hiệu là Thái Đức, chính thức khai sinh ra triều đại Tây Sơn. Triều đại này đã có nhiều chiến công hiển hách chống ngoại xâm nhưng đã không dàn xếp được tranh giành trong nội bộ gia đình nên chỉ đúng 1 gian lục thất sau đó (1779 + 13), tức năm 1792, đã bước vào suy vong.

Cùng năm đó Nguyễn Ánh đã chiếm lại gần hết phần đất miền Nam và tiến đánh thành Qui Nhơn, còn vua Quang Trung Nguyễn Huệ - người đứng đầu triều đình Tây Sơn lúc đó thì đột ngột qua đời. Và đúng 10 năm (1 gian thập phân) sau đó, tức năm 1802, Nguyễn Ánh đã tiêu diệt hoàn toàn nhà Tây Sơn, bắt sống vua Cảnh Thịnh Quang Toản, chấm dứt triều đại Tây Sơn tồn tại 23 năm. Tóm lại nhà Tây Sơn sinh năm 1779, vong năm 1792 (sau sinh 1 gian lục thất) và tận năm 1802 (sau vong thêm 1 gian thập phân nữa).

Cùng năm đó, triều Nguyễn được thành lập bởi Nguyễn Ánh, lấy hiệu Gia Long. Dù bị Pháp xâm chiếm năm 1858 nhưng triều Nguyễn vẫn tồn tại song song với chính quyền bảo hộ thực dân thêm gần 100 năm nữa. Hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn là Bảo Đại bị chính quyền Cách mạng tháng 8 lật đổ vào năm 1945, đúng bằng 11 gian lục thất sau năm sinh (1802 + 11 x 13 = 1945). Nhưng đây mới chỉ là năm vong của nhà Nguyễn.

Sau khi giả chấp nhận làm cố vấn Vĩnh Thụy cho Hồ Chí Minh một thời gian ngắn thì Bảo Đại bỏ trốn rồi theo chân pháp về miền Nam thành lập Quốc gia Việt Nam và giữ chức quốc trưởng. Đến năm 1955 quốc trưởng Bảo Đại bị thủ tướng Ngô Đình Diệm truất phế bằng một cuộc trưng cầu dân ý, mất hoàn toàn quyền lực, thành dân thường và bắt đầu cuộc sống lưu vong bên Pháp.. Như vậy triều Nguyễn tồn tại 153 năm, bắt đầu sinh vào 1802, vong năm 1945 (sau sinh 11 gian lục thất) và tận năm 1955 (sau vong thêm 1 gian thập phân nữa).

Tự do và dân chủ

Số gian lục thất cũng có quy luật để tính toán. Với triều đại Cộng sản do Hồ Chí Minh sáng lập năm 1945, số gian lục thất là 5, 2010 là năm vong, 2020 là năm tận. Cũng chẳng cần hiểu biết luật lục thất thập phân, chỉ cần phân tích biện chứng tình hình, bối cảnh chung, đánh giá những động lực bên trong và bên ngoài, nhận thức của những người cầm chèo cầm lái, … thì cũng có thể nhận ra được những biến động từ nay đến 2010. Đó cũng không nằm ngoài quy luật nhân quả. Xét cho cùng, không ai đánh bại được chủ nghĩa Cộng sản trên toàn cầu nếu nó tốt và phù hợp với quy luật tất yếu. Nó suy vong là bởi chính nó. Sự xuất hiện những tác nhân bên ngoài cũng chỉ là kết quả theo quy luật từ cái nhân bên trong tạo ra. Các tác nhân bên ngoài sẽ tôn tạo hay hủy diệt cái bên trong cũng là do cái nhân sinh ra từ bên trong đó. Triều đại Cộng sản Việt Nam sẽ suy vong nhanh chóng là tất yếu không thể cản lại được bởi chính những sai lầm của nó."

(trích "Kỷ Sửu và Vận Hội mới của Việt Nam" của tác giả Trần Đông Chấn)

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 ... 17 >>