Archives for: November 2009
NHỮNG ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT ĐỐI VỚI NHÀ CẦM QUYỀN CỘNG SẢN VIỆT NAM - NGHỊ VIỆN CHÂU ÂU THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT VỀ NHÂN QUYỀN VIỆT NAM

Nghị Viện Châu Âu (E.P.) đang chuẩn bị họp hôm 26/11/2006 - Ảnh: vietnetlinks
NÓI VỚI NHÀ CẦM QUYỀN HÀ NỘI VÀ NHỮNG AI ĐÃ HOẶC ĐANG NGẮM NGHÉ HỢP TÁC VỚI CỘNG SẢN
Cộng sản Việt Nam đừng nghĩ rằng đu dây với Mỹ được mà hý hững, chỉ có con đường duy nhất là từ bỏ chế độ Cộng sản, thành khẩn nhận tội và xin lỗi trước quốc dân và thế giới về các tội ác chống dân tộc như thảm sát trong cải cách ruộng đất, thảm sát Mậu Thân, đàn áp và tiêu diệt các tôn giáo, đàn áp và tiêu diệt các đảng phái đối lập và đồng bào sắc tộc, trả thù quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa, bán đứng tổ quốc và dân tộc cho Tàu cộng, và phải trả lại các tài sản mà Cộng sản đã cướp đoạt của nhân dân từ năm 1945 đến nay. Phải thả ngay các tù nhân chính trị - tù nhân lương tâm, xin lỗi và bồi thường cho họ và gia đình. Đó là những điều kiện tiên quyết để nói chuyện hòa hợp hòa giải.
Nếu còn ngoan cố không nhận tội và xin lỗi công khai trước quốc dân và thế giới thì mọi lời tuyên truyền chỉ là trò lừa bịp để nhuộm đỏ Việt Nam, củng cố quyền lực của một chế độ công an trị độc tài tàn bạo, gian ngoan xảo trá, áp bức bóc lột nhân dân, tước đoạt mọi quyền tự do căn bản của con người. Thật là phi lý khi kẻ làm nên vô vàn tội ác, chưa bao giờ biết nhận tội và nói lời xin lỗi nạn nhân, chưa bao giờ biết cải tà quy chính mà nay lại đòi nạn nhân của nó phải hòa hợp hòa giải; đúng là trò gian manh của bọn ăn cướp dựa vào quyền lực và tiền bạc để khỏa lấp che giấu mọi ý đồ thâm độc hầu duy trì và củng cố sự ác.
Chỉ có những kẻ ngây thơ nhẹ dạ, những kẻ nông nỗi, những kẻ tham mồi danh lợi bất chấp phải trái, những kẻ ăn phải bã độc của cộng sản, những kẻ vô ý chí, những kẻ chóng quên, những kẻ phản bội chính nghĩa, những kẻ thật thà bị lợi dụng, và những kẻ đầu cơ trục lợi mới hợp tác với kẻ thù của dân tộc là Cộng sản mà không hề đưa ra một điều kiện tiên quyết nào đối với Cộng sản Việt Nam cả.
Mọi lý luận cho rằng phải hợp tác với Cộng sản để "cải hóa" họ dần dần là lấy trứng chọi đá và không biết bản thân mình là ai. Mọi lý luận cho rằng phải làm gián điệp cho Mỹ xâm nhập vào Việt Nam để lèo lái Cộng sản Việt Nam đi theo Mỹ, là những ý niệm phi lịch sử và chẳng hiểu chủ nghĩa Cộng sản là cái gì cả. Mỹ chưa hề chiến thắng Cộng sản Việt Nam hay Trung Hoa, và hiện đang là con nợ lớn nhất của Trung cộng. Trong mắt cộng sản Việt Nam thì Mỹ chỉ là anh nhà giàu có tiền và sức mạnh, nhưng là loại vai u thịt bắp, xưa nay chỉ chuyên nuôi dưỡng những bọn "tay sai" ăn hại đái nát trên thế giới, cộng sản Việt Nam vẫn mơ sẽ có ngày cùng bọn cộng sản quốc tế cắm cờ đỏ trên tòa Bạch ốc.
Cho nên:
NGÀY NÀO MÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT TRÊN CHƯA ĐƯỢC CỘNG SẢN VIỆT NAM THI HÀNH THÌ NGÀY ĐÓ TOÀN DÂN VIỆT NAM CÒN PHẢI CHỐNG CỘNG CHO ĐẾN CÙNG ĐỂ CỨU TỔ QUỐC VÀ DÂN TỘC THOÁT KHỎI THẢM HỌA ĐỎ VÀ LÀM TÔI TỚ CHO TRUNG CỘNG.
Diễn Đàn Ái Hữu Ninh Thuận
Xin vui lòng kéo xuống phần cuối của bài này để xem truyền hình lại buổi họp của E.P. thông qua Nghị quyết Nhân Quyền Việt Nam Và Lào hôm 26/11/2009.
NGHỊ VIỆN CHÂU ÂU THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT NHÂN QUYỀN VIỆT NAM
Source: VOA Vietnamese
Hôm 26/11, Nghị viện Châu Âu (EP) đã thông qua một nghị quyết về nhân quyền Việt Nam, kêu gọi Hà Nội thả tất cả các nhà hoạt động nhân quyền, các tù nhân lương tâm và chính trị, trong đó có linh mục Nguyễn Văn Lý và luật sư Lê Thị Công Nhân.
Nghị quyết của cơ quan lập pháp thuộc Liên minh Châu Âu cũng "lên án việc sử dụng bạo lực xua đuổi hơn 150 sư thầy và sư cô khỏi các tu viện, và kêu gọi chấm dứt việc đàn áp các nhà tu hành."
Nghị quyết có đoạn: "Hôm 27/9/2009, hàng trăm tăng ni Phật giáo trẻ tuổi từ tu viện Bát Nhã bị tấn công và đánh đập một cách tàn bạo trong khi tu viện của họ bị phá hoại, nhưng giới hữu trách và cảnh sát làm ngơ trước lời kêu cứu của họ."
Các nghị viên Châu Âu cũng yêu cầu Việt Nam "thả vô điều kiện" nhà tu hành bất đồng chính kiến Thích Quảng Độ và "tái lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất" hiện bị cấm hoạt động tại Việt Nam.
Ngoài ra, EP cũng kêu gọi chính phủ Việt Nam "hạn chế vi phạm tự do ngôn luận, tự do tôn giáo và tự do hội họp."
Cơ quan lập pháp của Châu Âu này cũng đề nghị "đưa một điều khoản bắt buộc thực hiện và cụ thể về nhân quyền và dân chủ vào tiến trình đàm phán về Hiệp định Đối tác và Hợp tác mới với Việt Nam."
Hôm 8/10, Bộ ngoại giao Việt Nam nói rằng "không có cái gọi là Việt Nam ép 400 người theo pháp môn Làng Mai phải rời khỏi tu viện Bát Nhã."
Bộ này cũng nói rằng thông tin về đụng độ giữa các sư thầy, sư cô tại tu viện này và chính quyền là "hoàn toàn sai sự thật."
Hà Nội cũng từng khẳng định không bắt các tù nhân chính trị mà chỉ giam những người vi phạm pháp luật.
Cuối tháng mười, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ công bố "Phúc trình về Tự do Tôn giáo Quốc tế 2009," trong đó nói rằng tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam "tiếp tục được cải thiện" nhưng "những vấn đề lớn vẫn còn tồn tại."
Với hơn 700 nghị viên được bầu trực tiếp từ 27 nước thành viên của Liên minh Châu Âu, Nghị viện Châu Âu được coi là một trong những cơ quan lập pháp quyền lực nhất thế giới.
TOÀN VĂN NGHỊ QUYẾT BẰNG TIẾNG ANH
Texts adopted
Thursday, 26 November 2009 - Strasbourg Provisional edition
Laos and Vietnam
P7_TA-PROV(2009)0104 B7-0157, 0177, 0178 and 0179/2009
http://www.europarl.europa.eu/sides/getDoc.do?pubRef=-//EP//TEXT+TA+P7-TA-2009-0104+0+DOC+XML+V0//EN&language=EN
European Parliament resolution of 26 November 2009 on the situation in Laos and Vietnam
The European Parliament,
– having regard to the 15th ASEAN Summit Meeting of 23 to 25 October 2009,
– having regard to the inauguration of the ASEAN Intergovernmental Commission on Human Rights on 23 October 2009,
– having regard to the EU Annual Report on Human Rights 2008,
– having regard to the ongoing negotiations on the new Partnership and Cooperation Agreement between the EU and Vietnam and to the EU-Vietnam human rights dialogue held twice a year between the EU and the Government of Vietnam,
– having regard to its previous resolutions on Laos, in particular those of 15 November 2001 on the arbitrary arrests and the political situation in Laos(1) and 1 December 2005 on the human rights situation in Cambodia, Laos and Vietnam(2) ,
– having regard to the Cooperation Agreement between the EU and the Lao People's Democratic Republic of 1 December 1997, based on "respect for democratic principles and fundamental human rights as set out in the Universal Declaration of Human Rights",
– having regard to Rule 122(5) of its Rules of Procedure,
Vietnam
A. whereas the Vietnamese Government has refused to respond to many of the recommendations made during the UN Human Rights Council's Universal Periodic Review, held from May to September 2009, with a view to improving its human rights record,
B. whereas hundreds of people are currently imprisoned in Vietnam for their religious or political beliefs, including Montagnard Christians, a Catholic priest, Mennonite pastors, members of the Cao Dai faith and Hoa Hao Buddhists,
C. whereas on 27 September 2009 hundreds of young Buddhist monks from Bat Nha Monastery were violently attacked and beaten and their monastery vandalised, while the State authorities and police ignored their plea for help; whereas other monks who found refuge in the Phuoc Hue Temple were subjected to physical violence and harassment by the police; whereas the monks are facing the risk of expulsion by the government on the grounds that they have been occupying Bat Nha Monastery without permission or prior registration,
D. whereas the assault on the monastery is considered by many to be linked to the 10-point proposal for religious reform which Thich Nhat Hanh presented to Vietnam's President Nguyen Minh Triet in 2007,
E. whereas all religious groups must be authorised by the government and overseen by government-appointed management committees, and whereas many religious organisations face a ban and persecution of their members if they wish to remain independent of the government,
F. whereas the dignitaries of the Unified Buddhist Church of Vietnam are virtually all imprisoned, starting with its Patriarch Thich Quang Do (aged 81), the most eminent of the Vietnamese dissidents, who has been detained for more than 27 years, currently in his monastery of Zen Thanh Minh in Ho Chi Minh City,
G. whereas Ms Tran Khai Thanh Thuy, a Vietnamese writer and a leading figure in the movement for democracy in Vietnam, has been arrested again after serving a nine-month prison sentence in 2007; whereas she suffers from severe diabetes, in spite of which the Vietnamese authorities refuse to release her on bail or allow her to receive any medication,
H. whereas several prisoners of conscience, including Nguyen Van Ly, Le Thi Cong Nhan, and Nguyen Binh Thanh, all sentenced for "propaganda against the government of the Socialist Republic of Vietnam", have been denied proper medical care in prison although their medical condition requires their immediate hospitalisation,
I. whereas in the absence of independent human rights organisations, Church leaders often take on the role of human rights defenders and fight for greater tolerance and more democratic principles,
J. whereas Vietnam, which will assume the chair of ASEAN in 2010, should set an example by improving its human rights practices; whereas the government could start by releasing the hundreds of peaceful government critics, independent church activists, bloggers and democracy advocates imprisoned on groundless national security charges in violation of international law for expressing peaceful dissent,
Laos
K. whereas on 25 September 2009 the Lao People's Democratic Republic ratified the International Covenant on Civil and Political Rights, which guarantees in particular people's right to freedom of faith, freedom of association, and freedom of speech and of the press, as well as the right to demonstrate and political rights,
L. whereas almost one month after the 10th anniversary of the "Student Movement of 26 October 1999" launched by students and teachers in Vientiane, the main leaders of the movement – Thongpaseuth Keuakoun, Seng-Aloun Phengphanh, Bouavanh Chanmanivong and Kèochay – are still being held in secret detention, while according to reports Khamphouvieng Sisa-At has died in prison in uncertain circumstances,
M. whereas on 2 November 2009 more than 300 people who were preparing for a peaceful demonstration in Vientiane to demand respect for human rights and a multiparty system in memory of the 10th anniversary of the crackdown were apprehended by the secret police of the Lao People's Democratic Republic, and whereas nine of them – Ms Kingkèo and Ms Somchit, Mr Soubinh, Mr Souane, Mr Sinpasong, Mr Khamsone, Mr Nou, Mr Somkhit and Mr Sourigna – are still being held in custody,
N. whereas Laos continues to persecute Hmong communities because of a Hmong insurgency that dates back to the 1960s, subjecting Hmong living in areas of Laos suspected to be centres of insurgency to arrest, torture, sexual abuse and extrajudicial killing,
O. whereas 5 000 Lao Hmong are currently being detained in the Huay Nam Khao camp in Thailand and are subject to deportation as a result of an agreement between the Governments of Thailand and Laos, and whereas another 158, including 85 children, have been detained in inhuman conditions for over three years in Nong Khai,
P. whereas there is concern about the general political situation in Laos, which has been ruled by a single party since 1975 and whose population continues to be deprived of basic human rights,
Vietnam
1. Urges the government to cease all forms of repression against those who exercise their rights to freedom of expression, freedom of belief and religion and freedom of assembly, in accordance with international human rights standards and the Vietnamese Constitution; calls on the Vietnamese Government to comply with its international obligations, which entails recognition of all religious communities and the free practice of religion and the restitution of assets arbitrarily seized by the State from the Unified Buddhist Church of Vietnam, the Catholic Church and any other religions communities;
2. Condemns the reported violent expulsion of more than 150 monks and nuns from monasteries and the fact that the increasingly tense situation following these actions against the peaceful Buddhist community is in clear contradiction of commitments to comply with internationally accepted standards on freedom of religion, especially when it comes to people trying to exercise their rights, which the Government of the Socialist Republic of Vietnam has undertaken to observe as a member of the UN Security Council and future Chair of ASEAN;
3. Asks the Commission and the Council, within the framework of the current negotiations on the new Partnership and Cooperation Agreement with Vietnam, to include a binding and unambiguous clause on human rights and democracy, together with a mechanism allowing for its implementation, in order to put an end to systematic violations of democracy and human rights;
4. Calls for the cessation of all persecution and harassment, and for monks and nuns to be allowed to practice Buddhism according to the tradition of the Thich Nhat Hanh Buddhist bonze community in Bat Nha and elsewhere;
5. Demands the unconditional release of Thich Quang Do and re-establishment of the legal status of the Unified Buddhist Church of Vietnam and of its dignitaries;
6. Calls on the government to put in place an independent national human rights commission, to receive and investigate allegations of torture or other abuses of power by public officials, including members of the security services, and to initiate proceedings to abolish the death penalty;
7. Calls on the Government of Vietnam, in view of Vietnam's role as a member of the UN Security Council, to issue standing invitations to UN special rapporteurs, particularly those on freedom of expression, religious freedom, torture, human rights defenders and violence against women, and to the UN Working Group on Arbitrary Detention;
Laos
8. Welcomes the ratification of the International Covenant on Civil and Political Rights by the Laotian Government; calls on the Laotian authorities to respect fully the terms of the Covenant, to harmonise Laotian law with its provisions without delay and to practise these provisions to internationally agreed standards, notably when it comes to freedom of speech, assembly and faith;
9. Reiterates its demand for the immediate release of the leaders of the "Student Movement of 26 October 1999", as well as of all the prisoners of conscience held in Laos, and entrusts the competent EU delegation in Vientiane with the responsibility for following up this matter;
10. Calls on the Laotian authorities to release unconditionally all those people arrested during the attempted peaceful demonstration on 2 November 2009;
11. Calls on the Thai authorities to put an immediate end to the detention of 158 Lao Hmong refugees and to allow them to resettle in Thailand or in the United States, Canada, the Netherlands or Australia, which have already agreed to take them in; calls likewise on the Thai Government to guarantee that all Lao Hmong in the Huay Nam Khao camp have access to screening and status determination procedures if they wish to make an asylum claim;
12. Calls on the Commission to monitor closely the situation of the Lao Hmong community and the government's programmes for ethnic minorities;
13. Reiterates its demand to the Laotian authorities to devise and implement as soon as possible all the reforms needed to bring democracy to the country, to guarantee the right to peaceful expression of political opposition and to ensure that internationally monitored multi-party elections take place soon, with a view to national reconciliation;
General
14. Urges the authorities to release immediately and unconditionally all human rights defenders, political prisoners and prisoners of conscience, as their detention is a violation of human rights; also requests the authorities to guarantee their physical and psychological wellbeing in all circumstances and to offer those who need it access to good independent professional medical care;
15. Calls on the Council and the Commission to carry out a detailed assessment of the implementation policies in the field of democracy and human rights conducted in Laos and Vietnam since the signing of the Partnership and Cooperation Agreements and to report back to Parliament;
o
o o
16. Instructs its President to forward this resolution to the Council, the Commission, the governments and parliaments of the Member States, the governments and parliaments of Vietnam and Laos, the ASEAN Secretariat, the United Nations High Commissioner for Human Rights and the Secretary-General of the United Nations.
(1) OJ C 140 E, 13.6.2002, p. 577.
(2) OJ C 285 E, 22.11.2006, p. 129.
TOÀN VĂN NGHỊ QUYẾT BẰNG TIẾNG PHÁP
Textes adoptés
Jeudi 26 novembre 2009 - Strasbourg Edition provisoire
Laos et Viêt Nam
P7_TA-PROV(2009)0104 B7-0157, 0177, 0178 et 0179/2009
http://www.europarl.europa.eu/sides/getDoc.do?pubRef=-//EP//TEXT+TA+P7-TA-2009-0104+0+DOC+XML+V0//FR&language=FR
Résolution du Parlement européen du 26 novembre 2009 sur la situation au Laos et au Viêt Nam
Le Parlement européen,
— vu le 15e sommet de l'ANASE qui s'est tenu du 23 au 25 octobre 2009,
— vu l'inauguration, le 23 octobre 2009, de la commission intergouvernementale des droits de l'homme de l'ANASE,
— vu le rapport annuel de l'Union européenne sur les droits de l'homme en 2008,
— vu les négociations actuelles sur le nouvel accord de partenariat et de coopération entre l'Union et le Viêt Nam, d'une part, et le dialogue UE-Viêt Nam sur les droits de l'homme, tenu tous les six mois entre l'Union et le gouvernement vietnamien, d'autre part,
— vu ses résolutions précédentes sur le Laos, en particulier celle du 15 novembre 2001 sur les arrestations arbitraires et la situation politique au Laos(1) et celle du 1er décembre 2005 sur la situation des droits de l'homme au Cambodge, au Laos et au Vietnam(2) ,
— vu l'accord de coopération entre l'Union et la République démocratique populaire lao du 1er décembre 1997, fondé sur "le respect des principes démocratiques et des droits fondamentaux de l'homme, tels qu'énoncés dans la Déclaration universelle des droits de l'homme",
— vu l'article 122, paragraphe 5, de son règlement,
Viêt Nam
A. considérant que le gouvernement vietnamien a refusé de répondre à de nombreuses recommandations formulées dans le cadre de l'examen périodique universel du Conseil des droits de l'homme des Nations unies, qui s'est tenu de mai à septembre 2009, en vue d'améliorer son bilan dans le domaine des droits de l'homme,
B. considérant que des centaines de personnes sont actuellement emprisonnées au Viêt Nam pour leurs croyances religieuses ou leurs opinions politiques, notamment des chrétiens montagnards, un prêtre catholique, un pasteur mennonite, des adeptes du culte Cao Dai et des bouddhistes Hoa Hao,
C. considérant que le 27 septembre 2009, des centaines de jeunes moines bouddhistes du monastère de Bat Nha ont été violemment attaqués et battus et que leur monastère a été vandalisé tandis que les autorités gouvernementales et la police ont ignoré leur appel à l'aide; que d'autres moines, qui avaient trouvé refuge dans le temple de Phuoc Hue, ont été agressés physiquement et persécutés par les forces de police; qu'ils risquent d'être expulsés par le gouvernement au motif qu'ils occupaient le monastère de Bat Nha sans autorisation ni enregistrement préalable,
D. considérant que d'après de nombreuses personnes, l'attaque du monastère serait liée à la proposition en 10 points pour des réformes religieuses présentée en 2007 par Thich Nhat Hanh à Nguyen Minh Triet, Président du Viêt Nam,
E. considérant que tous les groupes religieux doivent être autorisés par le gouvernement et supervisés par des comités de gestion désignés par ce dernier et que de nombreuses organisations religieuses, en souhaitant préserver leur indépendance à l'égard du gouvernement, s'exposent au bannissement et à la persécution de leurs membres,
F. considérant que les dignitaires de l'Église bouddhique unifiée du Viêt Nam sont pratiquement tous emprisonnés, à commencer par son patriarche Thich Quang Do (81 ans), le plus éminent des dissidents vietnamiens, qui a été détenu pendant plus de 27 ans, actuellement dans son monastère de Zen Thanh Minh à Hô Chi Minh-Ville,
G. considérant que Mme Tran Khai Thanh Thuy, écrivain vietnamien et figure de proue du mouvement pour la démocratie au Viêt Nam, a été de nouveau arrêtée après avoir purgé une peine d'emprisonnement de neuf mois en 2007; qu'elle souffre de diabète sévère, en dépit de quoi les autorités vietnamiennes refusent de la libérer sous caution ou de l'autoriser à recevoir tout traitement médical,
H. considérant que plusieurs prisonniers d'opinion, dont Nguyen Van Ly, Le Thi Cong Nhan et Nguyen Binh Thanh, tous condamnés pour "propagande contre le gouvernement de la République socialiste du Viêt Nam" se sont vu refuser l'accès à des soins médicaux appropriés en prison alors que leur état de santé nécessite une hospitalisation immédiate,
I. considérant qu'en l'absence d'organisations indépendantes de défense des droits de l'homme, les dirigeants religieux jouent souvent le rôle de défenseurs des droits de l'homme et luttent pour plus de tolérance et pour le respect des principes démocratiques,
J. considérant que le Viêt Nam, qui assurera la présidence de l'ANASE en 2010, devrait donner l'exemple en améliorant ses pratiques relatives aux droits de l'homme; que son gouvernement pourrait commencer par libérer les centaines d'opposants pacifiques au gouvernement, adeptes d'églises indépendantes, blogueurs et défenseurs de la démocratie qui sont emprisonnés en violation du droit international, sur la base d'accusations invoquant des motifs de sécurité nationale sans fondement pour avoir exprimé une opposition pacifique,
Laos
K. considérant que le 25 septembre 2009, la République démocratique populaire lao a ratifié le pacte international relatif aux droits civils et politiques, qui garantit notamment le droit du peuple à la liberté de croyance, la liberté d'association, la liberté d'expression et la liberté de la presse, ainsi que le droit à manifester et les droits politiques,
L. considérant que presque un mois après le 10e anniversaire du "mouvement étudiant du 26 octobre 1999", lancé par des étudiants et des enseignants de Vientiane, les principaux dirigeants de ce mouvement – Thongpaseuth Keuakoun, Seng-Aloun Phengphanh, Bouavanh Chanmanivong et Kèochay – sont toujours maintenus en détention secrète, et que Khamphouvieng Sisa-At serait mort en prison dans des circonstances indéterminées,
M. considérant que le 2 novembre 2009, plus de 300 personnes, qui se préparaient à une manifestation pacifique à Vientiane afin d'exiger le respect des droits de l'homme et un système multipartite en mémoire du 10e anniversaire de la répression, ont été appréhendées par la police secrète de la République démocratique populaire lao, et que neuf d'entre elles – Mme Kingkèo et Mme Somchit, M. Soubinh, M. Souane, M. Sinpasong, M. Khamsone, M. Nou, M. Somkhit et M. Sourigna – sont toujours en détention,
N. considérant que le Laos continue de persécuter les communautés hmongs en raison d'une rébellion hmong qui remonte aux années 1960, en soumettant les Hmongs vivant dans les régions du Laos soupçonnées d'être des centres d'insurrection à des arrestations, des tortures, des sévices sexuels et des exécutions extrajudiciaires,
O. considérant que 5 000 Hmongs du Laos sont actuellement détenus dans le camp de Huay Nam Khao, en Thaïlande, et sous le coup d'une expulsion à la suite d'un accord entre les gouvernements de la Thaïlande et du Laos et que 158 autres, dont 85 enfants, ont été détenus dans des conditions inhumaines pendant plus de trois ans à Nong Khai,
P. considérant que la situation politique générale au Laos, qui a été gouverné par un parti unique depuis 1975 et dont la population continue d'être privée de ses droits de l'homme fondamentaux, est préoccupante,
Viêt Nam
1. demande instamment au gouvernement de cesser toutes formes de répression contre ceux qui exercent leurs droits à la liberté d'expression, la liberté de croyance et de religion et la liberté de réunion, conformément aux normes internationales relatives aux droits de l'homme et à la Constitution du Viêt Nam; demande au gouvernement vietnamien de respecter ses obligations internationales, ce qui implique la reconnaissance de toutes les communautés religieuses et de la liberté de pratique religieuse ainsi que la restitution des biens saisis arbitrairement par l'État et appartenant à l'Église bouddhique unifiée du Viêt Nam, à l'Église catholique et à toutes les autres communautés religieuses;
2. condamne l'expulsion violente signalée de plus de 150 moines et nonnes des monastères et considère que la situation de plus en plus tendue à la suite de ces actions contre la communauté bouddhiste pacifique est en contradiction flagrante avec les engagements qui ont été pris de respecter les normes acceptées au niveau international en matière de liberté de religion, en particulier dans le cas des personnes qui tentent d'exercer leurs droits, que le gouvernement de la République socialiste du Viêt Nam s'est engagé à observer en tant que membre du Conseil de sécurité des Nations Unies et futur président de l'ANASE;
3. demande à la Commission et au Conseil d'inclure, dans le cadre des négociations en cours sur le nouvel accord de partenariat et de coopération avec le Viêt Nam, une clause contraignante et sans ambiguïté sur les droits de l'homme et la démocratie, ainsi qu'un mécanisme permettant sa mise en œuvre, afin de mettre un terme au non-respect systématique de la démocratie et des droits de l'homme;
4. demande qu'il soit mis un terme à tous actes de persécution et de harcèlement et que les moines et les nonnes soient autorisés à pratiquer le bouddhisme selon la tradition de la communauté du bonze bouddhiste Thich Nhat Hanh à Bat Nha et ailleurs;
5. exige la libération inconditionnelle de Thich Quang Do et le rétablissement du statut juridique de l'Église bouddhique unifiée du Viêt Nam et de ses dignitaires;
6. demande au gouvernement de mettre en place une commission nationale indépendante des droits de l'homme, de recevoir et d'enquêter sur les allégations de torture ou d'autres abus de pouvoir par des fonctionnaires publics, y compris des membres des services de sécurité, et d'engager une procédure en vue d'abolir la peine de mort;
7. invite le gouvernement du Viêt Nam, compte tenu du rôle de ce pays en tant que membre du Conseil de sécurité des Nations unies, à adresser des invitations permanentes aux rapporteurs spéciaux des Nations unies, en particulier ceux chargés des questions relatives à la liberté d'expression, à la liberté de religion, à la torture, aux défenseurs des droits de l'homme et à la violence contre les femmes, ainsi qu'au groupe de travail des Nations unies sur la détention arbitraire;
Laos
8. se félicite de la ratification du pacte international relatif aux droits civils et politiques par le gouvernement laotien; invite les autorités laotiennes à respecter pleinement les termes du pacte, à aligner la législation laotienne sur ses dispositions sans délai et à adapter ces dispositions aux normes convenues au niveau international, notamment dans les cas relatifs à la liberté d'expression, de réunion et de foi;
9. réitère sa demande de libération immédiate des dirigeants du "mouvement étudiant du 26 octobre 1999" ainsi que de tous les prisonniers d'opinion détenus au Laos, et charge la délégation compétente de l'Union à Vientiane de suivre cette affaire;
10. invite les autorités laotiennes à libérer sans condition toutes les personnes arrêtées au cours de la tentative de manifestation pacifique du 2 novembre 2009;
11. demande aux autorités thaïlandaises de libérer immédiatement les 158 réfugiés hmongs du Laos et de leur permettre de se réinstaller en Thaïlande voire aux États-Unis, au Canada, aux Pays-Bas ou en Australie, qui ont déjà accepté de les accueillir; demande également au gouvernement thaïlandais de garantir que tous les Hmongs laotiens présents dans le camp de Huay Nam Khao peuvent bénéficier des procédures de détermination du statut de réfugié et de l'examen individuel associé s'ils souhaitent faire une demande d'asile;
12. invite la Commission à surveiller de près la situation de la communauté des Hmongs du Laos et à examiner les programmes gouvernementaux destinés aux minorités ethniques;
13. réitère sa demande aux autorités laotiennes de concevoir et de mettre en œuvre dès que possible toutes les réformes nécessaires pour introduire la démocratie dans leur pays et garantir le droit à l'expression pacifique de l'opposition politique ainsi que de veiller à l'organisation prochaine d'élections pluralistes sous surveillance internationale, en vue de parvenir à la réconciliation nationale;
Aspects généraux
14. exhorte les autorités à libérer immédiatement et sans condition tous les défenseurs des droits de l'homme, les prisonniers politiques et les prisonniers d'opinion étant donné que leur détention constitue une violation des droits de l'homme; invite également les autorités à garantir leur bien-être physique et psychologique en toutes circonstances et à offrir à ceux qui en ont besoin l'accès à des soins médicaux dispensés par des professionnels indépendants;
15. invite le Conseil et la Commission à procéder à une évaluation détaillée des politiques de mise en œuvre dans le domaine de la démocratie et des droits de l'homme menées au Laos et au Viêt Nam depuis la signature des accords de partenariat et de coopération et de faire rapport au Parlement;
o
o o
16. charge son Président de transmettre la présente résolution au Conseil, à la Commission, aux gouvernements et aux parlements des États membres, aux gouvernements et aux parlements du Viêt Nam et du Laos, au secrétariat de l'ANASE, au haut commissaire des Nations unies aux droits de l'homme et au secrétaire général des Nations unies.
(1) JO C 140 E du 13.6.2002, p. 577.
(2) JO C 285 E du 22.11.2006, p. 129.
XEM TRUYỀN HÌNH BUỔI
HỌP CỦA E.P. THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT
VỀ NHÂN QUYỀN VIỆT NAM VÀ LÀO HÔM 26/11/2009
|
|
Launch in external player |
11/28/09. 02:42:51 pm. 5908 words, 970 views. Categories: Không ðề, Thiên hạ sự, Thông báo (A), Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Thời cuộc, Thông báo, Tin quan trọng, Hậu trường, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Lịch sử và ðịa dư Việt Nam, Ôn cố nhi tri tân, Video chuyên ðề ,
LẠI THÊM NHỮNG CHUYỆN ỠM Ờ: PHỎNG VẤN BÁC SĨ BÙI (DUY TÂM) - KÝ GIẢ VỊT TRỜI

Phó Thủ tướng CSVN Trương Vĩnh Trọng cùng đoàn đại biểu cao cấp của Việt Cộng thăm bác sĩ Bùi Duy Tâm (nhân vật mặc khăn đóng áo dài, đang đứng chắp tay tiếp đón các quan lớn CSVN - Ghi chú thêm của KDĐN)- Ảnh VOV
Bài thơ ỡm ờ về Bùi Duy Tâm, Dương Thu Hương, Lê Huy Thiệp, Dương Thông
CHUYỆN TÌNH TRÊN SÔNG ĐÀ
Ai đâu vả miệng, tự dưng khui
Ăn vụng mà sao chẳng chịu chùi
HUY THIỆP dường ma cô dẫn mối
THU HƯƠNG rõ gái gọi đi chui
Sông Đà ân ái vừa khai vị
Núi Tản du dương chửa nếm mùi
Thằng điếm DƯƠNG THÔNG dòm lỗ khóa
Quả tang tại trận bắt TÂM BÙI
22.11.2009
HỒ CÔNG TÂM
**************************************
VỀ BÙI DUY TÂM
Source: Hồn Việt UK, Tuổi Trẻ Việt Nam Hải Ngoại
Trên Diễn Đàn Thảo Luận 9, vi hữu, VietDzung, ký tên RAU, có đưa một bài về Bác sĩ Bùi Duy Tâm ở Chicago, Hoa kỳ (message số 54377). Về nhân vật Bùi Duy Tâm này đã một thời làm trò hề cho cộng đồng người Việt tỵ nạn việt-gian-cộng-sản. Hắn đã về Việt Nam móc nối với tên Trung tướng an ninh việt-gian-cộng-sản là Dương Thông, để buôn bán kho vũ khí ở Long Bình. Qua tiết lộ của Dương Thu Hương ( tác-giả Thiên Ðường Mù ) thì Bùi Duy Tâm khoe với Hương rằng hắn là người của Mỹ về để Hòa-Giải với việt-gian-cộng-sản, và có thể trở thành nguyên thủ của Việt-Nam. Rối hắn lả lơi tán tỉnh DT Hương rằng DT Hương cặp với hắn thì sẽ thành đệ-nhất phu-nhân của VN.
Tất cả những điều nói dóc trên còn chưa khô nước miếng trên miệng Bùi Duy Tâm, thì Dương Thông ngã ngựa và phe Bùi thiện Ngộ (Bộ trưởng công an ngụy quyền Hà nội) đã cho BD Tâm vào tù. Ở trong tù hắn đã hèn hạ như thế nào, làm đơn xin khoan hồng. Hắn đã được thả, bởi lý do chỉ là một con buôn cả tiền, cả tình, cả chính trị; tất nhiên là cái thứ chính trị có lợi cho tập đoàn việt-gian-cộng-sản. Cho nên kể từ đó, gần như năm nào BD Tâm cũng cùng vợ về VN. Con người của hắn, là một kẻ "điếc không sợ súng", đã được DT Hương gửi thư chửi cho một trận về tội khoác lác rằng đã "làm tình" với DT Hương cả trên cạn lẫn dưới nước... (chắc là giống loài lưỡng thê như cóc nhái vậy).
DT Hương đã kết luận hai câu thật chính xác về con người BD Tâm. Ðó là:
1- BD Tâm có bộ mặt, cách ăn nói giống như tên việt-gian Dương Thông và mặt của hai đứa bị DT Hương tả giống như "bộ phận sinh dục của con ngựa cái";
2- BD Tâm là một kẻ mà DT Hương nhận xét "yêu nước kiểu chủ nghĩa khăn đóng" (có nghĩa là chỉ cần đội khăn đóng, mặc áo dài như thế là yêu nước rồi!!!).
Nhân dịp "Meet VietNam" vừa xong tại Chicago, Hoa kỳ, bè lũ việt-gian do tên Thủ tướng viêt-gian Trương vĩnh Trọng và một vài Thứ, Bộ trưởng của chúng đã đến thăm BD Tâm. BD Tâm lại giở trò yêu nước theo kiểu khăn đóng khúm núm trước lũ việt-gian (như trong hình dưới đây). BD Tâm đã nói gì, xin quý bạn đọc theo dõi bản tin bên dưới.
Tuy nhiên, Hồn Việt UK online xin đính chính mấy điểm sai lầm trong bản tin:
Bùi Duy Tâm đã từng là hiệu trưởng của trường Ðại Học tư thục Minh Ðức, chứ hắn chưa bao giờ là hiệu trưởng trường Ðại học Y-khoa Sài-gòn hay Ðại học Y-khoa Huế.

Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng cùng đoàn đại biểu cao cấp của Việt Nam thăm bác sĩ Bùi Duy Tâm. (Ảnh: VOV)
Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng thăm Việt kiều tại Mỹ
http://www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/vovnews.vn/Pho-Thu-tuong-Truong-Vinh-Trong-tham-Viet-kieu-tai-My/3505126.epi
Cập nhật lúc: 4:08 PM, 16/11/2009
Source: VOV (Đài Tiếng Nói Việt Nam phát thanh từ Hà Nội)
(VOV) - Tham dự buổi gặp mặt còn có một số giáo sư của Việt Nam và Mỹ cùng với nhiều học trò và bạn bè của bác sỹ Bùi Duy Tâm - Việt kiều đang sinh sống tại thành phố San Francisco.
Trong thời gian ở thành phố San Francisco tham dự chương trình “Gặp gỡ Việt Nam”, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng cùng đoàn đại biểu cao cấp của Việt Nam vừa đến thăm bác sĩ Bùi Duy Tâm, Việt kiều đang sinh sống tại thành phố San Francisco.
Trong căn phòng nhỏ ấm cúng, bác sĩ Bùi Duy Tâm đã lần lượt giới thiệu với Phó Thủ tướng từng thành viên của gia đình và những công việc mà bác và gia đình vẫn thực hiện để hướng về Tổ quốc.
Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng đã đánh giá cao những công việc mà bác sỹ Tâm đã làm cho cộng đồng bà con Việt kiều tại Mỹ cũng như tại Việt Nam, đồng thời lắng nghe ý kiến của bác sĩ và mong bác sĩ Tâm luôn hướng về Tổ quốc, vận động bà con Việt kiều hướng về quê hương.
Cảm động, trước sự quan tâm của Phó Thủ tướng và đoàn công tác, bác sĩ Bùi Duy Tâm nói: “Phái đoàn gồm có một vị cao cấp trong Bộ Chính trị, các Thứ, Bộ trưởng đến thăm đã khiến tôi rất xúc động. Nhà nước đã có một chính sách đối với chúng tôi- những người đã từng là bên kia chiến tuyến thì tôi nghĩ rằng sự hòa hợp dân tộc không phải là trong giấc mơ”.
Năm nay, bác sĩ Bùi Duy Tâm gần 80 tuổi, từng là hiệu trưởng trường đại học Y Khoa sài Gòn, Hiệu trưởng trường Đại học Y khoa Huế. Bác có 4 con và 12 cháu. Hiện các con của bác đều nối nghiệp cha làm nghề y và rất thành đạt tại Mỹ./.
Minh Hiển (từ San Fransisco)
NHỮNG NGƯỜI SỬA LỜI THỀ HIPPOCRATES
Source: phapluattp.vn
http://www.phapluattp.vn/news/khoa-hoc/view.aspx?news_id=278364
18-11-2009
Theo Tin tức/Vietnam
Theo chân đoàn Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng, chúng tôi đến thăm gia đình bác sĩ Việt kiều Bùi Duy Tâm - nguyên Hiệu trưởng Đại học Y khoa Huế và Đại học Y khoa Sài Gòn những năm trước 1975 - ở thành phố San Francisco, bang California ( Mỹ ).
Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng cùng đoàn đại biểu cao cấp của Việt Nam thăm bác sĩ Bùi Duy Tâm. (Ảnh: Internet)
Trên bức tường phía sau vườn nhà ông có hàng chữ mà các sinh viên y khoa ở miền Nam trước đây vẫn tuyên thệ khi ra trường: "Vì tình thương nhân loại, tôi sẽ cứu giúp tất cả mọi người và truyền nghề cho bất cứ ai có khả năng và thiện chí".
Lời tuyên thệ đó được Giáo sư Tâm sửa từ lời thề của sinh viên y khoa phương Tây trước đây trước ông tổ của y khoa thế giới Hippocrates: "Tôi chỉ truyền nghề cho các con của các thầy". Và theo ông, sinh viên y Việt Nam nên tuyên thệ trước ông tổ của mình là Hải Thượng Lãn Ông.
Chính vì tâm nguyện "cứu giúp tất cả mọi người" mà bác sĩ Tâm khi còn ở Việt Nam trước năm 1975 đã có những hành động khó có thể khiến chính quyền Sài Gòn cũ hài lòng.
Đầu tiên là việc ông cứu giúp những người lính cách mạng bị thương trong chiến dịch Mậu Thân 1968 ngay tại Đại học Y khoa Huế. Ông đã làm đúng tinh thần của một bác sĩ chân chính: Ai bị thương là cứu chữa, bất kể người đó đứng về phía nào.
Là người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp ở Mỹ với hai bằng tiến sĩ ngành y, bác sĩ Tâm sau khi về nước được đưa ngay về Đại học Y khoa Huế. Chính quyền cũ hy vọng ông sẽ có tư tưởng thân Mỹ và giúp chính quyền Sài Gòn dẹp yên phong trào sinh viên đang lên ở đó. Nhưng trái với mong đợi của họ, bác sĩ Tâm đã tổ chức nhiều hoạt động khơi dậy tinh thần yêu nước trong sinh viên.
Trong căn phòng của ông nay vẫn còn một số bức ảnh chụp sinh viên Đại học Y khoa Huế thời đó mặc trang phục truyền thống của dân tộc trong lễ tốt nghiệp thay vì "kiểu áo từ thời thời Trung Cổ".
Tấm lòng người con xa xứ
Trong nhiều năm qua, Giáo sư Bùi Duy Tâm cùng những người con nối nghiệp ông, học trò cũ và cả các đồng nghiệp Mỹ đã hết sức giúp đỡ các trường y của Việt Nam thực hiện nhiều dự án nghiên cứu.
Những ngày nghỉ, Giáo sư Tâm thường đến nhà của các cháu nội, ngoại và dạy cho các cháu về truyền thống yêu nước, về nền văn hóa Việt. Một người cháu gái của ông là họa sĩ đã được ông hướng dẫn học cả các trường phái tranh của Tây phương và Đông phương.
Trong cuộc gặp với chúng tôi, nữ họa sĩ trẻ đã kéo một bản nhị "Hồn Vọng Phu" trước sự kinh ngạc của những vị khách Việt Nam và Mỹ.
Trong căn nhà nhỏ của ông, dường như mọi đồ vật đều mang hơi thở của Việt Nam, từ những vật lưu niệm hình phụ nữ Việt Nam trong tà áo dài, đến chiếc giường nằm, hay chiếc đàn đá ông đặt ngoài vườn.
Và cũng chính ông, năm 2006 khi ở tuổi "thất thập cổ lai hy", đã trở thành người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến Bắc Cực với tấm biển có đề chữ "Việt Nam - Bùi Duy Tâm".
Cuộc gặp ấn tượng
Được tiếp Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng cùng nhiều cán bộ cấp cao của Việt Nam tại nhà riêng, Giáo sư Tâm hết sức cảm động.
Với giọng nói sang sảng mà ai nghe được cũng khó ngờ ông đã ngoài 80 tuổi, ông nói: "Hôm nay là một ngày rất đặc biệt khi đoàn đại biểu cao cấp của Nhà nước Việt Nam, gồm cả ngài Phó Thủ tướng, Ủy viên Bộ Chính trị, các thứ trưởng, vụ trưởng, Tổng lãnh sự, đến thăm gia đình một thường dân đã từng đứng bên kia chiến tuyến."
"Nhà nước Việt Nam đã dang tay ra trước, lẽ nào chúng tôi không hân hoan đón nhận", Giáo sư Tâm tâm sự. Ngày nay, với phương châm "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã "thành công, thành công, đại thành công".
Bằng giọng nói đầy xúc động, ông mong muốn Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng cùng đoàn đại biểu Việt Nam đón nhận từ cá nhân ông cùng gia đình và bạn hữu của ông "lòng trân trọng và khâm phục"./.
*******************************************************************
SỰ THẬT VỀ BÙI DUY TÂM
Source: Tuổi Trẻ Việt Nam Hải Ngoại
Vào năm 1997, Trâu Nam Bộ có viết một bài dưới bút hiệu Minh Văn trên tuần báo Gió Mới của ông chủ nhiệm Nguyễn Hữu Bình, đề cập đến những cái chết bí mật, khó hiểu của một số tướng lãnh Cộng sản VN như đại tướng Lê Trọng Tấn, đại tướng Hoàng Văn Thái, trung tướng Đinh Đức Thiện v.v... và cuộc thanh trừng, giam cầm thượng tướng Chu Văn Tấn cho đến chết. Trong bài viết nói trên, Trâu Nam Bộ có đề cập đến quan hệ gia đình mật thiết giữa Lê Đức Thọ, Mai Chí Thọ, Đinh Đức Thiện, Nguyễn Đức Tâm và Nguyễn Đức Thuận, nắm toàn bộ guồng máy cai trị độc tài của Cộng sản từ đảng đến chính quyền, công an, quân đội nhân dân, đến Tổng Công đoàn Việt Nam. Bài viết này có nói về bác sĩ Bùi Duy Tâm, cựu hiệu trưởng đại học Minh đức, đã di tản trước ngày 30 tháng 4/1975 và định cư tại Hoa Kỳ.
Ngôi biệt thự đồ sộ của bác sĩ Bùi Duy Tâm tọa lạc trên đường hẽm Duy Tân (đường Garcerie thời Pháp thuộc), đối diện với bệnh viện Duy Tân của bác sĩ Nguyễn Duy Tài. Ngôi biệt thự này với tất cả những trang bị tối tân và đắt tiền, được bảo lưu nguyên trạng, sau năm 1975 không bị Cộng sản tịch thu. Thân phụ của bác sĩ Bùi Duy Tâm là một cán bộ cộng sản cấp Đại tá, công tác tại Bộ Công An Hà Nội ( sau này cải danh là Bộ Nội Vụ ), đã có mặt tại ngôi biệt thự của Bác sĩ Bùi Duy Tâm hơn một tháng trước ngày Cộng sản chiếm miền Nam 30/4/1975, nhận lệnh Trung Ương Đảng và Bộ Công An, điều khiển cán bộ nội thành và các tổ điệp báo, đặc công xâm nhập từ trước có mặt tại thủ đô Saigon. Sau năm 1982, cán bộ công an cộng sản cao cấp này đã phục viên (hưu trí), rời Sàigon về miền Bắc và chết vì bệnh già. Đây là bài học cho chúng ta suy nghĩ: phải chăng những bác sĩ, tiến sĩ tốt nghiệp ở Âu Châu hay Hoa Kỳ không theo cộng sản hay thân cộng?
***************************************************************************
PHỎNG VẤN BÁC SĨ BÙI - Ký giả VỊT TRỜI
Source: nhabaovietthuong's blog
-------------------------------
Ngày 22-11-2009, giờ 16:54
LGT: Đây là loạt bài “Phỏng Vấn Các Nhân Vật Đông Tây Kim Cổ” được viết theo lối giả tưởng (fiction) nhưng lại rất gần với sự thật vì người viết y cứ vào tiểu sử và quá trình hoạt động của người được phỏng vấn.
Ký giả Vịt Trời là bút hiệu của nhà văn Nguyễn Thiếu Nhẫn. Ông hiện là chủ nhiệm, chủ bút tuần báo Tiếng Dân - San José.
Tuần vừa qua, sau cái gọi là “Meet Vietnam” mà bọn Việt kiều không yêu nước “Việt Nam xã nghĩa” cứ nhất định gọi là “Meet Việt gian”, trên diễn đàn điện tử bác sĩ Bùi Duy Tâm có đưa lên “sự cố” là ông ta “được” Phó Thủ tướng VC Trương Vĩnh Trọng đến thăm và ông ta đã khúm núm chào đón. Có anh thối mồm còn nói là ông bác sĩ Bùi “bái lạy” ông Phó Thủ tướng Trọng. Nói vậy có khác nào trù ẽo ông Phó Thủ tướng Trọng: Những bậc cao niên ai lại đi “bái lạy” cái đám hậu sinh! Chuyện ấy ông già xúi con nít ăn cứt gà thường thấy xảy ra chứ ít khi có cái cảnh đám con nít xúi ấy ông già… ăn kít chó lắm. Vậy mà vẫn có chuyện này xảy ra ngay tại San José đấy!
Chúng tôi xin giới thiệu bài “Phỏng vấn bác sĩ Bùi” để đồng hương rộng đường dư luận.
Sau nhiều tháng trời tìm cách liên lạc, Ký giả Vịt Trời cuối cùng đã được bác sĩ Bùi cho gặp ở một nơi kín đáo tại San Francisco. Bác sĩ Bùi là một nhà trí thức khoa bảng, nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975. Sau thời gian chìm trong bóng tối, cuối thập niên 80, bác sĩ Bùi bỗng nổi tiếng trở lại với đề nghị hủy bỏ bài Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa và tiếp tục nổi tiếng trong các năm đầu của thập niên 90. Bác sĩ dành cho Ký giả Vịt Trời cuộc phỏng vấn, và sau đây là nguyên văn cuộc phỏng vấn:
-KGVT: Xin kính chào bác sĩ, tôi là Ký giả Vịt Trời của tuần báo Tiếng Dân ở San José.
-Bác sĩ Bùi (BS Bùi): Chào ông ký giả. Cả mười mấy năm nay ít ai nhắc đến tôi, hy vọng qua cuộc phỏng vấn của ông tôi sẽ nổi tiếng trở lại. Nào, ta bắt đầu. Ông ký giả muốn hỏi gì nào?
-KGVT: Thưa bác sĩ, xin bác sĩ tự giới thiệu đôi điều về mình với độc giả báo Tiếng Dân có được không ạ!
-BS Bùi: Được, được. Tôi họ Bùi, chữ lót là Duy, còn tên tôi thì ai chả biết. Ông ký giả nhớ điều này cho tôi. Có nhiều bác sĩ cũng họ Bùi như tôi, họ chuyên làm nghề cứu nhân, độ thế nên ít nổi tiếng bằng tôi. Tôi mấy lúc sau này chuyên làm chuyện phá nhân, hại thế nên có một tờ báo lớn nọ có lần đã trịnh trọng tăng thêm chữ Ô vào trong cái họ của tôi, thiệt là khoái hết sức!
-KGVT: Thưa bác sĩ nói về mình trước 75 ạ!
-BS Bùi: Hồi tôi còn trẻ tôi du học ở Mỹ đỗ thủ khoa Tiến Sĩ Y Khoa tại một đại học nổi tiếng. Tôi là Phụ tá Viện Trưởng Viện Đại Học Minh Đức đặc trách Đại Học Y Khoa Minh Đức.
-KGVT: Thưa bác sĩ, trong một lá thư đề ngày 16-6-1992, cách nay 17 năm, gửi cho Dương Thu Hương, bác sĩ có nói hồi 33 tuổi ông đã lãnh đạo ngành giáo dục Đại Học Y Khoa miền Nam trong suốt 10 năm liền?
-BS Bùi: Đúng, tôi có viết như thế. Năm 1975 tôi không di tản. Ngay trong tháng 5-75, tôi đã tổ chức “Đêm thơ tình Huy Cận” tại đại học Minh Đức để Huy Cận đến đọc thơ. Tôi là trung úy biệt phái nên ngày 24-6-75 tôi cũng phải đi học tập ở Trảng Lớn, Tây Ninh. Nhưng đến ngày 2-9-75 tôi được thả về. Tôi trở lại làm giáo sư trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn, đồng thời làm việc ở bệnh viện Chợ Rẩy. Tôi có một biệt thự rất lớn ở đường Duy Tân Sàigòn. Hồi tôi còn ở Sài Gòn, Mai Chí Thọ đã từng đến nhà tôi chơi.
-KGVT: Thưa bác sĩ, thế ông sang Mỹ hồi nào?
-BS Bùi: Năm 1980, tôi cùng gia đình vượt biên đến Mã Lai. Tôi nhờ bác sĩ Pratt, hồi trước làm cố vấn ở trường Y Khoa Minh Đức bảo lãnh sang Mỹ. Tôi với bà xã tôi có mở một phòng mạch ở San Francisco. Nhà tôi là một bác sĩ Nha Khoa.
-KGVT: Thưa bác sĩ, ông đã đề xướng việc hủy bỏ bản Quốc Ca VNCH?
-BS Bùi: Thì tôi chứ ai vào đây.Theo tôi bản Quốc Ca ấy không còn hợp thời. Tôi đề nghị bỏ đi và lấy bài Việt Nam Việt Nam thay vào. Tôi đã có tổ chức một buổi tiệc tại nhà tôi để tôi và một nhóm người cùng đồng ý việc này hát bản quốc ca lần chót. Chuyện này đã bị cộng đồng người Việt hải ngoại chống đối dữ dội. Dĩ nhiên là họ cũng chống luôn cá nhân tôi.
-KGVT: Thưa bác sĩ, tự ông nghĩ ra chuyện ấy hay có ai chỉ thị cho ông?
-BS Bùi: Nè ông ký giả, đừng có hỏi mấy câu khó trả lời như vậy nữa nhé! Để tôi nói tiếp mấy chuyện khác hấp dẫn hơn, chuyện tôi đi đi về về Việt Nam ấy mà.
-KGVT: Thưa bác sĩ, ông về Việt Nam để làm gì?
-BS Bùi: Như tôi đã nói với nhiều người, tôi về Việt Nam là để môi giới bán kho vũ khí ở Long Thành, chạy áp phe về vụ dầu khí, thêm mấy chuyện khác nữa.
-KGVT: Thưa bác sĩ xin ông nói rõ hơn có được không?
-BS Bùi: Hồi ấy ông Nguyễn Cơ Thạch còn là Bộ Trưởng Ngoại Giao. Ông ấy tiếp tôi vài ba lần, mỗi lần vài ba tiếng đồng hồ. Tôi có lần nói với ông ta: “Các anh tẩy uế đất nước đi. Có nhiều cách tẩy uế, biết tẩy uế đúng cách đôi khi còn mang về cho đất nước khối tiền. Có kho đạn ở Long Thành kia kìa. Giữ của giết người ấy làm gì. Tìm mối bán lấy tiền mua gạo cho dân. Cả vụ dầu khí nữa. Thay vì bán dầu thô, bị chê õng chê eo, thì mua nhà máy lọc dầu đi. Vừa có dầu, vừa có phó phẩm là phân bón cho ruộng đất. Loại chuyện này, chắc còn nhiều chuyện khác nữa, nhưng toàn là điều tôi thấy có lợi cho dân, cho nước.
-KGVT: Thưa bác sĩ. Ông có vẻ yêu nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa quá nhỉ?
-BS Bùi: Thôi mà, chỗ tôi với ông ký giả mà mắng khéo nhau làm gì! Yêu dân, yêu nước mẹ gì. Tiền cả thôi. Môi giới bán được kho vũ khí Long Thành thì tôi kiếm được bộn tiền. Còn nếu bên ấy chịu nghe lời tôi mua nhà máy lọc dầu thì tôi kiếm được mớ nữa!
-KGVT: Thưa bác sĩ, vậy là ông có gặp được một cán bộ cao cấp?
-BS Bùi: Đâu phải tôi chỉ gặp một mình ông Nguyễn Cơ Thạch không đâu. Mà còn gặp Mai Chí Thọ, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Thị Định, Trần Văn Trà, còn nhiều nữa, nhưng gặp thường nhất là ông Dương Thông, Cục Phó Cục Phản Gián Bộ Nội Vụ. Những người đó, tôi gặp họ là để bàn chuyện áp-phe. Bởi vì ngoài áp-phe kho vũ khí Long Thành và nhà máy lọc dầu, tôi còn nhiều áp-phe khác nữa. Nói chuyện áp-phe không có hấp dẫn đâu. Chuyện này mới là đáng để ý: Tôi quen Dương Thu Hương.
-KGVT: Thưa bác sĩ, làm sao mà ông quen nhà văn nữ này?
-BS Bùi: Tôi gặp cô này lần đầu ở nhà Trần Văn Thủy. Tay đạo diễn làm phim “Chuyện Tử Tế” ấy mà. Hôm đó có cả nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Tôi mời cô nàng đến nhà tôi chơi nhưng cô nàng từ chối. Nhưng lúc 11 giờ đêm tôi ra về thì cô nàng đổi ý và rủ Nguyễn Huy Thiệp cùng lại nhà tôi. Từ đó hai đứa quen nhau cùng đi chơi nhiều nơi, nhưng hấp dẫn nhất là lần đi chơi sông Đà năm 1990.
-KGVT: Thưa bác sĩ, Dương Thu Hương sau này có tiết lộ rằng trong chuyến đi chơi trên sông Đà, ông đã nói với cô ta rằng: “Ngày anh trở về làm nguyên thủ quốc gia thì em sẽ là đệ nhất phu nhân”. Điều ấy có đúng không?
-BS Bùi: Gặp hoàn cảnh ấy ai mà không hứa trời, hứa biển. Ông ký giả mà gặp cảnh đó thì cũng hứa tràn cung mấy chứ không à? Tôi cũng có hứa sẽ đem những tác phẩm của cô nàng ra nước ngoài xuất bản, Tôi cũng có ứng trước cho cô ta một số tiền.
-KGVT: Thưa bác sĩ, ông có bị bắt ở Hà Nội một thời gian, tại sao vậy?
-BS Bùi: Đầu năm 91, trong lúc chuẩn bị lên máy bay tôi bị bắt ở phi trường Nội Bài, Hà Nội vì có mang theo hai trang giấy đánh máy mà người ta gửi cho ngay đêm tôi sắp rời Hà Nội. Tôi cũng không kịp xem qua nội dung hai trang giấy ấy. Họ bắt tôi mất hai tháng, ghép cho tôi đủ thứ tội. Mà nói thật với ông Vịt Trời, đối với Hà Nội tôi có tội gì đâu. Trong lá thư ngày 26-8-1992 gửi Dương Thu Hương tôi có viết: “Việc bán cái thứ giết người ở kho Long Thành đi để lấy tiền mua cơm gạo cho dân là tốt quá chứ xấu chỗ nào. Mang máy lọc dầu về giảm tổn phí, ích lợi quốc gia chứ hại dân, hại nước ở chỗ nào. Còn cả chục việc khác chứ không chỉ ba việc đó đâu. Toàn là việc kinh bang tế thế chứ đâu phải đả kích suông làm tán loạn nhân tâm… Những chuyện tôi làm đều là công ích, không phá hoại ai cả!”
-KGVT: Thưa bác sĩ, ông tin như hế? Vậy sao họ lại bắt ông?
-BS Bùi: Chắc có lẽ sau một thời gian thấy tôi đi tới, đi lui mà không làm được cái gì ra hồn, họ kiếm chuyện tống tôi đi luôn cho khuất mắt. Ra tù, họ tống tôi ra phi trường đuổi về Mỹ ngay lập tức. Trước khi về bên này tôi có nhờ người chăm sóc Dương Thu Hương. Nhưng về Mỹ được có hai tuần thì ngày 14-4-91 tới phiên cô này bị bắt và giam mất 7 tháng 6 ngày. Về đến Mỹ gặp Hương Cali lại nhớ đến Hương Hà Nội.
-KGVT: Thưa bác sĩ, ông nói cái gì thế?
-BS Bùi: À quên! Nhà tôi cũng tên Hương, tức là Hương Cali. Tôi có nói câu này với một người bạn, cho họ biết là ở Việt Nam tôi đã chài được Dương Thu Hương.
-KGVT: Thưa bác sĩ, cứ theo ông nói thì khi ông về Mỹ, tình cảm giữa hai người vẫn còn, thế tại sao đến tháng 8-92, người ta lại nhận được cả xấp thư viết tay của Dương Thu Hương trong nước gửi ra chửi bới ông thậm tệ?
-BS Bùi: Chuyện này bên trong có nhiều uẩn khúc. Sau khi tôi về Mỹ và Dương Thu Hương bị bắt thì Thiếu tướng Quang Phòng, Tổng Cục Phó Tổng Cục An Ninh Hà Nội có tổ chức cuộc nói chuyện trong giới văn nghệ sĩ, trí thức, báo chí, các cán bộ cao cấp huư trí và cả sĩ quan trong quân đội về vụ bắt giữ Dương Thu Hương. Quang Phòng kết tội Dương Thu Hương liên kết với bọn chống phá Nhà Nước ở nước ngoài, nhưng quan trọng nhất là băng video quay cảnh làm tình trên cạn, dưới nước, trong khách sạn…
-KGVT: Chà chà, hấp dẫn nhỉ. Ai làm tình với ai?
-BS Bùi: Theo thư của Dương Thu Hương gửi ra thì tướng Quang Phòng vu khống cô nàng ở các buổi hội nghị ấy rằng: “Dương Thu Hương là kẻ cứng đầu rắn mặt. Khi đã đưa băng video quay cảnh thị làm tình trên cạn, dưới nước, trong khách sạn, trên bãi cát với Việt kiều Bùi Duy… thì thị mới khóc rưng rức và cúi đầu cung khai…”
-KGVT: Thưa bác sĩ, chuyện đó có thật à?
-BS Bùi: Tôi không thể xác nhận chuyện này trên giấy trắng, mực đen. Từ trước tới giờ tôi không hề viết gì về chuyện này, tôi ngại chuyện bút sa gà chết. Nhưng mà lời nói gió bay… nhiều khi con người ta nổi hứng lỡ mồm lỡ miệng…
-KGVT: Thưa bác sĩ, ông có được xem băng video ấy không?
-BS Bùi: Tôi… tôi… ông hỏi kỳ cục quá! Những người có xem kể lại rằng băng có ghi các cảnh ấy nhưng không thấy rõ mặt người. Tôi có nói với người bạn là cựu dân biểu Trần Văn Sơn rằng khi đi chơi trên sông Đà, tôi và cô nàng có nằm ôm nhau dưới thuyền mà thôi, không có chuyện gì khác.
-KGVT: Thưa bác sĩ, thế sao trong các lá thư của Dương Thu Hương gủi ra, thí dụ như lá thư đề ngày 21-7-1992 nhờ ông Phan Huy Đường ở Paris chuyển cho ông, Dương Thu Hương có viết rằng ông đã “phao tin từ California đến Paris rằng ông đã chiếm được thân xác tôi. Chuyện là chuyện giòi bọ và tôi chỉ nhổ một bãi nước bọt là xong…” Ông làm sao mà để đàn bà họ chửi ông như vậy?
-BS Bùi: Ông nghĩ xem, nếu tôi có chiếm được thân xác cô nàng rồi sau đó đem đi rêu rao thì bị chửi cũng phải. Còn nếu không mà dựng lên nói có thì cũng đáng bị chửi. Đàng nào cũng bị chửi. Khổ quá, tôi có phao gì đâu, ai hỏi tôi cũng trả lời mập mờ. Về chuyện này tôi nghĩ trước những thúc ép của hoàn cảnh trong điều kiện đặc biệt như ở Việt Nam từ nhiều năm nay, con người thường có những phản ứng không thể lường trước được.
-KGVT: Trước khi được Hà Nội thả ra cho về Mỹ, ông đã mặc quần có đeo bretelle đỏ lên tivi Hà Nội nhìn nhận những lỗi lầm của ông khi bị bắt?
-BS Bùi: Không những trên tivi mà tôi còn nói trên đài phát thanh, viết trên báo có ký tên đàng hoàng. Phải làm như vậy họ mới thả mình ra.
-KGVT: Trong các bức thư ấy, Dương Thu Hương đã tỏ thái độ căm thù ông, rủa xả ông bằng những từ ngữ hết sức nặng nề, ông nghĩ sao?
-BS Bùi: (ngâm nga) Còn tình chi nữa, là thù đấy thôi! Này ông Vịt Trời, cô nàng có chửi mình thì mình cũng đành chịu chứ biết nói sao.
-KGVT: Thưa bác sĩ, ông nghĩ sao về việc Dương Thu Hương tố ông là một agent double, một thứ gián điệp nhị trùng?
-BS Bùi: Gián điệp cái chó gì cái thứ tôi. Tôi chỉ mối lái áp-phe kiếm tiền mà thôi. Chẳng qua cô nàng thấy tôi liên hệ mật thiết với các ông lớn rồi nói thế thôi.
-KGVT: Thưa bác sĩ, trong lúc đi chơi trên sông Đà, ông có nói với Dương Thu Hương rằng ông mơ tưởng một ngày nào đó ông và cô ấy sẽ kết hợp như “đôi giao long trên đỉnh núi” và ông xem đồng bào trong nước như là “một bọn người lúc nhúc giữ vũng bùn”?
BS Bùi: Cô nàng viết thế thì tôi đành chịu chứ còn chối cãi cái nỗi gì!
-KGVT: Sau khi được Hà Nội thả về, ông đã hai lần đứng ra tổ chức đón tiếp Bùi Tín khi ông này từ Pháp qua?
-BS Bùi: Có. Lúc ấy tôi nghĩ ông ta sẽ là một con bài sáng giá, mình phải bám vào. Chính vì chuyện này mà tôi đã bị đồng bào phản đối mạnh, một phần có lẽ vì không ai ưa bộ ba Bùi Tín, tôi và Đoàn Văn Toại, khi cả ba cùng họp lại thành một nhóm, một phần có lẽ vì lúc ấy tôi đón gió trật.
-KGVT: Nhưng sau đó, tháng 9-92, ông có sang Paris gặp và chụp hình chung với Bùi Tín mà?
-BS Bùi: Lúc đó đâm lao thì phải theo lao chứ!
-KGVT: Thưa bác sĩ, ông đã từng nói với Dương Thu Hương rằng lương tháng của ông ở Mỹ là 20,000 đô-la?
-BS Bùi: Cái cô này thật bép xép. Mình nói cái gì cô nàng cũng kể ra vanh vách!
-KGVT: Thưa bác sĩ, có người nói rằng ông đã là một trí thức miền Nam trước kia, tại sao lại đi làm những chuyện tầm phào như ông đã làm mấy năm qua?
-BS Bùi: Sống cuộc đời phẳng lặng mãi nó buồn lắm. Mà ai dám nói những chuyện tôi đã làm mấy năm qua là những chuyện tầm phào? Đề nghị bỏ bài Quốc ca Việt Nam Cộng Hoà, môi giới gặp gỡ toàn các người cấp lãnh tụ ở Hà Nội, dẫn một nhà văn có tiếng ở trong nước đi lên sông Đà tắm rồi ôm nhau trên thuyền, kết hợp với Bùi Tín và Đoàn Văn Toại… toàn những chuyện ghê gớm chứ tầm phào ở chỗ nào?
-KGVT: Thưa bác sĩ, năm nay ông bao nhiêu tuổi và có ý định làm gì nữa không?
-BS Bùi: Năm nay tôi đúng tuổi hưu trí. Cũng khá lâu chưa tìm ra chuyện gì để làm cho nổi tiếng, buồn quá! Ông Vịt Trời có chuyện gì mới không?
-KGVT: Có khối chuyện! Muốn thế thì theo tôi xuống San José. Ở đó tôi có mấy người bạn thân kết hợp với nhau thành một nhóm, toàn người tai mắt cả. Có thêm bác sĩ càng vui. Mình sẽ làm đủ trò!
-BS Bùi: Ai thế?
-KGVT: Các ông bạn tôi người làm Chủ Báo, người làm Chủ Đài phát thanh, ông là Giám đốc Hội quán, ông là Chủ tịch Hiệp hội, gần đây lại có thêm một ông bác sĩ thông tim, một ông Tiến sĩ bỏ nghề bán phở làm nghề body guard, môt bà chủ Đài phát thanh nổi tiếng chống Cộng trở cờ chống người chống Cộng…
-BS Bùi: Ối tưởng gì! Chả đáng! Này để tôi nhắc ông điều này: Ở hải ngoại này có hàng trăm ngàn người mang họ Bùi, nhưng ông nhớ cho chỉ có tôi và một ông nhà văn từng đoạt giải thương Văn chương Toàn quốc thời Việt Nam Cộng Hòa, là có thêm chữ Ô. Đăng báo cẩn thận đấy.
-KGVT: Thưa bác sĩ, vâng ạ!
Ký giả VỊT TRỜI
Posted by Ngôn Ngữ Việt Triệu Người Viết at 4:16 PM
11/26/09. 03:27:15 am. 8311 words, 462 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Góp nhặt, Không ðề, Thiên hạ sự, Nối vòng tay lớn, Hậu trường, Những chuyện ỡm ờ, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs ,
THỨ SÁU ĐEN - BLACK FRIDAY: MỘT TRUYỀN THỐNG CỦA MÙA LỄ TẠ ƠN

Rồng rắn xếp hàng từ nửa đêm để chờ mua hàng rẻ tại chợ Target trong ngày Black Friday (Ngày Thứ Sáu ngay sau lễ Tạ Ơn) - Ảnh: Google
Thứ Sáu Đen: Một truyền thống của mùa Lễ Tạ Ơn
Source: VOA
Avi Arditti
25/11/2009
Nhân mùa Lễ Tạ Ơn năm nay, biên tập viên Avi Arditti của đài VOA đi tìm nguồn gốc của ngày Black Friday. Ngày được người Mỹ gọi là Thứ Sáu Đen, là ngày sau Lễ Tạ Ơn, và cũng đánh dấu ngày khởi đầu của mùa mua sắm vào dịp Lễ Giáng Sinh tại Hoa Kỳ. Mời quý vị theo dõi mẫu đối thoại sau đây giữa biên tập viên Arditti và một chuyên gia nghiên cứu về thần kinh nhưng lại có thêm một sở thích khác là nghiên cứu về ngữ học.
Có thể gọi bà Bonnie Taylor-Blake là một nhà thám tử chuyên tìm tòi nguồn gốc của ngôn ngữ. Thế nhưng công việc của bà không chỉ có thế.
Bà nói: “Trên thực tế tôi là một nhà nghiên cứu thần kinh tại Đại học North Carolina ở Chapel Hill. Thì giờ rảnh rỗi, tôi thích nghiên cứu và tìm hiểu về ngữ học, lịch sử và các câu chuyện dân gian.”
Arditti: “Thế thì đây là một email mà chúng tôi nhận được. Người gửi đặt câu hỏi: Tôi đã sống ở Hoa Kỳ trong gần 29 năm rồi, mà vẫn chưa hiểu tại sao ngày thứ Sáu sau Lễ Tạ Ơn được gọi là Black Friday, ngày Thứ Sáu Đen? Tôi được biết bà có nghiên cứu về vấn đề này.”
Bà Blake: “Trước hết điều mà tôi muốn nói là người viết email không phải là người duy nhất đặt ra câu hỏi ấy, bởi vì rất nhiều người Mỹ cũng không quen thuộc lắm với cụm từ Thứ Sáu Đen cho tới cách đây một thập niên. Ý nghĩa của chữ đen trong ngày Thứ Sáu Đen có liên hệ tới sổ sách kế toán, khi làm ăn lỗ lã thì trong sổ sách kế toán các con số được viết bằng mực đỏ, đưa đến cụm từ tiếng Anh “in the red”, tức là các số liệu được ghi bằng mực đỏ. Ngược lại, làm ăn sinh lợi, thì gọi là “in the black”, các con số ghi bằng mực đen.”

Chen chúc nhau chờ tiệm mở cửa. Ảnh Google
Arditti: “Như thế đen và đỏ là màu mực được xử dụng trong sổ sách kế toán?
Bà Blake: “Đúng thế. Đó là một lối giải thích thỏa đáng, mặc dù về phương diện lịch sử, nó không được chính xác cho lắm. Theo các cuộc nghiên cứu mà tôi đã thực hiện thì có dấu hiệu cho thấy từ ngữ ấy có thể xuất phát từ những năm cuối của thập niên 1950, hay những năm đầu của thập niên 1960, và rất có thể nó được xử dụng một cách tiêu cực, hoặc ít ra có tính diễu cợt khi nói đến ngày sau Lễ Tạ Ơn. Số là chuyện xảy ra ở Philadelphia... ”
Arditti: “Thành phố Philadelphia của bang Pennsylvania?"
Bà Blake: “Đúng thế! Người ta đề cập đến ngày sau Lễ Tạ Ơn như một ngày của tai họa và chắc chắn sẽ mang lại nhiều bực dọc, khi trung tâm thành phố Philadelphia hoàn toàn bị tràn ngập bởi những đám đông đi mua sắm cho mùa Giáng Sinh sắp tới. Chúng tôi tin rằng lực lượng cảnh sát và các nhân viên công lực đã dùng từ Đen như một tiếng lóng để mô tả ngày ấy, bởi vì họ sẽ phải đối phó với nạn ùn tắc giao thông, và những khách hàng cáu kỉnh chen chúc nhau bên lề đường. Đối với cảnh sát thì ngày này chỉ làm cho họ đau đầu, hệt như những nhân viên phải đi làm vì yêu cầu của công việc, như các tài xế taxi hay tài xế xe buýt chẳng hạn”.

Được lọt vào bên trong rồi mà vẫn phải tranh nhau mới mua được hàng rẻ - Ảnh Google
Arditti: “Thế thì không phải các chủ tiệm đã dùng chữ Đen để nói về lợi tức thu vào trong ngày Thứ Sáu ấy như chúng ta tưởng à?
Bà Blake: “Tôi có cảm tưởng rằng các chủ tiệm đã nghe nhiều người dùng cụm từ Thứ Sáu Đen với ý diễu cợt, cho nên theo tôi họ có thể lo sợ là cụm từ Thứ Sáu Đen sẽ khiến giới tiêu thụ tránh xuống phố để mua sắm. Do đó đây là một cố gắng của các nhà bán lẻ để thuyết phục công chúng rằng chữ đen được dùng, thực sự nói đến một ngày làm ăn phát đạt đối với giới con buôn. Và thế là chúng ta lại trở lại với nghĩa cũ của chữ đen, hiểu theo lối sổ sách kế toán.”
Arditti: “Thật là vừa tiện lại vừa lợi!"
Bà Blake: "Đúng rồi, nhưng có một khúc mắc đối với lý thuyết đó, trước hết, rõ ràng lời giải thích về ý nghĩa Ngày Thứ Sáu Đen đó, đã đến sau tới khoảng 15 năm kể từ khi cảnh sát bắt đầu dùng từ này để chỉ ngày sau Lễ Tạ Ơn. Một vấn đề khác là một tai họa về tài chính rất lớn đã xảy ra trong lịch sử Mỹ. Tôi nghĩ là vào khoảng năm 1869, lúc đó thị trường vàng hoàn toàn sụp đổ và ngày hôm đó được nhắc đến như ngày Thứ Sáu Đen.
Bà nói tiếp: "Vậy thì tại sao các thương gia bỗng dưng lại chấp nhận một cách vui vẻ cụm từ Thứ Sáu Đen khi mà thực sự nó có một ý nghĩa rộng hơn trong lịch sử nước Mỹ, để chỉ một sự thất bại hoàn toàn của kinh tế nhỉ?"

Phe ta đã thắng lớn, và "ôm được của nợ" về nhà để... cất vào garage, chờ bán garage sale. Ảnh Google.
Arditti: "À, mà bà biết là giờ đây lại có một ý nghĩa nữa được gán cho ngày Thứ Sáu Đen, bà có biết tôi đang nói đến chuyện gì không?"
Bà Blake: "Đó là ngày buôn may bán đắt nhất trong năm chứ gì?"
Arditti: "Đúng vậy."
Bà Blake: "Thật không may, tôi thực sự không biết hết được các dữ liệu về vấn đề này, nhưng tôi biết một trang web có tên là snopes.com của David và Barbara Mikkelson đã nghiên cứu rất nhiều về vấn đề đó và đã nói đến khá nhiều rồi. Chắc hẳn đó là một ngày có nhiều lời lãi rồi, nhưng nó không nằm trong 5 cụm hay gây thắc mắc nhất đâu."
Arditti: "Thế cô còn cụm từ nào muốn nói đến nữa hay không?"
Bà Blake: "Ồ, một cụm từ nữa gây bối rối cho các nhà ngữ học, chứ đừng nói gì đến một người nghiên cứu ngữ học nghiệp dư như tôi, đó là ‘the whole nine yards’ tạm dịch là đủ hết mọi thứ. Chẳng hạn như nếu chúng ta chuẩn bị để lên đường đi xa và sửa soạn hành lý, và đã có một danh sách những thứ cần thiết, và muốn chắc chắn là đã ‘có đủ hết’ những gì cần cho chuyến đi thì chúng ta dùng cụm từ ‘the whole nine yards.’"
Arditti: "Xong rồi giờ thì bà sẽ làm gì vào Lễ Tạ Ơn đây?"
Bà Blake: "Chúng tôi sẽ đến nhà chị tôi ở thành phố Cary, trong bang North Carolina và ăn bữa tối theo truyền thống vào ngày Lễ Tạ Ơn ở nhà chị ấy."
Arditti: "Ồ một con gà tây lớn và đủ mọi thứ kèm theo phải không?"
Bà Blake: "Đúng vậy, đủ hết mọi thứ, the whole nine yards."

Tặng Bằng Tưởng Lệ cho... con gà tây!!!
11/25/09. 11:06:44 pm. 1895 words, 319 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Góp nhặt, Không ðề, Chuyện vui, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn, Vòng quanh thế giới ,
HÒA THƯỢNG THÍCH HUYỀN VI (1926 - 2005) MỘT DANH NHÂN TỈNH NINH THUẬN

Hòa Thượng Thích Huyền Vi (1926 - 2005)- Ảnh: Tự viện Linh Sơn
Hòa Thượng Thích Huyền Vi (1926 - 2005), một danh nhân tỉnh Ninh Thuận
Thật là một vinh dự lớn lao và là một cơ duyên đặc biệt khi Diễn Đàn Ái Hữu Ninh Thuận được giới thiệu đến quý vị và các bạn phần sơ lược tiểu sử và sự nghiệp hoằng hóa của cố Hòa Thượng Thích Huyền Vi, một danh nhân của tỉnh Ninh Thuận.
Có rất nhiều vị, cách riêng là quý vị Phật tử lão thành không ít thì nhiều đều biết đến cố Hòa thượng Thích Huyền Vi, vì ngài là người tài đức, đạo hạnh, rất nổi tiếng; nhưng ít người biết được rằng ngài là một người dân tỉnh Ninh Thuận, và là một danh nhân thời hiện đại của Tỉnh Ninh Thuận.
Xuất thân dòng tu Lâm Tế, ngài khai sáng Giáo Hệ Linh-Sơn, phát triển các chi nhánh khắp năm châu. Ngài đã thành lập trên 50 đơn vị chùa và Hội Phật Giáo Linh-Sơn trực thuộc sự lãnh đạo và chỉ đạo của Giáo Hội Phật Giáo Linh Sơn Thế Giới. Ngài liên tục đào tạo tầng lớp Như-Lai Sứ Giả, số Tăng Ni được đào tạo đủ khả năng thừa hành Phật sự lên đến trên trăm vị. Ngài cũng là thành viên của các tổ chức Phật Giáo trên thế giới và đảm nhiệm những chức vụ quan trọng.
Công đức hoằng pháp lợi sanh vô lượng của cố Hòa Thượng Thích Huyền Vi là tấm gương sáng hiếm có mà tất cả chúng ta không phân biệt theo tôn giáo nào, đều cần phải học hỏi và noi gương. Sự thịnh suy của tôn giáo và đạo pháp gắn liền với sự tồn vong, thăng trầm của đất nước và dân tộc. Nếu như đất nước Việt Nam may mắn có được một trăm vị chân tu như Đức cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận và cố Hòa Thượng Thích Huyền Vi, chỉ một trăm vị thôi cũng thừa sức tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản vô thần mà không cần tốn một viên đạn nào cả.
Hoa Kỳ, ngày 22 tháng 11/2009
Lê Tự Do
SƠ LƯỢC TIỂU SỬ và SỰ NGHIỆP HOẰNG HÓA của HÒA THƯỢNG THÍCH HUYỀN VI
- Tăng Thống GHPGLSTG
- Phó Chủ Tịch Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Thế Giới.
- Nguyên thành viên Hội đồng Viện Tăng Thống GHPGVNTN.
- Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp Viện Hóa Đạo GHPGVNTN.
- Nguyên giáo sư Viện Đại Học Vạn Hạnh và Viện Đại Học Sài Gòn.
- Thành viên Hội Đồng Trưởng lão chứng minh GHPGVNTN tại Hải ngoại.
- Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Linh Sơn Thế Giới.
Ngài thế danh Lê Văn Huyền, pháp danh Như Kế, pháp tự Giải Đạo, pháp hiệu Huyền-Vi, thuộc dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 41. Ngài sanh ngày 08/04/1926 (năm Bính Dần) tại làng Phước Khánh, tổng Vạn Phước, tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam. Ngài sanh trưởng trong gia đình Nho giáo và là con một. Thân phụ là cụ Chánh Tổng Lê Văn Hiển, một nhà Hán học uyên thâm; thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Điểm. Ngài mồ côi mẹ năm lên chín tuổi. Cụ ông trong cảnh gà trống nuôi con, lại ý thức được những gì là chân thực, huyễn tạm mà đức Phật đã huấn thị rất rõ, nên đã đưa đứa con duy nhất vào chùa quy y và làm con nuôi cho Đại lão Hòa Thượng thượng Trí hạ Thắng, trụ trì chùa Sắc Tứ Thiên Hưng, thuộc làng Vân Sơn, tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam.
Nhờ túc duyên khánh hạnh đời trước, nên năm 9 tuổi quy y được ban pháp danh là Như Kế; năm 12 tuổi được thế phát xuất gia, được ban pháp tự là Giải Đạo; năm 14 tuổi được bổn sư cho thọ giới Sa-di và đậu vĩ Sa-di, được phần thưởng danh dự trong số trên dưới 300 giới tử tham dự trong giới đàn tại chùa Sắc Tứ Thiên Đức, thuộc huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, Việt Nam; năm 20 tuổi được thọ Tỳ-kheo giới tại giới đàn ở chùa Sắc Tứ Tây Thiên, thuộc làng Bảo An, quận Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam. Sau khi thọ cụ túc giới, vừa phụ tá bổn sư tại Tổ-đình vừa làm Quản sự tại chùa Sùng Ân, Phan Rang. Nơi đây Hòa Thượng bổn sư của Ngài làm Giám-đốc.
Với ý chí tiến tu đạo nghiệp, sau nhiều lần thưa thỉnh, năm 1950 Ngài được bổn sư cho phép vào Nam nhập học tại Phật học đường Nam Việt ở chùa Ấn Quang dưới sự hướng dẫn và giám đốc của Hòa Thượng thượng Thiện hạ Hòa, giáo thọ là Hòa Thượng thượng Thiện hạ Hoa.
Vốn tư chất thông minh, hiếu học, đến năm thứ tư, Ngài đã được gia nhập vào giảng sư đoàn để hướng dẫn các lớp dưới, đào tạo tăng tài v.v... Đặc biệt sau khi tốt nghiệp Cao Đẳng Phật Học tại Ấn Quang vào năm 1955, Ngài trở thành Đốc-giáo kiêm Giám-viện. Cuộc đời hành đạo của Ngài nổi bật nhất bấy giờ ở hai phương diện về hoằng pháp và giáo dục, vì Ngài là vị giảng sư nổi tiếng mang pháp âm rải khắp các tỉnh miền Nam Việt Nam.
Với lòng thiết tha tầm đạo, tìm về cội cũ gốc xưa, ngày 02/07/1961, Ngài lên đường sang Ấn Độ du học tại Viện Đại Học Nalanda. Nơi đây, Ngài học hỏi, nghiên cứu giáo lý Phật-đà; sau khi học xong chương trình Cử-nhân Anh văn, Ngài học văn bằng cổ ngữ Acharta. Những năm kế tiếp, Ngài trình luận án M.A. với đề tài "The four Abhidhammic Reals" (Tứ Chân Thật Pháp). Rồi ba năm sau, Ngài trình luận án Tiến-sĩ (Ph.D) với đề tài "The life and work of Sariputra Thera" (Cuộc đời và sự nghiệp của tôn-giả Xá Lợi Phất).
Năm 1972, vì nhu cầu Phật sự, tuân hành Giáo-Chỉ của Đức Đệ Nhất Tăng Thống thượng Tịnh hạ Khiết, Ngài trở về quê nhà và được cung thỉnh giữ chức Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp. Năm 1974, Ngài được Viện Tăng Thống thỉnh cử làm Thành Viên Hội Đồng Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, mà lúc bấy giờ đa số thành viên đều là các bậc Trưởng lão.
Biến cố 30/4/1975, Ngài theo làn sóng người Việt ra hải ngoại. Sau khi định cư tại Pháp, một mình chèo lái con thuyền chánh pháp để hoàn thành sứ mạng "Thượng Hoằng Phật Đạo, Hạ Hóa Chúng Sanh", đáng kể nổi bật về các phương diện:
- Khai sáng Giáo Hệ Linh-Sơn, phát triển các chi nhánh khắp năm châu, làm sống lại tinh thần Linh Sơn Pháp Hội như thời Đức Phật còn tại thế.
- Liên tục đào tạo tầng lớp Như-Lai Sứ Giả để thừa hành "Tác Như Lai Sứ, Hành Như Lai Sự".
- Là thành viên của các tổ chức Phật Giáo trên thế giới và đảm nhiệm những chức vụ quan trọng.
Cuộc đời hoằng pháp của Ngài thể hiện phương châm "Hoằng pháp thị gia vụ, lợi sanh vi sự nghiệp". Không từ lao nhọc, gian nan, đi đến đâu Ngài cũng rống tiếng pháp, xối mưa pháp, độ vô số chúng sanh. Đến nơi nào có đủ duyên lành thì Chùa hoặc Hội Phật Giáo được mọc lên nơi đó.
1975 Thành lập Chùa Linh-Sơn tại Pháp Quốc.
30/01/1977 Thành lập Tự-Viện Linh-Sơn tại Pháp Quốc.
27/03/1977 Thành lập Chùa L-S và HPG Việt Nam tại Hawaii, Mỹ Quốc.
03/09/1978 Thành lập GHPGLS Pháp Quốc.
26/11/1978 Thành lập Chùa L-S và HPGLS tại Detroit, Michigan, Mỹ Quốc.
08/05/1979 Thành lập Chùa L-S và HPGLS tại Bruxelles, Bỉ Quốc.
Tháng 10/1979 và những năm kế tiếp- Thành lập các Giảng Đường Linh-Sơn tại Đài Bắc, tại Trung-Hiếu, tại Trung-Lịch và Viện Nghiên-Cứu Phật-Học LS tại Đài-Bắc, Đài-Loan. (HT. Thích Tịnh Hạnh)
05/02/1980 Thành lập Viện Cao Đẳng Phật Học LS tại Pháp.
07/09/1980 Thành lập HPG và Chùa Linh-Phong tại Thụy-Sĩ. (SB. TN. Như Tuấn)
1980 Thành lập Thiền Đường Linh-Sơn tại Tây-Đức (HT. Pàsàdika)
20/09/1981 Thành lập Chùa L-S và HPGLS tại London, Anh Quốc.
22/11/1982 Thành lập Chùa L-S và HPGLS tại Austin, Texas, Mỹ Quốc.
21/05/1983 Thành lập Chùa L-S và HPGLS tại Grand Rapids, Michigan, Mỹ Quốc.
17/07/1983 Thành lập Thiền Đường và Hội Sakyamuni tại Montbéon Pháp.
22-24/04/1983 Thành Viên Hội Đồng Lãnh Đạo GHPGVNTN Hải Ngoại.
15/04/1984 Thành lập Niệm Phật Đường Luzeru, Thụy-Sĩ.
27/05/1984 Thành lập NPĐLS và HPG tại Poitiers, Pháp Quốc.
20/10/1984 Thành lập HPGLS tại Montebello, California, Mỹ Quốc.
07/11/1984 Thành lập Chùa LS và HPGLS tại Houston, Texas, Mỹ Quốc.
Tháng 02/1985 Thành lập NPĐ và HPGLS tại Brest, Pháp Quốc.
16/03/1985 Thành lập NPĐ và HPGLS tại Reims, Pháp Quốc.
30/05/1985 Thành lập NPĐ và HPGLS tại Pontoise, Pháp Quốc.
13/10/1985 Thành lập HPGLS tại Detroit, Michigan, Mỹ Quốc.
05/12/1985 Nhận lãnh và thành lập Chùa L-S Song-Lâm tại Kushinagar, Ấn-Độ.
27/04/1986 Thành lập Chùa L-S và HPGLS tại Toulouse, Pháp Quốc.
02/11/1986 Thành lập Tùng Lâm L-S và HPGLS, Rancon Limoges, Pháp Quốc.
26/09/1987 Thành lập Chùa L-S và HPGLS tại Brisbane, Úc Đại Lợi.
20/11/1987 Thành lập HPGLS tại New Jersey, Mỹ Quốc.
10/03/1988 Thành lập Chùa L-S và HPGLS tại Windsor, Gia Nã Đại.
11/09/1988 Thành lập Chùa L-S và HPGLS tại Toronto, Gia Nã Đại.
25/09/1988 Thành lập Chùa L-S và HPGLS tại Portland, Mỹ Quốc.
20/10/1988 Thành lập Tự Viện Linh- Sơn tại Kinshasa, Zaire, Phi-Châu.
16/07/1989 Thành lập Tự Viện L-S và HPGLS tại Mỹ Quốc.
1990 Thành lập Chùa Linh-Sơn tại Mulhouse, Pháp Quốc.
1990 Thành lập Hội Phật Giáo Linh-Sơn tại Columbus, Ohio Mỹ Quốc.
30/09/91 Thành lập Chùa Linh-Sơn Melbourne, Úc Đại Lợi.
09/05/93 Thành lập Chùa Linh-Sơn Worcester, Mỹ Quốc.
30/09/93 Thành lập Linh-Sơn Thiên Các Tự tại Phổ Ninh, Quảng Đông, Trung Quốc.
22/04/94 Thành lập HPG Bồ Đề tại Montpellier, Pháp Quốc.
07/07/96 Thành lập Linh-Sơn Quán Âm Tự tại Mỹ Quốc.
12/10/96 Thành lập Thiền Viện L-S và HPGLS tại Montréal, Gia Nã Đại.
20/05/97 Thành lập Chùa Linh-Sơn tại Columbus, Ohio Mỹ Quốc.
01/06/97 Thành lập Chùa Linh-Sơn tại East Moline, Mỹ Quốc.
01/12/97 Thành lập Chùa Nhơn Vương tại Troyes, Pháp Quốc.
20/01/98 Thành lập NPĐLS tại H.D Etten Leur Hòa Lan.
08/02/98 Thành lập Chùa L-S tại Tottenham, Anh Quốc...
Tính đến nay lên đến trên 50 đơn vị chùa và Hội Phật Giáo Linh-Sơn trực thuộc sự lãnh đạo và chỉ đạo của Giáo Hội PGLSTG. Số Tăng Ni được đào tạo đủ khả năng thừa hành Phật sự lên đến trên trăm vị.
Mặc dù Phật sự đa đoan khắp nơi và niên cao lạp trưởng, Ngài vẫn bất quyện bì lao hoằng hóa đúng với ý nghĩa: ’Lập Giáo Hội Linh-Sơn hoằng Phật Đạo Dựng Tùng Lâm hiển giáo dưỡng đồ sinh’.
Mùa Hạ năm 2000, Ngài đã ký mua được khu đất và ngôi nhà với diện tích trên 3000 thước vuông, mục đích kiến tạo một cơ sở thích nghi cho văn hóa và giáo dục Phật Giáo là tạo dựng một viện Đại Học Phật Giáo Thế Giới tại Vitry cận thủ đô Paris. Viện Đại Học này, không những đào tạo Tăng Ni và cư sĩ người Việt mà còn cho cả người Tây phương. Vì tuổi già sức yếu, ngày 19 tháng 04 năm 2001, Ngài đã lâm trọng bịnh cho đến ngày 15/02/05 (gần 4 năm trường).
Ngài đã an nhiên thâu thần thị tịch tại Tự Viện Linh-Sơn Paris Pháp Quốc lúc 19 giờ 45, ngày 15 tháng 02 năm 2005 (nhằm ngày mùng 7 tháng giêng năm Ất Dậu) Trụ thế 80 tuổi, 59 Hạ lạp và 68 Tăng lạp.
Với ý chí kiên trì và hy sinh cao cả, Ngài đã vượt mọi khó khăn để gánh vác những Phật sự lớn lao. Ngài là một tấm gương sáng về phương diện hoằng pháp lợi sanh; công hạnh và uy đức của Ngài tỏa rộng khắp nơi. Ngài thật xứng đáng là một bậc long tượng, là một lương đống của ngôi nhà Phật pháp.
Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tông, Tứ Thập Nhất Thế húy thượng Như hạ Kế tự Giải Đạo, hiệu Huyền-Vi Giác Linh Tôn Sư tác đại chứng minh.
(Nguồn: Tự Viện Linh Sơn)
MỜI QUÝ VỊ NGHE PHÁP GIẢNG CỦA H.T. THÍCH HUYỀN VI:
Xin vui lòng kiên nhẫn đợi máy tải âm trong nửa phút

11/22/09. 03:36:17 am. 3253 words, 579 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Không ðề, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Lịch sử và ðịa dư Việt Nam, Phan Rang kỷ niệm, Ôn cố nhi tri tân, Tôn giáo và tín ngưỡng, Xã hội và nhân văn ,
VÀI Ý NGHĨ VỀ CUỘC LỄ CẦU SIÊU VÀ CẦU AN TẠI CHÙA LINH SƠN BRUXELLES
Tự Viện Linh Sơn
Vài ý nghĩ về cuộc Cầu Siêu và Cầu An trong chùa Linh Sơn Bruxelles
Source: Báo Tổ Quốc - Diễn Đàn Tự Do Ngôn Luận, Diễn Đàn Ba Cây Trúc
Võ Trần Quảng
Sau bản tin Nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm tại Bỉ đứng ra tổ chức cuộc Cầu Siêu và Cầu An trong chùa Linh Sơn Bruxelles ngày 15/10/2009, được sự ủng hộ tích cực của khối Phật tử Bruxelles, đăng tải trên 2 diễn đàn Báo Tổ Quốc và Ba Cây Trúc, tôi nảy ra ý kiến để viết bài này.
1. Tinh thần đạo lý cố hữu của người Việt
Tại Việt Nam, khi trả lời phóng viên AFP câu hỏi về sự so sánh tinh thần người có đạo Phật và đạo Công giáo tại Việt Nam thế nào, và được một vị linh mục, tôi không nhớ tên, trả lời rằng « không nên đánh giá người Việt có đạo và theo đạo ». Câu trả lời thật chí lý. Đáng lẽ, nên hỏi số người Việt có đạo hay không có đạo thì hay hơn. Người có đạo là người khi sinh ra đã có đạo. Người theo đạo là người hoặc là thức thời vể luân lý cuộc đời đã kinh qua, hoặc là người xu thời, theo đạo để ăn tàn. Người có đạo thường được nhiều người biết dù rất ít thấy. Trái lại, người theo đạo rất nhiều người thấy nhưng không ai biết. Hôm nay, trong phong trào Cầu Nguyện của Giáo dân Quốc nội, những tăng ni trẻ ở Bát Nhã, đã khẳng định rất đông người Việt có đạo. Việc này đủ nói lên tinh thần đạo lý cố hữu của người Việt.
Cứ lấy chuyện “to lớn” diễn ra gần đây mà tham khảo. Dưới thời Đệ Nhứt Cộng Hoà, mỗi lần có lễ lạc ở Vĩnh Long, thì xe cộ những tên theo đạo, kể từ ông Chủ tịch Quốc Hội, Dân Biểu, Bộ trưởng, Tỉnh trưởng, Giám đốc, đến Tướng tá cứ nối đuôi nhau về Vĩnh Long, vì nơi đây là giáo phận của ông anh ruột ông Tổng Thống. Xe cộ các tên theo đạo nhiều lúc đã làm chật cả đường sá và mấy chiếc phà Bắc Mỹ Thuận, gây khó khăn cho dân chúng qua lại buôn bán làm ăn. Đến nổi ông cô vấn Ngô Đình Nhu phải cau mặt thốt lên câu nói khá mỉa mai: “Chính phủ Vĩnh Long”. Đồng bào miền Nam đã thấy tường tận những bộ mặt kẻ theo đạo. Nhưng nhân dân VN rất ít người thấy trong đoàn theo đạo Vĩnh Long này những kẻ có đạo? Cái đạo người có đạo ở trong tâm, còn cái đạo kẻ theo đạo bày ra ngoài vỏ.
Hôm nay ở trong nước GHVN cũng vậy thôi, cũng cái văn hoá theo đạo đó đang mánh mung tái diễn. Cái điều đau đớn không phải là người mới theo đạo mà là những người đã có danh phẩm và chức vị cao đang nằm trong HĐGMVN. Tôi xin đưa ra bằng cớ rõ ràng. Việc giáo dân và tu sĩ đang bị đánh đập, tù đày hành hạ, từ Khâm sứ Hà Nội, dòng CCT Thái Hà, Tam Toà, Luân Lý, Thủ Thiêm và các bà soeurs Vĩnh Long, các Ngài đại diện Thiên Chúa trong HĐGMVN giữ chiên cứ “im thinh thít”, đến nổi có vị linh mục nào đó đã quỳ gối ngưỡng mặt lên trời mà khóc, và kêu lên Chúa đã lỡ nuôi những “con chó không biết sủa”.
Thật vậy, có gì đau đớn bằng khi con cái trong một gia đình cùng cha mẹ lại có anh em ganh tỵ nhau, không bênh vực nhau khi hoạn nạn!. Ở đây còn tệ hại hơn là trong GHVN khi đức TGM Ngô Quang Kiệt đang bị VC trù dập thì xem bộ các Ngài trong HĐGMVN chẳng có một động thái nào giúp đỡ. Trái lại, các Ngài lại tìm cách chèn ép đức TGM Ngô Quang Kiệt phải “cáo bệnh”, phải đệ đơn xin từ chức. Còn quái gỡ hơn nữa là đơn từ chức dù cho đương sự chưa tuyên bố, các Ngài lại đem ra bình nghị và mớm lời để cho người anh em nên đi ra nước ngoài “chữa bệnh giả” (nghĩa là không có bệnh thật). Các Ngài mong cho người anh em TGM Kiệt đi càng sớm càng tốt để các Ngài tổ chức Năm Thánh 2010 được hoành tráng cho “đẹp đạo tốt đời”, nghĩa là đẹp mặt các Ngài và đánh bóng chính quyền Việt Cộng có tự do tôn giáo. Thì ra các Ngài cũng chẳng hơn gì kẻ theo đạo để hưởng lợi như đã nói trên. Theo đạo cố để ăn tàn, là một loại văn hoá cần dẹp bỏ.
2. Tạo ra một văn hoá mới
Khi nói « văn hoá mới » tức là tôi có ý cho rằng cộng đồng người Việt có một bản sắc « văn hoá cũ ». Người Việt ưa làm theo, học theo, ưa chùi dũa cái góc bàn cho tròn lại. Cái văn hoá đó cũng hay, nhưng nó không theo kịp với sắc thái thời đại. Không tiến nổi, không phát triển nổi, hoặc là có nhưng tiệm tiến, Chậm chạp!
Chúng ta, người Việt, đã rõ là không có gì mạnh để thu hút sự tập họp quần chúng bằng Tôn giáo. Vì tôn giáo là nhu cầu cho đời sống con người. Tôn giáo tự nó là sợi dây vô hình để tập họp quần chúng. Nó không cần phải có sức mạnh vũ lực mới tập họp như người cộng sản áp dụng chiến thuật mũi súng dí vào sau lưng dân để tạo ra sự tập họp. Vì vậy CS đã thù ghét cực kỳ các tôn giáo là ở điểm đó.
Trong nước ta, có 2 tôn giáo lớn. Đó là Phật giáo và Công giáo. Hai tôn giáo này đã có sức thu hút quần chúng mạnh nhất. Gần nửa thế kỷ qua, các nhà lãnh tụ chúng ta, cả 2 tổ chức Phật Giáo và Công Giáo, đã thấu hiểu điều đó, cho nên họ lợi dụng sự thu hút của tôn giáo, để tạo ra một đường dây vô hình, một cái hố sâu chia cắt cộng đồng thành từng mảnh vụn. Mục đích là để cho họ dễ thao túng trong việc cầm cương cai trị. Các nhà lãnh tụ tôn giáo đã khéo che đậy sự đãi ngộ cá nhân mình qua cái vỏ bọc tôn giáo. Vì vậy, sau sự sụp đổ của nền Đệ Nhứt Cộng Hoà, nhân dân VN đã chia thành hai khối chống đối nhau kinh khủng. Các tu sĩ ở Chùa Miếu và Nhà Thờ đã kéo dài sự chống đối đó trong một thời gian khá đủ để tạo ra một « văn hoá thù nghịch », cũng gọi là « văn hoá cũ ».
Chẳng hạn, suốt gần nửa thế kỷ nay, khi nói đến Ngô Đình Diệm thì các nhà lãnh tụ Phật giáo cho rằng đó là Công giáo, là Cần lao và khuyến khích bà con Phật tử chống đối quyết liệt. Đến nỗi những người có liên hệ với chế độ Ngô Đình Diệm cũng không dám nói ra sự thật, nói ra cái tốt hay cái xấu của chế độ nhà Ngô. Lối tuyên truyền của các lãnh tụ Phật giáo cực tả đã tạo ra nơi người công giáo một mặc cảm, và đã nẩy ra sự chống đối tiêu cực. Có thể nói, cuộc Cầu Siêu và Cầu An ngay trong chùa Linh Sơn Bruxelles là một cuộc « cách mạng văn hoá ». Người Việt yêu nước hôm nay muốn đánh đổ cái « văn hoá thù nghịch » do các nhà lãnh đạo tôn giáo và cộng sản tạo ra trong gần nửa thế kỷ. Đó là ưu điểm của nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm tại Bỉ, khi dám công khai đưa tên nhà lãnh tụ họ Ngô vào trước chánh điện nhà Phật. Chúng ta không nên hiểu ông Ngô Đình Diệm mang tinh thần tranh đấu cho tôn giáo, mà nên hiểu rằng ông Ngô Định Diệm có tinh thần bảo vệ tôn giáo, bảo vệ đạo đức tôn giáo. Nếu tôn giáo được bảo vệ thì sự bành trướng bọn vô thần không dể gì mà phát triển. Mọi người Việt ai lại không biết ông Ngô Đình Diệm là nhà bảo thủ công giáo, do đó, việc đưa tên tuổi ông vào chùa Linh Sơn Bruxelles trong lễ Cầu Siêu và Cầu An phải có một mục đích khác. Đó là tác dụng Tinh Thần Ngô Đình Diệm, tinh thần ái quốc, tinh thần con nguời chí sĩ vị quốc gia độc lập và phát triển, vị đồng bào có tự do và dân chủ. Tinh thần của một vĩ nhân nhìn vào thế cuộc có liên hệ đến vận mệnh đất nước Việt Nam.
Tôi kính cẩn trước linh hồn Cụ Diệm và cầu chúc khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm phát triển mạnh. Để kết thúc bài viết này, tôi xin đề nghị với Nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm nên lập ra một website cho mọi người Việt đồng quan điểm dễ dàng tiếp cận.
Hoa kỳ ngày 21/11/2009
Võ Trần Quảng

Tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát ở Linh Sơn Tự
Tường thuật Lễ Cầu Siêu và Cầu An tại Chùa Linh Sơn Bruxelles do Nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm tổ chức ngày 15/11/2009
Source: Báo Tổ Quốc - Diễn Đàn Tự Do Ngôn Luận
Sáng nay chủ nhật 15/11/2009, Bruxelles trời lạnh, có những cơn mưa không nặng hạt. Con đường ở quận St-Gilles, rue de la Victoire, vẫn có người rộn rịp tiếp đón khách đi hành hương tại chùa Linh Sơn. Giữa những nhóm người, nhiều ông bà lớn tuổi trong bộ complet còn khoác thêm ngoài chiếc bành tô và khăn choàng cổ khuất mặt. Cánh cửa chùa Linh Sơn, số 88, đành phải mở toang dành cho tín hữu và khách vào ra thoải mái. Người vui nên cảnh cũng vui theo.
Giữa căn phòng rộng, những chiếc bàn dài xung quanh các bình hoa đã sắp sẳn bánh trái. Chúng tôi, anh chị em trong Nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm Bỉ, đã được ông Nguyễn Ngọc Diệp Ban Trị Sự và ông Lê Vĩnh Quyên Tổng Thư Ký thay mặt Ni Sư Thích Trí Hảo vui vẻ đón chào. Lẫn lộn giữa những bình hoa và trái cây, dọc theo các tủ kiếng đầy sách báo, quang cảnh chùa Linh Sơn Bruxelles vui như ngày hội. Đó là một sự kiện hết sức lạ đối với chúng tôi, những người công giáo lần đầu tiên đến đây dự lễ.
Ngoài những Phật tử quen thuộc thường đến đây cúng dường Tam Bảo, chúng tôi còn nhận thấy nhiều đồng hương rất lạ mặt. Việc này không phải là rào cản, vì chẳng bao lâu, chúng tôi biết họ là những người Việt cư trú từ Đức và Hoà lan. Sự có mặt của bà con xa tại Bruxelles vào giờ này, chứng tỏ anh chị em đã thức dậy rất sớm. Trong lúc chuyện trò, chúng tôi lại khám phá ra họ là người Thiên Chúa Giáo, chỉ muốn đến chùa để dự lễ Cầu Siêu cho các Chiến sĩ Vị quốc vong thân, Cầu An cho quê hương an bình và cùng nhau hiệp thông với sự đau khổ của đồng bào quốc nội. Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là trong số quan khách sáng nay được biết có ông chủ tịch Cộng Đoàn Công Giáo Bruxelles thay mặt linh mục tuyên úy Nguyễn Xuyên đến tham dự. Ông nói:
« Cách đây 3 ngày, chúng tôi đọc tin tức trên diễn đàn Báo Tố Quốc và Ba Cây Trúc, biết nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm Bỉ đứng ra xin Chùa Linh Sơn tổ chức buổi lễ Cầu Siêu và Cầu An cho Quê hương xứ sở. Linh mục tuyên úy Cộng Đoàn chúng tôi rất muốn đến tham dự, nhưng vì quá cận kề với những buổi lễ các gia đình trong Giáo Xứ và lễ Chúa Nhật, nên không làm cách nào bỏ qua được, và ngài đã đề cử anh em chúng tôi thay mặt đến Chùa dự lễ . Xin ban tổ chức và nhà chùa hoan hỷ cho »
Việc này về sau chúng tôi có hỏi ông Lê Hùng, trưởng nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm Bỉ và ông đã trả lời: « Nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm Bỉ rất vui mừng và xin đón nhận mỹ ý của linh mục tuyên úy Nguyễn Xuyên. Bởi lẽ, ngài đã đi ra ngoài những ý nghĩ hẹp hòi của một số người quá khắt khe « vị tôn giáo », không dám nhìn ra khỏi phạm vi Nhà Thờ. Thực ra, con chiên và phật tử rất mong có dịp gặp gỡ nhau. Sự hiện diện của vị đại diện CĐCGVN tại Bruxelles hôm nay sẽ trả lời đích thực những đàm tiếu thiếu trung thực từ trước tới nay tại xứ này ».
Nhận thấy việc tổ chức quá chu đáo, chúng tôi liền xin phỏng vấn ông TTK và Ban Tri Sự chùa Linh Sơn về ý nghĩa ngày lễ hôm nay. Sau đây là tóm tắt:
« Chùa là nơi cho khách thập phương tìm về bản ngã, tìm cái chân như cuộc sống tuỳ theo tầm mức hiểu biết từng cá nhân. Cửa chùa luôn luôn mở rộng và hoan hỷ đón nhận mọi người. Cũng như vào nhà thờ, người phật tử khi đã vào chùa, quan niệm chân như đời sống của họ không còn nằm ở vị trí tôn giáo mà xét đoán, mà hạch hỏi. Vào chùa mọi người chỉ còn lại những tâm tư tự tại để thông cảm với nhau. Chúng tôi không cần phải nói ra, nhưng chắc chắc quý Vị đã đến chùa hôm nay đều mang trong tâm hồn một ý nghĩ về quê hương đất nước. Quý Vị đến đây để dự lễ Cầu siêu cho Chiến Sĩ Việt Nam vị quốc vong thân và đồng tâm Cầu an cho Quốc Nội. Quý Vị đến đây để hiệp thông với thống khổ của đồng bào trong nước, đúng như thư mời của nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm đã thông báo. Đó là để cầu cho tín hữu Bát Nhã Lâm Đồng, các vị lãnh đạo chùa Tuệ Quang, các giáo dân Toà Khâm Sứ Hà nội, các tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà, những giáo xứ Tam Toà, Loan Lý, Thủ Thiêm, Vĩnh Long và các nơi khác trên đất nước VN, nhất là xin quý Vị cũng đừng quên cầu cho đồng bào miền Trung chóng qua nạn thiên tai lụt lội đang hoành hành.»
Đến đây hai ông mời chúng tôi vào Chùa đảnh lễ. Trên bàn thờ Như Lai, đèn đuốc sáng trưng và hương hoa đầy khói, Ni Sư Thích Trí Hảo thắp hương khấn nguyện. Tiếp đến ông TTK mời giáo sư Lê Hùng lên tuyên bố lý do. Và sau đây là bài đã đọc :
Kính thưa Ni Sư Thích Trí Hảo, trụ trì chùa Linh Sơn Bruxelles,
Kính thưa Ban Quản Trị Chùa
Kính thưa ông Tổng thư ký
Kính thưa quý quan khách và đạo hữu,
Thật hân hạnh cho tôi được đại diện Nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm ngỏ lời cám ơn quý Vị hiện diện trong buổi lễ Cầu Siêu và Cầu An hôm nay. Trên tinh thần đạo pháp, sự kiện này thể hiện tinh thần Vô Úy của Đức Như Lai mà Ni Sư, Ban Quản Trị, ông Tổng Thư Ký và quý Phật Tử đã thấu hiểu quá chu đáo. Quý Vị thật xứng đáng làm gương, vì tinh thần yêu nước, vì nghĩa cử với đồng bào quốc nội, vì muốn nêu cao ngọn đuốc từ bi, mà Quý Vị đã đồng tâm hưởng ứng. Chúng tôi xin cám ơn tinh thần cao cả của Quý Vị, khi chấp nhận khai kinh một buổi lễ trọng đại trong thời gian kỷ lục chưa đầy tuần nhật.
Thưa Quý Vị,
Chúng tôi có đọc bài « Phật Giáo là gì ? » trong tờ nguyệt san Linh Sơn Bruxelles có đoạn khẳng định: «Phật giáo không bi quan, không lạc quan, nhưng thực tiễn. Dhamma (Giáo Pháp) là cái gì thật sự là vậy, là thực tướng. Dhamma là giáo lý của thực tể ». Vâng, buổi lễ Cầu Siêu và Cầu An hôm nay đã chứng minh hùng hồn cho thực tế đó. Đây cũng là lý do thúc đẩy Nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm tại Bỉ công khai xin tổ chức buổi lễ hôm nay.
Thưa Quý Vi,
Chúng ta đến đây để cầu siêu cho hương linh các Chiến Sĩ vị quốc vong thân, những người đã bỏ thân trên núi rừng và biển cả chỉ vì trốn chạy chế độ Cộng sản. Chúng ta đến đây để cầu an cho quốc thái, cho dân oan, cho giáo dân, cho giáo hữu đang lầm than tại quốc nội. Nói rõ hơn là chúng ta đến đây để cùng nhau hiệp thông với đau khổ của tăng thân Bát Nhã Lâm Đồng, qúy Thầy và Tu sĩ tại chùa Tuệ Quang Đà Lạt, các giáo dân Toà Khâm Sứ, các tu sĩ dòng CCT Thái Hà, các giáo dân Tam Toà, Loan Lý, Thủ Thiêm, Vĩnh Long và các nơi khác trên toàn cõi nước Việt Nam. Cũng hôm nay, chúng ta cầu xin đức Phật tổ siêu sanh tịnh độ cứu khổ cho những người dân đang bị trận lụt hoành hành.
Đất nước VN độc lập và thống nhất là sự thật, nhưng cũng từ ngày độc lập và thống nhất đó, gần nửa thế kỷ nay, sao đồng bào chúng ta ngày lại ngày càng đau khổ? Vì sao trong đất nước chúng ta vẫn có những anh hùng tuẫn tiết, vẫn có những người dân trốn chạy? Vì sao trong đất nước chúng ta, dân oan mất đất mất nhà, giáo dân và tín hữu khóc than bất mãn chế độ ngày càng đông? Đau đớn hơn, khi chúng ta nhìn lại kỷ cương gia đình và văn hoá xã hội thì xem như hoàn toàn đảo lộn và tan rã. Cuộc họp mặt chúng ta trong buổi lễ hôm nay trước đức Phật Tổ, cũng là ý nghĩa hợp sức với đồng bào quốc nội đang phản kháng thầm lặng, bất bạo động.
Nhân danh nhóm Tinh Thần Ngô Đình Diệm tại Bỉ, chúng tôi xin tri ân quý Vị.
Buổi lễ kết thúc đúng như chương trình đã định. Ni Sư Trí Hảo, ông Lê Vĩnh Quyên, ông Nguyễn Ngọc Diệp và các Ông Bà trong Ban Trị Sự cầm chân mọi người ở lại thưởng thức chè, xôí, bánh trái đạm bạc do các Bà, các Cô trong Hội Linh Sơn trổ tài.
Lúc ngồi ăn, chúng tôi muốn ghi lại câu chuyện bên lề giữa một phật tử, anh N. và ông Lê Hùng. Cũng như nhiều người Việt khác, anh N. rất thắc mắc về ý nghĩa Tinh Thần Ngô Đình Diệm mà trên mọi diễn đàn gấn đây đã nhắc nhở quá nhiều. Trước khi trả lời ông Lê Hùng yêu cầu anh N. cho biết lý do nào đã thúc đẩy anh đến chùa hôm nay? Anh N. cho biết « anh đến Chùa hôm nay để cầu xin Tam Bảo cho Quốc Thái Dân An, cho đồng bào trong nước thoát cảnh gông cùm ». Ông Lê Hùng, cắt ngang và nói: « Ý nghĩ của anh chính là tinh thần Ngô Đình Diệm ». Anh đến chùa để làm một việc cho Đất Nước, cho đồng bào, cho những người không có điều kiện đang cần đến anh. Anh làm không phải vì quyền lợi của anh mà là vì quyền lợi của kẻ khác. « Thưa, ý nghĩ vô vị lợi đó chính là Tinh Thần Ngô Đình Diệm ». Chúng ta không nên nhìn ông Ngô Đình Diệm dưới nhãn quan tôn giáo, mà nên tìm ở ông Ngô Đình Diệm những đức tính của một nhà chí sĩ, một nhà ái quốc, dám quên mình hy sinh cho dân cho nước. Câu trả lời đơn sơ của ông Lê Hùng đã làm cho anh N và người nghe thông cảm cách thoải mái. Đoạn ông Lê Hùng kết luận « xin mời tất cả quý anh chị, bất luận tôn giáo nào, hãy tham gia Phong trào Tinh thần Ngô Đình Diệm ».
Chúng tôi ra về vẫn còn luyến tiếc. Ước gì, trong tương lai giữa các nhà lãnh tụ tôn giáo tại xứ Bỉ nói riêng và trên thế giới nói chung, sẽ có những buổi lễ hiệp thông tương tự. Nên lấy lời khuyên của tổ tiên ông bà « miếng trầu là đầu câu chuyện » để làm kinh nghiệm. Những cuộc họp mặt trong miếng bánh và cốc nước trà, dù có đạm bạc, nhưng sẽ đem lại cho nhau, những kẻ xa quê, nhiều hạnh phúc kỳ lạ. Việc này, chỉ cần các vị lãnh tụ tôn giáo cố gắng bước ra ngoài cái « khó khăn » của chính mình. Con chiên và phật tử đang sống xa nhà, không có ý nghĩ gì khác hơn là được gặp nhau để trao cho nhau những tâm tình, hầu đem lại an ủi trước các nghịch cảnh một thế giới có văn minh xa lạ.
Người ghi bản tin: Chân Như
11/22/09. 02:27:31 am. 5390 words, 143 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Không ðề, Thiên hạ sự, Văn chương triết lý, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Ôn cố nhi tri tân, Tôn giáo và tín ngưỡng, Xã hội và nhân văn ,
1989 - NHỮNG ÐOẠN PHIM LỊCH SỬ - SỰ SỤP ÐỔ CỦA CỘNG SẢN ÐÔNG ÂU
11/09/09. 11:00:52 pm. 0 words, 875 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Không ðề, Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Lịch sử thế giới, Thời cuộc, Chiến tranh và hòa bình, Liên kết blogs, Video tài liệu, Video chuyên ðề, Vòng quanh thế giới, BBC, Truyền Hình Quốc Tế ,
TƯỞNG NIỆM & TIẾC THƯƠNG

Chân Dung Ngô Tổng Thống
TƯỞNG NIỆM
(Kỷ niệm ngày 1 tháng 11, ngày đau thương của dân tộc Việt Nam và nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Kính dâng Anh Linh cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm)
Mỗi chữ xin là một nén hương
Dâng niềm tôn kính, xót xa thương
Anh hùng chẳng bởi do thời thế
Hào kiệt đâu cần phải bá vương
Vì bọn tiểu nhân gây tạo phản
Nên người quân tử gặp tai ương
Nếu không, tổ quốc và dân tộc
Đã với năm châu rạng phú cường
TIẾC THƯƠNG
(Nhân ngày giỗ của Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Vị Tổng Thống khả kính đầu tiên của nước Việt Nam Cộng Hòa)
Một ánh sao băng, tắt giữa trời
Giang sơn từ đấy tối thêm thôi!
Thương người nghĩa khí tàn cơn mộng
Tiếc bậc tài hoa úa mảnh đời!
Khinh bọn túi cơm, loài rắn rết
Giận phường giá áo, lũ đười ươi
Nếu không phản phúc, không tham vọng
Đất nước giờ đây hẳn kịp người!
Ngô Minh Hằng
11/03/09. 12:02:20 am. 290 words, 460 views. Categories: Không ðề, Thiên hạ sự, Thơ văn, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Thông báo (A), Liên kết blogs, Lịch sử và ðịa dư Việt Nam, Ôn cố nhi tri tân, Xã hội và nhân văn ,
TỪ VINH QUANG ĐẾN TỬ NẠN

Chân dung cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm
Tưởng niệm cố tổng thống Ngô Đình Diệm (tháng 11- 2006)
Từ Vinh Quang Đến Tử Nạn
Minh Võ
Từ 26 tháng 10 đến mồng 2 tháng 11, chỉ có một tuần thôi (1). Nhưng là tuần lễ định mệnh đưa một nhân vật lịch sử từ Vinh Quang đến Tử Nạn. Đối với một số người thì tên tuổi, sự nghiệp của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã lên đến tột đỉnh vào một ngày 26 tháng 10, nhưng rồi đã tiêu tan vào một ngày 2 tháng 11. Nhưng với vô vàn người khác cái chết của ông đã làm ông sống mãi với lịch sử nước nhà, sống mãi trong lòng nhân dân khát vọng hòa bình, tự do. Có thể nói cuộc tử nạn của ông đã đưa ông tới đài Vinh Quang bất diệt.
Những ai không có thành kiến hay mặc cảm, và có công tâm để nhìn vào thực tế và so sánh một cách khách quan, những ai còn tha thiết với chủ quyền quốc gia, những ai biết thế nào là tự trọng, thế nào là tiết tháo, những ai đã chứng kiến và không quên sự thanh bình phồn thịnh của miền Nam (2) trong thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm cầm quyền, so với sự đói khổ, áp bức mà nhân dân miền Bắc thời ấy phải chịu dưới ách CS, hay so với một miền Nam ngụp lặn trong rối lọan, chia rẽ, và chiến tranh sau khi ông mất sẽ mãi mãi nhớ ơn và tiếc thương ông.
Cái vinh quang, theo ông, không phải là chức vị tổng thống, dù là tổng thống đầu tiên của Việt Nam. Công trạng của ông không phải chỉ ở chỗ dẹp xong lọan thập nhị sứ quân, đưa quốc gia và quân đội về một mối. Khải hòan của ông không phải ở chỗ được các yếu nhân Mỹ ca ngợi là anh hùng, là con người thần kỳ, là Churchill của thập kỷ tại Á Châu, là vĩ nhân của thế kỷ 20 (3). Vinh quang của ông không phải vì được tổng thống đệ nhất siêu cường đích thân ra đón tận phi trường, rồi đọc diễn văn trước lưỡng viện quốc hội, được báo chí Mỹ ca ngợi hết lời, và nhân dân Mỹ hoan hô dọc bên đường phố Nữu Ước, khi ông đứng trên xe mui trần vẫy tay chào họ.
Đối với con người đạo dức, dũng cảm, cương trực, thương dân yêu nước như ông, chỉ có hạnh phúc của nhân dân làm ông vui và lấy làm tự hào.Cái hào quang rực rỡ ấy vẫn còn chói sáng. Nhưng, than ôi! hạnh phúc của nhân dân thì không còn, kể từ ngày ông thăng.
Ông đã không đáp lời mời gọi khẩn thiết của cựu hòang Bảo Đại ra cứu nước, trong lúc hy vọng cứu nước mong manh như sợi chỉ mành trước gió, nếu ông không có một tấm lòng rộng mở hướng về hạnh phúc của nhân dân, nếu ông không vì lợi ích quốc gia, dân tộc, dũng cảm gạt sang một bên niềm ước ao từ bao năm, là được dâng trọn cuộc đời cho Chúa trong một tu viện nào đó.
Nhận lời mời của Bảo Đại, xông vào chốn hiểm nguy, tuyệt vọng, ông tự coi mình lãnh nhận sứ mạng của Trời đem cuộc đời hiến cho tổ quốc.
Hiểm nguy, vì lúc ấy, ngòai vị vua đã mất ngôi, và một số ít ỏi đồng chí, xung quanh ông tòan những người chống đối. Họ không muốn ông thành công. Họ cầu ông thất bại để sau khi ông đã liều chết dọn đường, làm cỗ sãn, họ sẽ đưa người của họ ra thay thế ông. Họ là người Pháp mà đại diện lúc ấy tại Việt Nam là tướng Paul Ely, người ghét cay ghét đắng Ngô Đình Diệm. Họ là người Mỹ mà đại diện lúc ấy là tướng J. Lawton Collins, bạn thân và đại diện cuả cá nhân tổng thống Eisenhower, không ngừng đưa kiến nghị, hàng chục lần, yêu cầu chính quyền Eisenhower phải bằng mọi cách thay thế ông. (4) Họ là những nhà thực dân ngoan cố, chỉ muốn Ngô Đình Diệm thất bại và miền Nam Việt Nam nát bấy để uy tín, quyền lợi thực dân còn chút hy vọng tồn tại. Họ là những tay sai của thực dân chỉ muốn ăn sống nuốt tươi con người yêu nước, thanh liêm, cương trực lúc nào cũng đe dọa túi tiền, bổng lộc, chức tước của họ.
Tất cả những lọai người đó đã cấu kết với nhau, khuyến khích nhau để tấn công ông từ nhiều phía hầu làm cho ông phải nản chí, ngã lòng.
Tình hình nước nhà lúc ấy đã tuyệt vọng, vì liền sau khi về nước, trong chuyến kinh lý đầu tiên thăm miền Bắc, vị thủ tướng tân cử đã thấy tất cả không còn gì. Mọi người chỉ muốn mau chóng rời bỏ phần đất thân yêu ngàn năm văn vật này. Không còn ai muốn cùng với Ngô Đình Diệm chiến đấu để cứu vãn tình thế. Tuyệt vọng vì chỉ hai tuần sau, sự chia đôi đất nước đã thành hiện thực vô phương đảo ngược. Tuyệt vọng vì ngân khố trống rỗng, quân đội nằm trong tay một tướng lãnh có quốc tịch Pháp (5), sãn sàng vì quyền lợi mẫu quốc, theo lệnh người Pháp bất tuân lệnh, uy hiếp vị thủ tướng Việt Nam chân ướt chân ráo, vừa về nước.
Nhưng trong tuyệt vọng ông đã đem lại niềm hy vọng. Từ chỗ hiểm nguy, tứ bề thọ địch, ông đã thóat ra an tòan và gieo vào lòng nhân dân niềm tin.
Ông đã thắng tất cả. Collins, bạn thân và đặc sứ của tổng thống Eisenhower đã bị triệu hồi về Mỹ. Ely đã cùng với đoàn quân viễn chinh đứng chào hai lá quốc kỳ Việt Pháp trước khi hạ quốc kỳ Pháp cuốn rút về nước cùng với tướng tá và đòan quân bại trận. (6) Và sự vịệc đó diễn ra trước sự hiện diện của một Ngô Đình Diệm mà thực dân Pháp căm ghét, nhưng từ nay bó buộc phải nể vì.
Những Bảy (Lê Văn) Viễn, Lai Văn Sang, Nguyễn Văn Hinh, Nguyễn Văn Vỹ .... tay sai của thực dân, tất cả đều bị lọai.
Và cuối cùng chính cựu hòang Bảo Đại cũng bị truất phế, mặc dù sự việc xảy ra ngoài ý muốn của Ngô Đình Diệm. Ý dân là ý Trời. Sau này cựu hòang đã chẳng hề óan trách ông, mà còn bảo đó chỉ là do sức ép của thời cuộc. (7)
Thế mà ngày nay còn nhiều kẻ trách cứ, lên án Ngô Đình Diệm phản bội, không giữ lời thề trung thành với quốc trưởng, trong khi chính quốc trưởng xác nhận trong hồi ký rằng ông chỉ yêu cầu ông Diệm thề trước tượng Chúa là sẽ bảo vệ tổ quốc chống Cộng sản và nếu cần chống cả Pháp. (8)
Nỗi oan này cũng tương tự như lời đồn đại đầy ác ý rằng ông giết cố trung tướng Trình Minh Thế, một người bạn, người đồng chí cùng lý tưởng chống cộng đồng thời chống thực dân của ông, người mà chính bào đệ của ông đã phải đến tận núi Bà đen để thuyết phục chiêu dụ, người mà lúc ấy ông rất cần đến sự trung thành và lòng dũng cảm trước sức tấn công của kẻ thù, người mà khi được tin tử nạn, ông đã khóc đến ngất sỉu. (9)
Cũng giống như nỗi oan đàn áp, “bách hại Phật giáo”. Người ta đã quên rằng trong 9 năm thời đệ nhất Cộng Hòa số chùa chiền miền Nam đã tăng gấp đôi. Có nơi thờ Phật đã được xây cất do tiền chu cấp của chính phủ. (10) Tòan bộ món tiền thưởng giải Mac Saysay ông đem tặng hết cho đức Đạt Lai Latma. (11) Tòan bộ tham mưu phủ tổng thống từ đổng lý, phó đổng lý, chánh văn phòng, chánh võ phòng, bí thư, thư ký, tổng thư ký đều là Phật tử ngoan đạo (12). Đó là chưa kể phó tổng thống, đại tướng tổng tham mưu trưởng và nhiều bộ trưởng đều là những Phật tử. Thế mà người ta nhất định bảo ông kỳ thị Phật Giáo, chỉ dùng người nhà và dân Công giáo!
Người ta đã thổi phồng một lỗi lầm nhỏ bé về hành chánh (13) để kết tội ông bách hại Phật Giáo, tàn sát Phật tử, và gây nên những cái chết của một số nhà sư tự thiêu, mặc dù sát sinh là tội nặng theo giới răn của Đức Phật.
Người ta cũng kết tội ông mưu toan hiệp thương với miền Bắc, bán đứng miền Nam cho Cộng Sản. Quả thực ông đã để cố vấn Ngô Đình Nhu tiếp xúc với Hà Nội (14) để tìm một giải pháp chính trị cho cuộc nội chiến càng ngày càng gay go, đang có nguy cơ quốc tế hóa để trở thành đại chiến. Lúc ấy ông đang ở thế thượng phong. Khác hẳn cái thế yếu kém của chính quyền đệ nhị Cộng Hòa sau này, lúc mà ngay cả đồng minh Hoa Kỳ cũng bị Việt Cộng o ép, làm khó dễ trăm chiều tại bàn hòa đàm.
Về mặt ngoại giao, 81 nước có đại diện ở Saigon. Về mặt an ninh ông đã phá hủy hầu hết các cơ sở hạ tầng của CS đề lại miền Nam, như Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư Cộng đảng đã thú nhận, và sau này Văn Tiến Dũng còn xác nhận bằng con số cụ thể là tổn thất của CS lên đến 90 phần trăm. (15) Nhiều nhà báo Mỹ chỉ trích ông hạ mật lệnh cho các tướng tá sư đòan 7 không được mở những trận đánh lớn hòng tiêu diệt Cộng quân (16. Một số giáo sư Việt trực diện chất vấn ông, sao không mở một trận đánh lớn để dứt điểm mà cứ đánh cầm chừng? (17) Ông đáp, vì không muốn chiến tranh lan rộng khiến các cường quốc hai phe đối địch nhảy vào, chỉ thiệt cho nhân dân mình. Câu trả lời của ông cho thấy một nhãn quan chính trị sâu sắc, mà thực tế đã chứng tỏ đó là một lời tiên tri.
Cành đào có đính danh thiếp của chủ tịch Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh chúc Tết tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm, từ Hà Nội gửi tới qua một thành viên thuộc Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Sóat Đình Chiến (CIC), được trưng bày tại phòng khánh tiết phủ tổng thống vào dịp xuân Qúy Mão (1963) mãi gần đây mới được người có thẩm quyền xác nhận. Nhưng lúc ấy đã là nguyên nhân những tin đồn bất lợi.(18).
Khi muốn triệt hạ một đồng minh ương ngạnh không chịu để quân Mỹ vào tốc chiến tốc thắng (theo một chiến lược riêng), lại còn có kế hoạch yêu cầu Mỹ rút dần cố vấn về nước, thì người ta sẽ tìm ra không thiếu bằng cớ. Nào độc tài gia đình trị, nào đàn áp Phật giáo, nào bán đứng miền Nam cho Cộng Sản....
Một vài giới chức cao cấp trong bộ ngọai giao Mỹ từ thứ trưởng trở xuống (19) đã năng động hăng hái dùng những mánh lới lươn lẹo đánh lừa cấp trên hòng có được sự chấp thuận bức điện văn bật đèn xanh cho một số tướng lãnh Việt Nam, vì quyền lợi phe phái hay cá nhân làm cuộc đảo chính. Tổng thống đã muốn tránh đổ máu nên sẵn sàng đến gặp các tướng đảo chính để nếu cần thì được an tòan rút lui. Nhưng họ đã hạ độc thủ, cho thủ hạ giết ông, rồi phao vu là ông tự sát. Chính Tổng Thống Kennedy đã sửng sốt, giận dữ, và mất bình tĩnh khi nghe tin này. Nhưng đã quá muộn.
Tổng thống đã chết đi để cho hàng nghìn, hàng vạn người khỏi chết, nhất là những quân sĩ trung thành với ông và thường dân vô tội chết vì bom rơi đạn lạc. Ông đã không chấp thuận đề nghị của tham mưu trưởng Lữ Đòan Liên Binh phòng vệ phủ tổng thống đưa thiết giáp lên tấn công bộ chỉ huy cuộc đảo chính. (20)
Nhưng hậu quả của cái chết của tổng thống không thể lường được. Tình hình miền Nam rối lọan trong hai năm. Gần chục chính phủ (21) đã thay nhau cầm quyền mà không giải quyết được vấn đề an ninh, và các mâu thuẫn phe phái tranh giành quyền lực. Cuối cùng Mỹ đã phải (hay có dịp thực hiện ý đố từ trước?) đem đại quân vào mà không có một hiệp ước song phương. (22) Điều này đã làm cớ cho Bắc Việt tuyên truyền rằng Mỹ xâm lăng, và kêu gọi tòan dân kháng chiến chống Mỹ. Hàng lọat trí thức miền Nam ra bưng đi theo Việt Cộng.(23) Bộ đội CS thề quyết vào Nam đánh Mỹ.
Cuộc chiến đã xoay sang thế hòan tòan bất lợi cho miền Nam. Cuộc chiến gần một thập kỷ với cường độ khủng khiếp đã giết hại hơn 3 triệu người. Và miền Nam đã mất vào tay CS. Thêm nửa triệu người nữa chết trong các tù cải tạo và trên đường vượt biển, vượt biên đi tìm tự do, chạy trốn nạn CS.
Hơn ba mươi năm qua, những người còn lương tri, còn biết thế nào là ơn nghĩa đã không nguôi lòng tiếc thương một vị Tổng Thống đã có công giữ được một nửa nước khỏi rơi vào tay CS hồi 1954, có công tiếp đón, định cư gần một triệu đồng bào chạy trốn CS miền Bắc, trong đó không chỉ có trên 700 ngàn giáo dân, mà còn không biết bao nhiêu Phật tử, văn nghệ sĩ, trí thức, quân cán chính của chính quyền Quốc Gia cũ thóat nạn CS, để có được đời sống ổn định, tư do thờ Chúa, cúng Phật, tự do sáng tác, tự do hành xử quyền công dân, và làm ăn phát đạt.
(Chúng tôi tin rằng tất cả những người từng di cư từ miền Bắc, hay con cháu họ không bao giờ quên ơn Ngô Đình Diệm, cho dù ông có lỗi lầm gì đi chăng nữa. Nhân vô thập tòan. Thánh nhân còn phạm tội. Có nhà lãnh đạo quốc gia nào dám tự phụ mình không sai phạm? Những người di cư đó, nhất là giới trí thức, là những chứng nhân sẽ lãnh trách nhiệm nói lên sự thật về con người yêu nước Ngô đình Diệm. Dân di cư hồi 1954, cũng như dân tỵ nạn tại Mỹ sau 30 tháng tư năm 1975 dĩ nhiên cũng phải nhớ ơn chính phủ Hoa Kỳ đã tận tình giúp đỡ mình hay cha ông mình trong những thời điểm ấy.)
Ngày nay, nhớ tới những chiến thắng lẫy lừng của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, chịến thắng do lòng dũng cảm và chí cương quyết bảo vệ phần đất còn lại thóat ách thực dân và khỏi rơi nốt vào tay CS, đồng thời ngậm ngùi tưởng nhớ đến cái chết oanh liệt, tuy thê lương, cái chết “vị quốc vong thân”, thà hy sinh mạng sống mình còn hơn khuất phục ngọai bang để tổn hại đến chủ quyền quốc gia, chúng tôi những kẻ mang ơn tổng thống, mến thương Tổng Thống, cảm phục lòng đạo đức, sự dũng cảm và tài ba của tổng thống cầu xin vong linh của Người hãy phù hộ đàn con cháu tha phương, và nhất là soi sáng cho những nhà trí thức còn chút lòng tự hào dân tộc hãy can đảm nói lên sự thực để đánh tan mọi hiểu lầm, hòng tạo sự đòan kết sâu rộng trong cộng đồng người Việt hải ngọai, ngỏ hầu tìm ra phương lược hữu hiệu đem lại tự do dân chủ phú cường cho quệ hương, bảo tồn văn hóa dân tộc mà Người đã quyết tâm bảo vệ bằng chính mạng sống mình.
Minh Võ
Cuối tháng 10- 2006
Chú thích:
(1) Ngày 26- 10- 1956 là ngày Quốc Khánh, ngày khai sinh chế độ đệ nhất Cộng Hòa, mà người khai sáng chính là Tổng Thống Ngô Đình Diệm, được coi như ngày Vinh Quang nhất của đời ông. Ngày 2- 11- 1963, hơn 7 năm sau là ngày Tổng Thống bị tử nạn. Nhóm tướng lãnh đảo chính đã hạ lệnh giết ông, rồi vu cáo là ông tự sát. Cuộc đảo chính bắt đầu vào ngày hôm trước, 1-11-63.
(2) Thanh bình, thịnh vượng: Sau khi dẹp tan bọn phiến lọan Bình Xuyên, giải tán các tóan vũ trang của các giáo phái và thống nhất quân đội, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã dồn nỗ lực vào việc đem lại an ninh cho đồng bào. Chín năm dưới thời ông là những năm thanh bình, phồn thịnh nhất mà ngay những người cực lực chỉ trích ông cũng phải ghi lại trong tác phẩm của họ. Chỉ xin trích dẫn một vài đọan để chứng minh.
-- Ông Hồ Sỹ Khuê người chê ông Diệm độc tài, đàn áp Phật Giáo đã viết trong cuốn Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm và Mặt Trần Giải Phóng Miền Nam (NXB Văn Nghệ, Nam Cali, 1992, trang 369):
“Bàn chuyện giầu nghèo, không xã hội nào thực sự công bình được hẳn. Nhưng xã hội Saigon, sau năm 1954 không có ai bần cố như sau 1975. Mức sống chung giữa các thành phần đều được nâng cao. Sống dễ dàng nên khao khát được sống an bình, không mấy ai hâm mộ cách mạng vô sản”
Về nông thôn ông viết (trang 270):
“Nông thôn đang hồi thay đổi mạnh. Xưa miền Nam có người nghèo túng, tuy không hề biết cảnh “bần cố nông” của miền Bắc. Nay thì dân cầy Nam bộ không còn thiếu thốn quá đáng, háo hức theo cuộc sống có nhiều thay đổi. Cầy tay đổi sang cầy máy, phân hóa học thay phân tươi, sông rạch lưu thông đã có thuyền máy, có ghe đuôi tôm, nhà cửa bắt đầu có những tiện nghi tối thiểu, radio, tủ lạnh quạt máy, ti vi, dần dà gia đình nào cũng có một vài món làm vui.
“Cuộc sống hàng ngày con nhà nông không còn đầu tắt mặt tối quá đáng. Thanh niên miệt vườn dùng quen tay nên biết ham chuộng máy móc. Nhờ giao thông tiện lợi hơn xưa, nên rành cảnh sống phố phường, mà không phải so bì hơn kém.
“Giáo dục mở mang, trường ốc mở rộng thêm nhiều.. Trẻ em miệt vườn trước kia không qua được bậc tiểu học, nay đi vào trung học là chuyện bình thường. Báo chí sách vở lan tràn khắp nơi, mở rộng tầm hiểu biết phổ thông. Người lớn trẻ con đều thạo tin tức thế giới và chuyện xảy ra hàng ngày trong nước. Không còn mấy ai chìm trong vòng u tối nữa....
“Nông thôn không bần cố, thành thị cũng không bao giờ gọi là vô sản được. Đời sống thợ thuyền Nam Bộ nói chung, có nhiềiu triển vọng hơn xưa. Khác hẳn lớp cu li đồn điền đất đỏ, hay khu bến tầu Ba Son ngày trước. Sống ở thành thị họ có nhiều điều kiện hơn nông dân, để tân trang đời sống hàng ngày, trau chuốt ý thức, mở rộng kiến văn. Một số công chức ngày xưa, có khi là bác sĩ hay thú y chán chế độ phong kiến, đôi người lánh mình làm dân lao động, ảnh hưởng quanh quẩn bên các xóm bình dân, không phải ít. Tài xế tắc xi, nhưng trức đến, không kể khách, nằm gác chân xem báo. Đạp xích lô, nhưng moỗi chiều ngồi nhậu nhẹt lai rai, bàn chuyện thời cuộc với xóm riềng. Những cảnh sống như thế xóa sạch mọi đẳng cấp thầy thoợ trong xã hội, tạo một không khí hòa đồng vươn cao. Con em gia đình lao động đã bắt đầu vào đại học, làm bác sĩ, kỹ sư sánh vai cùng bạn bè đồng lứa xuất phát từ đủ mọi thành phần xã hội.
“Đấy là những thành tựu xã hội, có thể đưa ông Diệm đến thành công, nếu ông không làm “tòan quyền” (...)
“...Tình hình bấy giờ giải thích tâm lý hôm nay của một số người “nuối tiếc”, nhất là các bà: “Ông Diệm còn tốt hơn ông Hồ nhiều”.
“Thực tế, dân miền Nam thời “Cộng Hòa Nhân Vị” 30 năm trước có một cuộc sống vật chất đầy đủ hơn thời “xã hội chủ nghĩa ông Hồ 30 năm sau. Đầy đủ. Chưa đúng. Thừa thãi. Cho nên sau 1975, người mìền Nam đổi đời, bán dần những thùa thãi cũ mà ăn! Đến nay vẫn chưa hết.”
Ông Hồ Sỹ Khuê là một Phật tử. Trong cuốn sách xuất bản năm 1992 để phê bình cả ông Hồ lẫn ông Diệm, ông đặc biệt chỉ trích ông Diệm đàn áp Phật Giáo. Nhưng khi so sánh ông Diệm với ông Hồ, ông đã viết:
“Ông Diệm cũng một thời được khóac áo “Cách Mạng Quốc Gia”. Họat động để cải tiến dân sinh, thăng tiến xã hội, đúng là cách mạng. Nhưng thay đổi để đưa con người đến chỗ đói rách cùng cực..., đưa xã hội đến chỗ tan rã, thóai hóa thấy rõ, như ông Hồ đã làm mà vẫn được xưng tụng là một nhà cách mạng!”
Vậy mà, cũng năm 1992 có một cuốn sách khác được xuất bản cũng kịch liệt đả kích ông Diệm. Nhưng tác giả, vì thành kiến hay ghen ghét, đã chẳng những phủ nhận hoàn tòan những thành quả về xã hội dân sinh mà ông Diệm đã thực hiện cho nhân dân, họ còn bịa ra rằng, trong thời ông Diệm, nhân dân miền Nam thực sự sống trong cảnh địa ngục trần gian (Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi”, trang 298). Tuy cuốn sách ghi tác giả là Hòanh Linh (Đỗ Mậu), nhưng ai cũng biết tác giả thực sự là một nhóm người thù ghét ông Diệm, và ghen ghét tập thể người Công Giáo. Họ đã cố tình bịt mắt trước những thực tế không thể phủ nhận, mà chính những người không ưa ông Diệm khác đã phải công nhận.
Gần đây trong nước nhà xuất bản tành phố HCM cũng cho xuất bản cuốn “lịch sử Phật Giáo xứ Huế” dày 700 trang, in rất đẹp của hai tác giả Thích Hải Ân và Hà Xuân Liêm. Có lẽ cũng vì thù ghét ông Diệm nên đã cố tình xuyên tạc sự thực, một sự thực mà cho đến nay những người lớn tuổi ở Huế còn nhớ như mới xảy ra. Chẳng những thế, ngay cả Hồ Chí Minh đã từng nhắc đến mấy câu vè “Đầy vua không Khả, đào mả không Bài”. Vậy mà cuốn sách trên (trang 356) đã ghi: “Ngô Đình Khả, người làng Đại Phong, Quảng Bình là người đã ký giấy cho bọn thực dân Pháp đầy vua Thành Thái sang Réunion. Dân Huế còn truyền tụng câu: “Đày vua, ông Khả; đào mả, ông Bài”, tức là Nguyễn Hữu Bài. Ngô Đình Khả cũng làm đến chức thượng thư triều đình Huế.” Có thể nào, các tác giả vì còn trẻ, không biết những sự kiện quá khứ nên vô tình viết nên một điều hòan tòan trái với sự thực chăng? Bằng không thì một sự xuyên tạc như thế sẽ làm mất hẳn tín nhiệm của độc giả, đối với tất cả những gì các ông viết trong cuốn sách 700 trang. (Về chi tiết xin xem nguyệt san Thế Kỷ 21 số 208, tháng 8 năm 2006)
Đã trưng dẫn ông Hồ Sỹ Khuê, một cậy viết chỉ trích kịch liệt ông Diệm, thiết tưởng cũng nên trích vài hàng của một tướng trong số hai tướng chủ chốt của cuộc đảo chính 1-11-63, là Trần Văn Đôn.
-- Tướng Trần Văn Đôn (1917- 1997) là người miền Nam, sinh tại Pháp. Trong cuốn “Our Endless War” (cuộc chiến bất tận của chúng tôi, Presido Press 1987), ông cho biết cảm tưởng và nhận xét của mình về ngày quốc khánh 26 tháng 10, năm 1956:
“Đây là những lúc hồ hởi, hân hoan thực sự cho dân Việt Nam chúng tôi. Lần đầu tiên chúng tôi được thấy một lãnh tụ thực sự năng động và được dân mến chuộng. Vào thời gian đó tất cả chúng tôi đứng đàng sau ông Diệm: quân nhân, công chcức, và nông dân miệt quê trong các làng xã. Sự ủng hộ này hòan tòan đến nỗi trong cuộc bầu cử ông đã thắng lớn và ngày 26 tháng 10 năm 1956 nền đệ nhất Cộng Hòa Việt Nam được tuyên bố thành lập với ông Diệm làm tổng thống, đồng thời một hiến pháp được ban hành và lập tức 52 nước đã công nhận Cộng Hòa Việt Nam.” (S Đ D tr. 62)
Và ở một đọan khác:
“Chương trình Ấp Chiến Lược (thực ra là các chương trình dinh điền và khu trù mật, vì đến 1962 mới có quốc sách Ấp Chiến Lược. MV) nhằm bình định thôn quê, và đấu tranh chống tham nhũng, cờ bạc, nghiện hút và mãi dâm là bước đầu được lòng dân mà tổng thống Diệm đã làm, khi chế độ của ông mới thành lập.
“Tôi đã có thể thấy qua nhiều cuộc nói chuyện với dân chúng thuộc mọi giai tầng xã hội là những hành động ban đầu của ông Diệm rất được lòng dân. Trong quân đội mọi cấp đều phấn khởi trước tinh thần thống nhất, saua khi dẹp xong các phe phái, và chinh phục được các thành viên thuộc các phái đó đứng vào hàng ngũ chúng tôi.
“Các cuộc kinh lý khắp vùng thôn quê của ông Diệm khiến dân rất thương mến ông. Tại hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi, trước kia từng là cứ điểm của CS, dân làng đã nói với tôi: “Trong 10 năm dưới quyền ông Hồ Chí Minh, ông ta chưa một lần nào đến thăm chúng tôi. Nhưng mới chỉ 10 ngày (sau khi được giải phóng), ông Ngô Đình Diệm đã tới thăm và chúng tôi kể những nỗi khó khăn của chúng tôi.” Dân chúng ở cả thành thị lẫn xóm làng đều biết về ông Diệm và lấy làm thích thú những gì họ được xem thấy.”
Những lời kể trên hòan tòan trái ngược với những gì mà vài nhà báo Mỹ, trẻ măng, như David Halberstam, Neil Seehan, hoặc như Stanley Karnow, vì sẵn ác cảm, hay vì nhận xét hời hợt, đã chê ông Diệm không chịu đi ra ngòai để tiếp xúc với dân, mà chỉ khư khư ngồi trong dinh nghe bọn “nịnh thần” báo cáo.
Tuy trong 2 năm cuối (1962, 1963), cộng quân đã mở một cài cuộc tấn công nhỏ, như ở Ấp Bắc, và cán bộ du kích đã có thể xâm nhập, khủng bố các viên chức chính phủ tại thôn ấp. Nhưng tình hình an ninh vẫn còn tốt đẹp. Các trục lộ giao thống chính vẫn tuyệt đối an tòan. Sau đây là những gì các giới chức Mỹ ở Saigon lúc ấy đã viết về vấn đền này.
-- Đại sứ Frederick Nolting, trong hồi ký From Trust to Tragedy (Praeger, NY, 1988, trang 56) viết: “By the end of 1962 my family and I could drive to Cap Saint Jacques (Vùng Tầu) or Da Lạt without armed escort” (Khỏang cuối năm 1962, tôi và gia đình tôi đã có thể lái xe đi Vũng Tầu hay Đà Lạt mà không cần hộ thống vũ trang.)
William E. Colby, Giám đốc Trung Ương Tình Báo Mỹ (CIA) đã viết trong tác phẩm Honorable Men, My Life In The CIA ( NXB Simon & Schuster, NY, 1978) rằng khi còn là trưởng nhiệm sở CIA ở Saigon, cũng khỏang thời gian 1962, vợ con ông (bà Barbara Colby, và cô con gái tên Catherine) đã có thể đi qua đèo Hải Vân giữa Đà Nẵng và Huế, chỉ với một sĩ quan phụ trách nhiệm sở ở phía Bắc VNCH. (S Đ D trang 179).
Chính nhà báo trẻ Neil Sheehan trong cuốn A bright shining lie cũng đã thuật lại trường hợp Trung Tá Vann, cố vấn sư đòan 7 đã một mình lái xe từ Saigon đi Mỹ Tho vào giữa năm 1962. Tuy nhiên vì không muốn công khai nhìn nhận một sự thực là ngay vào năm cuối thời đệ nhất Cộng Hòa tình trạng an ninh cũng rất bảo đảm, nên Neil Sheehan đã vụng về giải thích rằng sở dĩ CS để ông đi bình an là vì họ muốn gây cảm tình với người Mỹ(!). Xin xem S Đ D, NXB Random, NY, 1988, trang 46).
(3) Về những lời khen xin chỉ kể một vài nhân vật nổi bật:
-- William O. Douglas thẩm phán tối cao pháp viện Mỹ, tác giả cuốn sách nổi tiếng về các nước vùng Đông Nam Á nhan đề North From Malaya, nghiên cứu về các nước Miến Điện, Tân Gia Ba, Thái Lan, Ai-Lao và Việt Nam đã từng gặp Ngô Đình Diệm mùa Hè năm 1952, trong một chuyến chu du khắp vùng Á châu. Ông đã ca ngợi ông Diệm là anh Hùng, và được nhiều tác giả sau này trong đó có nữ ký giả Marguerite Higgins nhắc lại.
-- Tổng Thống Dwight D. Eisenhower (1890-1969), theo sử gia John M. Newman, đã gọi Ngô Đình Diêm là con người của phép lạ (hay con người thần kỳ, A Miracle Man), Nhiều nhà báo Mỹ Úc, kể cả thiên Cộng, cũng coi việc thủ tướng Ngô Đình Diệm dẹp tan lọan Bình Xuyên và thống nhất quân đội các giáo phái vào một mối là một phép lạ chính trị, hiếm thấy trong lịch sử. Xin chỉ dẫn chứng tờ báo uy tín bậc nhất của Mỹ là tờ Foreign Affairs. Tác giả William Henderson nhận xét, trước khi Diệm lên cầm quyền Nam Việt Nam xem ra chắc chắn sẽ rơi xuống vực thẳm của nội chiến đẫm máu, rồi sụp đổ. Nhưng chỉ 2 năm sau...một phép lạ chính trị đã xảy ra.
Nếu coi việc nói tiên tri là một phép lạ, thì rất nhiều người, kể cả những người chỉ trích ông cũng đã ca ngợi tài tiên tri của ông Diệm. Tưởng chỉ cần nhắc lại ở đây một vài tên tuổi nổi bật:
-- Bernard Fall (1926-1967), trong cuốn The Two Vietnams, nxb Frederick and Praeger, USA, 1967, trang 241-242, đã trưng dẫn một báo cáo chính trị của người Pháp viết năm 1948 để chứng tỏ một viễn kiến chính trị vô cùng sâu sắc của ông Diệm, như một nhà tiên tri:
(Về lý do đích thực ông Diệm từ chối lời quốc trưởng Bảo Đại mời ông giữ chức thủ tướng vào tháng 5 năm 1949, sau khi quốc trưởng đã ký với tổng thống Pháp hiệp ước Elyssée, ngày 8-3-1949, trao độc lập cho Việt Nam):
“Thực ra ông Diệm nghĩ rằng những nhượng bộ của Pháp chưa sâu rộng đủ, để ông dấn thân vào thực hiện. Vẫn trên căn bản “Tất cả hoặc không có gì” (tout ou rien, all or nothing), ông ta lại thôi ủng hộ Bảo Đại và lập tại Nam và Trung Việt một chính đảng nhỏ mang cái tên nói lên chương trình hành động “Phong trào quốc gia quá khích (?) Phong trào kêu gọi kháng chiến chống cả Pháp lẫn Việt Minh, một cố gắng vô vọng vào năm 1949, nhưng như một báo cáo chính trị của Pháp (năm 1948 MV) đã nói rõ:
“Ông Diệm nhắm tổ chức lại và tăng cường lực lượng Công giáo để đạt được sự đòan kết thực sự và nền độc lập của Việt Nam. Ngay sau khi đã đủ mạnh ông ta sẽ bắt tay vào việc giao tế với các ngọai cường, nhất là Mỹ, và sẽ xin họ giúp về kinh tế, ngọai giao.
“Còn đối với chúng ta (nước Pháp) thái độ của ông ta là thân hữu vào lúc này, vì nhà cầm quyền Pháp hãy còn có ích cho ông ta. Quan điểm của Diệm là chỉ mong Mỹ can thiệp khi nào đã rõ ràng là Pháp trở nên bất lực trong việc giải quyết chiến cuộc Đông Dương.”
“Báo cáo đó, 6 năm sau chứng tỏ hòan tòan là một lời tiên tri. Nhưng vào năm 1948, chẳng ai đếm xỉa đến.” (That report was to prove fully propheticsix years later, but, in 1948, it was ignored”(S Đ D tr. 242)
-- Stanley Karnow (1926...), nhà báo trở thành sử gia đã viết trong cuốn Vietnam a history nxb Viking Pinguin, 1991 (3rd Edition) trang 231-232): “Thâu tóm kinh nghiệm, ông Diệm đã đưa ra một nhận định tiên tri vào lúc ấy: “Những người CS sẽ đánh bại chúng ta. Không phải họ mạnh. Mà vì chúng ta yếu. Họ sẽ thắng vì chúng ta bỏ cuộc.”
Nhân câu trên của Karnow, tưởng cũng nên nhắc lại chính lời của tổng thống Diệm đã nói với nhiều người (cũng giống như tổng thống Nixon sau này), rằng phía người quốc gia sẽ thua vì báo chí (phản chiến).
-- Ông hồ Sĩ Khuê, người cực lực chỉ trích ông Diệm độc tài và kỳ thị Phật Giáo, cũng ít nhất hai lần khen ông Diệm tiên liệu tình hình chính trị như nhà tiên tri, trong cuốn sách đồ sộ của ông, nhan đề Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm và Mặt trận Giải Phóng Miền Nam. Trang 164 ông viết:
“Ông Diệm bảo tôi: ...Thành ra nguy cơ không phải là óc ly khai của người Nam Kỳ. Nguy cơ là Cộng Sản. Pháp là vấn đề giai đọan, cộng sản mới thực là vấn đề tâm huyết và dài hạn. Pháp thắng hay bại trong cuộc chiến chống Việt Minh vẫn phải đi đến chỗ công nhận Việt Nam Độc Lập. Điều quan trọng là buộc họ trả chủ quyền trong tay chúng ta (trong tay ông Diệm). Lần khác ông thêm: “Cùng kỳ lý, nếu Pháp không thắng nổi, ta có thể dùng Nam Kỳ làm cứ điểm huy động quần chúng lục tỉnh để tranh thủ với cộng sản. Giữ được Nam Kỳ là giữ được nước.”Tôi suy nghĩ nhiều về điều ông Diệm nói đây, và đi đến kết luận: Trong tư tưởng thầm kín của ông, người Nam Kỳ ly khai, người Nam Kỳ thống nhất, không quan trọng bằng việc người Nam Kỳ có chịu chống cộng với ông không. Tinh thần ly khai của người Nam Kỳ có chỗ ông Diệm dùng được để tranh thủ với ông Hồ. Lời trên của ông Diệm tôi xem như một lời tiên tri. Sáu năm sau đó hiệp định Geneve đã đưa ông vào hòan cảnh Nam Bắc phân tranh mới, đúng như ông đã có vẻ tiên liệu sẵn.”
Hai chục trang sau, trang 184, ông Hồ Sỹ Khuê lại khen ông Diệm tiên tri lần nữa:
“Ông Diệm quả đã tiên tri là Hoa Kỳ sẽ can thiệp vào Việt Nam”.
-- Tổng Thống Lyndon Baine Johnson (1908-1973), khi còn là phó tổng thống, trong một dạ yến tại Saigon, năm 1961, đã ca tụng ông Diệm là Churchill của thập kỷ tại Á Châu. Ai cũng biết thủ tướng Anh Winston Churchill (.....) được coi là anh hùng cứu quốc của nước Anh thời đệ nhị thế chiến. Đó không phải là lần đầu ông Johnson gọi ông Diệm như vậy. Sáu năm trước khi còn là lãnh tụ khối đa số thượng viện Mỹ, ông đã nói y như vậy rồi.
-- Thị trưởng New York, Robert Wagner trong dịp tổng thống Ngô Đình Diệm thăm Mỹ năm 1957, “đã mô tả ông như “một người mà lịch sử sẽ có thể liệt vào hàng vĩ nhân của thế kỷ 20” (xin xem Nguyễn Cao Kỳ, Twenty Years and Twenty Days, NXB Stein and Day, NY, 1976, trang 31.)
-- Ký giả nổi tiếng Henry Luce đã viết Trong bài xã luận của tuần báo LIFE ngày 2-5-1955, như sau:
“Hết mọi con cháu của Cách Mạng Mỹ, và cả những kẻ thán phục xa xăm sau này phải hết sức vui mừng và hô lên rằng: “Hoan Hô Ngô Đình Diệm!” Công việc của Diệm chỉ vừa khởi sự, xem ra khá phức tạp, khó khăn hơn cả sứ mạng của George Washington. Vì ông ta không chỉ có một kẻ thù mà là nhiều kẻ thù: Cộng sản, người Pháp, bọn Bình Xuyên, và các giáo phái...Sức mạnh của Diệm càng lớn mạnh thì càng làm đơn giản công tác ngọai giao của Hoa Kỳ ở Saigon. Công tác đó là, hay phải là, chỉ đơn giản ủng hộ Diệm hết mình.” (Henry Luce, “Revolution in VN”, Life 38, 9 May 1955, trang 3, trích dẫn theo America’s Miracle Man in Vietnam của Seth Jabobs, duke University Press, Durham andf LOneon 2004, trang 209)
(4) Tướng Lawton Collins, bạn thân và là đặc sứ của tổng thống Eisenhower tại Saigon lúc ấy đã 12 lần trong 6 tháng nhắc đi nhắc lại đề nghị xin tổng thống hãy thay thế thủ tướng Ngô Đình Diệm bằng bác sĩ Phan Huy Quát, hay bác sĩ Trần Văn Đỗ.
Tướng Paul Ely đại diện tối cao của Pháp tại Việt Nam lúc ấy thường chế diễu những người Mỹ nào con nghĩ ông Ngô Đình Diệm là một lãnh tụ ái quốc, vì “ông ta chỉ là một bù nhìn tệ hại nhất, không được nhân ân ủng hộ. Cho nên vì lợi ích của VN và của thế giới, không nên cứu Diệm”. Theo Seth Jacobs, tác giả cuốn America’s Miracle Man, thì khi tướng Mỹ Collins hỏi Ely có ủng hộ Quát hay Đỗ không thì được trả lời “ai cũng được, trừ Diệm.” (tr. 199)
(5) Tướng Nguyễn Văn Hinh, con cựu thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, thường được mệnh danh là con hùm xám Cai Lậy. Người Quốc gia phần đông không ưa cha con ông. Nhưng họ có thế lực lớn với thực dân Pháp. Đã một thời tướng Hinh dùng đài phát thanh Quân Đội để kịch liệt đả kích thủ tướng Ngô Đình Diêm qua giọng nói đanh thép và truyền cảm của xướng ngôn viên Văn Thiệt. Nhưng sau khi tướng Hinh bị lọai và phải chạy sang Pháp, cũng chính xướng ngôn viên này đã sang sảng trên làn sóng điện ca ngợi vị thủ tướng chiến thắng.
(6) Đầu năm 1956 Tổng Thống Ngô Đình Diệm yêu cầu Pháp rút hết quân. Và ngày 26-4-56 những bính lính Pháp cuối cùng rời Saigon.
(7) + (8) Nhà báo Phan Thế Trường đã ghi lại trong một cuộc phỏng vấn cựu hòang Bảo Đại tại Pháp khỏang năm 1992. Trong đó nhà báo đã nêu hai câu hỏi quan trọng liên quan đến việc nhà vua thóai vị, nhường quyền cho Hồ Chí Minh, và việc đức quốc trưởng trao tòan quyền dân sự, quân sự cho ông Ngô Đình Diệm. Tờ Diễn Đàn Phụ Nữ của cố ký giả Chữ Bá Anh, số tháng 9 năm 1992 đã ghi như sau:
“Hỏi: Tại sao Ngài lại trao quyền cho ông Ngô đình Diệm để rồi ông này lật Ngài?
Vua Bảo Đại cũng trả lời ngay:
“Ông Diệm là người tôi tín nhiệm. Lúc đó thế lực của Pháp đã thất bại. Phía cộng sản đã được Liên Xô tích cực ủng hộ về mọi mặt, nên tôi khuyên ông Diệm nên tìm sự ủng hộ của Mỹ để có thể ngăn chặn (endiguer) sự bành trướng của Cộng Sản. Việc ông ta lật tôi là do sức ép của chính trị. Ông Diệm là Người Yêu Nước. Lúc trao quyền tôi có yêu cầu ông ấy cam kết với tôi hai điều trước bàn thờ Chúa, vì ông ấy rất mộ đạo, là phải giữ vững miền Nam, và nếu không làm được sứ mạng ấy thì phải trao quyền lại cho tôi. Nhưng rồi ông ta đã chết khi thi hành nhiệm vụ. Dù sao ông ta cũng cố giữ lời cam kết mà không được.”
Xin bạn đọc lưu ý những lời “Ông Diệm là Người Yêu Nước”, “cam kết hai điều trước bàn thờ Chúa, vì ông ấy rất mộ đạo”, và “rồi ông ta đã chết trong khi thi hành nhiệm vụ”.
Đó là những lời tuyên dương một nhân vật mà Bảo Đại luôn luôn kính trọng.
Nếu có đọc “Con Rồng Việt Nam” (Le Dragon d’Annam) của cựu hòang thì sẽ thấy ông cũng viết tương tự như vậy, chứ không hề bao giờ có chuyện nhà vua hay hòang hậu bắt ông Diệm phải qùy gối trước họ để thề trung thành với nhà vua, như những người cố tình xuyên tạc lịch sử cỡ Đỗ Mậu hay những kẻ đứng sau ông này đã viết.
Để đánh tan sự nghi ngờ của những ai còn bị luận điệu của ông Đỗ Mậu trong cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi làm mê hoặc, tôi xin trích lại đây nguyên văn một đọan vắn trong cuốn hồi ký của cựu hoàng Con Rồng Việt Nam, trang 515:
“Tôi cho vời Ngô Đình Diệm và bảo ông ta: “Cứ mỗi khi mà tôi cần thay đổi chính phủ, tôi lại phải gọi đến ông. Ông thì lúc nào cũng từ chối. Nay tình thế rất bi đát, đất nước có thể bị chia cắt làm đôi. Ông cần phải lãnh đạo chính phủ.
“—Thưa Hòang Thượng, không thể được ạ. Ông ta đáp. Tôi xin trình ngài là, sau nhiều năm suy nghĩ, tôi đã quyết định. Tôi định đi tu...
“—Tôi kính trọng ý định của ông. Nhưng hiện nay tôi gọi đến lòng ái quốc của ông. Ông không có quyền từ chối trách nhiệm của mình. Sự tồn vong của Việt Nam buộc ông như vậy.
“Sau một hồi yên lặng, cuối cùng ông ta đáp:
“—Thưa Hòang Thượng, trong trường hợp đó, tôi xin nhận sứ mạng mà ngài trao phó.
“Cầm lấy tay ông ta, tôi kéo sang một phòng bên cạnh, trong đó có cây thánh giá. Trước thánh giá, tôi bảo ông ta:
“—Đây, Chúa của ông đây, ông hãy thề trước chân dung Chúa là giữ vững đất nước mà người ta đã trao cho ông. Ông hãy bảo vệ nó để chống lại bọn Cộng Sản, và nếu cần, chống luôn cả người Pháp nữa.
“Ông ta đứng yên lặng một lúc lâu, rồi nhìn tôi, sau nhìn lên thánh giá, ông nói với giọng nghẹn ngào:
“—Tôi xin thề.”
Bảo Đại viết hồi ký bằng Pháp ngữ Le Dragon d’Annam, được Nguyễn Phước Tộc dịch ra tiếng Việt và xuất bản tại California năm 1990. Những hàng trên trích từ bản Việt Ngữ, trang 515. (Để biết thêm về cựu hòang Bảo Đại và tác phẩm của ông, xin xem chương 1 cuốn Ngô Đình Diệm, Lời Khen Tiếng Chê của Minh Võ, xuất bản tháng 5 năm 1998, ấn bản lần thứ 3, trang 33- 39)
Cho đến nay thì đã rõ là ông Diệm không chủ tâm lật ông Bảo Đại. Ông đã bị đứng trước một sự việc đã rồi do 18 đảng phái chính trị lúc ấy họp nhau lại tại dinh Độc Lập để trả lời câu hỏi của thủ tướng Diệm là có nên sang Pháp theo lệnh của quốc trưởng hay không. Trong lúc ông Diệm lui vào thư phòng để cho mọi người tự do thảo luận và cho ông một lời khuyên, thì 18 đoàn thể này đã thành lập một hội đồng cách mạng để đồng thanh hạ bệ Bảo Đại. Khi ông Diệm được mời ra để nghe ý kiến của họ, thì ông đã vô cùng ngạc nhiên và lúng túng. Ảnh của quốc trưởng treo trên tường đã bị giật xuống.
Sau đó tướng Nguyễn Văn Vỹ theo lệnh quốc trưởng đem quân sĩ dưới quyền đến định áp đảo vị thủ tướng, bắt ông trao lại binh quyền từ tay đại tướng Lê Văn Tỵ, liền bị một thành viên của hội đồng nhân dân cách mạng (ông Nhị Lang) tước vũ khí và đe dọa tính mạng, nếu không nhờ ông Diệm che chở, tướng Vỹ đã có thể bị bắn tại chỗ.
Ngày nay những kẻ còn cố tình bảo ông Diệm phản bội, và chủ trương lật người mà ông ta đã thề trung thành chỉ do tà ý muốn xuyên tạc lịch sử.
(9) Tướng Trình Minh Thế thuộc lực lượng Cao Đài Liên Minh. Ông chủ trương giống ông Ngô Đình Diệm, vừa chống Pháp vừa chống Cộng. Ông Diệm đã phái em ruột là ông Ngô Đình Nhu lên tận bản doanh của tướng Thế để thuyết phục ông về hợp tác với chính phủ. Chính luật sư Đinh Thạch Bích từng là phụ tá của tướng Thế cho biết ông đã chứng kiến cuộc gặp gỡ này, và thấy việc thuyết phục của ông Nhu khá khó khăn, nhưng cuối cùng đã thành công. Ông Bích cũng được chứng kiến việc ông Diệm ngất sỉu khi đựoc tin tướng Thế bị giết trong khi chỉ huy liên quân đánh Bình Xuyên. Tướng Edward Lansdale, trong hồi ký cũng ghi lại sự việc ông Diệm vô cùng xúc động, khi nghe tin tướng Thế bị giết. Lansdale viết rằng đó là lần duy nhất ông thấy ông Diệm biểu lộ tình cảm, xúc động đến thế.
Gần đây (tháng 8- 2006) bà Trình Minh Thế và người con trai có phát biểu trên đài Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngọai tố cáo ông Diệm đã giết chồng bà, làm mọi người ngạc nhiên và tự hỏi: Tại sao cho đến nay bà mới lên tiếng và vì mục đích gì, do động cơ nào? Ít ngày sau, luật sư Đinh Thạch Bích đã lên tiếng đưa ra quan điểm của ông. Theo luật sư Bích thì lúc ấy ông Diệm đang rất cần tướng Thế, và rất qúy mến ông. Khó có thể nghĩ rằng chính ông lại muốn giết ông Thế.
Tờ nguyệt san Diễn Đàn Phụ Nữ số 144 (tháng 3 năm 1996, cách nay hơn 10 năm), đã loan tin là trong cuốn sách của thiếu tá Savani, nguyên trưởng phòng nhì (Tình Báo) Pháp thời chiến tranh Đông Dương mới xuất bản đã cho biết, một gián điệp của Pháp đã bắn lén để sát hại tướng Thế mục đích nhằm trả thù cho tướng Chanson mà người của tướng Thế đã tung lựu đạn để giết cùng với ông Thái Lập Thành ngày 31-7- 1951. (Xin xem DĐPN số 144, trang 24)
(10) Chỉ xin nêu cụ thể trường hợp hai chùa lớn nhất là chùa Xá Lợi và chùa Vĩnh Nghiêm. Chính phủ đã cấp 2 triệu đồng (lúc ấy giá hối đóai chính thức một Mỹ Kim chỉ có 35 đồng bạc VN) để trao cho ông Mai Thọ Truyền lo việc xây cất chùa Xá Lợi. Còn chùa Vĩnh Nghiêm được xây sau khi tổng thống đã mất. Nhưng khu đất trên đó xây chùa thì đã được Tổng Thống Diệm chấp thuận bán cho nhà chùa với giá tượng trưng một đồng bạc. Hai việc này các ông Hùynh Văn Lang và Nguyễn Văn Minh đã đưa bằng chứng và nhân chứng trong các hồi ký của các ông. (xin xem Dòng Họ Ngô Đình và giấc mơ chưa đạt, tr. 145-146)
Trong thời gian xảy ra vụ Phật Giáo từ tháng 5-1963, các ông Quách Tòng Đức, Nguyễn Thành Cung, Võ Văn Hải, và Trần Sử tòan là những Phật tử thuần thành trong bộ tham mưu của Tổng Thống đã đến gặp ông để xin ông cho phép công bố những món tiền và công việc chính phủ đã làm để chấn hưng và mở mang Đạo Phật. Nhưng, theo ông Lê Châu Lộc, lúc ấy có mặt bên cạnh tổng thống, tổng thống đã không đồng ý. Ông nói việc trùng tu, giúp các tôn giáo mở mang là bổn phận của ông, không nên kể công.
(11) Về chuyện này, khá dài dòng. Chúng tôi đã ghi lại trong phần phụ lục 3 cuốn Ngô Đình Diệm, Lời Khen Tiếng Chê, lần xuất bản thứ 3, trang 350-352. Trong 2 lần in trước, không có phụ lục 3 này.
(12) Đổng lý văn phòng: ông Quách Tòng Đức; Phó đổng lý văn phòng: ông Đòan Thêm; Chánh Văn Phòng: ông Võ Văn Hải; Chánh võ phòng: trung tá Cao Văn Viên (tham mưu biệt bộ, sau này là tư lệnh Nhảy Dù, và là tổng tham mưu trưởng thời đệ nhị Cộng Hòa)
Tổng thư ký: ông Nguyễn Thành Cung; bí thư: ông Trần Sử.
Phó tổng thống ông Nguyễn Ngọc Thơ, tổng tham mưu trưởng: đại tướng Lê Văn Tỵ
Bộ trưởng phủ tổng thống, kiêm bộ trưởng phụ tá quốc phòng (mà chính tổng thống là bộ trưởng): ông Nguyễn Đình Thuần; bộ trưởng Ngọai Giao: luật sư thạc sĩ Vũ Văn Mẫu v.v....
(13) Đó là công điện số 9159, ngày 6-5-1963 của văn phòng phủ tổng thống chuyển chỉ thị của Tổng Thống về việc treo quốc kỳ và cờ của tất cả các tôn giáo. Đáng lẽ đã phải được gửi đi từ hai tháng trước, nhưng lại để gần đến ngày phải thi hành mới gửi đi. Sự chậm trễ này là do một giới chức trong phủ tổng thống thi hành lệnh tổng thống chậm trễ, và vì thế đã gây hiểu lầm là tổng thống chỉ cấm treo cờ Phật Giáo trong dịp Lễ Phật Đản.
Sở dĩ chỉ vì một lỗi lầm nhỏ về hành chính liên quan đến vấn đề treo cờ các tôn giáo mà có thể bùng nổ một cuộc khủng hỏang chính trị trầm trọng đưa đến sự sụp đổ một chế độ, và một vị tổng thống bị thảm sát, là vì đã có sẵn một âm mưu chính trị do một nhà sư đầy mưu trí và tham vọng chính trị.
Cho đến khi miền Nam mất vào tay Cộng Sản, thì nhiều người đã nhìn rõ điều đó. Một nhân vật người Anh, trong phái đòan của sir Robert Thompson là Dennis J. Duncanson đã viết trong cuốn Government and revolution in Vietnam (Oxford Universiity Press, 1968) về thương tọa Thích Trí Quang và cảm nghĩ của ông Ngô Đình Nhu về vị sư này như sau:
“Ông Ngô Đình Nhu đã từng cho rằng thượng tọa Thích Trí Quang cố tình dàn dựng nên cuộc khủng hỏang Phật Giáo để giúp Việt cộng. Lúc ấy các nhà quan sát Tây Phương nói chung, thích nhìn thấy trong các hành động của nhà sư này chỉ có một sự sùng đạo mà thôi. Nhưng vị thế nổi bật của nhà sư trong những vụ xáo trộn còn nghiêm trọng hơn vào năm 1964, khi các yêu sách của Phật Tử về các vấn đề tôn giáo đã được thỏa mãn, đã khiến nhiều người ngọai quốc cuối cùng quay lại đồng ý với ông Nhu....”
Gần 20 năm sau, Tổng Thống Mỹ Richard M Nixon đã thấy rõ hơn và khẳng định trong tác phẩm nổi tiếng của ông NO MORE VIETNAMS (ấn bản 1985 trang 10 và trang 65):
“Vấn đề đàn áp tôn giáo là hòan tòan bịa đặt.... Trong đầu của những kẻ đứng đàng sau cuộc khủng hỏang là chính trị chứ không phải tôn giáo.”
Cựu hòang Bảo Đại cũng viết trong hồi ký chính trị Le Dragon d’Annam (Con Rồng Việt Nam, bản Việt ngữ, Nguyễn Phước Tộc, Cali, 1990, trang 543 và 545):
“Tất cả đang tiến tới thì chính phủ (Ngô Đình Diệm) gặp phải sự chống đối của các nhà sư. Ông Diệm và Nhu là người Công Giáo. Các nhà sư được CS giật giây và mật vụ Mỹ tiếp tay, liền bắt đầu hành động. Chính quyền phải đối phó lại. Vô hình chung như mang mặc cảm kỳ thị tôn giáo....Ai đã xúc giục họ gây lọan, ai? Họ ở đâu tới? Làm sao biết được họ từ Hà Nội vào, hay từ Bắc Kinh tới?...”
Những ý kiến trên của các ông Ngô Đình Nhu, Duncanson, Nixon, Bảo Đại được làm sáng tỏ và xác nhận một cách không còn thể nghi ngờ, bởi những hàng sau đây của ông Nguyễn Cao Kỳ, một Phật Tử gốc, một trong những tướng lãnh làm đảo chính lật Tổng Thống Diệm:
“Thích Trí Quang tưởng Cabot Lodge còn giữ cảm tình với mình như cuối năm 1963 nên có lần ông ta đến ngỏ ý với ông đại sứ Mỹ muốn lật tôi, thì bị Cabot Lodge hỏi: “Nhưng giả thử như thượng tọa lật được tướng Kỳ rồi thượng tọa sẽ đặt ai làm thủ tướng thay ông ta? Trí Quang ngồi im một lúc, suy nghĩ lung lắm. Rồi đưa ra một lời nhận xét khiến ông Lodge bàng hòang: “Chúng tôi sẽ sẵn sàng đặt ông ta ngồi lại ghế thủ tướng.” (Xin xem Nguyễn Cao Kỳ, Twenty Years Twenty Days, Stein and Day, NY, 11976, trang 87)
Đã rõ tham vọng và mục tiêu đấu tranh của nhà sư là làm quốc trưởng, có tòan quyền bổ nhậm thủ tướng, chứ không phải bảo vệ đạo Phật.
Những cuộc tự thiêu có dàn dựng xếp đặt trước và được thông báo cho báo chí ngọai quốc trước để chụp hình quanh phim làm chứng liệu đả kích chính quyền, và bao nhiêu mưu chước tinh vi khác, càng chứng tỏ không phải phát xuất từ lòng mộ đạo từ bi và hiếu sinh của Đức Phật.
Sau khi CS chiếm tòan miền Nam, và đàn áp Phật Giáo, bắt giam những nhà lãnh đạo Phật Giáo, nhà sư muốn làm quốc trưởng ấy không hề lên tiếng hay có hành độing gì phản đối nhà cầm quyền.
Những sinh viên, Phật tử và một số nhà trí thức từng đi theo thượng tọa Thích Trí Quang nghĩ gì trước thài độ đó của ông ta? Thiết nghĩ, nên lấy công tâm và đạo đức của Đức Phật để nói lên sự thực hầu giải tỏa nỗi oan của ông Ngô Đình Diệm trước quần chúng Phật Tử. Chỉ có cách đó mới tạo được sự đòan kết rộng rãi trong nhân dân hầu chiến thắng Cộng Sản.
(14) Việc ông Ngô Đình Nhu tiếp xúc công khai với trưởng đòan Ba Lan CS Mieczyslaw Maneli trong úy hội Kiểm Sóat Đình Chiến ở Saigon ra sao, chúng tôi đã ghi lại tường thuật và nhận định của nhà báo và sử gia nổi tiếng nữ tiến sĩ Ellen Hammer, trích từ chương 8 (từ trang 220 đến trang 262), cuốn A DEATH IN NOVEMBER, NXB E.P.Dutton, N.Y. 1987. Xin xem Phụ Lục II, Ngô Đình Diệm Lời Khen Tiếng Chê của Minh Võ, (ấn bản thứ 3 năm 2002, trang 341-349).
Trong cuốn Năm Con Mèo (The Year of the Hare, Un. Press Georgia, Athens, 1997), ngay ở chương đầu, giáo sư Francis X. Winters đã nói về một cành đào có đính kèm danh thiếp của Hồ Chí Minh tặng Tổng Thống Ngô Đình Diệm nhân dịp Tết Qúi Mão trưng bày tại phòng khánh tiết Phủ Tổng Thống. Khi cuốn N Đ D L K T C ra mắt ở San Diego, nhiều người đã nêu thắc mắc, là sao chẳng hề nghe nói tới một việc quan trọng như thế? Nhưng mới đây (2006), ông Quách Tòng Đức, nguyên đổng lý văn phòng phủ tổng thống đã lên tiếng xác nhận với luật sư Lâm Lễ Trinh, đó là chuyện thực. Cựu nghị sĩ Lê Châu Lộc, cũng xác nhận với chúng tôi, chính ông, lúc ấy là tùy viên của Tổng Thống, đã nhận lãnh cành đào từ trụ sở ủy hội quốc tế Kiểm Sóat Đình Chiến (CIC), để đem về trưng bày.
Còn chuyện ông Ngô Đình Nhu bí mật gặp đặc phái viên của Hà Nội Phạm Hùng, cho đến nay cũng đã được nhiều người nói tới, mặc dù không có tài liệu nào chính thức của Hà Nội, hay của đệ nhất Cộng Hòa xác nhận. Dầu sao thì thực sự Tổng Thống Diệm đã có ý định hiệp thương với Bắc Việt. Chính lúc công việc bước vào thực hiện là lúc biến cố Phật Giáo xảy ra. Ngẫu nhiên, hay cũng đã có kế họach trước từ phía Hoa Kỳ?
Lịch sử đã chứng minh là kế họach hòa hõan với Trung Cộng, rồi Liên Xô của Tổng Thống Nixon, sau khi ông thấy không thể thắng ở Việt Nam, đã có kết quả tốt, đưa đến sự sụp đổ toàn bộ khối cộng ở Đông Âu và Liên Xô cũng như kế họach tấn công phi vũ trang, hòan tòan bằng văn hóa, tuyên truyền và áp lực kinh tế tại Ba Lan đa đưa đến thắng lợi làm sụp đổ chế độ CS tại nước này, rồi nó như một giây chuyền domino, làm tan rã các chế độ CS khác tại Đông Âu và Liên Xô. Còn biện pháp quân sự, đem quân tác chiến ồ ạt vào Việt Nam của Mỹ, sau khi tổng thống Diệm bị lật đổ và sát hại đã chẳng những không chiến thắng nhanh hơn, mà còn làm cho siêu cường Mỹ bị sa lầy và mang hội chứng Việt Nam. Vì thế ngày nay, nhìn lại chuyện xưa, những người thức thời và có lòng yêu nước, ai cũng cảm phục và tiếc thương một chính khách có viễn kiến chính trị như một nhà tiên tri. Muốn biết thêm chi tiết, xin đọc N Đ D L K T C ấn bản thứ 3 trang 309-310.
(15) Nhà báo Neil Sheehan, tác giả cuốn sách nổi tiếng A BRIGHT SHINING LIE, (về nhà báo này và tác phẩm nổi tiếng nói trên, xin xem Ngô Đình Diệm, Lời Khen Tiếng Chê, chương 20) sau một chuyến viếng thăm Việt Nam vào năm 1989, đã viết cuốn WHEN THE WAR WAS OVER, dầy 130 trang, nói tốt đủ điều cho chế độ Hà Nội. Nơi trang 77 ông đã thuật lại lời nguyên tổng bí thư Nguyễn Văn Linh thú nhận là thời đệ nhất Cộng Hòa số cán binh CS để lại ở miền Nam là 10,000 người thì đã bị mất đi 75%. Nguyễn Văn Linh đã giấu bớt một phần sự thật với nhà báo Mỹ. Vì theo đại tướng VC Văn Tiến Dũng, trong cuốn CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC, (phần cước chú, trang 16) thì sự thiệt hại không phải chỉ có 7,500 người (75%) mà chỉ trong vòng 3 năm 1955- 1958, nó đã lên đến trên 90%. Ông tướng này còn ghi rõ con số là từ 60,000 chỉ còn lại 5000. Xem vậy đủ biết chính sách chiêu hồi và các chiến dịch tố cộng phi vũ trang đã thành công hơn bom đạn của Mỹ và đệ nhị Cộng Hòa, những năm sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã bị lật đổ. Những con số 75% và trên 90% này không phải do chúng tôi bịa ra, hay lấy từ những nguồn tin bạn, hay từ văn khố đệ nhất Cộng Hòa, mà là những con số cụ thể từ chính những nhà lãnh đạo CS. Nhất là từ cuốn sách của Văn Tiến Dũng đã xuất bản. Vậy xin đừng bảo không chính xác.
(16) Ít nhất có một số sử gia và ký giả Mỹ nói đến việc Tổng Thống Diệm không muốn đánh mạnh, vì gây thương vong. Trong số đó phải kể đến Stanley Karnow, (Xin xem Vietnam, a history, trang 276), Neil Sheehan, Trung Tá John Paul Vann, và sử gia John M. Newman (Xem JFK and Vietnam của Newman, trang 289 và 299): Nơi trang 299 này có câu, nguyên văn: Vann discovered Diêm had issued a secret verbal order to his commanders not to conduct offensive operations that resulted in serious casualties. (Trung tá Vann khám phá ra rằng ông Diệm đã ban khẩu lệnh mật bảo các tư lệnh không được mở những cuộc hành quân tấn công gây thương vong nặng.)
(17) Trong một bài báo giáo sư Trần Bích Lan, tức nhà thơ Nguyên Sa có thuật lại rằng ông, giáo sư Nguyễn Văn Phú và giáo sư Nguyễn Nghiên đã hỏi Tổng Thống Diệm câu này và được trả lời là, nếu đánh lớn, chiến tranh sẽ lan rộng và các cường quôc sẽ nhảy vào, đất nước sẽ tang hoang... Giáo sư Lan về sau đã nhận rằng câu nói của ông Diệm là đúng. Trong thâm tâm Tổng Thống Diệm chỉ muốn đánh CS bằng phương tiện hiện hữu, nhất là bằng các chiến lược, sách lược đấu tranh chính trị, chiêu hồi, thuyết phục, tuyên truyền v.v... không muốn để Mỹ đem quân vào. Thực tế lịch sử những năm sau đã chứng minh ông có viễn kiến chính trị sâu sắc.
(18) Gần đây (trong năm 2006), luật sư Lâm Lễ Trinh đã cho đăng tải nội dung cuộc mạn đàm của ông với ông Quách Tòng Đức, nguyên đổng lý văn phòng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, trong đó ông Đức đã xác nhận chuyện cành đào có đính danh thiếp của ông Hồ Chí Minh chúc Tết (Qúy Mão) Tổng Thống Diệm là có thực. Ông Lê Châu Lộc, lúc ấy là tùy viên của Tổng Thống, sau là nghị sĩ thời đệ nhị Cộng Hòa cũng xác nhận với người viết là chính ông đã đi nhận cành đào đó ở trụ sở Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Sóat Đình Chiến.
(19) Đáng kể nhất là hai ông Averell Harriman, thứ trưởng ngọai giao, và Rogers Hillsman, phụ tá ngọai trưởng, được sự tiếp tay của ông Forestall, cố vấn an ninh.
(20) Lúc ấy Trung tá Nguyễn Ngọc Khôi, tư lệnh lữ đòan đã bị các tướng đảo chính giữ tại bộ tổng tham mưu. Nên thiếu tá Nguyễn Hữu Duệ (sau này là đại tá, tỉnh trưởng Thừa Thiên, thời đệ nhị CH), nắm quyền tư lệnh đã xin Tổng Thống đưa xe tăng, thiết giáp lên đánh úp bộ chỉ huy đảo chính đóng tại bộ tổng tham mưu. Nhưng, theo đại tá Duệ, Tổng Thống không chấp thuận..
(21) Chỉ xin kể những lần đảo chính, chỉnh lý và thay đổi chính phủ mà tôi còn nhớ: - Đảo chính Dương Văn Minh 1-11-1963. – Chỉnh lý Nguyễn Khánh 30-1-1964. – Sau đó là những xáo trộn, xuống đường biểu tình do cái gọi là Hiến Chương Vũng Tầu, những cuộc đánh phá nhau giữa một số Phật tử và dân Công giáo di cư. – Cuộc đảo chính của các tướng Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát.- Cuộc nổi dậy của lực lượng đặc biệt người Thượng.- Chính phủ dân sự ra đời với sự lãnh đạo của các ông Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương.—Cuộc vùng dậy của các tướng trẻ đòi giải tán hội đồng Quốc Gia, chống lại chính phủ Trần Văn Hương. – Chính Phủ Trần Văn Hương, dưới áp lực của các tướng trẻ phải cải tổ, thêm vào 4 tướng lãnh. để rồi ngày 16-2-1965 bị thay thế bởi chính phủ Phan Huy Quát. – Chỉ sau đó 3 ngày đại tá Phạm Ngọc Thảo đem quân chiếm Saigon, toan làm đảo chính nhưng bất thành. Và một ngày sau, 20-2-65 tướng Khánh bị lọai khỏi chức vụ tổng tư lệnh Quân Đội. – Những cuộc biểu tình của sinh viên Phật tử chống Mỹ liên tục xảy ra... Và sau hết là biến cố ngày 8-3-65 hai tiểu đòan Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, nhắm mục đích ổn định miền Nam, chống Cộng Quân. Nhưng đồng thời cũng mở rộng chiến tranh thành một cuộc chiến ác liệt, mà riêng số bom đạn sử dụng không thua kém thế chiến II. Kết quả là miền Nam bị rơi vào tay CS, vì siêu cường Mỹ đã không thắng được CS, bằng võ lực, cho nên không bảo vệ được miền Nam, mà chính Mỹ cũng bị mang tiếng “hội chứng Việt Nam” tận cho đến ngày nay. Không chỉ có kẻ thù mà bạn bè, và chính các nhà lãnh đạo Mỹ cũng như các sử gia Mỹ đều phải công nhận đó là một thất bại.
Do đó mà có sử gia Mỹ như nữ giáo sư Marilyn B.Young (trong cuốn Vietnam War) đã lấy làm tiếc là tại sao chính phủ Mỹ không chấp nhận kế họach của ông Ngô Đình Nhu là ít nhất rút một số cố vấn về, hay nhiều nhất là rút tòan bộ cố vấn Mỹ về để đệ nhất Cộng Hòa giải quyết cuộc tranh chấp với Hà Nội? Tuy nhiên với sự hiện diện của quân Mỹ, kèm theo sự trở lại chính quyền của nhóm tướng lãnh, sự ra đời của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia đứng đầu là Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và ủy ban hành pháp trung ương, đứng đầu là chủ tịch Nguyễn Cao Kỳ, một thứ thủ tướng quân nhân, tình hình đã tạm ổn định sau khi ông Kỳ thẳng tay dẹp xong nhóm tranh đấu miền Trung, đứng đầu là sư ông Thích Trí Quang. Nhưng cũng phải đến khi có một hiến pháp mới và sự ra đời của Đệ Nhị Cộng Hòa, thì nội bộ miền Nam mới tạm ổn. Nhưng chiến cuộc với CS thì không vì những sự kiện trên mà giảm, trái lại càng ngày càng khốc liệt.
(22) Như đã nói ở phần trên, Tổng Thống Ngô Đình Diệm không muốn có sự hiện diện quân tác chiến Mỹ tại Việt Nam. Ngay số cố vấn lúc ấy đã từ vài trăm người lên đến 16,000 vào năm 1963 đối với ông là đã quá nhiều. Cho nên đã nhiều lần ông và cố vấn Ngô Đình Nhu đã có kế họach rút số cố vấn dần dần, và việc này chính Tổng Thống Kennedy cũng tán thành, và cũng chủ trương sẽ rút số cố vấn về, sau khi đắc cử nhiệm kỳ 2. Nhưng lúc ấy những thế lực siêu chính phủ trong chính giới Mỹ chỉ muốn đổ thêm quân vào để, hoặc là tốc chiến tốc thắng, như họ nói, hoặc để tiêu thụ một số lớn vũ khí cũ từ thới thế chiến II, hoặc thí nghiệm một số vũ khí mới, như bom CBU...hoặc theo một chiến lược bí mật chống Trung Cộng nào đó. Vì vậy có giả thuyết cho rằng Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Tổng Thống Mỹ Kennedy đều là nạn nhân của những kẻ chủ trương đem quân tác chiến Mỹ ồ ạt vào Việt Nam. Cho nên, vẫn theo giả thuyết đó, sau khi hai vị tổng thống đã bị giết, và sau khi những người Việt Nam sẵn sàng làm theo ý của Mỹ đã ngồi vào địa vị lãnh đạo tại Việt Nam, Mỹ liền đổ quân tác chiến vào Việt Nam, bắt đầu bằng 2 tiểu đỏan Thủy Quân Lục Chiến đổ bộ lên Đà Nẵng ngày 8-3-65. Sự việc xảy ra chẳng có một hiệp ước nào, cũng chẳng có lời yêu cầu của chính phủ VN. Thậm chí, theo lời của ông Bùi Diễm, lúc ấy là bộ trưởng phủ thủ tướng, coi như cánh tay mặt của thủ tướng bác sĩ Phan Huy Quát, “họ đã không hỏi ý chính phủ VN”. (Xin xem In The Jaws of History, Gọng Kìm Lịch Sử, trang 338)
Đứng về mặt chiến tranh ý thức hệ, đó là một thảm họa. Vì đối phương sẽ có cớ để kết tội miền Nam làm tay sai hay bù nhìn cho Mỹ. Cuộc chiến mất chính nghĩa! Ít nhất là về phương diện tuyên truyền.
Khi còn Tổng Thống Diệm, đã nhiều lần người Mỹ muốn thương lượng với ông về việc đưa quân tác chiến Mỹ vào. Ông chỉ trả lời là tình hình chưa cần. Và nếu có lúc cần tới thì sẽ có một hiệp ước song phương quy định các thể thức và địa điểm đóng quân, mà theo ông chỉ có thể đóng sát biên giới sông Bến Hải. Cựu đại sứ Frederick Nolting đã ghi trong hồi ký của ông From Trust To Tragedy rằng thương thuyết với ông Diệm về vấn đề này thực là khó khăn. Nhưng ông ghi nhận quan điểm của ông Diệm là chính đáng. (Xin xem Ngô Đình Diệm Lời Khen Tiếng Chê, chương 18)
23) Chỉ xin kể 3 người quan trọng nhất được CS cho nắm chức vụ trong cái gọi là chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam: Trương Như Tảng, bộ trưởng tư pháp. (Nữ bác sĩ ) Dương Qùynh Hoa, bộ trưởng y tế. Lữ Phương thứ trưởng Văn Hóa...
11/01/09. 09:10:26 pm. 17223 words, 415 views. Categories: Không ðề, Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Khoa học quân sự và chiến tranh, Hậu trường, Liên kết blogs, Lịch sử và ðịa dư Việt Nam, Ôn cố nhi tri tân, Xã hội và nhân văn ,