Archives for: August 2009
ĐƠN XIN Ở TÙ VÀ ĐƠN XIN THÚ TỘI
ĐƠN XIN Ở TÙ

Click trên hình chụp để phóng lớn.
ĐƠN XIN THÚ TỘI
http://blackyblog.multiply.com/journal/item/19
CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI CỘNG SẢN VIỆT NAM
BẠO LỰC - PHI NHÂN - DỐI TRÁ
ĐƠN XIN THÚ TỘI
Kính gởi đồng bào cả nước đang đau khổ dưới ách đô hộ Cộng Sản.
Tôi tên là Lê Trung Thành.
Thời gian vừa qua tôi có theo dõi những đoạn phim thú tội của những chiến sĩ dân chủ, và cũng theo dõi luôn cả những dư luận xì xào xung quanh. Còn riêng về phần mình, tôi không dám xét đoán bất kỳ ai, hay tôi thấy mình chưa có đủ tư cách để đánh giá về một người khác khi mà những việc họ làm thì tôi chưa làm được.
Khi xem đoạn băng hình thú tội của Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Anh Kim, Lê Công Định, lòng tôi nóng như lửa đốt, nhưng ngay sau đó là cảm giác ăn năn day dứt vì thấy chính mình mới là kẻ có tội:
TỘI THỨ NHẤT LÀ: khi thấy người dân trăm họ lâm vào cảnh lầm than, tự do bị bóp nghẹt, công lý bị tước đoạt, đời sống bị bần cùng khó khăn, dối trá lên ngôi, đạo đức suy đồi, con người cư xử với nhau như một con thú thì tôi đã không dám mở mồm nói lên tiếng nói sự thật, tôi không dám đứng thẳng người dơ cánh tay của mình ra che chở cho những anh em bị bức hại, tôi đã hèn nhát không dám hy sinh mạng sống của mình cho người khác được sống.
TỘI THỨ HAI LÀ: khi thấy Đất Nước đang bị đè đầu cưỡi cổ của đám giặc nội xâm Cộng Sản, đất đai biển đảo bị mất dần vào tay Tàu Cộng thì tôi đã một lần nữa chọn giải pháp "thằng hèn" là im lặng luẫn quẫn đầu đường xó chợ kiếm ngày 2 bữa cơm sống qua ngày đoạn tháng mặc kệ Nước mất nhà tan.Tôi đã hèn nhát không dám hy sinh mạng sống của mình cho Đất Nước được sống.
TỘI THỨ BA LÀ: khi thấy người anh em của mình lao vào chốn lao tù để đấu tranh dành tự do dân chủ, đáng lý ra với tình nghĩa giữa người với người thì tôi phải xuống đường giương cao biểu ngữ ĐÒI TRẢ TỰ DO CHO NGƯỜI ANH EM, TRẢ TỰ DO CHO DÂN TỘC, thì tôi lại hèn nhát đóng cửa ngồi trong nhà chửi đổng cho bốn bức tường nghe. Khi xem họ thú tội trên truyền hình chưa rõ đầu đuôi nội tình câu chuyện ra sao mà tôi đã dám chê họ là hèn nhát trong khi mình thì chẳng làm được gì. Tôi đã mất hết tính người khi đồng loại mình bị đem ra làm trò hề còn mình cười khẩy chê bai, tôi đã tự cho mình cái thẩm quyền yêu cầu người này phải nên nói như thế này, người kia phải nên nói như thế kia trong khi chính mình còn chưa sống cho ra con người ... Tôi đã hèn nhát không dám hy sinh mạng sống của mình cho lương tâm mình được sống.
Đó là 3 trọng tội mà tôi khó có thể tự tha thứ cho mình, nay tôi đã nhận thấy hành vi sai trái của mình là vô cùng nghiêm trọng, gây tổn hại đến tính mệnh của Dân Tộc, gây nguy hại đến sự tồn vong của Giống Nòi, và đi ngược lại truyền thống nghĩa tình tốt đẹp ngàn đời của Người Việt .
Nay tôi đã biết tội của mình, tôi kính xin đồng bào cả nước hãy tha thứ cho tôi để từ nay tôi có thể làm một con người mới, người biết sống biết chết cho anh em của mình, có như thế mới mong có một bình minh ấm áp tình người sẽ đến trên Quê Hương Việt Nam.
20/8/2009
Lê Trung Thành
08/30/09. 04:47:44 pm. 1025 words, 648 views. Categories: Không ðề, Văn chương triết lý, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Tin tức ðó ðây, Hậu trường, Những chuyện khó tin nhưng có thật, Thông báo (A), Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Tại sao?, Xã hội và nhân văn ,
NHỮNG KẺ HÁM DANH

Những đồng đô-la từ máu của nhân dân Việt Nam dưới chế độ cộng sản - Credi: photobucket
Những kẻ hám danh!!!
Source: vietbao, vietland, canhthep, congdongnguoivie.fr
Thời đại nào cũng thế, những người có cấp bằng cao và có khả năng, đều được trọng dụng và tùy theo " nhân phẩm của họ ", họ có collabo (tiếng pháp gọi tắt là collabo để chỉ những kẻ cộng tác với Đức Quốc Xã trong Đệ Nhị Thế Chiến ) với các chế độ phi nhân hay không? Kết án họ hay chửi bới họ cũng bằng thừa, vì cho đến giờ phút nầy " họ vẫn chưa sáng mắt " ra, nhưng nhờ đó mà họ cũng hưởng được chút " hư danh " bánh vẽ " của CSVN ban bố cho. Giá trị của họ là chỉ có vậy thôi ! Tại sao họ không về sống luôn ở Việt Nam nhỉ? Yêu nước, yêu CSVN thì phải về chứ. Sống ở chế độ tư bản làm chi để cho nó bóc lột mình à?
Chúng tôi đăng bài viết dưới đây vì nhân thấy có nhiều chi tiết rất hay mà những người ở Âu Châu chưa hề biết đến.
Bạn thân mến,
Hẳn bạn đã nghe tin ngày 4 tháng 3 , CSVN làm lễ... Tổ Quốc Ghi Công cho 17 Việt... kìu có công với chế độ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội. Ban tuyển chọn và đề cử gồm có Ủy ban Trung Ương, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, Ủy Ban về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại Giao, Hội Liên Lạc người Việt Nam ở nước ngoài (mấy cái Ủy Ban này tên dài quá Bạn ơi!) và Ban lãnh đạo VNNet đã bình bầu và trao giải Vinh danh nước Việt 2006, cho những người có xú danh như sau:
01/- PGS. TS. Trần Nam Bình, (Việt kiều Úc), PGS của trường Đại Học New South Wales, Úc.
02/- TS. Lê Quang Bình, ( Việt kiều Mỹ ), chuyên viên của Advanced Micro Devices (AMD), Mỹ.
03/- GS. Nguyễn Văn Chuyển, (Việt kều Nhật Bản), GS. Đại Học Phụ Nữ Nhật Bản.
04/- TS. Đỗ Đức Cường, ( Việt kiều Mỹ ), chuyên gia cao cấp trong ngành Ngân Hàng tại Mỹ. Đại Sứ Thiện Chí Liên Hiệp Quốc, và Cố Vấn cao cấp của Ngân hàng tại Việt Nam.
05/- Trung Dung, ( Việt kiều Mỹ ), Giám Đốc điều hành V-Home Group, Mỹ.
06/- Bs. Hoàng Anh Dũng, ( Việt kiều Bỉ ), Bỉ.
07/- (*)BS. Quỳnh Kiều, ( Việt kiều Mỹ ), phụ nữ "xuất sắc" ở California, Mỹ.
08/- GS. TS. Thái Kim Lân, (Việt kiều Đức), Đại Học Munich, Đức.
09/- GS. TS. Trần Minh Tâm, ( Việt kiều Thụy Sĩ ), Thụy Sĩ.
10/- Họa Sĩ Dương Văn Thành, (Việt kiều Thụy Điển), ở Thụy Điển.
11/- Linh Mục Nguyễn Đình Thi, (Việt kiều Pháp), Chủ Tịch Hội Huynh Đệ tại Pháp.
12/- GS. TS. Phạm Gia Thụ, Đại Học Canada.
13/- KS. Đỗ Anh Thư, ( Việt kiều Mỹ ), Hội VNHelp ở Mỹ. TGĐ quỹ Y tế, Giáo dục, Văn hóa của CSVN.
14/- TS. Trương Nguyễn Trân, (Việt kiều Pháp), Giám đốc Nghiên Cứu Danh Dự (!) Trung tâm Vật Lý Lý Thuyết tại Đại Học Bách Khoa Paris, Pháp.
15/- GS. TS. Lê Dũng Tráng, (Việt kiều Pháp), Viện sĩ, Giám Đốc Trung Tâm Toán học của Hàn Lâm Viện Thế Giới tại Ý.
16/- GS. Huỳnh Hữu Tuệ, (Việt kiều Canada), Đại Học Canada.
17/- Vũ Đức Vượng, GS. ( Việt kiều Mỹ ), Đại Học ở San Francisco, Mỹ.
Trong số 17 người này, chúng ta thấy có 6 người là Mỹ kiều, 3 người Pháp kiều, 2 Canada kiều, 1 Úc kiều, 1 Nhật kiều, 1 Bỉ kiều, 1 Đức kiều, 1 Thụy Sĩ kiều và 1 Thụy Điển kiều. Điều đáng buồn là về khoản Việt gian này, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ chiếm nhiều nhất: 6 mạng. Cũng dễ hiểu thôi Bạn ạ! Vì rằng người Việt ở Mỹ cũng nhiều hơn ở các nước khác, cơm gạo và thực phẩm ở Mỹ cũng dồi dào hơn ở các nước khác, và... và Tự Do ở Mỹ cũng nhiều hơn ở các nước khác, nên sau khi định cư hoặc tỵ nạn yên ổn rồi, công thành danh toại rồi, nhà cao cửa rộng rồi, 6 con người Kiều bào sĩ nọ sĩ kia hư hỏng ấy, mới muốn quay về quê hương để thưởng thức chùm khế ngọt, kẻo mai một trút hơi thở trên quê người, không có chùm khế ngọt để dằn bụng, không có con diều biếc để chỉ đường và dẫn độ về Địa ngục gặp cha già HCM!
Trong danh sách 17 người này, nhân vật nữ bác sĩ Quỳnh Kiều cùng chồng là Bs. Kiều Quang Chẩn được báo chí gọi là Song Kiều và nhắc nhở nhiều trong năm qua về những thành tích chói sáng của 2 người là Kiều - vợ chuyên mượn danh nghĩa từ thiện để làm lợi cho bản thân và đem tiền về giúp chế độ. Còn Kiều - chồng thì đút lót Hải Quan VC để tuồn đồ cổ của Việt Nam ra nước ngoài buôn bán trục lợi làm giầu.
Nhân vật nữa cũng nổi cộm bởi thành tích thiện nguyện cứu trẻ mồ côi, cứu thương binh qua những hoạt động làm lợi cho chế độ CSVN là hội VNHelp ôm chân Đảng, đã từng bị báo chí và cộng đồng người Việt ty nạn CS lên án và xa lánh. Điều trớ trêu là vị Giám đốc nữ anh thư của hội này lại là con của một gia đình HO, cựu tù nhân chính trị CSVN, từng bị VC bắt tù đầy và được qua Mỹ trong thành phần tỵ nạn chính trị!!
Bạn đừng vội cười mà phán rằng thành phần đó thiếu gì trên đất Mỹ này. Vâng, chúng ta không phủ nhận điều đó. Thì ra chỉ tại Mỹ no cơm ấm áo, dồi dào Tự Do quá đấy thôi, vẫn tỵ nạn, vẫn vào Quốc Tịch Mỹ, vẫn đưa tay tuyên thệ không theo CS, nhưng vẫn... mê Cộng. Làm gì được nhau nào? Xem kìa, trong 17 xú danh đó, có tên nào là tỷ phú như những danh sách tư bản Đỏ tỷ phú đô la trong nước như Nguyễn Tấn Dũng, như Võ Văn Kiệt, như Nông Đức Mạnh v...v... chưa? Tại sao những tay tư bản Đỏ đó không nhón tay một chút tài sản của chúng để xóa đói, giảm nghèo, cứu bão lụt, giúp cô nhi quả phụ. Mà đã hơn 30 năm hết chinh chiến rồi, thương binh và cô nhi quả phụ ở đâu ra mà cứu nữa hở Bạn? Hay chính những tỷ phú cán bộ Đỏ, những Việt Kiều đú đởn, những đại gia, những cô gái chân dài, những siêu người mẫu của chế độ đó lại là tác giả của những cô nhi kia?
Bạn thấy không? Hỏi và trả lời cũng là một.
Chắc Bạn sẽ chán nản mà bảo rằng: Thôi, kệ họ. Muốn vinh danh ai thì vinh. Có ai được vinh danh, ca tụng, sùng bái bằng Hồ Chí Minh. Nhưng bây giờ theo thời gian, thâm cung bí sử'' hết còn bí mật, thì mới hay HCM chính là một tội đồ man rợ, hèn hạ, bán nước cầu vinh, dâm đãng, hãm hại người ái quốc và giết vợ, bỏ con, nghĩa là HCM làm tất cả những tội ác gì có trên thế gian này. Những gì gọi là tội lỗi, y cũng phạm được cả. Thì đã nói y là một con quỷ mà.
Nhưng, này Bạn, không biết 17 người được cộng sản vinh danh kia, có biết câu chuyện của nhà trí thức Trần Đức Thảo, yêu Mác-Xít, từ bỏ kinh đô ánh sáng để về nước, được Bác và Đảng đãi ngộ cho đi chăn dê, thân tàn ma dại cho đến cuối đời không nhỉ? Nhờ Bạn nhắc tuồng cho họ đi.
Riêng tên thứ 17 - Vượn họ Vũ - thì không cần nói đến, chắc Bạn cũng thấy nhờm tởm y rồi phải không? Hôm trước, biểu tình chống VC Tôn Nữ Thị Ninh tại San Jose, thấy bản mặt Việt gian của y khi đẩy mụ Ninh lên xe, mà thấy rằng tự điển Việt Nam chưa định nghĩa đủ hai chữ nhục nhã. Phải định nghĩa nhục nhã là Vượn Vũ! Cũng như báo chí trong nước đã định nghĩa hai chữ chôm chĩa bằng tên của ông nhạc sĩ Bảo Chấn vậy.
Thân mến chào Bạn.
Hẹn Bạn thư sau.
Tuyết-Lan
08/30/09. 06:31:17 am. 2063 words, 171 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Tin tức ðó ðây, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs ,
CHÚ GIẢI "CUỐN HẮC THƯ" CỦA ROBERT HUE

Chú giải "Cuốn Hắc Thư" của Robert Hue
Source: congdongnguoiviet.fr
Trần đoàn Kết
Nhân dịp kỷ niệm 80 năm thành lập chế độ cộng sản tại Nga lãnh tụ Ðảng cộng sản Pháp, ông Robert Hue chú giải cuốn sách mới "Cuốn Hắc Thư".
THỜI SỰ - Ðảng cộng sản Nga mừng kỷ niệm 80 năm chế độ.
Ngày mồng 7 tháng 11 vừa qua, Ðảng cộng sản Nga do ông Gennadij Zjuganov lãnh dạo, đã tổ chức tại nhiều thành phố, cách riêng tại Moscova, những cuộc biểu tình mừng kỷ niệm 80 năm thành lập chế độ cộng sản tại Ðế quốc Nga (7.11.1917 - 1997). Số người tham dự các cuộc biểu tình được ước lượng khác nhau: theo Ðảng cộng sản, khoảng từ 100 tới 300 ngàn; trái lại theo cảnh sát Nhà Nước chỉ có 13 ngàn. Dù sao, đây là một cuộc biểu tình lớn nhất kể từ khi chế độ cộng sản Liên xô sụp đổ, cách đây 7 năm. Tại Moscova, cuộc biểu tình được tập trung vào hai địa điểm: Quảng trường Lubjanka, trước Tòa nhà đồ sộ, thời chế độ là trụ sở của Công an chính trị Liên xô (Ceka, Gpu, Nkvd, Kgb) và tại Cửa Kaluga, trước đây là Quảng trường tháng 10, nơi có tượng ông Lenin. Các người tham dự cuộc biểu tình phần lớn là những người có tuổi, họ mang theo cờ đỏ búa liềm, hình ông Lenin và Stalin, cả biểu ngữ chống chính phủ Boris Yeltsin nữa .Trong diễn văn đọc trước đoàn biểu tình, lãnh tụ Ðảng ông Zennadij Zjuganov khuyên các đảng viên và những người ủng hộ ông xử dụng những phương pháp tranh đấu trong và ngoài quốc hội; ông hứa với đoàn biểu tình rằng: "Bè lũ phản bội và bị mua chuộc" (tức ông Yeltsin và các người cộng tác của ông) sẽ bị trục xuất khỏi Ðiện Cẩûm Linh và Nước Nga sẽ trở thành vĩ đại theo chủ nghĩa xã hội. Các người biểu tình hát Quốc ca cũ của Liên xô và bài Ca Xã hội quốc tế. Ðoàn biểu tình cũng được nghe lại bài diễn văn của Ông Lenin đã được ghi băng.
Theo các quan sát viên , thì cuộc biểu tình, cho dù có 300 ngàn người tham dự, cũng không phải là một lực lượng đáng lo sợ. Theo cuộc thăm dò dân ý do một hãng thông tấn nghiêm chỉnh nhất tại Nga thì khoảng 15% dân chúng Nga ủng hộ thực sự các người cộng sản, nếu có cuộïc đảo chính. Còn 15% khác muốn trốn ra ngoại quốc, nếu người cộng sản trở lại nắm chính quyền như trước đây. Trở lại bằng lá phiếu qua các cuộc bầu cử tự do, người cộng sản biết rõ không có hy vọng. Chế độ cộng sản lỗi thời và cả người cộng sản ngày nay cũng không tin tưởng vào ý thức hệ mà họ rao giảng và nhồi sọ người dân. Làm sao nắm quyền và ở lại là mục tiêu tranh đấu duy nhất bằng mọi phương thế.
Ngoài Moscova, các cuộc biểu tình còn diễn ra tại San Pietroburg và Vladivostok. Trong tất cả các cuộc biểu tình lớn nhỏ vừa qua, theo Bộ Nội vụ có khoảng 57 ngàn người tham dự. Tại Ekaterinburg, nơi Vua Nicola đệ nhị và Hoàng gia bị Cộng sản sát hại năm 1918, số tham dự cuộc biểu tình chỉ có 1,500 người. Cuộc xô xát xẩy ra tại Leopoli (bên Ukraine): phe quốc gia tấn công 300 người cộng sản biểu tình: có 10 người bị thương.
Trái lại, Tổng thống Boris Eltsin muốn biến đổi ý nghĩa của ngày mồng 7 tháng 11 năm 1917 thành ngày "hòa hợp và hòa giải quốc gia". Trong ngày này trên đài truyền hình, ông kêu gọi dân Nga tiến đến mục tiêu ông đề nghị: hòa hợp và hòa giải. Ông nói:
"Ngày hôm nay chỉ phải nhớ lại tất cả những người đã chết trong cuộc nội chiến. Chúng ta phải hiểu nhau và tha thứ cho nhau: Tha thứ cho tất cả những ai đã phạm lầm lỗi tai hại này: đặt một ý thức hệ ảo tưởng trên mạng sống con người". Ông giải thích thêm: có nhiều người hành động vì lòng ngay. Họ tin vào "svetloje buduscheje", nghĩa là "tương lai sáng lạng" của nước Nga. Họ hãnh diện thực sự vì Nước Nga đã thành công trong việc thay đổi cục diện của thế kỷ 20 này. Ông nói: "Ngày nay cần phải tỏ ra rằng: chúng ta có khả năng không phải để cãi cọ nhau mà để đi đến một hòa hợp với nhau. Hay ít ra chúng ta đừng chia rẽ nước Nga thành "chúng ta" và "họ". Tổng thống Yeltsin còn đề nghị lập một đài kỷ niệm ghi nhớ tất cả các nạn nhân, không phân biệt ý thức hệ, của cuộc Cách mạng và của cuộc nội chiến tiếp sau đó kéo dài tới năm 1922, gây nên 13 triệu người chết.
Tại Pháp, nhân dịp kỷ niệm 80 năm thành lập chế độ cộng sản tại Nga, lãnh tụ Ðảng cộng sản Pháp, ông Robert Hue, chú giải cuốn sách mới xuất bản tại Pháp "Cuốn Hắc Thư " (ngược lại với "Cuốn Bạch Thư" của Ðảng Cộng sản Trung quốc về tự do tôn giáo, được tung ra trước khi chủ tịch Nhà Nước Trung quốc lên đường viếng thăm Hoa kỳ (26.10 đến 2.11.97), đã không ngần ngại công nhận những quả quyết trong cuốn sách này. Theo Cuốn Hắc thư, thì các chế độ Macxít-Lenin đã sát hại tới 100 triệu người trên thế giới. Ông tuyên bố: "Ðây là một thảm họa đã liên lụy nhiều dân tộc. Ðây là một tiến trình kinh khủng phải bị lên án cách tuyệt đối". Cuốn Hắc thư do một số nhà trí thức Pháp viết ra dưới sự phối kiểm của Stephane Courtois và được đề đầu là "Le livre noir du Communisme" (Cuốn hắc thư của chế độ cộng sản). Trong 864 trang các tác giả phác họa một bản tổng kê khiếp sợ của một thế kỷ dưới chế độ độc tài cộng sản: từ 85 đến 100 triệu người chết.
Dịp kỷ niệm 80 năm lập chế độ cộng sản tại Nga là đề tài thời cuộc rất hấp dẫn. Thế giới cần biết đến và phải ca ngợi sự can đảm, sự thành thực của ông Robert Hue, người thay thế ông Georges Marchais, lãnh đạo Ðảng cộng sản Pháp. Ông dám nói lên cái ông nghĩ và lên án tuyệt đối những vụ sát hại và lưu đầy thực hiện từ 1917 tới nay "nhân danh tín điều cộng sản". Ông tuyên bố: "Nhưng thực là điều phi lý, nếu không nói là lố bịch, trò hề, chỉ nêu lên các con số kinh khủng về nạn nhân. Ðảng cộng sản Pháp phải phân tích cái mà chúng ta gọi là chế độ Stalin trong nội bộ của Ðảng chúng ta. Các đồng chí, chúng ta đã sai lầm".
Cuốn Hắc thư được viết ra với mục đích trả lời cho câu hỏi khẩn cấp được đặt ra: "Tại sao cho đến lúc này không một tòa án nào theo kiểu Tòa án Nuernberg (Tòa án được thành lập tại thành phố này trong miền Baviera của Ðức, để xử các tội ác của chế độ Ðức quốc xã (1945-1946) được thành lập để xử và lên án các tội ác của chế độ cộng sản? Tại sao các nhà trí thức, triết học, sử học, xã hội học... nhắm mắt trước những thực tại, bằng cách lờ đi như không biết gì và nghĩ rằng chỉ có tội ác của chế độ Ðức quốc xã là một sự xấu xa tuyệt đối? Các tác giả Cuốn Hắc thư cũng biết rằng các vị "tai mắt này" không dám lên tiếng vì "há miệng mắc quai". Nhưng đây không phải chỉ là những ý thức hệ, nhưng là một chế độ cộng sản thực sự, cụ thể, hiện hữu trong thời đại rõ ràng, trong những quốc gia có tên trong bản đồ thế giới và được nhập thể nơi những lãnh tụ nổi tiếng thế giới: Lenin, Stalin, Mao Trạch Ðông, Hồ chí Minh, Kim nhật Thành, Fidel Castro v.v... và tại nước Pháp này như Maurice Thorez, Jacques Duclos, Georges Marchais.
Theo các tác giả Cuốn Hắc thư, tại Liên xô Stalin sát hại khoảng 20 triệu người dân - tại Trung quốc khoảng 65 triệu - tại Bắc Hàn: hai triệu - tại Việt nam: một triệu (thời kỳ cải cách ruộng đất) - tại Kampuchia: hai triệu (thời Pol Pot) - tại các nước Ðông Âu: một triệu - 150 ngàn tại Châu Mỹ Latinh - một triệu 700 ngàn tại Angola - Mozambic và Ethiopie. Ngoài ra còn có 10 ngàn thuộc nội bộ Phong trào cộng sản quốc tế bị thanh toán do lệnh của Stalin.
Roma ngày 10.11.97
Lm. P. Trần đoàn Kết
08/30/09. 06:04:46 am. 2262 words, 239 views. Categories: Văn chương triết lý, Chiến tranh và hòa bình, Liên kết blogs, Ôn cố nhi tri tân, Ðọc sách hay, Xã hội và nhân văn ,
BỨC TƯỜNG BERLIN

Một đoạn bức tường đang được xe cần cẩu kéo sập năm 1989
Tin BBC: Báo Sài Gòn Tiếp Thị xác nhận với BBC đã "ngừng hợp đồng" với nhà báo Huy Đức, vì cho rằng "tòa soạn không cùng quan điểm" với bài báo của ông.
Ông Trần Công Khanh, Tổng thư ký tòa soạn, giải thích quyết định của tòa soạn được đưa ra sau khi nhà báo Huy Đức đăng bài "Bức tường Berlin" trên blog Osin của mình ngày 23/08.
Bài viết kể về câu chuyện 20 năm ngày sụp đổ bức tường chia đôi nước Đức, bày tỏ một số nhận định bị cho là trái với quan điểm chính thống ở Việt Nam.
Trích: một lời góp ý trong Osin blog
Dạ em xin nói ít các bạn hiểu nhiều, sự việc em nói cũng liên quan đến Bức tường Berlin mà anh Huy Đức viết trên Blog đó là "sự thật". Trước đây em học lớp 9, có 1 đợt thanh tra giám sát của Sở Đào Tạo giáo dục về thăm trường để xem khả năng giảng dạy và môi trường học như thế nào.
Hic để khích động môi trường học tập, thầy giáo dạy vật lý "thân thương" của bọn em dặn dò học sinh rất kỹ. Khi thầy hỏi tất cả các em đều giơ tay, em nào biết thì giơ tay phải em nào không biết thì giơ tay trái. Kết thúc tiết học các bác thanh tra và thầy hiệu trưởng nắm tay bắt tay khen nhau nức nở rồi mời nhau đi ăn. Phong trào học tập của trường em luôn được xếp vào hạng cao của Thành Phố Hà Nội.
A Ky, Hà Nội
Dưới đây là toàn văn của bài này:
BỨC TƯỜNG BERLIN
Source: Blog Osin - August 23 2009
Huy Đức
Cái cây tìm sự cô đơn ở trên cao
Ngọn cỏ tìm sự đông đảo ở dưới đất
Blog Osin
Tuần trước, một người Đông Đức, bà Angela Merkel, vừa lên tiếng trên cương vị Thủ tướng nước Đức thống nhất cám ơn Hungary cách đây 20 năm, tháng 8-1989, đã mở cửa biên giới của mình, để cho hơn 60 nghìn người Đông Đức thoát ra, dẫn tới sự kiện bức tường Berlin sụp đổ.
Tháng 6-2004, Hoàng- một đồng đội cũ của tôi ở trường sĩ quan, cựu đại úy quân đội nhân dân Việt Nam, con trai một vị tư lệnh chiến trường nổi tiếng thời đánh Mỹ và đánh Pol Pot- lái xe chở tôi chạy từ Đông sang Tây và cuối cùng đến trước bức tường Berlin. Hoàng nằm trong số những người Việt Nam đầu tiên leo qua phía Tây, thay vì đủ kiên nhẫn để đập đổ cái mà Hoàng, cho đến ngày nay, vẫn coi là “bức tường ô nhục”.
Berlin cũng như nước Đức, sau Thế chiến thứ II, bị “xẻ làm tư” theo thỏa ước Potsdam. Cho dù Liên Xô phản đối, các nước Anh, Pháp, Mỹ sau đó vẫn trả lại quyền tự chủ cho người Đức trên phần lãnh thổ mà mình tiếp quản. “Kế hoạch Marshall” đã giúp Tây Đức phát triển rất nhanh dựa trên nền tảng tự do.
Năm 1948, Stalin ra lệnh phong tỏa, không cho vận chuyển lương thực thực phẩm từ Đông sang Tây. Nhưng vẫn không có người Tây Đức nào đi theo Stalin. Trong khi, trong suốt thập niên 50 đã có hơn 3,5 triệu người Đông Đức bỏ chạy sang Tây Đức. Ngày 1-8-1961, Tổng Bí thư Liên Xô, Krushchev, điện đàm với Ulbricht, Bí thư thứ nhất Đông Đức “đề nghị xây tường”. Ngày 12-8 năm đó, Ulbricht ký lệnh đóng cửa biên giới và “bức tường ô nhục” đã được người Đức cùng với “Hồng Quân Liên xô” nửa đêm “dựng lên lén lút”.

Một phần còn lại của Bức tường Berlin, được bảo tồn để tưởng niệm
Bảo tàng Bức tường Berlin là một trong những bảo tàng vô cùng ấn tượng. Có thể tìm thấy ở đây những sự kiện bi thảm; nhưng, cũng có thể tìm thấy ở đây những câu chuyện hết sức li kỳ. Chỉ có với khát khao tự do con người mới có thể bất chấp sự hiểm nguy mà vượt thoát mãnh liệt đến vậy. Lượng người dân Đông Đức bị bắn chết khi trèo qua bức tường Berlin không dừng lại ở con số 1.374; mới đây, Bảo tàng vừa cho bổ sung vào danh sách này những người không phải là dân “vượt biên” mà là lính biên phòng Đông Đức. Hàng chục lính biên phòng Đông Đức đã tự sát thay vì chấp hành lệnh chính quyền bắn vào nhân dân, những người tìm kiếm tự do.
Chỉ cần đến Bảo tàng Bức tường Berlin là có thể hiểu vì sao cả Đông Âu, tràn ngập xe tăng Liên Xô, thế mà vẫn đổ; có thể hiểu vì sao Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu lấy ngày “23 tháng Tám là ngày tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa Stalin và Phát xít”. Ngày 23-8-1939, Stalin đã bắt tay với Hitler, ký Hiệp ước phân chia Châu Âu. Chỉ một tuần sau, ngày 1-9-1939, Hitler đánh chiếm một phần Ba Lan; ngày 17-9-1939, Liên Xô xâm lược phần còn lại. Người của Stalin, ngay sau đó đã giết hại hàng trăm nghìn người Ba Lan và đưa hơn một triệu người Ba Lan khác lưu đày viễn xứ.
Nếu như, chủ nghĩa Hitler chỉ kịp gây tội ác trong những năm tháng chiến tranh thì chủ nghĩa Stalin lại tiếp tục hủy hoại con người ngay cả khi không còn tiếng súng. Sự hy sinh của hơn 20 triệu người Liên Xô, sự anh dũng của các tướng lĩnh, của Hồng quân là vô cùng vĩ đại. Nhưng, sự hy sinh ấy của nhân dân đã bị những người như Stalin tước đoạt. Liên Xô, quốc gia đóng vài trò quyết định trong cuộc chiến chống Phát xít, thay vì được ghi nhớ như là “giải phóng quân” đã trở thành một lực lượng chiếm đóng và đã áp đặt lên Đông Âu một chế độ tước đoạt hết của con người những quyền căn bản.


Tưởng nhớ các nạn nhân của Bức tường Berlin
Tại Đông Đức, sau 8 năm chiếm đóng, chính quyền do người Nga lập nên liên tục có những hoạt động thanh trừng nội bộ; khủng bố những người bất đồng; kiểm soát thanh niên; trong khi, thực phẩm thì khan hiếm và đắt đỏ. Sau khi Stalin chết, hơn 1 triệu người dân Đông Đức đã xuống đường biểu tình. Chính phủ Đông Đức rút chạy vào tổng hành dinh của Hồng quân Liên Xô. Chính họ đã cầu cứu và “ngoại bang” đã dùng xe tăng thẳng tay đàn áp cuộc chống đối đầu tiên của nhân dân ấy.
Tại Hungary, sau năm 1945, cuộc bầu cử dân chủ chỉ đem lại cho đảng cộng sản Hungary 17%. Nhưng ngay sau đó, “toàn quyền Liên xô”, tướng Kliment Voroshilov đã buộc một thành viên không đảng phái trao ghế Bộ trưởng Nội vụ cho László Rajk, người của đảng cộng sản Hungary. László Rajk đã lập ra cơ quan an ninh quốc gia sử dụng cách mà Hitler đã làm trong thập niên 30: vu cáo, bắt bớ, tra tấn… tiêu diệt dần đối lập. Ngày 23-10-1956, người Hungary đứng dậy hô to “không cam chịu làm nô lệ nữa”. Nhưng, ngày 4-11-1956, xe tăng Liên Xô nghiến nát cuộc chính biến sau khi máy bay ném bom xuống Thủ đô Budapest: 2.500 người Hung bị giết; 200 nghìn người khác phải trốn khỏi quê hương.
Sự ngột ngạt về chính trị và bế tắc về kinh tế trở thành tình trạng phổ biến ở Đông Âu. Năm 1967, sau khi trở thành Bí thư thứ Nhất Tiệp Khắc, Alexander Dubcek tiến hành cải cách. Dubcek cho phát triển kinh tế tự chủ hơn; các tù nhân chính trị được tha và báo chí bắt đầu có tiếng nói. Không chủ trương đa đảng, Dubcek chỉ có ý định xây dựng “chủ nghĩa xã hội nhân bản hơn”. Tuy nhiên, những nỗ lực của Dubcek càng mang lại sự thịnh vượng cho nhân dân thì lại càng gây lo lắng cho Liên Xô. Cho dù không có “nổi dậy”, đêm 20-8-1968, xe tăng Liên Xô vẫn tiến vào Praha theo sau bởi hơn 165 nghìn quân của khối Warsava.
Tại bảo tàng Bức tường Berlin, có một đoạn video gần như được liên tục phát, đó là trích đoạn phát biểu ngày 12-6-1987 của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan: “Mr. Gorbachev, hãy phá bỏ bức tường này”. Thật khó để xác định ai là người đóng vai trò chính để kết thúc chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, có thể bức tường Berlin đã không sụp đổ nếu như tháng 3-1989, Thủ tướng Hungary, Miklos Nemeth, khi có ý định “tháo gỡ hàng rào kẽm gai dọc theo biên giới” không nhận được tín hiệu từ ông Gorbachev: “Vấn đề an ninh biên giới là việc của ông Nemeth”.
Không có một dân tộc nào không nuôi khát vọng tự do ngay cả dưới họng súng của xe tăng và đại bác. Câu trả lời của ông Gorbachev đơn giản chỉ là trả cho người Hungary quyền tự quyết. Cái quyền mà người dân Đông Âu lẽ ra phải được hưởng kể từ 1945.
Cũng trong tháng 6-2004, tôi có đi qua một vài nghĩa trang quân Đồng Minh chết sau sự kiện Normandy. Những tấm bia ở đây nói rõ là nghĩa trang được lập bởi dân chúng địa phương góp đất và tiền để tưởng nhớ những người lính Anh, Mỹ, New Zeland, Australia… Những “nghĩa trang dân lập” ấy vẫn được gìn giữ cho đến ngày nay với hoa tươi quanh năm. Trong khi, năm 2007, Tổng thống Nga Putin bị các quốc gia lân bang đặt trước tình huống phải ký sắc lệnh lập 7 văn phòng đại diện tại Ba Lan, Hungary và các nước vùng Baltic để bảo vệ mộ của Hồng quân. Thật không phải khi đụng đến nơi tưởng niệm những người đã hy sinh. Nhưng, cái cách mà Putin cư xử với lân bang đã khiến họ nhớ lại thời Liên Xô và nhận thấy những tượng đài Hồng quân “không còn là một biểu tượng chống phát xít mà là biểu tượng của sự chiếm đóng”.
Bên cạnh những bao cát của Checkpoint Charlie, chốt gác giữa Đông và Tây Berlin, cũng luôn có hoa tươi. Có lẽ ngay chính người Mỹ, sau những chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Iraq, cũng thèm khát hình ảnh của chính mình trên bờ biển Normandy hay ở cái Checkpoint Charlie ấy. Từng là một người lính ở Campuchia tôi hiểu, không có người lính nào sẵn sàng hy sinh nếu không nghĩ, sứ mệnh của mình là giải phóng. Nhưng, không chỉ những người đã nằm xuống, người lính thường kết thúc sứ mệnh sau khi buông súng, mà những việc có ảnh hưởng tới “các giá trị thiêng liêng” khi ấy mới thực sự bắt đầu. Một cuộc chiến không còn được coi là “giải phóng” nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do.
Huy Đức
Và sau đây là thông báo chính thức của Huy Đức trên blog Osin của anh:
Làm Osin
Từ 25-8, tôi không còn là phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị. Trong 21 năm làm báo, tôi đã từng bị mất việc nhiều lần. Thất nghiệp không phải là một trạng thái nhẹ nhàng, nhất là mất việc ở nơi mà mình yêu thích. Nhưng, đôi khi người làm báo vẫn phải có những quyết định không phải do mình lựa chọn.
Tôi thừa nhận, đây là một thời kỳ khó khăn. Trên trang web BBC, GS Carlyle Thayer nói: “Từ khi ông Tô Huy Rứa vào Bộ Chính trị hồi đầu năm ngoái, người ta thấy có một sự mài giũa trông thấy đối với báo chí chính thống”. GS Thayer có lẽ gần đây chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với ông Rứa và tình hình Việt Nam. Tác giả bức tranh báo chí hiện nay không phải hoàn toàn là Ban Tuyên giáo.
Tôi không có ý định chia tay với nghề báo. Nhưng, đây là thời gian thích hợp để tôi viết lại một vài chương sách, làm một vài việc mà tôi cảm thấy như là món nợ với một người đã khuất. Tôi tin là mình sẽ có cơ hội trở lại với báo chí chính thống sau khi hoàn thành những công việc này. Báo chí, cho dù của nhà nước thì vẫn là một tài sản của xã hội. Báo chí phải là nơi chuyển tải những bài viết trung thực, những phân tích, phản biện; những bài viết mà người làm báo tin rằng nó phụng sự xã hội.
08/28/09. 09:26:06 pm. 3276 words, 221 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Hậu trường, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn ,
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA?

Ðịnh Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa?
Source: Thông Luận
Thần Báo
Những biến chuyển dân chủ của thế giới, những cuộc vùng dậy của nhân dân bị trị, chống áp bức bất công đã khiến cho tập đoàn lãnh đạo cộng sản Việt Nam hoảng sợ, và cải tổ kinh tế. Giải toả nghèo đói bất mãn cũng đồng nghĩa là đảng muốn làm xoa dịu nhân dân để bảo toàn được quyền lực cai trị.
Người cộng sản thấy rằng nguyên lý độc tài áp bức không mang lại thịnh vượng quốc gia và hòa bình thế giới. Ngoài ra, độc tài áp bức làm xói mòn niềm tin quần chúng. Ðộc tài áp bức còn cản trở phát huy sáng tạo, khuyếch trương năng lực sản xuất và phát triển kinh tế xã hội. Nhất là vào thời nay, sự phát triển kinh tế xã hội lại đòi hỏi nhiều tính năng động sáng tạo và uyển chuyển của toàn dân.
Chế độ độc tài kinh tế lại trở thành phương tiện khủng bố đàn áp của nhà cầm quyền. Thành qủa phát triển kinh tế trong xã hội cộng sản không nhất thiết nhân dân được hưởng, vì bất cứ lúc nào nhà nước cũng có thể tước đoạt, thâu dụng toàn bộ tài sản của dân. Theo lý thuyết kinh tế, một cơ sở độc quyền có khả năng thâu dụng toàn bộ giá trị thặng dư. Một chế độ độc quyền cũng có khả năng đó. Bởi thế, phát triển kinh tế như tại Việt Nam hiện nay chưa phải là yếu tố bảo đảm cho người dân được hạnh phúc, cho nhân quyền được tôn trọng, và dân quyền được thực thi.
1. Ðịnh hướng xã hội chủ nghĩa là gì?
Có thể đảng cộng sản Việt Nam nghiên cứu phương pháp luận của Abraham Maslow (1908-1970), một ngành học khích lệ tổ chức (organizational motivation) phân loại nhu cầu con người (hierarchy of needs) trên 5 bậc thang thứ tự ưu tiên. Từ đó, ban chấp hành trung ương đảng mang ra áp dụng vào đường lối cai trị bằng những chính sách độc tài kìm kẹp nhân dân theo mô hình Maslow.
a. Mô hình Maslow là gì?

Maslow's pyramid
Người cộng sản lý luận rằng khi muốn cai trị được nhân dân, thì trước tiên cần sử dụng một chế độ mệnh danh là xiết hầu bao. Nhắm cái bao tử của dân mà chỉ huy lãnh đạo. Ðó là định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cũng theo lý thuyết kinh tế, cái bụng bảo cái chân cái tay. Nhà cầm quyền cộng sản, hơn lúc nào hết, luôn buộc người dân lo nghĩ đến chuyện miếng ăn, cái mặc. Cái bụng lúc nào cũng phải cảm thấy còn đoi đói, chưa no. Và người dân thì thiếu thốn nhu yếu phẩm, lo chạy gạo từng bữa. Ðủ hôm nay thì thiếu ngày mai, hay được nồi cơm sáng, thì lại chưa có nồi cơm chiều. Cuộc đời cứ quần quật lo đói rách như thế, thì xin hỏi, còn chi thì giờ mà nhân dân nghĩ đến tranh đấu, hoặc đòi hỏi tự do dân chủ nhân quyền?
Căn cứ theo phân loại nhu cầu con người, Maslow đã giúp chúng ta giải thích kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên 5 nấc thang của ông. Bậc thang thấp nhất mà cũng là ưu tiên cao nhất của con người, đó là nhu cầu thể xác (physiological needs) gồm có đồ ăn, thức uống, áo quần, sinh lý cho đến không khí mà con người phải thở, hay sợ hãi khi bị đau đớn. Ưu tiên hai là nhu cầu cảm nhận an toàn (safety and security needs). Ưu tiên ba là nhu cầu được thương yêu và kết tình bạn hữu (love and belonging needs). Ưu tiên bốn là nhu cầu tôn trọng nhân phẩm (esteem needs), tức được tôn trọng từ chính bản thân và nhân quần xã hội. Ưu tiên năm là ưu tiên thấp nhất, tức nhu cầu tự thực hiện (self actualization needs).

b. Mô hình Maslow được đảng cộng sản Việt Nam áp dụng như thế nào?
Nhu cầu con người có thể nhận diện, có thể định nghĩa là ước muốn trở thành chính mình, và trở thành tất cả những gì mình muốn trở thành. Nhưng yếu tố cần thiết để đạt trình độ tự thực hiện, là con người cần làm chủ với đời sống của mình trong xã hội, và cũng làm chủ lấy cấu trúc chính trị chi phối đời sống của mình, tức đời sống dân chủ.
Học thuyết Maslow bao gồm hai hệ luận nhằm giải thích, tiên đoán hành vi của con người. Một là, con người cố gắng vượt qua những thứ tự ưu tiên để đạt đến mức độ cao, đó là có thể thực hiện. Hai là, trong trường hợp phải chọn lựa giữa nhiều nhu cầu, thường thường, nhu cầu thuộc ưu tiên cao thì được chọn trước.
Ví dụ, người thường dân thì phải lo ăn, lo uống, lo cho sự an toàn bản thân mình, trước khi nghĩ tới nhu cầu tự thực hiện.
Chính cái điểm trọng yếu trên đây trở quy luật làm khuôn vàng thước ngọc giúp cộng sản điều nghiên đưa vào đường hướng cai trị căn cứ theo nhu cầu thể xác, để có thể kìm kẹp nhân dân nằm trong nấc thang thấp nhất, và dễ thực hiện thành công nhất. Ðảng chỉ việc dùng kinh tế làm phương tiện đàn áp nhân dân, tức kinh tế chỉ huy chính trị. Từ đó đảng kìm hãm nhân dân trong những nhu cầu thể chất như cái ăn, cái mặc, cái ngủ… và những vấn đề sinh lý thường xuyên đòi hỏi của mọi con người. Vậy thì, còn hơi sức đâu, thời gian đâu mà nhân dân đứng lên đấu tranh dành lại nhân quyền tự do dân chủ, như bảng thang 5 gọi là nhu cầu thực hiện? Chế độ hộ khẩu là một ví dụ điển hình cho bảng thang một, mô hình Maslow.
Từ mô hình Maslow, đảng cộng sản Việt Nam đã nắm trọn hầu bao của toàn dân, thì kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ tiến nhanh tiến mạnh và tiến vững chắc lên thang hai. Thay vì nâng cao dân trí, thay vì giáo dục đào tạo, thay vì nâng cao đời sống dân nước, thì ngược lại, đảng dồn tài nguyên quốc gia vào việc củng cố quân sự quốc phòng, mua vũ khí.
Cũng theo bảng thang hai Maslow, người cộng sản Việt Nam tin tưởng rằng dân nghèo nước mạnh, và đảng phải có nhiệm vụ tạo ra sức mạnh bằng những dự án mua vũ khí, súng đạn hiện đại của Nga tới hàng tỷ Mỹ kim hàng năm. Theo tờ báo kinh tế The Economist, trong năm 2006, Hoa Kỳ có tổng thu nhập quốc dân (Gross National Product) là 13,18 ngàn tỷ US dollars, và chi tiêu 5.5% cho ngân sách quốc phòng; đang khi, Việt Nam chỉ có 57 tỷ USD GNP mà chi tới 10.6%. Lại có nguồn tin trong nước cho biết Việt Nam đã chi dùng gấp đôi cho ngân sách quốc phòng tức 20%, chớ không như con số báo cáo đưa ra.
Căn cứ bảng thang Maslow và qua bản tin Việt Nam mua vũ khí của Nga, chúng ta thừa nhận rằng đảng cộng sản có công dẫn dắt dân tộc đi lên từ thang một, nhu cầu thể xác, mà tiến tới thang hai là nhu cầu an toàn. Ðây cũng là thành quả to lớn mà toàn đảng, toàn quân, và toàn dân đã liên hoan ăn mừng trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.
Ðảng cộng sản xưa nay cai trị bằng ba biện pháp hỗ tương. Một là, đảng chủ trương việc vận động tâm lý quần chúng, phát động chiến tranh nhân dân và mang đến thành quả là cướp được chính quyền. Ngày nay, đảng vẫn chủ trương tiếp tục tác động tâm lý quần chúng nhân dân bằng khẩu hiệu, bằng hứa hẹn, và truyền bá chủ thuyết Mác Lê… Hai là, đảng phải khủng bố đe dọa quần chúng để hủy diệt những mầm mống chống đối. Ba là, đảng sẵn sàng mềm mỏng để xoa dịu những bất mãn của quần chúng. Ðảng thừa biết rằng những nhu cầu đòi hỏi của quần chúng nhân dân như tự do dân chủ nhân quyền là thang năm, nhu cầu thực hiện dân chủ của Maslow.
Vậy thì vẫn có những sự rình rập của công an khu vực, hay những vụ đấu tố thanh trừng của tòa án nhân dân, dầu rằng đảng có bước qua thang hai, nhu cầu an toàn. Ðảng lại phải đương đầu với thang ba là nhu cầu yêu thương, được yêu thương và có thân nhân bạn bè thân thuộc yêu thương. Nếu như người Hồi giáo dị ứng trước những biếm họa Mohamet, thì người cộng sản lại dị ứng mỗi khi nhắc tới chữ yêu thương.
Lịch sử chứng minh rằng những chiêu bài vì dân vì nước, độc lập tự do, giải phóng dân tộc, chống Mỹ cứu nước, thống nhất lãnh thổ… chẳng qua là để thực hiện mục tiêu cuối cùng là chủ nghĩa tam vô. Ðối với những người khi có chủ trương vô gia đình thì làm gì có dân tộc, có đồng bào, mà có yêu thương? Và đã chủ trương vô tổ quốc, thì làm gì có hy sinh để mà giải phóng?
Yêu thương là một cái tát vào mặt chế độ cộng sản, là thang ba của Maslow. Nhân dân Việt Nam từ ngàn xưa đã có nếp sống với tinh thần thể hiện Ðồng Bào, đồng là cùng và bào là bọc, tức anh em bình đẳng và thân thương trong Một Bọc Trăm Con. Một là trăm và trăm là một. Mình sống vì mọi người và mọi người cũng vì mỗi người là Bọc Mẹ Trăm Con thể hiện là Con Cháu Tiên Rồng.
Nhu cầu thang ba như nói trên, thì coi như Hồ Chí Minh và Cộng Ðảng rớt đài, đã thua dân tộc Việt Nam. Bởi vì trong một xã hội chỉ xây dựng trên nguyên lý đấu tranh giai cấp, trên hận thù nghi kỵ lẫn nhau, lừa đảo nhau… Hơn nửa thế kỷ cầm quyền mà đảng chưa lên được thang ba, thì muốn tiến tới thang năm Maslow chắc chắn đảng sẽ phải mất hàng nửa thiên niên kỷ. Không lên thang Maslow thì người cộng sản đành dùng ngón đòn tây độc Âu Dương Phong trong chuyện Kim Dung, vì tẩu hỏa nhập ma chóng mặt mà phải lộn ngược gọi là cáp mô công. Do đó mà có kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ðịnh hướng xã hội chủ nghĩa lại sinh ra quái thai “thắt lưng buôc bụng (tighten one’s belt).”
2. Thắt lưng buộc bụng
Lý thuyết kinh tế nói rằng, thắt lưng buộc bụng hôm nay, để ngày mai thế hệ con em sung sướng.
Chính sách phát triển kinh tế mà người cộng sản chủ trương, tiến hành theo hai giai đoạn. Một là, đảng chú tâm phát triển ngành kỹ nghệ nặng. Hai là, đảng sau đó từ từ chuyển sang các ngành như sản xuất tiêu thụ. Ðầu tiên đảng kêu gọi nhân dân thắt lưng buộc bụng, buộc cỡ nào cũng buộc để mà sau cùng là có thể có dư dật. Nếu qủa thật chính sách kinh tế cộng sản này thành công, thì trong giai đoạn phát triển kỹ nghệ nặng, toàn dân đã biến thành vô sản chân chính, thiếu thốn đủ mọi thứ, gọi là nhu yếu phẩm. Không gạo mà dùng bo bo mì lát bắp đá. Không giầy mà đi dép râu cụ hồ. Và không còn nhu yếu phẩm đến nỗi cán bộ cộng sản cao cấp cũng phải dùng băng vệ sinh nữ giới mà thay khẩu trang, bịt miệng chống bụi trong lúc chạy Honda.
Kinh tế cộng sản, đúng lẽ ra, vẫn tiến nhờ sự gia tăng sản xuất công nghiệp của toàn dân. Nhưng thực tế, tài liệu Hội Ðồng Tương Trợ Kinh Tế Cộng Sản (Council for Mutual Economic Assistance) thì sản lượng thuần tịnh quốc gia (net national product) chỉ tăng 3.2% trong giai đoạn 1981-1987. Vì hầu hết các tài liệu cộng sản báo cáo bớt đi mức độ lạm phát nhằm mục đích tuyên truyền; bởi thế, sự phát triển kinh tế thấp hơn hoặc đình trệ. Kết quả, người dân thắt lưng buộc bụng đã sống qua vài thế hệ mà vẫn chưa thấy ngày mai ăn no mặc ấm, chưa thấy làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu.
Theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc ước tính tổng sản lượng quốc gia chia đều theo đầu người tại Việt Nam từ năm 1989 là $175US đến năm 2005 là $475US. Thực tế, chính sách thắt lưng buộc bụng của kinh tế cộng sản được coi như không đúng.
3. Hy sinh đời bố củng cố đời con
Thi hào Nguyễn Du không biết sao lại thốt ra trong Kiều: “Một liều thì ba bảy cũng liều”. Ngay lập tức, người cộng sản chớp câu nói “liều” mà áp dung vào việc làm kinh tế xã hội chủ nghĩa là “hy sinh đời bố củng cố đời con.” Nhà kinh tế xã hội chủ nghĩa Mai Văn Dâu là một ví dụ điển hình. Vì mọi người thấy rằng phương pháp tổ chức kinh tế chỉ huy, và phủ nhận quyền tư hữu khó mà đạt được khả năng tối thuận (pareto efficiency). Trước sau gì định hướng kinh tế xã hội chủ nghĩa sẽ đi tới tình trạng hoang phí đình trệ. Thôi thì liều, hy sinh đời bố củng cố đời con… rồi trước sau cũng được đảng cho phép “hạ cánh an toàn”.
Vì phủ nhận quyền tư hữu, nên kinh tế phải song hành với chính trị. Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chính trị độc tài áp bức là một vấn đề bất khả phân. Bởi cứ hễ là người thì ai cũng có nhu cầu, có khuynh hướng tư hữu, có thành quả do chính mình sản xuất. Vì thế định hướng xã hội chủ nghĩa là nhằm tước đoạt tư hữu, kiểm soát không cho ai tư hữu để nhân dân sớm trở thành vô sản chuyên chính.
Công hữu, giờ đây lại sản sinh ra nhu cầu mới và cần có cơ năng điều hành, tức kinh tế tập trung do đảng chỉ đạo. Từ đó lại dẫn tới, bộ máy tập trung kinh tế và bộ máy lãnh đạo chính trị phải là một. Và khi có kinh tế nhiều, thì có phương tiện khủng bố đàn áp nhiều. Như lời Lenin từng nói “Tự do thì tốt nhưng độc tài tốt hơn” (Freedom is good but controll is better).
Ðiều này đã khiến cho nhiều nhà khoa bảng lầm tưởng rằng, hễ cứ phát triển kinh tế thì áp bức nhân quyền được giảm dần, có lẽ nó chỉ đúng với cái thể chế độc tài không cộng sản. Bởi kinh tế là phương tiện của nhà cầm quyền dùng trong đại cuộc thực hiện độc tài và áp bức nhân dân.
Qua những cuộc cải cách ruộng đất hay cải tạo thương nghiệp thì mục tiêu của đảng là phải phế bỏ quyền tư hữu mà dành lại khả năng quyền lực chính trị từ tay nhân dân. Từ đó, đảng có thể tập trung quyền lực chính trị trong một chế độ chuyên chính vô sản để tạo ra bạo lực. Những lớp nông dân, công nhân, hay trí thức tư sản bị mất hết của cải tài sản và quyền lực chính trị, thì dễ bị khống chế bởi các bí thư đảng ủy, trong hệ thống kiểm soát hộ khẩu và bình công chấm điểm. Toàn dân lúc này chỉ còn được ăn lưng lửng bao tử, và lúc nào hay bất cứ cái gì cũng thiếu thốn. Ðó là chế độ nắm hầu bao để chỉ huy.
Trong tay người dân giờ đây không còn có tài sản, không còn có tiền, không còn có vũ khí, cho nên họ dễ bị cô lập trong hệ thống công an. Ngược lại với chế độ dân chủ, nông dân hay công nhân dù có nghèo rớt mùng tơi thì vẫn còn chút vốn phòng thân, làm chủ bản thân. Nghĩa là họ còn có chút quyền lực chính trị, tự lực cánh sinh. Nếu ta thu góp những quyền lực chính trị nho nhỏ đó thì sẽ thành một thế lực lớn để có thể tự bênh vực cho mình. Hiểu được như thế thì mới hiểu được hậu quả của cuộc cải cách ruộng đất, hay cải tạo thương nghiệp đối với việc củng cố bộ máy đàn áp kềm kẹp của chế độ độc tài cộng sản là gì.
Tóm lại, những vấn đề bất tương xứng để phủ nhận quyền tư hữu và hiệu năng của một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã chẳng phải sự bắt đầu từ Việt Nam hôm nay, mà nó đã có từ thập niên 1920, Ludwig Von Mises và trường phái kinh tế Áo đã biện luận cho điều này. Tới thập niên 1930, Oscar Langa và Abba Lerner chứng minh rằng trên lý thuyết, một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa tản quyền vẫn có thể vận dụng được những điều kiện tối thuận của một nền kinh tế tự do. Và tiếp đến, Fredrick Hayek và Milton Friedman xác định rằng, mặc dầu trên lý thuyết, tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa tản quyền có thể đạt được hiệu năng tối thuận, nhưng trên thực tế guồng máy này không tạo được sự khích lệ (economic incentives) cần đủ để đáp ứng hữu hiệu và kịp thời đúng lúc với những biến chuyển của nền kinh tế. Vì nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã không đáp ứng được nhanh nhẹn, cho nên nó đã bị mắc nghẽn trì trệ, tạo ra hoang phí tài nguyên, và dẫn đến tình trạng hết sức nghiêm trọng như Việt Nam hôm nay.
4. Kết luận
Chúng ta đã giải thích được xã hội chậm tiến và nghèo đói trên nguyên lý định hướng xã hội chủ nghĩa hai nấc thang của mô hình Maslow, và cả hai đều dẫn tới một hệ quả duy nhất là đảng cộng sản không mang lại hạnh phúc ấm no cho dân tộc. Một tập đoàn cai trị đi ngược lại nguyện vọng của nhân dân thì trước sau gì cũng bị đào thải. Nhìn vào thời cận đại, nhân dân các nước cộng sản Ðông Âu đã vùng dậy làm cuộc lật đổ chế độ độc tài đảng trị, từng một thời nhân danh vô sản chuyên chính và dân chủ tập trung.
Nhân dân các nước trong khối cộng sản đã vượt thắng sự sợ hãi bị khủng bố đàn áp để mà đứng lên. Hôm nay, người dân Việt cũng đang ở trên con đường “vượt qua nỗi sợ”. Để có thể đến một ngày nào đó một người đứng lên, triệu người đứng lên, toàn dân đứng lên đạp đổ chế độ phi nhân để giành lại quyền sống, khôi phục nền văn minh nhân bản, và xây dựng lại đất nước.
Thần Báo
08/28/09. 08:13:21 pm. 5013 words, 63 views. Categories: Thiên hạ sự, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn ,
DON'T TEXT AND DRIVE
08/26/09. 09:42:32 am. 0 words, 564 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Uncategorized, Tin tức ðó ðây, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Video chuyên ðề, Xe hơi ,
TIẾN TRÌNH BỊ MẤT ĐẤT

Cửa Ải Chi-lăng, yết hầu biên giới vào đồng bằng Bắc-bộ
Tiến trình bị mất đất
Lữ Giang
Source: Thông Luận
“… một số “sử gia” đời nay khi viết sử, thường không dựa theo chính sử như cụ Trần Trọng Kim, mà chỉ ghi lại những phần mình thích, bỏ đi những phần bị coi là mất “khí thế” hay không oai hùng, biến hoá nhiều đoạn và thêm huyền thoại vào làm cho sử không còn là thực sử nữa!…”
Chúng ta nhớ lại, nhân dịp Đại Hội Đảng Toàn Quân từ ngày 3 đến 11.1.2001, Lê Đức Anh đã đứng lên tố Lê Khả Phiêu 10 tội, trong đó có một tội rất quan trọng là “Bán đất, bán biển cho Trung Quốc” trong chuyến đi Trung Quốc chầu Giang Trạch Dân. Người đầu tiên đưa sự tố cáo này ra công luận là Đỗ Việt Sơn, một đảng viên đảng CSVN về hưu và có lẽ là đàn em của Lê Đức Anh. Sau đó, Luật sư Lê Chí Quang viết bài “Hãy cảnh giác Bắc Triều” nói rõ rằng phần đất bị “bán” là 720 cây số vuông. Nguyễn Chí Trung, thư ký của Lê Khả Phiêu, nói với báo chí rằng Lê Khả Phiêu là “nạn nhân của những âm mưu đánh phá của 3 vị cố vấn là các ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt”.
Dĩ nhiên, nhóm Lê Khả Phiêu phải phản pháo. Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh đã cho Thượng Tướng Nguyễn Nam Khánh dùng tài liệu vụ án chính trị T-4 tại Tổng Cục II thuộc Bộ Quốc Phòng để “chơi” lại nhóm Lê Đức Anh.
Khởi sự từ đó, một phong trào tố đảng CSVN làm mất đất mất biển được phát động ở hải ngoại, nhưng người Việt chống Cộng không dùng những chữ “Bán đất, bán biển cho Trung Quốc” của Lê Đức Anh, mà đổi thành “Dâng đất dâng biển cho Trung Quốc” . Chiến dịch này đã trở nên rầm rộ khi Trung Quốc thành lập huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, sau đó phong tỏa Biển Đông.
Thật ra, người Việt đã bị Tàu cướp đất dài dài trong tiến trình lịch sử, bắt đầu từ thời mới lập quốc cho đến ngày nay, do đó người Việt phải tiến dần xuống phía Nam. Tuy nhiên, cha ông chúng ta cũng đã chiếm đất của Lâm Ấp, Chiêm Thành và Chân Lạp để lập thành một nước mới.
Trong bài này chúng tôi chỉ nói về tiến trình bị mất đất trong lịch sử. Trong bài sau, chúng tôi sẽ bàn đến chuyện đòi đất của tiền nhân để rút kinh nghiệm.
Bài học lịch sử?
Chúng tôi xin nhắc lại, trong cuộc phỏng vấn của đài RFA ngày 24.7.2009 về đề tài “Việt Nam cần làm gì trước thái độ lấn lướt của Trung Quốc?”, Giáo sư Trần Văn Đoàn dạy học ở Đại Học Quốc Lập Đài Loan có nêu lên hai đề nghị: (1) Đọc lại bài học của tất cả những triều đại Việt Nam. Cái gì đã mất rồi thì không bao giờ đòi lại được. (2) Cách hay nhất, cái chiến lược của mình là làm thế nào để không mất đất nữa mà thôi.
Ông nói rõ: “Tôi không nói để bảo vệ nhà nước Việt Nam…”
Nhưng với nhiều người Việt chống cộng ở hải ngoại, đề nghị này rất khó nghe. Lý do thứ nhất: Người Tàu có “Tam thập lục kế” (với người Tàu, con số 36 có nghĩa là nhiều lắm), nhưng một số người Việt đấu tranh ở hải ngoại chủ trương chỉ có “biểu dương khí thế” là thượng sách, không cần biết kết quả như thế nào. Mọi kế khác gần như không được chấp nhận. Như vậy học sử để làm gì? Lý do thứ hai: Sử đâu mà học?
Trong bài Tựa của bộ Việt Nam Sử Lược, cụ Trần Trọng Kim (1882 – 1953) có than phiền: “Sử mình đã không hay, mà người mình lại không mấy người biết sử. Là vì cách học tập của mình làm cho người mình không có thể biết được sử của mình”.
Bài Tựa này được viết vào năm 1919, khi bộ Việt Nam Sử Lược lần đầu tiên được xuất bản, nhưng đến nay vẫn còn đúng. Không những thế, một số “sử gia” đời nay khi viết sử, thường không dựa theo chính sử như cụ Trần Trọng Kim, mà chỉ ghi lại những phần mình thích, bỏ đi những phần bị coi là mất “khí thế” hay không oai hùng, biến hoá nhiều đoạn và thêm huyền thoại vào làm cho sử không còn là thực sử nữa! Một vài thí dụ cụ thể:
(1) Khi viết về vua Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, các “sử gia” ta chỉ ghi lại “Bình Ngô Đại Cáo” và giấu đi tờ biểu thê thảm mà Lê Lợi dâng lên vua Minh xin phong vương. Trong vụ Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh, các “sử gia” ta cũng chỉ ghi lại “Hịch Đánh Trịnh” của Nguyễn Hữu Chỉnh và “Hịch Gọi Đò” của Nguyễn Huệ, còn tờ biểu được Nguyễn Huệ dâng lên vua Thanh năn nỉ xin ban sắc phong được coi như không có. Họ cho rằng những tờ biểu đó làm mất “khí thế” nên phải loại ra khỏi sử, không nên cho con cháu đọc.
(2) Thiền sư Lê Mạnh Thát đã sửa lại sử, cho rằng không có chuyện Bắc Thuộc lần thứ nhất và Mã Viện đem quân đánh hai Bà Trưng. Trái lại, các đời vua Hùng Vương đã kéo dài ra đến sau Công Nguyên, tức đến khi Phật giáo được truyền vào đất Việt! Việc sửa sử này nhắm mục tiêu chứng minh: “Phật giáo là dân tộc” vì đã du nhập vào Việt Nam từ đời Hùng Vương!
Pháp nạn kinh hoàng ( gần như làm cỏ ) mà Nguyễn Huệ đã gây ra cho Phật Giáo để có phương tiện tiến đánh quân Thanh, không được ai ghi lại một vài dòng, kể cả các “sử gia” Phật Giáo! Họ chỉ nói đến “Pháp nạn” dưới thời Ngô Đình Diệm!

Ải Nam Quan, click trên hình để phóng lớn.
(3) Tàu xây Ải Nam Quan như thế nào và các diễn biến về sau ra sao, đã được ghi rất tỉ mỉ trong chính sử của Tàu cũng như của ta. Công Ước Thiên Tân ngày 9.6.1885 giữa Pháp và Trung Hoa và các văn kiện đính theo đã gọi Ải Nam Quan là “Porte de Chine” (cửa của Trung Hoa) và vẽ nó nằm trên đất Trung Hoa. Ấy thế mà để “tố cộng”, các “sử gia” và các chiến sĩ chống cộng đã coi những văn kiện lịch sử và pháp lý đó như không có, cùng nhau ngồi “khóc Nam Quan”! Có “đại sử gia” còn biến hoá Ải Nam Quan ra hai phần, một phần nói là của Tàu và một phần nói là của ta, để cho “hợp với lòng dân”!
Bây giờ người Việt ở trong cũng như ngoài nước, gần như nhà nào cũng xem phim Đại Hàn, trong đó có nhiều phim lịch sử, chẳng hạn như Thời Đại Anh Hùng, Những Ngày Đen Tối, Jumong, Bài Ca Sơ Đông, Đại Hiệp Sĩ, v.v. Qua các bộ phim này, chúng ta thấy người Đại Hàn đã diễn tả rất trung thực lịch sử của họ: thời kỳ nào cường, thời kỳ nào nhược, những sự rối loại trong cung đình, những thủ đoạn gian ác áp chế dân lành của các quan lại phong kiến, những phương thức mà cha ông họ đã dùng để chống ngoại xâm… Nhờ diễn tả lịch sử một cách trung thực như vậy, người Đại Hàn ngày nay đã rút được kinh nghiệm lịch sử để xây dựng một đất nước Đại Hàn tốt đẹp hơn. Trái lại, sử của người Việt đã bị hai bên đối nghịch biến chế theo sở thích và theo nhu cầu chính trị, làm sao có thể dựa vào đó để rút kinh nghiệm của cha ông được?
Nước ta khởi từ bên Tàu?
Theo truyền thuyết và dã sử, thời kỳ Hồng Bàng bắt đầu từ năm 2879 trước Tây lịch, thuộc niên đại vua Kinh Dương Vương, với quốc hiệu Xích Quỷ. Địa bàn của Việt Nam dưới thời Kinh Dương Vương nằm ở tận bên Tàu, rất rộng lớn: Phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía đông là Đông Hải, phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên), và phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành).
Nước Chiêm Thành lúc đó nằm ở đâu? Bộ Phương Đình Dư Địa Chí của Nguyễn Văn Siêu đã ghi lại như sau:
“Chiêm Thành: phiá đông giáp bể, phía Tây đến Vân Nam, phía nam giáp Chân Lạp, phía bắc liền Annam, phía đông bắc đến Quảng Đông..”.
Thật ra, phải đến thế kỷ thứ 13, nước ta mới có quan viết sử, nên những điều xẩy ra trước đó đều được chép lại theo tục truyền, không biết đúng được bao nhiêu phần trăm. Nhưng chắc chắn người Việt ngày xưa ở tận bên Tàu, sau đó trụt dần xuống phía nam. Tại sao như vậy? Cụ Trần Trọng Kim giải thích:
“Người nòi giống Việt Nam ta mỗi ngày một nẩy nở ra nhiều, mà ở phía bắc đã có nước Tàu cường thịnh, phía tây thì lắm núi nhiều rừng, đường đi lại không tiện, cho nên mới theo bờ biển lấn xuống phía nam, đánh Lâm Ấp, dứt Chiêm Thành, chiếm đất Chân Lạp, mở ra bờ cõi bây giờ. ”
Đây là kiểu “Dùi đánh đục thì đục đánh săng ( gỗ )”, hay “Cá lớn nuốt cá bé”.
Đồng trụ nằm ở đâu?
Nước ta có ranh giới đầu tiên với nước Tàu là do Mã Viện ấn định. Lịch sử kể lại rằng dưới thời Đông Hán, năm 41 sau Tây lịch, vua Quang Vũ của Tàu sai Mã Viện làm Phục Ba Tướng Quân, sang đánh Trưng Vương, đem đất Giao Chỉ về lại cho nhà Hán (Thiền sư Lê Mạnh Thát nói chuyện này không có!). Mã Viện dời phủ trị về Mê Linh và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”. Nghĩa là cây đồng trụ gãy thì người Giao Chỉ mất. Người Giao Chỉ đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp lên mãi thành gò đống cao, vì sợ cột đồng ấy bị đổ gãy.
Nhưng cột đồng này đã được dựng ở đâu?
Theo Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Tàu (đời Đường) và An Nam Chí Lược của Lê Tắc, cột này được dựng ở Khâm Châu, trong vùng hang động Cổ Sâm.
Khâm Châu là một châu của Tàu nằm sát biên giới với Giao Chỉ, còn Cổ Sâm là một động của ta nằm sát biên giới Tàu.
Sách Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quế Đường (tức Lê Quý Đôn) có ghi: “Giữa đỉnh núi Phân Mao ở Khâm Châu có cột đồng to độ hai thuớc. Có lẽ đây là Mã Tống dựng lên”.
Núi Phân Mao (Phân Mao lĩnh) ở đâu?
Sách Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi viết:
“Vân Cừ, Kim Tiêu, Phân Mao ở về Yên Bang (sau tránh huý đổi làm Yên Quảng). Vân Cừ là tên sông, tên khác của sông Bạch Đằng, Tiền Ngô Vương bắt Hoằng Tháo, Hưng Đạo Vương bắt Ô Mã Nhi đều ở đây. Phân Mao là tên núi, Kim Tiêu là cột đồng. Ở phía Tây lộ Hải Đông 300 dặm có đèo Phân Mao, ở nửa đèo có cột đồng của Mã Viện dựng, lớn chừng ba thước”. (“Dư Địa Chí”, Nguyễn Trãi toàn tập, bản dịch của NXB KHXH – Hà Nội, tr. 202)
Sách Gia Khánh Trùng Tu Nhất Thống Chí của Nhà Thanh cho biết: Núi Phân Mao ở phía Tây Khâm Châu (nay là đất tỉnh Quảng Đông). Năm Tuyên Đức thứ 2 (1427) thời Minh, núi ấy thuộc vào châu Tân An của Giao Chỉ. Đến năm Gia Tĩnh thứ 21 (1542) Mạc Đăng Dung hàng, mới thuộc về nước Tàu.
Đồng trụ nếu to 2 thước ta (theo Lê Quý Đôn) hay 3 thước ta (theo Nguyễn Trãi) thì cũng rất lớn. Mỗi thước ta bằng 0,425 mét. Như vậy 2 thước là 0,850 mét và 3 thước là 1,275 mét.
Về sau, cả người Tàu lẫn người Việt đều không biết rõ đồng trụ nói trên nằm ở đâu. Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục có cho biết năm 1272, nhà Nguyên đã sai Ngột Lương sang Việt Nam hỏi giới mốc đồng trụ ngày trước ở đâu. Vua Trần Thánh Tôn đã sai viên phái Lê Kính Phu đi hội đồng khám xét. Lê Kính Phu tâu với Nhà Nguyên: “Chỗ cột đồng do Mã Viện dựng lên lâu ngày bị chìm lấp, nay không thể biết ở chỗ nào được”. Việc đó sau cũng thôi. (Quyển VII, tr. 219).
Thật ra, Mã Viện không phải chỉ dựng một đồng trụ ở Cổ Sơn. Ông đã mở mang bờ cõi của nhà Hán, dựng lên một đồng trụ ở Đèo Ngang (giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình) và hai đồng trụ ở Bình Định. Phương Đình Dư Địa Chí của Nguyễn Văn Siêu cho biết: Sách Tần Thư Điạ Lý Chí ghi: Ở quận Nhật Nam có cột đồng từ đời Hán dựng làm địa giới. Sách Lâm Ấp Ký chép: Phía tây quận Nhật Nam có nước Tây Đồ Di, Mã Viện qua đất này dựng hai cột đồng nêu bờ cõi nhà Hán.
Quận Nhật Nam lúc đó gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay (có tài liệu cho là đến tận cửa Đại Lãnh, Phú Yên). Vùng này là bắc Chiêm Thành.
Nhìn lại, nếu đồng trụ do Mã Viện dựng để phân ranh giới Việt – Trung mà còn thì nó cũng đã nằm trên đất Tàu, vì năm 1540 Mạc Đăng Dung đã giao vùng đất Cổ Sơn, nơi có đồng trụ, cho Trung Hoa rồi.
Mất đất dưới thời phong kiến
Nhiều người tưởng rằng, trong lịch sử, cha ông chúng ta luôn kiên cường dựng nước và giữ nước, không để mất một tấc đất nào. Thực tế không phải như vậy. Ngoài việc bỏ Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây chạy xuống Bắc Việt hiện nay, cha ông chúng ta còn phải chịu bị mất đất rất nhiều lần.
Mặc dầu Mã Viện đã dựng đồng trụ ở Phân Mao để đáng dấu ranh giới giữa Giao Chỉ và nước Tàu, những việc phân định ranh giới giữa hai nước không dễ dàng vì biên giới rất rộng lớn. Mỗi lần có tranh chấp, vua hay quan Tàu đều dành quyền quyết định phần nào thuộc Tàu và phần nào thuộc ta... Thí dụ năm 1442, nhà Minh gởi dụ cho vua Lê Thái Tông, nói rằng Chiêm Lãnh và Như Tích là thuộc Châu Khâm của Trung Quốc, do Hoàng Khoan cai quản, nên phải trả lại cho Trung Quốc. Năm 1547, Đô Đốc Mã của nhà Thanh gởi thư cho Chúa Trịnh và nói: “Từ Sa Châu trở ra ngoài đến Phân Mao - Đồng Trụ là đất của quý quốc cày cấy chăn nuôi từ lâu, cho về An Nam”.
Ngoài chuyện tranh chấp về vùng biên giới, các vua và quan Tàu luôn tìm cách chiếm thêm đất của nước ta. Tạm bỏ qua “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu” đi, chúng ta thấy từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 18, dưới các triều đại của Trung Quốc từ Tống, Nguyên, Minh đến Thanh đều đem quân xâm lấn Đại Việt. Nhà Tống xâm chiếm 2 lần, nhà Nguyên 3 lần, nhà Minh và nhà Thanh mỗi vương triều một lần. Ngoài những cuộc xâm chiếm đại quy mô như thế, các triều đại Trung Quốc cũng thường tìm cách cướp đất của người Việt ở vùng biên giới. Sau đây là một số thí dụ cụ thể:
1.- Mất hai động Vật Ác và Vật Dương
Dưới thời nhà Tống, Quách Quỳ đã chiếm 4 châu và một huyện của Đại Việt là Quảng Nguyên, Quang Lang, Tô Mậu, Môn, và Thuận châu. Sau đó, năm 1057 Nùng Tôn Đàn nộp động Vật Ác và năm 1064 Nùng Trí Hội nộp thêm động Vật Dương. Vua Lý Nhân Tông phái sứ qua thương lượng nhiều lần, vua Tống chỉ chịu trả cho 4 châu và một huyện, nhưng không trả hai động Vật Ác và Vật Dương.
2.- Mất 59 thôn ở Cổ Lâu
Năm 1401, khi Hồ Hán Thương được Hồ Quý Ly nhường ngôi, đã sai sứ sang xin vua nhà Minh phong vương. Vua Thánh Tổ nhà Minh nghe tin ở An Nam đang có chuyện lộn xộn nên cho điều tra và biết được Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần. Nhà Minh muốn nhân cơ hội này đem quân sang chiếm nước An Nam, lấy lý do là để hạch tội Hồ Quý Ly. Khởi đầu, vào năm 1405 nhà Minh sai sứ sang đòi lại đất Lộc châu, tức Lộc Bình thuộc tỉnh Lạng Sơn ngày nay, viện lý do đất này trước đây thuộc châu Tự Minh của tỉnh Quảng Tây. Lúc đầu Hồ Quý Ly không chịu, nhưng thấy áp lực của nhà Minh quá nặng nên Hồ đã sai quan hành khiển là Hoàng Hối Khanh đến dàn xếp. Hoàng Hối Khanh quyết định cắt 59 thôn ở Cổ Lâu nhường cho Tàu. Hồ Quý Ly thấy cắt nhiều quá, có mắng Hoàng Hối Khanh. Tuy đã nhún nhường như thế, nhà Minh vẫn không chịu, đem binh qua chiếm nước ta.
3.- Mạc Đăng Dung giao hai châu và 4 động cho Tàu
Theo sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú, năm 1540 khi Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh, đã trao trả 2 châu và 4 động cho nhà Minh. Hai châu là Như Tích và Chiêm Lãng, và 4 động là Tê Phù, Kim Lạc, Cổ Sâm và Liêu Cát. Các lãnh thổ này được sát nhập vào châu Khâm của Tàu. Nhưng Mạc Đăng Dung không được nhà Minh phong vương mà chỉ phong làm Đô Thống Sứ.
4.- Mất 13 châu và 3 động
Năm 1684, thổ quan huyện Khai Hoá của tỉnh Vân Nam đem quân chiếm ba động Vị Xuyên, Bảo Lạc và Thủy Vĩ thuộc tỉnh Tuyên Hưng của ta. Chúa Trịnh Thuận Đức cho sứ qua đòi lại nhưng nhà Thanh không trả.
Năm 1698 thổ quan tỉnh Vân Nam lại chiếm thêm ba động Ngưu Dương, Hồ Điệp và Phổ Viên thuộc tỉnh Tuyên Quang. Sứ thần Nguyễn Đăng Đạo đến Trung Quốc xin vua Khang Hy trả lại, nhưng vua từ chối. Chúa Trịnh Bính lại phái sứ khác qua nhà Thanh xin xem lại vụ này, nhưng quan Tuần Phủ Quảng Tây không cho đi. Từ đó, ba động này kể như mất luôn.
Năm 1781, Hoàng Công Thư đã đem 10 châu của nước Việt nộp cho Tổng Đốc tỉnh Vân Nam. Triều đình ta gởi thư yêu cầu Tổng Đốc Vân Nam xét lại biên giới. Tổng Đốc Vân Nam trả lại thư và nói rằng biên giới tự nhiên không cần vạch lại.
Trên đây là một số vụ mất đất điển hình trong thời phong kiến.
Mất đất dưới thời XHCN
Có thể nói, nếu không có Pháp xâm chiếm và đô hộ nước ta, khó mà ấn định được đường ranh giới hợp lý và khoa học trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và Trung Hoa.
Sau nhiều lần thương lượng rất gay cấn, kể cả dùng sức mạnh quân sự, ngày 9.6.1885 nhà cầm quyền Pháp và Trung Hoa đã ký Công Ước Thiên Tân về biên giới Việt – Trung được gọi là “Hiệp Ước Hòa Bình, Hữu Nghị và Thương Mại” (Traité de Paix, d'Amitié, et de Commerce). Công ước này đã được bổ túc do công ước ngày 26.6.1887 và công ước ngày 20.6.1895.
Mặc dầu có những hiệp ước ấn định ranh giới một cách rõ ràng nói trên, kể từ năm 1954, sau khi Pháp rút khỏi miền Bắc, Trung Quốc bắt đầu xâm phạm biên giới Việt Nam. Những vụ xâm phạm này đã được nhà cầm quyền Hà Nội ghi rõ trong tập Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, do nhà xuất bản Sự Thật của Hà Nội xuất bản năm 1979, sau khi Trung Quốc đem quân “dạy cho Việt Nam một bài học”. Trong “Lời Nhà Xuất Bản”, nhà xuất bản Sự Thật nói rõ đây là toàn bộ “Bị vong lục của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc nhà cầm quyền Trung Quốc gây khiêu khích, xâm lăng lãnh thổ Việt Nam ở vùng biên giới”.
Vì tập sách khá dài, chúng tôi chỉ ghi lại những điểm chính. Trong phần “Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay”, nhà cầm quyền Hà Nội cho biết thủ đoạn lấn chiếm đất của Trung Quốc như sau:
(1) Từ xâm canh, xâm cư, đến xâm chiếm đất (tr. 8).
(2) Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữa nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam (tr. 10).
(3) Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam (tr. 11).
(4) Từ mượn đất của Việt Nam đến biến thành lãnh thổ của Trung Quốc (tr. 12).
(5) Lợi dụng việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới, điển hình là đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53), nơi chúng định chiếm một phần thác Bản Giốc và cồn Pò Thông (tr.14)...
Sau đây là một số trích đoạn được trích dẫn:
1.- Từ xâm canh, xâm cư đến xâm chiếm đất
Tài liệu cho biết:
“Lợi dụng đặc điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một dải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương rồi định cư những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng nương, cuối cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang ngược coi những khu vực đó là lãnh thổ Trung Quốc”.
Một thí dụ cụ thể: Từ năm 1956 phía Trung Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc sang làm ăn ở Trình Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường, vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị Choang-Quảng Tây. (tr. 8 và 9)
2.- Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam
“Năm 1955, tại khu vực Hữu Nghị Quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt-Trung đến Yên Viên gần Hà Nội, lợi dụng lòng tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300m so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã đề nghị Chính phủ hai nước giao cho ngành đường sắt hai bên điều chỉnh lại điểm nối ray cho phù hợp với đường biên giới lịch sử nhưng họ một mực khước từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vấn đề biên giới thì sẽ xem xét..”. (tr.10)
3.- Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam
“Trên đoạn biên giới đất liền cũng như ở các đoạn biên giới đi theo sông suối, tại nhiều nơi, phía Trung Quốc đã tự tiện mở rộng xây dựng các công trình để từng bước xâm lấn đất.
“Tại khu vực mốc 53 (xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 20.2.1970 phía Trung Quốc đã huy động trên 2.000 người kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong, và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc... (tr.11 và 12).
Trên đây chỉ là một vài thí dụ cụ thể. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.
Lệnh phải giữ đất
Năm 1473 khi Lê Duy Cảnh, Thái bảo kiến dương bá, đi trấn giữ ở vùng biên giới giáp với tỉnh Quảng Tây, vua Lê Thánh Tông đã trao cho ông một sắc dụ, trong đó viết:
“Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di”.
Ngày 11.8.2009
Lữ Giang
© Thông Luận 2009
08/23/09. 09:35:47 am. 6412 words, 473 views. Categories: Góp nhặt, Khảo cổ và nhân chủng, Phong thủy, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Lịch sử thế giới, Chiến tranh và hòa bình, Liên kết blogs, Lịch sử và ðịa dư Việt Nam ,
ĐIỀM QUÁI GỠ: HÀ NỘI GỌI CỰU CHIẾN BINH GẤP RÚT TRỞ LẠI QUÂN NGŨ - GIA ĐÌNH CON CHÁU ĐẢNG VIÊN ÂM THẦM "KHẨN TRƯƠNG" DI TẢN RA NƯỚC NGOÀI
Ảnh DCV Online
ĐIỀM QUÁI GỠ: HÀ NỘI GỌI CỰU CHIẾN BINH GẤP RÚT TRỞ LẠI QUÂN NGŨ
Source: Lý Đại Nguyên's blog
Lý Đại Nguyên
Theo một mẩu tin ngắn của Vietland: Diễn Đàn Thảo Luận Chính Trị loan đi vào hồi 3 giờ 13, ngày 19/08/09, do Thu Hiền từ Hànội viết thì: “Tình hình Hànội và các tỉnh phía Bắc trong mấy ngày nay đã trở nên xao động, người dân chưa được thông báo chính thức nào của chính phủ, nhưng lệnh động viên đã bắt đầu ban hành trong từng điạ phương. Tuổi từ 18 tới 50 được điều động đi huấn luyện quân sự gấp rút. Các cựu chiến binh được kêu gọi trở lại trong lực lượng trừ bị. Chương trình huấn luyện quân sự cho các sinh viên, học sinh tăng giờ quân sự”. “Sau năm 1979, Miền Bắc có nhiều chương trình huấn luyện quân sự cho từng tổ dân phố, nhưng các chương trình này đã hủy bỏ từ năm 1985. Chương trình học tập quân sự cho sinh viên, học sinh trước đây chỉ là thực tập bắn súng và ném lựu đạn, nhưng những ngày gần đây chương trình quân sự của sinh viên, học sinh được huấn luyện kỹ hơn, gần với các khóa đào tạo dành cho quân đội chính qui, như kéo pháo và điều chỉnh pháo binh, chiến đấu dưới giao thông hào, đánh và xung phong bằng lưỡi lê…”. Thu Hiền nhận định:
“Chúng ta chưa thấy dấu hiệu Trung quốc sẽ xâm lăng Việt Nam, nhưng khi đảng CSVN cho tăng quân gấp rút là một dấu hiệu có gì đó bất ổn cho Việt Nam”.
Bất ổn cho Việt Nam thì rất nhiều, đều do chính sách ngu muội của Việt cộng tạo ra vô số kể, nào là tham nhũng và bao che cho tham nhũng, tạo ra cảnh dân oan, bắt bớ những người đòi hỏi dân chủ, đàn áp tôn giáo…nổi bật là dùng Công An giả làm côn đồ ‘xã hội đen’ đánh đuổi 400 tu sinh thuộc Tăng Đoàn Làng Mai của sư ông Nhất Hạnh, người đã hứng chịu nguồn dư luận oán giận, ghét bỏ của đồng bào Tỵ Nạn Cộng Sản và Phật Tử khắp nơi, để giúp Việt cộng thoát khỏi chiếc vòng ‘kim cô’ CPC của Mỹ. Nay được trả công trọng hậu bằng cách là đầu tháng 9 này những tăng sinh tu học bị trục xuất khỏi chùa Bát Nhã Lâm Đồng, mà không biết đi về đâu. Nguy hiểm hơn nữa là bọn Công An Việt cộng lại dùng biện pháp giả côn đồ đánh đập linh mục, giáo dân Tam Tòa tới nền nhà thờ cũ, dựng lều cầu nguyện, rồi đổ cho đây là cuộc xung đột giữa Lương, Giáo. Khiến cho hàng triệu giáo dân Kitô giáo hiệp thông cầu nguyện, và sẵn sàng tử vì đạo. Thêm vào đó, còn một lực lượng trừ bị khổng lồ nữa là các giáo hội dân lập đang là nạn nhân của những cuộc đàn áp như: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Đài, các Hội Thánh Tin Lành tại gia lúc nào cũng có thể nhập cuộc.
Đối với truyền thông báo chí, thì Việt cộng chẳng những nắm độc quyền, mà còn nặng tay với ký giả. Bỏ tù, khủng bố những cán bộ cầm viết dám làm trái ý đảng. Mới đây, Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng Việt cộng đã ra quyết định 97. Theo đó “kể từ ngày 15/09/2009, các tổ chức Khoa Học Công Nghệ không được phép công bố công khai những ý kiến phản biện liên quan đến đường lối chính sách của đảng và nhà nước. Những ý kiến như thế nếu có, phải gửi tới các cơ quan đảng và nhà nước có thẩm quyền”. Có nghĩa là để cho các cơ quan này liệng những ý kiến phản biện đó vào thùng rác cho tiện việc sổ sách. Thực ra những ý kiến phản biện của giới trí thức và các nhà khoa học ít khi được xuất hiện công khai trên báo chí của đảng ở trong nước. Thường là đánh du kích chớp nhoáng trên các trang mạng điện tử, để cho dư luận Hải ngoại và Quốc tế chia xẻ. Nhất là từ khi những người này tự tuyên bố hình thành một tổ chức độc lập với đảng, nhà nước Việt cộng, gọi là Viện Nghiên Cứu Phát Triển IDS, gồm những học giả từng làm cố vấn cho đảng và chính phủ Hà Nội về mọi vấn đề như: Gs Hoàng Tụy, Nguyễn Quang A, Phan Đình Diệu, Tương Lai, Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, Nguyễn Trung, Nguyên Ngọc… Việt cộng cho tổ chức IDS đó là “hoạt động vượt qua chức năng đăng ký được cho phép”. Vì bọn Man cộng chỉ cần học theo và nghe lệnh quan thầy Trung cộng là đủ. Rõ ràng là Việt cộng quá sợ tổ chức IDS sẽ có ngày trở thành một thực lực điều khiển chính quyền Việt Nam, nên Nguyễn Tấn Dũng phải ban hành Quyết Định 97/2009/QĐ-TTg, ký ngày 24/07/09 vi hiến, lạc hậu này.
Đấy là ở mấy ngày trước, còn hôm nay thì điềm quái gỡ lại vừa xuất hiện ngay trên 2 tờ báo nổi tiếng nhất của chế độ là Tuổi Trẻ và Thanh Niên. Cả hai tờ báo ra ngày 18/08/09, cùng cho đăng bài trên trang nhất: Không chấp nhận đường lưỡi bò trong Biển Đông của Trungcộng. Tờ Tuổi Trẻ đăng bài của tác giả Quốc Pháp với tựa đề: “Trung Quốc Yêu Sách 80% Diện Tích Biển Đông: Không Chấp Nhận Đường “lưỡi bò”. Với đoạn kết: “Việc công khai đưa ra yêu sách về đường đứt đoạn (lưỡi bò) vào lúc này chỉ làm cho tình hình trên biển Đông thêm phức tạp, đi ngược lại xu thế và nỗ lực của các nước trong khu vực cũng như cộng đồng quốc tế muốn tìm kiếm một giải pháp ổn định lâu dài cho những tranh chấp biển Đông. Báo Thanh Niên đăng bài của Ts Nguyễn Nhã, tựa đề: “Bản Đồ “đường lưỡi bò”Trên Biển Đông: Bất Chấp Sự Thật Lịch Sử và Pháp Lý Quốc Tế!”. Đính kèm là những ý kiến độc giả, nhất loạt lên án nặng nề việc Trung cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của Việtnam.
Phải chăng vì Ngoại Trưởng Hoa Kỳ ngày 22/07/09 công khai tuyên bố: “Hoa Kỳ đã trở lại Á châu”. Và hôm nay ngày 18/08/09, chủ tịch Tiểu Ban Đông Á – Thái Bình Dương, thuộc Ủy ban Đối Ngoại Thượng Viện Hoa Kỳ, Thượng nghị sĩ Jim Webb cùng người vợ Việt Nam là bà Hồng Lê Webb chính thức thăm Việt Nam. Ông là một cựu chiến binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam, từng là trợ tá Bộ Trưởng Quốc Phòng và Bộ Trưởng Hải Quân Hoa Kỳ. Ông là người đặc biệt quan tâm về việc Trung cộng gia tăng ảnh hưởng tại Biển Đông. Ông tỏ ra lo ngại về khả năng Trung cộng đang ngày càng thu hẹp khoảng cách với Mỹ về sức mạnh hải quân. Ông là một Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ có thế giá, một đồng minh thân cận của tổng thống Barack Obama. Nên Việt cộng có thể đã được phép quan thầy Bắc Kinh cho làm mầu mè với vị Thượng Nghị Sĩ Mỹ từng tuyên bố: “Điều quan trọng cần phải làm rõ là chỉ có Hoa Kỳ mới có tầm vóc và sức mạnh để đương đầu với Trung quốc trong hoàn cảnh hiện nay”. Hoặc bọn Việt cộng thính mũi, ngửi ra được Trung cộng đã buông tay để cho Kim Chính Nhất Bắc Hàn nói chuyện trực tìếp với Mỹ. Đề cho Quân Phiệt Miến Điện làm hòa với Mỹ, giúp cho quyền lợi của Trung cộng tại Miến không bị đe dọa đổi chủ. Vậy biết đâu, việc Trung cộng không che giấu tham vọng thôn tính Việt Nam, chẳng là nhằm đặt giá cao để thoả hiệp với Mỹ về số phận Việt Nam và toàn vùng Á châu – Thái Bình Dương? Thực ra chỗ dựa của Trung cộng là thế giới Hồi Giáo để lên mặt với Mỹ đã bị gẫy đổ, vì Trungcộng phạm lỗi đàn áp, tiêu diệt người Uighur Hồi Giáo tại Tân Cương, khiến cho Thế Giới Hồi Giáo, kể cả Iran, Ảrập và Bắc Phi cũng thù ghét, tẩy chay hàng hóa, đả đảo, xua đuổi người Tầu. Còn nếu đây là một thủ đoạn nhằm khống chế báo giới, bịt miệng trí thức, giả tạo chiến tranh, có cớ huy động quân đội vào việc tiêu diệt phong trào tôn giáo đối kháng, thì bọn Man cộng ngu si đang tự châm lửa đốt mình vậy.
Little Saigòn ngày 18/08/2009

Quần chúng nhân dân không có cơm ăn, giờ này chuẩn bị được đảng cho ăn no!
GIA ĐÌNH CON CHÁU ĐẢNG VIÊN ÂM THẦM "KHẨN TRƯƠNG" DI TẢN RA NƯỚC NGOÀI
Source: vietland
Người dân Miền Nam chắc không ai quên những ngày tháng cuối tháng 4 năm 1975, khi đoàn quân CSVN tiến chiếm các tỉnh Nam Bộ.
Những ngày "Cách Mạng Tháng 8" tại Hà Nội năm nay, thay vì chào đón "chiến thắng" mùa thu thì con cháu cán bộ đảng viên từ trung ương tới địa phương tìm cách đưa con cháu ra nước ngoài du học hoặc du lịch dài hạn để tìm thời cơ trốn luôn không về nước.
Những người dân đen vẫn ngày ngày cặm cuội kiếm cơm họ đâu biết nhiều về tình trạng xáo động đang xảy ra tại Hà Nội. Những công tử con cháu cán bộ hằng đêm tụ tập tại các quán Toilet ở Trần Nhật Duật, Hale Club ở Quang Trung hay các cơ sở Tẩm Quất đường Giải Phóng đã vắng bóng trong những ngày gần đây. Một cô bạn cho tôi biết: " không biết có chuyện gì mà mấy đứa con cán bộ bỏ đi nước ngoài hết" ngay cả con trai ông Thứ trưởng Thủy Sản Nguyễn Ngọc Hồng đã qua Mỹ ở luôn bên đó." Sau khi tìm hiểu thì mới biết Nguyễn Ngọc Hồng có cơ sở Bảo Hiểm lớn ở một khu Shopping đông người Việt tại đường Story, T.p San Jose, Bắc Cali, Hoa Kỳ.
Một ông chú quen ở Trung Đoàn Pháo Binh 452 đóng gần Hà Nội cũng cho biết là chú sắp phải đi xa? Đây cũng là chuyện bất thường vì Trung Đoàn Pháo 452 dưới quyền điều động của Sư Đoàn 301 thuộc Quân Khu Thủ Đô là phải ở lại để bảo vệ Thủ Đô Hà Nội chứ đi xa là đi đâu? Đi Trốn quân Trung Quốc?
Chúng ta thấy nước VN hết đợt "tàu lạ" rồi bây giờ tới "chuyện lạ". Chuyện con cháu cán bộ đảng viên "khẩn trương" di tản, chuyện Quân Khu Thủ Đô Di Tản là chuyện sớm muộn gì cũng có chiến tranh với Trung Quốc. Công An mạng trong những ngày gần đây đã lo sợ và bắt đầu tìm cách bịt những thông tin nầy. Tại sao đảng tìm cách thoát thân mà không cho dân biết?
Tôi không nghĩ là họ sợ Trung Quốc đánh mà họ sợ sự bất mãn trong quân đội, sự bất tín nhiệm mà quân đội đã có dấu hiệu chăng? Có thể biết đâu sẽ có cuộc đảo chánh. Bộ chính trị đã tìm cách bán đất cho Trung Quốc để an thân tại vị chắc chắn sẽ làm bất mãn những thành phần quân đội muốn bảo vệ mãnh đất mà họ sống chết trong năm 1979 khi Trung Quốc xâm lăng VN. Đảng CS sẽ phải sợ khi người dân bất mãn sẽ đồng loạt đứng lên khi quân đội đảo chính. Tẩu là thượng sách vậy.
Thu Hiền (Hà Nội)
08/21/09. 12:21:35 am. 3059 words, 299 views. Categories: Góp nhặt, Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Tin tức ðó ðây, Thời cuộc, Liên kết blogs ,
HÃY ĐỀ PHÒNG HIV Ở CÂY XĂNG - IMPORTANT TO KNOW HIV AT GAS STATION

Hãy đề phòng HIV ở Gas Station
Source: vietland
Đây không phải là tin mới lạ, việc kẻ xấu gài kim chích vào tay cầm bơm xăng đã xẩy ra mấy năm nay, tuy nhiên gần đây đã có nhiều trường hợp tương tự xẩy ra liên tục ở Florida, vì vậy chúng ta cần phải lưu ý đề phòng.
Xin vui lòng đọc và chuyển đi cho mọi người lái xe.
Tôi là Captain Abraham Sands của JacksonVille police, Florida, Hoa Kỳ. Được sự cho phép của Tiểu Bang Florida và Địa phương viết email này để báo động cho người lái xe về một sự kiện nguy hiểm đã xảy ra tại một số tiểu bang. Một người hay có thể nhiều người đã gắn ống kim chích thuốc ở dưới tay cầm bơm xăng! Những kim này bị nhiểm virus HIV. Bạn hãy nhìn kỹ tay cầm đổ xăng trước khi bơm xăng. Chỉ trong tỉnh Jacksonville đã có 17 lần xảy ra trong 5 tháng làm cho người đổ xăng bị đâm vào tay và tối thiểu 12 trường hợp ở các tiểu bang khác cũng xảy ra tương tợ, có thể họ bắt chước khi nghe được tin tức trên truyền thông báo chí. Cho tới nay chưa ai bị bắt... Trong 17 người bị kim chích hiện có 8 người nhiểm HIV, những người còn lại có thể vài năm tới mới lộ ra.
Rõ ràng tai nạn xảy ra cho người đổ xăng và bị chích khi cầm bơm xăng có gắn kim độc.
Hãy nhìn kỹ bơm xăng từ trên xuống dưới trước khi bơm (ghi thêm: nhớ rửa tay sạch khi đi chợ, bơm xăng hay ăn tiệm...). Nếu bạn thấy kim ở bơm xăng, lập tức báo cho Cảnh sát địa phương để họ tìm kiếm bằng cớ.
Làm ơn để ý theo dõi kẻ gian và forward email này đến các người thân của bạn.
Rose Lambert
(Ký tên)
Important to know HIV at pump gas station
Warning: Look at the gas pump handle BEFORE you pump your gas. Please read and forward to anyone you know who drives a car.
My name is Captain Abraham Sands of the Jacksonville, Florida, Police Department. I have been asked by state and local authorities to write this email in order to get the word out to car drivers of a very dangerous prank that is occurring in numerous states. Some person or persons have been affixing hypodermic needles to the underside of gas pump handles! These needles appear to be infected with HIV positive blood.
In the Jacksonville area alone, there have been 17 cases of people being stuck by these needles over the past five (5) months. We have verified reports of at least 12 others in various states around the country. It is believed that these may be copycat incidents due to someone reading about the crimes or seeing them reported on television...
08/20/09. 11:56:02 pm. 631 words, 356 views. Categories: Thông báo (A), Uncategorized, Tin tức ðó ðây, Thông báo, Thông báo (A) ,
CHƯƠNG TRÌNH "CASH FOR CHOMPERS", ĐỔI HÀM RĂNG GIẢ CŨ LÀM HÀM RĂNG GIẢ MỚI ĐƯỢC TẶNG $250 ĐÔ LA
Chương trình "Cash for Chompers" của nha sĩ Solomon ở Texas
Source: Pegasus News wire, Dallas Wellness Examiner
Texas, cái xứ của cao-bồi bắn súng cỡi ngựa lại vừa bắn ra một phát đạn... vào mồm của quý ngài đeo răng giả, nhưng phát đạn này trị giá đến $250 đô-la lận.
Sau khi chương trình đổi xe cũ lấy xe mới gọi là "CASH FOR CLUNKERS" mang lại công ăn việc làm khấm khá cho các nhà bán xe, các công ty chế tạo xe và các nghành kỹ nghệ liên quan với xe hơi từ kỹ nghệ thép đến kỹ nghệ điện tử v.v... ngày hôm nay, một nha sĩ tại Dallas, Texas, Dr. GARY SOLOMON bắt đầu thực hiện một chương trình bắt chước, đổi hàm răng giả cũ để lấy $250.00 tiền mặt gọi là "CASH FOR CHOMPERS". Sáng kiến bắt chước của ông đã lôi kéo sự chú ý của các hệ thống truyền thông và báo chí.
Nha sĩ Solomon sẽ tặng $250 đô-la cho bất cứ ai đem đến hàm răng giả cũ để nâng cấp lên hàm răng giả mới, có nghĩa là làm hàm răng giả mới rẻ hơn $250 đô-la, nếu có hàm răng giả cũ "thế chân", còn nếu như vào phòng răng mà không có hàm răng giả cũ thì không được gì hết cả!
Nha sĩ Solomon cho biết là sau khi ông thấy chương trình đổi xe cũ lấy xe mới mang lại thành công lớn cho các nhà bán xe, ông thầm nghĩ là có thể bắt chước chương trình này, tuy nhiên ông biết là chính phủ chẳng bao giờ lại bỏ tiền ra để trợ cấp cho các nha sĩ, vì vậy ông phải tự tạo lấy chương trình kích thích thương vụ cho riêng ông, và gọi nó là "CASH FOR CHOMPERS" ( Tiền mặt cho các hàm răng cũ ).

Đeo vào thì đẹp, nhưng ngâm trong ly thấy... khiếp đảm quá!
Nếu quý vị nào đã từng xem bộ phim truyền hình Land Before Time (tạm dịch là Đất Thuở Hồng Hoang), có một con khủng long bạo chúa (Tyrannosaurus) tên là Chomper có hàm răng rất sắc bén. Tên khủng long nầy vừa có thể nói được ngôn ngữ của các loài ăn cỏ ( dĩ nhiên là tiếng Anh... của khán giả ), lại có thể nói được ngôn ngữ của giống răng nhọn khủng long bạo chúa chuyên ăn thịt sống, đó là loại ngôn ngữ nghiến răng, nhe răng, gầm gừ hung bạo! Nói thế cũng đủ mường tượng được tiêu chuẩn của những hàm răng cũ đưa đến đổi phải như thế nào.

... và đây là tên "Chomper" trong bộ phim "Land Before Time" (tạm dịch là Đất Thuở Hồng Hoang)
Có lẽ trong tương lai rất gần sẽ có vô số người bắt chước để thực hiện các kiểu " Tiền mặt cho cái này, cái nọ" và biết đâu cái loại kinh doanh này không chừng cũng sẽ được gọi là "Obama business". Mong sao sẽ không bao giờ có cái chương trình gọi là "Cash for Old Wife or Old Husband" hoặc "Cash for Old Monkey", tuy nhiên cơ hồ cái gì mà mình sợ lại thường hay xẩy ra lắm, khi đó xin đừng trách bần đạo nói xàm mà linh ứng!!!
Muốn biết thêm chi tiết xin vào website sau đây của ngài nha sĩ Solomon:
http://www.garysolomondds.com/
KDĐN
08/11/09. 02:17:45 pm. 831 words, 476 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Góp nhặt, Không ðề, Thiên hạ sự, Chuyện lạ ðó ðây, Chuyện vui, Những chuyện ỡm ờ, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs ,
TÀN SÁT THIÊN AN MÔN 1989
Tiananmen Massacre - Tank Man: The 1989 Chinese Student Democracy Movement - 1:18:41
TÀN SÁT THIÊN AN MÔN 1989 - Phim dài 1 giờ 18 phút 41 giây.
08/07/09. 10:39:04 am. 87 words, 1093 views. Categories: Thiên hạ sự, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Video tài liệu, Xã hội và nhân văn, Vòng quanh thế giới ,
GIÁO XỨ TAM TÒA, QUA KHỦNG BỐ LỊCH SỬ ĐANG TÁI DIỄN...
Giáo xứ Tam Tòa, qua khủng bố lịch sử đang tái diễn...
Source: VietCatholic News
Một triết gia Tây phương có nói: “Chẳng bao giờ người ta có thể tắm lần thứ hai ở một dòng sông.” Câu nói cho người đọc sử một nguyên lý dứt khoát đó là lịch sử không bao giờ lặp lại cũng giống như con sông hễ trôi đi một lần là đi biền biệt với dòng thủy lưu luôn luôn đổi thay cùng với bãi cát nương dâu khi bồi khi lở. Tuy nhiên chắc chắn lịch sử đã có khi lặp lại và - không những thế - đã lặp lại nhiều lần cho nên người ta đã luôn luôn thúc giục nhau nhớ lấy bài học lịch sử, rút ra kinh nghiệm lịch sử, tìm hiểu vấn đề lịch sử để bồi bổ cho những nhận thức cùng hành động trong hiện tại và như vậy rõ ràng là câu nói của sử gia Pháp Fustel De Coulanges “Lịch sử chẳng có ích lợi gì” (L’histoire ne sert à rien) (Nguyễn Phương, Phương pháp sử học, Phong nghiên cứu Sử, Viện Đại Học Huế, 1964, trang 23) đã hóa nên vô nghĩa?
Ngày 20-7-2009, lịch sử đã lặp lại trên một vùng đất bé nhỏ, một địa điểm đã từng là chiến trường giữa lực lượng người Hán và Đại Việt với người Chăm từ thế kỷ I đến thế kỷ XI, giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài thời Trịnh Nguyễn trong gần hai trăm năm, một linh địa mệnh danh Tam Tòa từng hiện diện trên đó ngôi thánh đường ngày nay đổ nát chỉ còn mặt tiền được chính quyền cộng sản tỉnh Quảng Bình dùng làm nơi lưu niệm chứng tích tội ác của đế quốc Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Giáo xứ Tam Tòa ở phía nam sông Gianh, trên vùng biên giới giữa vương quốc Đàng Trong và Đàng Ngoài thể hiện cá tính đặc thù đúng như câu nói của sử gia Anh Arnold J. Toynbee: “Những miền nằm trên vùng biên giới đều có sinh lực mạnh mẽ.” (Arnold J. Toynbee, The Study of History, tác phẩm tóm lược (hai tập) của D.C. Somervell, A laurel edition, Dell Publishing Co., Inc xuất bản, 1971. Nguyễn Thế Anh, Nhập môn Phương pháp Sử học, Sài Gòn, 1974, tr. 17). Biến cố khủng bố có tổ chức đối với người giáo dân Tam Tòa do chính quyền cộng sản tại Quảng Bình điều động có lớp lang, có bài bản ngày 20-7-2009 và những ngày sau đó đã cho thấy rõ ràng là lịch sử bách hại đạo Công Giáo đang lặp lại trên vùng đất đầy đau khổ mà cũng rất anh hùng này.
1.- Hạt giống đức tin gieo xuống và chông gai bước đầu.
Dưới thời Pháp thuộc thành phố Đồng Hới có tên thơ mộng là Thành Phố Hoa Hồng nằm gần đúng vào giữa tỉnh Quảng Bình ở tọa độ 17, 21 đến 17, 31 vĩ độ Bắc và 106, 30 đến 106, 10 kinh độ Đông. Đồng Hới trước đây có tên Động Hải mà theo một tư liệu của linh mục Nguyễn Văn Ngọc có tên “Trang sử giáo xứ Tam Tòa” thì năm 1615 chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên) cho phép các giáo sĩ Âu châu vào truyền đạo từ Phú Yên đến sông Gianh. Lúc bấy giờ, muốn truyền đạo có kết quả mau chóng thì phải tìm đến chỗ đông người, nên các giáo sĩ phải chọn vùng thị tứ để tới đó giảng đạo mà ở Quảng Bình không có chỗ nào đông đúc hơn vùng Nhật Lệ cho nên Động Hải là một điểm truyền giáo được chú ý tới. Đặc biệt là trong giai đoạn chúa Nguyễn xây đắp lũy Trấn Ninh, lập đồn Động Hải, xây lũy Trường Sa v.v… thì Động Hải lại càng tấp nập, trở thành địa hạt giảng đạo quan trọng đối với các vị thừa sai. ( Nguyễn Văn Ngọc, Trang sử giáo xứ Tam Tòa. Tư liệu phổ biến nội bộ của họ giáo Tam Tòa, Sài Gòn, 1996, trang 5; Nguyễn Tú, Địa chí Đồng Hới, Trung Tâm VHTT Thị Xã Đồng Hới xb., 2000, tr. 150). Chỉ trong một thời gian không lâu ở phía nam Quảng Bình đã có bốn họ đạo đó là Đại Phong, Trung Quán, Dinh Mười và Động Hải. Sau khi được thành lập, các giáo xứ tại Quảng Bình sống đời sống mục vụ tự lập, không có linh mục trông coi nên giáo dân đã sớm trưởng thành trong đức tin. Thỉnh thoảng trong một năm, một hoặc hai lần mới có linh mục từ Huế ra thăm ban các phép bí tích. Cũng theo tư liệu của linh mục Nguyễn Văn Ngọc, hồi đó các quan chưởng cơ ở Quảng Bình cũng tuyển lựa đồng bào công giáo vào quân ngũ. Báo cáo ngày tháng 12-1692 của linh mục Lôrensô Lâu gửi về Tòa Thánh Rôma cho biết: “Tôi tới thăm các họ đạo Đại Phong, Trung Quán, Dinh Mười, Động Hải, tại vùng này có dinh quan Chưởng cơ và quân đội chúa Nguyễn, có lũy lớn gọi là lũy Trấn Ninh, ở đây có 50 lính công giáo…”. (Nguyễn Tú, Sđd, trang 150)
Nhưng tình hình về sau đổi thay do việc các chúa Nguyễn thi hành chính sách cấm và bắt đạo qua nhiều hình thức khủng bố nhắm vào đối tượng là người Công Giáo.
Trong tác phẩm Lịch sử truyền giáo, linh mục Nguyễn Hồng viết về các anh hùng xưng đạo ở Quảng Bình qua cơn khủng bố dưới thời Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) như sau: “Cuộc bách hại vẫn tiếp tục. Bắt đầu với cái chết của thầy Andrea, rồi đến hai thầy I-nha-xu và Vinh-Sơn, cuối năm 1646 lại tái diễn với án trảm quyết hai ông Agostinô và Alêxi. Thấy hoạt động tông đồ giáo dân của hai ông Agostinô và Siméon, hai vị trùm trưởng nhiệt thành của họ Quảng Bình, dù trong thời kỳ cấm cách, vẫn tiếp tục và kết quả, một số người ghét đạo ở làng bên tìm cách phá hoại. Họ nhờ một quan cai đội đệ trình lên Thượng vương một đơn tố cáo một số đàn anh họ đạo Quảng Bình, trong đó tên hai ông Agostinô và Siméon được đặt lên trên hết. Họ kêu ca vì dân bên giáo bỏ thần phật, nên mùa quả bị hỏng và trâu bò chết nhiều. Thượng vương ra lệnh cho lính phủ về bắt hai ông Agostinô và Siméon đóng gông giải về dinh.. Cậy thế triều đình, họ Quảng-Bình bị lính phủ phá phách tàn tệ. Hai ông Agostinô và Siméon bị bắt giam cùng với 4 giáo dân trong họ, trong đó có ông Alêxi. Ông là người trong quân đội, nghe biết lính phủ lên bắt giáo dân trong họ, ông liền xưng ra mình là người có đạo. Lấy tình bạn đồng nghiệp, quan cai đội chỉ yêu cầu ông ký bản chối đạo, không bắt ông phải đạp ảnh và tìm hết các đường lối quanh co để gỡ cho ông thoát, nhưng ông Alêxi từ chối những cử chỉ hèn nhát đó. Ông lại yêu cầu được danh dự mang gông như hai ông Agostinô và Siméon. Theo luật, quân lính có tội được miễn nhục hình đó, nhưng vì ông Alêxi khẩn khoản, nên sau khi hỏi ý kiến quan phủ, quan cai đội cũng để ông được mang gông. Bị giải đến trước mặt Thượng vương, nhà chúa bỡ ngỡ vì lệnh truyền chỉ đóng gông có hai người. Hiểu chuyện do quan cai đội tâu trình, Thượng vương bắt đầu tra vấn ông Alêxi rồi đến hai ông Siméon và Agostinô. Tất cả đều can đảm xưng đạo. Nổi giận, Thượng vương kết án trảm quyết hai ông Agostinô và Alêxi, còn cụ già Siméon đã 62 tuổi và 3 giáo dân khác bị chặt một ngón tay, bị đánh đòn và cạo trọc đầu. Án giao cho quan phủ Quảng Bình thi hành và còn truyền cho ông phải truy nã những giáo dân bất tuân lệnh vẫn cả gan hành đạo và trừng phạt để làm gương cho người khác sợ. Một số ảnh tượng và sách đạo bị tịch thu trong chuyến vây bắt họ Quảng-Bình, cũng bị đem thiêu hủy hôm đó.” (Nguyễn Hồng, Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, Nhà xuất bản Hiện Tại, 1959, quyển I, trang 245). Linh mục Nguyễn Hồng đã dựa trên tư liệu của cha Metello Saccano ghi tên làng đó là làng “Kenyka” mà theo chúng tôi đoán đó là làng Kẻ Nại tức là làng Diêm Điền là làng của hòa thượng Thích Trí Quang ở gần giáo xứ Tam Tòa. Dân làng Diêm-Điền có tật nói ngọng, chữ l nói là n thí dụ “làm sao” thì nói “nàm thao”. Trong biến cố quân Văn Thân đốt phá giáo xứ Sáo Bùn năm 1886, chính đa số là dân Diêm Điền vào đốt. Vậy thì trước đó cả hơn thế kỷ, chính quân phủ Quảng Bình xúi dục làng Kẻ Nại khiếu kiện người Công giáo gây mối xung đột lương giáo từ đó kéo dài về sau. Những việc làm đó về sau được công an Quảng Bình áp dụng trong sự biến Tam Tòa ngày 20-7-và 27-7-2009 chẳng hạn như bắt người, đánh đập linh mục, giáo dân, tịch thu ảnh tượng, sách đạo, tượng thánh giá v.v…
Tình hình lúc đó rất căng nên các linh mục phải trốn đi miền khác. Từ Phú Xuân ra tới nam sông Gianh lúc bấy giờ chỉ còn hai thừa sai Dòng Tên. Tuy nhiên cuộc bắt đạo trở nên khốc liệt dưới triều các vua nhà Nguyễn như Minh Mạng, Thiệu Trị và nhất là Tự Đức.
Về sau chính sách khủng bố đạo Công Giáo vốn là sáng kiến của vua Minh Mạng nhưng vì sợ mang tiếng nên ông mới khôn khéo bắt các quan triều đình làm kiến nghị gởi lên vua xin cấm đạo Công Giáo trong toàn quốc. Và trước mặt dân Minh-Mạng hạ chỉ cấm đạo chỉ vì triều thần nài xin gắt gao. Sử gia linh mục Phan Phát Huồn cho rằng “cái hài kịch mà Minh Mạng và tôi tớ của ông đóng xem ra giống hài kịch mà Cộng-Sản thường diễn lại ngày nay. Minh Mạng cám ơn các quan đã có lòng hăng nồng sốt sắng lo việc nước, việc dân.” (Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử, bản in lần thứ hai, 1965, quyển I, trang 322).
2.- Cao điểm của chính sách khủng bố.
Tuy nhiên cao điểm của sự khủng bố đạo Công Giáo dưới thời Tự Đức (1847-1883) là chính sách phân sáp được áp dụng trong toàn quốc giai đoạn 1861-1862 mà trong đó giáo dân toàn tỉnh Quảng Bình trong đó có giáo dân Sáo Bùn, tổ tiên của giáo dân Tam Tòa đã phải chịu đựng khó có ngòi bút nào diễn tả hết sự đau thương, thảm khốc.
Trong chính sách phân sáp, Tự Đức chủ ý gây ra tình trạng mâu thuẫn lương giáo, miệt thị giáo dân bằng cách gọi giáo dân là “dữu dân” (dữu là một thứ cỏ độc hại). Phân sáp là gì? Nhà sử học Lê Ngọc Bích trong sách Nhân vật Giáo phận Huế đã cho biết: “Phân sáp (cũng đọc là Phân tháp); “Phân” là chia ra, “Sáp” hay “tháp”là cắm vào, lách vào. “Phân sáp” (hay “Phân tháp”) là chia riêng ra không cho tụ họp lại rồi cắm vào, ghép vào một nơi khác để bộ phận bị ghép vào đồng hóa với nơi được ghép vào. Như vậy, “Phân sáp” người Công giáo ở các làng Công giáo là xé nhỏ các gia đình Công giáo, các làng Công giáo để không còn là một đồng thể rồi ghép vào với gia đình không Công giáo (thuật ngữ gọi là người “bên lương” ở các làng “bên lương” khác quản lý, người Công giáo sẽ bị đồng hóa về mặt tôn giáo với người “bên lương” thì từ đó các cộng đồng người Công giáo là các họ đạo, các giáo xứ sẽ tàn lụi, sẽ bị xóa sổ.” (Lê Ngọc Bích, Nhân vật Giáo phận Huế, Tập I, 2000, tr. 43).
Sau đây là những thảm cảnh do chính sách “phân sáp” đã được Giám mục Sohier (tên VN là Bình) ghi lại bằng những nét rất phổ biến đối với nhiều giáo xứ “ (…) hàng loạt người Công giáo bị bắt (…) nhiều người chỉ gặp vợ con trong vòng 5-6 ngày rồi đau đớn xa lìa nhau, không thể nào gặp nhau lại được. Vì thế họ khóc than vô kể (…) Họ kể lể: Chúa ôi, thà người ta chặt đầu cắt cổ chúng con còn hơn! Tại sao không để chúng con chết đi cho rồi! Sống làm chi cho khổ thế!” (Lê Ngọc Bích, Sđd, tr. 44).
Cảnh tượng tại Kẻ Sen, cách giáo xứ Tam Tòa khoảng 17 cây số thật đau lòng, theo lời Giám mục Sohier: “Đây là cảnh tượng đau lòng nhất: nào là những bà mẹ ra đi với đứa con dại đeo lung lẳng trên vú, nào các bà khác thì cõng con sau lưng. Chồng họ đi theo gánh gồng lương thực. Sau những người này là những ông chủ mới, tay cầm roi. Những trẻ con bị bỏ lại, chúng chạy trốn lên rừng. Dầu vậy họ vẫn hiên ngang đi, lòng đầy tin tưởng (…)” (Lê Ngọc Bích, Sđd, tr. 44)
Chính sách đối xử với dân Công giáo thật dã man. Cứ mỗi làng bên lương nhận quản lý 5, 6 người Công giáo, có làng nhận tới 90 giáo dân. Có người bị giam cầm suốt cả năm không được cấp một hạt gạo hay một đồng tiền nào cả. Các quan mỗi tháng đến kiểm soát 3 lần và tra tấn giáo dân trong khi đó các lý trưởng, chánh tổng tha hồ đánh đập dân Công Giáo hơn cả đối xử với súc vật. Nhà giam những người Công Giáo thường làm bằng tre thấp lè tè, thiếu không khí, không có những tiện nghi cần thiết, chung quanh chất đầy rơm khô, trên không mái che, chờ hễ khi có lệnh thì phóng hỏa. Sau đây là những lời Giám Mục Sohier ghi lại: “Theo Sắc dụ Phân Sáp, các nhà giam được cất giữa các làng “bên lương” (để dễ kiểm soát), nhưng về sau đưa các nhà giam ra làm tại những nơi hoang vắng đồng không mông quạnh, xa nhà dân để một khi đốt các nhà giam thì nhà dân trong làng khỏi bị cháy lây. Bởi vì vua Tự Đức và các quan nhất quyết thiêu sống giáo dân trong trường hợp có tàu Tây trở lại các cửa biển… Ở các cửa biển cũng có sẵn rơm và củi, hễ có tàu ngoại quốc đến, quân ta đốt lửa lên làm hiệu lệnh, trong đất liền, ở các nhà giam sẽ nổi lửa đốt nhà giam.” (Lê Ngọc Bích, Sđd, tr. 45).
Trong các tư liệu viết về lịch sử Giáo phận Vinh, có Bài Phú Phân Tháp do Đức cha Phêrô Trần Xuân Hạp gửi cho linh mục Cao Vĩnh Phan, được đăng lại đầy đủ trong tác phẩm Lịch sử Giáo phận Vinh, với những chứng tích rất đau thương trích dẫn một đoạn như sau:
Ai ngờ:
- Trong buổi trị bình,
Sinh điều loạn lạc.
- Cứ sổ kêu phân tháp, ông tỉnh ấy dâng lên
Nghe chỉ cho thi hành, ông phủ chi làm trước.
- Trong nửa tháng sự thanh hết thảy, đưa dâng lên một tập quyển vàng,
Trên chín lần để dụ đáng khen mà đệ vào mấy đồng tiền bạc.
Rồi một cái:
- Các tỉnh thành đều phải thi hành,
Cứ quảng nghĩa cho in thể thức.
- Chiếu sổ ai là tả đạo, phủ bắt về đầy nha, huyện bắt về đầy nha,
Mật trát sức cho bình dân, làng mô cũng làm rặc, xã mô cũng làm rặc.
- Từ dần chí dậu trống đánh thì thùng,
Cả đêm liền ngày mõ khua cúc cắc.
- Các ông chức dịch ngồi trong đình họp họp hành hành,
Bắt đứa phu đài tìm mặt dân gông gông gạc gạc.
- Chính ở trong làng dựng vài điếm canh,
Chôn dưới chân cột xiên xiên mũi mác.
- Áp tận nơi: tre cắm một tầng dày kín mịt mù chông thả trong thả ngoài,
Sâu lút người: hào rạch tứ phía rào bao hai lớp gai bỏ ngang bỏ ngác.
- Nghe sắm sửa: kẻ một chục kẻ đôi ba chục, kẻ ba bốn chục mua lấy nơi gần gần,
Thành sổ rồi: làng năm người, làng dăm bảy người, làng chín mười người kéo từng đoàn dặc dặc.
- Không cho thối hồi,
Đòi đi lập tức.
- Chẳng để ai lưu lại quê nhà,
Cũng chán kẻ phải đi xa lắc.
- Những tưởng dồn làng vừa mang vừa hát vâng lệnh nước ra đi,
Ai ngờ phép vua một ngày một nghiêm bỏ cửa nhà tan tác… (Linh mục JBT. Cao Vĩnh Phan, Lịch sử Giáo phận Vinh, Hội Ái hữu Giáo phận Vinh Bắc Cali, Hoa Kỳ, xuất bản, 1996, tr. 531)
Một tư liệu xuất bản gần đây có tên Châu bản triều Tự-Đức còn ghi lại một trong nhiều trường hợp nhà Nguyễn xử lý vấn đề ruộng đất của người Công Giáo trong chính sách phân tháp như sau: “ Nội các duyệt xét các quy định của tỉnh Quảng ngãi nhằm xử trí với giáo dân đạo Gia Tô: Ruộng đất của giáo dân bị tập trung ở những nơi riêng biệt, giao cho lý dịch quản lý. Các lý dịch này sẽ chiêu mộ dân lương các nơi đến canh tác số ruộng đó. Một nửa số thu hoạch sẽ giao cho người canh tác, còn một nửa dùng nộp thuế và cấp dưỡng cho giáo dân.” (R.X.Q. Tự-Đức thập tứ niên, Thập nguyệt. Ngày 2-10 TĐ. XIV (1861). Tờ 17-23. Kho L.T.T.Ư. 2; CB. 262). Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học, Châu bản triều Tự Đức, Nxb. Văn Học, 2003, tr. 110.
Đây chỉ là những điều ghi nhận trên giấy tờ, còn trong thực tế giáo dân phải chịu rất nhiều đau thương cả vật chất lẫn tinh thần mà trong đó giáo dân Sáo Bùn (Tam Tòa) nói riêng và Công Giáo toàn quốc nói chung phải gánh chịu thật sự không sao kể xiết.
3.- Lịch sử đang bước đầu tái diễn, nhưng người cộng sản đừng tưởng bở…
Trong bài trả lời BBC từ Hà Nội, tiến sĩ Nguyễn Hồng Dương, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Tôn giáo nhận định: “Chắc là lịch sử sẽ không lặp lại. Việt Nam có đường lối ngoại giao rất cụ thể và tính chất độc lập. Chắc lịch sử sẽ không lặp lại như thế.” (Vietcatholic ngày 28-7-2009) Ngày trước, vua chúa nhà Nguyễn thi hành chính sách cấm đạo, bắt bớ giam tù, đánh đập giáo dân, kể cả đàn ông, đàn bà, trẻ con, thì ngày nay qua biến cố tại Tam Tòa ngày 20 và 27-7-2009, công an Quảng Bình cũng lặp lại các hành vi như vậy và còn được hỗ trợ thêm bằng các phương tiện truyền thông để bào chữa, biện minh cho việc làm của mình, rõ ràng là lịch sử đang lặp lại và chỉ những người có mắt mà không có con ngươi cỡ như tiến sĩ “giấy” Nguyễn Hồng Dương mới không thấy được sự thật mà thôi.
Ngày trước, dưới thời các vua nhà Nguyễn, trong các cuộc ruồng bố tìm bắt người Công Giáo, việc tịch thu các ảnh tượng, kinh sách, áo lễ, là bằng chứng để buộc tội các đạo trưởng như linh mục, giám mục. Trong ngày 20-7-2009, công an Quảng Bình cũng đã tịch thu tượng thánh giá do Đức Cha Võ Đức Minh ở Nha Trang tặng cho giáo xứ Tam Tòa, tịch thu các sách hát của ca viên, máy phát điện cũng lều bạt của giáo xứ. Trong ngày 27-7, công an Quảng Bình đã hung bạo đánh đập hai linh mục Ngô Thế Bính và Nguyễn Đình Phú đến mang trọng thương, đánh đập một số giáo dân, đập gãy tượng thánh giá là một hình thức công khai sĩ nhục, xúc phạm tôn giáo. Rõ ràng là lịch sử đã lặp lại trong một xã hội mà chính quyền luôn luôn xoen xoét cái mồm là tôn trọng tự do tôn giáo. Chủ nghĩa Cộng Sản đã khẳng định rằng tôn giáo và cộng sản không thể đội trời chung xét cả lý thuyết lẫn thực hành.
Ngày trước, dưới thời các vua nhà Nguyễn, chính sách cấm đạo được đưa ra nhưng được viện cớ là do yêu cầu của các quan (thời Minh Mạng) cùng lúc sử dụng người bên lương làm đối trọng chống giáo dân, cụ thể tại Quảng Bình, giáo xứ Sáo Bùn bị đốt phá do dân làng Diêm Điền (đa số là Phật giáo, đạo ông bà) ngày 24-6-1886. Các vua nhà Nguyễn đã khích động hiềm thù lương giáo, phá hoại tình đoàn kết dân tộc rõ ràng là đã đưa đường chỉ lối, tạo kinh nghiệm, tạo tiền lệ cho công an tỉnh Quảng Bình ngày nay sử dụng đám người mà họ gọi là “quần chúng tự phát” để tấn công, đe dọa, phá phách giáo dân, đánh trọng thương các linh mục. Đám côn đồ giả dạng “quần chúng tự phát” được công an bảo kê để ung dung phạm tội ác thì nào khác chi đồng bào bên lương trước đây được tự do hành động gây ra nhiều cuộc đổ máu do sự làm ngơ cho phép của nhà nước phong kiến trong các biến cố bắt đạo, phá đạo. Lịch sử há không phải đang được lặp lại hay sao?
Ngày trước, dưới thời các vua nhà Nguyễn, chính sách khủng bố được nhà nước công khai sử dụng như là những biện pháp hữu hiệu nhằm triệt hạ đạo Công Giáo, nhưng như lời giáo phụ Tertullien đã nói “Máu tử đạo là hạt giống sinh con nhà có đạo”. Nhờ chính sách khủng bố Giáo Hội Công Giáo Việt Nam có 117 vị thánh tử đạo và biết bao nhiêu người kể được kể vào hàng các bậc khả kính vô danh đã bỏ mình vì đạo dưới hình thức này hay hình thức khác. Trong cuộc đàn áp của công an Quảng Bình đối với giáo dân Tam Tòa, như đã thấy và chắc còn diễn ra trong tương lai, chính linh mục Võ Thanh Tâm, tổng đại diện Giáo phận Vinh cho biết: “Nếu nổ ra thì nó trầm trọng lắm. Nó nổ ra chúng tôi không biết có kiềm chế được tiếng hòa bình của mình. Nó uất ức quá cho nên nó sẽ đánh nhau. Khi đã đánh nhau rồi thì bất chấp, sẵn gì đánh nấy. Đánh thì nhất định tổn thương giáo dân, mà giáo dân khẳng định không có đường nào lên Thiên Đàng nhanh cho bằng tử đạo. Nó khẳng định thế thì tôi thấy ghê lắm, tôi sợ lắm.” (Vietcatholic ngày 28-7-2009).
Ngày trước, các vua chúa phong kiến nhà Nguyễn thi hành chính sách kỳ thị đối với người Công giáo, gọi họ là “dữu dân” (dân xấu như cỏ dại) để phân biệt với “lương dân” (người tốt), giết chóc, đày đọa họ, đối xử với họ như thứ công dân hạng hai – đúng như Mạnh Tử nói “ vua coi dân như cỏ rác, thì dân coi vua như thù địch” - để khi đến tình trạng nước gần mất vào tay người Pháp, bị áp lực từ nhiều phía mới nới rộng tay, tha đạo, tha phân tháp thì ngày nay chế độ Cộng Sản sau hơn 6 thập kỷ cầm quyền vẫn tiếp tục chính sách coi các tôn giáo như thù địch, dùng tôn giáo này để khống chế tôn giáo kia, dùng bộ máy đàn áp công an với mọi phương tiện hiện đại như roi điện, chó nghiệp vụ, thanh niên du đảng Hồ Chí Minh, bọn nghiện ngập và xã hội đen được khoác một mỹ từ là “quần chúng tự phát” để dập tắt tiếng nói đấu tranh cho Công lý và Sự thật. Chính Kalinine đã từng nói: “Chiến đấu bài tôn giáo là phương thế cần thiết và tối diệu để vạch đường cho Cộng sản.”
Tuy nhiên, khi chủ nghĩa Cộng Sản đã đi vào mồ chôn của chúng tại Liên Xô và các nước Đông Âu từ những năm cuối của thế kỷ 20, kết quả của cuộc chiến “ai thắng ai” đã tỏ rõ trên bàn cân lịch sử. Néron của đế quốc La mã trong thế kỷ I đã chết sau khi phóng hỏa đốt thành La Mã rồi vu cáo cho người Công Giáo là thủ phạm để có cớ mà tàn sát, giết hại những người theo Đức Kitô. “Néron Việt Nam” là Minh Mạng cũng đã chết sau thời gian dài tìm mọi cách để tiêu diệt đạo Công Giáo ở nước ta. Thiệu Trị rồi Tự Đức nổi tiếng tàn ác trong các kế hoạch tiêu diệt đạo Chúa mà cao điểm là chính sách phân tháp ngày nay chỉ còn để lại nhiều vết nhơ trong lịch sử. Chế độ Cộng Sản tại Việt Nam đã giết biết bao nhiêu giáo dân, tu sĩ, linh mục, giám mục khi họ lên cầm quyền năm 1945 cho đến ngày nay nhưng đạo Công Giáo được xây dựng trên Đá Tảng Phêrô chắc chắn vẫn còn tồn tại với thời gian. Giáo xứ Tam Tòa là chứng nhân lịch sử với tổ tiên đã hiến máu đào trong các cuộc bắt đạo thời chúa Nguyễn, Tây Sơn và các vua nhà Nguyễn. Ngày nay lịch sử đang tái diễn trên đất thánh của giáo xứ Tam Tòa nhưng không phải là một lịch sử bị che khuất dưới bóng đêm của bạo lực mà được chứng kiến, theo dõi, hiệp thông, chia xẻ bởi Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, Giáo Hội Mẹ Việt Nam, Giáo Phận Vinh và hàng triệu triệu con người chân chính trên khắp thế giới. Bóng đêm phải lùi bước trước ánh sáng. Tà đạo phải nhường lối cho chính nghĩa. Bàn tay của gian trá và bạo lực đẫm máu phải bị chặn lại. Chế độ bạo quyền Cộng Sản không lâu nữa tất yếu sẽ bị nghiền nát dưới bánh xe của lịch sử. Dòng máu lịch sử tử đạo đã khơi nguồn tại giáo xứ Tam Tòa ngày 20 và 27-7-2009 chắc chắn là hồi chuông cổ vũ vang rền cho sức mạnh Công Lý, Sự Thật và Đức Tin của người Công Giáo.
Hãy vững tin hỡi đàn chiên bé nhỏ của giáo xứ Tam Tòa, lịch sử hơn hai nghìn năm của Giáo Hội đang nhìn về phía các bạn! Đừng sợ!
New Jersey August 4, 2009
Nguyễn Đức Cung
ĐÁP LỄ BÀI "HÃY NÓI SỰ THẬT" TRÊN BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN: ĐÂU LÀ SỰ THẬT?
Source: VietCatholic News
Báo Quân đội nhân dân số chủ nhật 2-8-2009, trong mục Chính luận có bài "Hãy nói lên sự thật ", với mục đích lên án tôi đã không nói sự thật trong cuộc trả lời phỏng vấn của đài RFA về vụ Tam Tòa - Qủang Bình.
Đã lâu lắm rồi, dễ thường đến 16 năm, báo QĐND mới lại nhắc đến Bùi Tín.
Điều này làm tôi xúc động, thích thú nữa, để được luận bàn về "sự thật", một chủ đề cực kỳ hệ trọng suốt hơn nửa thế kỷ trong xã hội Việt nam.
Tôi chỉ tiếc là người viết bài chính luận ấy lại không ký tên. Sao lạ vậy? trong thời công khai, minh bạch, sao vẫn cứ cái cố tật "ném đá dấu tay " như thế?
Mở đầu bài viết tác giả đã nhận xét sự việc ở Tam Tòa gần đây là "liên quan đến sự chống phá của các lực lượng thù địch". Đây là sự thật hay chỉ là nhận xét một chiều, kiểu áp đặt, chụp mũ tùy tiện rất quen thuộc trên báo chí nhà nước như báo QĐND?
Tác giả bênh vực cái quyết định của tỉnh Quảng Bình năm 1997 coi phần còn lại của nhà thờ Tam Tòa là Chứng tích tội ác chiến tranh, theo đúng Luật di sản văn hoá. Theo tôi cái quyết định ấy vẫn không có giá trị vì nhiều lẽ sau đây:
- ông phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình Trần Công Thuật có ký cái quyết định ấy, nhưng vấn đề này không hề được đưa ra thảo luận ở Hội đồng nhân dân tỉnh cũng như ở Ủy ban nhân dân tỉnh. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh cũng không hề được hỏi ý kiến. Còn nhân dân thì không hề được hỏi đến. Theo luật về quyền hạn của các cấp chính quyền từ tỉnh đến xã thì đây là một quyết định không có cơ sở, do đó không có giá trị pháp lý vững chắc;
- thêm nữa bom Mỹ có phá hủy phần lớn nhà thờ Tam Tòa, nhưng theo tôi được biết khi ấy cả Đồng Hới đã sơ tán triệt để, không có linh mục hay giáo dân nào ở lại trong nhà thờ, nên bom Mỹ không gây thương vong cho dân thường, nên gọi là Chứng tích tội ác chiến tranh "để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ" thì có phần khiên cưỡng;
- hồi ấy tôi đã thấy 2 ụ súng phòng không lớn được đắp ngay cạnh nhà thờ, nên ở ngoài khơi Đồng Hới tàu chiến, tàu sân bay, máy bay do thám Mỹ của hạm đội 7 có thể biết rất rõ từng mục tiêu, nên các cuộc ném bom có nhiều khả năng nhằm vào các mục tiêu quân sự ấy.
Bài viết của báo QĐND còn cho rằng tôi đã nói không đúng sự thật, tôi đã kích động dư luận khi cho rằng sự kiện xảy ra "không phải xung đột lương - giáo", mà bắt nguồn từ mâu thuẫn "giữa chính quyền còn mang màu sắc cộng sản với các tôn giáo". Đó là chính kiến của tôi khi phóng viên RFA hỏi tôi rằng " xung đột vừa qua có phải xung đột lương - giáo hay không?".
Chẳng lẽ những mâu thuẫn giữa chính quyền mang bản chất cộng sản kỳ thị với các tôn giáo là không có thật, là do tôi - nhà báo Bùi Tín - bịa đặt, dựng đứng lên hay sao?
Chẳng lẽ ý đồ ngăn cản giáo dân sơ tán các vùng xa trở về tập trung trở lại giữa thành phố Đồng Hới quanh Tam Toà không phải là chủ trương rõ rệt - tuy không dám nói ra - của tỉnh uỷ Quảng Bình hay sao? Chẳng lẽ việc chính quyền lần lữa mãi, không hề đếm xỉa đến nguyện vọng chính đáng của bà con giáo dân sớm có một nhà thờ mới ở gần địa điểm cũ trong thành phố Đồng Hới là do nhà báo Bùi Tín này bịa đặt ra hay sao? Tại sao đã hoà bình 34 năm mà nay chính quyền mới chỉ ra 5 địa điểm cho các giáo dân lựa chọn, toàn là nơi hẻo lánh, có điểm không có đường vào, nơi thì không thuận lợi cho việc làm ăn, việc học hành của trẻ nhỏ, thế là chính sách đàng hoàng nhân ái với bà con giáo dân hay sao?
Tại sao báo Quảng Bình của tỉnh uỷ lại nói rằng số giáo dân ở Đồng Hới nay là không đáng kể, trong khi các linh mục sở tại cho rằng số bà con giáo dân ở đây đã lên đến trên một ngàn! Thế là thái độ ưu ái, ngay thật với bà con Công giáo ư?
Khi xung đột xảy ra, khi công an huy động một số kẻ lạ mặt, từ xa đến, mang băng đỏ, hành hung rất bạo trợn bà con tay không, đánh trọng thương linh mục Nguyễn Đình Phú và linh mục Ngô Thế Bính, báo QĐND đưa tin rằng họ là dân Đồng Hới sở tại "tự phát đứng ra ngăn kẻ xấu làm mất trật tự trị an", vậy thì tin ấy là sự thật ư?
Mong rằng Ban biên tập báo QĐND có dũng khí đăng bài "đáp lễ" này của tôi để làm rõ đâu là sự thật, sự thật hoàn toàn, không che dấu, không xuyên tạc và bóp méo.
Cuối cùng tôi lưu ý người viết Chính luận của báo QĐND hãy dùng từ ngữ chuẩn xác. Anh ta viết rằng "ông Bùi Tín đào tẩu sang Pháp", "trốn bỏ tổ quốc", trong khi tôi không hề đào tẩu, không hề trốn bỏ. Tôi đàng hoàng sang Pháp bằng hộ chiếu ngoại giao, theo lời mời chính thức, đích danh "nhà báo Bùi Tín". Từ Pháp tôi gửi về nước "Kiến nghị 12 điểm của một công dân" lời lẽ ôn tồn, nội dung ngay thật, hợp lý, phải đạo. Lãnh đạo không tiếp nhận, còn vu cáo là tôi phản bội (!), "bị phản động mua chuộc", còn vu khống trong một cuộc giao ban là tôi ăn tiền của "Đơ B" (tình báo Pháp) và CIA, cắt điện thoại nhà tôi, trả thù bằng cách đối xử cực xấu với vợ, con gái tôi.
Bộ trưởng công an Mai Chí Thọ còn nói "Thành Tín nay thành Thất Tín", lại nói "đảng đã cho cụ Bùi... chức vụ cao quý Trưởng ban Thường trực Quốc hội mà BT không biết ơn. ..(!)". Do thái độ xấu như thế, trịch thượng như thế, bạn bè, người thân của tôi khuyên tôi chớ về ngay mà nguy hiểm, ở lại Pháp làm nhà báo tự do, ngay thật, có khi có ích hơn là về nước để bị bịt mồm. Tôi không hề "trốn bỏ Tổ quốc". Ở xa tôi càng gần tổ quốc, càng phục vụ đồng bào có hiệu quả hơn.
Tôi viết sai sự thật ư. Sao không để lưu hành những cuốn sách của tôi: "Hoa Xuyên Tuyết", "Mặt Thật", "Về Ba ông Thánh","Mây mù Thế kỷ","Tâm tình với Tuổi trẻ ", "Cung Vua và Phủ Chúa" để cho bạn đọc và công luận trong nước đánh giá cho công bằng? Để xem ai nói lên sự thật. Sao những cuốn sách ấy vẫn được bí mật lưu truyền, được trong nước tìm đọc trên các mạng Đối thoại, Ý kiến, Văn Tuyển, Đàn Chim Việt, Tập họp Thanh niên Dân chủ, Thông luận...
Và trong sự kiện Tam Tòa, đâu là sự thật? Xin để bạn đọc, công luận phán xét.
Bùi Tín, Paris 4-8-2009
Bùi Tín
08/05/09. 02:52:34 pm. 8937 words, 387 views. Categories: Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Tin tức ðó ðây, Thông báo, Tin quan trọng, Liên kết blogs, Tôn giáo và tín ngưỡng ,
TRẠI TỴ NẠN GALANG PHẢI ÐÓNG CỬA

Trại tỵ nạn Galang phải đóng cửa
Hồng Nga
BBC Tiếng Việt từ Galang, Indonesia
Trại tỵ nạn Galang cũ tại Indonesia, nơi trong hai thập niên đã là nơi lưu trú của hàng chục vạn thuyền nhân Việt Nam, đang đối diện nguy cơ đóng cửa.
Tin cho hay, hôm thứ Tư 05/08, đoàn làm việc của Bộ Ngoại giao Indonesia có kế hoạch tới khu trại cũ ở Galang để thị sát tình hình trước khi quyết định.
Dư luận địa phương bày tỏ bất bình, trong khi có cáo buộc chính phủ Việt Nam đã gây áp lực với Jakarta để làm công việc này.
Di tích lịch sử và nhân đạo
Tôi tới trại Galang vào cuối buổi chiều, sau khi thay đổi tới ba phương tiện đi lại. Từ Hong Kong phải đáp máy bay sang Singapore, từ Singapore đi tàu tới Batam là hòn đảo lớn để rồi đi xe hơi tới Galang là đảo nhỏ hơn trong các đảo thuộc chuỗi đảo Riau.
Mặt trời đang dần hạ xuống eo biển Malacca, nhưng nắng quái vẫn còn vàng rực trong các vườn cây um tùm đã từng thấm đẫm máu và nước mắt của người Việt tỵ nạn.
Trại Galang đã không còn hoạt động từ năm 1996, khi những người tỵ nạn cuối cùng rời khỏi nơi đây. Từ đó, nó trở thành khu bảo tàng, với nhiều chứng tích ghi lại những năm tháng đau thương khi nhiều người Việt ồ ạt tìm đường ra nước ngoài để trốn chạy chính quyền cộng sản.

500 người đã chết trong trại Galang
Văn khố Thuyền nhân Việt Nam, tổ chức lưu trữ các tư liệu liên quan tới người Việt tỵ nạn sau cuộc chiến Việt Nam, còn ghi lại nhiều thảm kịch khủng khiếp trên con đường thuyền nhân bỏ trốn ra nước ngoài, đương đầu với bão tố, hải tặc, bệnh tật và đói khát.
Ước tính có tới 200.000 thuyền nhân Việt Nam đã được trung chuyển qua trại Galang trong những năm từ giữa thập kỷ 70 thế kỷ trước để chờ Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc làm thủ tục cho đi định cư tại một nước thứ ba.
Ngoài thuyền nhân Việt Nam, còn có thuyền nhân Campuchia tạm trú trong khu trại chia làm hai phần chính.
Hiện ở nơi đây vẫn còn một số khu nhà bỏ hoang mà trước đây người tỵ nạn từng trú ngụ, phần lớn đã xuống cấp, cùng nhiều cơ sở như bệnh xá, nhà sinh hoạt cộng đồng, cả hai ngôi chùa, một nhà thờ và một khu nghĩa trang chôn cất trên 500 người tỵ nạn chết lúc còn trong trại.
Tất cả, cùng với một bảo tàng nho nhỏ, nằm trong một khuôn viên khá rộng, được một đội ngũ nhỏ người Indonesia canh gác và chăm sóc hàng ngày.
Dân địa phương và khách du lịch biết tới trại Galang dưới cái tên đơn giản là Camp Vietnam.
Hai thập niên hiện diện của người Việt tại đây khiến thông tin trại có thể sẽ đóng cửa vĩnh viễn, ngừng đón người tới thăm khiến người dân địa phương ngỡ ngàng.
Lý do chính là từ khi ngừng hoạt động, trại tỵ nạn Galang cũ đã trở thành một địa chỉ du lịch khá phổ biến, mang lại thu nhập cho người bản địa.
Doanh thu du lịch
Chuỗi đảo Riau, đặc biệt là các đảo Batam và Bintan, được coi như "sân sau của Singapore", vì có thể tiếp cận khá dễ dàng qua đường thủy. Từ Singapore tới Batam bằng tàu phà chở khách (ferry) chỉ mất chưa đầy một tiếng đồng hồ.
Những năm gần đây, Batam còn nổi lên như một địa chỉ đầu tư, với hàng ngàn cơ sở sản xuất thu hút người lao động nhập cư từ các nơi ở Indonesia.
Cũng vì thế, mà khách du lịch từ Singapore và các nơi lân cận tới Batam ngày càng nhiều.
Một trong những nơi có tên trong các tua du lịch thông dụng là trại tỵ nạn Galang cũ. Ông Edi R. Surbakti, lãnh đạo Hiệp hội các Hướng dẫn viên Du lịch Batam cho hay, mỗi năm Batam đón khoảng hai triệu khách, và một nửa số đó viếng thăm trại Galang.
"Bây giờ nếu trại này đóng cửa, thì chắc chắn du khách sẽ thắc mắc. Trại Galang là một địa chỉ không giống các nơi du lịch thông thường, vì thế mà nhiều người muốn đến thăm."

Giới chức du lịch địa phương quan ngại sút giảm thu nhập
Các quan chức du lịch địa phương đã bày tỏ quan ngại trước việc trại tỵ nạn cũ có thể bị đóng cửa, mà họ cho là sẽ cắt giảm nhiều công ăn việc làm ở nơi này.
Nhất là lý do để đóng cửa trại vẫn chưa rõ ràng tuy có những người cho rằng có thể vì yếu tố chính trị.
Văn khố Thuyền nhân Việt Nam, trong thông cáo đăng trên trang mạng, cáo buộc chính quyền trong nước đã gây sức ép cho chính phủ Indonesia nhằm "âm thầm xóa bỏ dấu vết tội ác, hủy hoại di tích lịch sử và nhân đạo thế giới".
Tổ chức này nhắc lại sự kiện bia tưởng niệm thuyền nhân tại Galang bị phá bỏ hồi tháng 5/2005, hai tháng sau khi khánh thành, mà họ cũng cho là bị Hà Nội áp lực.
Hiện chưa có phản hồi gì từ chính giới Indonesia và Việt Nam về các cáo buộc này.
Giới chức du lịch địa phương Batam trong khi đó khuyến cáo giữ lại di tịch trại Galang cũ đơn thuần vì các giá trị "văn hóa và lịch sử" to lớn của nó.
08/05/09. 02:02:56 pm. 1462 words, 160 views. Categories: Không ðề, Tổ quốc dấu yêu, Tin tức ðó ðây, Liên kết blogs, Ôn cố nhi tri tân, Thông báo (F) ,
CSVN SẮP XÂY DỰNG NHÀ MÁY ÐIỆN NGUYÊN TỬ NINH THUẬN

Khách đến thăm triển lãm giới thiệu năng lượng nguyên tử ở Hà Nội đang quan sát mô hình một lò điện nguyên tử do Tập Đoàn Điện Lực Quảng Đông vẽ kiểu. Trung Quốc từng mời chào để xây nhà máy điện nguyên tử ở Việt Nam - Ảnh: Thằng Bờm
CSVN Sắp Xây Dựng Nhà Máy Điện Nguyên Tử Ở Ninh Thuận
Source: Champaka
MƯỜNG GIANG

Mường Giang
Năm 1986, nhà máy điện nguyên tử Bataan tại Phi Luật Tân với hai lò phản ứng chuẩn bị khánh thành. Ðây cũng là nhà máy điện nguyên tử đầu tiên của vùng Ðông Nam Á. Nhưng thảm họa đã xảy ra tại nhà máy nguyên tử Chernobyl thuộc Liên Xô vào tháng 6-1986, nên quốc hội nước này, đã quyết định tạm ngưng hoạt động cũng như đình chỉ sự xây dựng kế tiếp một lò phản ứng còn đang dang dở. Một vấn đề chết người, là dù không hoạt động nhưng chính phủ Phi cũng phải bỏ mỗi năm hằng triệu Mỹ kim để bảo toàn và chạy thử máy, nếu không chúng sẽ trở thành khối sắt vụn vô dụng dù đã phải tốn hằng tỷ đô la mới có.
Mấy chục năm qua (1986-2009), trong khi cả thế giới chưa hết kinh hoàng về thảm cảnh trên, thì tại Âu Châu, Phần Lan là một nước Bắc Âu, đã tiền phong làm sống lại thời vàng son của điện nguyên tử. Một nhà máy và khu chứa chất thải phóng xạ, đã được xây dựng tại vùng rừng núi hoang dã Olkiluoto cách thủ đô Helsinki của Phần Lan chừng 350 km. Việc làm trên, lập tức đã bị các nước trong Liên Hiệp Âu Châu như Thụy Ðiển, Ðức, Bỉ... chỉ trích gay gắt, khiến cho Bộ Trưởng Môi Trường Phần Lan là Satu Hassi, phải từ chức. Hiện Pháp, Thụy Ðiển... thì lưỡng lự nhưng nước Ðức vẫn cương quyết loại các nhà máy điện nguyên tử, ra khỏi danh sách nguồn cung cấp năng lượng tại nước này.
Ngược dòng lích sử ta biết từ năm 1942, lần đầu tiên nhân loại đã thành công, qua thử nghiệm phản ứng nguyên tử dây chuyền tại Trường Ðại Học Tổng Hợp Chicago ( Hoa Kỳ ). Ðây cũng là khởi điểm của thời đại nguyên tử (Atomic age) với mục tiêu phụng sự hòa bình, được coi như một thành công vượt bực và đầy ý nghĩa của con người, trong tiến trình phát triển nền văn minh hiện đại.
Nhưng sau đó vì sự sống còn của đất nước, nên nhiều quốc gia tiền tiến và đang phát triển đã gạt bỏ việc bảo vệ mội trường để phát triển điện nguyên tử, nhằm cung cấp điện năng, phát triển năng lượng. Hiện trên thế giới có 438 nhà máy điện nguyên tử đang hoạt động tại 32 nước gồm: Bắc Mỹ (Hoa Kỳ, Canada, Mexico), Argentina, Brazil), Tây Âu ( Ðức, Bỉ, Tây Ban Nha,Phần Lan, Hà Lan, Anh, Pháp, Thụy Ðiển, Thụy Sĩ ), Ðông Âu (Bảo, Hung,Tiệp Khắc, Lỗ, Nga, Slovakia, Ukaraine, Armenia), Phi Châu (Nam Phi) và Châu Á (Trung Cộng, Ðài Loan, Ðại Hàn, Ấn Ðộ, Ba Tư, Nhật và Pakistan).
Trước tình hình sôi động của thế giới, nhất là vùng Trung Ðông, Trung Á, Biển Ðông... thêm vào đó là sự cạn dần các mỏ dầu trên đất liền cũng như ngoài thềm lục địa, khiến cho giá dầu tăng vọt như tên bắn. Riêng năng lượng của gió còn quá đắt, không thể thay thế nguồn dầu được. Cho nên chỉ có điện nguyên tử, mới cung ứng nổi nhu cầu của thế giới.
Tất cả thật sự đều nằm trong bàn tay con người, nhất là hiện nay khoa học kỹ thuật đã tiến tới gần như tuyệt đỉnh. Nói chung, muốn có an toàn khi thực hiện nhà máy điện nguyên tử, quốc gia sở quan phải tuyệt đối chấp hành nghiêm chỉnh những điều lệ của công ước quốc tế, qua việc chọn địa thế và vị trí xây dựng. Phải có những máy móc thiết bị an toàn, bảo đảm chống được những biến cố bất ngờ. Cuối cùng là sự hiện hữu của những chuyên viên trong ngành, để điều hành máy móc thiết bị cũng như ứng phó kịp thời khi có tai nạn.
CSVN MUỐN XÂY DỰNG NHÀ MÁY ÐIỆN NGUYÊN TỬ
Sau khi được tham dự hai hội nghị quốc tế 1986 và 1994, do cơ quan năng lượng quốc tế tổ chức. Tiếp theo vào tháng 10-1995, một hội nghị nguyên tử quốc tế cũng đã diễn ra tại Hà Nội, khiến cho đảng phát sinh ý tưởng muốn bắt chước các nước giàu có Âu Mỹ, Nhật, Ðài Loan, Ðại Hàn ... đem điện nguyên tử vào VN.
Tuy nhiên mộng du trên đã bị dập tắt lúc đầu, vì dư luận trong đảng, trong nhóm chia năm xẻ bảy, đa số nói rằng điện nguyên tử nguy hiểm bởi chất phóng xạ, chất thải, nổ máy và nổ bom nguyên tử... Nhưng thực tế trước mắt là VN lúc đó và ngay cả bây giờ, vẫn không có vốn cũng như nhân lực và các cơ sở hạ tầng, cần thiết trong khi xây dựng cũng như điều hành nhà máy.
Hiện nay việc xây dựng các nhà máy điện nguyên tử tại những nước đang phát triển, đều trông cậy vào các nước văn minh tiền tiến. Trái lại CSVN từ trước tới nay, mọi sự đều nhắm vào Nga-Tàu hay các nước Ðông Âu cũ, một phần vì là cá mè một lứa cùng biết tẩy nhau, cho nên dễ dàng trong sự giao kèo, mua bán , đổi chác, ăn chận...
Những phanh phui liên tiếp trong mấy năm qua, về vụ đảng mua máy móc, tàu bè, tăng pháo... cũ kỹ mốc rêu hư hại của Trung Cộng-Liên Xô... đem sửa sơn, rồi về nước tính như đồ mới, là chuyện nhỏ mà ai cũng biết. Nhưng xây dựng nhà máy điên nguyên tử lại là chuyện lớn, có liên quan tới sinh mạng của cả một dân tộc. Do trên các nước ký giao kèo rất khó, ngoài ra nuớc sở quan phải chứng minh được là mình đã chuẩn bị mọi sự liên tục suốt thời gian pháp định, là 15 năm. Một yếu tố đầu tiên cũng không thể thiếu, đó là số tiền sơ khởi ký quỹ lên tới 2 tỷ đô la.
Ðây là chuyện khó đối với VN nhất là lúc cả thế giới đang khốn đốn vì kinh tế khủng hoảng kéo dài từ năm ngoái tới nay vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc. Ngoài ra CSVN đã mang quá nhiều nợ nần vay mượn... mà phần lớn là của Tàu đỏ. Trong lúc đó khắp nước còn nhiều công trình khác cần thiết hơn để xây dựng.
Không một quốc gia nào kể cả Mỹ, dám tuyên bố là sẽ chẳng có thảm họa Chernobyl thứ hai trên nước mình.. CSVN có chương trình xây dựng một nhà máy điện nguyên tử vào năm 2010. Theo nhận xét của một khoa học gia trong nước, thì sở dĩ nhiều quốc gia phải xây dựng nhà máy điện nguyên tử là vì vấn đề kinh tế, nhất là các quốc gia như Nhật, Ðại Hàn, Âu Châu... luôn luôn phải nhập cảng than, dầu, khi lỏng. Thực hiện được điện nguyên tử, giá thành sẽ rẽ hơn nhiều lần, dù luôn luôn phải đối mặt với sự tiềm ẩn nguy cơ phóng xạ. Trái lại VN không nhập cảng các nhiên-nguyên liệu trên, vậy thực hiện nhà máy điện nguyên tử để làm gì, vừa mắc nợ, lại lo lắng ngày đêm nếu mua phải các nhà máy cũ của Nga-Trung Cộng, trong khi chính VN chưa sẵn sàng hay đủ khả năng ngăn ngừa và đối phó các thảm họa bất ngờ nếu có.
CSVN CHỌN NINH THUẬN LÀM ÐỊA ÐIỂM XÂY DỰNG NHÀ MÁY ÐIỆN NT
Ninh Thuận là phần đất phía bắc của Bình Thuận xưa. Năm 1922 thành Ðạo Ninh Thuận và trở thành tỉnh từ năm 1943. Vì là phần đất cuối cùng của vương quốc Chiêm Thành nên hiện nay còn lưu lại nhiều đền, tháp Chàm như Ba Tháp, Hòa Lai (Po Klong Garai), Po Romé. Ninh Thuận là quê hương của Phan Trung vị tướng lãnh đồng chí của Trương công Ðịnh, Nguyễn Thông, cũng là quê của danh sĩ Nguyễn thị Bích, tức Nguyễn nhược Thị, tác giả tập truyện ký bằng quốc âm ‘Hạnh Thục Ca’, thuật lại giai đoạn lịch sử nhiễu nhương của đất nước trong năm 1885, khi kinh thành Huế thất thủ, Tôn thất Thuyết phò vua Hàm Nghi xuất bôn, ban hành huyết thư Cần Vương chống Pháp.
Ninh Chữ cách tỉnh lỵ Phan Rang chừng 6 km, bãi biển đẹp và thơ mộng với rừng dương liễu đó đây, cũng là sinh quán của cố Tổng Thống Ðệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn văn Thiệu (1967-1975)*. Ninh Thuận khí hậu khô hạn nhất nước, nổi danh là tam Phan (Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết), có nhiều núi cao như Hòn Chàm, Truân, Gia Rích, núi Ông, Hòn Bà... có sông Dinh (Koong Binh) vói nhiều phụ lưu như Krong Pha, Ma Lâm, Quao, Lu... chảy ra cửa Phan Rang.
Trong tỉnh ngoài người Kinh còn có nhiều người Chàm, Raglai, Churu, Kôhô... Theo tài liệu HES năm 1956, Tỉnh Ninh Thuận có diện tích 3422km2 và dân số 191.435 người, gồm 5 quận An Phước (xã Diêm Hải, Ðại Phước, Ðịnh Hải, Hậu Phước, Hữu Phước, Phước Hải, Tà Dương, Thái Sơn), Bửu Sơn (An Sơn, Mỹ Sơn, Phú Sơn, Phước Sơn, Tân Sơn, Tri Phước), Du Long (Cam Ly, Cam Thọ, Cát Hải, É Lâm hạ ), Sông Pha (xã Bửu Lâm, É Lâm thượng) và Thanh Hải (xã An Hải, Ðông Hải, Hộ Hải, Khánh Hải, Mỹ Hải, Phan Rang, Tân Hải và Vĩnh Hải). Thị xã Cam Ranh với diện tích 459km2 - 106.904 người cũng trực thuộc tỉnh Ninh Thuận. Năm 1993, Ninh Thuận tách ra khỏi Thuận Hải và thành Tỉnh với thị xã Phan Rang - Tháp Chàm và các huyện Ninh Sơn, Ninh Hải, Ninh Phước.
Tất cả nay vẫn còn đó sau mùa chinh chiến, dù người xưa đã rủ nhau đi vào nẻo khuất trong hồn người, thành quách, lâu đài, tịch dương, hoài cổ đã như những mành rèm cửa nhỏ, không che nổi cát bụi thời gian nhuộm đầy lá rụng.
Mũi Cà Ná là biên giới thiên nhiên giữa Ninh-Bình Thuận, nằm sát quốc lộ 1 và đường xe lửa xuyên Việt. Màu nước biển ở đây luôn xanh vắt, phẳng lặng, ngoại trừ tháng chín hay nổi cơn sóng gió bất thường
"... gió mưa tháng chín bất ngờ,
ghe buôn phải liệu, vô bờ mới yên..."
Tóm lại dù hiện nay người Chàm chỉ còn là một sắc tộc nhỏ, trong đại gia đình dân tộc VN nhưng ảnh hưởng của họ về mọi phương diện vẫn bàng bạc trong cuộc sống của người Việt suốt miền Trung.
Việc xây dựng nhà máy điện nguyên tử tại VN, hiện vẫn là một đề tài còn tranh cãi sôi nổi tuy đảng đã độc tài quyết định. Nguyên do sự chống đối trong nước là điều ai cũng thấy: Ðó là nổi lo sợ những tai nạn nguyên tử mà người dân VN phải gánh chịu, vì bọn lãnh đạo chóp bu tham nhũng, sẽ mua lại những thiết bị cũ, quá đát, hư hỏng của các nhà máy điện NT đã xài lâu năm, trong đó tệ nhất là đồ của Nga-Tàu đỏ là nước chắc chắn sẽ trúng thầu.
Vào lúc 12 giờ trưa ngày thứ tư (23-7-2008) đã có hằng trăm phụ nữ Chàm, biểu tình phản đối và chận giữ đoàn xe chở Thủ tướng VC Nguyễn tấn Dũng khi tới khảo sát khu vực dự định xây dựng ‘ Nhà máy điện nguyên tử ‘ nằm trong khu vực Sơn Hải, xã Phước Ninh, Huyện Ninh Phước, Tỉnh Ninh Thuận. Cũng theo nguồn tin được phổ biến thì chiếc xe chở Dũng vì đi sau nên chạy thoát được về Phan Rang. Sau đó tỉnh ủy đã điều động một lực lượng quân sự hùng hậu gồm công an võ trang, bộ đội dân phòng và xe cơ giới tới hiện trường để giải vây cho đồng bọn đang bị đồng bào bắt giữ làm con tin, để đòi Dũng phải trả lại đất đai vườn ruộng của họ mà đảng đã cướp giựt công khai từ trước. Cuộc biểu tình kéo dài tới hai ngày mới dứt do đồng bào tự động giải tán, làm nghẽn quốc lộ 1 từ Cà Ná về Phan Rang nhiều giờ.
Trước đây, ngày 12-3-2006 không biết vì lý do gì cũng đã có cuộc xung đột trầm trọng, giữa ít người Việt tại thôn Hòa Thủy và người Chàm ở thôn Thành Tín, cùng thuộc Huyện Ninh Phước, Tỉnh Ninh Thuận. Nhưng dựa theo báo chí trong và ngoài nước, thì đầu giây mối nhợ của nội vụ, chẳng qua cũng do sự uất ức của đồng bào Chàm địa phương, bị Cộng sản Hà Nội tìm đủ mọi cách đánh đuổi ra khỏi nơi quê làng chôn nhau cắt rún bao đời, để chiếm đất của họ làm địa điểm xây dựng Nhà Máy Ðiện Nguyên Tử Ninh Thuận. Dàn dựng một cuộc ấu đả có chết người, bạo động... để vin cớ đem cả hai tiểu đoàn công an vây hãm cô lập làng Chàm Thành Tín và ép buộc đồng bào phải ra đi, để bọn cán bộ đảng từ nhỏ tới lớn, được dịp chia phần trong dịch vụ béo bở sắp trở thành hiện thực.
Trong thời gian xảy ra đại hội X đảng Cộng Sản VN tại Hà Nội, cũng là lúc thế giới chấn động trước nguồn tin đăng trên tờ Le Matin của Thụy Sĩ vào ngày 5-4-2006, phanh phui chuyện cán bộ Việt Cộng, từ trên xuống dưới đã toa rập cắt xén ăn chận và biển thủ hàng tỷ đô la ngân sách quốc gia. Ðây là tiền viện trợ và đầu tư quốc tế, mục đích giúp VN xây dựng đất nước, cải thiện cuộc sống nghèo đói của đồng bào. Cũng nhờ nguồn tin này, mọi người mới biết được những nổi đau lòng xé ruột, của cái gọi là cách mạng nhưng thực chất chỉ là bọn sâu quan mọt tướng, chuyên môn đục khoét tài sản đất nước, mà vụ tham nhũng từ trên xuống dưới trong Bộ Giao Thông Vận Tải VC, đến nổi Bộ trưởng Ðào Ðình Bình mất chức vì tội biển thủ
Klaus Rohlan giám đốc chi nhánh ngân hàng thế giới tại Ha Nội, trên đài VOA cho biết từ 6 năm qua, tổ chức tài chánh quốc tế đã tài trợ cho VC hằng trăm triệu mỹ kim, để thực hiện cả ngàn dự án xây dựng được gọi chung là PMU-18. Chuyện dài tham nhũng VC cũng được Bella Bird, đại diện Bộ phát triển hải ngoại (DFID) của Anh tại VN, cùng lúc xác nhận trên Ðài BBC Luân Ðôn .
Do đó World Bank đã kêu gọi các nước liên hệ phải tới tận VN để điều tra sự tham nhũng của Cộng Sản VN, phanh phui sự bê bối của cán bộ, dính líu tới tiền viện trợ và đầu tư nước ngoài. Ðồng thời tuyên bố nếu nắm được sự thât, ngoài việc cắt đứt khoản tín dụng viện trợ, còn bắt buộc VC phải hoàn lại số tiền tỷ tỷ đô la, mà Hà Nội đã nhận từ mấy chục năm qua để biến đười ươi thành tư bản đỏ, vác tiền ra ngoại quốc khoe giàu, lập đảng nhuộm đỏ Cộng Ðồng Người Việt QG tại Hải Ngoại.
Tóm lại chỉ riêng 12 chóp bu lãnh đạo đảng VC, đã cướp bóc tài sản của đồng bào và đất nước VN trong bao chục năm qua, đem gửi giấu tại nhiều ngân hàng khắp thế giới, trong đó ở Thụy Sĩ tới 10 tấn vàng ròng, cùng hàng chục tỷ đô la. Về các vụ án đại tham nhũng, đã bị phanh phui suốt 10 năm qua trong nước, không phải do chính quyền bất lực mà vì đã cùng nhau từ lớn xuống nhỏ toa rập, bao che, chia xén, khiến cho tệ nạn trên trở thành đại họa cả nước. Tham nhũng đến nỗi phải bán cả đất đai biên giới, biển đảo, vùng đánh cá, kho khai thác dầu khí và Cao Nguyên Nam Trung Phần của VN cho kẻ thù không đội trời chung Trung Cộng. Tham nhũng qua buôn lậu, buôn công nhân lao động ở nước ngoài, buôn phụ nữ VN khắp thế giới và miền Ðông Nam Á.
Tham nhũng đã gây thất thoát ngân sách quốc gia hằng chục tỷ đô la, mà qui mô lớn nhất vẫn là ba vụ án tại Tổng cục Dầu khí VN, thuộc bộ Thương mại và Công ty Hàng không, phát hiện năm 2004. Vụ tham nhũng công trình mắc đường dây điện Bắc-Nam cao tốc 500 KV, để chia chác ăn xén ngân khoản trên 3 tỷ đồng tiền Hồ, dùng mua 4000 tấn sắt thép làm dây điện, được móc ngoặc giữa Bộ Năng lượng VC và Công ty Vinapol của Ba Lan. Rồi vụ tham nhũng tại Công ty Dệt Nam Ðịnh, Khách sạn Bàn Cờ, Công ty Tamexco, Công ty Pin Vĩnh Phú, Công ty Tiếp thị đầu tư phát triển nông thôn do Lã thị Kim Oanh tổ chức..
Vụ ăn hối lộ để cho hàng lậu Trung Cộng ào ạt đổ vào VN, qua Trạm kiểm soát hỗn hợp biên giới tại Ðồng Bành, tỉnh Lạng Sơn. Vụ tham nhũng tại các Xí nghiệp Xây dựng công trình giao thông vận tải, công trình Xây dựng số 2. Tuy nhiên, nhức nhối nhất là Công trình xây dựng Nhà Máy Lọc Dầu số 1 Dung Quất tại Quảng Ngãi, từ 10 năm qua đã ngốn bao nhiêu tỷ đô la do Nguyễn tấn Dũng phụ trách, trước khi thay Phan Văn Khải làm thủ tướng.
Tham nhũng ngoài việc ăn mòn công quỹ và những ngân khoản viện trợ của nước ngoài, mà còn gây không biết bao nhiêu là thảm kịch cho đất nước, trong đó có những dự án xây cất công cộng như đập nước, cầu cống, đường xá, trường học... Công khố nhà nước phần lớn bị cán đảng chia sớt gần hết, cho nên phải vay nợ nước ngoài để thực hiện các công trình. Nhưng có tiền là chia, vì vậy phần lớn những dự án lớn đều trở thành nửa nạc nửa mỡ, đầu voi đuôi chuột, chỉ đẹp nhờ cái lớp sơn phết hào nhoáng bên ngoài hay mới làm chưa xong đã xập như cầu Cần Thơ năm ngoái làm chết và bị thương không biết bao nhiêu công nhân vô tội.
Hồi tháng tư năm 2006 Tổng Thanh Tra VC là Tạ Hữu Thanh, sau khi kiểm soát xong 427 dự án công trình của 57 tỉnh thành và 27 bộ, đã tuyên bố: "tất cả các công trình trước khi vào cuộc, đều phải đầu tiên nộp lệ phí 15% tiền lót tay cho giám sát viên, rồi thì các cấp ăn bớt ngân khoản dùng mua vật liệu xây cất, đến nỗi mọi thứ chưa hoàn thành, đã chỉ còn ở bề ngoài mà thôi." Cuối tháng bảy năm ngoái, phần lớn các công ty nước ngoài, nhất là Nhật Bổn đều đã hay đang bỏ của chạy cứu người, vì không thể chịu nổi luật lệ rừng rú của VC, nói một đường làm một chợ, đến nỗi phải hội lộ cho cán bộ nhà nước để được thầu và nội vụ đã bị phanh phui trong năm 2008.
Ðó cũng là lý do khiến Nhà máy Lọc Dầu Dung Quất (Quảng Ngãi), mà tiền đầu tư giữa nhà nước cùng các đối tác Pháp-Nga hơn cả tỷ đô la, nhưng cứ luôn trễ hẹn mở cửa. Sự tệ hại đã làm hết Pháp rồi Nga phải ngưng ngang hợp tác và đòi lại tiền đầu tư. Thiệt hại càng to lớn thêm khi VN sản xuất được nhiều dầu thô nhưng vì nhà máy lọc mắc nợ nhiều quá nên phải bán đổ tháo cho các nước theo giá rẻ và mua lại xăng dầu của chính mình bằng giá cắt cổ sau khi lọc.
Tháng 9-1945, nhân loại lần đầu tiên đã biết nếm mùi thảm họa của bom nguyên tử, khi Hoa Kỳ thả hai trái xuống thành phố Quảng Ðảo và Trường Kỳ của Nhật. Quá khứ đau khổ vì chiến tranh cũng như những ám ảnh và hậu quả trên thân xác con người, do tác hại của bụi phóng xạ chưa chìm sâu trong đáy huyệt thời gian, thì một tai họa khủng khiếp khác lại tái diễn. Biến cố xảy ra lúc 1giờ 23 phút ngày 26-4-1986, do 1 trong 4 lò phản ứng của trung tâm nhà máy điện nguyên tử Chernobyl thuộc Liên Bang Xô Viết cũ bị nổ, do sơ suất kỹ thuật làm thoát chất phóng xạ ra ngoài. Tiếp theo là sự kiện Three Mile Island và liên tiếp nhiều nhà máy điện NT ở Pháp và Nhật cũng bị lủng thùng chứa làm thất thoát chất phóng xạ ra ngoài.
Sau cùng vào lúc10 g 35 phút ngày 30-9-1999, nhà máy điện nguyên tử Tokaimura, thuộc tỉnh Ibaraki nằm cách Tokyo (Nhật Bản) khoảng 120 km cũng bị nổ. Theo nhận xét của Cơ Quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế (IAEA), thì đây là một tai nạn phóng xạ nguyên tử nghiêm trọng nhất từ trước tới nay, kể cả hai trái bom nguyên tử mà Mỹ đã thả trên nước Nhật và biến cố tại nhà máy Chernobyl của Liên Xô năm 1986.
Âu Châu, Nhật cũng như Liên Xô... đều là những quốc gia tiến tiến, có đủ phương tiện thực hiện cũng như bảo trì những nhà máy điện nguyên tử của quốc gia họ. Nhưng trong vài trưòng hợp đặc biệt, cũng phải đành bó tay đứng nhìn tai họa hoành hành. Sau rốt tại hầu hết các nước Á Châu kể cả Nhật Bản, hiện đang chơí với trước hiểm họa thanh toán các chất thải nguyên tử vì chưa có một chương trình hữu hiệu nào, để mà kiểm soát các hoá chất độc hại và các chất thải vô cùng nguy hiểm, vì một số thùng chứa chất phóng xạ sau 30 năm đã bị ăn mòn. Cấp bách nhất là Năng Lương tại các nhà máy điện nguyên tử, gần như chỉ sạch trên mà bẩn dưới.
Chỉ có Nguyễn Tiến Nguyên viện trưởng viện năng lượng nguyên tử của VC, là dám to miệng tuyên bố rằng VN đã tìm được căn bệnh gây ra các tai họa thảm khốc tại các nhà máy điện NT Liên Xô, Pháp cũng như Nhật. Vì vậy các đỉnh cao mới quyết tâm xây dựng một nhà máy điện nguyên tử vào năm 2010. Tuy nhiên còn phải chờ đảng vay tiền nước ngoài với lãi suất thương mại như BOT-BOO ...
Làm đường, cầu, đập nước, nhà cửa... có bị ăn chận, thiệt hại cũng chỉ là sự hạn chế nhưng nếu xây dựng Một Nhà Máy Ðiện Nguyên tử mà cẩu thả sơ xuất, thì hậu quả về nhân mạng không biết đâu mà lường được. Rồi hoàn thành hoạt động nhưng không bảo trì tốt như Nga, thì chừng đó chẳng những người sống quanh vùng chịu chết, mà cả nước chắc gì được an toàn với bụi phóng xạ? Ðó là chưa nói đến nợ vay nước ngoài, hiện chồng chất tới mức chỉ nhìn vào đã mù mắt. Chỉ riêng nhà máy lọc dầu Dung Quất - Quảng Ngãi đã tiêu phí tỷ tỷ đô la nhưng đâu vẫn còn đó, nay lại muốn làm thêm một công trình vĩ đại gấp ngàn lần dự án cũ.
Nhưng CSVN bây giờ đang đô hộ cả nước, quốc gia dân tộc còn cả gan đem bán công khai cho Tàu đỏ, nên ai dám ngăn cản chùng làm? Và đó là lý do mới đây Vương Hữu Tân, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử đã tuyên bố trên tờ Tuổi Trẻ, xuất bản tại Thành Hồ ngày 14-5-2006 rằng "Ðảng VC đã quyết định xây dựng Nhà Máy Ðiện Nguyên Tử đầu tiên, tại Xã Phước Ðịnh, Huyện Ninh Phước, Tỉnh Ninh Thuận, Trung Phần". Nhà máy này gồm 2 lò phản ứng, có công suất 2000 MW với dự kiến sẽ hoàn thành từ năm 2017 - 2020.
Trong cuộc triển lãm Quốc tế về điện nguyên tử được tổ chức từ 16 -19/5/2006 tại Hà Nội, có các Phái đoàn Pháp, Nhật Bổn, Nam Hàn và Nga tham dự, để đấu thầu xây dựng Nhà Máy Ðiện Nguyên Tử tại VN. Theo Alexander Glukhov, Phó chủ tịch Công ty Quốc doanh Atomstroiexport, thì Nga rất hy vọng giành được hợp đồng xây dựng nhà máy trên. Nếu mọi điều trở thành sự thật, thì đây chính là đại họa lớn nhất của Dân tộc VN trong thế kỷ XXI. Nhưng đó chuyện của 3 năm về trước, chứ hiện nay chủ của VN là Tàu đỏ nên sức mấy Nga hy vọng được trúng thầu?
Theo thời giá hiện nay, thì muốn thực hiện một nhà máy điện nguyên tử loại trung bình phải tốn chừng 5 tỷ Mỹ kim. Trong lúc tình hình kinh tế VN từ đầu năm 2008 tới nay đã đi vào khủng hoảng trầm trọng với nạn lạm phát phi mã, chứng khoán triệt tiêu, giá cả tăng vọt từng ngày khiến cho cả nước từ nông thôn tới thành thị điêu đứng đói khổ, nhất là giới ngư phủ cả nước càng thảm thê hơn vì thuế má và giá xăng dầu vượt mức đồng lương lao động chết đói. Ðó là chưa nói tới thảm kịch đêm ngày bị cướp biển Trung Cộng, Khờ Me bắn giết tại Biển Ðông và Vịnh Phú Quốc, trước sự thờ ơ hèn hạ của ngụy quyền Hà Nội, chỉ biết "khôn nhà dại chợ" đàn áp cướp bóc đồng bào mình.
Việt Nam ngày nay chưa có đủ điều kiện và phương tiện để bảo trì bảo hành toàn diện nhà máy điện nguyên tử nên nếu sơ xuất làm lấy lệ như Nga thì hậu quả không biết sao mà lường được. Ðó cũng là lý do đã làm cho nhà đất tại Phan Rang và các vùng lân cận địa điểm sắp xây dựng nhà máy điện nguyên tử, từ trên đỉnh rớt xuống đất, thậm chí nhiều người muốn bỏ của chạy giữ mạng vì không ai còn dám tin những gì CSVN nói và làm suốt 80 năm qua.
Viết tại Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 7-2009
Mường Giang
* Thực ra thì Tri Thủy mới là quê hương của cố Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu, Ninh Chữ nằm cách Tri Thủy khoảng 2 km, phải đi qua làng Dư Khánh thì mới đến Tri Thủy.
08/03/09. 10:13:42 am. 6985 words, 480 views. Categories: Không ðề, Kiến trúc xây dựng, Tổ quốc dấu yêu, Tin tức ðó ðây, Thông báo (A), Liên kết blogs, Lịch sử và ðịa dư Việt Nam ,
BÌNH NHƯỠNG BÍ MẬT CHUYỂN CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO VŨ KHÍ NGUYÊN TỬ CHO NHÀ NƯỚC QUÂN PHIỆT MIẾN ĐIỆN

Bình Nhưỡng bí mật chuyển công nghệ chế tạo vũ khí nguyên tử cho nhà nước quân phiệt Miến Điện
Source: RFVN, SMH
Bắc Hàn đang giúp đỡ Miến Điện xây dựng một lò phản ứng hạt nhân bí mật và một nhà máy chế tạo chất plutonium. Cơ sở bí mật này được che giấu sâu trong lòng núi tại vùng Naung Laing. Kể từ 2014, mỗi năm Miến Điện có thể chế tạo một quả bom nguyên tử.
Từ nhiều năm nay, khả năng chính quyền quân sự Miến Điện tìm cách chế tạo bom nguyên tử càng lúc càng được gợi lên. Mới đây, nhân chuyến ghé Thái Lan, tham gia Hội nghị của khối Asean, Ngoại trưởng Mỹ, bà Hillary Clinton đã công khai tỏ ý quan ngại trước việc Bắc Hàn giúp đỡ Miến Điện phát triển hạt nhân.

Nhật báo Úc Sydney Morning Herald
Thái độ nghi ngại trên đây đã tăng thêm một mức khi sau đó, nhật báo Úc Sydney Morning Herald tiết lộ nhiều chi tiết về chương trình chế tạo vũ khí hạt nhân đang do Tập đoàn Quân sự Miến Điện bí mật tiến hành.
Dựa trên lời khai của hai cán bộ Miến Điện có liên can đến chương trình tuyệt mật đó, nhưng đã đào thoát ra ngoại quốc, nhật báo Úc cho biết là Bắc Triều Tiên đang giúp đỡ Miến Điện xây dựng một lò phản ứng hạt nhân bí mật cùng với một nhà máy trích xuất chất plutonium, nguyên liệu dùng trong việc chế tạo bom nguyên tử.
Cơ sở bí mật này được che giấu sâu trong lòng núi tại vùng Naung Laing, miền Bắc Miến Điện, gần một lò phản ứng hạt nhân dân sự công khai do Nga giúp đỡ xây dựng.
Hai nhân chứng từng tiếp cận với chương trình hạt nhân bí mật.
Theo nhật báo Úc, hai nhân chứng Miến Điện đã tiết lộ về chương trình vũ khí nguyên tử của Bắc Hàn đều là những người có khả năng nắm được các thông tin về hồ sơ này.
Một người mệnh danh là Mo Joe, để che giấu tên thật, nguyên là một sĩ quan trong một tiểu đoàn ”vũ khí hạt nhân” do quân đội Miến Điện bí mật thành lập. Người này từng được cử sang Nga vào năm 2003 để theo học về ngành kỹ sư trước khi đào ngũ trốn sang Thái Lan.
Nhân chứng thứ hai, bí danh là Tin Min, nguyên là một cán bộ điều hành công ty thương mai hàng đầu của chế độ, Htoo Trading, phụ trách các hợp đồng hạt nhân ký kết với Nga và Bắc Hàn .
Cả hai đã được ông Desmond Ball, một chuyên gia chiến lược thuộc Đại Học Quốc gia Úc ANU và Phil Thornton, một nhà báo Úc hoạt động tại Bangkok phỏng vấn liên tiếp trong hai năm.
Theo lời kể của Mo Joe, ông đã được huấn luyện để tham gia Tiểu đoàn vũ khí hạt nhân bao gồm 1000 người. Một bộ phận của tiểu đoàn này đồn trú tại một ngôi làng trong vùng để tham gia chương trình chế tạo vũ khí, trong lúc một trung tâm chỉ huy chiến dịch được che giấu trong khu vực dẫy núi Setkhaya.
Cơ sở này gồm có các kỹ sư, các chuyên viên pháo binh và truyền tin, có chức năng của một trung tâm chỉ huy và kiểm tra chương trình vũ khí hạt nhân.
Còn Tin Min thì xác nhận là vào năm 2004, ông ta đã trả tiền cho một công ty để xây dựng một con đường hầm trong núi Naung Laing, ”đủ rộng để cho hai chiếc xe vận tải có thể qua mặt nhau”.
Cũng theo nhân chứng này, Tay Za, một đại doanh nhân thân cận với tướng Than Shwe, nhận vật số một của Miến Điện, đã thương lượng mua thiết bị hạt nhân của Nga và Bắc Hàn. Hàng chuyển bằng tàu đến cảng Yangon, chính quyền đã chuyển vận các container này đi vào ban đêm và bằng đường sông.
Có thể làm ra mỗi năm một quả bom nguyên tử kể từ năm 2014.
Điều đáng lo ngại thông qua các tiết lộ của hai nhân chứng Miến Điện là tiến độ của chương trình vũ khí hạt nhân bí mật của Miến Điện.
Theo giáo sư Desmond Ball, nếu những tiết lộ kể trên xác thực, thì lò phản ứng hạt nhân bí mật của Tập đoàn Quân sự có thể bắt đầu vận hành và sản xuất ra mỗi năm một quả bom nguyên tử ngay từ sau năm 2014.
Vấn đề là các lời chứng trên đây đạt xác thực đến mức nào?
Cho đến nay, không phải là không có trường hợp những người ”đào thoát” thêu dệt sự thực, chưa kể đến việc chính quyền Miến Điện tung tin sai lạc.
Ông Andrew Selth, nguyên là một chuyên gia phân tích tình báo, đồng thời là một quan sát viên từng trải về Miến Điện gần đây đã lưu ý rằng không nên tái lập sai lầm như vào thời trước cuộc chiến tranh Irak, khi mọi người cả tin vào những thông tin hiếm hoi và không được kiểm chứng.
Tuy nhiên mối lo ngại về khả năng Miến Điện có vũ khí hạt nhân vẫn tồn tại.
Tạp chí US Foreign Policy của Mỹ mới đây đã đối chiếu trường hợp Miến Điện hiện nay với những nguồn tin liên quan đến chương trình hạt nhân của Israel, Pakistan hay Ấn Độ trước đây. Thực tế cho thấy sau này là cả ba nước đều đã thử nghiệm bom nguyên tử.
Riêng Giáo sư Desmond Ball và nhà báo Phil Thornton thì tin tưởng rằng căn cứ vào những gì mà hai chứng nhân của họ đã tiết lộ, chương trình vũ khí hạt nhân của Miến Điện là một thực tế và: ”Các nước láng giềng trong khu vực của Miến Điện cần phải thận trọng theo dõi”.
RFI/ Trọng Nghĩa
08/03/09. 10:00:41 am. 1551 words, 104 views. Categories: Thiên hạ sự, Tin tức ðó ðây, Chiến tranh và hòa bình, Liên kết blogs, Vòng quanh thế giới ,