Archives for: May 2008

BỌN ÁC ÔN CÔN ĐỒ


Hình chụp Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị hành hạ và bắn chết trong tư thế bị trói - wikipedia

Bọn ác ôn côn đồ
Source: ngothelinh.tripod

Trong cuốn băng dài 30 tiếng đồng hồ do thư viện Johson Library ở Austin, Texas, công bố ngày 28.2.2003, Tổng Thống Johnson đã gọi các tướng miền Nam Việt Nam được Hoa Kỳ thuê làm đảo chánh lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm là “một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” (a goddam bunch of thugs). Họ là ai và đã làm gì mà bị Tổng Thống Johnson miệt thị như vậy?

NHẬN DIỆN BỌN ÁC ÔN CÔN ĐỒ

Tướng Trần Văn Đôn cho biết các sĩ quan sau đây đã nằm trong nhóm đứng ra tổ chức đảo chánh: Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Trần Văn Đôn, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, Thiếu Tướng Nguyễn Khánh, Thiếu Tướng Lê Văn Kim, Thiếu Tướng Trần Văn Minh, Thiếu Tướng Phạm Xuân Chiểu, Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm, Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, Đại Tá Đỗ Mậu, Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Tá Nguyễn Văn Quan, Đại Tá Nguyễn Hữu Có, Đại Tá Trần Ngọc Huyến, Đại Tá Nguyễn Khương và Đại Tá Đỗ Cao Trí.

Trong một cuộc phỏng vấn, Tướng Khánh có nói với chúng tôi rằng ông là người được CIA tiếp xúc trước tiên khi muốn làm đảo chánh. Nhưng theo tài liệu, CIA đã cho hai điệp viên khác nhau đến gặp Tướng Khiêm và Tướng Khánh cùng một lúc. Điệp viên Lucien Emile Conein đến gặp Tướng Khiêm, một nhân viên CIA, lúc đó là Tham Mưu Trưởng Liên Quân, và cho biết quyết định của Hoa Kỳ muốn lật đổ Tống Thống Ngô Đình Diệm. Tướng Khiêm đồng ý nhận thực hiện kế hoạch đó, nhưng gợi ý nên đi gặp Tướng Dương Văn Minh và Tướng Trần Văn Đôn. Trong khi đó, một điệp viên khác là Al Spera, cố vấn chính trị Bộ Tổng Tham Mưu, đi Pleiku gặp Tướng Nguyễn Khánh, một cộng tác viên khác của CIA, để thảo luận về việc này. Khi Al Spera hỏi Tướng Khánh về tướng Khiêm, Tướng Khánh đã nắm chặt hai bàn tay của mình lại và nói: “Chúng tôi như thế này”.

Sau khi Tướng Khiêm và Lucien Conein phác xong họa kế hoạch hành động, ngày 2.10.1963 khi Tướng Đôn lên phi trường đi Nha Trang thì Lucien Conein đến gặp và hẹn sẽ nói chuyện với nhau ở Nha Trang. Tối hôm đó, tại Nha Trang, Lucien Conein thuyết phục Tướng Đôn làm đảo chánh và Tướng Đôn đã đồng ý. Ngày 5.10.1963, Lucien Conein lại đến bàn chuyện này với Tướng Dương Văn Minh. Tướng Minh cũng đồng ý. Tướng Đôn được giao cho phối trí lực lượng, còn Tướng Minh lãnh đạo Hội Đồng Cách Mạng. Tất cả nằm dưới sự chỉ đạo của Lucien Conein và Tướng Khiêm.

1.- Vai trò của Lucien Emile Conein

Chúng tôi chưa tìm được tài liệu nào nói về điệp viên Al Spera, nhưng chúng tôi có khá nhiều tài liệu về điệp viên Lucien Emile Conein. Ông sinh năm 1919 tại Paris, mồ côi cha sớm, lúc mới 5 tuổi được mẹ gởi sang Hoa Kỳ sống với bà dì tại Kansas City thuộc tiểu bang Kansas, nhưng vẫn giữ quốc tịch Pháp. Ông đã từng làm điệp viên cho OSS (tiền thân của CIA) từ năm 1943 với cấp bậc Trung Úy, hoạt động chống Đức Quốc Xả trong Đệ Nhị Thế Chiến ở Âu Châu, rồi qua Bắc Việt khi chiến tranh chấm dứt. Từ 1954 đến 1956 ông đến Việt Nam hoạt động trong toán đặc nhiệm dưới quyền của Đại Tá Edward Lansdale, người đã giúp Tổng Thống Ngô Đình Diệm chống lại nhóm Bảy Viễn và Tướng Nguyễn Văn Hinh. Sau đó, ông trở về Mỹ và tham gia Lực Lượng Đặc Biệt (Special Force), nhưng vẫn còn làm việc cho CIA.

Năm 1961 ông đã xin về hưu, nhưng năm 1962 ông được CIA gọi làm việc trở lại và phong cho chức Trung Tá với bí danh là Lulu hay Black Luigi, rồi gởi qua Sài Gòn làm cố vấn cho Bộ Nội Vụ. Nhưng trong thực tế, Lucien Conein có nhiệm vụ móc nối với các tướng Việt Nam mà ông đã có dịp quen biết khi phục vụ dưới quyền của Đại Tá Lansdale, để chuẩn bị tổ chức đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Đại Sứ Henry Cabot Lodge gọi Lucien Conein là “the indispensable man” (con người rất cần thiết). Còn trong cuốn "Vietnam: A History," sử gia Stanley Karnow nói rằng Lucien Conein là “một người lập dị, một người náo nhiệt, một nhân viên tình báo rất nhạy cảm và hoàn toàn chuyên nghiệp, thường không thể kiểm soát được” Sau này, Everette E. Howard Hunt cũng đã dự tính dùng Lucien Conein trong vụ Watergate.

Mỗi lần được phỏng vấn, Lucien Conein thường mở đầu câu chuyện bằng câu: “Bây giờ, đây là sự thật hai mặt, là thứ danh dự của hướng đạo sinh, là sự thật hai mặt” hay “Đừng tin bất cứ điều gì tôi nói; tôi là một tên nói dối chuyên nghiệp”

Khi cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963 xẩy ra, Lucien Conein đến Bộ Tổng Tham Mưu chỉ đạo trực tiếp. Ông ngồi trên ghế của Tướng Lê Văn Tỵ, đặt hai túi bạc dưới ghế, hai chân gác lên bàn, bên cạnh có khẩu 375 Magnum, chỉ huy các tướng Việt Nam thực hiện. Trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng, Tướng Trần Văn Đôn cho biết khi hay tin ông Diệm và ông Nhu đã ra khỏi Dinh Gia Long, Lucien Conein đã hỏi: “Hai ông ấy đi đâu? Phải bắt lại cho kỳ được, vì rất quan trọng”. Lucien Conein đã nói với các tướng đảo chánh bằng tiến Pháp: “On ne fait pas d'omelette sans casser les oeufs.” (Người ta không thể làm món trứng rán mà không đập bể những cái trứng.) (trang 228)

Khi bước xuống thuyền đài ngày 3.6.1998 tại Virginia, Lucien Conei đã ôm theo khá nhiều bí mật của cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963.

2.- Tướng Trần Thiện Khiêm

Trong cuốn “Việt Nam nhân chứng”, Tướng Trần Văn Đôn nói rằng trong kế hoạch đảo chánh, ông rất dè dặt với Tướng Khiêm vì tướng này rất được ông Diệm và ông Nhu tin cậy. Vợ ông, bà Đinh Thị Yến, lại có chân trong ban chấp hành Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới Trung Ương của bà Nhu và là dân biểu Quốc Hội, thường đi sát với bà Nhu. Ông nhờ Tướng Minh thăm dò. Qua một người Mỹ “cam kết và tìm hiểu”, Tướng Minh cho biết Tướng Khiêm đồng ý tham gia đảo chánh.

Khi viết như vậy, Tướng Đôn không biết gì nhiều về sự sắp xếp của CIA trong cuộc đảo chánh này. Ngay cả khi lệnh giết ông Diệm và ông Nhu được CIA truyền xuống, Tướng Đôn cũng không hề được cho biết. Một vài câu chuyện sau đây do một nhân chứng có mặt tại Bộ Tổng Tham Mưu trong suốt thời gian cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963 xẩy ra, cũng đủ cho chúng ta thấy vài trò của Tướng Khiêm quan trọng như thế nào:

- Khoảng 1 giờ 25 trưa ngày 1.11.1963, Tướng Khiêm bước ra bước vào nơi ông làm việc. Đúng 1 giờ 30, tin đảo chánh được phổ biến, các tướng lãnh liên miên ra vào văn phòng Tướng Khiêm.

- Sáng 2.11.1963, có người đem bộ complet màu xám sậm đến đứng ở lầu ba chờ. Tùy phái của Tướng Khiêm ra hỏi thì được biết người này được gọi đem áo tới cho Tổng Thống Diệm. Khoảng 9 giờ, một đại tá bước vào phòng Tướng Khiêm. Hai phút sau, đại tá này bước ra và bảo người kia đem bộ đồ complet về, vì Tổng Thống đã chết! Trên lầu, nhiều tướng lãnh ra vào phòng Tướng Khiêm rất nhộn dịp. Buổi tối, sau khi xác ông Diệm và ông Nhu được liệm xong, một báo cáo đã được trình lên cho Tướng Khiêm biết.

- Khuya 3.11.1963, khi mọi việc đã xong xuôi, Tướng Khiêm cho gọi Đại Tá Trần Văn Trung, Tham Mưu Phó Nhân Viên, và Đại Tá Đặng Văn Quang, Tham Mưu Phó Tiếp Vận, vào văn phòng ông và ra lệnh: “Hai ‘toi’ trực ở đây đêm nay, ‘moi’ về nghỉ.

- Một tuần lễ sau, Tướng Khiêm bước vào ban văn thư và hỏi Đại Úy Phạm Bá Hoa, chánh văn phòng của ông: “Có cho anh em mỗi người lên một cấp chưa? Nếu có gì xảy ra, ‘moi’ bay đầu thì các anh em cũng không được yên đâu.”

Đọc thêm cuốn “Đôi dòng ghi nhớ” của Đại Tá Nguyễn Bá Hoa, độc giả sẽ thấy rõ hơn quyền hành của Tướng Khiêm trong cuộc đảo chánh này.

LỆNH HÀNH QUYẾT

Từ trước đến nay, chúng ta thường tranh luận về ai đã ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Nay cuốn băng của Tổng Thống Johnson đã chính thức xác nhận rằng chính quyền Kennedy (Kennedy administration) đã ra lệnh giết, nên vấn đề này không cần phải tranh luận nữa.

Lệnh hành quyết do Washington truyền cho Đại Sứ Lodge ở Sài Gòn. Ông này truyền cho Trần Thiện Khiêm và Dương Văn Minh qua Lucien Conein. Tướng Minh giao cho cận vệ của mình là Đại Úy Nguyễn Văn Nhung thi hành dưới sự chỉ đạo của Tướng Mai Hữu Xuân. Các sĩ quan khác, kể cả Tướng Đôn, đều không biết gì hết.

Như đã nói ở trước, ngoài Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu, Đại Sứ Henry Cabot Lodge đã quyết định giết thêm Ngô Đình Cẩn và Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt. Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh cho Nguyễn Văn Nhung đưa Đại Tá Lê Quang Tung ra nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế phía sau Bộ Tổng Tham Mưu đâm chết và vùi thây ở đó. Muốn giết ông Ngô Đình Cẩn, CIA phải lừa ông vào Tòa Lãnh Sự Mỹ ở Huế, nói rằng sẽ cho đi ngoại quốc, sau đó dùng công điện báo cáo láo về Washington nói rằng trong nhà ông Cẩn có hầm chôn người và súng, dân chúng đang biểu tình, rồi giao ông Cẩn cho Tướng Khánh giết. Trơng cuốn “Việt Nam Nhân Chứng”, Tướng Đôn xác nhận trong nhà ông Cẩn không hề có hầm chôn người hay súng.

Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng sở dĩ Tổng Thống Johson đã gọi nhóm tướng lãnh được thuê làm đảo chánh là “một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” vì hai lý do: Lý do thứ nhất là cách thức giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu. Chưa một nhà lãnh đạo nào trên thế giới đã bị bọn tay chân bộ hạ thân tín, được hưởng nhiều ơn mưa móc, giết một cách thê thảm như thế trong một cuộc đảo chánh. Lý do thứ hai là sự tham nhũng và bất tài của nhóm này.

HÀNH ĐỘNG ÁC ÔN CÔN ĐỒ

Khoảng 10 giờ ngày 2.11.1963, khi chiếc M113 chở xác ông Diệm và ông Nhu về đến Bộ Tổng Tham Mưu, đậu trên sân cỏ phía tay phải. Mở cửa xe phía sau ra, người ta thấy ông Diệm mặc bộ complet màu xám sậm, ông Nhu mặc bộ complet màu hơi nâu tím. Cả hai bị trói thúc ké tay sau lưng, nằm nghiêng trên sàn xe, máu me dầm dề. Một quân cảnh đứng gác tại đó cho biết, Tướng Dương Văn Minh đã xuống và tự tay vạch quần ông Diệm ra xem có “chim” không!

Với các dấu vết trên hai xác chết như vậy, nhiều người đã đặt câu hỏi: Hai ông đã bị giết như thế nào? Cách tường thuật của mỗi người mỗi khác.

Trong cuốn “Assassin in our Time” (Kẻ sát nhân trong thời đại chúng ta) xuất bản năm 1976, ở trang 142, Sandy Lesberg đã mô tả như sau: Ông Diệm và ông Nhu ngồi với hai tay trói sau lưng. Trong khi ông Diệm giữ im lặng, bất thình lình viên thiếu tá dùng dao găm (bayonet) đâm ông Nhu 15 hay 20 lần. Sau đó, hắn ta rút súng lục bắn vào sau đầu ông Diệm. Thấy ông Nhu còn quằn quại trên sàn, viên thiếu tá ban cho ông ta một cú ân huệ bằng cách cũng bắn vào đầu ông ta.

Sandy Lesberg không cho biết ông đã lấy tin này từ ai. Thật ra, lúc đó Nguyễn Văn Nhung còn là Đại Úy, sau này mới được thăng Thiếu Tá.

Với cuốn “Les Guerres du Vietnam” (Chiến tranh Việt Nam” xuất bản năm 1985, Tướng Trần Văn Đôn không hề mô tả gì đến cách giết ông Diệm và ông Nhu, mà chỉ mô tả về sự tàn ác của sát thủ Nguyễn Văn Nhung mà thôi.

Bà Ellen J. Hammer, tác giả của cuốn “A Death in November” (Cái chết vào tháng mười một), nói rằng khi chiếc xe chở ông Diệm và ông Nhu dừng lại ở cổng xe lửa đường Hồng Thập Tự, Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa từ trên miệng cửa xe lia một tràng tiểu liên vào hai ông Diệm và Nhu. Đại Úy Nhung rút súng Colt ra bồi thêm mấy phát vào đầu. Nhưng thấy chưa thỏa lòng, Nhung rút dao găm đâm tới tấp vào ngực hai anh em ông Diệm.

Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa phủ nhận lời tường thuật này, ông nói rằng ông không ngồi trên xe chở ông Diệm và ông Nhu lúc đó. Nếu chính ông đã giết ông Diệm và ông Nhu, người ta cũng đã giết ông như giết Nguyễn Văn Nhung rồi.

Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa là một đảng viên đảng Đại Việt, thuộc vào loại căm thù nhà Ngô, sau này đã được Tướng Nguyễn Khánh cho ngồi ghế phụ thẩm quân nhân của Tòa Án Cách Mạng, xét xứ và tuyên án tử hình ông Ngô Đình Cẩn theo lệnh của Henry Cabot Lodge, mặc dù không có bằng chứng xác thực. Do đó, nhiều người vẫn tin vào lời tường thuật của bà Sandy Lesberg.

Có lẽ Tướng Nguyễn Chánh Thi là người biết rõ Đại Úy Nguyễn Văn Nhung đã giết ông Diệm và ông Nhu như thế nào, vì sau cuộc “chỉnh lý” ngày 30.1.1964, trước khi ra lệnh giết Đại Úy Nhung để phi tang một nhân chứng quan trọng (có lẽ theo lệnh của CIA), ông đã đích thân lấy lời khai của Nhung và còn bắt Nhung ngồi viết lời khai về vụ này. Ông có cho tôi nhìn qua tờ khai này năm 1968 khi đang ở Washington D.C. Nhưng rất tiếc, khi xuất bản cuốn “Việt Nam: Một trời tâm sự”, ông đã không cho in nguyên văn tờ khai này, mà tự ý sửa đổi và cắt bớt đi. Tướng Mai Hữu Xuân được đổi thành Tướng Thu, mặc dầu trong Quân Lực VNCH lúc đó không có tướng nào tên là Tướng Thu cả. Theo tờ khai mà Tương Thi công bố trong cuốn sách nói trên, Đại Úy Nhung đã khai như sau:

Khi xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu chạy được chừng 500 thước, Thiếu Tướng Thu (tức Mai Hữu Xuân) chạy xe ngược chiều trở lại và đưa lên một ngón tay trỏ. Đang còn ú ớ chưa biết giết ai, ông Diệm hay ông Nhu, họ định chạy qua để hỏi lại cho rõ thì dân chúng ùa ra xem rất đông, không chạy qua được. Bổng Thiếu Tướng Thu đưa hai ngón tay, họ hiểu rằng ông ra lệnh bắn cả hai người. Thiếu tá Nhung liền rút súng Colt 12 bắn mỗi người 5 phát, và sau đó bắn ông Nhu thêm ba phát vào ngực nữa.

Tướng Lê Minh Đảo, lúc đó là Đại Úy tùy viên của Tướng Lê Văn Kim, đã cho biết như sau: Sau khi ông Diệm và ông Nhu bị hạ sát ít lâu, Nguyễn Văn Nhung có kể lại chuyện này cho ông nghe. Nhung nói rằng khi được lệnh giết cả hai ông, Nhung đã bắn ông Nhu trước. Ông Diệm thấy thế đã nhắm mắt lại. Nhung liền bắn ông Diệm 5 phát. Sau đó quay qua bắn ông Nhu thêm 3 phát nữa. Điều này phù hợp với lời khai mà Tướng Nguyễn Chánh Thi đã công bố.

Tuy nhiên, sự thật không phải chỉ có thế. Xác ông Diệm và ông Nhu đã được đưa vào bệnh xá của Bộ Tổng Tham Mưu để khám nghiệm. Bác sĩ Huỳnh Văn Hưỡn (hiện nay ở New York), giám đốc bệnh xá này lúc đó, đã khám nghiệm và chứng nhận rằng cả ông Diệm lẫn ông Nhu đã bị bắn từ sau ót ra trước. Xác ông Diệm có nhiều vết bầm, chứng tỏ đã bị đánh đập trước khi bắn. Xác ông Nhu bị đâm nhiều nhát, áo rách nát và đầy máu. Vậy ông Diệm và ông Nhu đã bị trói, đánh đập và đâm lúc nào?

Một nhân chứng rất quan trọng hiện đang ở Melbourne, Úc Châu, cho biết ông là người đi trên chiết M113 chở ông Diệm và ông Nhu từ nhà thờ cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu, nên đã chứng kiến những sự việc xẩy ra. Câu chuyện ông kể lại có vẽ hợp lý hơn cả.

Theo nhân chứng này, vào trưa 1.11.1963, chi đoàn thiết giáp của ông được lệnh vào Sài Gòn để tăng cường bảo vệ thủ đô. Khi đến Sài Gòn, chi đội này được chia làm hai toán, một toán hợp lực với quân bạn bao vây Dinh Gia Long, một toán làm vòng đai an ninh cho Bộ Tổng Tham Mưu. Nhân chứng ở trong toán đóng tại Bộ Tổng Tham Mưu.

Sáng 2.11.1963, khoảng 6 giờ 15 phút, toán ông được lệnh di chuyển ra khỏi Bộ Tổng Tham Mưu. Khi vừa ra khỏi cổng chính thì thấy có 3 chiếc xe Jeep đang chờ. Chiếc thứ nhất có Tướng Mai Hữu Xuân và 3 cận vệ. Chiếc thứ hai chở Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Úy Nguyễn Văn Nhung và Đại Úy Dương Hiếu Nghĩa. Chiếc thứ ba chở 4 người, trong đó có Đại Úy Phan Hòa Hiệp. Sau đó là hai chiếc M113. Nhân chứng ngồi ở chiếc thứ nhì. Cuối cùng là 2 chiếc GMC chở đầy lính có vũ trang đầy đủ.

Khi đến Chợ Lớn, gần một nhà thờ, xe chạy chậm lại, các binh sĩ trên hai chiếc GMC được lệnh nhảy xuống, một số bố trí xung quanh nhà thờ, số còn lại bố trí ở vòng ngoài. Xe Tướng Xuân chạy một vòng rồi đậu lại bên kia đường.

Sau cái phất tay của Đại Tá Dương Ngọc Lắm, ba đại úy Nhung, Nghĩa và Hiệp nhảy xuống xe. Đại Tá Lắm ngoắc chiếc M113 có nhân chứng ngồi trên đó đi theo. Nhân chứng cũng nhảy xuống xe. Khi cách Đại Tá Lắm khoảng 2 thước, nhân chứng thấy có 4 người từ trong nhà thờ đi ra. Người đi đầu là Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Người đi tiếp theo là ông Ngô Đình Nhu. Sau cùng là hai tùy viên (Đại Úy Đỗ Thọ và ông Nguyễn Đắc Khá). Đại Tá Lắm đến chào ông Diệm:

- Thừa lệnh Trung Tướng Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, chúng tôi đến đón cụ và ông cố vấn.

Ông Diệm:

- Ông Đôn và ông Minh đâu hè?

Đại Tá Lắm:

- Thưa cụ, hai ông còn đang bận việc ở Tổng Tham Mưu.

- Thôi được. Thế tôi và ông cố vấn đi cùng xe kia với ông.

Đại Tá Lắm quay người lại chỉ vào chiếc M113 và nói:

- Thưa cụ, xin cụ lên xe này cho.

Ông Nhu khẻ nhíu mày lên tiếng:

- Không thể đón Tổng Thống bằng một chiếc xe như vậy. Để tôi liên lạc với ông Đôn, ông Đính coi xem.

Đại Tá Lắm khẽ nhún vai:

- Tôi không biết. Đây là lệnh của Trung Tướng Chủ Tịch.

Đại Úy Nhung liền oang oang:

- Xin mời hai ông lên xe ngay cho đi.

Mặt ông Nhu đỏ bừng, giọng rất quyết liệt:

- Không được. Để tôi hỏi lại ông Minh, ông Đôn. Tôi đi xe nào cũng được, nhưng còn Tổng Thống...

Đại Úy Nhung:

- Ở đây không còn Tổng Thống nào cả.

Ngay lập tức, Nhung bảo hai quân nhân chạy đến đẩy hai ông lên xe và hạ cửa xe xuống...

Xe đi hết đường Nguyễn Trãi, vào đường Võ Tánh đến trước Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia thì ngừng lại. Tổng Nha này đã bị chiếm từ ngày hôm trước nên không còn một cảnh sát nào lui tới. Chung quanh, các binh sĩ thuộc Sư Đoàn 5 của Đại Tá Ngưyễn Văn Thiệu canh gác rất cẩn mật.

Một Đại Tá từ trên xe Jeep nhảy xuống, bảo các binh sĩ trên xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu xuống xe hết. Bảy người trên xe nhảy xuống, nhưng tài xế và anh hạ sĩ xạ thủ được ra lệnh ở lại. Xe được lệnh đi vào Tổng Nha.

Khoảng 20 phút sau, chiếc M113 lại từ Tổng Nha chạy ra. Các binh sĩ lúc nãy được lệnh leo lên xe lại. Xe chạy ngược đường Võ Tánh trở lại đường Cộng Hòa. Nhân chứng hỏi hạ sĩ xạ thủ:

- Ông Diệm và ông Nhu đâu?

- Ở dưới.

- Sao rồi?

- Ông Nhu bị tra tấn khủng khiếp rồi bị xiết cổ chết bằng dây điện. Người ta hỏi ông ta nhiều lần: Vàng, bạc, tiền của cất đâu? Ai giữ? Cơ sở kinh tài gồm những cơ sở nào? Ông Nhu trả lời không biết.

- Còn ông Diệm?

- Ông Diệm bị đè cổ ra trói thúc ké rồi ném vào hầm xe.

- Chết hay sống?

- Không biết.

Xe qua khỏi trường Petrus Ký rồi quẹo phải vào đường Hồng Thập Tự thì gặp lại 2 xe Jeep và hai xe chở binh sĩ lúc xuất hành buổi sáng. Xe Đại Tá Dương Ngọc Lắm đi đầu, xe thứ hai có Đại Úy Nhung. Khi đến đường Cao Thắng, bên hông bệnh viện Từ Dũ, xe ngừng lại vì bên kia đang có xe của Tướng Xuân chạy ngược trở lại. Dân chúng ra xem rất đông. Tướng Xuân nhìn Đại Úy Nhung và đưa hai ngón tay trái lên hai lần. Sau đó, ông đưa ngón tay trỏ lên khỏi đầu và co vào duỗi ra đến 4 lần (gióng như bóp cò). Đại Úy Nhung gật đầu rồi đưa tay lên chào.

Khi xe đến gần đường rầy xe lửa thì dừng lại trước cổng xe đã được đóng lại vì đang có đoàn xe lửa đi qua. Đại Úy Nhung từ chiếc xe Jeep nhảy qua chiến M113 có chở ông Diệm và ông Nhu và la lớn: “Xuống! Xuống!” Các binh sĩ trên xe M113 nhảy xuống hết. Nhân chứng vừa nhảy xuống đất thì nghe nhiều tiếng súng nổ...

Những lời tiết lộ của nhân chứng này cho chúng ta thêm những yếu tố mới, nhất là đoạn hai ông bị đưa vào Tổng Nha Cảnh Sát để tra tấn và khảo của. Trò khảo của này là một “sở trường” của Tướng Mai Hữu Xuân. Sự tiết lộ này đã giúp giải thích tại sao hai ông bị trót tay ra phía sau lưng, trên mặt ông Diệm có nhiều vết bầm và trên người ông Nhu có nhiều lát dao đâm. Nguyễn Văn Nhung chỉ leo lên xe M113 trong một thời gian ngắn, không thể gây ra tất cả những thứ đó được.

Sau khi thi hành xong lệnh của chủ và lãnh tiền công, “bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” cấu xé nhau về chức quyền và tiền bạc, đưa tới mất mất chủ quyền quốc gia, rồi đến mất nước.

Bây giờ ở nơi các địa tầng “naraca”, Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim, Đỗ Mậu, Nguyễn Văn Thiệu, Dương Ngọc Lắm, Nguyễn Văn Quan, Nguyễn Văn Nhung... đang cùng với hai “ông thầy” Henry Cabot Lodge, Lucien Emile Conein nghiền ngẩm về lời nguyền rủa của Tổng Thống Johnson. Nghe nói trong những năm cuối cùng, Mai Hữu Xuân đã phát điên, thỉnh thoảng quỳ quay vào tường, chấp tay van lạy: “Xin cụ tha cho con!”.

Nơi chốn luân hồi, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang... không dám bước ra nhìn ánh sáng, Tôn Thất Đính thất thểu như một bóng ma...


Tú Gàn

BẢN CHỤP PHIẾU ĐỆ TRÌNH TIỄN CIA CHI CHO CÁC TƯỚNG TÁ THAM DỰ ĐẢO CHÁNH 01-11-1963

Các tài liệu mật từ văn khố của Hoa Kỳ được công khai hóa trong thời gian vừa qua đã cho thấy Mỹ đã dàn dựng nên cái gọi là "Đàn áp Phật Giáo" năm 1963 và mua chuộc các tướng tá đảo chánh lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm và nền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam vào ngày 01-11-1963. Bọn nhận tiền Mỹ và bọn căm thù hai ông Diệm và Nhu đã đảo chánh và giết chết hai ông một cách hết sức dã man. Khi đề cập về bọn này và cái chết của hai ông Diệm và Nhu, Tổng Thống Hoa Kỳ Johnson đã nói: “Lúc đầu họ nói với tôi về ông Diệm. Ông ta tham nhũng và ông ta phải bị giết. Vì thế, chúng ta đã giết ông ta. Tất cả chúng ta đã họp lại với nhau và xử dụng một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa để hạ sát ông ta. Bây giờ chúng ta không có sự ổn định chính trị [ở Miền Nam Việt Nam] từ lúc đó.”

Ở trên là hình chụp lại phiếu đệ trình nhận tiền do CIA chi cho các tướng tá tham dự vào cuộc đảo chánh ngày 01-11-1963. Thật ra ngoài các tướng tá có tên trong phiếu nhận tiền này, còn có cả những tướng lãnh khác vốn có thâm thù với các ông Diệm - Nhu - Cẩn và gia đình như các tướng Đỗ Mậu, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim, Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Có, Trần Văn Đôn, Dương Ngọc Lắm, Dương Hiếu Nghĩa v.v... và tên tay sai đồ tể Nguyễn Văn Nhung. Và cũng còn có những khoản tiền và lợi lộc khác bọn họ nhận được từ cuộc đảo chánh này.

Click vào đây để xem ảnh chụp khổ lớn:
ẢNH CHỤP KHỔ LỚN

by AI HUU NINH THUAN
05/03/08. 10:14:15 am. 450 words, 102 views. Categories: Không ðề, Thiên hạ sự, Lịch sử thế giới, Hậu trường, Liên kết blogs ,

CHUYỆN TẢN MẠN LỊCH SỬ


Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Chuyện “Tản mạn lịch sử”
Source: thongtinberlin

Lữ Giang

Thật là đáng xấu hổ khi có những người mang danh là "nhà sử học" lại viết sử theo trí tưởng tượng và viện dẫn những bằng chứng vô giá trị và xuyên tạc sự thực. Những người ấy nếu biết được câu chuyện của Sir Walter Raleigh thì có lẽ họ sẽ hổ thẹn mà thắt cổ tự vẫn nếu họ còn liêm sỉ ( Không biết có được đảm lược đó hay không?!) - AHNT

Trong những tháng qua, tuần báo Việt Tide ở Orange County, California, đã cho đăng một loạt bài của Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng, nói vế cuộc chiến Việt Nam từ năm 1945 đến 1963 dưới đều đề “Tản mạn lịch sử”, sau đó được đài Little Sài Gòn cho đọc đi đọc lại như là các thiên phóng sự! Tuy nhiên, nhiều người đã than phiền khi nghe những bài đó, vì có nhiều chỗ không phản ảnh đúng những sự thật đã xẩy ra và được nhiều người biết đến.

BÓP MÉO LỊCH SỬ

Không hiểu hai sử gia Lê Mạnh Hùng và Lê Mạnh Thát có họ hàng gì với nhau hay không, nhưng cách viết sử của cả hai người hoàn toàn giống nhau: Đưa ra kết luận trước rồi đi tìm những tài liệu hay lập luận để chứng minh kết luận của mình là đúng. Trong khi Đảng CSVN viết sử “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, còn Lê Mạnh Thát và Lê Mạnh Hùng đã viết sử theo định hướng nào?

1- TS Lê Mạnh Thát: Ông được nói là đã “trá hàng Việt Cộng để làm văn hóa, hoằng pháp...” Nhưng ông đã “làm văn hóa” và “hoằng pháp” như thế nào? Ông đi lục lọi các tài liệu để chứng minh “Phật Giáo là dân tộc và dân tộc là Phật Giáo”. Chủ thuyết này do nhóm Phật Giáo cực đoan đưa ra từ năm 1963 với mục tiêu đòi hỏi Phật Giáo phải nắm quyền lãnh đạo quốc gia!

Để chứng minh “Phật giáo là dân tộc”, TS. Lê Mạnh Thát đã tìm cách chứng minh Phật Giáo đã du nhập vào Việt Nam từ thời Hùng Vương và có thể có một vài vua Hùng nào đó đã mang họ “Thích” như Thích Hùng Nghị Vương hay Thích Hùng Duệ Vương chẳng hạn.

Nhưng theo các sử gia, 18 đời vua Hùng của nước Văn Lang kéo dài khoảng từ năm 696 đến năm 258 trước công nguyên, còn Phật Giáo được nói là đã du nhập vào Việt Nam khoảng thế kỷ thứ nhất sau công nguyên. Như vậy làm sao có thể nói Phật Giáo đã du nhập vào Việt Nam vào thời các vua Hùng được?

Để chứng minh thuyết của mình là đúng, TS. Lê Mạnh Thát đã kéo dài các đời vua Hùng ra đến sau công nguyên! Ông nói:

(1) Truyện mẹ Âu Cơ đẻ trăm trứng nở trăm con có nguồn gốc từ nước Phật.

(2) Truyền thuyết An Dương Vương không có thật, nó là phiên bản của một câu chuyện Ấn Độ, tức chuyện từ nước Phật.

(3) Triệu Đà không hề xâm lược nước Văn Lang và các đời vua Hùng đã kéo dài đến thời Hai Bà Trưng, tức đến thời Phật Giáo du nhập vào Việt Nam.Thế thì tại sao trong sử Tàu đã ghi rằng Tàu đã chiếm ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam của Việt Nam?

Ông giải thích rằng việc sử Tàu ghi như thế chỉ là một hình thức "đoạt khống" đất đai “nhằm thỏa mãn não trạng và ao ước bành trướng của nhà Hán mà thôi". Trong thực tế không có!Nam mô A Di Đà Phật!

2.- TS. Lê Mạnh Hùng: Ông cũng viết sử theo kiểu Lê Mạnh Thát, tức viết theo một định hướng đã định sẵn. Qua loạt bài “Tản mạn lịch sử”, thay vì trình bày việc Mỹ đã can thiệp vào Đông Dương như thế nào, ông lại đi tìm những sử liệu lẻ tẻ, có khi không chính xác, để chứng minh Ngô Đình Diệm sai lầm. Tuy nhiên, ông khôn khéo hơn Lê Mạnh Thát là không đi thẳng vào mục tiêu mà nói vòng vo Tam Quốc rồi quy vào cho Diệm.

Chúng ta hãy nghe đoạn mở đầu ông nói về Ngô Đình Diệm:

“Lịch sử quan hệ của ông Diệm với Mỹ bắt đầu vào năm 1950 khi Wesley Fishel, một nhà chính trị học trẻ tuổi (sau này trở thành giáo sư trường đại học Michigan State University) gặp ông Diệm tại Sài Gòn. Fishel sau đó vận động cho ông Diệm được sang Mỹ và giới thiệu ông với Đức Hồng Y Spellman của New York, một trong những chức sắc Công Giáo có ảnh hưởng nhất tại Mỹ lúc bấy giờ. Năm 1953, Hồng Y Spellman giới thiệu ông Diệm với các thượng nghị sỹ John F. Kennedy và Mike Mansfield.“

Sự kiện rằng ông Diệm đã từng tu tại một tu viện ở Mỹ trong những năm 1950-53. Đọc đoạn này, nhiều người có cảm tưởng như TS. Lê Mạnh Hùng đã chép lại những chuyện bịa đặt trong hai cuốn “Việt Nam máu lửa quê hương tôi” và “Tâm Thư” của nhóm Đỗ Mậu hay cuốn “Phong trào Phật Giáo miền Nam Việt Nam” của tên Lê Cung, v.v... Nhưng Đỗ Mậu chỉ có trình độ tiểu học và Lê Cung chỉ là tên tiến sĩ dỏm của Việt Cộng, còn Lê Mạnh Hùng là Tiến Sĩ thật, không lẽ đi nhai lại luận điệu của những tên hạ cấp này sao?

Khi viết câu chuyện bịa đặt nói trên, TS. Nguyễn Mạnh Hùng đã để lộ một sai lầm rất ấu trĩ: Wesley Fishel, một nhân viên CIA, khi vận động cho ông Diệm qua Mỹ, tại sao không giới thiệu ông ta với một viên chức chính phủ hay một chính trị gia Mỹ mà lại giới thiệu với ĐHY Spellman? Sự mở đầu như thế này đã cho chúng ta thấy sự thiếu ngay thẳng và dụng ý của TS. Lê Mạnh Hùng. Dưới đây, chúng tôi xin trình bày qua vài nét về cuộc ra đi vận động ngoại quốc của ông Diệm năm 1950 để độc giả có thể nhận ra TS Lê Mạnh Hùng đã viết sử bừa bãi như thế nào.

Để tránh sự theo dõi của Pháp, nhân dịp Năm Thánh (Holly Year) hay còn được gọi là Năm Toàn Xá (Jubilee Year) vào năm 1950, ông Diệm và Giám Mục Ngô Đình Thục đã xin đến Roma dự Năm Thánh, nhưng khi đi lại đi vòng qua Nhật và Mỹ. Tháng 8 năm 1950, ông cùng Giám Mục Ngô Đình Thục đến Hương Cảng rồi qua Đông Kinh. Tại Nhật, ông gặp Hoàng Thân Cường Để và một số nhân vật trong chính quyền Nhật. Cũng tại Nhật ông Diệm đã gặp một người Mỹ trẻ tên là Wesley R. Fishel, lúc bấy giờ đang làm việc cho CIA dưới danh nghĩa của Đại Học Michigan... Ông ta nói ông ta sẵn sàng giúp ông Diệm đến Hoa Kỳ để trình bày vấn đề của ông ta. Ông cũng đã thuyết phục trường Đại Học Michigan bảo trợ cho chuyến đi này. (Marvin E. Gettleman & others, Vietnam and America: A documented History, Grove Weidenfeld, New York, 1985, tr. 119).

Hai anh em ông Diệm đã đến Hoa Kỳ vào cuối hè năm 1950, mang theo một giấy giới thiệu với Tổng Giám Mục Paul Yu Pin, Viện Trưởng Học Viện Văn Hóa Trung Hoa tại Hoa Kỳ. Khi mới đến Hoa Kỳ, ông Diệm và Giám Mục Thục đã cư ngụ tại Học Viện Văn Hóa Trung Hoa vài tháng và đi thăm nhiều nơi tại Hoa Kỳ.

Nhờ đi theo Giám Mục Ngô Đình Thục, ông đã đến thăm Đức Hồng Y Francis J. Spellman (1889-1967), Tổng Giám mục New York và là Tổng Tuyên Úy Quân Đội Hoa Kỳ, một người đang có nhiều ảnh hưởng tại Hoa Kỳ.

Ngày 21.9.1950, hai ông đã gặp William S. B. Lacy, Giám Đốc Văn Phòng Phi luật Tân và Nam Á Châu Sự Vụ tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Lacy liền báo cáo cho đại diện của chính phủ Hoa Kỳ tại Saigon biết: Hai ông tiếp tục chỉ trích sự đô hộ của Pháp, nhưng cũng như các chính trị gia nổi bật khác, ông ta nói mãi về những sai lầm trong quá khứ và tình trạng vô vọng hiện tại mà không đưa ra bất cứ giải pháp xây dựng nào cho tình thế tiến thoái lưỡng nan hiện tại (current dilemma). (FRUS, 1950, VI, tr. 884 – 886).

Sau khi qua Roma dự Năm Thánh, viếng thăm Đức Giáo Hoàng Pio XII, ông Diệm đã đi một vòng viếng thăm Pháp, Thụy Sĩ và Bỉ rồi trở lại Pháp, còn Giám Mục Ngô Đình Thục trở về Việt Nam sau khi hành hương Tây Ban Nha.

Khi ở Pháp, lúc đầu ông Diệm ở nhà người em là ông Ngô Đình Luyện ở Choisy, vùng ngoại ô Paris. Sau đó, ông đến cư ngụ tại nhà ông Tôn Thất Cẩn ở 28 Rue Kleynoff, 94250 Gentilly, Paris, phía sau khu Học Xá Đại Học Paris. Ông Cẩn là con của Quận Vương Tôn Thất Hân, từng là Phụ Chính trong Triều Đình Huế và rất thân với ông Ngô Đình Khả, thân phụ của ông Diệm.

Rất nhiều người tìm đến gắp ông Diệm, nên nhà chức trách Pháp muốn ông ra khỏi nước Pháp. Không biết ai đã báo tin đó cho tu viện Mary Knoll ở New Jersey hay do một sự tình cờ, tu viện này đã viết thư mời ông Diệm trở lại Mỹ làm nhân viên giảng dạy đặc biệt cho tu viện, nên đầu năm 1951 ông Diệm trở lại Hoa Kỳ và lưu trú trong tu viện Mary Knoll ở Lakewood thuộc tiểu bang New Jersey hay ở Ossining thuộc tiểu bang New York,

Trở lại Hoa Kỳ, ông Diệm lại đến gặp các viên chức của Bộ Ngoại Giao và trình bày về những thăm dò của ông ở Pháp. Sau đó, Bộ Ngoại Giao đã gởi cho đại diện của Hoa Kỳ tại Sài Gòn một bản tường trình ngắn về cuộc gặp gỡ này, nói rằng ông Diệm đã bắn tiếng cho Bảo Đại biết rằng để đối phó với cuộc khủng hoảng hiện tại ông đồng ý làm thủ tướng và thành lập một chính phủ mới, với điều kiện Bảo Đại phải dành thêm quyền hành cho chính phủ trung ương và chấm dứt sự ưu đãi ba chính quyền Phần (tức các Thủ Hiến Bắc, Trung và Nam Việt). Bản phúc trình cho biết ông Diệm nói năng quân bình hơn trước. Ông ta cảnh giác về sự đe dọa của Trung Hoa hơn là của Pháp. (FRUS, 1951, VI, tr. 348).

Chester L. Cooper, Phụ Tá của W. Averell Harriman là người đã quyết định số mạng của ông Ngô Đình Diệm, cho biết “ông ta có gặp Hồng Y Spellman, nhưng Spellman ít chú ý đến ông ta cho đến sau khi ông ta trở thành Thủ Tướng.” (he met Cardinal Spellman, but Spellman paid little attention to him until after he became Prime Minister.)(Chester L. Cooper, The Lost Crusade, American in Viet Nam, Dodd, Mead & Company, New York 1970, tr. 125).

Năm 1954, ĐHY Spellman đã yểm trợ tích cực cho chương trình tiếp cư và định cư cho đồng bào bỏ miền Bắc di cư vào Nam.

Trên đây chỉ là vài nét chính. Vấn đề đặt ra là nhóm Đỗ Mậu cố tình kết chặt ông Diệm với ĐHY Spellman là để đi tới kết luận rằng cuộc chiến do Pháp và Mỹ thực hiện ở Việt Nam đều theo lệnh của Vatican. Từ đó nhóm này kêu gọi người Việt hải ngoại, nhất là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, hãy “trở về với dân tộc”, tức trở về với Đảng CSVN. Vậy khi kết chặt ĐHY Spellman với ông Diệm như nhóm Đỗ Mậu, TS Lê Mạnh Hùng muốn gì?

CỐT LÕI CÂU CHUYỆN

Khi đọc đến đoạn viết về “Một liên minh nhiều sóng gió: Kennedy và Ngô Đình Diệm (1961-63)” chúng ta càng thấy rõ hơn trò viết sử lươn lẹo của Lê Mạnh Hùng.

Các tài liệu của Mỹ công bố cũng như quan điểm cùa nhiều sử gia và chính trị gia Mỹ đều tin rằng “sóng gió” thật sự gĩữa chính phủ Kennedy (chứ không phải Tổng Thống Kennedy) với ông Diệm đưa đến quyết định lật đổ và giết ông Diệm là vụ “trung lập hóa Lào”.

Trong cuốn “From Trust to Tragedy” (Từ Tín Nhiệm đến Thảm Kịch) ông Frederick Nolting, cựu Đại Sứ Hoa Kỳ tại VNCH thời chính phủ Ngô Đình Diệm, đã viết như sau: “Averell Harriman, đặc sứ của Tổng Thống Kennedy trong cuộc thương thuyết về Lào từ 1961 đến 1962, trở thành Phụ Tá Bộ Trưởng Ngoại Giao Đông Nam Á Sự Vụ năm 1962 và sau đó là Thứ Tưởng Ngoại Giao về Vấn Đề Chính Trị. Ông ta trở thành một viên chức hàng đầu của Bộ Ngoại Giao giải quyết vần đề Việt Nam trong đầu thập niên 1960. Mặc dầu công việc lâu dài và đặc biệt của ông đối với quốc gia chúng ta là trên những lãnh vực khác, Harriman đã phán đoán và lãnh đạo chính sách về Đông Nam Á, theo ý kiến của tôi, là tai hại. Âm mưu “trung lập hóa” Lào của ông ta là một sự thất bại thê thảm, và sự thù nghịch ngày càng gia tăng giữa ông với Tổng Thống Ngô Đình Diệm và gia đình của ông ta trở thành một yếu tố chủ yếu trong việc lật đổ ông Diệm. Tuy nhiên, thanh thế và ảnh hưởng của Harriman ở Washington lớn đến nổi trở thành quyết định trong các hành động cốt yếu mà chính phủ chúng ta đã thực hiện trong năm 1963.”

Thế nhưng TS. Lê Mạnh Hùng đã cố tình bỏ qua điểm chính đó và nói lòng vòng để quy tội cho chính phủ Ngô Đình Diệm, như ông Diệm không chịu thực hiện các cải tổ như Mỹ yêu cầu nên “viện trợ vẫn bị tắc nghẽn và cuộc chiến chống Cộng Sản tiếp tục không tiến triển”, việc thành lập Ấp Chiến Lược đã “đóng góp thêm vào những bất mãn của dân chúng nông thôn chống lại chế độ ông Diệm”, trong khi đó, “chính quyền lại không làm gì để gắn liền nông dân vào với chế độ”, v.v. .. Theo TS Hùng, những chuyện như thế đã đưa chế độ Ngô Đình Diệm đến thất bại.

Chúng tôi đồng ý ông Diệm đã thất bại, nhưng không phải thất bại vì những lý do TS. Lê Mạnh Hùng đã nêu ra.

Nếu TS Lê Mạnh Hùng chịu ngồi đọc lại kỹ từng tài liệu của Hoa Kỳ đã giải mã để biết các chính phủ Hoa Kỳ đã xây dựng rồi đập sập chế độ Ngô Đình Diệm như thế nào, ông sẽ không bao giờ viết một cách vu vơ như thế. Câu chuyện này khá dài, chúng tôi chỉ xin ghi những nét chính.

1- Sự phiêu lưu của Kennedy

Trước khi nhận chức, ngày 19.1.1961 ông Kennedy đã họp với Tổng Thống Eisenhower để nghe trình bày vấn đề Đông Dương. Tổng Thông Eisenhower nói rằng Hoa Kỳ quyết định bảo vệ sự độc lập của Lào. Theo ý kiến của ông, nếu Lào rơi vào tay Cộng Sản, sau đó chỉ còn là vấn đề thời gian cho đến khi Miền Nam Việt Nam, Cambodia, Thái Lan và Miến Điện sẽ sụp đổ. Ông nghĩ Cộng Sản đã có những đồ án về Đông Nam Á và thật là một thảm họa nếu để Lào sụp đổ.

Tổng Thống Eisenhower cho rằng Lào là mấu chốt của toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Nếu Lào sụp đổ, cả khu vực sẽ sụp đổ.(Memorandum of Conference on January 19, 1961 between President Eisenhower and President-elect Kennedy on the Subject of Laos).

Tuy nhiên, sau khi nhận chức, Tổng Thống Kennedy không thích đặt tầm quan trọng trong việc bảo vệ Lào như Tổng Thống Eisenhower chủ trương. Ông nói Tổng Thống Eisenhower đã nói với ông đủ thứ ngoài vấn đề Việt Nam. Ông muốn đưa ra những sáng kiến mới của chính ông. Nói một cách khác, ông không muốn là kẻ thừa kế chính sách Đông Nam Á của Tổng Thống Eisenhower. Ông thích một giải pháp ngoại giao hơn là giải pháp quân sự. ( Stevenson, The End of Nowhere, tr. 130 – 131).

Trong cuộc họp báo đầu tiên ngày 25.1.1963, Tổng Thống Kennedy nói ông muốn biến Lào thành “một nước độc lập, hòa bình và không liên kết”. Ông tuyên bố: “Tôi muốn cho dân chúng Mỹ và cả thế giới thấy rõ rằng chúng tôi muốn hòa bình ở Lào chứ không phải chiến tranh.” (John Kennedy, The Presidents Conference of March 23, 1961, tr. 214). Ông giao công việc “trung lập hóa” Lào cho Averell W. Harriman. Để Harriman có đủ uy thế và thẩm quyền thực hiện kế hoạch này, ngày 3.12.1961 ông cử Harriman làm Phụ Tá Bộ Trưởng Ngoại Giao về Viễn Đông Sự Vụ. Ngày 16.5.1961 Hội Nghị Quốc Tế Giải Quyết Vấn Đề Lào (The International Conference on the Settlement of the Laotian Question) đã được khai mạc tại Genève với sự tham dự của 14 nước.

Lúc đầu chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không chịu tham dự, nhưng do áp lực của Hoa Kỳ, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã phải cử Ngoại Trưởng Vũ Văn Mẫu dẫn một phái đoàn đến dự. Phái đoàn Bắc Việt do Ngoại Trưởng Ưng Văn Khiêm cầm đầu. Tuy nhiên, chính phủ Ngô Đình Diệm đã phản đối quyết liệt việc “trung lập hóa” Lào vì tin rằng giải pháp này chẳng những không chấp dứt sự xâm nhập của Cộng Sản Bắc Việt vào miền Nam mà còn giúp cho sự xâm nhập này được dễ dàng hơn.

2- Sự ngạo mạn của Harriman

Tháng 7 năm 1961, hoàng tử nước Moroco là Moulay Hassan lên ngôi kế vị cha, được gọi là Hoàng Đế Hassan II. Nhân dịp này, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cử ông Ngô Đình Nhu, Cố Vấn Chính Trị của Tổng Thống, đại diện chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đi dự lễ đăng quang này với mục đích tạo cơ hội cho ông Nhu ghé Genève thảo luận với Harriman về vấn đề trung lập Lào. Ông Nhu đã ghé qua Pháp rồi cũng Giáo sư Bửu Hội đến Rabat dự lễ. Sau đó ông trở lại Pháp rồi cùng ông Cao Xuân Vỹ và người con gái là cô Ngô Đình Lệ Thủy đền Genève gặp Harriman đang tham dự hội nghị trung lập Lào tại đây.

Ông Cao Xuân Vỹ tường thuật lại rằng, theo chương trình, ông Harriman chỉ chịu tiếp ông Nhu trong vòng nửa tiếng. Ông và cô Ngô Đình Lệ Thủy không được tham dự. Nhưng cuộc nói chuyện đã kéo dài đến 3 tiếng đồng hồ. Khi Harriman tiển ông Nhu đi ra cửa phòng, ông thấy mặt hại người đều hầm hầm. Sau đó, ông Nhu có than phiền với ông Vỹ: “Thằng cha này chẳng hiểu gì hết!”. Ông Vỹ hiểu rằng Harriman không chịu bỏ chủ trương trung lập hóa Lào.

Trong buổi ăn tối, ông Nhu đã tiết lộ hai điểm rất quan trọng nói lên sự ngạo mạn của Harriman:

(1) Harriman cho rằng Việt Nam chưa bằng California, thế mà người Mỹ còn mua được California, miền Nam Việt Nam không nghĩa lý gì. (California có diện tích 403.934 cây số vuông, trong khi toàn Việt Nam chỉ có 329.560 cây số vuông).

(2) Harriman khẳng định rằng vấn đề Lào là vấn đề riêng giữa chính phủ Mỹ và chính phủ Lào, không liên hệ gì đến Việt Nam. Chính phủ Việt Nam cứ lo vấn đề Việt Nam đi, đừng can thiệp vào vấn đề Lào. Ông Nhu trả lời rằng vấn đề Lào liên quan đến sự tồn vong của Miền Nam Việt Nam nên chính phủ Miền Nam phải quan tâm, nhưng Harriman gạt đi. (Phỏng vấn ông Cao Xuân Vỹ ngày 7.2.2008 tại Orange County, California).

Trung tuần tháng 9 năm 1961, Harriman phải đích thân đến Sài Gòn để thảo luận với các viên chức Hoa Kỳ và chính phủ Ngô Đình Diệm về giải pháp trung lập Lào. Một cuộc họp đã diễn ra ngày 20.9.1961 tại một căn phòng nhỏ ở Dinh Gia Long. Ông Diệm trình bày qua một thông dịch viên. Ông giải thích cho Harriman một cách thẳng thắn tại sao ông không tin tưởng Cộng Sản sẽ thi hành hiệp ước sau khi đã ký. Ông lui lại chuyện Cộng Sản đã phản bội hiệp ước từ thập niên 1930. Ông nói về kinh nghiệm của chính mình với Hồ Chí Minh và sự phản bội của Việt Minh đối với người anh của ông đã bị họ giết. Hồ sơ lịch sử được đưa ra khá dài và chính xác. Nó cho thấy rằng việc ký hiệp ước về Lào không có gì bảo đảm sẽ được thi hành.Tuy nhiên, Harriman đã không thèm nghe và nhắm mắt lại. Ông xem ra đang ngủ. Ông Diệm chú ý đến thái độ này và hơi bực mình, nhưng vẫn tiếp tục độc thoại.

Cuối cùng Harriman nói với ông Diệm: “Tôi không thể đưa ra cho ngài bất cứ bảo đảm nào, nhưng có một điều rõ ràng là: nếu ngài không ký hiệp ước này, ngài sẽ mất hết viện trợ. Ngài phải chọn.” (Frederick Nolting, From Trust to Tragedy, Preager, New York 1988, tr. 83).

3- Kết quả thê thảm!

Ngày 23.7.1962, Hiệp Ước Hòa Bình tại Lào đã được ký kết. Có 14 quốc gia đứng ra bảo đảm sự trung lập của Lào. Khi Tuyên Ngôn Trung Lập Lào được công bố, khoảng 666 cố vấn quân sự của Hoa Kỳ còn lại rút ra khỏi Lào. Tất cả các đơn vị QLVNCH đang hành quân tại Lào để ngăn chận sự xâm nhâp của Cộng quân được lệnh rút lui.Theo báo cáo của CIA, sau khi Lào tuyên bố trung lập, khoảng 7000 bộ đội Bắc Việt chẳng những không chịu rút khỏi Lào mà còn bành trướng thêm. Hà Nội bắt đầu đẩy mạnh việc khai thông con đương mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào. Các nhà phê bình thường nêu ra sự nhượng bộ của Harriman như là một lỗi lầm định mệnh, mở đường cho Bắc Việt xâm nhập vào miền Nam dễ dàng hơn và gọi Đường Mòn Hồ Chí Minh là “Xa lộ Averell Harriman.” (The Averell Harriman Highway).

Thế là chế độ trung lập Lào tan rã. Hoa Kỳ quyết định can thiệp bằng quân sự vào Lào trở lại. Trong năm 1963, chính quyền Kennedy lại cho phép CIA huấn luyện và trang bị cho khoảng 20.000 quân HMong để chống lại quân Bắc Việt lẫn Pathet Lào!(Rudy Abramson, Spaning the Century, William Morrow and Company, Inc., New York 1992, tr. 587).

QUYẾT ĐỊNH LẬT ĐỔ ÔNG DIỆM

Bị thua vụ “trung lập hóa” Lào quá đau, nhóm Harriman tìm cách lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm.

Tháng 6 năm 1962, Roger Hilsman, Giám Đốc Phòng Tình Báo và Sưu Tầm, đã đến Việt Nam quan sát tình hình và trở về gởi cho Harriman một báo cáo mang số RFE-27 ngày 18.6.1962 dưới đề mục “Phúc Trình Tiến Triển về Nam Việt Nam”. Hilsman đã nói: “Không có bằng chứng nào yểm trợ cho một vài tố cáo về sự tan rã chủ yếu về tình trạng chính tri và quân sự tại Việt Nam, trái lại, có bằng chứng về sự tiến bộ đáng phấn khởi trong việc yểm trợ chiến đấu có hiệu quả của các lực lượng quân sự và an ninh.” (FRUS 1961 – 1963, Volume II, p. 463).

Thế nhưng, vào tháng 8 năm 1962, khi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cử Joshep A. Mendenhal, một thành viên trong Toán Việt Nam của Harriman đến Việt Nam nghiên cứu tình hình thì mọi sự đã bị mô tả ngược lại. Mendenhal viết: “Rằng chúng ta không thể thắng cuộc chiến với các phương pháp của Diệm – Nhu và chúng ta không thể thay đổi các phương pháp này, cho dù chúng ta đã làm không biết bao nhiêu áp lực lên họ. ” Ông ta khuyến cáo: “Phải bỏ ông Diệm, ông và bà Nhu, và những thành phần còn lại của gia đình nhà Ngô” (Get rid of Diem, Mr. and Mrs. Nhu and the rest of the Ngo family).

Muốn thực hiện điều này, theo Mendenhal, phải tổ chức đảo chánh. Cuộc đảo chánh phải nằm trong tay Hoa Kỳ, nhưng tránh đừng để dân chúng nghĩ rằng tân chính phủ là bù nhìn của chúng ta. Tuy nhiên, vì Hoa Kỳ đã bị tố cáo là liên lụy đến cuộc đảo chánh ngày 11.11.1960 và cuộc ném bom Dinh Độc Lập năm 1962, nên Mendenhal đề nghị: “Các viên chức thích hợp của Hoa Kỳ phải âm thầm chọn lựa một ít người Việt Nam có khả năng làm đảo chánh (như Nguyễn Ngọc Thơ và Dương Văn Minh) và cho biết sẵn sàng ủng hộ một cuộc đảo chánh trong thời gian thích hợp. Chúng ta đứng đàng sau hậu trường làm cố vấn, còn để cho người Việt thực hiện tất cả.”(FRUS 1961 – 1963, Volume II, tr. 596 – 601).

Đề nghị này của Mendenhat đã được nhóm Harriman cho thực hiện.

Tháng 6 năm 1963, sau khi vụ Phật Giáo xẩy ra, Tổng Thống Kennedy đã phái hai đặc sứ sang tìm hiểu tình hình tại Việt Nam, đó là Joseph A. Mendenhal, chuyên viên tại Bộ Ngoại Giao, và Đô Đốc Victor “Brute” Krulak, chuyên viên chống du kích chiến tại Bộ Tham Mưu Liên Quân.

Kết quả, trong cuộc họp lúc 10 giờ 30 ngày 10.9.1963 tại Tòa Bạch Ốc, Đô Đốc Krulak và Mendenhal đã trình khác nhau:

Đô Đốc Krulak nói: “Các quan hệ về quân sự giữa Việt Nam và Hoa Kỳ không bị thiết hại vì cuộc khủng hoảng chính trị ở bất cứ mức độ nào có ý nghĩa...” Trong khi đó, Mendemhal cho rằng rằng “cuộc chiến không thể thắng được nếu Nhu được giữ lại ở Việt Nam.” Tổng Thống Kennedy đã quay lại nhìn Krulak và Mendenhall và hỏi: “Phải chăng các anh đã đến cùng một quốc gia?” (You did go to the same country, didn’n you?).(FRUS 1961 – 1963, Volume IV, tr. 161 – 167).

Mặc dầu Tổng Thống Kennedy chưa có quyết định gì, nhóm Harriman đã tìm cách gây khủng hoảng cho chính phủ Ngô Đình Diệm rồi cho tổ chức đảo chánh lật đổ.

Theo tài liệu của Mỹ tiết lộ, năm 1963, William Kohlmann, một người gốc Do Thái, thường được gọi là Bill Kohlmann, một nhân viên tình báo Mỹ đang làm việc ở Anh, đã được điều động qua Sài Gòn để thực hiện một biến cố Phật Giáo chống ông Diệm, vì ông ta có quen biết một nhân vật Phật Giáo là Đại Đức Thích Trí Không, tức Trần Quang Thuận, vào năm 1961 trong một buổi tiếp tân của Tòa Đại Sứ Mỹ ở Anh. Lúc đó Trần Quang Thuận đang theo học ở Đại Học Edinburgh.

Ngày 11.6.1963, Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn có gởi về Bộ Ngoại Giao một văn thư cho biết khoảng lúc 10 sáng, một vị sư Phật Giáo đã tự thiêu tại gốc đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt ở Sài Gòn, đó là HT Thích Quảng Đức. Tin tức sơ khởi cho biết có khoảng từ 200 đến 300 vị sư bao quanh. Một viên chức Tòa Đại Sứ đã xem thi hài.

Chiều ngày 18.8.1963, có lẽ do sự xúi biểu của CIA, 10 tướng sau đây đã họp tại Bộ Tổng Tham Mưu để bàn về tình hình: Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Đỗ Cao Trí, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh, Mai Hữu Xuân, Nguyễn Ngọc Lễ, Lê Văn Kim và Dương Văn Minh. Trong số các tướng này, có cả những tướng đang bất bình với ông Diệm như Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân, Nguyễn Ngọc Lễ, v.v...


Chân dung cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. "...Tất cả chúng ta đã họp lại với nhau và xử dụng một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa để hạ sát ông ta." - Lời Tổng thống Hoa Kỳ Johnson.

Ngày 20.8.1963, Tướng Trần Văn Đôn và các tướng đã đem vào cho ông Nhu một thỉnh nguyện thư có chữ ký của các tướng lãnh yêu cầu ban hành tình trạng giới nghiêm và kế hoạch hành quân lục xét các chùa, bắt các phần tử quấy phá. Ông Nhu bảo vào trình cho ông Diệm. Sau những lời thuyết phục của các Tướng Lãnh, ông Diệm đã bị trúng kế CIA, ban hành Sắc Lệnh số 84/TTP “tuyên bố tình trạng giới nghiêm trên toàn lãnh thổ Việt Nam kể từ ngày công bố Sắc Lệnh này cho đến khi có lệnh mới”.

Sau đó việc xét một số chùa đã xẩy ra. Biến cố này đã gây nhiều phản ứng bất lợi cho ông Diệm. Thấy tình hình đã chín muồi, ông Henry Cabot Lodge Jr., được cử sang Sài Gòn làm Đại Sứ Hoa Kỳ thay thế Đại Sứ Frderick Nolting.

Lúc 9 giờ 36 phút tối 24.6.1963, Washington gởi công điện mang tên DEPTEL 243 ra lệnh đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm!

Chiều thứ bảy ngày 2.11.1963, sau khi có tin ông Diệm và ông Nhu đã bị thảm sát, lúc 6 giờ, Tổng Thống Kennedy cùng vợ và các con dùng trực thăng bay về ngôi nhà mới của ông ở Rattlesnake Mountain. Trong buổi cơm tối, bà Mary Gimbel, một người bạn của Tổng Thống, đã nói với ông về ông Diệm và ông Nhu:

- Họ đúng là những nhà độc tài. Tổng Thống trả lời:

- Không, họ ở trong môt tình trạng khó khăn. Họ đã làm cái tốt đẹp nhất mà họ có thể làm cho quê hương họ.

Về sau, Tổng Thống Johnson tiết lộ: “Lúc đầu họ nói với tôi về ông Diệm. Ông ta tham nhũng và ông ta phải bị giết. Vì thế, chúng ta đã giết ông ta. Tất cả chúng ta đã họp lại với nhau và xử dụng một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa để hạ sát ông ta. Bây giờ chúng ta không có sự ổn định chính trị [ở Miền Nam Việt Nam] từ lúc đó.”

Trên đây là “liên minh nhiều sóng gió” thật sự giữa chính phủ Kennedy và ông Diệm, nhưng TS Lê Mạnh Hùng đã cố tình bỏ qua khi viết sử.

TRẢ LẠI SỰ THẬT

Trong 60 năm qua, nhất là từ 1963 trở lại đây, vì ý thức hệ, vì tranh chấp phe nhóm, vì thành kiến, và nhất là vì không biết nhiều về các bí ẩn lịch sử và không nắm vững phương pháp sử học, nhiều người Việt đã viết lịch sử về các biến cố xẩy ra ở Việt Nam theo định hướng họ muốn, coi suy nghĩ hay ý muốn của mình là sự thật và tìm mọi cách bóp méo lịch sử để chứng minh cách nhìn của mình là đúng. Do đó, rất ít sách do người Việt viết được coi là có giá trị lịch sử và được các sử gia quốc tế tham khảo. Bây giờ các bí mật lịch sử liên quan đến các biến cố xẩy ra ở Việt Nam đã được tiết lộ gần đầy đủ, chúng ta hãy trả lại sự thật cho lịch sử. Xin đừng tiếp tục viết phịa sử nữa.

Lữ Giang

by AI HUU NINH THUAN
05/03/08. 07:37:06 am. 7756 words, 177 views. Categories: Không ðề, Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Hậu trường, Liên kết blogs, Lịch sử và ðịa dư Việt Nam, Ôn cố nhi tri tân ,