Archives for: April 2010, 07

TRUNG CỘNG TRANH CHẤP ĐẢO BẠCH LONG VĨ VỚI VIỆT NAM? - KIẾN NGHỊ XÂY ĐÀI TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ HY SINH TẠI HOÀNG SA - TRƯỜNG SA


Vùng biển quanh đảo Bạch Long Vĩ - RFA Screen capture

Trung Quốc tranh chấp đảo Bạch Long Vĩ với Việt Nam?
Ngọc Trân, thông tín viên RFA - 2010-04-07

Nghe Triết nói thì hay lắm nhưng không biết làm được gì. Sự thất tín và lật lọng của người cộng sản làm cho cả thế giới nghi ngờ tất cả những điều gì họ tuyên bố. Nói một đàng làm một nẻo là bản chất của văn hóa cộng sản. Thực tế chứng minh rằng cộng sản luôn làm ngược lại những điều họ tuyên bố: Thỏa thuận ngưng bắn trong các dịp Tết để tấn công quân dân miền Nam trong dịp Tết, ký hiệp định Paris tái lập lại hòa bình ở Việt Nam để công khai xâm lăng Miền Nam Việt Nam, miệng hô hào độc lập và quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ để đánh lừa nhân dân, âm thầm ký kết dâng đất dâng biển cho Trung cộng, ngày hôm trước công bố tin đổi tiền là thất thiệt để ngày hôm sau đổi tiền trên toàn miền Nam Việt Nam, ra lệnh đi "học tập cải tạo" để lùa vào bẫy nhốt tù quân dân cán chính miền Nam Việt Nam... ngút chỉ hàng chục năm trở lên, miệng tuyên bố chống áp bức bóc lột để tha hồ tham nhũng hối mại, bóc lột dân đen đến tận xương tủy, cán bộ nào to miệng nói "đạo đức cách mạng" nhiều nhất lại là những tên tham ô đồi trụy và tàn ác nhất... Vì vậy, phải rất thận trọng khi nghe những tuyên bố hay ho từ miệng của các lãnh đạo Việt cộng, không chừng đó là chỉ dấu rằng bên trong đã âm thầm ký kết với Trung cộng, biến Bạch Long Vĩ thành... "Khu kinh tế hữu nghị Việt Trung" để giải quyết tranh chấp với nước anh em trong tinh thần hữu nghị gắn bó lâu đời giữa 2 đảng và nhân dân 2 nước ruột thịt"!!! Hãy chờ xem thực hư đến đâu. Nếu lần này mà chính quyền Việt Nam nói thật và làm thật thì đó là chỉ dấu đầu tiên cho thấy Việt Nam đang từ bỏ chủ nghĩa cộng sản thực sự. Mong sao hồn thiêng sông núi và tổ tiên nòi giống Việt linh hiển, tống khứ cái chủ nghĩa ngoại lai vong bản cộng sản ra khỏi đất nước Việt Nam, để Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ quốc tế cộng sản hiện nay đang do Trung cộng lãnh đạo.

AHNT


Ảnh wikipedia - Chiến tranh Trung-Việt năm 1979 để lộ dã tâm của Trung cộng đối với Việt Nam. Việt cộng đã phạm một sai lầm lịch sử to lớn khi cho phép Trung cộng khai thác bâu-xít và đưa người vào Tây nguyên, cho Trung cộng và Đài loan khai thác rừng, và cắt nhượng đất biển cho Trung cộng. Lực lượng người Hoa làm gián điệp dẫn đường cho Trung cộng trong cuộc chiến Trung-Việt chưa đủ đông hay sao mà lại rước thêm bọn chúng vào. Những tên lãnh đạo của chế độ cộng sản Hà Nội và cái quốc hội bù nhìn nếu không bị Trung cộng mua chuộc thì là một bọn dốt nát về lịch sử, chỉ lo tham quyền cố vị, chỉ là một bè lũ bất tài, vô đức, phản bội tổ tiên và dân tộc. Chiến tranh giữa Trung cộng và Việt Nam là không thể tránh khỏi nếu không muốn gục mặt chịu nhục trước quân thù và làm nô lệ cho bọn Tàu phù. Mà cho dù có cam tâm làm nô lệ cho chúng đi nữa, thì tức nước vỡ bờ chịu không nổi, cũng phải đứng đậy mà đấu tranh để được sống: "Độc lập, tự do hay là chết".

Như chúng ta đã biết, Đảo Bạch Long Vĩ nằm trong Vịnh Bắc Bộ, thuộc thành phố Hải Phòng của Việt Nam. Vị trí đảo Bạch Long Vĩ được cho là rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, an ninh và quốc phòng ở khu vực Vịnh Bắc Bộ.

Thế nhưng, tin tức gần đây cho thấy có lẽ Trung Quốc đang tranh chấp với Việt Nam về hòn đảo này. Mời quý thính giả cùng Ngọc Trân tìm hiểu thêm.

Sơ lược về Bạch Long Vĩ

Đảo Bạch Long Vĩ là hòn đảo thuộc huyện Bạch Long Vĩ, trực thuộc thành phố Hải Phòng. Đảo này nằm giữa Vịnh Bắc Bộ, cách thành phố Hải Phòng khoảng 110 km, có diện tích khoảng 2,5 km² khi nước thủy triều lên cao và khoảng 4 km² khi thủy triều xuống thấp.


Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ra thăm nói chuyện với Thanh niên xung phong ở đảo Bạch Long Vĩ. Courtesy baotuyenquang online

Theo tin từ trang web của Huyện đảo Bạch Long Vĩ thì hòn đảo này có khoảng 80 hộ dân, với hơn 350 người đang sinh sống. Nhưng số người có mặt trên đảo thường nhiều hơn con số này cả chục lần, gồm các hộ gia đình, các doanh nghiệp, thanh niên xung phong và cán bộ nhà nước. Khách vãng lai cũng thường có mặt ở đây, đa số đến từ các tầu cá neo đậu xung quanh đảo, nếu tính cả khách vãng lai, dân cư trên đảo khoảng trên dưới 4.000 người. Ngoài ra, các đơn vị hải quân cũng có mặt trên hòn đảo này.

Lịch sử

Về lịch sử của hòn đảo Bạch Long Vĩ, theo hiệp ước ký kết giữa Pháp với nhà Thanh năm 1887, thì hòn đảo này thuộc về Việt Nam, lúc đó do chính phủ Pháp bảo hộ.

Trước đây, do không tìm được nguồn nước nên người dân không đến định cư ở đảo. Mãi đến năm 1920, sau khi tìm được nguồn nước ngọt, người dân Việt Nam đã chuyến tới sinh sống trên hòn đảo này bằng các nghề như: chăn nuôi, trồng trọt và khai thác thủy sản.

Đến năm 1937, vua Bảo Đại cho người tới đảo Bạch Long Vĩ lập đồn canh phòng. Sau đó, chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và quân Nhật đã ra Bạch Long Vĩ tước khí giới của quân lính Bảo Đại đang canh giữ ở đảo. Đến năm 1946, Pháp quay trở lại Đông Dương và tiếp tục khôi phục lại chế độ cai trị trên đảo.

Năm 1949, phe Quốc Dân đảng của Tưởng Giới Thạch đã thua trận, chạy ra Đài Loan và đến chiếm đảo Bạch Long Vĩ. Đến tháng 7 năm 1955, quân cộng sản Trung Quốc đổ bộ lên đảo, đánh đuổi quân Quốc Dân đảng ra khỏi đảo này.

Tháng 01 năm 1957, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tiếp nhận đảo và ra Nghị định số 49, quy định đảo Bạch Long Vĩ là xã trực thuộc Ủy ban Thành phố Hải Phòng. Nghị định này nhằm khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hòn đảo, cùng với vùng biển, vùng trời và thềm lục địa xung quanh đảo.


Vị trí của Bạch Long Ví (điểm màu vàng) RFA screen capture

Do chiến tranh nên từ năm 1965, trên đảo chỉ có các lực lượng vũ trang làm nhiệm vụ. Cho đến cuối năm 1992, chính phủ Việt Nam ra Nghị định thành lập huyện đảo Bạch Long Vĩ, thuộc thành phố Hải phòng và kể từ đó, lực lượng thanh niên xung phong cùng một số ngư dân đã được đưa ra sinh sống và làm việc tại hòn đảo này.

Bạch Long Vĩ trong Hiệp ước Vịnh Bắc Bộ

Theo Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ, ký ngày 25 tháng 12 năm 2000 giữa Việt Nam và Trung Quốc thì đảo Bạch Long Vĩ vẫn thuộc về Việt Nam.

Liên quan tới vấn đề này, trả lời phỏng vấn trên báo Nhân dân trước đây, ông Nguyễn Dy Niên, lúc đó là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao có nói: "Phần Vịnh phía Việt Nam có khoảng 2.300 đảo, đá ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền Việt Nam khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam Trung Quốc khoảng 130 km".

Ông Niên nói tiếp: "Theo Hiệp định, Việt Nam được hưởng 53,23% diện tích Vịnh Bắc Bộ và Trung Quốc được hưởng 46,77% diện tích. Đường phân định cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý, tức đảo được hưởng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 3 hải lý."

Và ông Lê Công Phụng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao cũng đã xác nhận điều này trong bài phỏng vấn đăng trên Tạp chí Cộng Sản hồi tháng 1 năm 2001 như sau: "Phần Vịnh phía ta có khoảng 1.300 hòn đảo ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền nước ta khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam, Trung Quốc, khoảng 130 km. Về diện tích tổng thể ta được 53,23% diện tích Vịnh, Trung Quốc được 46,77%, đường phân định cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý."

Diễn biến mới nhất

Thế nhưng mới đây, theo tin tức từ các cơ quan truyền thông trong nước và báo chí nước ngoài thì dường như Trung Quốc đang tranh chấp đảo Bạch Long Vĩ với Việt Nam.

Theo tin từ báo Việt Nam Net và báo Tuổi Trẻ, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ra thăm đảo Bạch Long Vĩ trong 3 ngày cuối tháng 3 và đầu tháng 4. Tại đó, ông Nguyễn Minh Triết đã khẳng định: "Dù là đảo nhỏ nhưng Bạch Long Vĩ là tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc và là hòn đảo tiền tiêu có ý nghĩa quan trọng cả về an ninh quốc phòng lẫn kinh tế - xã hội."

Ông Chủ tịch nhấn mạnh: "Đối với biên giới, lãnh hải, chúng ta luôn muốn hòa bình hữu nghị giữa hai dân tộc, giữa các dân tộc có biên giới với chúng ta, đó là mong muốn của nhân dân. Có hòa bình, hữu nghị thì nhân dân mới có cuộc sống ổn định, đó là thiện chí của cả dân tộc VN suốt hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Làm việc này trên cơ sở thương lượng, trao đổi, vận động, thuyết phục.

Không vì vậy mà để cho bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình. Khẳng định đây là chủ trương đúng đắn, quyết tâm không gì lay chuyển được của Đảng, Nhà nước. Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng."

Riêng báo chí nước ngoài, trong mấy ngày qua cũng có đề cập đến việc tranh chấp đảo Bạch Long Vĩ. Trong một bài báo đăng trên tờ EarthTimes ngày 2 tháng 4 với tựa đề “Lãnh đạo Việt Nam nguyện bảo vệ lãnh thổ trên Biển Đông”, có nhắc tới việc Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết được hai tàu hải quân hộ tống ra thăm đảo Bạch Long Vĩ. Bài viết có đoạn: "Việt Nam đã kiểm soát Bạch Long Vĩ từ năm 1957, nhưng một số viên chức Trung Quốc tranh chấp với Việt Nam về hòn đảo này."

Sau đó, một bài báo có tựa đề “Hà Nội để mắt tới lá bài Asean trên Biển Đông”, số ra ngày 4 tháng 4, trên tờ South China Morning Post, có 2 đoạn cũng nhắc lại việc tranh chấp hòn đảo Bạch Long Vĩ. Bài báo viết: … "Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết đi tới một hòn đảo đang tranh chấp để nói với các sĩ quan hải quân Việt Nam chuẩn bị “chiến đấu cho chủ quyền của tổ quốc trong bất kỳ tình huống nào”.

Và một đoạn khác trong bài báo viết rằng: "Hôm thứ sáu, ông Nguyễn Minh Triết đã tổ chức một chuyến viếng thăm hiếm hoi tới một căn cứ hải quân Việt Nam trên hòn đảo đang tranh chấp Bạch Long Vĩ giữa miền Bắc Việt Nam và đảo Hải Nam."

Qua các tin tức trên các phương tiện truyền thông trong nước và nước ngoài trong mấy ngày qua, có những điều bất thường về hòn đảo này. Phải chăng Trung Quốc đã muốn hòn đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam?


Tưởng niệm Anh hùng Tử sĩ Hoàng Sa tại Houston-Texas vào chiều 17 tháng 1 năm 2010 - RFA Photo

KIẾN NGHỊ XÂY ĐÀI TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ HY SINH TẠI HOÀNG SA - TRƯỜNG SA

Mặc Lâm, phóng viên RFA
2010-04-05

Còn ý thức hệ cộng sản trong não bộ của các nhà lãnh đạo Việt Nam thì không bao giờ đề nghị của tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ được chấp thuận cả. Ngược lại, nhà nước cộng sản Việt Nam sẽ âm thầm tiếp tục gởi người sang cúng tế đền thờ tên giặc Hán xâm lược Mã Viện hằng năm, và gởi phái đoàn sang dự lễ tưởng niệm "các chiến sĩ giải phóng quân Trung quốc đã hy sinh trong cuộc xâm lăng Việt Nam năm 1979". Ngày mà đài tưởng niệm các chiến sĩ VNCH hy sinh trong trận tử chiến Hoàng Sa được chính quyền cho xây dựng tại Việt Nam cũng là ngày đất nước và dân tộc Việt Nam bắt đầu thoát khỏi cái quốc nạn cộng sản. Không chừng nay mai gì đây ông Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ lại ôm chiếu vào nằm nhà tù cộng sản vì mấy cái đề nghị "yêu nước... nhưng phản động, vì không yêu chủ nghĩa xã hội, lại yêu Mỹ Ngụy!!!" v.v... Cứ nhin xem việc đàn áp tôn giáo và các nhà hoạt động dân chủ đang diễn ra, cũng thấy được tương lai không có gì khả quan lắm của ông Cù Huy Hà Vũ!

Hãy chờ xem!


AHNT

Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ vừa gửi một kiến nghị lên các cấp cao nhất của chính phủ VN, yêu cầu xây dựng đài tưởng niệm 58 binh sĩ quân lực VNCH đã hy sinh tại Hoàng Sa vào năm 1974.

Mặc Lâm có cuộc trao đổi với ông để biết thêm chi tiết về câu chuyện này.



Bày tỏ lòng biết ơn

Mặc Lâm: Thưa tiến sĩ, chúng tôi được biết ông vừa đưa ra môt kiến nghị rất đặc biệt yêu cầu nhà nước cho xây dựng một đài tưởng niệm các liệt sĩ đã bỏ mình trong cuộc chiến với Trung Quốc tại hai quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa năm 1988. Xin ông cho biết động lực nào đã thúc đẩy ông làm việc này, thưa ông?

TS Cù Huy Hà Vũ: Tổ Quốc Việt Nam là tổ quốc chung của mọi người Việt Nam bất kể quan điểm chính trị, bất kể trong triều đại phong kiến hay trong thời đại cộng hòa, bất kể trong giai đoạn hiện tại hay quá khứ. Tổ Quốc Việt Nam chỉ có một, cho nên việc bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam mà cha ông ta đã làm, là nghĩa vụ thiêng liêng của mọi công dân Việt Nam.

Trước tình hình hiện nay, Việt Nam đang bị Trung Quốc đe dọa xâm lăng, đe dọa thôn tính bằng vũ lực, mối đe dọa này là hiện hữu. Ngoài chuyện năm 1974, Trung Quốc đã cho quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa mà lúc đó do Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa làm nhiệm vụ trấn giữ thì sau năm 1975 đến năm 1988, Trung Quốc lại cho hải quân đến đánh chiếm quần đảo Trường Sa và tất nhiên vấp phải sự chống cự rất là mãnh liệt của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Trung Quốc cũng không có thể chiếm toàn bộ như đã chiếm Hoàng Sa vào năm 1974 nhưng họ cũng đã chiếm đảo Gạc-ma ở quần đảo Trường Sa đó.

Cho đến hiện nay, như chúng ta đã thấy, Trung Quốc gia tăng áp lực đối với Biển Đông của Việt Nam. Mọi tàu thuyền đánh cá của chúng ta đi ra những vùng thuộc chủ quyền của chúng ta, như ở quần đảo Hoàng Sa, đều bị Trung Quốc bắt giữ, đòi tiền chuộc, thậm chí họ còn có hành vi có thể nói là xúc phạm đến nhân phẩm lẫn thể xác của ngư dân chúng ta.

Mặc Lâm: Với sức mạnh của Trung Quốc như vậy thì liệu người Việt làm gì hơn được, thưa tiến sĩ?

TS Cù Huy Hà Vũ: Bây giờ có một lực lượng duy nhất, thế lực duy nhất có thể bảo vệ được nền độc lập của Việt Nam, bảo vệ được sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đó chính là chủ nghĩa yêu nước, đó là tinh thần dân tộc của người Việt từ ngàn xưa. Để mà kêu gọi được tinh thần đó thì chúng ta phải biết công trạng của các liệt sĩ đã hy sinh để bảo vệ, để xây dựng và bảo vệ lãnh thổ Việt Nam mà hiện chúng ta đang có.


Bích chương của Trung Quốc nói về trận chiến ở Hoàng Sa 1974. Photo courtesy of Wikipedia

Mặc Lâm: Xin tiến sĩ cho biết cụ thể đài tưởng niệm mà ông đề nghị sẽ ghi công cho những ai?

TS Cù Huy Hà Vũ: Liên quan đến lãnh thổ Việt Nam ở trên biển hiện giờ đang là vấn đề gay cấn nhất thì chúng ta có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vào ngày 19-1-1974 Trung Quốc đã cho quân đánh chiếm Hoàng Sa. Đã có 58 binh sĩ thuộc lực lượng Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu và anh dũng hy sinh. Họ dũng cảm nhưng thế và lực lúc đó của Trung Quốc mạnh hơn nên đã chiếm được toàn bộ.

Thế rồi đến năm 1988 Trung Quốc tiếp tục cho hải quân đánh chiếm vùng Trường Sa, với sự chiến đấu dũng cảm của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam nên Trung Quốc không thể chiếm đóng được nhiều và họ chỉ chiếm đảo Gạc-ma. Hải Quân Nhân Dân Việt Nam cũng đã có 64 chiến sĩ hy sinh anh dũng để bảo vệ nền độc lập Việt Nam. Để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, hơn lúc nào hết, cần phải có tinh thần tích cực, cần phải có chủ nghĩa yêu nước.

Đặc biệt, trước sự đớn hèn của chính phủ Việt Nam, để mà khơi dậy lòng yêu nước của người Việt thì trước hết phải thể hiện lòng biết ơn đối với các liệt sĩ đã ngã xuống cho sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

Vì thế, tôi kiến nghị các cơ quan có trách nhiệm của nhà nước Việt Nam xây dựng cái tượng đài gọi là "tưởng niệm liệt sĩ hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Hoàng Sa - Trường Sa" với cái ý ban đầu là hãy tỏ lòng biết ơn các liệt sĩ. Từ đó mới có thể kêu gọi những người đang sống tiếp tục ngọn cờ yêu nước mà bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

Khơi dậy lòng yêu nước

Mặc Lâm: Có một trở ngại mà ai cũng thấy, đó là làm sao để cho nhà nước Hà Nội nhìn nhận những binh sĩ VNCH là những liệt sĩ khi họ đã từng cầm súng chống lại Miền Bắc trong thời gian chiến tranh Việt Nam, thưa ông?

TS Cù Huy Hà Vũ: Trải qua mấy chục năm chinh chiến, dù có nói gì thì Miền Bắc có sự giúp đỡ của phe cộng sản như là Trung-Xô, hay là Miền Nam có được sự hỗ trợ hay là sự can thiệp trực tiếp của người Mỹ. Dù gì chăng nữa thì cũng vẫn là một cuộc nội chiến, một cuộc nội chiến gây đầu rơi máu chảy, cũng như cuộc nội chiến Nam-Bắc phân tranh thời nhà Nguyễn chẳng hạn. Chuyện đấy thuộc về lịch sử, chúng ta cũng không cách gì tránh được.

Mặc Lâm: Thưa tiến sĩ, điều gì làm cho ông tin rằng nhà nước phải chấp nhận kiến nghị của ông ạ?

TS Cù Huy Hà Vũ: Từ 1975 đến giờ như vậy là 35 năm rồi thì tôi cho rằng là không có lý gì vẫn căn cứ vào cái hệ tư tưởng để tiếp tục gây hận thù, kể cả trong các thế hệ họ chưa bao giờ biết đến chính cuộc chiến tranh Việt Nam. Cũng nhân kiến nghị xây dựng tượng đài tưởng niệm liệt sĩ hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Hoàng Sa - Trường Sa, tất nhiên tôi viện lý do đầu tiên là khơi dậy chủ nghĩa dân tộc, khơi dậy tinh thần yêu nước của người Việt Nam để khuyến khích tất cả mọi người Việt Nam xông tới để bảo vệ Tổ Quốc, còn có lý do thứ hai là chúng ta phải thực sự đi những bước đầu tiên để hòa hợp tất cả những người Việt Nam.


Lễ tưởng niệm các chiến sĩ hy sinh trong trận chiến Hoàng Sa năm 1974, diễn ra ở Westminster-California. Photo courtesy of thangtien.de

Chúng ta không bỏ qua quá khứ, có những cái trong quá khứ cần phải xem xét thì chúng ta vẫn cứ phải tiếp tục xem xét, nhưng cái đó không phải là quan trọng nhất trong thời điểm hiện nay, mà quan trọng là chúng ta phải đoàn kết lại để bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam. Và chính vì thế tôi thấy là những chiến binh thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh vì Tổ Quốc Việt Nam thì phải được công nhận là liệt sĩ.

Không có lý do gì mà nhà nước Việt Nam hiện nay, hay nói một cách cụ thể hơn là nhà nước cộng sản Việt Nam hiện nay lấy cái lý do phân biệt giữa hai thể chế chính trị mà không công nhận, thì tôi cho đấy là sự bội phản với xương máu của những công dân Việt Nam đã hy sinh vì Tổ Quốc.

Mặc Lâm: Xin được hỏi tiến sĩ câu cuối, bản kiến nghị đã được ông gửi cho những ai, thưa ông?

TS Cù Huy Hà Vũ: Tôi đã gởi kiến nghị tới Quốc Hội Việt Nam, tới Chủ Tịch Nước Việt Nam, tới Thủ Tướng Việt Nam. Ngoài ra, tôi gởi cho một số những nhân vật với tính cách cá nhân, ví dụ Tổng Bí Thư Đảng CSVN, Chủ Tịch Quốc Hội VN chẳng hạn, là yêu cầu phải sớm thực hiện đài tưởng niệm liệt sĩ đó.

Mặc Lâm: Xin cám ơn TS Cù Huy Hà Vũ đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.

THÁNG TƯ, ĐỌC BÀI VIẾT CŨ: SAU BA MƯƠI NĂM QUỐC HẬN, TÌM HIỂU SỰ THẬT VỀ ÐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH TRONG CUỘC CHIẾN ÐÔNG DƯƠNG II (1955-1975)

Đường mòn Hồ chí Minh. Việt cộng từ đất Lào và Cao Miên liên tục xua quân xâm lăng miền Nam Việt Nam, với bản chất dối trá, gian manh và lừa đảo, chúng trắng trợn xé bỏ tất cả mọi hiệp ước mà chúng đã ký kết. Khi nào cộng sản còn thì dân tộc Việt Nam phải nhớ nằm lòng câu nói này của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: "Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những việc cộng sản làm!" - Ảnh: PSYOP

THÁNG TƯ, ĐỌC BÀI VIẾT CŨ: SAU BA MƯƠI NĂM QUỐC HẬN, TÌM HIỂU SỰ THẬT VỀ ÐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH TRONG CUỘC CHIẾN ÐÔNG DƯƠNG II (1955-1975)
Source: greenspun's archives

MƯỜNG GIANG
Tết 2005

Một năm sau ngày miền Nam bị cưỡng chiếm, phái đoàn Bắc Việt do Trường Chinh đại diện và Ðảng Bộ Việt Cộng miền nam tức Mặt Trận Giải Phóng MN, dưới quyền Phạm Hùng, đã chính thức họp tại Sài Gòn, để khai tử cái Mặt Trận “ MA “, được Hà Nội dàn dựng và khai sinh từ ngày 20-12-1960, nhằm lường gạt dư luận thế giới và dân chúng trong nước, qua âm mưu thôn tính VNCH. Cũng từ đó (1976), cái gọi là con đường huyền thoại Hồ Chí Minh, tức đường mòn Trường Sơn với bí danh 559A, hành lang để Hà Nội chuyển tiếp liệu, quân dụng và người vào Nam, từ năm 1959 tới ngày 30-4-1975, cũng bị đảng nhận chìm trong quên lãng.

Bắt đầu từ năm 1989 tới 1991, đã có nhiều biến cố chính trị quan trọng xảy ra tại Ðông Âu. Ðó là việc các nước chư hầu, lần lượt từ bỏ xã hội chủ nghĩa, kéo theo sự sụp đổ và tan rã của Liên Bang Xô Viết. Ðể cứu đảng khi đã mất cái dù che của Nga, Việt Cộng lại ngả về Tàu, đồng thời mở khẩu đổi mới, trải thảm đỏ, mời Hoa Kỳ, Nhật và Tây Phương vào làm ăn buôn bán. Nhờ vậy lớp son phấn che kín bản mặt thật của đảng, dần hồi bị xói mòn, bởi các tệ trạng tham nhũng, cướp bóc nơi cửa quyền và nhất là sự kiện đảng công khai bán nước cho ngoại bang, hèn nhục để cho dân mình bị Tàu Cộng bắn giết trên biển mới xảy ra vào tháng 1-2005, đã làm cho cả nước không còn hãi sợ và tin Việt Cộng, kể cả một số không ít trí thức khoa bảng NamVN trước đây, từng tin đảng là chính nghĩa, làm cách mạng chỉ để giải phóng đất nước bị Mỹ-Ngụy kềm kẹp bóc lột.

Ðể bảo vệ đảng cũng như quyền lợi của chóp bu đang hồi tiến nhanh tiến mạnh, Hà Nội lại lùi một bước, quay về với chiến lược cũ rích năm nào. Ðó là dùng lịch sử để lường gạt đồng bào và Việt kiều thêm lần nữa. Ðảng đem những huyền thoại trên trời dưới biển năm nao, ra hâm nóng lại tinh thần yêu nước là “ yêu nước xã hội chủ nghĩa “ của cán bộ đảng viên, đang bị phân hoá lung lay niềm tin tới tận gốc, vì giành ăn, tranh quyền và ganh tị lẫn nhau bởi “ trâu cột ghét trâu ăn “. Ngoài ra, đảng cho trùng tu lại các di tích chiến tranh, như Ðịa đạo Vĩnh Mốc ( Vĩnh Linh-Quảng Trị ), Củ Chi (Hậu Nghĩa), cũng như tái tạo lại con đường mòn Hồ Chí Minh. Công tác trên vừa có tính cách xoa dịu tự ái của những đảng viên bộ đội già bị vắt chanh bỏ vỏ, sau khi tàn chinh chiến. Ðồng thời lần nữa lừa bịp cũng như móc túi bọn du khách ngoại quốc, trong đó có không ít Việt Kiều trí thức Miền Nam ngày xưa trốn quân dịch, nên có bao giờ biết cũng như nếm được mùi chiến tranh bom đạn, và đám da trắng giàu có đa sự. Bọn này rất muốn biết và nhìn tận mắt con đường mà Hoa Kỳ, nói là đã oanh tạc một số bom đạn, nhiều hơn số lượng đã xử dụng trong thời đệ nhi thế chiến nhưng vẫn không ngăn nổi người và quân dụng Bắc Việt vào Nam. Việc đẻ ra kế hoạch “ mười năm du lịch “ 1995-2005 “ của Võ văn Kiệt tại nghị định số 307 ngày 24-5-1995, cũng là một trong những sự sao y bản chánh của Trung Cộng, vì thấy Ðặng tiểu Bình đã thành công, khi xây dựng các khu du lịch và công nghiệp tại Thẩm Quyến, Hải Nam, Thượng Hải... Từ đó Hà Nội đã bất chấp thực tế, vẫn hồng hơn chuyên, bỏ hằng tỷ bạc ngân sách quốc gia, để xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất và thành phố Vạn Tưởng, tại Quảng Tín-Quảng Ngãi, trước sự mai mỉa cười chê của thế giới. Khắp nước nơi nào cũng tổ chức các tour du lịch, để hốt bạc và tuyên truyền bộ mặt son phấn mới của VN xã nghĩa. Ngay chốn khỉ ho cò gáy như miền giới tuyến năm nào trong tỉnh Quảng Trị, cũng có một tour du lịch, từ Cửa Việt lên tới Khe Sanh, Tà Cơn, Cầu Treo DakRong, ngã ba QL9 và đường mòn HCM, gọi là The Demilitarized Zone tour, thường viết tắt là D.M.Z. Mục đích để đảng quảng cáo các chiến lợi phẩm thời chiến tranh và cái gọi là nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, mà theo thân nhân của người quá cố, trong hòm chỉ có cát-đất mà thôi. Có đọc trường thiên ký sự “ Ðường đi không tới “ của nhà văn VC hồi chánh là Xuân Vũ, hay đã làm lính VNCH, mới cảm nhận được cái ý vị khổ nhục cùng tận của cuộc chiến Ðông Dương lần 2 (1955-1975), do Ðệ tam quốc tế cọng sản chủ xướng, qua vai trò tên lính tiền phương đánh mướn là Việt Cộng. Trong cuộc chiến vô nghĩa phi lý này, mặt trận tại Trường Sơn, đã là mồ chôn hằng vạn tử sĩ của cả hai phía. Những địa danh như Dốc pháo cụt, Ðồi không tên, Sông A-Vương, Lũng Giằng, Khe Sanh, Dakto, A-Shau, Ia-Drang, Pleime, Ðức Cơ... ra tận miền Bắc, càng lúc càng trở nên khốc liệt, khi nó chính thức trở thành con đường chiến lược để Bắc Việt xâm lăng VNCH. Suốt thời gian chiến tranh, Võ Nguyên Giáp qua tư cách Ðại Tướng tổng tư lệnh quân đội VC, đã từng tuyên bố với báo chí quốc tế, là hắn sẽ đốt rụi Trường Sơn, dù phải đem giết hết thanh niên nam nữ miền bắc. Cho nên không lạ khi thấy Xuân Vũ nói “ mạng người lá rụng “, để viết về thảm kịch Ðường Ði Không Tới, của một số cán binh bộ đội hồi kết năm nào.

Tháng 11-1997, Võ nguyên Giáp khoe thành tích Bát Quái Ðồ, tức là đường Trường Sơn 559, do Ðinh Ðức Thiện và Ðồng Sĩ Nguyên lần lượt chỉ huy suốt cuộc chiến từ 1960-1975. Ngày xưa thế giới đui mù vì bị bọn trí thức khoa bảng, cha-sư miền nam tuyên truyền lật lọng, nên chẳng bao giờ thấy được hình ảnh bộ đội cọng sản “ sinh bắc tử nam “, khi ồ ạt vượt vĩ tuyến 17, vào đường mòn HCM, để tấn công cưỡng chiếm Miền Nam thanh bình no ấm, như họ đã thấy tại bán đảo Triều Tiên, vào tháng 6-1950, qua cuộc chiến Cao Ly. Nhưng biết sớm hay muộn cũng giống nhau, vì ngày nay trên khắp nẻo đường Trường Sơn năm cũ, từ Bắc Việt vào tới Phước-Bình Long, hằng ngày đã có hằng vạn nguời Việt, đói rách bị chĩa súng có gắn mã tấu sau lưng, để bắt họ làm nghĩa vụ lao động. Cũng qua cái hình ảnh đau thương này, đã làm cho mọi người trong cuộc của cả hai phía, chợt nhớ tới những cô gái Trường Sơn năm nào, luôn mỏi ngóng các chàng lính trận có lần đã đi vào con tim của họ. Ðể rồi từ đó tới nay, tuổi xuân tháp cánh lưng trời, mà bóng ai vẫn biền biệt, như cái huyền thoại Trường Sơn, thật sự đã chết trong tâm tư đồng bào sơn cước, khi họ bị VC cướp đất, lừa bịp... sau khi đất nước đã có hòa bình.

"mai về quê mẹ, lên biên giới

thăm lại Trường Sơn thuở kiếm cung

rừng núi vẫn xanh màu khát vọng

chỉ ta hờn tủi, kiếp tha hương ...”


1- Bối cảnh lịch sử có liên quan tới chiến cuộc Ðông Dương lần thứ 2 (1955-1975):

Ngày 7-5-1954 Ðiện Biên Phủ thất thủ, nước VN tạm thời bị chia cắt thành 2 miền riêng biệt, với 2 thể chế khác nhau, do cái gọi là tứ cường Liên Xô, Anh, Pháp và Trung Cộng tự ý quyết định số phận của đất nước và dân tộc VN, tại bàn hội nghị Genève ( Thụy Sĩ ). Hoa Kỳ lúc đó là đồng chủ tịch nhưng vì một lý do gì đó, nên không ký vào biên bản. Từ đó, Bắc Việt do Hồ Chí Minh lãnh đạo, công khai theo chế độ cọng sản và là chư hầu của Nga-Tàu. Miền Nam chọn chính thể Cọng Hòa. Hai miền VN lấy vĩ tuyến 17, cũng là con sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị, làm ranh giới tạm chia. Theo tinh thần hiệp ước đình chiến, quân viễn chinh Pháp phải rút hết về nước, còn VC trong mặt trận Việt Minh tại miền Nam, cũng phải tập kết ra bắc.

Từ khi chính thức làm trùm nửa nước, Hồ Chí Minh và đảng VC, theo chân Mao Trạch Ðông, phóng tay phát động phong trào cải cách ruộng đất năm 1956, làm cho hằng vạn người dân vô tội tại miền bắc bị đấu tố chết thảm thương, trong số này hầu hết đều có công với nước hay với đảng trong chín năm kháng chiến chống Pháp. Nội vụ được giấu kín hay được bọn trí thức khoa bảng da trắng thân cộng như G.Kolko, tác giả quyển “ VN Anatomy of wars 1940-1975 “ tuyên truyền hoàn toàn trái ngược với sự thật.

Trong khi đó, tình hình chính trị của miền Nam từ A tới Z, bị bọn trí thức thân cộng trong và ngoài nước, moi móc, bịa đặt đủ điều vớí mục đích làm mất chính nghĩa quốc gia của người miền Nam, trong lúc đang chiến đấu chống lại sự xâm lăng của đệ tam quốc tế. Tại VNCH, những năm đầu tiên, TT Ngô Ðình Diệm đã gặp rất nhiều khó khăn, trong việc đương đầu với với các Giáo phái và lực lượng Bình Xuyên. Lợi dụng giậu đổ bìm leo, VC nằm vùng tại miền Nam đã phát động các cuộc nổi loạn võ trang, gọi là đồng khởi tại Trà Bồng (Quảng Ngãi), Bắc Ruộng (Bình Thuận) và Mỏ Cầy (Bến Tre), song song với các vụ khủng bố, ám sát đồng bào và viên chức xã ấp khắp nơi nhưng cuối cùng mọi hành động phá rối của VC đều thất bại. Theo hầu hết các nguồn sử liệu còn lưu trữ, cho biết tình hình chính trị tại VNCH, vào những năm 1956, 1957, 1958 rất khả quan từ Sài Gòn cũng như các tỉnh, nơi thị tứ cho tới chốn quê làng, đâu cũng vui sống cảnh thanh bình no cơm áo ấm. Nhờ vậy TT Ngô Ðình Diệm cũng như Chính Phủ Miền Nam, lúc đó đã gây được uy tín rất lớn trên thế giới.

Trước tình hình nguy ngập đó, Hồ Chí Minh đã phải gọi Lê Duẩn, lúc đó đang làm xứ bộ trưởng, chỉ huy cán bộ nằm vùng tại miền Nam, trở ra Bắc, để duyệt xét lại kế hoạch cưỡng chiếm VNCH bằng vũ lực, thay vì kỳ vọng vào cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước như Hiệp định Genève 1954 đã qui định, mà VNCH không chịu thi hành, vì không hề ký vào biên bản hiệp ước trên. Trong phiên họp lần thứ 15 của Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng, khai diễn ở Hà Nội vào tháng 1-1959, quyết định thành lập Lực Lượng Vũ Trang tại Miền Nam. Kế tiếp ngày 5-10-1960, đảng lại họp Ðại Hội 3 cũng tại Hà Nội, để thành lập Ðảng Bộ Cọng Sản Miền Nam, qua danh xưng “ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam “, làm cánh tay nối dài, vừa là bình phong, vừa tạo công cụ xâm lăng cho Bắc Việt. Ðúng như Lê Duẩn đã tuyên bố “ Ðó là chiến lược bảo đảm thắng lợi hoàn toàn cho cuộc cưỡng chiếm miền Nam, dưới sự lãnh đạo của đảng Mác-Lê và giai cấp công nông “. Tóm lại theo chủ trương của Hà Nội, Ðảng Bộ CS miền Nam, tức MTGPMN, phải hành động theo ba mục tiêu chiến lược: 1- Ly gián đồng bào và chính quyền VNCH. 2- Ðánh lừa dư luận thế giới về cuộc xâm lăng của miền Bắc, trở thành cuộc nội chiến tại miền Nam. 3- Tuyệt đối phải tuân theo các chỉ thị của đảng, do miền Bắc lãnh đạo, Mặt trận miền Nam chỉ thừa hành, theo đúng chính sách đề cương trong khối xã hội chủ nghĩa quốc tế. Nên tới nay, dù được gọi bằng danh từ gì chăng nữa như Cục R, Ðảng bộ CS Miền Nam, Mặt Trận GPMN... thì cũng chỉ là “ Mặt trận mốc xì, đảng ta đó “ qua lời tuyên bố trơ trẽn của Lê Ðức Thọ tại Ba Lê, sau khi vừa ký xong với Kissinger trên tờ hiệp định ngưng bắn năm 1973.

MTGPMN được hợp thức hóa vào cuối tháng 12-1960 tại một căn cứ của VC, nằm cách biên giới Việt-Miên chừng 7km. Ðây là khu rừng già nằm kế cầu Cần Ðăng, trên con đường đá đỏ Trà Băng, Trại Bí, Xóm Mới, Sóc Ông Trang... thuộc tỉnh Tây Ninh. Buổi lễ được đặt dưới quyền chủ tọa của Sáu Vi, bí danh của đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ủy viên bộ chính trị, bí thư trung ương đảng, nguyên phụ trách vấn đề nông dân và thanh niên miền bắc. Mặt trận có mười nhân vật khoa bảng miền Nam, đang đối lập chính trị với VNCH, gồm Nguyễn Hữu Thọ (đang bị giam tại Củng Sơn-Phú Yên, vì tội hiếp dâm, được VC giải thoát ), Trương Như Tảng, Dương Quỳnh Hoa, Phùng văn Cung, Ưng văn Kỳ... Bọn này hầu hết thuộc thành phần địa chủ, phú gia thời Pháp thuộc, được VC nằm vùng là Huỳnh tấn Phát móc nối dụ dỗ. Tất cả được Hà Nội đem ra làm bung xung che mắt thiên hạ nhưng đầu não lãnh đạo, vẫn do Lê Duẫn, Lê Ðức Thọ, Phạm Hùng, Trần văn Trà, Nguyễn Chí Thanh... quyết định theo đúng chính sách của Hà Nội đã nghị quyết. Cũng từ đó, Nguyễn Hữu Thọ được phong hàm chủ tịch Mặt Trận, mở đầu cuộc chiến xâm lăng Miền Nam bằng vũ lực.

Tại Miền bắc, Hồ Chí Minh ban lệnh hồi kết, hàng chục ngàn cán binh bộ đội trở về Nam, để thành lập “ Quân Giải Phóng “ do Trần Văn Trà làm tư lệnh. Một số lớn Hoa kiều sống tại Hải Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Thanh Hóa... cũng được vào Nam, cùng một số Hoa Kiều thân cộng, đang do Tư Méo, tức Trương Gia Triều, bí danh Trần Bạch Ðằng chỉ huy, để trà trộn, tuyên truyền gây rối trong cộng đồng người Hoa miền Nam. Ðồng thời con đường mòn giao liên cũ, từ miền bắc vào Liên Khu 5, do đại tá Nguyễn Thông, bí danh của trung tá Nhật Ishitako, mở năm 1947, cũng được đảng giao cho Hai Xe Ngựa tức đại tá Võ Bẳm, nối lại, để trùng tu vào năm 1959. Ðây là con đường chiến lược Liên Việt, tức là đường mòn Trường Sơn hay Hồ Chí Minh, mang bí danh 559A. Sau khi Phạm văn Ðồng nhân danh thủ tướng nước VNDCCH, theo chỉ thị của đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, ký xác nhận quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa thuộc Trung Cộng vào năm 1958, thì Hà Nội được Tàu Cộng, giúp phương tiện mở thêm một đường dây trên biển Ðông với bí danh 559B hay 759, chuyển quân dụng và bộ đội từ bắc vào nam bằng đường thủy. Theo Ðồng văn Cống, từng phụ trách đường dây 559B từ 1959-1968, thì việc tổ chức hai con đường bí mật trên, chỉ có Hồ Chí Minh, Phạm văn Ðồng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Ðức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng và Trần văn Trà, biết mà thôi. Còn những người khác chỉ thừa hành theo lệnh, kể cả Nguyễn Chí Thanh, Trần Ðộ, Trường Chinh...


Đường mòn Hồ chí Minh, khu vực màu vàng lợt là hành lang xâm nhập từ Lào và Cambodia, đường màu vàng đậm là đường mòn Shihanouk kéo dài xuống cảng Shihanouk Ville. Bản đồ cho thấy Việt cộng dùng Miên và Lào làm bàn đạp xâm lăng miền Nam Việt Nam - Ảnh wikipedia

2- Ðường Mòn Hồ Chí Minh:

Sự thật, những chuyện đã xảy ra hằng ngày , trên đường mòn HCM, tức là hành lang xâm nhập người và quân dụng, từ Bắc vào Nam của cọng sản Hà Nội, đối với Hoa Kỳ và VNCH, không phải là huyền thoại hay bí mật ghê gớm, vì những gì xảy ra ở đó, qua phi cơ thám thính và các toán Biệt Kích hoạt động, họ gần như biết đủ. Có chăng là sự lạ lùng, vì ai cũng biết VC là kẻ chủ mưu gây nên cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2, chứ không phải là nội chiến. Ngoài ra cuộc xâm lược qui mô đều phát xuất từ đường mòn Trường Sơn, tiếp diễn liên tục đêm ngày không bao giờ gián đọạn. Thế nhưng quân lực Hoa Kỳ, Ðồng Minh và ngay cả VNCH, cũng bị chính phủ Mỹ tại Hoa Thịnh Ðốn, ra lệnh giới hạn trong lúc chiến đấu với VC, theo qui định tại nhiều điểm, được gọi là “Luật Chiến Ðấu - Rules of Engagement“. Ngoài ra cũng không được tấn cộng hậu phương miền bắc, để tránh sự đụng độ quân sự với Trung Cộng, như đã xảy ra năm 1950, tại chiến cuộc Cao Ly.

Năm 1985, sau mười năm chấm dứt cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2, Bộ Quốc Phòng Mỹ mới cho phép giảm độ mật, khi cho Congressssional Record phổ biến hạn chế, cái gọi là “Luật Chiến Ðấu tại VN“ qua 26 trang tóm tắt, trong đó có liên quan tới đường mòn Hồ Chí Minh. Cũng nhờ vậy, ta mới biết được nhiều điều thật vô lý, chỉ có siêu cường Mỹ mới có. Chẳng hạn như trong luật chiến đấu, có điều 3 cấm không quân Mỹ giội bom các quân xa VC, nếu chúng ở cách đường mòn HCM 200m. Ðiều này giúp cho quân xa Bắc Việt an toàn khi chúng lái xe trên đường mòn Trường Sơn, lúc nghe máy bay Mỹ oanh tạc, chỉ cần lái xe ra khỏi vị trí 200m, là hết chuyện. Còn điều 6 thì cấm quân Mỹ truy kích VC, nếu chúng rút qua biên giời Lào hay Kampuchia. Biết vậy, nên hầu hết các căn cứ của Bắc Việt, kể cả cục R đều được lập sát hay bên kia biên giới, nên rất an toàn. Do trên, các cuộc hành quân vượt biên mang tên Toàn Thắng, vào năm 1970 tại Miên hay hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào, vào thời TT Nixon, đã bị đảng Dân Chủ Mỹ thân cộng, căn cứ vào luật chiến đấu, la ó phản đối dữ dội. Cuối cùng tại Quốc Hội, cũng cái đám nghị sĩ-dân biểu đảng Dân Chủ Hoa Kỳ, ra luật cấm quân lực Hoa Kỳ hành quân vượt biên khỏi Nam VN. Những bí mật nhỏ nhoi trên, chỉ là một trong muôn ngàn điều bật mí sau này, cũng là lý do, khiến cho Mỹ cũng như VNCH, dù đã nỗ lực và hao tốn không biết bao nhiêu tiền bạc, xương máu nhưng cuối cùng vẫn không ngăn nổi cuộc tiến quân của Bắc Việt, trên đường mòn HCM. Theo Ðồng Sĩ Nguyên, phụ trách Binh Ðoàn 559A từ tháng 12/1966 tới tháng 4/1975, thì đơn vị này có gần 2000 xe vận tải và 4 binh trạm, với nhiệm vụ tải người và quân dụng từ miền Bắc vào Nam. Quân số của Binh đoàn 559A trên 120.000 người, gồm 10.000 thanh niên xung phong, 1 sư đoàn cao xạ phòng không của Bộ TTM/VC tăng phái và tám sư đoàn vận tải, chiến đấu trực thuộc. Sau ngày ký hiệp định ngưng bắn 1973, cọng sản Bắc Việt bãi bỏ giai đoạn gùi thồ đường đất và binh trạm, mà công khai chuyển quân từ bắc vào nam, mỗi lần cả sư đoàn tới binh đoàn, kể cả tăng-pháo, trước sự bất lực của VNCH khi Hoa Kỳ đã phủi tay về nước. Do trên cuộc hành trình chỉ mất 12 ngày, thay vì 4 tháng như trước, nên VC lúc nào cũng đủ quân số và quân dụng, vì có cả một núi người sẵn sàng “ sinh bắc tử nam “, cũng như các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhất là Trung Cộng, hết lòng chi viện. Trong lúc đó, VNCH chiến đấu với cả khối cọng sản đệ tam quốc tế trong cô đơn nơi chiến trường, đã vậy còn bị bọn cốt người mà óc khỉ tại hậu phương, công khai đâm hùa trí mạng. Chiến đấu trong hoàn cảnh thê thiết như vậy, không mất nước mới là chuyện lạ?

A - ÐƯỜNG MÒN TRƯỜNG SƠN:

Hầu hết con đường chiến lược HCM đều nằm trên rặng Trường Sơn, kể cả tuyến xuất phát tại Vinh (Nghệ An), cho tới đoạn cuối cùng rẽ vào Phước Long. Rặng trường Sơn là xương sống của Trung phần, khởi đầu từ sông Cả tới sông Bông (Quảng Nam), chạy dọc theo biên giới Việt Lào. Từ bắc vào nam, có nhiều rặng núi cao trên 2500m, như Pu-Sai- Lai-Leng ở Nghệ An cao 2711m, Vụ Quang tại Hà Tĩnh cao 2286m, A Tuất ở Thừa Thiên cao 2550m... Nhưng nhờ có nhiều đèo như Kéo Nưa trên núi Bà Mụ, đèo Mụ Giạ ở Hà Tỉnh, đèo Lao Bảo trên quốc lộ 9, nên sự thông thương giữa Lào-Việt rất thuận tiện. Từ năm 1960 về sau, Bắc Việt lợi dụng những đường đèo trên, để nối liền nhánh Trường Sơn Ðông ở VN sang Trường Sơn Tây, hoàn toàn nằm trên đất Lào.

Rặng Trường Sơn từ phía nam sông Bông tới Miền Ðông Nam Phần, được gọi là Cao Nguyên Nam Trung Phần, vì độ cao chỉ còn trung bình 1000m, trừ phía bắc tỉnh Kon Tum, cửa ngỏ của Bắc Việt xâm nhập vào Vùng 2 chiến thuật, lại có nhiều rặng núi cao, rất đồ sộ và hiểm trở như Ngọc Lĩnh (2598m), Movia (2338m), Ngok Krin (2215m). Tại tỉnh Pleiku, cao nguyên Nam Trung Phần, hơi cao ở mạn đông tại ranh giới các tỉnh Phú Bổn, Bình Ðịnh nhưng lại thấp dần ở Miền Ba Biên Giới. Lợi dụng địa thế thiên nhiên vùng này, Hà Nội đã làm một nhánh rẽ, từ Ðức Cơ-Pleime xuống miền duyên hải Trung phần.

Khởi đầu từ năm 1959, đường mòn HCM do Hai xe ngựa (Võ Bẳm) sáng tạo, thật sự chỉ là một tuyến đường gùi vô cùng bí mật, với “ đi không để dấu, nấu không để khói và nói không thành tiếng “. Sau đó theo thời gian và nhu cầu chiến cuộc, tuyến gùi phát triển dần thành tuyến đường thồ xe đạp, rồi đường xe ô tô với đường dây điện thoại cùng hệ thống ống dẫn dầu, chạy song song kế đường mòn. Có thể gọi đây là một Bát Quái Trận Ðồ cũng không ngoa chút nào vì con đường có tới hằng trăm, hằng ngàn nhánh nhỏ, chạy chằng chịt dọc ngang, từ đông sang tây, khắp nam tới bắc, chẳng biết đâu mà mò, kể cả VC, nếu không có giao liên hướng dẫn, vẫn bị lạc chết đói, như Dương Thu Hương đã kể trong tiểu thuyết “Vô Ðề “. Sau năm 1973 khi hiệp định ngưng bắn ra đời, Kissinger cho phép quân Bắc Việt ở lại VNCH hợp pháp như là một thực thể chính trị, giúp Hà Nội ngang nhiên xây dựng con đường chiến lược trên, thành một xa lộ đất, xe cộ xuôi ngược rộn rịp đêm ngày. Năm 1974, chủ tịch cọng sản Cuba là Fidel Castro đã tặng cho Hà Nội, một dàn thiết bị máy móc, làm cầu đường do Nhật chế và còn giúp một đơn vị công binh, tới tận Quảng Trị hướng dẫn công binh Bắc Việt, làm chiếc cầu dây treo Dakrong, nằm trên ngã tư Khe Sanh-Tchépone và đường mòn. Sau đó chính Fidel Castro tới tận chỗ để làm lễ khánh thành cầu, còn được hướng dẫn đi thăm Ðông Hà, mà Bắc Việt khoe là vùng giải phóng, từ sau trận Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972.

Theo các tài liệu hiện hành của cả mọi phía, có trong thư viện và báo chí VC sau này, thì hệ thống đường mòn HCM, chạy dài từ Trung Lào tới Cam Bốt, sự thật là hoàn toàn nằm trên lãnh thổ Lào-Miên. Con đường này được xâm nhập vào lãnh thổ VNCH bằng năm nhánh rẽ với 21 trục giao liên, có chiều dài tính theo đường đất tổng cộng hơn 12.000 dặm Anh. Con đường được mang nhiều tên, và chỉ có đoạn trên lãnh thổ Bắc Việt mới được gọi là đường Hồ Chí Minh. Riêng khúc đường chạy trong lãnh thổ Lào và Nam VN lại có nhiều tên như đường Thống Nhất, Dân Tộc Giải Phóng và Cách Mạng. Còn đoạn cuối trên đất Miên là đường mòn Sihanouk. Ðể bảo toàn bí mật, tất cả hàng hóa, quân dụng, vũ khí và bộ đội xuất phát từ ga Hàng Cỏ (Hà Nội) hay Vinh (Nghệ An), đều được đưa tới cửa ngõ Tân Kỳ (Nghệ An) hay Quán Trại (Ðức Thọ-Hà Tĩnh), để vào Quảng Bình và Quảng Trị, rồi từ đó mới xuất tuyến xâm nhập vào Nam. Nhưng đường đi, dù ở trong lãnh thổ Bắc Việt, vẫn vô cùng nguy hiểm, vì bị phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc hằng ngày, nhất là tại thung lũng tử thần Ðồng Lộc. Ở đây, đường chạy giữa hai rặng núi cao, bên này là Rú Mòi, còn phía kia mang tên Sọ Voi. Ðây chính là cửa ngỏ đầu tiên, của đường mòn HCM, nối liền bắc VN tới lãnh thổ Lào. Từ đó đường mòn mang tên Trường Sơn Tây, tiếp tục tới Khâm Muôn (Lào), thì gặp Ðường 20 Quyết Thắng, từ Phọng Nhạ (Quảng Bình) sang. Khúc đường này dài hơn 127 km, chạy len lỏi giữa khu rừng già Kẽ Bàng và miền hoang địa Bulapha của Lào.

Theo báo Aux Ecoutes du Monte, thì hải cảng Vinh (Nghệ An), là yết hầu của đường mòn HCM, vì gần như mọi thứ đều xuất phát ở đây, để xâm nhập vào Nam. Cũng từ đây, đường được phân làm ba nhánh qua Lào, để tránh thiệt hại vì sự oanh tạc của máy bay Mỹ. Riêng tổng hành dinh của Ðoàn 559A, thì đóng rải rác trong khu tam giác các thị trấn Napé, Kamkeut, Kanmon... nằm dọc theo con sông Nam Pao của Lào. Ðây là một quân chủng đặc biệt của cọng sản Bắc Việt, gồm công binh, vận tải, trách nhiệm bảo trì, sửa chữa con đường, đồng thời phân phối quản trị đoàn dân công, xe tải chuyển vận bộ đội, vũ khí, tiếp liệu từ bắc vào chiến trường miền Nam.

Tại ngã ba Khâm Muôn, giao điểm của hai nhánh Quyết Thắng 20 và Tân Kỳ, đường mòn HCM, đi vào khu rừng già Hạ Lào, cặp kè với con sông Nam Cà Dinh, chạy tới đỉnh dốc đứng 1001 trên núi Răng Cọp. Từ đây đường mòn đổi tên thành Trường Sơn, sau khi vượt qua vĩ tuyến 17, để tới thị trấn Tchepone (Muang Xepon) nằm trên quốc lộ 9. Ðây cũng là phân nhánh đầu tiên của đường mòn Trường Sơn, xâm nhập lãnh thổ VNCH, để tấn công các căn cứ quân sự Lao Bảo, Khe Sanh, Làng Vei, Cà Lu... trong tỉnh Quảng Trị. Sau đó, đường mòn vẫn tiếp tục chạy trên đất Lào tới núi Ấp Bia (937m), một địa danh nổi tiếng, trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1960 -1975), được một ký giả ngoại quốc, chứng kiến tận mắt cảnh hàng ngàn xác bộ đội Bắc Việt, bị banh thây bỏ lại tại chiến trường, vì bom đạn phi pháo, nên đã đặt là Hambuger Hill. Tại đây, đường lại được phân nhánh tới các thung lũng A Lưới, Tà Bạt và A Shau. Ðây là bàn đạp mà Hà Nội tập trung bộ đội, để tấn công Thừa Thiên và Ðà Nẳng. Sau khi vượt qua cao nguyên Boloven gần ngã ba biên giới Việt-Lào-Miên, đường mòn lại phân thành hai nhánh khác chạy vào lãnh thổ VNCH, một nhánh phát xuất từ Savarane tới Dakto, Tân Cảnh, Kontum... trước khi ngang qua các trại Lực Lượng Ðặc Biệt Benhet, Dakto... Nhánh khác từ Attopeu vào Pleiku, ngang qua Trại LLÐB Ðức Cơ, Pleime. Nằm giữa hai nhánh rẽ này vẫn trên đất Lào, là mật khu 609 của Bắc Việt. Kể từ đây, đường mòn Trường Sơn đổi thành đường mòn Sihanouk, với nhiều mật khu như 702, 701, 740, 203, 351, 350 và 400. Trên đất Miên, đường mòn có một nhánh rẽ vào Phước Long và phần cuối cùng chạy xuống tận hải cảng Kampong Som (Sihanouk Ville) của Miên. Chính tại đây, Bắc Việt nhận trực tiếp hàng hóa viện trợ của Nga, Tàu và Ðông Âu, tới năm 1970 mới chấm dứt, khi Sihanouk bị Lonnol lật đổ. Nhờ đó Hoa Kỳ và QLVNCH mới được phép hành quân sang đất Miên theo lời yêu câu của chính phủ mới, nên mới tiêu diệt gần như tất cả các mật khu của Bắc Việt tại đây, qua các cuộc hành quân Toàn Thắng và Cửu Long.

Tóm lại suốt cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai, ngoài số nạn nhân chết bởi bom đạn, giao tranh, phần lớn bộ đội, cán binh cọng sản miền bắc, được ghi nhận là ngã gục trên đường Trường Sơn, vì trăm ngàn nỗi gian lao cực nhọc và bệnh tật, đó là chưa kể tới chết khi đụng trận, bị bom đạn oanh tạc, mìn bẫy... Hàng vạn nấm mồ hoang lạnh, được vùi lấp vội vàng, trên con đường dài heo hút, chỉ một thời gian ngắn, đã biến thành phân mục, bón xanh thêm cây lá rừng hoang, như Trần Xuân Lợi, một bộ đội vượt tuyến đã viết:

"Những hồi mưa ngớt

Tựa nghĩ gốc cây

Nhìn rừng không nói

Nhìn mây chẳng thấy

Chỉ có núi đèo

Kế nhau nối tiếp

Oại là khủng khiếp

Cho cảnh Trường Sơn..."

Hay: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ, chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, áo bào thay chiếu anh về đất, sông núi gầm vang khúc độc hành - Quang Dũng“. Tất cả là sự thật, mà Ðại Tá Võ Ðại Tôn, tức nhà thơ Hoàng Phong Linh, trong cuộc Ðông Tiến bất thành, khi trở về VN để giải phóng quê hương sau năm 1975, đã ghi lại:

"Ðỉnh núi cao mây vờn,

đá nghìn năm quên tuổi

ta lạc loài như dã thú không tên

qua Tchépone, Boloven

về Hạ Lào thăm thẳm

Atopeu đường xa muôn dặm

Rừng tây nguyên heo hút trong tim..."

Con đường có rất nhiều đoạn dài, xuyên giữa rừng già bất tận, phi cơ quan sát hay không ảnh cũng bó tay, ngoại trừ sự xâm nhập của các Toán Biệt Kích, thuộc binh chủng LLDB/VNCH.

Ðể bảo vệ con đường chiến lược này, Bắc Việt thành lập Ðoàn 559A, gồm nhiều binh trạm, mỗi nơi có quân số tương đương một trung đoàn tác chiến. Giữa hai khu vực, có các toán giao liên và các kho dã chiến. Vùng nào lo vùng nấy, không ai biết gì tới các khu vực lân cận. Tóm lại, Ðoàn 559A chỉ có trách nhiệm từ vĩ tuyến 17 đổ vào nam mà thôi. Riêng phía bên này vĩ tuyển ra tới Bắc Việt, bổn phận tái tạo và giữ tốt, các tuyến đường giao thông, tiếp vận cho chiến trường, được giao cho hàng vạn thanh niên nam nữ, trong ba tổng đội Thanh Niên Xung Phong. Do trên đã có không biết bao nhiêu người tuổi trẻ, phải gục chết giữa bom đạn, khi bị bắt buộc bám trụ tại chỗ, để mỗi lần phi cơ Mỹ oanh tạc vừa dứt, thì họ với sức người và cuốc xẻng, ào ra chiến trường, để lấp hố bom trên mặt đường vừa bị cầy nát. Bởi thế giao thông không bao giờ bị gián đoạn.

B - CÁN BINH, BỘ ÐỘI BẮC VIỆT TRÊN ÐƯỜNG MÒN HCM:

Với mục đích lường gạt dư luận thế giới, đánh lận con đen, chối bỏ việc trắng trợn xâm lăng VNCH, nên cọng sản Bắc Việt lúc nào cũng tổ chức cuộc chuyển quân vào Nam, thật bí mật. Thêm vào đó là sự phụ họa rất ăn khớp nhịp nhàng của một số báo chí theo VC tại miền Nam, nên Hà Nội gần như đâm mù cả nhân loại, khiến ai cũng tin là cuộc chiến tại miền nam, là do chính người miền nam vì bất mãn chính phủ độc tài tàn bạo, nên nỗi loạn chống phá, chứ miền bắc không hề can dự. Thời gian đầu cuộc chiến, việc chuyển quân từ bắc vào nam, thật vô cùng khó khăn nguy hiểm. Vì thế chỉ có bộ binh vượt tuyến mà thôi. Còn vũ khí quân dụng, được chuyển vận bằng ghe thuyền tại tuyến đường 559B trên Ðông Hải, do Ðồng văn Cống phụ trách. Trước tết Mậu Thân 1968, bộ đội Bắc Việt vào Nam, được bồi dưỡng và huấn luyện trong thởi gian 8 tháng, với tiêu chuẩn 2 đồng 40 xu tiền Hồ/1 ngày. Trước khi lên đường “ sanh bắc tử nam”, các cán binh bộ đội được cấp 5 ngày phép về thăm gia đình. Vì chủ nghĩa xã hội miền bắc rất công bình, con trốn quân dịch, cha mẹ dù có già 100 tuổi vẫn phải đi thế, ngoài ra tất cả tem phiếu, sổ gia đình đều bị tịch thu. Nên trong một xứ mà tất cả nhu yếu phẩm đều phải bó buộc mua tại cửa hàng quốc doanh, chợ nhà nước, thì đâu có ai dám không đi lính, để vừa khổ thân lại làm liên lụy cho gia đình. Ở Bắc Việt, cũng không có chùa, nhà thờ và trường đại học, nên cũng không có chế độ hoãn dịch vì tu xuất hay học hành. Còn du học hay xuất ngoại, thì chỉ dành ưu tiên cho con cái và gia đình cán bự cỡ tổng bộ trưởng và hàng trung ưởng đảng, nên sau khi hết phép, ai nấy đều trở lại để lên đường vào Nam theo lệnh đảng.

Trên đường tiến quân còn trong lãnh thổ Bắc Việt, các đơn vị chính quy hành quân, vẫn xử dụng quân phục cố hữu bằng vải kaki Nam Ðịnh, với mũ bầu có bọc vải dầu, màu xanh lá cây... Quân xa sẽ chở bộ đội tới Lào, qua một trong ba tuyến đường chiến lược, nối liền hai nhánh Trường Sơn Ðông và Tây, tại Ðồng Lộc (Hà Tĩnh), Phong Nhạ (Quảng Bình) và Vĩnh Linh ( Quảng Trị ), để tới biên giới VNCH. Tại đây, bộ đội cọng sản Bắc Việt, sẽ lột xác hoàn toàn thành người “ Giải Phóng Quân “ trong MTGPMN của Anh Thọ, chị Bình, chị Ðịnh Bến Tre lập ra. Tóm lại tất cả những gì có liên hệ tới cọng sản miền Bắc, đều phải hoàn trả hết cho cán bộ chính trị đơn vị. Từ đây bộ đội chính quy miền bắc là giải phóng quân miền nam, dù cả hai đều là đảng ta đó, nên phải mặc đồ bà ba đen, khăn rằn quàng cổ, mang dép râu, đội mũ tai bèo, y chang như VC tại Nam phần đã sắm tuồng từ năm 1960. Cả tới cờ hiệu, cũng phải dùng cờ MTGPMN, nửa xanh nửa đỏ giữa có sao vàng. Còn bài hát thì đã có bản “ Giải phóng miền nam “ của Nguyễn Minh Siêng tức Lưu Hữu Phước.

Trước khi hiệp định Ba Lê 1973 ký kết, nhằm hợp thức hóa cũng như cho phép bộ đội chính quy Bắc Việt, được công khai đóng ngay trên lãnh thổ VNCH, thì sự di chuyển trên đường mòn HCM rất khó khăn nguy hiểm, kể cả các tuyến giao thông chiến lược, nối Bắc Việt với nhánh Trường Sơn Tây, nằm trong lãnh thổ Trung Lào, vì phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc ngày đêm liên tục. Nên chỉ riêng đoạn đường, từ điểm xuất phát đầu tiên tại Tân Kỳ (Nghệ An), tới thi trấn Tchepone (Hạ Lào), cũng phải mất từ 2 -3 tháng. Sau đó các đơn vị bộ đội chính quy miền bắc, được các toán giao liên hướng dẫn vượt tuyến và xâm nhập các trục vào lãnh thổ VNCH để hoạt động, tuỳ theo nhiệm vụ được đảng giao phó. Sau tháng 2-1973, không quân Hoa Kỳ chính thức rút khỏi cuộc chiến, còn VNCH thì không đủ phương tiện để ngăn chận, nên Bắc Việt gần như công khai hoạt động, không cần che đậy để lừa bịp dư luận như trước. Do trên, con đường mòn được tu bổ thành một xa lộ đất. Dọc đường, thiết lập nhiều khu dưỡng quân, bệnh xá, kho tiếp liệu. Song song là một hệ thống ống dẫn dầu, xăng, cùng một đường dây điện thoại cao thế, do Liên Xô và các nước Ðông Âu cung cấp viện trợ, bơm dầu từ các tàu nhiên liệu cập bến ở Nghệ An. Tại các mật khu cũng như địa điểm trọng yếu, Bắc Việt cho bố trí một mạng lưới phòng không dầy đặc, với đủ loại súng đại bác do Nga Xô, Ðông Ðức viện trợ như súng cao xạ, hỏa tiễn loại 35 và 57 ly. Từ năm 1965 tới 1967, ước chừng 7000 bộ đội chính quy xâm nhập miền Nam hằng tháng. Trong đợt tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, quân số cọng sản Bắc Việt, có mặt tại lãnh thổ VNCH hơn 100.000 người. Ðể chuyên chở người, quân dụng và vũ khí vào Nam trên đường mòn Trường Sơn, Hà Nội đã huy động một số quân xa, từ 1250 -1700 chiếc. Những quân xa này đều do Trung Cộng, Liên Xô viện trợ, gồm các hiệu Zills, Molotova... loại 130 bốn bánh và 157 sáu bánh, có trọng tải từ 4-6 tấn. Ngoài ra có một đoàn dân công khổng lồ, thi hành theo cái gọi là “nghĩa vụ lao động“, từ 16-55 tuổi không phân biệt nam nữ, để giữ hộ khẩu và được sống yên trong chế độ công an khu vực. Hàng hóa phần lớn được chuyển vận vào Nam bằng sức người, xe đạp và voi.

Sau tháng 5-1975 chiến tranh chấm dứt, có rất nhiều bí mật được bật mí, phần lớn nhằm làm sáng tỏ lý do thất bại của Quân Lực Ðồng Minh, Hoa Kỳ và VNCH trong cuộc chiến Ðông Dương, mà nỗ lực chính là ngăn chận và phá vỡ hệ thống đường mòn Trường Sơn, hành lang chính để cán binh bộ đội cọng sản Bắc Việt, xâm lăng Miền Nam. Ðồng thời phơi bày ra ánh sáng, thảm trạng “ Mạng người lá rụng “ vì đường đi không tới, của hằng trăm ngàn người “sinh bắc tử nam“. Tất cả nạn nhân chiến tranh trên, chẳng có ai vì nhiệt tình cách mang, ngu để phải chết thảm thê vì đụng độ, máy bay oanh tạc, hải pháo và bệnh tật không có thuốc men chữa trị. Và dù phía VNCH không đạt được chiến thắng cuối cùng nhưng rõ ràng họ đã tiêu diệt và phá vỡ gần hết những mật khu quan trọng của Bắc Việt, trên đuờng mòn Trường Sơn, như 604 tại yết hầu Tchépone-Hạ Lào và 611 trong thung lũng Ashau, gồm nhiều binh trạm, hậu cần, ống dẫn dầu cùng các tổng kho tiếp tế. Tác giả Lane Rogers cũng là Ðại Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, từng tham dự nhiều trận chiến trên đường mòn, đã viết :” Ðể bảo vệ và hoạt động được liên tục trên hành lang chuyển quân, Bắc Bộ Phủ đã thí quân một cách vô nhân đạo. Ðó là lý do nhiều lần con đường chính và năm nhánh rẽ vào Nam VN, tưởng như đã bị phá vỡ hoàn toàn. Nhưng rồi đoàn kiến người cũng tìm đủ mọi ngõ ngách khác để xâm lăng miền Nam. Riêng Thống Tướng Westmoreland, cựu Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ và Ðồng Minh, chiến đấu tại VN, thì giải thích lý do thất bại của Mỹ, trong nỗ lực hủy diệt con đường này, phần lớn do trở ngại thiên nhiên, là chốn ma thiêng nước độc, gây sự sợ hãi chết chóc nhiều nhất trên thế giới.

3- Máu Ðẫm Trường Sơn (1960-1975):

Hai mươi năm chiến cuộc VN, đã cướp mất đi hằng triệu thanh niên nam nữ hai miền đất nước, cũng như đồng bào vô tội. Sự tủi nhục và đau lòng nhất, riêng chỉ có kẻ trong cuộc và dân chúng xã nghĩa Bắc Việt mới hiểu thấu. Riêng người miền Nam sống tại các đô thị lớn như Sài Gòn, Huế, Cần Thơ... gần hết chỉ hiểu một cách đại khái, mù mờ, qua tài liệu, báo chí và sự tuyên truyền của cả hai phía. Họ đâu có bao giờ biết rằng, trong suốt cuộc chiến, Bắc Việt, Hoa Kỳ và QLVNCH, đã dành giựt từng thước đất trên đỉnh Trường Sơn, vì một bên thì quyết lòng dùng máu xương người để xây huyết lộ, còn phía bên kia cũng lấy mạng sống, bom để phá hủy cho tận tuyệt. Nói chung cả hai phía đều xử dụng tối đa mạng sống con người Việt, qua các khẩu hiệu hào nhoáng nhưng mặt thật, cũng chỉ để phục vụ cho quyền lợi riêng tư của họ mà thôi.

A- VỀ PHÍA CỌNG SẢN BẮC VIỆT:

Sau khi Thủ Tướng Liên Xô Nikita Khrushchev, phát pháo mở màn cuộc chiến giải phóng toàn cầu vào ngày 6-1-1961, cũng là thời gian khởi đầu cho tới ngày 30-4-1975, Bắc Việt xâm lăng cưỡng chiếm VNCH. Ngoại trừ các chóp bu ngồi tại Bắc Bộ Phủ, không ai có thể biết rõ, đã có bao nhiêu cán binh, dân công và thanh niên xung phong đã bị thương vong vì cuộc chiến. Phần thì cọng sản quen bưng bít sự thật, hơn nữa trong chủ nghĩa thiên đàng, không có chế độ thương binh ngoài mặt trận. Nên tất cả những điều Ðảng tuyên bố, gần như là tuyên truyền láo bịp, nên sự thật đâu biết sao mà mò? Nhưng chắc chắn có điều, gần hết các trận đánh khốc liệt , đều xảy ra trên hành lang chiến lược Trường Sơn, từ sự hủy diệt bằng bom mìn, hàng rào điện tử, chiến tranh khí tượng, thuốc khai quang, không quân cho tới những đụng độ trực tiếp giữa Bắc Việt với Hoa Kỳ và VNCH, mà cao điểm là cuộc hành quân Lam Sơn 719, tại Hạ Lào -1971.

Trên lãnh thổ Bắc Việt, trực diện với bom đạn hằng ngày, là những nam nữ thanh niên, trong các Tổng Ðội Thanh Niên Xung Phong. Nhiều người đã bị chết một cách oan khiên tức tưởi, tại ngã ba Ðồng Lộc (Hà Tĩnh), Ðường 20 Quyết Thắng (Quảng Bình), Hưng Hóa ( Quảng Trị ) khi bị bắt buộc thi hành các công tác hiểm nguy như giao liên đơn độc giữa rừng núi muôn trùng, làm mốc hướng dẫn đoàn xe đến các địa điểm tránh bom Mỹ... Trong muôn ngàn thảm kịch, được đưa lên phim quảng cáo, vẫn thảm nhất là cái chết của 10 cô gái TNXP, thuộc Tiểu Ðội 4/Tổng Ðội 53 - Hà Tĩnh, bị bom đánh sập, chôn sống tập thể tại Ngã Ba Ðồng Lộc, vào sáng ngày 24-7-1968. Hoặc chuyện bốn cặp TNXP và công binh, cũng bị chết ngạt trong một cái hang núi tại Kẽ Bàng (Quảng Bình)... Nhưng đây cũng chỉ là một trong hằng triệu cái chết vô danh của phận người xấu số trong chiến tranh, nếu đem so sánh với những cái chết khác tại các tuyến đường rẽ vào lãnh thổ VNCH.

Không kể đến sự đụng độ thường xuyên giữa các Toán Biệt Kích Quân cảm tử, thuộc Binh chủng LLĐB/VNCH và cán binh Bắc Việt, trên mọi ngõ ngách của đường mòn Trường Sơn, ngay cả trong lãnh thổ Bắc Việt. Kể từ năm 1965 tới khi có Hiệp định Ba Lê 1973, đã có không biết bao nhiêu trận đánh lớn giữa cọng sản miền bắc và quân lực Ðồng Minh, Hoa Kỳ cũng như QLVNCH. Ðiển hình như các trận PLEIME -1965, giữa Toán A217 Biệt Kích Mỹ-Việt, TÐ91BCD/LLĐB, TĐ1/TrĐ45/SĐ23BB, TĐ21+22/BĐQ, Chi Ðoàn 3 Thiết kỵ/VNCH với 3 Trung Ðoàn 32, 33, 66 cọng sản Bắc Việt. Ngày 27-10-1965, SĐ1 kỵ binh không vận Hoa Kỳ, hành quân tại thung lũng IA-DRANG, Pleiku, bẻ gãy âm mưu tập trung của 3 SĐ Bắc Việt, nhằm chia cắt VNCH thành hai mảnh. Tháng 12-1965, Bắc Việt lại tấn công 2 Trại LLĐB Tà Bạt, A Lưới (Thừa Thiên), một trận đụng độ đẫm máu giữa cọng và Mỹ+VNCH tại căn cứ Ashau, một tiền đồn ngăn chận cán binh Hà Nội, tràn xuống miền duyên hải.

Mùa thu năm 1967, Bắc Việt tấn công đồng loạt nhiều tiền đồn VNCH trên đường rẽ vào Chiến khu C (Phước-Bình Long) cũng như Kontum, vì 2 khu vực này là cửa ngõ chiến lược quan trọng nhất trên hành lang xâm lăng VNCH của cọng sản Bắc Việt. Ðể giải tỏa áp lực tại Tiền đồn Dakto, 16 tiểu đoàn thuộc SĐ4BB + SĐ Dù/Hoa Kỳ và Lực lượng Nhảy Dù VN, đã ác chiến với 1 SĐ Bắc Việt, thương vong hai phía rất nặng.

Trên QL9 từ Hạ Lào vào Quảng Trị, có Tiền Ðồn Khe Sanh là căn cứ của Biệt kích quân VNCH, thành lập từ tháng 7-1962. Ðây cũng là điểm xuất phát các Phi Vụ Tiger Hound rải quân xâm nhập đường mòn HCM. Như các căn cứ Cồn Tiên, Gio Linh, Caroll, Cam Lộ... Khe Sanh là các tiền đồn, đối diện với vùng biên giới phía bắc khu phi quân sự vỹ tuyến 17 lãnh thổ Bắc Việt. Bởi vậy cọng sản luôn tìm mọi cách tiêu diệt cái gai nhọn Khe Sanh, đâm vào yết hầu đường mòn Trường Sơn. Cuối năm1967, trưóc khi mở màn cuộc tấn công đẫm máu Tết Mậu Thân 1968, Võ Nguyên Giáp đã mở một mặt trận Ðiện Biên Phủ thứ 2 tại thung lũng Khe Sanh, với ý muốn dụ quân Mỹ vào rọ để tiêu diệt như đã từng xảy ra vào năm 1954 trên đất bắc. Nhưng Giáp đã tính toán sai, vì Hoa Kỳ mạnh hơn Pháp cả 100 lần, lại có một lực lượng hải pháo không quân hùng hậu, nên cuối cùng Bắc Việt phải chém vè về Hạ Lào, bỏ lại tại Khe Sanh hơn 20.000 xác bộ đội, tỷ lệ 90% quân số tham dự trận chiến. Cũng tại đây, ngoài quân Mỹ, còn có một đơn vị VNCH duy nhất được tăng phái, đó là TĐ37 Biệt Ðộng Quân. Ðơn vị này dù quân số ít ỏi, lại bị nằm tiền đồn nhưng suốt thời gian chiến cuộc, đã giữ vững được phòng tuyến phía nam của căn cứ Khe Sanh, qua nhiều đợt tấn công biển người của SĐ304 Bắc Việt.

Trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, cọng sản thất bại hoàn toàn trên chiến trường, nên hầu hết tàn binh đều rút về phía bên kia biên giới Việt-Miên-Lào, trên đường mòn Trường Sơn. Phía VNCH và Hoa Kỳ đã mở nhiều cuộc hành quân truy quét. Tại Vùng 1 chiến thuật, ngày 16-4-1968 SĐ1 Kỵ binh Mỹ + TrĐ3/SĐ1BB/VNCH hành quân Lam Sơn 216 - Delaware tảo thanh vùng A Lưới. Kế tiếp hành quân Sonerset Plain Lam Sơn 246 của SĐ101 Dù Mỹ + TrĐ1/SĐ1BB/VNCH tại vùng A Lưới, Tà Bạt và mật khu 609. Ðầu năm 1969, SĐ101 Dù + TrÐ9/TQLC/HK + TrĐ3/SĐ1BB/VNCH tảo thanh thung lũng A Shau. Vùng này có một ngọn núi cao trên 1000m, nằm ngay biên giới Lào-Việt, như một bình phong án ngữ các căn cứ A Lưới, Tà Bạt, A Sha. Một trận đụng độ kinh khiếp đã xảy ra tại đây giữa hai phía. Cùng tham chiến, không quân, pháo binh và các pháo đài bay B52, đã giội xuống chiến trường hơn một triệu cân Anh bom các loại, trong số này có 152.000 cân Anh bom lửa, khiến cho đồi núi, cỏ cây, rừng xanh và xác cán binh bộ đội cọng sản Bắc Việt bỏ lại khi chém vè, đều biến thành tro bụi. Cảm thương cho số phận con người vì tem phiếu, hộ khẩu, mà phải sinh bắc tử nam, nên một ký giả Mỹ có mặt tại trận địa, viết bài trên báo, đã ví von đặt tên núi Ấp Bia là Hamburger Hill. Sau này, báo chí VC hãnh diện tuyên truyền với thế giới, vì Mỹ chết nhiều quá, nên mới có cái tên ngộ nghĩnh trên.

Nhưng một biến cố cực kỳ quan trọng trên, gần như làm đảo lộn chiến lược xâm lăng miền nam của Bắc Việt, cũng như chiến thắng gần kề của VNCH, nếu như Nixon-Kissinger không bán đứng Miền Nam cho Bắc Việt, qua cái gọi là Hiệp định Ba Lê 1973. Ðó là cuộc chính biến trên đất Miên vào năm 1970. Ai cũng biết Kampuchia từ năm 1960, là hậu cứ an toàn của cọng sản Bắc Việt, để nhận trực tiếp hàng hóa quân dụng viện trợ của các nước XHCN, tại hải cảng Sihanouk Ville nằm trong vịnh Thái Lan. Ðây cũng là tổng hành dinh của Cục R, đầu não chỉ huy của đảng bộ cọng sản miền nam, qua ngụy danh MTGPMN. Ngày 18-3-1970, Lonnol lật đổ Sihanouk và theo Mỹ. Quân Miên cũng được lệnh tấn công các mật khu của Bắc Việt trên đất Miên. Chiến tranh đã nổ toàn diện trên đất chùa Tháp. Liên quân Khmer Ðỏ của Polpot và VC phản công và bao vây thủ đô Nam Vang, đồng thời người Miên qua sự xúi ngầm của tân chính phủ Lonnol, đã đồng loạt “CÁP DUỒNG“ Việt Kiều khắp nơi, gây thảm trạng thương đau cho hằng vạn người dân vô tội, bị vạ lây do Bắc Việt gây ra từ mấy năm trước.

Ðể cứu đồng bào về nước, đồng thời mượn dịp thanh toán các căn cứ địa và cục R tại biên giới Việt-Miên, theo yêu cầu của Lonnol. Do trên, QLVNCH đã tổ chức các cuộc hành quân rất qui mô, mang tên Toàn Thắng 41, 42, 43 do QĐ3 đảm trách. Song xong QĐ2 cũng hành quân Bình Tây và QĐ4 có hành quân Cửu Long. Trừ cuộc hành quân Toàn Thắng 43, do lực lượng hỗn hợp Việt-Mỹ, gồm SĐ1 Không vận Hoa Kỳ + Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù và Thiết Ðoàn 2 Kỵ binh/VNCH. Tất cả các cuộc hành quân khác, đều do QLVNCH đảm trách, đã giúp Lonnol chiếm lại thủ đô Nam Vang, hải cảng Sihanouk Ville, đồng thời phá vỡ gần như toàn diện các mật khu của VC, trong đó có Trung Ương Cục R. Trên biển Ðông, Hải quân Mỹ còn tổ chức cuộc Hành quân Market Timer, để truy đuổi các tàu thuyền của Bắc Việt, trong việc chuyển vận quân trang quân dụng vào Nam, bằng tuyến đường biển 559B.

Ðể cứu sống đoàn quân xâm lăng đông đảo, đang có mặt ở miền nam, trong lúc các căn cứ tiếp vận tại Miên vừa bị phá hủy, nên cọng sản Bắc Việt đã gia tăng quân lực, bằng mọi giá giữ vững cho được Huyết lộ HCM trên đất Lào, mà trọng điểm là Thị trấn hoang tàn Tchépone. Ðây cũng lý do mà QLVNCH đã mở cuộc Hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào năm 1971, một trận chiếm đẫm máu nhất trong Ðông Dương thế chiến 2 (1960-1975). Phía VNCH có 17.000 quân tham dự, gồm các SĐ Nhảy Dù, SĐ TQLC, SĐ 1BB, Liên Ðoàn 1BĐQ và Lữ Ðoàn 1 Thiết Giáp. Về phía cọng sản Bắc Việt có Quân Ðoàn 70B, các SĐ2, 304, 308, SĐ phòng không... Quân Mỹ chỉ đóng bên kia biên giới, yểm trợ không vận, hải pháo, pháo binh... Cuộc hành quân kết thúc ngày 25-4-1971 sau khi Trung Ðoàn 2/SĐ1BB/VNCH tiến vào thị trấn Tchépone. Dù bị thiệt hại rất nặng nhưng QLVNCH đã phần nào đạt được mục tiêu chiến lược, là phá hủy hoàn toàn nhiều căn cứ tiếp liệu của Bắc Việt, tại mật khu 609 và 611 trên đường mòn HCM.


Các mũi xâm nhập của Cộng quân Bắc Việt từ hướng đường mòn Hồ chí Minh - Ảnh PSYOP

B- VỀ PHÍA VNCH:

Trong suốt cuộc chiến, hầu như tất cả mọi binh chủng của QLVNCH đều có mặt tại đường mòn Trường Sơn, kể cả Cảnh Sát Dã Chiến, Xây Dựng Nông thôn, ĐPQ+NQ... Tuy nhiên đã có một Binh Chủng Ðặc Biệt, từ ngày thành lập vào năm 1957, tới khi rã ngũ tan hàng, đã đơn độc hoạt động âm thầm trong lòng địch, trên suốt đường mòn HCM từ đông sang tây, ngay cả trong lãnh thổ của Miên và Lào. Họ là những chiến sĩ “ BIỆT KÍCH-BIỆT CÁCH “, không có sự yểm trợ nào của đơn vị bạn và hoàn toàn tụ lực cánh sinh để mà sống trong núi rừng, nhiều nơi chưa hề có dấu chân người.

Binh chủng LLĐB có cấp số sư đoàn, bao gồm các đơn vị như Sở liên lạc, Sở công tác, Sở khai thác địa hình, các liên đoàn tác chiến 31, 77, 81 Biệt cách nhảy dù và Trung tâm Huấn luyện LLĐB Ðồng Ba Thìn tại Cam Lâm-Khánh Hòa.

Như Kinh Kha ngày xưa, các chiến sĩ Biệt Kích ra đi ít khi được trở về. Một số ít đã bị bắt tại Bắc Việt và chịu kiếp tội đồ, tới nay nhiều người vẫn còn chưa được thả. Vì họ chính là kẻ thù không đội trời chung và cũng là khắc tinh của cọng sản, trên suốt đường mòn. Tóm lại nơi nào có VC thì nơi đó có LLĐB. Hai bên đã trường kỳ đấu trí trong suốt cuộc chiến, qua đủ mọi hình thức. Nhưng vì lý do bảo mật, nên cả hai phía, đều không muốn nhắc tới.

C- VỀ PHÍA HOA KỲ:

Từ năm 1961, Lào trở thành một quốc gia trung lập, nên chính phủ Mỹ đã bị Quốc Hội, nhất là tên thượng nghị sĩ đảng dân chủ thân cộng William Fullbright và cái gọi là ủy ban ngoại giao, tìm đủ mọi cách ngăn chận cấm đoán quân Mỹ can thiệp vào đất Lào. Trong lúc đó, cọng sản Bắc Việt không hề đếm xỉa tới cái gọi là hiệp định Genève 1961(1), tự tác mở con đường Tây Trường Sơn ngay trên đất Lào, để làm hành lang chuyển quân và tiếp vận xâm lăng miền nam. Cũng do Quốc Hội trói buộc, nên từ đời TT Kennedy cho tới Johnson, cả hai đều dè dặt trong quyết định dùng vũ lực tiêu diệt, ngăn chận sự xâm nhập của cán binh bộ đội, trên đường mòn HCM.

Vì không thể xử dụng bộ binh, để tránh né khỏi bị công luận thế giới và quốc hội chỉ trích, người Mỹ đã dùng các phương tiện chiến tranh khác như oanh tạc, khai quang và dùng hàng rào điện tử. Ngay cả việc xử dụng không quân để oanh tạc cũng vô cùng bí mật, lúc đầu đều do các phi công thuê của Thái Lan, Ðài Loan đảm trách. Về sau vì Bắc Việt đã được Liên Xô giúp thiết trí một mạng lưới phòng không dày đặc, với đủ các loại đại bác, hỏa tiễn tối tân 35, 57 ly... làm nhiều thám thính cơ bị bắn hạ. Vì vậy để thích ứng với hoàn cảnh, Hoa Kỳ quyết định xử dụng những phi cơ oanh tạc Thunderchief từ Thái Lan, cùng các phi cơ F105(2), pháo đài bay B-52 từ căn cứ Guam, cũng như các Hàng Không Mẫu Hạm bỏ neo trên Thái Bình Dương, để oanh tạc liên tục con đường mòn HCM, trên đất Bắc, Lào-Miên và trong lãnh thổ VNCH. Riêng chủ trương của Tướng Westmoreland, tư lệnh các lực lượng Mỹ và Ðồng Minh tham chiến tại VN, thì luôn muốn dùng bộ binh, để cắt đứt đường mòn HCM ngay trên đất Lào. Nhưng ông đã bị Quốc Hội Mỹ chống đối kịch liệt vì sợ vi phạm hiệp định Geneve 1961(1). Ngoài ra Mỹ cũng luôn lo sợ va chạm quân sự với Trung Cộng, khi tung quân vào Lào để hủy diệt con đường chiến lược HCM. Ðây cũng là những bí ẩn trong cuộc chiến VN mới được bật mí. Năm 1968 kế hoạch vượt biên đánh sang Lào để hủy diệt đường mòn HCM, mang tên EL-PASO sắp được Quốc Hội Mỹ phê chuẩn, thì xảy ra trận Tết Mậu Thân 1968 nên chiến dịch trên đã bị hủy diệt.

12 giờ trưa ngày 30-4-1975, nhờ Tổng thống Dương văn Minh với quyền hạn của Vị Tổng Tư lệnh tối cao, ra lệnh cho QLVNCH lúc đó đang còn chiến đấu khắp các mặt trận, buông súng đầu hàng giặc. Nhờ vậy mà đoàn xe tăng của Liên Xô, chở quân cọng sản Bắc Việt, mới bon bon chạy được trên đoạn chót của đường mòn HCM, là đại lộ Thống Nhất-Sài Gòn, rồi ủi sập hai cổng sắt để vào dinh Ðộc Lập, trống trơn không có phòng thủ, lính gác.

Sài Gòn hai mươi năm dưới chế độ VNCH, gần như lúc nào cũng có biểu tình. Thế nhưng trong ngày “ vinh quang của đảng-bác “, một cơ hội vàng ròng để người miền nam tha hồ xuống đường hoan hô hòa bình, ăn mừng. Tuy nhiên mọi điều xảy ra lại hoàn toàn trái ngược, chứng tỏ người miền nam không phải ai cũng hồ hởi tin hay thân cộng, như một số báo chí thời đó đã xướng. Theo hằng trăm nhà báo ngoại quốc có mặt hôm đó, trong số này có nhiều người thân cộng, cho biết: “ trưa 30-4-1975, khi quân Bắc Việt vào Sài Gòn, đã không có cảnh người thủ đô hàng hàng lớp lớp, túa ra đường, miệng la cờ phất... như họ từng làm qua nhiều biến cố trong quá khứ. “ Nói chung chỉ có cán bộ đảng và SĐ304 khăn đỏ tân lập ra chào đón quân ta về, còn dân chúng Sài đô lớp thì chạy trối chết theo chân Mỹ đi ngoại quốc, số khác lo chôm đồ... nên có ai rảnh để mà biểu tình, xuống đường như đảng mong đợi.

Sau đó Hà Nội cho thu lượm hài cốt cán binh bộ đội đã chết trên đường mòn, tập trung làm nghĩa trang Trường Sơn, tại xã Gio An, quận Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Còn Tỉnh Uỷ Bình-Trị-Thiên thì tổ chức tour du lịch, để du khách trong và ngoài nước tới thăm mấy cái xác xe tăng Mỹ, cây cầu treo Dakrong do công binh Cu Ba làm tặng và đồi Hambuger Hill. Riêng đường Trường Sơn tây thì bỏ hoang hoàn toàn và mới đây Lào cho phép Trung Cộng trùng tu, nối liền xa lộ Vân-Nam-Bắc Trung Lào mà tương lai con đường này sẽ thông tới hải cảng Kompong Som của Kampuchia, như năm xưa Bắc Việt đã làm.

Nay ngồi ngẫm nghĩ, mới thấy nhà văn Xuân Vũ viết “ Ðường đi tới mà không tới “ là đúng sự thật.

"trăng chiến khu não nùng sầu vạn kỷ

núi nghìn năm quên tuổi đứng cô đơn

đoàn quân xưa hào khí ngút mây vờn

trời quái ác làm vỡ tan tận tuyệt

... đây còn có nhiều bạn bè Phan Thiết

đã vùi thây trong rừng lạnh tây nguyên

họ bây giờ là những cánh chim đơn

hót ảo não nơi lũng đèo khe núi..."

Tết 2005

Xóm Cồn Hạ Uy Di

Viết nhớ bạn hiền

Cố Ðại Uý Trần Văn Thân

Trưởng Toán LLDB

Mất xác trên nhánh rẽ đường mòn HCM - Tháng chạp 1974

HỒ ÐINH-MƯỜNG GIANG

TĐ1/TrĐ43/SĐ18BB

KBC 4424 3435 - 4508

**********************

CHÚ THÍCH

(1) Có lẽ tác giả muốn đề cập tới Hiệp định Genève về Lào (Geneva Agreement on Laos) còn được gọi là Hiệp định Genève 1962 do Anh và Xô-Viết chủ trì, với sự tham dự của 14 nước bao gồm Anh và Nga Xô. Hiệp định Genève về Lào được ký kết vào ngày 23 tháng 7/1962 với chữ ký của 14 nước là Trung cộng, Cambodia, Pháp, Lào, Liên Xô, Anh, Mỹ, Nam Việt Nam, Bắc Việt Nam, Ấn Độ, Gia Nã Đại, Ba Lan, Diến Điện và Thái Lan. Hiệp định Genève về Lào xác định vị trí hòa bình, trung lập, độc lập và dân chủ của Lào, và quy định rằng tất cả các lực lượng quân đội ngoại quốc phải di chuyển ra khỏi lãnh thổ của Lào.

Tuy nhiên, Việt cộng lừa đảo và bịp bợm, từ xưa đến nay chưa hề tuân thủ bất cứ một loại hiệp định nào cả; hơn nữa bọn Lào cộng, Miên cộng lúc đó đều là tay sai của Việt cộng cho nên đều phải thi hành theo kế hoạch xâm lăng miền Nam của Việt cộng, xử dụng đường mòn Hồ chí Minh mà một phần nằm trên đất Lào và đất Miên để xâm nhập và tấn công miền Nam Việt Nam.

Quý vị có thể tìm hiểu thêm về Hiệp định Genève về Lào qua link sau đây:
http://www.encyclopedia.com/doc/1O126-GenevaAgreementonLaos.html

(2) Thật ra máy bay Thunderchief tức là máy bay F-105, tên gọi đầy đủ của nó là Republic F-105 Thunderchief, là loại oanh tạc chiến đấu cơ siêu thanh, tốc độ March 2, của Không quân Hoa Kỳ, được đưa vào hoạt động từ năm 1958. Dân không quân thường gọi nó là "Thud", Việt cộng gọi nó là "Thần sấm". Máy bay này do công ty Republic Aviation Corporation còn gọi là Seversky Aircraft Company, có tổng hành dinh tại New York sản xuất, đây là tập đoàn sản xuất may bay do các kỹ sư và phi công Nga và Georgia lưu vong thời Stalin sống ở Mỹ thành lập năm 1931.

Máy bay Thunderchief F-105 có khả năng mang 1 trái bom nguyên tử trong thân. Có 3 loại Thunderchief được xử dụng nhiều nhất để ném bom miền Bắc Việt Nam là loại F-105 D một chỗ ngồi, và các loại F-105 F và F-105 G Wild Weasel có 2 chỗ ngồi ( cho phi công chính và phi công phụ ), có khả năng mang theo 14,000 lbs (6,350 kg) bom đạn, súng và hỏa tiễn. Trong chiến tranh Việt Nam, Hoa kỳ đã tổn thất mất 382 chiếc Thunderchief bao gồm 62 chiếc bị rớt vì lý do trục trặc kỹ thuật (trong số bị bắn rơi có 283 chiếc là loại F-105 D một chỗ ngồi, loại F-105F/F-105G chỉ có 37 chiếc bị bắn rơi). Sau đó, máy bay Thunderchief được thay thế bằng F-4 Phantom II mà Việt cộng gọi là "Con ma", và F-111 mà Việt cộng gọi là "Cánh cụp cánh xòe".

Quý vị có thể tìm hiểu thêm về phi cơ Thunderchief F-105 qua link sau đây:
http://en.wikipedia.org/wiki/F-105_Thunderchief

KDĐN