Archives for: December 2009, 04
BÓNG HÌNH FULRO 1975 - 2004 - CUỘC NỔI DẬY CỦA DÂN TỘC TÂY NGUYÊN Ở MIỀN TRUNG VIỆT NAM VÀO THÁNG 2 NĂM 2001

Tháp Poklong Garai tại Tháp Chàm, Ninh Thuận
"Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh"
Ông tổ cộng sản, Karl Marx
LỜI GIỚI THIỆU:
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu đến quý vị và các bạn hai bài viết về đề tài FULRO và các dân tộc Tây nguyên:
- Bài thứ nhất: BÓNG HÌNH FULRO 1975 - 2004 của Dominique Nguyen trong Chương trình thế giới Mã Lai-Ðông Dương.
- Bài thứ hai: CUỘC NỔI DẬY CỦA DÂN TỘC TÂY NGUYÊN Ở MIỀN TRUNG VIỆT NAM VÀO THÁNG 2 NĂM 2001 của Giáo sư TS. Nguyễn Văn Huy thuộc Ðại Học Paris VII.
Nhận xét một cách thành thật và vô tư, ít có người Kinh nào có được những quan điểm rộng rãi chấp nhận cuộc sống chung bình đẳng và tôn trọng đồng bào thiểu số như tôn trọng chính người Kinh. Những tư tưởng bá quyền kiêu căng tự thị theo kiểu Tàu đã ăn sâu vào tâm thức nhiều người Kinh cho nên từ đó đã mang đến những danh xưng miệt thị các dân tộc khác mà mình cho là thấp hèn hơn mình và đối đãi với họ một cách rất kỳ thị và bất công.
Cộng sản là những con người mang bản chất tàn ác, độc tài, độc đoán, tự tôn và cao ngạo. Sau khi xâm chiếm miền Nam Việt Nam, tập đoàn cộng sản Hà Nội thi hành một chính sách trả thù, phân biệt đối xử với ngay chính những người Kinh mà họ chụp cho cái mũ là Mỹ Ngụy, vì họ biết rất rõ rằng những người ấy tài giỏi hơn họ nhưng không cam tâm làm nô lệ cho chủ nghĩa cộng sản quốc tế, phản lại truyền thống lễ nghĩa cao đẹp của dân tộc. Cộng sản thi hành một chính sách di dân Bắc hóa, chúng đưa dân miền Bắc vào chiếm đoạt đất đai, tài sản của đồng bào miền Nam, xua đẩy nhân dân miền Nam vào các khu Kinh Tế Mới để đày đọa, và cầm tù nhiều triệu quân dân cán chính miền Nam Việt Nam, khiến miền Nam đã biến thành một nhà tù khổng lồ, mà cai tù là những tên thái thú cộng sản tàn ác và tham lam vô độ. Chúng cướp đoạt tất cả mọi thứ thuộc về nhân dân miền Nam, chỉ cần gắn cho họ cái nhãn hiệu phản động theo Mỹ Ngụy, tống tất cả vào tù là xong chuyện.
Ngay đến người Kinh tài giỏi hơn họ mà bọn cộng sản còn đối xử miệt thị và tàn nhẫn như vậy, huống hồ chi đối với đồng bào thiểu số thì sự phân biệt đối xử còn tệ hại hơn nhiều. Cộng sản đưa dân miền Bắc vào chiếm các vùng đất đai trù phú của đồng bào thiểu số, đẩy họ vào rừng sâu, nơi khô cằn sỏi đá, để họ chết dần chết mòn vì đói lạnh, bệnh tật không thuốc chữa. Cái gọi là chính sách dân tộc mà cộng sản rêu rao thực ra chỉ là thủ đoạn nuôi dưỡng một đám tay sai người thiểu số, ban cho họ đặc quyền đặc lợi để tự họ chống lại dân tộc của mình.
Sức cam chịu của con người luôn có giới hạn, cho nên đứng trước một chọn lựa duy nhất là vùng lên đấu tranh hay là chết trong ô nhục, những ai còn có chút lương tri và khí phách làm người đều phải chọn con đường đấu tranh, may ra thành công thì mới duy trì được sự sống còn. Đó chính là cái lý lẽ đơn giản mà đồng bào thiểu số phải chọn để mong được tồn tại. Ngày nào mà đồng bào thiểu số còn hơi thở, và ngày nào mà họ còn bị đối xử dã man, áp bức và bất công, ngày đó họ sẽ còn tiếp tục đấu tranh, và thế giới loài người văn minh sẽ không bỏ rơi họ trong cuộc chiến sống còn, bảo vệ lương tâm và phẩm giá làm người.
Mọi người sinh ra là bình đẳng trước mặt thượng đế. Đức Phật dạy rằng muôn loài chúng sinh là bình đẳng và có Phật tính như nhau. Nếu chúng ta là người quốc gia chân chính biết yêu nước thương dân, chúng ta phải có lòng thương yêu đồng bào của chúng ta, bất luận là ai đi nữa và theo chủ nghĩa nào đi nữa, mọi người đều cùng sống chung trong căn nhà Việt Nam và cần phải được tôn trọng như nhau, được hưởng mọi quyền lợi và cơ hội thăng tiến đồng đều. Chỉ có tình yêu thương mới xóa bỏ được oán thù và làm cho tất cả mọi người khẩu phục tâm phục, quốc gia khi ấy ắt phải thái bình, dân cư an lạc. Đó là cái chính sách đúng đắn mà tất cả mọi nhà cầm quyền trên thế giới này đều phải đi theo để trị nước và thực hiện hòa hợp hòa giải dân tộc.
Tự cổ chí kim, tất cả mọi nhà cầm quyền đều phạm phải lỗi lầm không ít thì nhiều, tuy nhiên muốn hoàn thiện chính quyền và mang lại lợi ích cho tổ quốc và dân tộc, các nhà cầm quyền phải biết thành thật nhận lỗi, sửa sai, và can đảm gánh chịu tránh nhiệm trước lịch sử. Những kẻ có tâm địa hẹp hòi, tham lam, kiêu căng và tàn ác, thì dù họ có tài năng cách mấy cũng không thể tham dự vào công việc trị nước được, huống hồ chi là những kẻ bất tài vô đức mà cầm quyền, chỉ mang lại thảm họa cho đất nước. Ngày nào mà bọn này còn cầm quyền và cỡi đầu cỡi cổ nhân dân thì ngày đó chúng ta còn phải tranh đấu cho đến cùng để tống khứ chúng, những con đỉa ngoan cố hút máu nhân dân.
Diễn Đàn Ái Hữu Ninh Thuận
Quý vị và các bạn cũng có thể theo link dưới đây để xem các tài liệu của CIA đã giải mật có liên quan đến FULRO và một số đề tài khác trong chiến tranh Việt Nam.
http://library2.usask.ca/vietnam/index.php?state=browse&descriptor=FULRO

Thiếu nữ Chăm trong đám cưới

Nhà thờ Degar đầu tiên xây dựng tại Buôn Ale “A”, Ban-Mê-Thuột, đã bị nhà cầm quyền cộng sản phá hủy vào ngày 13 tháng 3 năm 2009.

Em H’Liana, 15 tuổi, là sinh viên Degar trẻ tuổi nhất theo học tại đại học Winthrop, South Carolina.
BÓNG HÌNH FULRO 1975 - 2004
Source: Champaka
Tác giả: Dominique Nguyen
(Chương trình thế giới Mã Lai-Ðông Dương)
Fulro là cụm từ viết tắt của Front Unifié de Lutte des Races Opprimées (Mặt Trận Thống Nhất Ðấu Tranh Các Dân Tộc Bị Áp Bức). Ðây là một tổ chức liên hiệp gồm ba mặt trận:
- Mặt Trận Giải Phóng Kampuchia Krom (lãnh thổ Cao Miên từ Sài Gòn đến Cà Mau).
- Mặt Trận Giải Phóng Kampuchia Bắc (lãnh thổ Cao Miên ở khu vực Champasak, nước Lào).
- Mặt Trận Giải Phóng Champa, sau này thành Mặt Trận Giải Phóng Cao Nguyên Champa.
Một khi nói đến Fulro, người ta thường nói đến Mặt Trận Giải Phóng Cao Nguyên Champa, một tổ chức đã từng làm náo động bàn cờ chính trị ở Ðông Dương từ năm 1964 đến năm 1975. Ðây là một lực lượng vũ trang do Y Bham Enuôl (Radé) và trung tá Les Kosem (Chăm Cao Miên) lãnh đạo, có sự bảo trợ của chính phủ Kampuchia, nhất là Thủ Tướng Lon Nol. Mặt Trận Giải Phóng Cao Nguyên Champa-Fulro đặt hậu cứ quân sự của mình tại tỉnh Mondulkiri, Cao Miên (1).
Sau 10 năm đấu tranh vũ trang với mục tiêu nhằm biến Tây Nguyên Champa thành khu vực tự trị, lực lượng Fulro đã trở thành đối tượng thù địch của quân Khmer Ðỏ, khi lực lượng này chiếm thủ đô Nam Vang vào ngày 17 tháng 4 năm 1975. Ngoại trừ trung tá Les Kosem được may mắn thoát thân ra nước ngoài, tất cả cấp lãnh đạo Fulro được lệnh lui về sứ quán Pháp để xin tị nạn. Ngày 20 tháng 4 năm 1975, Khmer Ðỏ bất chấp quy chế ngoại giao, ra lệnh xâm nhập vào sứ quán Pháp để truy nã và lùng bắt tất cả các cấp lãnh đạo Fulro, trong đó có Y Bham Enuôl, thiếu tá Y Bun Sur, Y Nham, Kpa Dơh, Ksor Duôt, v.v. Sau đó, Khmer Ðỏ đưa họ ra khỏi sứ quán Pháp và ra lệnh tử hình toàn diện nhóm lãnh đạo của mặt trận này. Ngày 20 tháng 4 năm 1975 là ngày đánh dấu cho sự sụp đổ hoàn toàn của tổ chức Fulro (2).
Ðứng trên phương diện lịch sử mà nói, sau khi Khmer Ðỏ làm chủ tình hình Cao Miên vào ngày 17 tháng 4 năm 1975 và Cộng Sản chiếm miền Nam Việt Nam vào ngày 29 tháng 4 năm 1975, Fulro không còn hiện hữu trên mặt pháp lý nữa. Nhưng trên thực tế, vấn đề Fulro vẫn còn tồn tại qua nhiều hình thức và nẩy nở trong nhiều môi trường hoàn toàn khác nhau. Vì không tìm ra một cụm từ chính xác để định nghĩa cho sự tồn tại này, chúng tôi tạm gọi đó là “Bóng hình Fulro” sau năm 1975.
Trong bài tiểu luận này, chúng tôi chỉ đưa ra những tin tức liên quan đến biến cố dù trực tiếp hay gián tiếp đến “Bóng hình Fulro” ở trong và ngoài nước do các báo chí hay tập san đã đăng tải. Ðể tiện cho độc giả theo dõi tình hình nhanh chóng hơn, chúng tôi xin trình bày “Bóng hình Fulro” theo thời gian tuần tự.
Ai cũng biết, Bóng hình Fulro” là một lịch sử hiện đại. Chính vì thế, nhiều tin tức được đăng tải liên quan đến biến cố này thường hay chứa đựng nhiều sự mâu thuẫn và đôi lúc còn mang một ẩn ý chính trị nhằm bảo vệ cho phe phái hay quan điểm chính trị của mỗi tác giả. Chúng tôi xin đưa ra đây một thí dụ điển hình. Cùng một biến cố đã xảy ra liên quan đến Bóng hình Fulro”, tin tức do chính quyền Hà Nội cung cấp hoàn toàn đi ngược lại với những gì mà độc giả tìm thấy trong báo chí xuất bản ở hải ngoại. Ðây là một vấn đề vô cùng nan giải mà các nhà khoa học thường gặp phải một khi bước vào đề tài nghiên cứu những biến cố chính trị đã xảy ra ở các nước Ðông Dương hôm nay (3).
Biến cố năm 1975
Ngày 29 tháng 4 năm 1975, miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản. Chính quyền Hà Nội bắt đầu truy nã và lùng bắt tất cả trí thức người gốc Tây Nguyên và Chăm phục vụ trong chính phủ Sài Gòn để đưa họ vào trại cải tạo. Sau đó, Hà Nội biến khu vực Tây Nguyên và đồng bằng Phan Rang, Phan Rí thành những vùng kinh tế mới và đưa hàng triệu người Kinh sang lập nghiệp ở khu vực này (4).
Trong lộ trình giải phóng miền Nam, cũng nhờ sự yểm trợ của nhóm Fulro do Kpa Koi (Radé) lãnh đạo, Việt Cộng chiếm được thành phố Buôn Mê Thuột vào ngày 10 tháng 3 năm 1975. Một khi đã làm chủ tình hình khu vực Tây Nguyên, Cộng Sản lại bắt đầu tình nghi các trí thức gốc người sắc tộc phục vụ trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có nhóm Fulro Kpa Koi. Ngay những người gốc Tây Nguyên đi tập kết như ông Y Bloc Eban, Y Bih Aleo .v.v... và cũng là thành viên của Mặt Trận Tây Nguyên Tự Trị mà Cộng Sản đã từng quảng cáo từ mấy năm qua, cũng không có một quyền hành gì trong Ðảng và Nhà Nước. Sau ngày giải phóng, quy chế Tây Nguyên Tự Trị cũng bị Hà Nội chôn vùi theo thời gian, không còn ai dám nhắc đến tổ chức này, ngay cả ông Y Bih Aleo là chủ tịch của Mặt Trận Tây Nguyên Tự Trị (5).
Một khi nhận diện họ chỉ là con cờ của Cộng Sản và một ngày nào đó, họ cũng bị truy nã bởi Cộng Sản, nhóm Fulro của Kpa Koi quyết định ly khai với chính quyền Hà Nội. Vào tháng 7 năm 1975, Fulro của Kpa Koi rút quân về chiến khu nhằm tiếp tục đấu tranh chống lại chính quyền Cộng Sản (6). Cùng trong thời điểm, nhóm Fulro do Jaya Mrang (tức là Huỳnh Ngọc Sắn) lãnh đạo cũng đứng ra kích động người người Chăm vùng dậy ở khu vực Phan Rang, Phan Rí. Chỉ vài tháng sau, lực lượng Fulro của Jaya Mrang cũng bị tan rã vì không có phương tiện để tiếp tục hoạt động (7)
Biến cố năm 1976
Bước vào năm 1976, đài phát thanh Hà Nội lần đầu tiên loan tin vào ngày 10 tháng 6 năm 1976 cho rằng có lực lượng phản động vẫn còn hoành hành trong một số khu vực ở Tây Nguyên và yêu cầu dân chúng phải cẩn thận với nhóm phản động này. Lực lượng phản động này tự gọi mình là mặt trận Fulro do Kpa Koi (gốc Jarai) lãnh đạo. Ðây là sự xuất hiện đầu tiên của “Bóng hình Fulro” sau ngày giải phóng miền Nam (8).
Cũng vào tháng 6 năm 1976, cơ quan Liên Hiệp Quốc thông báo rằng chính phủ Hà Nội quyết định đưa 8 triệu người Kinh đến khu vực Tây Nguyên, Phan Rang-Phan Rí, để thành lập vùng kinh tế mới, chiếm đất đai dân tộc thiểu số để định cư. Sự hiện diện quá đông đảo người Kinh đã làm đảo lộn hoàn toàn địa bàn dân cư ở khu vực này. Chính sách bao vây kinh tế đã đưa dân tộc thiểu số ở miền Trung vào con đường nghèo đói thê thảm, vì thiếu đất đai để canh tác (9).
Biến cố năm 1979
Ngày 2 tháng 7 năm 1976, hai miền Nam-Bắc Việt Nam được thống nhất. Các nhà nghiên cứu tưởng rằng sau ngày thống nhất ở Việt Nam, lực lượng đấu tranh dưới mô hình Fulro hoàn toàn bị dập tắt. Ðột nhiên, vào tháng 6 năm 1979, “Bóng hình Fulro” lại xuất hiện trên bàn cờ chính trị Ðông Dương. Chính ông Ieng Sary, một trong những lãnh tụ Khmer Ðỏ tuyên bố rằng có một tổ chức mang tên Fulro-Dega vẫn còn hiện hữu, và nhóm này đã góp phần đấu tranh đắc lực bên cạnh Khmer Ðỏ để chống lại quân xâm lược Việt Cộng. Lực lượng Fulro cũng thường trao đổi với Khmer Ðỏ về chiến dịch quân sự, tin tức tình báo và kinh nghiệm về du kích chiến. Theo ông Ieng Sary, lực lượng Fulro đã dẹp tan hơn 200 quân du kích Cộng Sản ở Tây Nguyên vào tháng 2 và 3 năm 1979. Tiếc rằng, ông Ieng Sary không cho biết ai là người lãnh đạo nhóm Fulro-Dega này (10).
Gần 8 tháng sau, tức là ngày 14 tháng 11 năm 1979, đài phát thanh Khmer Ðỏ loan tin rằng chính quyền Khmer Ðỏ có nhận bức thư của một nhân vật có tên đọc theo âm Khmer là ông Anâk N'Gram. Theo đài phát thanh này, Anâk N'Gram là một nhân vật gốc Chăm đã từng tham gia trong ngày vùng dậy của Fulro ở Buôn Sarpa vào năm 1964. Chủ tịch của mặt trận Fulro Dega-Chàm là ông Ndrang Hmuol và Anâk N'Gram là thủ tướng (11).
Biến cố năm 1980
Theo đài phát thanh Khmer Ðỏ loan tin vào ngày 23 tháng 1 năm 1980, chính phủ Khmer Ðỏ có nhận một văn thư khác của lực lượng Fulro-Dega, với nội dung là Cộng Sản đang áp dụng chính sách diệt chủng dân tộc thiểu số ở miền Trung Việt Nam. Thư này cũng cho biết rằng, kể từ năm 1975, Hà Nội đã đưa gần 150.000 dân tộc thiểu số vào ngục tù mà Cộng Sản gọi là trại cải tạo tư tưởng (12). Gần 9 tháng sau, tức vào ngày 18 tháng 10 năm 1980, tờ Washington Post viết rằng, Trung Quốc rất quan tâm đến sự yểm trợ súng đạn cho các dân tộc Tây Nguyên thuộc nhóm Fulro-Dega, nhằm phá tan quyền thống trị Hà Nội ở các nước Ðông Dương (13).
Biến cố năm 1982
Quay lưng với tổ quốc
Bước sang năm 1982, “Bóng hình Fulro” lại trở thành một thế lực thù địch nguy hiểm, mà Hà Nội đang tìm cách loại trừ ra khỏi ảnh hưởng của người Chăm và dân tộc Tây Nguyên. Ðể đập tan thế lực thù địch này, Ngôn Vĩnh, tên của một nhóm tình báo Hà Nội chuyên về vấn đề dân tộc Tây Nguyên và Chăm, ra đời một tác phẩm với nhan đề FULRO? do Nhà Xuất Bản Công An Nhân Dân năm 1982. Một năm sau, tác phẩm này lại tái bản với nhan đề FULRO: Tập đoàn tội phạm. Sau cùng, sách này được tái bản lần thứ ba vào năm 1995 với nhan đề khác đó là: FULRO do nhà Xuất Bản Văn Học ấn hành.
Ðây là một cốt truyện Fulro trình bày theo lối tiểu thuyết dựa trên lời tường thuật của bà Thuận Thị Trụ (tên trong tác phẩm là Thuận Thị Trúc) và ông Ya Duck.
Trước năm 1975, Thuận Thị Trụ (Chăm Phan Rang) là hạ sĩ quan của Lữ Ðoàn 5 Ðặc Biệt (5 B.I.S.) trong mặt trận Fulro. Bà ta là phu nhân của đại úy Yang Neh (Ðàng Năng Giáo, Chăm Phan Rang) được Fulro gởi sang Pháp du học. Tiếc rằng, vì vấn đế riêng tư trong gia đình của ông ta, Yang Neh đã tự tử ở Pháp vào năm 1972. Ngược lại, Ya Duck (Churu) là công cán viên của Văn Phòng Thường Trực Fulro (Délégation Spéciale et officielle, DSO-Fulro) ở Buôn Mê Thuột.
Ðiều mà chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây, đó là nhật ký liên quan đến các nhà lãnh đạo Fulro gốc Chăm đăng trong tác phẩm của Ngôn Vĩnh, hoàn toàn do Thuận Thị Trụ kể lại. Ðọc qua nhật ký này, độc giả có cảm giác rằng Thuận Thị Trụ là người “quay lưng với tổ quốc” thì đúng hơn. Vì trong tác phẩm này, Thuận Thị Trụ chỉ dàn dựng bao câu chuyện để bôi nhọ và tẩy chay Fulro hơn là những lời tường thuật thật sự về tổ chức này. Nhân vật đầu tiên mà bà ta nói đến là thiếu tướng Les Kosem, một nhân vật chủ chốt của Fulro. Theo Thuận Thị Trụ, thiếu tướng Les Kosem chỉ là kẻ háo danh tham vọng muốn làm lãnh tụ vương quốc Champa (tr. 5-11), một nhà chính trị đê tiện vô lương tâm, dám hiến cả vợ mình cho Quốc Trưởng Sihanouk mua vui để đổi chác quyền lực (tr. 7), một nhân vật tham nhũng kinh tài Fulro để làm giàu cho vợ con mình (tr. 47).
Hết kết tội thiếu tướng Les Kosem, Thuận Thị Trụ lại cung cấp cho Ngôn Vĩnh bao câu chuyện lằng nhằng về tình yêu giữa bà ta với Huỳnh Ngọc Sắn, thêu dệt cho nhóm Ngôn Vĩnh nghe bao cuộc tình éo le giữa bà ta với Yang Neh (tr. 12-16). Bà ta không ngần ngại vu khống cho linh mục G. Moussay, là một ông Cha đam mê tình dục vừa thương bà ta vừa yêu người đàn bà khác (tr. 203), một ông cha chỉ mượn danh Chúa để che đậy hành động ô uế bên trong (tr. 145). Bà ta tự nêu tên Nara Vija (Ngụy Văn Nhuận, Chăm Phan Rang), một thành viên Fulro rất trung trực, để làm nhân chứng cho vấn đề tự tử của chồng mình là Ðàng Năng Giáo, vì quá ghen với Cha G. Moussay (tr. 145), v.v...
Ðọc qua lời tường thuật vừa độc đáo, vừa ô uế này, độc giả có cảm giác rằng Thuận Thị Trụ cố tình dàn dựng câu chuyện hoàn toàn hư ảo, để bôi nhọ và tẩy chay mặt trận Fulro mà chính bà ta là một cán bộ. Vấn đề mà độc giả tự đặt câu hỏi ở đây, có chăng sự ra đời tác phẩm của Ngôn Vĩnh có thể trở thành một bích chương nhằm kích động người Chăm chống lại chính sách của Ðảng và Nhà Nước hơn là đưa người Chăm về gần gũi với Ðảng và Nhà Nước để chống lại tập đoàn Fulro. Vì tác phẩm của Ngôn Vĩnh được Ðảng và Nhà Nước cho phép xuất bản, nhưng nội dung của tác phẩm này chỉ là một văn chương chính trị để bôi nhọn hay chụp mũ những người Chăm hoàn toàn vô bằng chứng.
Riêng về nhật ký của Ya Duck, ông ta chỉ thuật lại những công tác Fulro, mà ông ta đã đảm nhiệm với tư cách là công cán của Văn Phòng Thường Trực Fulro (DSO-Fulro) ở Buôn Mê Thuột. Trong tác phẩm này, ông ta không ngần ngại đứng ra tố cáo hàng loạt các nhân vật lãnh đạo Fulro ở Tây Nguyên như Paul Nưr, Nay Luett, Y Blieng .v.v... với mục đích duy nhất là xin trở lại hợp tác với chính quyền Hà Nội.
Fulro dưới cặp mắt của tình báo quân đội Mỹ
Cũng vào năm 1982, Gerald C. Hickey, nhân viên của Rand Corporation ( cơ quan tình báo quân đội Mỹ ) xuất bản một tác phẩm cũng liên quan đến Fulro với nhan đề “Tự do trong núi rừng. Lịch sử của sắc dân ở Cao Nguyên Việt Nam, 1954-1976” (Free in the Forest. Ethnohistory of the Vietnamese Central Highlands 1954-1976).
Chủ yếu của tác phẩm đó là tác giả đi tìm những nguyên nhân sự vùng dậy của Fulro vào năm 1964. Ðây là một tác phẩm khoa học đầu tiên viết về Fulro. Trong tác phẩm này, G. C. Hickey chỉ dựa trên tài liệu do chính phủ Sài Gòn và CIA Mỹ cung cấp, để phác họa bối cảnh lịch sử đấu tranh của Fulro thời đó. Chính vì thế, nội dung của tác phẩm chỉ nói lên những quan điểm của chính phủ Sài Gòn và nhận định của Mỹ về vấn đề Fulro thì đúng hơn. Chính vì quá tin vào tư liệu của Sài Gòn và CIA Mỹ, tác giả đưa ra một số nhận định sai lầm về tổ chức Furlo. Theo tác giả, Fulro là một phong trào đấu tranh của người Thượng, đặt dưới sự lãnh đạo của Y Bham Enoul. Tiếc rằng Fulro không phải là phong trào của người Thượng, nhưng là một tổ chức liên hiệp gồm ba mặt trận:
- Mặt Trận Giải Phóng Kampuchia Krom.
- Mặt Trận Giải Phóng Kampuchia Bắc.
- Mặt Trận Giải Phóng Champa, sau này thành Mặt Trận Giải Phóng Cao Nguyên Champa.
Y Bham Enuôl là chủ tịch Mặt Trận Giải Phóng Cao Nguyên Champa, kiêm phó chủ tịch Fulro, chứ không phải là chủ tịch Fulro. Thêm vào đó, quyền lực của Fulro hoàn toàn nằm trong tay của thiếu tướng Les Kosem, chứ không phải nằm trong tay của Y Bham Enoul như G. C. Hickey đã nêu ra.
Biến cố năm 1983
Fulro là công cụ của CIA
Nối gót nhóm Ngôn Vĩnh, phóng viên nhà báo Thành Tín phát hành tại Việt Nam vào tháng 4-1983 một tài liệu khác liên quan đến “Bóng hình Fulro”, dưới nhan đề Ðập nát công cụ hậu chiến CIA: FULRO do Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh phát hành. Nội dung của tác phẩm chỉ nhằm quảng cáo những thắng lợi của lực lượng công an, cảnh sát Hà Nội đã có công dẹp tắc phong trào Fulro ở Tây Nguyên, mà phóng viên Thành Tín cho rằng là công cụ của CIA Mỹ.
Biến cố năm 1992
Fulro-Dega tiếp tục hoạt động ở biên giới Thái-Miên
Sau năm 1983, không còn ai nhắc đến “Bóng hình Fulro” nữa. Mãi đến năm 1992, vấn đề Fulro lại xuất hiện ở khu vực biên giới Thái-Miên. Theo phóng viên Nate Tahyer, lực lượng mang tên là Fulro-Dega là một tổ chức vũ trang đặt dưới quyền lãnh đạo của Ðại Tá Y Peng Ayun, vẫn tiếp tục liên hiệp với Khmer Ðỏ để chống lại quân xâm lăng Hà Nội. Sau 17 năm chống cộng, lực lượng của Ðại Tá Y Peng Ayun chỉ còn lại khoảng 2.000 người. Từ biên giới Thái -Miên, Ðại Tá Y Peng Ayun tuyên bố rằng, lực lượng Fulro-Dega sẽ tiếp tục đấu tranh cho tới khi nào Cộng Sản trao trả lại tự do cho dân tộc Tây Nguyên (14).
Biến cố năm 1994
Fulro-Dega sang Mỹ định cư
Năm 1994, Cộng Sản Việt Nam rút quân ra khỏi Cao Miên và Khmer Ðỏ cũng chấm dứt mọi hoạt động ở vương quốc này. Một chính phủ liên hiệp bắt đầu hình thành ở Cao Miên, dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc. Riêng về Fulro-Dega ở biên giới Thái-Miên, Ðại Tá Y Peng Ayun, lãnh đạo phong trào này tuyên bố rằng lực lượng của ông ta sẵn sàng chấm dứt mọi đấu tranh vũ trang, nếu Liên Hiệp Quốc đứng ra bảo trợ để cho những thành viên Fulro-Dega sang định cư ở Hoa Kỳ. Năm 1994, Liên Hiệp Quốc và Hoa kỳ chấp nhận yêu sách của Y Peng Ayun, đưa toàn bộ tàn quân Fulro-Dega sang định cư ở Mỹ (15).
Biến cố năm 1996
1996 là năm đánh dấu cho sự ra đời của “thế lực văn hóa” chống lại “Bóng hình Fulro”. Mục tiêu của thế lực mới này, là nhằm tẩy chay những nhân vật có liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với Fulro, đang nghiên cứu về văn hóa và lịch sử Champa ở nước ngoài. Biểu tượng cho “thế lực văn hóa” này là Inrasara.
Năm 1994, ông ta ra mắt một tác phẩm mang tựa đề Văn Học Chăm (16). Qua sự giới thiệu của Ts. Po Dharma, cựu thành viên Fulro, nhưng cũng là nhà nghiên cứu về lịch sử và nền văn minh Champa tại Pháp, tác phẩm Văn Học Chăm của Inrasara được bằng khen ngợi của Trung Tâm Lịch Sử và Nền Văn Minh Bán Ðảo Ðông Dương (CHCPI) thuộc đại học Sorbonne, Paris. Ðây là phần thưởng dành cho những ai không xuất thân từ viện nghiên cứu, có công trình lớn lao viết về lịch sử và nền văn minh Champa. Một khi đã nhận bằng khen ngợi, Inrasra công bố tin tức này trên báo chí ở Việt Nam (17).
Hai năm sau, tức là năm 1996, Inrasara ra mắt cuốn Văn Học Chăm II. Trên bìa sau của tác phẩm, tác giả cho rằng sách Văn Học Chăm của ông ta được giải thưởng của Viện Viễn Ðông Pháp (EFEO), chứ không phải của đại học Sorbonne. Ðây là công trình do Gs. Bùi Khánh Thế (người Kinh) sang Pháp để quảng cáo tác phẩm này. Ðại học Sorbonne có yêu cầu Inrasara đính chính lại sự sai lầm này, vì Viện Viễn Ðông Pháp không bao giờ cấp phần thưởng văn học cho ai cả. Tiếc rằng Inrasara chỉ trả lời rằng đó là sự sai lầm của nhà xuất bản. Ðây là lối lý luận khôi hài và phi khoa học. Làm sao nhà xuất bản hay báo chí Việt Nam biết danh xưng của EFEO, nếu Inrasara không cung cấp tên EFEO cho họ (18).
Nhìn qua phương cách xóa bỏ danh xưng một cựu cán bộ Fulro trên mặt báo chí Việt Nam, độc giả tự đặt lại vấn đề có chăng đây chỉ là bước khởi đầu của chiến dịch dùng “thế lực văn hóa” ở trong nước, nhằm phản chiến chống lại một số nhân vật mà Inrasara tự cho đó là thành phần phản động của “Bóng hình Fulro” đang làm văn hóa ở nước ngoài? (19).
Biến cố năm 1999
Thế lực văn hóa chống bóng hình Fulro
Bước vào năm 1999, “Bóng hình Fulro” lại chuyển hướng sang một hiện tượng mới đó là sự ra đời cùng một lúc gồm 3 tác phẩm nói về Champa. Ðó là tập san Champaka (20); nội đặc san Vijaya do Hội Bảo Tồn Văn Hóa Champa ở Hoa Kỳ xuất bản. Cũng vào năm 1999 này, Hà Nội lại cho phép Inrasara xuất bản một tác phẩm mang tựa đề Văn Hóa-Xã Hội Chăm (21).
Mặc dù Champaka chỉ là một tập san khoa học, chuyên nghiên cứu về lịch sử và nền văn minh Champa và Vijaya chỉ là một nội san của một hội đoàn người Chăm ở hải ngoại, chính quyền Hà Nội vẫn xem đó là một hiện tượng văn hóa thù địch nằm trong “Bóng hình Fulro”, không được phổ biến trong cộng đồng người Chăm ở Việt Nam.
Sự ra đời cùng một lúc hai tập san văn hóa xuất bản ở nước ngoài, và một sản phẩm văn hóa in trong nước có thể do sự tình cờ trùng hợp hoàn toàn ngẫu nghiên, nhưng cũng có thể do sự nhúng tay của thế lực văn hóa nào đó?
Nhìn qua nội dung Văn Hóa-Xã Hội Chăm của Inrasara, độc giả có cảm giác rằng đây là một cuốn ký sự nhằm phản chiến chống lại một số yếu tố văn hóa Chăm không phù hợp với chủ trương của Nhà Nước Việt Nam hay dẹp bỏ một số trí thức Chăm có “địa vị con con, một mảnh bằng tàm tạm” (22) như tiến sĩ hay phó tiến sĩ không cùng trường phái và quan điểm với tác giả thì đúng hơn. Vì tác phẩm không mang nội dung khoa học để phân tích những gì liên quan đến văn hóa và xã hội Chăm. Văn Hóa-Xã Hội Chăm chỉ tập trung một số chủ đề quá tạp nham mà tác giả muốn đưa ra nhằm tôn vinh năng khiếu và công trình văn hóa cá nhân mình đôi lúc quá hở hang. Tác giả cho mình là bậc siêu nhân đã “thuộc nằm lòng Ariya Glang Anak [dài vào khoảng 125 câu thơ] ngay thời mới 5-6 tuổi, khi còn chưa cắp sách đến trường” (tr. 11), trong khi đó các trẻ em trên thế giới, dù thông minh, với lứa 5-6 tuổi chỉ biết tập tành nói tiếng mẹ đẻ. Tác giả phô trương cuộc đời làm văn học và nghề làm thơ của mình. Tác giả quảng cáo đi quảng cáo lại bao giải thưởng văn học của mình. Tự đặt ra các câu hỏi rồi tự viết ra câu trả lời, tác giả cho đó là bài phỏng vấn của phóng viên báo chí Việt Nam viết về mình (23). Tác giả tự dàn dựng mục đối thoại với người ảo tưởng nhằm hạ bệ một số quan điểm người Chăm không phù hợp với chủ trương của mình. Tác giả không ngần ngại đưa ra danh sách người Chăm lập gia đình với người Kinh trong làng Mỹ Nghiệp, để rồi phân tích cặp vợ chồng nào hạnh phúc hay không hạnh phúc, nhưng tác giả lại quên đi đây là chuyện đời tư của người khác mà không ai có quyền xúc phạm đến.
Ngoài phần văn chương viết lách đó, tác phẩm Văn Hóa-Xã Hội Chăm còn chứa đựng một trọng tâm khác đó là tác giả dựa vào “thế lực văn hóa” để đập tan một số yếu tố văn hóa Chăm không phù hợp với chủ trương của Ðảng và Nhà Nước, tẩy chay một số nhân vật làm văn hóa ở nước ngoài có liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với Fulro hay châm biếm một số nhà nghiên cứu Chăm (tiến sĩ Po Dharma ở Pháp, tiến sĩ Thành Phần, Phú Văn Hẳn và Bá Trung Phụ ở Sài Gòn) không cùng chủ trương và quan điểm với tác giả.
Ðiều đáng chú ý nhất trong tác phẩm này, đó là tác giả dựa vào một số thí dụ thiển cận, quá sơ sài và không cơ sở khoa học, để kết tội và chê bai một cách tùy tiện dân tộc Chăm chỉ là những kẻ “cục bộ, tính khí tiêu cực, thiếu khoa học, lánh đời và trốn xã hội, sĩ hão, không biết giúp nhau, nhát gan, không trung dung, tính đổ thừa, không bền chí” (tr. 111-116). Ai cũng biết, cộng đồng dân tộc Chăm hơn 100.000 người ở Việt Nam, và 200.000 người ở Cao Miên (24) gồm đủ thành phần từ bậc tu sĩ đến trí thức và nông dân, chưa kể thành phần đang đấu tranh ở nước ngoài nhằm bảo tồn sự sống còn của dân tộc Chăm trong thế kỷ 21 này. Có chăng cả 300.000 người Chăm đều là những kẻ có 10 khuyết tật xấu như Inrasara đã tuyên bố?
Người Chăm là dân tộc vong quốc. Nhưng không phải vì thế mà các nhà viết lách như Inrasara lại gán cho dân tộc Chăm này bao cá tính xấu xa và vô cùng tồi bại. Nhìn qua nội dung của bài này, độc giả có cảm tưởng rằng tác giả muốn sỉ nhục dân tộc Chăm hơn là phân tích một cách khoa học liên quan đến cá tính của người Chăm.
Tác giả than phiền về người Chăm là những kẻ bội bạc vì “Inrasara được Giải Thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, ít anh em Chăm biết mà chúc mừng” (tr. 30). Cũng trong tác phẩm này, tác giả dùng ngòi bút của mình để tẩy chay một cách tùy tiện những thế lực thù địch ở hải ngoại đang làm văn hóa hay viết về văn hóa Champa, trong đó có Po Dharma, G. Moussay .v.v... Tác giả cho rằng những nhân vật này là những kẻ “hạn chế về kiến thức, nhất là không hiểu bản chất văn học ... Uổng !” (tr. 22), chính vì thế, ông ta phải “cười ra nước mắt” (tr. 245) khi đọc bài viết của quí vị này. Ông ta cũng “đã cười méo miệng” (tr. 19) khi nghe đến quan điểm khoa học của Po Dharma, một vị tiến sĩ người Chăm không biết đọc tiếng Chăm: “300 lỗi lớn nhỏ trong 25 trang sách” (tr. 152) trong tác phẩm Dewa Mano, nhưng tác giả không đưa ra danh sách 300 lỗi này. Tác giả tìm cách chê bai Thành Phần là “vị tiến sĩ đầu tiên của Chăm này cũng chưa có công trình nào trình làng cộng đồng Chăm” (tr. 35). Ðây là một thái độ quá ngạo nghễ. Ðứng trên phương diện pháp lý, Inrasra không tư cách gì để lên án Thành Phần là kẻ có khuyết tật lười biếng, vì ông ta là giảng viên ở Ðại Học trực thuộc Bộ Giáo Dục Việt Nam chứ không trực thuộc cơ quan hay là công ty của tác giả.
Ðứng trên phương diện khoa học mà nói, Văn Hóa-Xã Hội Chăm của Inrasara chỉ là một văn chương của “thế lực văn học” cùng trường phái với văn chương của “thế lực công an” do nhóm Ngôn Vĩnh sáng tác, nhằm tôn vinh ai mà tác giả ưa thích hay tẩy chay ai mà tác giả cần tẩy chay, chứ không phải lối hành văn của một người làm văn hóa hay một nhà nghiên cứu thật sự. Có chăng phong trào tẩy chay “Bóng hình Fulro”, châm biếm một số tiến sĩ người Chăm trong nước và ngoài nước cũng như hành động sỉ nhục dân tộc Chăm của Inrasra có sự chỉ thị của Ðảng và Nhà Nước? Nếu không, tại sao tác phẩm này được Ðảng và Nhà Nước cho phép xuất bản?
Chào cờ Việt Nam Cộng Hòa
Cũng trong năm 1999, “bóng hình Fulro” lại xuất hiện ở Hoa Kỳ. Vào ngày 4 tháng 12 năm 1999, Văn Phòng Quốc Tế Champa (IOC) tổ chức một buổi lễ ra mắt tập san Champaka số 1, tại Westminter, tiểu bang California. Giáo sư Phạm Cao Dương thuộc đại học Los Angeles là người đứng ra giới thiệu tập san này, với sự tham dự nhiều giới trí thức Việt Nam và một số thành viên cũ của Fulro.
Theo chương trình, ông Dohamide, một nhà trí thức Chăm, là người đứng ra làm xướng ngôn viên của buổi lễ. Tiếc rằng, ông ta đưa ra điều kiện là buổi lễ ra mắt tập san Champaka phải chào cờ Việt Nam Cộng Hòa. Nếu không, ông ta không tham dự buổi lễ, vì người Việt Nam ở Hoa Kỳ sẽ dùng vũ lực để tẩy chay ngày ra mắt Champaka (25).
Ban tổ chức buổi lễ Champaka đứng lên phản đối kịch liệt thái độ của Dohamide. Trong dịp này, một số thành viên cũ của Fulro cũng lên tiếng rằng họ sẵn sàng “chào cờ Champa còn hơn chấp nhận chào cờ Việt Nam Cộng Hòa ở nước Mỹ tự do và dân chủ”. Ðối với họ, thái độ buộc người Chăm phải chào cờ Việt Nam Cộng Hòa tại Mỹ là một hành động sỉ nhục danh dự dân tộc Champa (26).
Biến cố năm 2001
Bóng hình Fulro trở lại Cao Nguyên
Ngày 1 tháng 2 năm 2001 đánh dấu cho sự vùng dậy của hàng ngàn dân tộc Cao Nguyên ở Ðắc Lắc, Kontum và Pleiku yêu cầu chính quyền Hà Nội phải giải quyết một số yêu sách sau, đó là chính phủ Việt Nam phải trao trả đất đai của dân tộc Tây Nguyên bị tịch thu sau ngày giải phóng; tôn trọng nhân quyền và tự do tín ngưỡng của dân tộc Tây Nguyên.
Thay vì tìm một giải pháp đối thoại, chính quyền Hà Nội lại gán cho họ là những phần tử Fulro, ra lệnh cho quân đội và công an dùng mọi quyền lực để tiêu diệt nhóm này (27).
Ngày 10 tháng 2 năm 2001, tình hình an ninh ở Cao Nguyên vẫn còn trong tình trạng nghiêm trọng. Cuộc vùng dậy đòi đất đai này đã trở thành một cuộc xung đột bạo động. Dân tộc Cao Nguyên không ngần ngại chặt tay một số cán bộ an ninh của Cộng Sản và đánh tổn thương nhiều cán bộ Cộng Sản khác. Một số nữa bị bắt giam để làm con tin cho cuộc thương thuyết giữa anh em Tây Nguyên và chính quyền Hà Nội (28).
Sau cuộc nổi loạn này, bộ trưởng bộ quốc phòng, và một số tướng lãnh Việt Nam bị nhà nước khiển trách vì thiếu nghiêm túc trong công việc phòng thủ an ninh ở Tây Nguyên. Ngày 27 tháng 3 năm 2001, Tổng Bí Ðảng Cộng Sản Việt Nam cũng lên án ông Hoàng Ðức Nghị, Chủ Tịch Ủy Ban đặc trách dân tộc ít người và miền thượng du, vì ông ta không làm tròn nghĩa vụ do nhà nước giao phó (29).
Ngày 24 tháng 3 năm 2001, chính quyền Hà Nội lên tiếng yêu cầu Hoa Kỳ không nên nhúng tay vào cuộc vùng dậy của dân tộc Tây Nguyên vào đầu tháng hai năm 2001. Theo Hà Nội, sự vùng dậy này là chuyện nội bộ của Việt Nam (30).
Hai ngày sau, tức là ngày 26 tháng 3 năm 2001, hai mươi bốn người Tây Nguyên đã thành công chạy sang Cao Miên lánh nạn, nhưng bị lực lượng biên phòng Cao Miên trấn giữ lại. Theo nguồn tin chính thức, 24 người này là cán bộ chỉ huy cao cấp trong cuộc nổi loạn ở Tây Nguyên vào đầu tháng 2 năm 2001. Chính phủ Hà Nội yêu cầu thủ tướng Hun Sen phải trao trả cho Việt Nam những tội phạm này. Hoa Kỳ can thiệp với Hun Sen để đưa 24 thành viên này sang định cư ở Mỹ. Tiếp theo 24 thành viên này, Cao Ủy Liên Hiệp Quốc còn cho biết rằng có hơn 1.000 người Tây Nguyên nữa chạy sang lánh nạn ở tỉnh Mondulkiri, Cao Miên. Theo Cao Ủy Liên Hiệp Quốc, mặc dù Hoa Kỳ đã hứa sẽ giúp đỡ họ, nhưng phải chờ sự quyết định của chính phủ Cao Miên để hợp thức hóa giấy tờ cần thiết (31).
Người Chăm là dân tộc phản động
Năm 2001, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia ra đời một tác phẩm với nhan đề “Mấy vấn đề lý luận và thực tiển cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay” do giáo sư Phan Hữu Dật làm chủ biên. Ðây là một công trình tập thể gồm 23 vị giáo sư-tiến sĩ gốc người Kinh thực hiện. Trong phần Vùng dân tộc Chàm (trang 200-223) các vị tiến sĩ này đưa ra bao quan điểm để chứng minh rằng dân tộc Chăm có tư tưởng cực đoan, kỳ thị dân tộc Kinh, là một trong bốn dân tộc phản động có sự liên hệ mật thiết với các “thế lực thù địch” bên ngoài, đó là Fulro nhằm chống đảng và nhà nước và tìm cách lật đổ chính quyền Việt Nam.
Năm 2001 đánh dấu một khúc quanh trong văn chương tuyên truyền ở Việt Nam. Ðể đối phó với “Bóng hình Fulro, chính quyền Hà Nội tập trung một lực lượng nghiên cứu người Kinh, vận dụng tối đa văn chương khoa học để đưa ra quan điểm, nhận định, đánh giá hay vạch mặt chỉ tên những thành phần người Chăm ở trong và ngoài nước, mà tác giả gọi là những “tội phạm Fulro” hay liên hệ với Fulro để phục quốc Champa.
Dựa trên thế lực khoa học, 23 vị tiến sĩ này không ngần ngại xử dụng bao cụm từ vô cùng khắt khe để ám chỉ tâm tính người Chăm, triển khai phương cách lý luận vừa thách đố vừa khinh bỉ dân tộc này, dùng lối hành văn vô cùng thô bạo để phản ảnh quyền lực của dân tộc Kinh đa số (32).
Biến cố năm 2002
Nhóm Tây Nguyên sang Mỹ
Ngày 1 tháng 4 Năm 2002, hơn 1000 người tị nạn Tây Nguyên tham gia trong cuộc biểu tình vào tháng 2-2001 ở Buôn Mê Thuột được chính phủ Cao Miên cho phép sang Mỹ. Ða số dân tộc Tây Nguyên xin tị nạn là những cựu chiến binh của Hoa Kỳ trong chiến tranh ở Việt Nam trước năm 1975 và cũng là những thành viên cũ của Fulro (33).
Linh mục Moussay bị trục xuất
Trong tác phẩm Mấy vấn đề lý luận và thực tiển cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, do 23 vị tiến sĩ gốc Kinh thực hiện và do Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia ấn hành vào năm 2001, Linh mục G. Moussay bị 23 vị tiến sĩ kết tội là thành phần bắt tay với mặt trận Fulro, biến Trung Tâm Văn Hóa Chàm Phan Rang vào những năm 1969-1974 thành một cơ sở đào tạo cán bộ Fulro.
Một năm sau, tức ngày 6 tháng 8 năm 2002, linh mục G. Moussay được Hà Nội cho phép sang viếng thăm Việt Nam qua đường du lịch. Khi đến sân bay Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn, G. Moussay bị công an bắt giam giữ tại phi trường và đối đãi với ông ta như một tội phạm, sau đó công an Hà Nội đưa ông ta lên máy bay trở về Pháp cùng ngày, nhưng không cho biết lý do chính đáng.
Ngày 20 tháng 9 năm 2002, linh mục G. Moussay phản đối kịch liệt cách cư xử của chính quyền Hà Nội trong một bức thư mà ông ta đã gởi cho nhiều nhân vật chính quyền và nhân quyền trên thế giới, trong đó có Tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam; Chủ tịch nước; Thủ tướng; Chủ tịch quốc hội; Bộ trưởng ngoại giao; Bộ trưởng công an; Bộ trưởng du lịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bộ trưởng ngoại giao nước Cộng Hòa Pháp; Ông đại sứ Cộng Hòa Pháp tại Việt Nam; Ông tổng lãnh sự nước Cộng Hòa Pháp tại thành phố Hồ Chí Minh (34).
Cũng cần nhấn mạnh ở đây, G. Moussay là linh mục thuộc cơ quan truyền giáo của Missions Etrangères de Paris, đã thành lập Trung Tâm Văn Hóa Chàm tại Phan Rang vào năm 1968, và cũng là người thường quen biết trung tá Les Kosem, một nhân vật chính trong tổ chức Fulro.
Biến cố năm 2004
Dân ca Champa của Chế Linh bị cấm
Sự trục xuất linh mục G. Moussay chỉ là bước đầu của chính sách Hà Nội chống lại một số nhân vật có liên hệ với “Bóng hình Fulro”. Ngày 24 tháng 1 năm 2004, Bộ Văn Hóa và Thông Tin của Hà Nội ra lệnh cấm người Chăm nghe CD “Dân Ca Champa” do Chế Linh thực hiện tại hải ngoại (35).
Theo Bộ Văn Hóa, tại nhiều tỉnh thành trong nước Việt Nam vẫn còn lưu hành dĩa lậu CD “Dân Ca Champa” của Chế Linh. Vì trong CD này, Chế Linh hát một số bài không phù hợp với chính sách tôn giáo và đại đoàn kết dân tộc của Ðảng và Nhà Nước đưa ra. Chính vì thế, bộ văn hóa đã gởi công văn cho các cơ quan trong nước yêu cầu thu hồi CD này.
Ðiều đáng ngạc nhiên ở đây là “Dân Ca Champa” tập trung một số bài hát dân gian mà nội dung chỉ biểu tượng cho giá trị văn hóa và truyền thống của người Chăm mà thôi. Trong CD, Chế Linh không đá động gì đến chính trị của Ðảng và Nhà Nước và cũng không có đoạn hát nào gây tai hại cho chính sách đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam. Có chăng sự quyết định của Hà Nội cấm người Chăm nghe CD này, vì Chế Linh hát dân ca Champa bằng tiếng Chăm mà Hà Nội cho đó cũng là một biểu tượng của “Bóng hình Fulro”?
Nhóm Dega ở Hoa Kỳ bị chụp mũ
Sau ngày cấm lưu hành CD “Dân Ca Champa” của Chế Linh, Hà Nội đưa ra chiến dịch tẩy chay nhóm Cao Nguyên định cư ở Hoa Kỳ. Ngày 11 tháng 2 năm 2004, sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ đưa lên mạng web một bài nhận định về nguồn gốc Quỹ Dân Tộc Cao Nguyên (Montagnard Foundation) tại Hoa Kỳ, một tổ chức phi chính phủ do Ksor Kơk lãnh đạo.
Trước khi vào đề, sứ quán Việt Nam tóm lược sơ qua lịch sử Fulro, kết tội phong trào này là một tổ chức phản động có sự yểm trợ của nước ngoài nhằm gây hận thù, chống Ðảng và Nhà nước Việt Nam. Sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ cho rằng, Quỹ Dân Tộc Cao Nguyên là một tổ chức có liên hệ với Fulro, vì người lãnh đạo của quỹ này là ông Ksor Kơk (gốc Jarai), cũng là một thành viên Fulro lưu vong bên Kampuchia từ năm 1969. Chính vì thế, sự ra đời của Quỹ Dân Tộc Cao Nguyên do Ksor Kơk lãnh đạo, không phải là tổ chức phi chính phủ nhằm phát triển vấn đề xã hội của dân tộc Cao Nguyên, nhưng là một tổ chức phi pháp nhằm thành lập một quốc gia độc lập mang tên là Cộng Hòa Dega tại miền Trung Việt Nam.
Cũng theo mạng web này, nhóm Ksor Kơk lợi dung danh nghĩa đạo Tin Lành để tuyên truyền cho chính sách Cộng Hòa Dega Ðộc Lập, gây ngân quỹ để yểm trợ cho dân tộc Tây Nguyên trong nước nhằm vùng dậy chống lại chính phủ Việt Nam.
Ðiều cũng cần nhấn mạnh ở đây, có hàng ngàn hội đoàn Việt kiều tại Mỹ xuống đường hàng năm, để hô hào quần chúng vùng dậy giải phóng Việt Nam ra khỏi ách nô lệ của Cộng Sản, nhưng sứ quán Việt Nam không hề lên tiếng trên mạng Web của mình. Tại sao cơ quan này chỉ chụp mũ hội đoàn phi chính phủ của nhóm Ksor Kơk? Có chăng Hà Nội tự tiện xếp họ vào thành phần “Bóng hình Fulro”?
Sự vùng dậy ở Cao Nguyên lần thứ hai
Ba năm sau, “Bóng hình Fulro” lại xuất hiện trên Cao Nguyên lần thứ hai. Một số báo chí nước ngoài (36) thông tin rằng, trong dịp lễ Phục Sinh từ ngày 10 đến 11-4-2004, hàng chục ngàn người sắc tộc Tin Lành gốc Tây Nguyên biểu tình trước Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Ðắc Lắc, căng biểu ngữ đòi tự do tín ngưỡng và đất đai của họ đã bị truất hữu. Chính quyền Hà Nội liền xử dụng bạo lực, ra lệnh cho lực lượng công an và quân đội đã dùng vòi rồng xịt nước, lựu đạn cay, dùi cui và roi điện tấn công đoàn người biểu tình. Theo một số báo chí nước ngoài, có ít nhất 17 tín đồ Tin Lành Tây Nguyên bị bắn chết, trên 150 bị thương, khoảng 300 người bị bắt và gần 100 người khác chạy qua Kampuchia lánh nạn. Thủ tướng Hun Sen hăm dọa lùng bắt những người tị nạn này trao trả lại cho Việt Nam. Sau ngày vùng dậy, Hà Nội cấm hẳn những người nước ngoài dù họ là phái đoàn bộ ngoại giao hay báo chí lên khu vực Tây Nguyên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2004, Human Rights Watch ( cơ quan nhân quyền có trụ sở đặt tại Mỹ ) lên tiếng phản đối kịch liệt sự đàn áp của Hà Nội chống lại dân tộc Tây Nguyên. Ngày 14 tháng 4 năm 2004, quốc vương Cao Miên Norodom Sihanouk (37) lên tiếng qua mạng Web cho rằng ông ta là người đã từng đứng ra trong quá khứ bênh vực cho dân tộc Tây Nguyên, một khi dân tộc này bị đàn áp. Hôm nay, ông ta vẫn tiếp tục bênh vực dân tộc này. Cùng trong Web này, Norodom Sihanouk hứa là sẽ can thiệp với chính phủ Hun Sen để đón nhận những người gốc Tây Nguyên chạy sang Cao Miên lánh nạn sau vụ vùng dậy của họ vào ngày 9 tháng 4 năm 2004.
Vấn đề dân tộc Chăm lại tái diễn
Năm 2004, vấn đề dân tộc Chăm lại tái diễn trong bài viết của Nguyễn Văn Tỷ đăng trong tập san Tagalau số 4, 2004, trang 118-165 (38).
Chủ đề đầu tiên đó là truyền thống người Chăm mà tác giả cho rằng đó chỉ là “những phong tục rườm rà lại thêm nhiều phát sinh (...),những tập quán còn lạc hậu (...),những kiềm hãm vô lý (...) thiếu ổn định và nhất quán” (tr. 124-139). Có thật sự chăng phong tục tập quán Chăm vẫn còn lạc hậu trong thế kỷ thứ XXI này?
Theo chúng tôi, có hai nguyên nhân chính đã đưa tác giả đến kết luận này. Hoặc là tác giả quá tin vào giá trị truyền thống của dân tộc lớn, như dân tộc Việt chẳng hạn, để định nghĩa truyền thống dân tộc Chăm, hoặc là tác giả có quan niệm rằng phong tục người Chăm chỉ là một lễ hội mua vui mà mỗi nhà tổ chức có quyền thêm bớt để làm hài lòng những người khách đến tham dự.
Ðứng trên phương diện khoa học mà nói, truyền thống Chăm là một di sản tinh thần của một tập thể dân tộc Chăm, được truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác trong không gian và thời gian dài hàng thế kỷ. Văn hoá, phong tục tập quán là nguồn gốc con người, chính vì đó trải qua những thăng trầm của lịch sử nhưng họ vẫn duy trì truyền thống là điều đáng trân trọng.
Hiến chương của UNESCO-Liên Hiệp Quốc cũng đã quy định rằng mọi truyền thống của bất cứ dân tộc nào trên thế giới đều có một giá trị ngang nhau. Không có phong tục tập quán của dân tộc nào được xem như là văn minh hơn, khoa học hơn. Vì tất cả tập quán đó đều là di sản của nền văn minh của nhân loại.
Nếu tác giả cho rằng phong tục tập quán người Chăm hôm nay là một di sản tinh thần vô cùng quí giá, là một tín ngưỡng thiêng liêng của dân tộc này, có một giá trị ngang hàng với tất cả phong tục của các dân tộc khác trên thế giới, thế thì đâu có chuyện cần phải thay đổi phong tục người Chăm như tác giả đã yêu cầu, ngược lại tác giải phải có nghĩa vụ đứng ra để bảo tồn và nuôi duỡng nó thì đúng hơn.
Ngoài sự lầm lẫn về việc đánh giá phong tục đó, tác giả còn cảnh cáo quá khắt khe một số hiện tượng trong xã hội, như là hiện tượng thanh niên làm việc thì tiêu cực mà ăn chơi lại tích cực (tr. 134), hiện tượng sinh hoạt xã hội Chăm chỉ lấy rượu làm tôn chỉ (tr. 136), v.v... Ðây là một kết luận quá vội vàng và chủ quan, có thể xúc phạm đến quyền tự do của con người. Có chăng tất các thanh niên Chăm hôm nay chỉ là một nhóm người vô trách nhiệm? Có chăng tất cả người Chăm hôm nay chỉ là những kẻ chỉ biết đến rượu chè mà thôi?
Phần thứ hai của bài này liên quan đến bản chất của dân tộc Chăm. Ðể biện minh cho quan điểm của mình, tác giả đưa ra một số lý luận rất là đơn sơ để rồi kết luận rằng dân tộc Chăm có thêm 6 khuyết tật thô thiển nữa (vì năm 1999, Inrasara đã vạch ra 10 khuyết tật của Chăm mà chúng tôi đã nêu ra ở phần trên), đó là “bản chất tị hiềm nhau; bản chất dốc phách; bản chất thiếu khiêm tốn; bản chất háo danh; bản chất thiếu tính nhân ái; bản chất thiếu tính sòng phẳng; bản chất không dám nói trước mặt nhau” (tr. 130-134) và 4 hiện tượng tiêu cực: “thứ nhất là hiện tượng của thanh niên Chăm làm việc thì tiêu cực mà ăn chơi lại tích cực. Thứ hai là kỳ thị những người ngoài làng lấy vợ ở làng ta. Thứ ba là sự bất hòa thường trực trong thôn xóm. Thứ tư là rượu chi phối quá lớn đối với xã hội Chăm” (tr. 134-136).
Nếu tác giả cho rằng có một số người Chăm nào đó có 6 bản chất thô thiển, thì đó là vấn đề tự nhiên trong xã hội. Nhưng không thể dựa vào cá tính xấu xa của một số người Chăm để rồi kết luận rằng cả tập thể dân tộc Chăm có những khuyết tật này. Có chăng cụm từ “người Chăm” mà tác giả lặp đi lặp lại trong bài này, hoàn toàn ám chỉ cho một số người Chăm nào đó chứ không phải tác giả muốn kết tội cả một tập thể dân tộc Chăm có khuyết tật xấu xa đó? Chỉ có tác giả là người có thể trả lời cho câu hỏi này. Nếu không, bài khảo luận của tác giả trở thành một văn chương viết lách nhằm bôi nhọ dân tộc Chăm hơn là một bài phân tích sâu đậm về cơ cấu xã hội của người Chăm.
Vì đã nhận diện có thể có sự sai lầm trong quan điểm của mình, nên tác giả đã yêu cầu độc giả (tr. 119) vì lợi ích của dân tộc, chúng ta cùng nhau tranh luận những vấn đề mà tác giả đã đưa ra. Chính vì thế, những gì mà Nguyễn Văn Tỷ đề ra trong bài nhận định này không có mục tiêu nhằm kết tội phong tục và dân tộc Chăm, nhưng chỉ là một ý kiến sơ khởi của một người Chăm đang nhìn xã hội Chăm, dù tầm nhìn đó có đi ngược hoàn toàn với thực tế.
*****************************
Sau tháng 4 năm 1975, Fulro không còn là tổ chức của một “mặt trận giải phóng” nữa, nhưng là một phong trào đấu tranh của dân tộc Tây Nguyên và Chăm, nhằm yêu cầu chính quyền Hà Nội phải trao trả lại cho dân tộc này quyền được sống trên lãnh thổ mà tổ tiên của họ đã để lại, trong khuôn khổ truyền thống văn hóa và tín ngưỡng của họ.
Sự hiện hữu của phong trào này có chăng chỉ là sự kế thừa của bao phong trào đấu tranh khác đã xảy ra từ ngày Champa bị xóa bỏ trên bản đồ Ðông Dương vào năm 1832.
Notes:
(1) Về lịch sử Fulro, xem Champaka số 5 sắp ra mắt.
(2) Ponchaud, 1977: 15-16, Hickey, 1982b: 283.
(3) Chúng tôi xin chân thành tri ân P. Gs. Po Dharma và Nicolas Weber đã cung cấp một số tư liệu để chúng tôi hoàn tất bài tiểuu luận này.
(4) Hickey, 1982b: 285.
(5) Hickey, 1982b: 273.
Nhóm Kpa Koi, trong đó có Y Chon Mlo, một trong những người lãnh đạo trong Bộ Phát Triển Sắc Tộc, đã quyết định ly khai chính phủ Sài Gòn để hợp tác với Cộng Sản từ tháng 3 năm 1974. Xem Hickey, 1982b: 268; Ngôn Vĩnh, Fulro: 238-239.
(6) Hickey, 1982b: 285.
(7) Ngôn Vĩnh, 1982, tr. 272.
(8) Butterfield, 1976; Hickey, 1982b: 288.
(9) U.N. 1976.
(10) Nayan, 1979: 10-11; Chandra, 1979: 10-11.
(11) Hickey, 1982b: 298.
(12) Hickey, 1982b: 298.
(13) Hickey, 1982b: 299.
(14) Nate Tahyer, 1992.
(15) Nate Tahyer, 1992.
(16) Inrasara Văn Học Chăm, Xuất Bản Văn Hóa Dân Tộc, 1994.
(17) Phụ Nữ, 28-6-1995; Tuổi Trẻ Chủ Nhật, 4-7-1995.
(18) Xem Chamapaka số 2, năm 2002, tr. 162-163.
(19) Xem thêm phần bình luận liên quan đến thay đổi danh xưng này trong Champaka số 2, 2002, tr. 162
(20) Champaka là một tập san khoa học chuyên về lịch sử và nền văn minh Champa, mà trụ sở đặt tại Pháp. Ða số thành viên khoa học của Champaka là những chuyên viên nghiên cứu của Trung Tâm Lịch Sử và Nền Văn Minh Bán Ðảo Ðông Dương (CHCPI), Paris.
Champaka không phải là nội san của hội IOC-Champa ở Hoa Kỳ như một số độc giả hiểu lầm, nhưng là một tập san hoàn toàn độc lập trên phương diện khoa học lẩn cơ cấu tổ chức.
Champaka có hai mục tiêu duy nhất đó là tập trung các nhà khoa học trên thế giới hướng về chương trình nghiên cứu Champa; phê bình và phân tích những bài viết hay quan điểm sai lầm liên quan đến lịch sử và nền văn minh Champa, dù tác gỉa đó là người Chăm hay nước ngoài.
Champaka ấn hành bằng tiếng Việt chỉ là một phương tiện nhằm giúp đỡ một số độc giả và nhà nghiên cứu không đọc được tiếng Pháp, nhằm tiếp thu nhanh chóng hơn những tin tức khoa học liên quan đến Champa.
(21) Sách này được tái bản lần thứ 2 vào năm 2003 do Nhà Xuất Ban Văn Học ấn hành. Chúng tôi dùng tác phẩm tái bản vào năm 2003 để nghiên cứu trong bài này.
(22) Inrasara, “Chăm Panduranga tại thành phố Hồ Chí Minh” Tagalau só 4, 2004, tr. 46.
(23) Ngay trong tập san Tagalau só 4 (“Thơ-Viết và Luận”, 2004, tr. 70-82) tác giả cũng dàn dựng cho bằng được bài phỏng vấn của phóng viên báo chí Việt Nam. Các nhà trí thức thật sự ở Việt Nam hay trên thế giới không bao giờ dùng ngòi bút để quảng cáo về minh.
(24) J. Migiozzi (Cambodge Faits et problèmes de population, Paris 1973, tr. 41-41); J. Delvert (le paysan Cambodgien, Paris 1961, tr. 305); J. Pouvatchy (Les Vietnamiens au Cambodge, luận án tiến sĩ 1975, tr. 78).
(25) Tư liệu Champaka 12-99.
(26) Tư liệu Champaka 12-99.
(27) New Straits Times, 2-2-2001; Frédérique Martin, 9-2-2001.
(28) New Straits Times, 10-2-2001.
(29) New Straits Times, 27-3-2001.
(30) New Straits Times, 23-3-2001.
(31) New Straits Times, 26-3-2001; 27-3-2001.
(32) Xem thêm phần bình luận tác phẩm của Po Dharma ở phần cuối.
(33) New Straits Times, 28-3-2002; 1-4-2002.
(34) Thông Luận số 163, tháng 10-2002, tr. 28-29.
(35) Web. Việt Nam cho rằng Bộ Văn Hóa và Thông Tin 24-1-2004.
(36) Thông Luận số 181, tháng 5-2004, tr. 4; Human Rights Watch (Web.); Tuần báo L'Express số 2768, tháng 7-2004, tr. 33; Tuần báo Le Point số 1649, tháng 4-2004, tr. 54.
(37) Norodom Sihanouk, Web. ngày 14-4-2004.
(38) Nguyễn Văn Tỷ, “Thực trạng xã hội Chăm - Một số giải pháp chính”, in Tagalau số 4, 2004, trang 118-165.
Tư Liệu Trích Dẫn
Butterfield, Foc,
“Vietnam Refugees Say Attacks on Communists Continue in Highlands”, trong New York Time, 1 June 1976.
Bộ Văn Hóa và Thông Tin, Web. ngày 24-1-2004.
Chandra, Nayan,
“Ieng Sary: Unite for our Contry”, trong Far East Economic Review 104, số. 25, 1979.
Delvert, J.,
Le paysan Cambodgien, Paris, 1961.
Hickey, Gerald C.,
Free in the Forest. Ethnohistory of the Vietnamese Central Highlands 1954-1976, New Haven and London, Yale University Press, 1982.
Human Rights Watch, Web. 10 tháng 4 năm 2004.
Inrasara,
- Văn Học Chăm, Xuất Bản Văn Hóa Dân Tộc, 1994.
- “Chăm Panduranga tại thành phố Hồ Chí Minh”, trong Tagalau só 4, 2004, tr. 42-48.
- “Thơ-Viết và Luận”, trong Tagalau só 4, 2004, tr. 70-82.
Martin, Frédérique,
“Les paysans des “minoritâs ethniques” revendiquent leurs terres ancestrales. Hanòi face à la révolte des Montangards”, trong Figaro, 9-2-2001.
Migiozzi, J.,
Cambodge Faits et problèmes de population, Paris 1973.
Nate Tahyer,
“Trails of Tears: Lost Montagnard Army Vows to fight On”, trong Far Eastern Review, 10 september 1992.
New Straits Times, 2-2-2001 ; 10-2-2001 ; 23-3-2001 ; 26-3-2001 ; 27-3-2001 ; 28-3-2002 ; 1-4-2002.
Ngôn Vĩnh,
FULRO, Nhà Xuất Bản Văn Học, 3e édition, 1995.
Nguyễn Văn Tỷ,
“Thực trạng xã hội Chăm. Một số giải pháp chính”, trong Tagalau số 4, 2004, tr. 118-165.
Norodom Sihanaouk,
“Statement”, Courrier électronique, Pyongyang, 14 avril 2004.
Phụ Nữ, ra ngày 28-6-1995.
Ponchaud, F.,
Cambodia Year Zero, Holt, Rinehart and Winston, New York, 1977.
Po Dharma, Abdul Karim, Danny Wong Tze-Ken,
Champa trên làn sóng báo chí quốc tế từ năm 1975, Champaka số 2, Toronto, San Jose, Slagelse, Dormagen, 2000.
Pouvatchy, J.,
Les Vietnamiens au Cambodge, luận án tiến sĩ, Paris, 1975.
Tư liệu Champaka 12-99.
Thông Luận Số 163, tháng 10-2002 ; số 181, tháng 5-2004.
Tuổi Trẻ Chủ Nhật, ra ngày 4-7-1995.
U.N.,
“Study Urges Heavy Vietnam Aid”, trong Washington Post, 2 June 1976.
Dominique Nguyen
(Chương trình thế giới Mã Lai-Ðông Dương)

Lá cờ của phong trào FULRO - Ảnh Wikipedia

Ông Y Bham Ênuôl (?-1975) - người sáng lập FULRO - Ảnh wikipedia
CUỘC NỔI DẬY CỦA DÂN TỘC TÂY NGUYÊN Ở MIỀN TRUNG VIỆT NAM VÀO THÁNG 2 NĂM 2001
TS. Nguyễn Văn Huy
(Ðại Học Paris VII)
Chưa bao giờ, sau 1975, một sự kiện vừa xảy ra tại Việt Nam đã được các hãng thông tấn ngoại quốc loan tin nhanh và gây xúc động trong dư luận quốc tế đến như vậy.
Ðầu tháng 2-2001, ngay khi cuộc xuống đường của khoảng 500 người Tây Nguyên tại trụ sở huyện Chu Prong ngày 31-1-2001, đòi trả tự do cho hai tín đồ Tin Lành bị công an bắt giam, dư luận quốc tế và cộng đồng người Việt hải ngoại đã được thông tin kịp thời và đầy đủ. Ðại diện các chính phủ dân chủ phương Tây có mặt tại Hà Nội cũng đã yêu cầu chính quyền Việt Nam giải thích sự việc và cảnh báo không nên dùng bạo lực để đàn áp những người thiểu số.
Về phía Việt Nam, chính quyền cộng sản đã không coi nhẹ tầm quan trọng những cuộc xuống đường này, phản ứng của họ đã rất khôn ngoan và liền tức thời. Một mặt, chính quyền địa phương xoa dịu sự căm tức của dân tộc Tây Nguyên bằng cách trả tự do cho hai tín đồ Tin Lành vừa nói, kỷ luật năm cán bộ đặc trách chính sách người sắc tộc thiểu số vào ngày 29-3-2001 và cử cán bộ đến giải thích chính sách của nhà nước để dập tắt mầm chống đối ngay từ trứng nước. Mặt khác, Hà Nội loan tải nhanh chóng những tin tức liên quan đến các cuộc xuống đường của dân tộc Tây Nguyên, để minh oan trước dư luận quốc tế. Họ gán cho những người lãnh đạo gốc Tây Nguyên đủ thứ tội danh, nào là “phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc”, “gây rối, bạo động”, “tái lập nhà nước Ðê Ga (1) tự trị”... Chưa hết, Hà Nội còn huy động bộ chỉ huy quân khu 5 đưa một lực lượng quân sự quan trọng, có cả trực thăng, đại pháo và xe tăng, lên Tây Nguyên ngăn chặn phong trào đòi đất đai của dân tộc Tây Nguyên lây lan sang những tỉnh khác. Cộng đồng người gốc Tây Nguyên tại các tỉnh Kontum, Bình Ðịnh, Phú Yên và Khánh Hòa đã bị giới hạn đi lại, các tuyến giao thông lên cao nguyên (quốc lộ 14, 19) bị chặn xét gắt gao, điện thoại của người gốc Tây Nguyên bị cắt. Tuy vậy những gì thực sự đã xảy ra vẫn lọt ra ngoài: nhiều cuộc va chạm giữa lực lượng an ninh và người gốc Tây Nguyên đã được biết đến.
Theo tuần báo An Ninh Thế Giới xuất bản tại Viêt Nam (2) từ ngày 7-3-2001 đến 14-3-2001, đồng thời cũng là những thông tin do Thông tấn xã Việt Nam phát hành và được đăng trên các báo Lao Ðộng, Nhân Dân, Quân Ðội Nhân Dân... ra cùng thời điểm, cuộc bạo loạn đã diễn ra như sau:
“Ngày 29-1-2001, đồn [công an] biên phòng bắt quả tang Rơ Lan Bon và Rơ Lan Duianh, người Gia Rai, trú tại buôn Ia Pla và Ia Mơ, xã Ia Pia, huyện Cư Prông mang nhiều tài liệu của Ksor Kơk (3) có nội dung kích động, chia rẽ tình đoàn kết dân tộc. Ngay sau đó, từ Mỹ, Kơk liên lạc với các tổ chức quốc tế, chỉ đạo tay chân ở trong nước gây sức ép thả hai tên này...”
“Trong cuộc gây rối ngày 2-2-2001 tại Pleiku, Buôn Ma Thuột, các đối tượng quá khích đã có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng... Tại một số huyện ở Ðắc Lắc, một số tên cầm đầu quá khích đã tìm cán bộ người dân tộc để trả thù vì họ không vận động bà con không theo chúng... Bọn cầm đầu còn bắt tất cả những thanh niên “hăng hái” đến ngủ tập trung để dễ huy động lực lượng khi cần. Nhưng từ ngày 5-2-2001, khi các đội công tác vận động, giải thích bà con để họ gọi con cái về, vạch ra những việc làm phạm pháp luật thì nhiều người thấy mình bị lừa đã quay lại trả thù bọn cầm đầu. Có nơi bà con tự bắt và giải chúng lên chính quyền. Anh em công an lại phải vận động để mọi người không trả thù, bảo vệ tài sản cho bọn chúng. Từ ngày 7-2 -2001, hầu hết những tên cầm đầu đã ra tự thú, xin lỗi chính quyền...”
Sự thật như thế nào khi đọc các báo chí nước ngoài viết về biến cố này từ ngày 31-1-2001 đến 28-9-2001?
Một số báo chí cho rằng, ngày 31-1-2001, khoảng 500 người Jarai kéo tới trụ sở huyện Chu Prong phản đối việc bắt giam và đòi trả tự do cho hai tín đồ Tin Lành là hai ông Rahlan Pon và Rahlan Djan, bị lực lượng công an biên phòng bắt hai ngày trước đó (29-1-2001).
Ngày 2-2-2001, khoảng 6.000 tín hữu Jarai từ khắp nơi trong tỉnh Gia Lai kéo đến trụ sở tỉnh ủy và ủy ban nhân dân thành phố Pleiku yêu cầu thả hai tín đồ Tin Lành vừa kể. Cuộc biểu tình sau đó biến thành phong trào đòi tự do tôn giáo và trả lại đất đai cho dân tộc Tây Nguyên. Ngày 4-2-2001 đoàn biểu tình có lúc đã lên tới 20.000 người, trong đó có cả người Bahnar, một sắc tộc theo đạo Công Giáo ở phía Bắc tỉnh Gia Lai, đòi chính quyền trả lại đất đai của những buôn làng đã bị người Kinh chiếm đoạt trước đó.
Tại Ðắc Lắc, trong các ngày từ 3 đến 11-2-2001, hàng ngàn người Rhadé và Mnong từ các huyện Ea Súp, Ea H'Leo, Buôn Ðôn, Krong Năng, Krông Buk đã cùng nhau kéo về trụ sở tỉnh ủy Ðắc Lắc biểu tình ủng hộ những đòi hỏi của người Jarai và yêu cầu nhà nước trả lại những phần đất đai của buôn làng đã bị đại diện các cơ quan công quyền tước đoạt.
Lo sợ phong trào đòi đất đai ngày càng lan rộng, các chính quyền cộng sản địa phương đã tỏ ra không nhân nhượng trước những đòi hỏi chính đáng này. Nhiều toán công an chống biểu tình đã được gởi tới để giải tán các đoàn biểu tình. Xô xát liền xảy ra, công an dùng dùi cui và roi điện đánh vào đoàn người biểu tình để giải tán; những người biểu tình dùng đá và gậy gộc để chống lại. Tổng kết sau nhiều ngày xô xát, hơn 600 người gốc Tây Nguyên bị đánh đập, 200 người khác và 20 công an bị thương, nhiều cơ quan công quyền bị đập phá, hàng trăm người gốc Tây Nguyên bị bắt giam và hàng ngàn người khác chạy sang Campuchia lánh nạn.
Ngày 26-9-2001, tòa án tỉnh Ðắc Lắc đã tuyên những án tù rất nặng, từ 6 đến 11 năm tù, cho 7 người bị kết tội “phá rối an ninh” và “tàng trữ vũ khí quân dụng”. Ngày 28-9-2001, tòa án tỉnh Gia Lai cũng đã tuyên những án tù nặng cho 7 người cầm đầu, nặng nhất là 12 năm tù và 5 năm quản chế. Trong năm 2002, hàng chục người khác cũng đã bị tuyên những án phạt nặng nề từ 2 đến 8 năm tù.
Kể từ sau biến cố vừa nói, toàn bộ lãnh thổ Tây Nguyên bị đặt dưới quyền quản trị triệt để của quân đội. Sư đoàn Tây Nguyên cùng những đại đội tổng hợp 15 và 16 đảm trách việc giữ gìn an ninh và dân vận trong những vùng sắc tộc gốc Tây Nguyên cư ngụ. Mọi ngõ ra vào Tây Nguyên đều bị kiểm soát gắt gao.
Hiện nay tình hình trên cao nguyên tuy tạm lắng yên nhưng vấn đề người gốc Tây Nguyên vẫn còn nguyên vẹn, chỗ đứng của những người gốc Tây Nguyên trong lòng dân tộc Việt Nam chưa có đáp số.
***********************
Một sự kiện quan trọng cần được nhấn mạnh là những cuộc xuống đường phản đối của dân tộc Tây Nguyên không mang tính tự phát mà có sự vận động qui mô trên khắp cao nguyên giữa ba sắc tộc lớn, đó là Jarai, Rhadé và Bahnar. Không kèn, không trống, không phô trương, không có người đứng đầu, từng đoàn người càng ngày càng đông đi về phía trung tâm thành phố biểu tình. Họ đến từ các buôn làng lớn chung quanh, từ các nơi làm việc đã ùn ùn tới trước các trụ sở công quyền phản đối, tuy bất bạo động nhưng không sợ sệt. Mục đích của những cuộc xuống đường này là để đánh động dư luận quốc tế về sự tuyệt vọng của cộng đồng người gốc Tây Nguyên trong một xã hội mà họ và con cháu họ không có chỗ đứng. Sự quyết tâm và can đảm của dân tộc Tây Nguyên càng đáng được lưu ý.
Ðây là những cuộc xuống đường lớn nhất xuất phát từ quần chúng tại miền Nam, đúng hơn là trên cao nguyên miền Trung, từ ngày toàn bộ miền Nam bị đặt dưới quyền quản trị của chế độ cộng sản miền Bắc. Khác với người Kinh, cả ở trong lẫn ngoài nước, cộng đồng dân tộc Tây Nguyên đã biểu dương quyết tâm và lực lượng một cách hiệu quả, trực diện với chính quyền Hà Nội nhưng không phô trương và gây ồn ào.
Cũng như sau 1975, toàn bộ quân lực miền Nam Việt Nam hùng mạnh nhất Ðông Nam Á đã rã hàng, không còn một ai nghĩ tới chuyện tái lập một lực lượng quân sự đủ khả năng chống lại quân cộng sản. Cộng đồng dân tộc Tây Nguyên thì trái lại, với một nhóm người ít ỏi nhưng đầy quyết tâm, họ đã thu nhặt những loại vũ khí mà quân đội Việt Nam Cộng Hòa bỏ rơi trên đường tháo chạy từ cao nguyên xuống đồng bằng tháng 3-1975 và đã đánh trả lại quân đội cộng sản trong suốt 7 năm trời, không có sự tiếp tế hay tiếp sức nào của ngoại bang. Chính vì ước muốn được sống trong danh dự, nhân phẩm không bị chà đạp mà cộng đồng dân tộc Tây Nguyên đã vùng dậy, họ chỉ muốn được sinh sống bình thường và được đối xử bình đẳng như mọi công dân Việt Nam gốc Kinh khác.
Có ít nhất ba nguyên nhân dẫn đến sự phản đối rầm rộ của dân tộc Tây Nguyên, nguyên nhân này kết nối với nguyên nhân kia tạo thành một khối nhuần thể.
Giọt nước đã làm tràn ly là việc bắt bớ, giam cầm và đánh đập hai tín đồ Tin Lành người Jarai, đó là hai ông Rahlan Pon và Rahlan Djan, người huyện Chư Prong. Hai người này bị kết tội “kích động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc” vì đã truyền bá giáo lý đạo Tin Lành bằng thổ ngữ qua đài Chân Trời Mới phát thanh từ Philippines, một đài mà chính quyền cộng sản tìm cách phá sóng mà không được. Uy tín của hai vị này rất cao trong sắc tộc Jarai và được đông đảo người gốc Tây Nguyên địa phương ngưỡng mộ.
Việc bắt bớ và cấm đoán những người truyền bá đạo Tin Lành trên cao nguyên miền Trung không phải chỉ mới đây, nó đã bắt đầu từ ngày Buôn Ma Thuộc lọt vào tay phe cộng sản, ngày 19-3-1975. Ðạo Tin Lành trong giới người gốc Tây Nguyên gần như bị cấm hoạt động, 87 nhà thờ bị niêm phong, rất nhiều mục sư và tín đồ đạo Tin Lành người gốc Tây Nguyên, đa số là người Rhadé, Jarai, Churu và Kaho, đã bị bắt và giam giữ trong các trại học tập cải tạo; nhiều người đã thiệt mạng vì bệnh tật và thiếu đói, một số khác vẫn còn bị giam giữ cho tới ngày nay.
Chỉ từ đầu năm 1999, sau khi bị Liên Hiệp Quốc và Hoa Kỳ làm áp lực, Hà Nội mới chấp nhận để cho đạo Tin Lành trên cao nguyên được hoạt động trở lại, từ đó số tín đồ người gốc Tây Nguyên tăng lên rất nhanh. Hiện nay có hơn 200.000 người gốc Tây Nguyên chính thức theo đạo Tin Lành, 12% tổng số người gốc Tây Nguyên trên cao nguyên, con số này sẽ còn cao hơn nữa trong những ngày tháng sắp tới. Nhưng đa số những tín đồ Tin Lành gốc Tây Nguyên vẫn sinh hoạt đạo dưới hình thức “hội thánh tư gia”, nghĩa là không trực tiếp đến nhà thờ, vì chỉ có một vài nhà thờ Tin Lành trong các thành phố và thị xã lớn mới được cử hành lễ ngày chủ nhật, tại những địa phương khác các nơi thờ phượng vẫn còn bị niêm phong. Hơn nữa, những tín đồ Tin Lành gốc Tây Nguyên đều là đối tượng cần theo dõi bởi các chính quyền địa phương, mọi hình thức hội họp đều bị cấm đoán.
Tại sao dân tộc Tây Nguyên theo đạo Tin Lành? Có hai lý do. Lý do sâu xa là tìm được trong đạo này sự an ủi trong tâm hồn trước cuộc sống vật chất đầy khó khăn và thiếu thốn, hơn nữa giáo lý của đạo Tin Lành cũng rất giản dị, chỉ cần kính Chúa yêu người là đủ. Lý do thực tiễn là muốn được nâng cao mức sống, nghĩa là được giúp đỡ về vật chất như những mục sư Tin Lành người Mỹ trước 1975 đã từng làm, vì khi theo đạo này số phận của họ không bị lãng quên.
Trên nguyên tắc giáo lý của đạo Tin Lành không chống lại chủ nghĩa cộng sản nhưng chính quyền cộng sản rất e ngại thế lực của đạo Tin Lành, một tôn giáo mà họ chưa khống chế được. Chỉ mới gần đây, ngày 8-2-2001, chính quyền cộng sản mới chủ động tổ chức một đại hội đồng tổng liên hội Hội thánh Tin Lành tại miền Nam Việt Nam nhằm loại trừ những hệ phái độc lập mà họ không thể kiểm soát được như các “hội thánh tư gia” của người gốc Tây Nguyên.
Tin Lành là một tôn giáo có tổ chức và có hậu thuẫn quốc tế cao, nhất là hậu thuẫn của dư luận Hoa Kỳ và các chế độ dân chủ phương Tây, khống chế được thành phần lãnh đạo tôn giáo này chính quyền cộng sản Việt Nam sẽ bớt lo ngại những chống đối bất ngờ có thể xảy ra. Một vấn đề đặt ra đối với chính quyền cộng sản là đạo Tin Lành có rất nhiều hội thánh, và hội thánh này độc lập với hội thánh kia, do đó rất khó quản trị mặc dù trên hình thức đã có sự thống nhất. Trong thực tế chính quyền cộng sản chỉ nắm được hội thánh Tin Lành của người Kinh trong các thành phố lớn, tại những nơi xa trung tâm thành phố những tín đồ Tin Lành gốc Kinh cũng vẫn bị phân biệt đối xử và đàn áp như người gốc Tây Nguyên.
Ðối với cộng đồng dân tộc Tây Nguyên, những vị mục sư và người phụng sự đạo Tin Lành là những lãnh tụ mới. Từ sau 1975 giai cấp lãnh đạo cộng đồng người gốc Tây Nguyên đã gần như bị chính quyền cộng sản làm tan rã. Những người lãnh đạo phong trào Fulro (Mặt trận thống nhất giải phóng các dân tộc bị áp bức) thì một số đã chết, một số vẫn còn ngồi tù và một số khác đã trốn sang nước ngoài. Những lãnh tụ mới do đảng cộng sản dựng lên không được người gốc Tây Nguyên kính trọng và sống tách rời với đồng hương, trên thực tế họ chỉ là những bóng ma, có hư vị chứ không có thực quyền, vì tất cả những quyết định quan trọng đều do cán bộ cộng sản gốc Kinh, thực ra là Ðảng Cộng Sản Việt Nam, định đoạt. Chính vì thế những cán bộ cộng sản gốc Tây Nguyên, đủ mọi cấp, đã không những không dám bênh vực quyền lợi của người Tây Nguyên trước sự lấn áp của thành phần di cư gốc Kinh mà còn thay mặt chính quyền hà hiếp đồng hương của họ. Phần lớn những cán bộ loại này an phận với những quyền lợi vật chất nhỏ nhoi mà chế độ ban cho, uy tín của họ rất thấp, đôi khi còn là đối tượng bị khinh miệt đối với người gốc Tây Nguyên.
Vai trò của lãnh tụ trong cộng đồng dân tộc Tây Nguyên rất quan trọng. Những người này phải là những người có đạo đức, có kinh nghiệm sống và kiến thức để hướng dẫn và bảo vệ cộng đồng. Ðó là những tộc trưởng, chủ làng trước kia; những trí thức được đào tạo theo Tây học dưới thời Pháp thuộc; những nhân sĩ, sĩ quan dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa sau 1954 và là những tu sĩ Công Giáo và Tin Lành sau 1975. Tuy vậy, có uy tín song song với những nhân sĩ này là những vị bô lão trong mỗi gia đình và dòng tộc. Nói chung, đó là những người được cộng đồng người gốc Tây Nguyên kính trọng như những thần tượng của họ.
Bắt giam và đánh đập hai ông Rahlan Pon và Rahlan Djan chẳng khác nào đánh đập và xúc phạm thần tượng của người Djarai. Cũng nên biết Rahlan (hay R'Lan, Rơ Lan) là một trong mười họ lớn nhất của bộ tộc Jarai, đó là các họ Rchom, Ksor, Siu, R'ô, Rahlan, Rmah, Nay, Hieu, Kpa, Pui. Trước kia nhiều lãnh tụ thuộc các họ lớn của sắc tộc Rhadé như Nié, Mlô hay Emé, Jdrong, Eban, Lo, Eman... bị bắt giam cũng đã gây phẫn uất trong lòng người Rhadé và dẫn đến chống đối chính quyền. Kính trọng những người lãnh đạo cộng đồng người gốc Tây Nguyên là điều tối thiểu mà các quan chức lãnh đạo và dân chúng gốc Kinh địa phương chưa hề ý thức.
Việc xuống đường phản đối việc bắt giam hai tín đồ Tin Lành người Djarai chỉ là lý cớ, nguyên do cụ thể là đời sống của người gốc Tây Nguyên ngày càng xuống cấp, nếu không muốn nói đang trên bờ tuyệt vọng. Mức sống của người gốc Tây Nguyên hiện nay quá thấp so với người Kinh, mặc dầu cũng đã rất thấp so với thế giới. Lợi tức bình quân đầu người của một người gốc Tây Nguyên hiện nay chưa tới 50 USD/năm (toàn quốc khoảng 400 USD/năm).
Hàng năm, sau mỗi cơn bão hay hạn hán, tỷ lệ người gốc Tây Nguyên thiếu đói tăng cao so với toàn quốc, nhiều dân làng người gốc Tây Nguyên phải vào rừng đào củ rừng, bắt côn trùng ăn cho đỡ đói. Những nhóm người gốc Tây Nguyên ở dọc dãy Trường Sơn phía Tây các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên (người Pacô, Ktu, Bru, Djẻ Triêng, R'măm) sống trong bệnh tật và thiếu đói triền miên; nơi cư trú của họ quá sâu và quá xa nên ít ai biết đến, phẩm vật cứu trợ nhận được gần như không có. Báo chí trong nước đã nhiều lần lên tiếng kêu cứu giùm họ nhưng không được đón nghe.
Trên cao nguyên, từ sau 1975 và nhất là từ 1986 trở đi, khi chính quyền cộng sản Việt Nam thi hành kế hoạch sản xuất cà phê xuất khẩu, nhiều công ty quốc doanh chiếm nhiều vùng đất tốt để lập đồn điền. Người Kinh từ đồng bằng sông Hồng và người sắc tộc thượng du miền Bắc cũng được ồ ạt đưa vào Tây Nguyên phá rừng, khẩn hoang để trồng cây cà phê. Ðất đai cổ truyền quanh những buôn làng sắc tộc Tây Nguyên teo hẹp lại theo số di dân lên cao nguyên miền Trung lập nghiệp ngày càng đông. Những vùng đất dọc các trục lộ giao thông, trong thung lũng hay cạnh sông ngòi lần lượt lọt vào tay những người mới đến, nhiều buôn làng mất hết đất canh tác phải dời vào những chốn rừng sâu để tái định cư.
Luật đất đai ban hành năm 1993 phá vỡ nếp sống cổ truyền và bần cùng hóa người gốc Tây Nguyên vì mỗi hộ ( nhà ) bất kể số nhân khẩu chỉ được canh tác tối đa ba mẫu (3 hecta) và với lối canh tác kém năng suất hiện nay (làm rẫy) mỗi gia đình không thể canh tác đủ ăn. Chỉ một số ít gia đình gốc Tây Nguyên sinh sống cạnh những thành phố lớn, là cán bộ hay công nhân các đồn điền cà phê, có mức sống cao hơn đồng hương ở những nơi xa xôi (lương trung bình khoảng 400.000 đồng/tháng), nhưng vẫn còn rất thấp so với người Kinh trong vùng.
Sau mười năm triệt để canh tác cà phê (1986-1996), Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất cà phê Robusta (canephora) hàng đầu trên thế giới với trên 210.000 tấn/năm (hay 3,5 triệu bao) và xuất khẩu cà phê Robusta đứng hàng thứ hai trên thế giới, sau Indonesia, với 190.000 tấn/năm (gấp ba lần năm 1990). Cũng nên biết cà phê Robusta chiếm 25% thị trường cà phê quốc tế sau cà phê Arabica.
Lợi tức do nghề trồng cà phê này mang lại trong thập niên 1990 khá cao, không những đủ bù đắp cho việc không trồng cây lương thực mà còn đem lại một cuộc sống sung túc cho người canh tác. Nhưng kể từ 1997 trở đi, thị trường cà phê quốc tế khựng lại, giá cà phê giảm liên tục cho tới ngày nay, lợi tức của nghề khai thác cà phê cũng giảm theo (giá một kí cà phê hột từ 20.000 đồng xuống còn 4.000 đồng).
Ðể bù đắp sự thiếu hụt này, những người canh tác cà phê gốc Kinh tìm thêm đất mới để trồng cây lương thực. Một phong trào khai hoang man dại đã diễn ra liên tục từ 1997 đến nay vẫn chưa chấm dứt mà nạn nhân là những dân làng gốc Tây Nguyên chất phác, bị lường gạt hay bị ép buộc nhường những vùng đất tốt cho những người khôn lanh hơn. Hậu quả hiển nhiên của những hành động này là nhiều buôn làng phải dời nơi cư trú cổ truyền vào những vùng đất kém màu mỡ trên các triền núi và chốn rừng sâu để sinh sống. Ðó là chưa kể cách thi hành những biện pháp hành chánh của chính quyền địa phương trong việc xây dựng và mở rộng đường sá, đất đai của những buôn làng gốc Tây Nguyên nằm dọc những đoạn đường được qui hoạch ngang qua bị trưng thu một cách tùy tiện và không được bồi hoàn xứng đáng. Hiện tượng này gián tiếp khuyến khích phong trào di dân đến lập nghiệp quanh các trục lộ giao thông mới, đẩy cộng đồng người gốc Tây Nguyên địa phương lùi sâu về phía rừng xanh. Trong chốn rừng sâu họ cũng không được yên thân, những công ty khai thác gỗ ngày đêm ra vào chở cây rừng đi bán, bất chấp sự bảo tồn hay bảo quản thiên nhiên và môi trường.
Những số tiền khổng lồ mà chính quyền cộng sản quảng cáo đã đổ ra trên cao nguyên không nhằm nâng cao mức sống người gốc Tây Nguyên mà để củng cố sự kiểm soát của nhà nước và tăng cường vai trò khống chế của những công ty cà phê quốc doanh trên toàn cao nguyên. Chỉ một vài nhóm người gốc Tây Nguyên lớn như Jarai, Rhadé và Bahnar mới đủ mạnh để chịu đựng sức ép này, những nhóm nhỏ hơn, sống rải rác trên khắp vùng đồi núi cao nguyên, chỉ biết cúi đầu chấp nhận số phận đen tối và tàn lụi dần theo thời gian.
Trước sự thua thiệt này, cộng đồng người gốc Tây Nguyên chỉ còn trông đợi sự cứu tế của các tổ chức thiện nguyện nhân đạo và tôn giáo quốc tế để tồn tại, nhưng tất đã đều bị chính quyền cộng sản Việt Nam cản ngăn nên sự giúp đỡ rất là nhỏ giọt, đôi khi không đến tay người cần giúp đỡ mà lọt vào túi các quan chức địa phương. Tại nhiều nơi, chỉ vì muốn giúp riêng cộng đồng người gốc Tây Nguyên mà nhiều tổ chức thiện nguyện quốc tế bị đình chỉ hoạt động, các cơ sở đã xây dựng đều bị trưng thu, chỉ những người gốc Tây Nguyên bị thua thiệt. Gần như tất cả các chính quyền địa phương không quan tâm đến sự sống còn của cộng đồng người gốc Tây Nguyên, họ chỉ biết chăm nom đời sống của chính cá nhân và gia đình họ.
Sức chịu đựng của người gốc Tây Nguyên đã đạt tới hạn tối đa. Ngày 8-8-2000 hơn 150 người Rhadé tại Ðắc Lắc bị cưỡng bách di trú sang một làng mới đã trở về tấn công di dân gốc Kinh đang cư ngụ trong làng cũ (Buôn Xer) của họ. Những cuộc xuống đường phản đối hồi đầu tháng 2-2001 vừa qua chỉ là khởi điểm của phong trào bất mãn đòi công lý, do chính quyền không đưa ra một giải pháp cụ thể để giải quyết sự thua thiệt của người gốc Tây Nguyên trước sức ép của những di dân mới.
Hai biện pháp cụ thể có thể thực hiện được là để cho các hội thiện nguyện quốc tế đến giúp đỡ và trả lại những vùng canh tác cổ truyền quanh các buôn làng gốc Tây Nguyên. Nhưng cho dù chính quyền cộng sản có nhượng bộ trên hai điểm vừa nói, vấn đề người gốc Tây Nguyên sẽ cũng không được giải quyết nếu không có một chính sách hội nhập đứng đắn, tôn trọng tiếng nói và chỗ đứng của họ trong lòng dân tộc Việt Nam.
Hai nguyên nhân vừa kể chỉ là phần nổi của một băng đảo đang cơn phẫn nộ, thực chất của vấn đề là danh dự của người gốc Tây Nguyên đã và đang bị chà đạp nặng nề. Trong gần 50 năm cộng cư với người Kinh, từ 1954 đến nay, chưa một chính quyền Việt Nam nào thực sự tôn trọng sự hiện hữu và thành tâm nâng cao mức sống của người gốc Tây Nguyên. Cộng đồng người gốc Tây Nguyên luôn bị coi là những thứ dân hạng hai, bị khinh khi và lợi dụng vì không cùng văn hóa và huyết thống với người Kinh.
Ðể tiếng nói và chỗ đứng của mình được tôn trọng, người gốc Tây Nguyên đã xử dụng đủ mọi biện pháp có thể xử dụng được, từ đấu tranh quân sự bạo động đến đấu tranh chính trị ôn hòa, từ can đảm đương đầu đến an phận cúi đầu, họ chỉ lãnh nhận những hậu quả tai hại của một quyết tâm đàn áp mạnh hơn của bất cứ chính quyền nào của người Kinh.
Chính vì không muốn bị diệt vong, từ 1956 người gốc Tây Nguyên tìm hậu thuẫn ở các thế lực phương Tây ( Pháp và Mỹ ) để được tồn tại, và dưới áp lực của các cường quốc này cộng đồng người gốc Tây Nguyên mới có một chỗ đứng vinh dự hơn, nhưng thời vàng son này đã không kéo dài lâu, chỉ được mười năm thì chấm dứt (từ 1964 đến 1975).
Dưới chế độ cộng sản, đa số những lãnh tụ gốc Tây Nguyên thuộc chính quyền miền Nam cũ đều bị bắt giam hoặc bị giết, những người còn lại phải trốn ra nước ngoài hay sống im lặng trong chốn rừng sâu. Những lãnh tụ gốc Tây Nguyên theo phe cộng sản, các ông Y Bih Aleo (phó chủ tịch Mặt Trận Giải Phóng miền Nam), Y Blok “ban (cựu chủ tịch ủy ban quan quản Buôn Ma Thuột vào tháng 3-1975), Y Niê Thuột (thượng tá thường vụ tỉnh ủy, chỉ huy trưởng bộ chỉ huy quân sự Ðắc Lắc), Ksor Phước (bí thư tỉnh ủy Gia Lai, bộ trưởng tài nguyên và môi trường, chủ nhiệm ủy ban dân tộc quốc hội), Y Vênh (chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Kontum)... bất lực trước sự bạc đãi của cán bộ người Kinh, chỉ biết im lặng và sống trong bóng tối. Hơn nữa mỗi khi xảy ra lỗi lầm nào do cán bộ gốc Kinh gây ra, thay vì kỷ luật những cán bộ gây ra lỗi lầm đó đằng này chính những cán bộ gốc Tây Nguyên đang công tác trong lãnh vực đó bị chế tài như trường hợp Ksor Phước cuối năm 2003 vừa qua.
Sự bất mãn của người gốc Tây Nguyên trước phong trào chiếm đất của người Kinh, có lý do chính đáng. Họ là những cư dân đầu tiên trên cao nguyên miền Trung, quyền làm chủ tự nhiên vùng đất này đã có từ lâu, nhưng ngày nay người gốc Tây Nguyên trở thành thiểu số và không có tiếng nói ngay trên chính quê hương của họ. Trước 1940, người Kinh chỉ chiếm 1% dân số trên cao nguyên, năm 1945: 5%, năm 1954: 15%, năm 1975: 32%. Năm 2000 người Kinh trở thành đa số với hơn bốn triệu dân, chiếm 72% dân số trên tổng số 5,8 triệu dân trên toàn cao nguyên miền Trung, toàn bộ cộng đồng người gốc Tây Nguyên chỉ còn tượng trưng 28% dân số.
Sự áp đảo về dân số và số lượng cũng còn có thể chấp nhận được vì họ trở thành thiểu số, nhưng điều mà người gốc Tây Nguyên không chịu đựng được là sự khinh miệt của người Kinh. Chỉ cần rảo mắt nhìn quanh, người ta dễ dàng phát hiện sự coi thường người gốc Tây Nguyên trong những quan hệ thường ngày. Trước các trạm bệnh xá, không bao giờ người Kinh chịu xếp hàng chung với người gốc Tây Nguyên; trong các trường học, trẻ em gốc Kinh không chơi với trẻ em gốc Tây Nguyên; trong chợ, thương gia gốc Kinh không chịu ngồi nơi nào có người gốc Tây Nguyên đứng bán. Khi vào cơ quan xin cấp giấy tờ hay bị xét hỏi ngoài đường, sự khinh miệt của những viên chức nhà nước không cần che giấu, họ cười cợt và chế giễu công khai trước sự ngây ngô của cư dân gốc Tây Nguyên.
Số người Kinh thực sự quan tâm đến sự sinh tồn của người gốc Tây Nguyên rất ít, đa số là những tu sĩ Công Giáo, Tin Lành và Phật Giáo, số còn lại là những chuyên gia sắc tộc, giáo viên và y sĩ trẻ. Hơn nữa, muốn giúp đỡ người gốc Tây Nguyên cũng không dễ dàng, những người thiện tâm bị ức chế đủ điều. Tại nhiều nơi, các đoàn thiện nguyện phải tổ chức cứu trợ “chui”, lén lút chở đồ cứu trợ ban đêm để tránh sự ngăn chặn của các toán công an địa phương và biên phòng, có như thế phẩm vật cứu trợ mới tới tay người cần. Khi bị phát hiện, những người cứu trợ bị trói, bất kể là tu sĩ hay dân thường, dẫn về đồn để tra khảo và đánh đập.
Người Kinh không được thông tin và giáo dục về sự hiện hữu của các cộng đồng sắc tộc thiểu số một cách lương thiện. Người gốc Tây Nguyên vẫn còn bị gọi là “man”, là “mọi”, hai ngôn từ cần phải xóa bỏ trong ký ức tập thể của người Việt Nam. Hai ngàn năm trước dân tộc Việt Nam đã tranh đấu với Trung Quốc để xóa bỏ danh xưng đầy miệt thị này, thì ngày nay người Kinh không nên gọi các dân tộc không cùng văn hóa bằng những danh xưng đó. Hiện nay chính quyền cộng sản dùng danh xưng “người dân tộc” để chỉ người gốc Tây Nguyên, nhưng trong những quan hệ thường ngày họ vẫn là những sắc dân “man, mọi” thường bị đối xử lỗ mãng và bất kính.
Sự khinh miệt người gốc Tây Nguyên càng kéo dài chỉ có hại vì phản ứng của người gốc Tây Nguyên rất khó lường trước. Tiêu cực thì họ rút vào rừng sâu sống biệt lập với người Kinh để rồi tuyệt tích; tích cực họ sẽ dùng bạo lực để tiếng nói và chỗ đứng được tôn trọng. Nếu phản ứng thứ hai này được xử dụng, cụm từ “đại đoàn kết dân tộc” hay “dân tộc Việt Nam” mất hết nội dung, và hậu quả biết trước là một cộng đồng dân tộc yếu kém hơn sẽ bị tiêu diệt, về văn hóa lẫn thể chất.
Vấn đề người gốc Tây Nguyên hiện nay cần phải đòi hỏi một giải pháp toàn bộ chứ không thể bằng những giải pháp cục bộ.
Notes:
(1) Ðê Ga, đúng ra phải viết Déga, ngôn ngữ Rhadé có nghĩa là “dân tộc miền núi, người cao nguyên".
(2) “Sự thật về cuộc gây rối mang màu sắc chính trị ở Tây Nguyên”, ra ngày 7/3/2001 và 14/3/2001.
(3) Ksor Kơk là cựu thành viên Fulro, hiện cư trú tại Hoa Kỳ.
TS. Nguyễn Văn Huy
(Ðại Học Paris VII)
12/04/09. 08:11:22 am. 24387 words, 1082 views. Categories: Không ðề, Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Lịch sử thế giới, Chiến tranh và hòa bình, Liên kết blogs, Lịch sử và ðịa dư Việt Nam, Ôn cố nhi tri tân, Xã hội và nhân văn ,