| « CSVN SẮP XÂY DỰNG NHÀ MÁY ÐIỆN NGUYÊN TỬ NINH THUẬN | ĐẠI HỘI TOÀN THẾ GIỚI TRUNG HỌC DUY TÂN PHAN RANG, VÀ HỘI THÂN HỮU NINH THUẬN HỌP MẶT HÈ 2009 » |
MẤY VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CẤP BÁCH LIÊN QUAN ĐẾN MỐI QUAN HỆ DÂN TỘC HIỆN NAY

Gs. Po Dharma
Mấy vấn đề lý luận và thực tiển cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay
Source: Champaka
Phân tích bởi P. Gs. Po Dharma
(Viện Viễn Ðông Pháp)
Mấy vấn đề lý luận và thực tiển cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay là một đề tài do Phan Hữu Dật làm chủ biên, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia ấn hành tại Hà Nội vào năm 2001. Tác phẩm này dày 356 trang do 23 vị giáo sư-tiến sĩ Việt Nam thực hiện, trong đó có Gs. Mạc Ðường, Phan An, Phan Xuân Biên là những chuyên gia về dân tộc Chăm và thường viết về dân tộc Chăm. Trong tác phẩm này, chúng tôi chỉ chú tâm đến chương số 4 với nhan đề “Mấy vấn đề về quan hệ ở một số vùng dân tộc thiểu số.” II.- “Vùng dân tộc Chàm” (trang 200-223), một đề tài mà chúng tôi muốn đưa ra để phân tích và bình luận ở đây.

Ðứng trên bình diện khoa học mà nói, tác phẩm này chỉ là một bài nhận định về những nhân tố tác động từ bên ngoài đã đưa mối quan hệ dân tộc Kinh-Chăm thành hai đối tượng thù nghịch hiềm khích lẫn nhau.
Theo tập thể tác giả này, đối tượng thù nghịch dân tộc Kinh-Chăm phát xuất từ những âm mưu của các “thế lực thù địch” chống Nhà Nước Việt Nam, trong đó có nhóm Fulro của Huỳnh Ngọc Sắn, Trung Tâm Văn Hóa Chăm của cha G. Moussay, nhóm Thanh Niên Chí Nguyện Quốc Tế của ông Jay Scarborough, hội IOC-Champa, hội Muslim Champa, hội Liên Minh Ty Nạn Chăm ở Hoa Kỳ và một số đối tượng Chăm lưu vong. Các “thế lực thù địch” này luôn luôn nuôi dưỡng kích động tinh thần dân tộc và ý chí phục quốc Champa, chờ thời gian gây phản loạn ly khai.
Cũng trong bài này, tập thể tác giả đưa ra những nhận định về tình hình phức tạp trong sự sinh hoạt của các tôn giáo người Chăm, về ảnh hưởng nặng nề của tôn giáo đối với quan hệ giữa các dân tộc. Sau cùng, tập thể tác giả cũng không quên trình bày các tác động của Hồi Giáo Quốc Tế, của tổ chức ngoại giao nước Hồi Giáo ở Việt Nam với cộng đồng Hồi Giáo người Chăm.
Hiện tượng Fulro
Liên quan đến hiện tượng Fulro, các vị giáo sư-tiến sĩ cho rằng (tr. 213): “tổ chức Fulro trong người Chàm ở Việt Nam được nhen nhóm hình thành từ năm 1966, do tay chân của Leskossem (sic) từ Campuchea về móc nối và giao cho Huỳnh Ngọc Sắng cầm đầu (...). Trong các năm 1972-1973, Sắng và đồng bọn lén lút về lại vùng Chàm bí mật hoạt động gây dựng cơ sở (...) chuẩn bị đối phó với cách mạng khi miền nam giải phóng”. Trang 211, tác giả cũng nêu ra: “một trong những sản phẩm nguy hiểm nhất trong âm mưu của các thế lực thù địch đối với dân tộc Chàm là Fulro Chàm do chúng nặn ra và nuôi dưỡng, sử dụng”. Sau cùng, trang 213-214, tác giả còn nhấn mạnh rằng “tháng 4 năm 1975, khi quân ta tổng tiến công giải phóng miền Nam, bọn cầm đầu Fulro Chàm tự xưng là “lực lượng thứ ba đòi được đứng ra tiếp quản vùng Chàm. Nhưng do không được chấp thuận, bọn chúng đã tuyên truyền kích động (...) chia rẽ người Kinh với người Chàm, kêu gọi hạ cờ cách mạng, treo cờ Fulro (...) phát động chiến dịch “Chế Bồng Nga”, tập hợp lực lượng chống lại cách mạng (...). Trong quá trình tồn tại và hoạt động chống phá cách mạng, Fulro Chàm đã gây cho ta nhiều tổn thất (...). Ðặc biệt chúng đã gây tác hại nghiêm trọng về mặt chính trị, gây thêm hận thù (...) tác động nuôi dưỡng tư tưởng phục quốc Chăm Pa”.
Nhìn qua nội dung phần này, độc giả có cảm tưởng rằng 23 vị giáo sư-tiến sĩ không nắm vững lịch sử của tổ chức Fulro, ngay cả quá trình hoạt động Fulro sau ngày chiếm đóng Miền Nam Việt Nam vào tháng 4 năm 1975. Một thí dụ điển hình, danh xưng của một lãnh tụ Fulro tên là Les Kosem, tác giả ghi thành Leskossem. Các tác giả này cũng cho rằng Huỳnh Ngọc Sắng (tên thật Huỳnh Ngọc Sắn) lén lút về vùng Chăm vào năm 1972-1973 thì càng sai lầm thêm nữa. Vì năm 1971, Huỳnh Ngọc Sắn đã xin trở về Việt Nam để hợp tác với chính phủ Sài Gòn. Tác giả cho rằng nhóm Fulro Huỳnh Ngọc Sắn kêu gọi dân chúng hạ cờ cách mạng để treo cờ Fulro vào tháng 4 năm 1975 lại càng đi ngược lại với sự thật. Trên thực tế, nhóm Huỳnh Ngọc Sắn chỉ hạ cờ Việt Nam Cộng Hòa để treo cờ Fulro thì đúng hơn, vì lúc đó quân giải phóng chưa chiếm Phan Rang, thế thì có cờ cách mạng ở đâu mà hạ xuống.
Ai cũng biết, ngày 20 tháng 4 năm 1975 đánh dấu sự sụp đổ của Fulro, vì toàn diện thành viên trung ương của tổ chức này kể cả nhà lãnh đạo Y Bham Enuôl đều bị Khmer Ðỏ tiêu diệt. Trong khi đó, thiếu tướng Les Kosem, là nhân vật chính của Fulro-Champa chạy sang Pháp lánh nạn và từ trần vào năm 1976 tại Mã Lai. Chính vì thế, Fulro của Huỳnh Ngọc Sắn không thể dựa vào các “thế lực thù địch” của Fulro từ bên ngoài như tập thể tác giả này đã nêu ra.
Nếu có sự vùng dậy Fulro do Huỳnh Ngọc Sắn chủ trương vào ngày 8 tháng 4 năm 1975 ở khu vực Phan Rang và Phan Rí, tức là trước vài ngày của sự sụp đổ miền nam vào 29 tháng 4 năm 1975, có chăng đây chỉ là một truyền thống đấu tranh của dân tộc Champa trước sự thay đổi chủ thuyết chính trị ở Việt Nam quá bất ngờ, từ chế độ Việt Nam Cộng Hòa biến thành Chủ Nghĩa Xã Hội, mà người Chăm chẳng biết gì về đường lối chính trị của Chủ Nghĩa Xã Hội này sẽ dành cho họ những gì trong tương lai. Fulro của Huỳnh Ngọc Sắn chỉ là một sự tiếp nối trong lịch sử Champa. Vì rằng truyền thống vùng dậy này đã từng diễn ra trong quá khứ, đó là sự ra đời của phong trào Bajaraka sau ngày Ngô Ðình Diệm lên nắm chính quyền ở Sài Gòn năm 1954; sự vùng dậy của Fulro vào tháng 9 năm 1964 cũng sau ngày tướng Nguyễn Khánh lật đổ chính quyền Dương Văn Minh ở Sài Gòn. Và hiện tượng này cũng từng đã xảy trước thế kỷ 20 đó là sự vùng dậy của Katip Sumat và Ja Thak Wa vào năm 1833-1835 khi triều đình Huế xâm chiếm Champa và xóa tên vương quốc này trên bản đồ vào năm 1832; sự vùng dậy của nhân dân Champa vào năm 1693 chống lại chính quyền nhà Nguyễn xâm chiếm Panduranga để biến vương quốc này thành phủ Bình Thuận vào năm 1692.
Sau năm 1975, Fulro của Huỳnh Ngọc Sắn vẫn tiếp tục đấu tranh và sự đấu tranh này có thể phát xuất từ một nguyên nhân khác nữa. Vì sau ngày giải phóng, đồng bào Chăm cực kỳ hoang mang dao động qua các vụ bắt bớ, giam cầm, trả thù những ai làm việc cho chế độ ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn. Vụ ám sát ông Nại Hùng ở thôn Hữu Ðức và Ðàng Linh ở Hậu Sanh là một trong những thí dụ điển hình. Có chăng vì tình thế dao động này, một số người Chăm phải bỏ thôn xóm ra đi để thoát thân, hơn là họ ra đi để tiếp tay cho “thế lực thù địch” bên ngoài như tập thể tác giả này suy đoán. Hai người uy tín của cộng đồng Chăm cũng tham gia vào phong trào của Huỳnh Ngọc Sắn đó là ông Từ Công Xuân, cựu dân biểu và Thiên Thiện, xã trưởng. Nhưng hai người này cũng không phải là thành viên Fulro.
Sau ngày 20 tháng 4 năm 1975, Fulro không còn mang ý nghĩa là tổ chức của “Mặt Trận Thống Nhất Ðấu Tranh Các Dân Tộc Bị Áp Bức” mà trung ương đặt tại thủ đô Nam Vang, nhưng là ý thức hệ của một tập thể dân tộc bị áp bức thì đúng hơn. Nhận diện mình là Fulro, có nghĩa là tự xác nhận mình là người thiểu số bị áp bức. Và “ý thức hệ” này bắt đầu định hình trong tiềm thức của các dân tộc thiểu số ở miền trung Việt Nam, để rồi trở thành một thành ngữ: “Còn áp bức thì còn Fulro, hết áp bức thì hết Fulro”. Thế thì, muốn giải quyết vấn đề Fulro nhanh chóng, 23 vị giáo sư-tiến sĩ này nên đưa ra những đề nghị nhằm xóa bỏ chế độ áp bức đối với dân tộc Chăm, chấm dứt sự nghi ky và kiềm chế dân tộc Chăm mà các nghị quyết của Ðảng và Nhà Nước Việt Nam đã từng nêu ra, hơn là đi tìm phương cách kết tội dân tộc này có liên hệ với “các thế lực thù địch” từ bên ngoài, tức là Fulro, một tổ chức đã bị sụp đổ, trên phương diện pháp lý, từ tháng 4 năm 1975. Thế thì, “thế lực thù địch” của Fulro trong bài nhận định này có chăng chỉ là một câu chuyện hão huyền do tập thể tác giả này dàn dựng để có cớ hầu áp đảo và chụp mũ dân tộc Chăm?
Trung Tâm Văn Hóa Chàm
Trang 210-211, tác giả đưa ra vấn đề Trung Tâm Văn Hóa Chàm ở Phan Rang như sau: “bằng nguồn tiền tài trợ nước ngoài, chúng đã dựng lên “Trung tâm văn hóa Chàm” ở Phan Rang (...) để tuyên truyền tư tưởng dân tộc hẹp hòi, gây kỳ thị chia rẽ dân tộc, tập hợp lực lượng phục vụ ý đồ về lâu về dài là chống phá cách mạng. Trung tâm này đã đào tạo, tập hợp được nhiều trí thức (...) tham gia tích cực hoặc ủng hộ, hậu thuẫn cho Fulro. “Trung tâm văn hóa Chàm” còn là đầu mối liên lạc, cung cấp lực lượng cho tổ chức Fulro Chàm, tuyển chọn giới thiệu người của Fulro để đưa ra nước ngoài huấn luyện, chỉ đạo hoạt động của lực lượng Fulro ở vùng dân tộc Chàm”.
Ai cũng biết, Trung Tâm Văn Hóa Chàm ở Phan Rang do Cha G. Moussay thành lập vào năm 1969 chỉ có 7 người Chăm làm việc đắc lực cho trung tâm này. Trong danh sách 7 người, có ba người cộng tác viên Trung Tâm Văn Hóa Chàm trở thành cán bộ đắc lực của cách mạng sau ngày giải phóng và 4 người khác không ai là thành viên Fulro cả.
Thêm vào đó, Trung Tâm Văn Hóa Chàm của G. Moussay thu hút rất nhiều thiện cảm của đồng bào Chăm, vì trung tâm này đã giúp đỡ thật sự người Chăm nhằm phát triển văn hóa Chăm và có chương trình từ thiện dành cho con em người Chăm nghèo được may mắn tiếp tục học hành. Chuyện có thật nữa đó là Cha Moussay, nhân danh người làm từ thiện, có giúp đỡ vợ chồng Thuận Thị Trụ và Ðàng Năng Giáo là hai thành viên Fulro trong thời gian họ ở Pháp. Cha Moussay không đưa ai đi nước ngoài để làm việc cho Fulro cả. Ngược lại cha Moussay lại đưa thành viên Fulro về Việt Nam thì có, đó là cô Thuận Thị Trụ vào tháng 7 năm 1973. Sau này, cô Thuận Thị Trụ trở thành một cộng tác viên rất đắc lực của nhóm công an Ngôn Vĩnh để thực hiện tác phẩm mang tên “Fulro: tập đoàn tội phạm” do Nhà Xuất Bản Công An Nhân Dân ấn hành vào năm 1983.
Nếu kết luận rằng Trung Tâm Văn Hóa Chàm của Cha Moussay là trung tâm đào tạo, tuyên truyền ý thức hệ chia rẽ, cung cấp lực lượng cho Fulro, thì ít ra các nhà nghiên cứu này cũng phải đưa ra một bằng chứng cụ thể để minh chứng cho lý luận của mình. Nếu không, độc giả có cảm tưởng rằng đây là một loại văn chương chụp mũ, chứ không phải là lý luận theo chiều hướng khoa học.
Thanh niên chí nguyện quốc tế
Liên quan đến Thanh niên chí nguyện quốc tế, tác giả nhấn mạnh rằng: “các thế lực thù địch còn đưa người vào xây dựng cơ sở, tập hợp lực lượng trong dân tộc Chàm thông qua hoạt động văn hóa, thông qua hoạt động của tổ chức “Thanh niên chí nguyện quốc tế” để xuyên tạc, bóp méo lịch sử nhằm kích động nuôi dưỡng tư tưởng kỳ thị dân tộc, chống phá cách mạng quyết liệt sau ngày miền Nam giải phóng”. (tr. 211)
Một người duy nhất trong tổ chức thanh niên chí nguyện quốc tế có liên hệ với dân tộc Chăm đó là ông Jay Scarborough. Tiếc rằng, ông ta chỉ là một giáo viên dạy tiếng Anh và hướng dẫn thực hành tiếng Anh ở trường trung học Po Klaong mà thôi. Nếu cho rằng Jay Scarborough là người chống phá cách mạng, tại sao chính quyền Việt Nam không truy nã ông ta? Ngược lại Ðảng và Nhà Nước vẫn xem ông Jay Scarborough là một người tốt, vì chính quyền Việt Nam đã cho phép ông ta sang viếng thăm Việt Nam thường xuyên sau năm 1975 ?
Hội đoàn phản động người Chăm ở Hoa Kỳ
Hội đoàn người Chăm ở Hoa Kỳ đã trở thành một đối tượng thù địch nguy hiểm mà tập thể tác giả cũng không quên đưa ra bàn thảo: “một số đối tượng người Chàm lưu vong đã thành lập tổ chức “Văn phòng Chăm Pa quốc tế” (IOC) và hội “Muslim Chăm Pa” nhằm tập hợp cộng đồng Chàm ở nước ngoài (...) hoạt động tuyên truyền kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, phục quốc Chăm Pa trong người Chàm ở nước ngoài và tác động vào trong nước”. Trang 215, tác giả lại đưa ra thêm quan điểm “đáng chú ý (...) là “Văn phòng Chăm Pa quốc tế” (IOC), “Hội Muslim Chăm Pa” và “Liên minh người Chàm ty nạn”. Các tổ chức dù mang danh xưng khác nhau nhưng đều do những đối tượng theo chủ nghĩa dân tộc và có hận thù với cách mạng cầm đầu, như: bọn cầm đầu Fulro, những quan chức cao cấp trong bộ máy ngụy quyền Sài Gòn trước đây. Hoạt động của chúng rất là tinh vi, bên cạnh núp dưới các hình thức ái hữu, tương trợ, bảo tồn văn hóa dân tộc (...), nhiều đối tượng chống đối cực đoan trong số cầm đầu đã bộc lộ rõ ý đồ tập hợp lực lượng, nuôi dưỡng và kích động “tinh thần dân tộc”, ý chí “phục quốc Chăm Pa” trong cộng đồng người Chăm ở nước ngoài và tác động vào vùng dân tộc Chăm trong nước thông qua quan hệ dân tộc, tôn giáo, để gây ảnh hưởng, tập hợp lực lượng, chờ thời gian gây phản loạn ly khai” (tr. 203).
Ơ hải ngọai, nhất là ở Hoa Kỳ, có rất nhiều hội đoàn người Chăm, tiêu biểu nhất là Văn Phòng Champa Quốc Tế-IOC, Hội Muslim Champa, Liên Minh Người Chăm Ty Nạn, Hội Bảo Tồn Văn Hoá Champa có trụ sở ở San Jose và Hội Bảo Tồn Văn Hóa Cổ Truyền Champa tập trung một số người Chăm Ahier (tạm gọi là Bà La Môn) ở Sacramento và Modesto.
Ai cũng biết, tất cả hội đoàn Chăm này không phải là tổ chức chính trị, nhưng chỉ là hội đoàn phi chính phủ có mục tiêu duy nhất là phát triển chương trình văn hóa, ái hữu, tương thân tương trợ hay sinh hoạt tôn giáo người Chăm mà thôi. Không biết 23 vị giáo sư-tiến sĩ này dựa trên tư liệu nào để kết luận các hội đoàn này muốn vùng dậy phục hưng Champa, chờ thời gian gây phản loạn ly khai. Chỉ nhận định về một tổ chức rất là nhỏ nhoi như hội đoàn người Chăm ở Hoa Kỳ mà tập thể tác giả này không nắm vững thông tin, thế thì làm sao độc giả tin được những quan điểm khác mà tác phẩm này đưa ra.
Ðiều đáng ngạc nhiên đó là trong 5 hội đoàn này, 23 vị giáo sư-tiến sĩ chỉ tố cáo 3 hội:
- Văn Phòng Champa Quốc Tế (IOC-Champa)
- Hội Muslim Champa
- Liên Minh Người Chăm Ty Nạn
là những tổ chức làm tay sai cho các “thế lực thù địch” bên ngoài để kích động ý chí phục quốc Champa. Ðiều mà độc giả tự đặt nghi vấn ở đây, nếu 3 hội đoàn này bị xếp vào thành phần “gây phản loạn ly khai”, có chăng là vì một số thành viên của 3 hội này, vì lý do gì đó, không muốn trở về Việt Nam thăm quê hương, để rồi họ bị xếp vào thành phần là những “Chăm kiều phản động” chứ không phải “Chăm kiều yêu nước”, tức là nhóm người Chăm thường về Việt Nam thăm quê hương.
Ðiều đáng ngạc nhiên thêm nữa đó là trong số 5 hội đoàn của người Chăm lưu vong ở Hoa Kỳ, 23 vị giáo sư-tiến sĩ này không nhắc đến hai hội, đó là:
- Hội Bảo Tồn Văn Hoá Champa cũng là nhà xuất bản tập san Vijaya
- Hội Bảo Tồn Văn Hóa Cổ Truyền Champa ở Sacramento-Modesto.
Có chăng tập thể tác giả không biết sự hiện hữu của 2 hội đoàn này hay là tác giả có một ẩn ý khác muốn xếp 2 hội đoàn này vào thành phần “Chăm kiều yêu nước”, với mục tiêu để biến người Chăm lưu vong ở hải ngoại này thành hai đối tượng thù nghịch nhau: “Chăm kiều phản động” và “Chăm kiều yêu nước”. Có chăng đây chỉ là một chính sách chia để trị?
Theo tác giả, 3 hội đoàn “gây phản loạn ly khai” này đều do những đối tượng chống Cộng Sản có liên hệ với bọn cầm đầu Fulro và những quan chức ngụy quyền Sài Gòn lưu vong ở hải ngoại. Ðây là nhận định hoàn toàn sai lầm và phi khoa học. Vì rằng, sau năm 1975, ở hải ngoại chỉ còn 5 thành viên Fulro người Chăm đó là Po Dharma, Ðàng Văn Tấn, Nara Vija, Từ Công Thị Lộc và Châu Văn Tần. Trong 5 nhân vật này, không có tư liệu nào chứng minh họ đang hoạt động trong tổ chức chính trị chống Ðảng và Nhà Nước như các tập thể tác giả này đã phỏng đoán. Số còn lại, đó là các cựu công chức, sĩ quan và dân biểu của chính quyền Sài Gòn hiện đang định cư ở nước ngoài. Ða số các nhân vật này, kể cả cựu sĩ quan và cựu dân biểu Chăm, thường xuyên trở về Việt Nam thăm quê hương. Tiếc rằng, không có một dữ kiện nào để chứng minh rằng một số người không muốn về Việt Nam thăm quê huơng là những người Chăm phản động?
Cũng trong phần này, 23 vị giáo sư-tiến sĩ cho rằng người Chăm ở hải ngoại đang kích động “tinh thần dân tộc, ý chí phục quốc Chăm Pa”. Chúng tôi tin rằng hiện tượng này có thể xảy ra, nhưng đó chỉ là tư tưởng của một vài người Chăm quá khích chứ không phải là chủ trương chung của cộng đồng người Chăm lưu vong.
Ngoại trừ một số dân tộc “man rợ” đang sống trong thời kỳ ăn lông ở lổ, tất cả dân tộc vong quốc trên thế giới, dù họ là người Chăm hay dân tộc nào đi nữa, đều biết đau xót và tủi hận cho thân phận quê hương họ bị chiếm đóng hay bị xâm lược. Ðây là tâm lý chung của một tập thể nhân loại, chứ không phải tâm lý riêng tư của người Chăm. Người Việt cũng có một tâm lý tương tự nếu một ngày nào đó đất nước Việt Nam bị xâm chiếm bởi ngoại lai.
Nhưng không phải vì quá đau xót và tủi hận cho quê hương Champa vong quốc mà người Chăm ở hải ngoại đang kích động tinh thần dân tộc nhằm phục quốc Champa. Ðó là hai vấn đề khác nhau mà tập thể tác giả này không nhận diện ra được, hay không muốn phân biệt sự khác biệt giữa hai khái niệm này.
Qua các cuộc điều tra và nghiên cứu, chúng tôi tạm kết luận rằng người Chăm ở hải ngoại thường xuyên đưa vấn đề Champa vào cuộc đối thoại hàng ngày của họ. Tiếc rằng, tư tưởng phục quốc Champa là một vấn đề quá trọng đại, quá to tát và quá khổng lồ mà người Chăm ở hải ngoại không dám nghĩ đến, chứ không phải họ không muốn nghĩ đến. Một số người Chăm ở hải ngoại còn cho rằng chờ năm 3000 để rồi nói chuyện phục quốc, giải phóng quê hương. Thế thì, nhóm người Chăm nào ở hải ngoại này đang kích động tinh thần để phục quốc Champa mà 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã đưa ra?
Ða số người trí thức Chăm ở hải ngoại mà chúng tôi tiếp xúc đã nhận thức rằng dân tộc Chăm hôm nay với dân số khoảng 100.000 người chỉ là một “hạt cát bụi” đang chìm đắm nhấp nhô chờ ngày tắt thở trong một tập thể khổng lồ của 80 triệu người Việt. Trước hiện tượng này, họ tự đặt câu hỏi rằng liệu dân tộc Chăm hôm nay có đủ năng lực để thoát thân ra khỏi sức ép của ảnh hưởng ngôn ngữ, văn hóa và nền văn minh Việt Nam hay không? Họ có đủ ý chí để khỏi bị đồng hóa thành người Việt một cách tự nhiên, vì sự bành trướng văn hóa Việt Nam quá mạnh mẽ, chứ không phải vì sự ép buộc của Ðảng và Nhà Nước nữa? Trong thập niên sắp tới, họ có còn hy vọng nói được tiếng Chăm của họ, nhận diện được đâu là phong tục tập quán của họ, truyền thống văn hóa tín ngưỡng của họ, đâu là lịch sử của họ, một di sản quí báu của nền văn minh nhân loại đáng được bảo tồn và được duy trì dù trong hoàn cảnh nào đi nữa. Có chăng người Chăm vẫn còn tồn tại trong thế kỷ thứ 21 này, nhưng họ không còn biết họ là ai nữa, không còn nhận diện nguồn gốc chủng tộc và yếu tố văn hóa, lịch sử của họ nữa? Hay nói một cách khác, họ chỉ còn thể xác không hồn trong thế kỷ thứ 21 này !
Qua các cuộc tiếp xúc với một số trí thức người Chăm ở hải ngoại, họ cho rằng sự sống còn của dân tộc Chăm trong thế kỷ thứ 21 này với tư cách là một loài người có nguồn gốc riêng, tiếng nói riêng, văn hóa riêng và truyền thống riêng đã trở thành một chủ đề chính yếu mà cộng đồng người Chăm ở hải ngoại hôm nay thường bàn bạc đến, chứ không phải là vấn đề phục quốc Champa như 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã lập luận. Vì ý thức đến sự nguy cơ này, người Chăm ở hải ngoại thường kích động “tinh thần dân tộc” để bảo tồn văn hóa và nền văn minh của họ, chứ không phải kích động “tinh thần dân tộc” để khôi phục lại quốc gia hay giải phóng Champa như tập thể tác giả này đã đưa ra.
Một số trí thức Chăm còn cho rằng trong vòng 50 năm sắp đến, người Chăm không còn nói tiếng Chăm của họ nữa, không còn nhận diện đâu là tín ngưỡng truyền thống, văn hóa cổ truyền, tôn ti trật tự của xã hội của họ nữa v.v... Ðó là một vấn đề trọng đại, một thực tiễn cấp bách mà cộng đồng Chăm hôm nay đang thao thức, đang đắn đo và đang suy nghĩ. Ðiều mong ước của họ không phải là phục quốc Champa, nhưng chỉ là làm thế nào để dân tộc này còn được tồn tại trong thế kỷ thứ 21 như những dân tộc khác trên thế giới, chứ không phải tồn tại như một loài người chỉ có thể xác, tức là chỉ biết tìm kế sinh nhai, lấy văn hóa ngoại lai làm tôn chỉ, để rồi họ không còn biết nguồn gốc họ là người Chăm, có lịch sử, văn hóa và nền văn minh riêng biệt.
Lợi dụng chính sách mở
Trang 215, tác giả viết rằng : “lợi dụng chính sách mở cửa của nhà nước ta, (...) người Chàm lưu vong (...) tăng cường thâm nhập vào vùng Chàm, phổ biến là dưới hình thức thăm thân nhân, du lịch, viện trợ từ thiện, nhân đạo và đặc biệt là trên lĩnh vực nghiên cứu văn hóa và lịch sử dân tộc Chàm”.
Ðây là lối suy luận mờ ám, nhằm chụp mũ người Chăm trong nước thì đúng hơn. Tất cả người Chăm về Việt Nam đều được chính quyền địa phương cho phép và có khi còn tiếp đãi một số “Chăm kiều” này rất nồng hậu để vuốt ve, tìm hiểu tin tức. Mỗi lần có Chăm kiều về thăm Việt Nam, công an thường đến gặp họ tại nhà để bàn chuyện nhằm thu thập một số thông tin. Thế thì làm sao “Chăm kiều” về nước lọt ra khỏi mạng lưới của chính quyền Việt Nam, để làm việc phi pháp như tập thể tác giả đã đưa ra. Trước khi kết tội, ít ra các tập thể tác giả này cũng phải cho biết ai là “người Chàm lưu vong” sang Việt Nam để hoạt động chống cách mạng? Tại sao Nhà Nước không bắt họ đưa ra tòa để truy tố theo luật lệ hiện hành?
Quốc tế hóa vấn đề Champa
Trang 216, tập thể tác giả cũng nêu ra : “chúng lợi dụng danh nghĩa nghiên cứu văn hóa để móc nối lại các quan hệ cũ với người Chàm, nhằm thu thập tin tức, tác động tư tưởng, kể cả tuyên truyền gây hoài nghi, chia rẽ dân tộc, kích động tư tưởng và tâm lý hoài cổ (...). Chúng cố tình xuyên tạc lịch sử, kích động hận thù dân tộc Kinh-Chàm nhằm phục vụ ý đồ quốc tế hóa vấn đề Chàm ở Việt Nam”
Có chăng tác giả muốn ám chỉ ông Po Dharma? Tiếc rằng, ông ta là một nhà nghiên cứu trong Viện Viễn Ðông Pháp, chuyên về lịch sử và nền văn minh Champa. Chính vì thế, ông ta không cần lợi dụng danh nghĩa nghiên cứu để phổ biến văn hóa Champa như tập thể tác giả này đưa ra, nhưng là người phải có nghĩa vụ nghiên cứu và phát triển văn hóa và lịch sử Champa này trong cộng đồng khoa học thế giới. Quốc tế hóa chương trình nghiên cứu Champa là một dự án khoa học của viện nghiên cứu và đại học Pháp, chứ không phải công trình riêng tư của ông Po Dharma nữa. Có chăng, các vị giáo sư-tiến sĩ này muốn nói đến nội dung của một số tác phẩm Po Dharma chứa đựng một văn chương nhằm tác động tư tưởng, tuyên truyền gây hoài nghi, chia rẽ dân tộc Kinh-Chăm? Nếu thế, thì ít ra các vị tác giả này phải đưa ra bằng chứng cụ thể: trong tác phẩm nào và trang nào?
Các ý đồ “quốc tế hóa vấn đề Chàm ở Việt Nam” mà tập thể tác giả đã nêu ra không liên hệ gì với “người Chăm lưu vong”. Hàng loạt đại hội hay triển lãm quốc tế về Champa được tổ chức tại các quốc gia như Pháp, Ðan Mạch, Nga, Ðức, Mỹ, Gia Nã Ðại, Nhật, Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan, Kampuchia .v.v... Nhưng đó chỉ là chương trình giáo dục và nghiên cứu của các đại học hay viện nghiên cứu trong mỗi quốc gia này. Việt Nam cũng thường tổ chức đại hội và triển lãm về Champa. Ðại hội hay triển lãm quốc tế về Champa là chương trình khoa học nhằm tăng cường thêm kiến thức về lịch sử và nền văn minh của vương quốc này, chứ không phải là công trình phục quốc Champa như các vị giáo sư-tiến sĩ hiểu lầm. Trong các đại hội Champa này cũng có sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu người Kinh, như Gs. Mạc Ðường, Phan An, Phan Xuân Biên, v.v... Có chăng các giáo sư người Kinh này cũng có ý đồ “quốc tế hóa vấn đề Chàm” hay phục quốc Champa?
Trang 216 tác giả dẫn chứng: “một số đối tượng tài trợ tiền cho số ở trong nước hình thành nhóm nghiên cứu Chàm nhưng thực chất là cố tình gieo rắc tư tưởng mặc cảm, hận thù người Kinh”.
Ðây là một lối suy diễn thiếu khoa học. Vì người Chăm ở nước ngoài không có phương tiện để tài trợ cho nhóm nghiên cứu Chăm trong nước. Nếu có sự hình thành nhóm nghiên cứu Chăm ở Việt Nam do người Chăm ở hải ngoại nuôi dưỡng, thì ít ra tập thể tác giả này phải cho biết họ là ai? và làm sao nhóm nghiên cứu Chăm này lọt ra khỏi màng lưới tinh vi của công an, của Ðảng và Nhà nước.
Trang 217, tập thể tác giả đưa ra một dữ kiện khôi hài đó là: “một vấn đề cần chú ý là một số đối tượng Chàm lưu vong đang tìm cách thu thập tư liệu để chứng minh rằng nhà nước Chăm Pa mới bị diệt vong vào thế kỷ XIX, chứ không phải là thế kỷ XVII như các nhà sử học đã nêu, nhằm từng bước tạo cơ sở pháp lý phục vụ mưu đồ tìm sự ủng hộ của quốc tế trong việc phục hồi nước Chăm Pa”.
Ơ đây, các vị giáo sư-tiến sĩ này muốn ám chỉ Po Dharma là người Chăm lưu vong. Tiếc rằng, Po Dharma không đang đi tìm tư liệu này như tác giả đã nêu ra, vì ông ta đã dùng tư liệu này để chứng minh rằng Champa chỉ diệt vong vào năm 1832 trong tác phẩm của ông ta với nhan đề là Vương Quốc Panduranga Campa. Sự liên hệ chính trị với Việt Nam từ năm 1802-1835, do Viện Viễn Ðông Pháp xuất bản tại Paris vào năm 1987. Có chăng các vị giáo sư-tiến sĩ chưa đọc tác phẩm này?
Nhìn qua nội dung của phần này, độc giả có cảm giác rằng các vị giáo sư-tiến sĩ này đang khoác áo nhà khoa học để làm cán bộ của một đảng phái chính trị thì đúng hơn. Nhân danh một nhà khoa học, nếu tác giả không chấp nhận Champa bị diệt vong vào năm 1832 do Po Dharma đưa ra, thì ít ra các tác giả này phải đi tìm những dữ kiện hợp lý khác để minh chứng rằng nhà nước Champa đã bị diệt vong vào thế kỷ thứ XVII. Ơ đây, tác giả chỉ phóng đại rồi kết tội Po Dharma đang tạo cơ sở pháp lý nhằm phục hồi vương quốc Champa. Ðây không phải là văn chương khoa học nữa, nhưng là một văn chương chính trị nhằm chụp mũ và khủng bố nhà khoa học ở nước ngoài.
Huấn luyện ở nước ngoài
Trang 216, nhằm kết tội “thế lực thù địch” của người Chăm lưu vong, tác giả nhận định rằng: “chúng cũng tìm mọi cách nhằm lôi kéo người Chàm, nhất là trí thức và cán bộ Chàm ra nước ngoài dưới hình thức tài trợ cho đi đào tạo, nghiên cứu, bảo lãnh đi nước ngoài thăm quan, học tập, nhằm mục đích tiếp cận và lôi kéo”
So với hàng ngàn người Kinh sang ngoại quốc trong chương trình trao đổi văn hóa và khoa học, nhóm trí thức Chăm được may mắn đi ra nước ngoài chỉ có 12 người. Ðó là Lâm Gia Tịnh, Nguyễn Văn Tỷ, Thành Phú Bá, Ðàng Năng Quạ, Thành Công Sưởng, Thành Phần, Bá Trung Phụ, Lộ Minh Trại, Phú Văn Hẳn, Trượng Văn Tốn, Thuận Thị Trụ, Nguyễn Thị Bạch Cúc. Trong số 12 trí thức này, một người sang Thái Lan đó là Lâm Gia Tịnh. Số còn lại sang Mã Lai trong chương trình Po Dharma. Nhưng đây chỉ là chương trình của viện nghiên cứu của Pháp và Mã Lai giúp đỡ một số nhà nghiên cứu hay trí thức Chăm nhằm mở rộng kiến thức về văn hóa và văn học Chăm mà thôi. Nếu 12 người Chăm này bị Po Dharma lôi kéo để chống Ðảng và Nhà Nước, tại sao tập thể tác giả không đưa ra một minh chứng nào, trước khi kết tội hay chụp mũ họ?
Ngoài 12 nhà trí thức Chăm, Po Dharma cũng mời một số người Kinh sang Mã Lai trong chương trình nghiên cứu khoa học và văn hóa Champa, trong đó có Lưu Trần Tiêu (thứ trưởng Văn Hóa), các nhà nghiên cứu như Mạc Ðường, Phan Xuân Biên, Phan An, Hải Liên, Nguyễn Văn Lịch, Võ Công Nguyện, Trần Kỳ Phương, Trương Hiến Mai. Tại sao tác giả không đặt vấn đề gì về 9 người này, có chăng vì họ là người Kinh?
Nhóm đối lập trong nước
Trang 217, tập thể tác giả nêu ra vấn đề nhóm đối lập trong nước và cho rằng: “trước sự tác động của các thế lực thù địch bên ngoài và ảnh hưởng của nhân tố tiêu cực bên trong, ở vùng dân tộc Chàm trong nước cũng xuất hiện những đối tượng có tư tưởng, hoạt động đối lập với chế độ ta, tiếp tay cho các đối tượng bên ngoài dưới nhiều hình thức”.
Ðảng và Nhà Nước có mạng lưới công an vô cùng tinh vi so với các quốc gia ở Ðông Nam Á. Nếu có những tổ chức phá hoại này của người Chăm, thì ít ra công an phải biết và đã dùng biện pháp tiêu diệt họ đi. Có chăng các vị giáo sư-tiến sĩ này đang tạo dựng ra những hiện tượng hư ảo hầu chụp mũ kết tội những người Chăm vô tội?
Tôn giáo
Ðề cập đến tôn giáo, tập thể tác giả này đã nêu ra trong trang 219 : “đến năm 1997, tại Việt Nam có 10 đại sứ quán của các quốc gia Hồi giáo. Các cơ quan này đã có nhiều hoạt động liên hệ và chỉ đạo, hỗ trợ cho các chức sắc Hồi giáo người Chàm (...) bảo trợ, cấp học bổng cho một số thanh niên Chàm ra nước ngoài đào tạo và cho tiền xây dựng thánh đường Hồi giáo (...). Năm 1990, các thánh đường Hồi giáo ở An Giang đã nhận được của nước ngoài số tiền trị giá hơn 2.500 triệu đồng Việt Nam để phục vụ cho hoạt động tôn giáo”.
Nếu cho rằng đại sứ quán của các quốc gia Hồi Giáo ở Việt Nam cấp học bổng cho sinh viên Chăm ra nước ngoài và giúp tiền cho thánh đường Hồi Giáo ở An Giang là việc phi pháp thì ít ra Ðảng và Nhà Nước phải trục xuất họ ra khỏi Việt Nam thể theo quy luật ngoại giao hiện hành. Người Chăm có tội gì là phi pháp trong chương trình giúp đỡ này?
Trang 219, tác giả cho rằng: “một số chức sắc cầm đầu Hồi Giáo lấy danh xưng tôn giáo đẩy mạnh hoạt động móc nối với các cá nhân, tổ chức Hồi Giáo quốc tế để liên hệ xin kinh sách, tiền tài trợ”.
Ðây cũng là một nhận định ẩn ý những lời lẽ mang tính cách kỳ thị tôn giáo. Hàng triệu người Kinh theo Phật Giáo, Kitô Giáo cũng xin kinh sách và tiền tài trợ nước ngoài để phát triển tôn giáo của mình, tại sao các vị giáo sư-tiến sĩ này không đặt vấn đề?
Trang 220, tác giả còn cho rằng, Chăm Hồi Giáo còn lập ra: “tổ chức bịp bợm hợp pháp, như: “Liên minh các thánh đường Islam tại Việt Nam” để quan hệ (...) một số tổ chức đại diện ngoại giao ở Việt Nam nhằm yêu cầu can thiệp với chính phủ Việt Nam cho người Chàm tín đồ Islam được công nhận là ngoại kiều. Ðặc biệt nghiêm trọng, một số tên cầm đầu trong Hồi giáo Islam đã kích động dấy lên chiến dịch đăng ký xin “phục hồi quốc tịch Malaixia”, “xin xuất cảnh tập thể sang Malaixia”.
Hiện tượng này cũng thường xảy ra ở những nước độc tài đảng trị mà quần chúng không còn tin tưởng vào tập đoàn lãnh đạo của họ nữa. Nếu người Chăm xin xuất cảnh tập thể như các vị tác giả đã nêu ra, có chăng vì cộng đồng người Chăm Hồi Giáo không còn tự do để hành đạo của họ nữa, hay là họ không còn tin vào chính quyền Việt Nam nữa? Tại sao dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, người Chăm Hồi Giáo không bao giờ xin chạy trốn ra nước ngoài? Ðó cũng là điều đáng suy nghĩ.
Trang 220, tác giả viết rằng: “đạo Kitô (Thiên chúa và Tin lành) đang đẩy mạnh hoạt động xâm nhập, phát triển vào vùng dân tộc Chàm. Giáo hội Thiên chúa giáo chủ trương cho một số giáo sĩ học tiếng Chàm để phục vụ cho việc phát triển đạo này (...), đầu tư kinh phí tài trợ (...) để lôi kéo lớp trẻ trong người Chàm theo đạo của họ. Bằng thủ đoạn trên, trong thời gian qua họ đã lôi kéo được gần 6.000 người Chàm ( chiếm 5% dân số ) theo Thiên chúa và Tin lành”.
Theo luật pháp hiện hành ở Việt Nam, ai cũng có quyền học và nói tiếng Chăm. Một số giáo sĩ Thiên Chúa học tiếng Chăm là một vinh dự lớn cho ngôn ngữ này chứ không phải là một thái độ thù địch.
Theo tập thể tác giả, chưa đầy 20 năm sau ngày giải phóng, gần 6.000 người Chăm đã bỏ tín ngưỡng cha ông của mình để theo Công Giáo và Tin Lành. Ðây là một hiện tượng đáng suy nghĩ. Vì không thể đi sâu vào chi tiết của vấn đề quá khó khăn này, chúng tôi chỉ đặt ra hai nghi vấn ở đây. Có chăng vì quá nghèo đói dưới chế độ Chủ Nghĩa Xã Hội, một số người Chăm (chứ không phải tất cả người Chăm) phải bỏ tín ngưỡng tổ tiên của mình để theo một tín ngưỡng khác hầu tìm một ít lương thực, một vài chén cơm để sống qua ngày? Có chăng vì mọi giá trị cơ bản của tổ chức xã hội và gia đình người Chăm hoàn toàn bị sụp đổ, hoàn toàn thay đổi sang một trạng thái khác sau ngày giải phóng 1975, là nguyên nhân chính đáng đã đưa đẩy dân tộc Chăm phải bỏ đạo truyền thống của mình?
Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, không nghe ai nói người Chăm bỏ tín ngưỡng của mình đi theo đạo khác. Và hơn mười mấy năm ở Việt Nam, linh mục Moussay, cũng là nhân vật có ảnh hứởng lớn trong cộng đồng người Chăm, chưa bao giờ chinh phục được người Chăm nào theo Công Giáo của mình. Tại sao dưới chế độ Chủ Nghĩa Xã Hội, tập thể tác giả cho rằng có gần 6.000 người Chăm đã bỏ tín ngưỡng cha ông của mình để theo tôn giáo khác. Ðó mới là vấn đề cấp bách cần đặt ra.
Ý thức quan hệ dân tộc Kinh-Chăm
Trang 221-222, các vị giáo sư-tiến sĩ cho rằng : “hơn 70 năm qua (...) những mặc cảm trong mối quan hệ dân tộc, nhất là quan hệ Kinh-Chàm (...) vẫn còn tồn tại trong tâm khảm một bộ phận người Chăm. Nó tạo ra một sự nhạy cảm đặc biệt ở dân tộc này (...). Nó khuyếch đại những mâu thuẫn xích mích và cả những tai nạn rủi ro trong đời sống thường ngày trở thành vấn đề quan hệ dân tộc, vấn đề chính trị. Một số vụ bắn nhằm trong lúc đi săn hay cướp bóc làm thiệt mạng người Chăm, đều bị xuyên tạc là do người Kinh cố ý giết hại. Các vụ đào bới mồ mã để lấy tài sản, các vụ mất cổ vật hay di sản văn hóa ở các tháp Chàm (...) cũng bị xuyên tạc, kích động, cho thủ phạm là người Kinh”.
Ðây là một vấn đề thực tiễn duy nhất mà 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã nhìn thấy trong tác phẩm này. Tiếc rằng, tác giả cho đây là vấn đề khủng hoảng giữa người Chăm và người Kinh. Ðối với chúng tôi, đó là sự mâu thuẫn và nghi kỵ trong mối quan hệ giữa dân tộc Chăm và chính quyền Việt Nam thì đúng hơn.
Một khi chung sống trong một khu vực Phan Rang và Phan Rí, vừa chật hẹp vừa khô cằn sỏi đá, sự xích mích và hiểu lầm nhỏ nhoi giữa người Chăm và Việt, hai dân tộc không cùng một nền văn hóa và văn minh, là một điều không thể tránh khỏi trong qui luật xã hội. Nhưng không vì thế mà hai dân tộc Chăm-Việt lại hận thù nhau. Bằng chứng cụ thể là người Chăm và Việt vẫn sống trà trộn với nhau, có sự liên hệ mật thiết với nhau trên mặt tình cảm và cùng chung sống với nhau trong một không khí rất là bình thường. Người ta còn ghi nhận rằng là có nhiều cặp vợ chồng Chăm-Việt đã từng xãy ra và người Chăm có rất nhiều bạn bè người Việt, ăn cơm Việt, nói tiếng Việt. Một số người Chăm, nhất là giới trẻ, còn thích ăn mặc theo người Việt, nghe câu thơ lời hát bằng tiếng Việt còn hơn tiếng Chăm của họ.
Những hiện tượng mà chúng tôi vừa trình bày đã cho độc giả thấy rõ là không có sự hận thù, nghi kỵ và mâu thuẫn giữa dân tộc Chăm và dân tộc Việt như 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã mô tả. Ngược lại, môi trường chính trị sau ngày giải phóng 1975 đã tạo ra mối quan hệ vô cùng căng thẳng giữa chính sách dân tộc của Ðảng và Nhà Nước đối với người Chăm, mà chúng tôi xin tạm gọi đó là “mối quan hệ Chăm-chính quyền Việt Nam”.
Lúc ban đầu, sự khủng hoảng này chỉ thể hiện qua sự nghi kỵ và ngờ vực của người Chăm đối với chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa đến với họ quá bất ngờ, trong một thời điểm vô cùng hoang mang và sợ sệt vì sự thay ngôi đổi chúa ở miền nam vào năm 1975. Sự nghi kỵ và ngờ vực này càng khuyếch đại lên thành những mối mâu thuẫn và đối nghịch, một khi Ðảng và Nhà Nước áp dụng chính sách biến dân tộc Chăm thành một “công dân mới” của Xã Hội Chủ Nghĩa qua chương trình cải tạo, tịch thu tài sản, trưng dụng đất đai, ngăn cấm việc hành đạo, đào thải văn hóa truyền thống mà Ðảng và Nhà Nước cho đó là mê tín dị đoan, bãi bỏ biên giới đất đai thần quyền (đất đai của đền tháp chẳng hạn) .v.v... Kể từ đó, mối quan hệ giữa người Chăm và chính quyền Việt Nam trở thành hai “đối tượng thù địch”, không phải vì vấn đề chủng tộc Chăm-Việt như 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã đưa ra, mà vì một số điểm trong chủ thuyết chính trị Xã Hội Chủ Nghĩa không phù hợp với cơ cấu tổ chức cổ truyền người Chăm, nhất là không phù hợp với tâm tính người Chăm, một dân tộc đã ý thức rõ rệt rằng họ là người vong quốc, nhưng họ không bao giờ chấp nhận với bất cứ giá nào quyền thống trị của dân tộc khác trên định mệnh của mình. Ðể định nghĩa cho hiện tượng này, chúng tôi tạm gọi đó là “ý thức hệ chống áp bức” của người Chăm hơn là “ý thức hệ quốc gia” đòi quyền tự trị hay phục hưng vương quốc Champa như 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã đề cập.
Ngoài một số điểm trong chủ thuyết Xã Hội Chủ Nghĩa không phù hợp với truyền thống cơ bản người Chăm, Ðảng và Nhà Nước lại giao cho giai cấp lãnh đạo người Việt ở địa phương toàn quyền để thống trị người Chăm qua nhiều hình thức và trong nhiều mô hình khác nhau, từ hâm dọa đến nghi ngờ chụp mũ dân tộc này một các tùy tiện, dù họ là người vô tội. Các lực lượng công an và giới lãnh đạo này có quyền quyết định truy nã và bắt bớ giam cầm người Chăm trong bất cứ lúc nào khi họ cần, không phải vì người Chăm vi phạm luật pháp Việt Nam hay chống Ðảng và Nhà Nước, nhưng vì người Chăm này không chấp nhận thái độ hách dịch của họ, lối tham nhũng trắng trợn của họ hay là phương cách lợi dụng danh nghĩa của Ðảng và Nhà Nước để đàn áp người Chăm vô tội. Kể cả 23 vị giáo sư-tiến sĩ, dù họ không phải là thẩm phán quan tòa, cũng có chức năng để vu khống và chụp mũ người Chăm là nhóm nuôi dưỡng tư tưởng phục quốc Champa, kết tội dân tộc Chăm là dân tộc phản động !. Nhưng rồi, người Chăm vô tội này tìm thấy ở đâu là bóng hình của Ðảng và Nhà Nước để mà cầu cứu.
Một số trí thức người Chăm ở hải ngoại cho chúng tôi biết rằng mọi thống khổ cơ cực, mọi sự bất công và áp bức mà dân tộc Chăm đang gánh chịu sau ngày giải phóng không bao giờ được Ðảng và Nhà Nước lắng tai nghe, nghĩ đến hay biết đến. Mặc dù người Chăm đã kêu van về sự bất công, áp bức tại địa phương, từ vụ giết hại người Chăm, cướp bóc làm thiệt mạng người Chăm, vụ đào bới mồ mã người Chăm, vụ xe cán người Chăm, đến vụ một số nhà lãnh đạo địa phương vu khống và kết tội người Chăm không bằng chứng .v.v..., mà 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã đưa ra, nhưng Ðảng và Nhà Nước chỉ biết làm ngơ, không trả lời và cũng không giải quyết.
Ðiều mà chúng tôi xin khẳng định ở đây, đó là không có tư liệu nào chứng minh rằng Ðảng và Nhà Nước ra lệnh cho 23 vị giáo sư-tiến sĩ kết tội dân tộc Chăm. Ngược lại cơ quan kiểm duyệt của Ðảng và Nhà Nước cho phép xuất bản bài nhận định của 23 vị giáo sư-tiến sĩ này. Giấy phép xuất bản đăng trong tác phẩm này là một bằng chứng cụ thể. Ðối với độc giả, nếu cơ quan kiểm duyệt của Ðảng và Nhà Nước cho phép xuất bản tác phẩm này có nghĩa là Ðảng và Nhà Nước cũng đã chấp thuận, dù là gián tiếp, quan điểm bôi nhọ người Chăm của 23 vị giáo sư-tiến sĩ là đúng sự thật, không đi ngược lại với quy luật nhân quyền và pháp lý ở Việt Nam. Sự đồng ý của cơ quan kiểm duyệt của Ðảng và Nhà Nước đã đưa độc giả đặt lại bao nghi vấn ở đây: có chăng người Chăm này chỉ là công dân ngoại lệ của đất nước Việt Nam, thành vậy bất cứ ai thuộc thành viên của Ðảng, dù họ là nhà khoa học hay người viết lách, đều có quyền kết tội, chụp mũ và bôi nhọ dân tộc Chăm theo thiển ý của mình?
Sự im lặng của luật pháp Việt Nam đối với nội dung tác phẩm này càng gây thêm sự mâu thuẫn, nghi kỵ trong mối quan hệ dân tộc Chăm-Ðảng và Nhà Nước. Nó càng khuyếch đại thêm bao sự uất ức trong tâm khảm của giới trí thức người Chăm, vì quá tủi thân và đau buồn cho số mệnh của một dân tộc vong quốc. Sự kiềm chế và áp bức qua nhiều hình thức khác nhau sau ngày giải phóng càng châm ngòi thêm sự thù hằn, mất lòng tin hay yếu tố nghi kỵ của người Chăm đối với Xã Hội Chủ Nghĩa, càng làm tăng thêm lòng nuối tiếc của dân tộc Chăm đối với chế độ Việt Nam Cộng Hòa, một chế độ dù sao đi nữa, cũng hiểu được tâm tính người Chăm, giải quyết nguyện vọng của người Chăm, luôn luôn cho người Chăm một tiếng nói thật sự trong mọi tổ chức xã hội và chính trị ở Việt Nam thời đó.
* * *
Mấy vấn đề về quan hệ ở một số vùng dân tộc thiểu số. II.- Vùng dân tộc Chàm đúng ra phải là một bài nhận định khoa học về mối quan hệ dân tộc Chăm-Kinh. Tiếc rằng, bài nhận định này trở thành một văn chương thù hằn và khiêu khích, nhằm chỉ mặt đặt tên cho dân tộc Chăm mà tác giả gọi đó là “các thế lực thù địch”. Tác giả dùng bao cụm từ vô cùng khắt khe để ám chỉ tâm tính người Chăm, ẩn chứa bao lý luận vừa thách đố vừa khinh bỉ dân tộc này, bộc lộ lối hành văn vô cùng thô bạo để phản ảnh quyền lực của dân tộc Kinh đa số.
Sau năm 1975, mọi định mệnh tương lai của dân tộc Chăm không còn trong bàn tay họ nữa. Sống trong một đất nước Việt Nam “độc lập, tự do và dân chủ”, trong một quốc gia Xã Hội Chũ Nghĩa, người Chăm chỉ là một “công dân ngoại lệ”. Mọi nguyện vọng của họ, dù đó là vấn đề chỉ liên quan đến đời sống kinh tế, giáo dục, xã hội, tôn giáo hay tinh thần, cũng bị hiểu lầm, chụp mũ hay gạt bỏ. Họ là công dân Việt Nam, nhưng họ không được luật pháp Việt Nam che chở dù họ không có tội gì, và cũng không được Ðảng và Nhà Nước đùm bọc, dù họ có than van bao nhiêu đi nữa. Nếu có một pháp lý rõ ràng ở Việt Nam về luật nhân quyền của một công dân và nếu pháp lý này cho rằng danh dự của một dân tộc hay của một cá nhân là quyền bất khả xâm phạm, chúng tôi tin rằng tác phẩm của 23 vị tiến sĩ-giáo sư không thể ra mắt với độc giả được.
Bài nhận định còn có một mục tiêu khác đó thông tin rằng dân tộc Chăm có tư tưởng cực đoan, kỳ thị dân tộc Kinh, là một trong “bốn dân tộc phản động” có sự liên hệ mật thiết với các “thế lực thù địch” bên ngoài nhằm chống Ðảng và Nhà Nước, tìm cách lật đổ chính quyền Việt Nam. Tiếc rằng đây chỉ là một lối suy diễn để kết tội một cách tùy tiện cho dân tộc Chăm, chứ không phải là quan điểm nghiêm túc hay nhận định khách quan của các nhà nghiên cứu về xã hội người Chăm nữa. Mặc dù trong ban biên tập này có một số giáo sư như Mạc Ðường, Phan An, Phan Xuân Biên, được xem như là chuyên gia về văn hóa và xã hội của dân tộc Chăm, nhưng tác phẩm này đã đưa ra bao quan điểm hoàn toàn đi ngược lại với lịch sử hiện đại của dân tộc Chăm trong buổi ban đầu của thế kỷ thứ 21 này.
Cũng nhìn qua nội dung bài nhận định, độc giả có cảm tưởng rằng tập thể tác giả đang viết một bản tuyên cáo chống người Chăm, chứ không phải là bài viết khách quan về người Chăm. Lợi dụng ngòi bút và dựa vào “thế lực khoa học”, tập thể tác giả này đánh giá tư tưởng và hành động của người Chăm một cách tùy tiện, không đi tìm nguyên nhân sâu xa để giải thích tại sao mối quan hệ giữa dân tộc Chăm và nhà nước Việt Nam trở thành hai “đối tượng thù nghịch”, và tại sao dân tộc Chăm không còn tin vào chính sách của Ðảng và Nhà Nước nữa? Tác giả đưa ra bao quan điểm sai lầm về tổ chức “người Chăm lưu vong”, coi đó là những đối tượng chống cách mạng, muốn phục quốc Champa, nhưng tác giả không đưa ra một minh chứng nào để giải thích cho lý luận của mình. Tác giả chỉ lấy hiện tượng làm bản chất, dùng bao cụm từ vừa tinh vi vừa thô bạo để chụp mũ và khủng bố người Chăm hơn là đi tìm minh chứng cụ thể để phân tích hiện tượng mất lòng tin của dân tộc Chăm đối với Ðảng và Nhà Nước.
Ðối với người Chăm, vì bị kết tội, bị vu khống và bị chụp mũ, bài nhận định này có chăng chỉ làm bùng cháy thêm lòng câm hờn của họ đối với Ðảng và Nhà Nước? Tăng cường thêm bản chất hận thù giữa hai dân tộc Kinh-Chăm? Qua phong cách hành văn thô bạo, dùng cụm từ khắt khe để kết tội người Chăm một cách phi khoa học, độc giả có cảm tưởng rằng có chăng các vị giáo sư-tiến sĩ này đang lột bỏ đi bộ áo khoa học để ôm ấp tư tưởng dân tộc lớn của người Kinh và thái độ tự cao trịch thượng của người Kinh để đánh giá tâm lý người Chăm vong quốc hôm nay. Có chăng thái độ này chỉ làm cho người Chăm càng có tư tưởng khép kín trong sự tự ti mặc cảm đối với Ðảng và Nhà Nước?
Người Chăm rất thật thà nhưng rất là nhạy cảm. Họ không bao giờ hiểu nổi tại sao Ðảng và Nhà Nước luôn luôn chủ trương đoàn kết dân tộc, nhưng ngược lại Ðảng và Nhà Nước cũng cho phép xuất bản tác phẩm này với mục tiêu để bôi nhọ và chụp mũ dân tộc Chăm vô bằng chứng. Có chăng chủ trương đoàn kết và hoà đồng dân tộc của Ðảng và Nhà Nước chỉ là một chính sách mị dân?
Bài nhận định này còn có một tác hại khác, đó là đưa độc giả người Kinh càng câm thù người Chăm thêm nữa, càng nghi nghờ người Chăm là những kẻ phản bội Ðảng và Nhà Nước đã cưu mang đùm bọc dân tộc này, là những kẻ theo “các thế lực thù địch” bên ngoài chống lại cách mạng.
Ở các nước tự do trên thế giới, dùng ngòi bút để chụp mũ hay bôi nhọ một cá nhân hay một tập thể dân tộc khác là điều cấm kỵ trong luật pháp. Không ai dám làm chuyện này. Chính vì thế, sự ra đời của tác phẩm này càng làm tăng cường thêm số lượng độc giả đứng ra bênh vực dân tộc Chăm hơn là lên án người Chăm vô tội. Và sự ra đời của tác phẩm này còn có một tác hại quan trọng khác đó là tập thể tác giả này, vì vô tình hay cố ý, tự đứng ra để mô tả lại chính sách thống trị của Ðảng và Nhà Nước đối với dân tộc thiểu số ở miền trung Việt Nam.
Dựa trên những dữ kiện mà tập thể tác giả này đã đưa ra trong tác phẩm này, chúng tôi cho rằng hiện tượng thù nghịch giữa người Chăm và Chủ Nghĩa Xã Hội đã bộc phát từ ngày giải phóng 1975. Và sự bộc phát này không phải vì người Chăm là dân tộc phản động, nhưng vì họ không hiểu một chút gì về vai trò của Ðảng và Nhà Nước trong “chính sách hòa đồng dân tộc” hay khẩu hiệu “Ðộc Lập, Tự Do và Dân Chủ” mà Xã Hội Chủ Nghĩa đã đưa ra. Một bằng chứng cụ thể đó là cùng chung sống trong đất nước Việt Nam, người Chăm có cảm tưởng rằng họ chỉ là “công nhân ngoại lệ, một nhóm tội phạm hay một khối thù địch”.
Nếu công nhận người Chăm là công dân thật sự của một nước Việt Nam dân chủ và luôn luôn được luật pháp Việt Nam che chở, chúng tôi tin rằng 23 vị giáo sư-tiến sĩ này không dám tạo dựng ra một hiện tượng hoàn toàn hư ảo để lên án dân tộc Chăm hoàn toàn vô tội, một dân tộc chỉ có 100.000 người, không nhà lãnh đạo và cũng không có một tổ chức tập thể vững chắc, đang trôi dạt nhấp nhô trên sóng bể đại dương mà người ta sẽ không còn biết họ là ai nữa trong thế kỷ thứ 21 này. Ðó mới là vấn đề thực tiễn cấp bách của người Chăm hôm nay.
PGs. Po Dharma
Viện Viễn Ðông Pháp
07/29/09. 09:18:35 am. 14917 words, 924 views. Categories: Không ðề, Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Liên kết blogs, Lịch sử và ðịa dư Việt Nam, Phan Rang kỷ niệm, Luận bàn văn chương, Xã hội và nhân văn ,