Archives for: December 2009
VIỆT NAM THAY ĐỔI CHIẾN LƯỢC QUỐC PHÒNG

Hoạt động quốc phòng sôi nổi của Việt Nam khiến Trung Quốc chú tâm - Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam và Hoa Kỳ - Ảnh: BBC
Việt Nam thay đổi chiến lược quốc phòng
Source: BBC Vietnamese
Dương Danh Dy và Nguyễn Huy Hoàng
Dịch và giới thiệu
Thông tin Việt Nam tăng cường hoạt động trong lĩnh vực quốc phòng thời gian gần đây không thể không thu hút chú ý của nước láng giềng Trung Quốc.
Diễn đàn Trung Hoa võng (China.com) ngày 11/12/2009 có bài tựa đề 'Việt Nam điều chỉnh gấp chính sách – chuẩn bị dùng vũ lực chiếm Nam Hải' phản ánh một quan điểm về chủ đề này.
Bài trên Trung Hoa võng viết: "Trung Quốc và Việt Nam vừa giải quyết xong vấn đề phân định biên giới trên đất liền và Vịnh Bắc Bộ, Trung Quốc như cất được nỗi lo âu, cuối cùng thì cuộc đàm phán đã hoàn thành nhiệm vụ trước thời hạn".
Tuy nhiên, dù vất vả nỗ lực như thế, "Việt Nam: một mặt cả nước tỏ ra vui mừng, mặt khác lại mài dao xoèn xoẹt trước các vùng tranh chấp khác".
Bài báo lược qua các sự kiện chính trong lĩnh vực quốc phòng-quân sự của Việt Nam như:
1. Ngày 08/12/2009, Việt Nam công bố Sách Trắng quốc phòng, trong đó nêu bật trọng tâm vấn đề chủ quyền ở Nam Hải (Việt Nam gọi là Biển Đông), chỉ thiếu nước về câu chữ chưa nói rõ là tranh chấp lãnh thổ với nước lớn phương Bắc nào đó;
2. Ngày 23/11/2009, Việt Nam thông qua Luật dân quân tự vệ, quy định 86 triệu dân toàn quốc, nam từ 18-45 tuổi, nữ từ 18-40 tuổi phải tham gia nghĩa vụ dân quân;
(Nghe một quan điểm khác: Góp ý Về Sắc Luật Dân Quân Tự Vệ tuổi từ 18-45 thi hành nghĩa vụ - NB Việt Thường):
3. Ngày 01/12/2009, vùng 2 hải quân Việt Nam và 7 tỉnh thành phía Nam ký hiệp ước bảo vệ biển đảo và khu vực phụ cận Nam Sa (Trường Sa), huấn luyện ngư dân phối hợp với hải quân ngăn chặn tàu thuyền nước ngoài xâm nhập lãnh hải;
4. Truyền thông Việt Nam gần đây cho biết, Việt Nam đã động viên toàn dân tham gia xây dựng quốc phòng, phát huy tính tích cực của vùng biển rộng lớn đặc biệt là của dân chúng vùng phụ cận Tây Sa và Nam Sa (Hoàng Sa và Trường Sa);
5. Việt Nam mua của Nga 12 chiếc SU-30MK2 và 6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo, xây sân bay ở Nam Sa và bố trí thêm 1 trung đoàn tăng cường, đồng thời điều 4 binh đoàn chiến lược tới biên giới Trung-Việt.
Mạng Trung Quốc đặt câu hỏi: "Một đường biên giới Trung-Việt vừa mới phân định xong, tại sao trong chớp mắt lại trở nên nhạy cảm và nguy hiểm như vậy?"
Và kết luận: "Xem ra sau khi nếm của ngọt, Việt Nam muốn tiện tay giành thêm quyền lợi hải dương ở Nam Hải."
Chiến lược của Việt Nam với Trung Quốc
Bài báo trên Trung Hoa võng nhận định rằng nhân dân Việt Nam, kinh qua mấy chục năm chiến tranh, là "một lực lượng không thể xem thường".

Tàu hải quân của Việt Nam - Ảnh: BBC
Việt Nam đang củng cố quốc phòng
"Nếu thông qua thao túng chủ nghĩa dân tộc hoặc kích động được lòng hận thù dân tộc, chính phủ Việt Nam hoàn toàn có thể trong thời gian ngắn động viên được 40 triệu dân quân và nhân viên dự bị chiến đấu, đồng thời có thể tổ chức được 1 triệu bộ đội tác chiến chính quy và 500 nghìn quân dã chiến."
Tác giả viết bài cho rằng kế thừa tư tưởng của Mao Trạch Đông, trong hơn 60 năm vừa qua, Việt Nam luôn theo đường lối quốc phòng toàn dân.
"Một khi chiến tranh giữa chúng ta (Trung Quốc) và Việt Nam nổ ra, liệu chúng ta có đảm bảo chắc thắng?"
"Một khi Trung Quốc cứng rắn trong vấn đề Nam Hải, Việt Nam có dám xé bỏ hiệp ước biên giới để không tuyên chiến mà đánh hay không?"
Mạng Trung Quốc cho rằng, nếu Việt Nam đột kích phòng tuyến trên đất liền của Trung Quốc, tất sẽ tạo ra sự biến động lớn và những tranh chấp lãnh thổ mới.
Tuy Trung Quốc tuyên bố chủ quyền không thể tranh cãi đối với Nam Hải, song với vị trí địa lý đặc thù ở đây, "các đảo nhỏ ở Nam Hải dễ công khó giữ".
Trung Quốc, theo tác giả bài báo, hoàn toàn có thể xử dụng tên lửa và máy bay thẳng tay tiêu diệt quân địch, nhưng tổn thất cũng sẽ rất lớn.
Còn Việt Nam đứng trên thế “địa lợi”, có thể liên tục quấy rối quân ta trên đảo.
"Do vậy, chỉ có tiến hành cuộc chiến tranh đồng thời trên cả đất liền và trên biển, thì mới có thể chiếm giữ vĩnh viễn toàn bộ Nam Hải và khống chế được Việt Nam."
Thương lái chiến tranh
Bài trên Trung Hoa võng cho rằng, trong trường hợp nổ ra chiến tranh tại Biển Đông, nhất định nhiều nước khác cũng sẽ "dây máu ăn phần".
"Tính chất nhạy cảm của Nam Hải không chỉ ở chỗ nó liên quan tới nhiều quốc gia, mà quan trọng là một số lái buôn chiến tranh cũng muốn thọc tay vào."
"Mỹ, Ấn Độ, thậm chí Nga đều ngầm ủng hộ VN phát động chiến tranh trên Nam Hải. Và một số nước phương Tây như Anh, Pháp cũng muốn được chia phần ở Nam Hải."
Bài báo phân tích nếu Trung Quốc và Việt Nam có xung đột tại Nam Hải, các quốc gia này này nhất định nhảy ngay vào.
"Thậm chí, Việt Nam và Mỹ còn câu kết với nhau, mỗi nước dựa vào nhu cầu của mình mà tuyên chiến với Trung Quốc."
Tác giả cảnh tỉnh người Trung Quốc phải có chuẩn bị tâm lý, "củng cố lại lòng tin và quyết tâm" cho khả năng chiến tranh xảy ra.
"Trung Quốc đã ở vào ranh giới chiến tranh, đánh hay không đánh đều có khả năng. Vấn đề là đã lâu Trung Quốc không có chiến tranh."
"Chỉ cần Trung Quốc phân tâm một chút là sẽ xảy ra tranh chấp biên giới trên diện rộng."
Kết luận trên trang mạng bán chính thức của Trung Quốc là: "Việt Nam điều chỉnh gấp chính sách, Trung Quốc phải đối phó".
"Chỉ có thay đổi chính sách ngoại giao, thực hiện chiến tranh toàn dân mới có thể nắm chắc chiếc cung chiến tranh, buộc kẻ địch không ra tay hoặc ra tay muộn hơn."
12/26/09. 09:12:34 am. 1772 words, 668 views. Categories: Thiên hạ sự, Thời cuộc, Khoa học quân sự và chiến tranh, Chiến tranh và hòa bình, Hậu trường, Liên kết blogs ,
HÃY QUÊN QUÁ KHỨ... HÃY XÓA BỎ HẬN THÙ... HƯỚNG VỀ TƯƠNG LAI...

Hình đài tưởng niệm tại Galang bị đục phá. Hai tấm bia ở hai bên bị tháo gỡ ra.
Hãy quên quá khứ…Hãy xoá bỏ hận thù… Hướng về tương lai…
Diễn Đàn Tị Nạn Việt Nam
Kính chuyển quý thân hữu một bài viết xúc tích về chủ trương: "Xoá bỏ hận thù ... hướng tới tương lai."
Nhân đây chúng tôi muốn thêm một chi tiết:
Từ nhiều năm nay nhà cầm quyền Hà Nội luôn tuyên truyền cho khẩu hiệu: "Quên đi quá khứ. Xoá bỏ hận thù. Hướng tới tương lai".
Khẩu hiệu nghe hay! Có ý nghĩa! Dễ dàng chiêu dụ một số người cả tin.
Chúng ta chỉ cần lấy thời điểm 2005 - 2010 và nêu vài thí dụ để thấy Hà Nội đã thực hiện thế nào để chứng minh cho việc làm này?
- Tháng 5: bia Tưởng niệm Thuyền nhân tại Galang bị Hà Nội áp lực phải triệt hạ.
- Tháng 10: bia Tưởng niệm Thuyền nhân tại Bidong bị Hà Nội áp lực phải triệt hạ.
- Trong phiên họp với Thống Đốc tỉnh Riau (Indonesia) và với Thủ Hiến tỉnh Terengganu, cả hai đều bảo Văn Khố Thuyền Nhân Viêt Nam (VKTNVN): "Hà Nội không hài lòng về nội dung bia tưởng niệm. Quý vị có thể dựng lại bia tưởng niệm khác nhưng phải đệ trình nội dung cho Bộ Ngoại Giao. Bộ Ngoại Giao sẽ thỉnh thị ý kiến của Hà Nội. Nếu được chấp thuận, quý vị sẽ được phép dựng lại cái khác và không lo bị phá bỏ nữa."
(Xem bia Tưởng niệm tại Bidong)
(Xem bia Tưởng niệm tại Galang)
- Từ 2006 về sau Malaysia và Indonesia đều không tổ chức "quốc yến" (state dinner) để tiếp đón phái đoàn với lý do "Hà Nội phản đối".
- 2007: Hà Nội đã ti tiện phản đối ngay cả một chuyện rất nhỏ: tên của quý vị dân cử và chính quyền địa phương hỗ trợ cho công tác trùng tu nghĩa trang thuyền nhân được ghi trên tấm bia lớn của nghĩa trang phải bị đục ra. Lý do: Tòa Đại sứ VN tại Kuala Lumpur phản đối.
- 2008: Hà Nội can thiệp và xâm phạm an sinh xã hội của Cộng đồng người Việt tại hải ngoại.
•Tòa Đại sứ VN ngăn cản tiểu bang Queensland (Úc) thực hiện Bia Tưởng niệm Thuyền nhân tại Queensland.
•Tòa Đại sứ VN ngăn cản đồng hương Hambourg dựng Đài Tưởng niệm và Tri ân Cap Anamur tại cảng Hambourg.
- 2008 - 2009. Hà Nội can thiệp và xâm phạm an sinh xã hội của Cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Tháng 6 - 2008, cờ VNCH tại đài chiến sĩ Việt Úc ở Sydney (Úc châu) bị đốt. Tháng 12-2009, cờ VNCH tại Đài Tưởng niệm & Tri ân ở Melbourne bị đốt.
- Một trong những sắc thái trong sinh hoạt tự do dân chủ hải ngoại là người dân có quyền phát biểu ý kiến chống hay ủng hộ một chủ trương của chính phủ. Thực hiện quyền tự do dân chủ này tại hải ngoại, đồng hương Việt Nam phát biểu những ý kiến chống hay ủng hộ những chủ trương của nhà cầm quyền Việt Nam vì những chủ trương này gián tiếp hay trực tiếp có ảnh hưởng đến đời sống của thân nhân mình tại quê nhà. Những ý kiến ủng hộ thì VN rất hài lòng, cho lá ý kiến tốt. Những ý kiến không ủng hộ đều bị coi là những chủ trương "phản động", "có âm mưu lật đổ chính quyền", "lực lượng thù nghịch hải ngoại", "thế lực thù nghịch nước ngoài", ...
Tất cả những bằng chứng nêu trên đủ chứng minh Hà Nội có thực tâm trong khẩu hiệu: "Quên đi quá khứ. Xoá bỏ hận thù. Hướng tới tương lai".
Một lần nữa chúng ta cầm tâm đắc câu nói: "Đừng nghe những gì Cộng Sản nói. Hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm".
Công trình các Bia hay Tượng Đài Thuyền Nhân Việt Nam ở các nơi trên thế giới trong tương lai là thước đo chủ trương "Quên đi quá khứ. Xoá bỏ hận thù. Hướng tới tương lai". Chừng nào CSVN ngưng đánh phá Cộng đồng người Việt hải ngoại, ngưng can thiệp thô bạo và gây xáo trộn an sinh xã hội của CĐNV hải ngoại, tôn trọng quyền tự do dân chủ của người Việt hải ngoại, ngưng thực thi tất cả các chế độ hạn chế nhập cảnh thù nghịch đối với CĐNV hải ngoại, khi ấy chúng ta mới có thể tạm tin về chủ trương xóa bỏ hận thù, đoàn kết dân tộc và chủ trương mở rộng tự do, dân chủ của CSVN.
Trần Đông
Diễn đàn Tỵ Nạn Việt Nam
Thảm sát Mậu Thân 1968
Hãy quên quá khứ…Hãy xoá bỏ hận thù… Hướng về tương lai…
Võ Trang Hiền
Hãy quên quá khứ…Hãy xoá bỏ hận thù… Hướng về tương lai…
Tôi đã đọc câu này ra rất nhiều lần - cả trăm lần - để chắc mình không hiểu lầm!
Hãy quên quá khứ…
Tại hải ngoại, CSVN không ngừng kêu gọi người Việt hãy quên quá khứ để hướng về tương lai. Trong Tâm Sinh Lý học, quên quá khứ là chuyện không thể làm được. Cái gì đã đi vào bộ não thì sẽ ở đó cho đến khi con người lìa đời? Một đôi khi chấn thương sọ nảo hay tinh thần có thể làm gián đoạn dẫn truyền của hệ thống thần kinh. Nhưng khi hồi phục thì người ta vẫn nhớ lại. … Ngày nay, với tất cả thành tựu của con người trong mọi lãnh vực, văn minh trong cả khía cạnh vật chất lẫn tinh thần là nhờ quá khứ đấu tranh cả mấy ngàn năm – không chỉ qua những thành công mà chính là nhờ những thất bại. Thế thì tại sao phải quên quá khứ?
Nhưng “hãy” quên cái quá khứ nào? - Có phải người cộng sản muốn nói đến cái quá khứ tù đày trong những trại học tập không biết ngày mai, bị sỉ nhục mỗi ngày mà vẫn phải cám ơn “cách mạng” đã khoan hồng? Có phải người cộng sản muốn nói đến cái quá khứ của gia đình bị hăm dọa đẩy lên vùng kinh tế mới để nhà cửa còn lại cho “cách mạng” tịch thâu và khi trở về phải ngủ dưới gầm cầu, trên vỉa hè của chính nhà của mình? Quá khứ hãi hùng hễ bị chụp mũ là tư sản thì đời kể như tiêu tùng, thân bại danh liệt, tài sản tịch thu, thân tù đày? Quá khứ hãi hùng trên biển cả, khiếp đảm trong bìa rừng Thái, Lào mà mỗi gia đình người Việt ngày nay ở hải ngoại đều có 1 câu chuyện như là một phần đời… Xa hơn nữa, có phải người cộng sản muốn nói đến cái quá khứ của cuộc cách mạng địa chủ năm 1954 đã hành quyết hàng chục ngàn người hay là cuộc chôn sống tập thể cả 5 ngàn người vào Tết Mậu Thân tại Huế năm 1968? Ngược lại, có những quá khứ không nên quên bao giờ chẳng hạn như cuộc cách mang mùa Thu, Đại Thắng Mùa Xuân, những hy sinh vô bờ bến của Hồng Quân Liên Sô và Trung Quốc...?
Mỗi lần nghĩ về lịch sử oai hùng của dân tộc và những hy sinh của tiền nhân trong công cuộc dựng nước và giữ nuớc là tôi thấy hãnh diện và sung sướng.Không phải quá khứ nào cũng huy hoàng – và không có lý do gì tôi chỉ nên nhớ những huy hoàng ấy và bỏ qua những sai lầm như một trốn chạy. Còn như để quên quá khứ như một người mất trí thì hướng về tương lai để làm gì?
Ngay tại Việt-Nam ngày nay, nhiều người đã muốn quên quá khứ như mượn rượu để giải sầu. Có người còn muốn quên cả hiện tại. Phải chăng đây cũng là phản ảnh của hiện tượng hút sách, ăn nhậu, chơi ngông? – thêm vào đó nhà nước còn giúp cho đại đa số dân chúng một cuộc sống phải vật lộn với miếng cơm manh áo hàng ngày một – và một hệ thống giáo dục tẩy não để họ không có thời giờ nhớ về quá khứ hay phương tiện để tra cứu?
Ngày nào chính quyền Hà Nội chưa thành thật nhận tội và ăn năn sám hối về những tội ác diệt chủng của bọn chúng thì vĩnh viễn bọn chúng vẫn chỉ là những kẻ ngoan cố, tàn ác và bịp bợm từ trong bản chất.
***************************
Hãy xoá bỏ hận thù…
Có lẽ người nói câu hãy quên quá khứ để hướng về tương lai muốn nói là hãy xóa bỏ hận thù để hướng về tương lai? Vì quá khứ là một “hiện thực” khách quan nên không thể quên được. Nhưng hận thù là sản phẩm của tâm tư con người nên con người có thể khắc phục được. Hận thù đưa đến trả thù sẽ làm cuộc sống máu me dơ bẩn. Hận thù làm tâm linh ta khốn khổ, cuộc sống mất đi cái hồn nhiên vô gía và hướng thượng… và ngay cả sau khi trả được mối thù, cái bàn tay nhuốm máu ấy vẫn không bao giờ rửa sạch…
Nhưng chính người cộng sản Việt-Nam đã lấy hận thù để làm cách mạng. Có cái lòng hận thù nào để giáo dục cho con cháu như thế này: “hôm qua dân quân ta bắn rơi 2 máy bay của Mỹ Nguỵ. Hôm nay dân quân ta lại bắn rơi thêm 3 chiếc nữa. Vậy tổng cộng ta đã bắn rơi bao nhiêu chiếc cả thảy?” Họ đã lấy hận thù để tiêu diệt tất cả các đảng phái không cùng chính kiến với họ. Sau khi toàn thắng ở miền Nam, thay vì dùng cái cơ hội bằng vàng này để nêu cao chính nghĩa dân tộc và hoà giải quốc gia, họ nhìn ở đâu cũng thấy toàn kẻ thù. Cái tâm lý bệnh hoạn và sợ hãi củng cố chế độ đã làm họ phải quyết định bế môn tỏa cảng trong cả 10 năm đầu. Hậu quả thì như ai cũng biết, nước Việt-Nam đã trở thành 1 trong 10 nước nghèo đói nhất của thế giới. Đánh động được lương tâm của con người qua những viện trợ nhân đạo, chính họ cũng phải nới lỏng nền kinh tế chỉ huy thiếu hiện thực, như đã từng được chứng minh qua các cuộc cách mạng ở Liên Sô và Trung Quốc. Nhưng khi tình hình đã được khả quan hơn nhờ những trao đổi với bên ngoài, họ trở lại nhìn thấy thêm kẻ nội thù, từ chính người dân của họ, những đồng chí mà cách đây không lâu đã hy sinh cuộc đời cho sự nghiệp “giải phóng” dân tộc do họ chủ xướng. Ngoài những lực lượng thù nghịch, họ đã đặt để thêm những kẻ thù trong những “diễn tiến hoà bình” - nỗi lo sợ và lời buộc tội đã mâu thuẫn với chính danh xưng của những biến chuyển mà nghe ra rất khách quan trong phát triển tự nhiên của con người. Họ khuyên người ta hãy quên quá khứ, xóa bỏ hận thù nhưng chính họ thì không bao giờ, vì hận thù vốn là sức sống, là linh hồn, là nền tảng của sự an toàn trong tư tuởng và lý luận của những người cộng sản Việt-Nam khi đi làm cách mạng!
Nhưng có những hận thù nào ta không nên quên chăng? – cho dù cả ngàn năm sau? – như hận thù của 2 bà Trưng Trắc Trưng Nhị trước cảnh nước mất nhà tan mà rồi cuối cùng vẫn phải nhảy xuống sông tự vẫn? Trong đấu tranh cho Chủ Nghĩa Xã Hội, người vô sản có nên quên mối thù không đội trời chung với bọn tư bản bóc lột? Không hận thù thì làm gì có cách mạng? những ai còn phân vân với tính chuyên chính vô sản này thì cứ tìm đến ông Tô Huy Rứa để nghe lời giải thích. … Hay là chỉ có người cộng sản mới được quyền hận thù?
Mới đây thôi, trong bài diễn văn đọc trước Quốc-Hội Hoa Kỳ, bà Thủ Tướng nước Đức đã nói gì? Cần nhắc lại, bà Merkel đã sống và lớn lên trong xã hội cộng sản Đông Đức mà vẫn trở thành Thủ Tướng của nước Đức thống nhất là một bằng chứng của sự xóa bỏ hận thù: “Nhưng đừng có ai nhầm lẫn: Khoan dung không có nghĩa là thế nào cũng được. Không khoan dung với những ai không tôn trọng và chà đạp các quyền vô giá của con người”.
Xóa bỏ hận thù không có nghĩa là đồng lõa với tội ác. Không chịu nhìn thẳng vào cái gì đã gây ra hận thù nhưng chỉ biết kêu gọi xoá bỏ, cũng như họ kêu gọi đoàn kết nhưng không chỉ cho thấy cái gì đã gây ra chia rẽ là một sự lường gạt ấu trĩ và rẻ tiền!.

Một khu chôn 300 nạn nhân bị cộng sản sát hại trong Tết Mậu Thân, những xác nầy không còn nhận diện được nữa, vì cách tàn sát quá dã man. Đây chỉ là một trong những khu điển hình.
************************
Hướng về tương lai…
Có ai trong chúng ta sống mà không để hướng về tương lai? Ngay cả trong tu dưỡng cá nhân cũng để cho một sự ra đi thanh thản khi từ giã cuộc đời. Tất cả người Việt chân chính đều mong muốn thấy được một nước Việt-Nam giàu mạnh, công bằng và nhân bản. Nhưng một lần nữa chúng ta đang nói về một tương lai nào? Một sự thành cộng của chủ nghĩa xã hội tại Việt-Nam và trên toàn thế giới? Quên quá khứ để hướng về tương lai trong diễn dịch của nhà cầm quyền CSVN là quên hết (như người mất trí?) và chấp nhận trở về làm việc cho họ. “Bằng lòng đi em về với quê hương”. Những người cộng sản Việt-Nam đã nói rõ ràng rồi: “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”. Danh từ “đoàn kết” có nghĩa là từ bỏ vị trí chống đối hoặc không đồng chính kiến để trở về dưới sự lãnh đạo của họ. Không có hòa hợp hòa giải gì cả. Hãy thành thật với nhau như chút liêm sỉ còn lại mà chúng ta đều hiểu: không ai có tư cách mặc cả với chế độ CS hiện nay cả!
Tôi không tin là cho đến bây giờ những người gọi là “Việt Kiều Yêu Nước” vẫn chưa biết mình đang nói cái gì? Xin các Việt-Kiều Yêu Nước đừng lừa dối thế hệ trẻ ngày nay vì họ không có cơ hội để kiểm chứng. Xin đừng tiếp tục làm dơ bẩn những ý tưởng cao đẹp của lòng nhân đạo, tình quê hương là những giá trị cao quí của dân tộc. Nhắm mắt lại như con đà điểu chui đầu vào cát? - những người tự gọi là Việt Kiều yêu nước đi về Việt-Nam xây vài lớp học, đào vài cái giếng rồi giáo dục những người Việt khác cũng nên yêu nước như mình… Chính người viết bài này cũng đã và đang gởi tiền về Việt-Nam để giúp đỡ bạn bè thân nhân khốn khổ của mình… nhưng yêu nước và “chỉ là” lòng nhân đạo khác nhau rất nhiều! Hãy nhìn cho rõ cái nguyên nhân chính đã đưa đến tình trạng hiện nay. Đó là hậu quả của một chế độ chính trị lỗi thời đang ngự trị trên cái quê hương khốn khổ này... Con đường đi đã sai lầm rồi thì càng đi càng xa cái đích dù đi bằng cách nào đi nữa. Trong mặt tiêu cực, càng đi càng lãng phí, càng phá hoại như chúng ta đã nhìn thấy xã hội hiện nay. Dù có bao nhiêu nghị quyết, bao nhiêu “rà soát” cũng chỉ là “mị dân” mà thôi.
Chính cái chế độ chính trị này trong hơn 30 năm qua đã đưa đất nước thụt lùi, cụ thể là so với các nước khác trong vùng. Trong lãnh vực xã hội, chính cái chế độ chính trị này đã tạo ra 1 giai cấp thống trị mà giờ đây chẳng khác gì một loại băng đảng, bao che cho nhau và sống trên mồ hôi nước mắt của tuyệt đại đa số người dân còn lại. Cái hậu quả của chế độ chính trị này đã và đang thấy tại các quốc gia đi theo cùng một chế độ chính trị. Tại Việt Nam, để bảo tồn quyền lực, băng đảng này đối với các thế lực cường quốc thì lạy dạ run sợ nhưng đối với chính người dân khốn khổ của mình thì thẳng tay đàn áp. Người cộng sản nói rất rõ: chế độ nào cũng là chế độ độc tài của giai cấp thống trị. Trong chế độ XHCN, đó là giai cấp vô sản. Cho nên chế độ XHCN là chế độ độc tài của giai cấp vô sản. Người cộng sản cười thầm khi những kẻ theo đuôi họ cứ ráng giải thích tính dân chủ tư sản của chế độ cộng sản.
Nhưng thực tế chúng ta thấy gì? - chế độ của họ ngày nay quả là chế độ độc tài của một giai cấp lãnh đạo, nhưng không phải vô sản mà là một loại siêu tư sản, được bảo vệ một cách công khai bởi hệ thống chính trị và nhà nước. Điều này không chỉ thấy ở Việt-Nam mà trong hiện thực của tất cả các nước cộng sản ngày nay. Trong kinh tế, nhờ vào quyền lực sẵn có, họ hội tụ tài sản của cả quốc gia vào trong tay tập đoàn lãnh đạo của họ. Cho nên nhóm bè đảng lãnh đạo của bọn họ rất giàu trong khi quốc gia thì vẫn èo ọt và tuyệt đại đa số người dân thì vẫn nghèo đói. Trong chính trị, băng đảng của họ có quyền lực không khác mấy thời của những lãnh chúa… cái chế độ như cha truyền con nối là những ngạo mạn, thách thức đối với lương tri của con người. Nếu họ vẫn còn đó – và có lẽ phải còn chờ lâu nữa cho đến khi trình độ dân trí của dân ta đủ mạnh để chiến thắng những khó khăn và sợ hãi của cuộc sống – thì xã hội sẽ tiếp tục như vậy... Đó là cái tương lai mà Người Việt Yêu Nước muốn hướng về? Còn nếu không, hãy quên bất cứ quá khứ nào cũng được để hướng về một tương lại vô định thì nếu người nói không mù quáng là có ý xem thường khả năng phán đoán của người nghe rồi. Một số người Việt khác quả quyết họ vẫn yêu quê hương bằng một con đường hợp tác khác, như con đường của một Tôn thọ Tường thì tôi chỉ còn biết tặng họ lại hai câu thơ của cụ Phan văn Trị:
Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết?
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng…
Vào lứa tuổi của tôi có bạn đã chết, đang bị đày đoạ trên chính quê hương của mình, đã vùi thây trong Thái Bình Dương bao la, trong những bìa rừng âm u ở Thái, Lào hay đang lạc lõng trên những mảnh đất xa lạ nào đó ở Châu Phi, ở Trung Đông… so với họ tôi may mắn hơn nhiều. Hơn 30 năm đã qua. Vì nhiều lý do: an ninh bản thân và gia đình, an toàn khi có dịp về thăm quê nhà, miếng cơm Tây, manh áo gấm khiến tôi đã vô tình im lặng và tránh né. Giờ đây tóc đã hai màu, còn chút tình mà vẫn không dám nói thì đợi đến bao giờ? Riêng đối với các chiến sĩ VNCH trong đó có hàng cha anh chú bác của tôi, những người đã chết cho cho một chính nghĩa đã bị chối bỏ và chưa bao giờ được nhìn nhận, họ sẽ được những người CSVN viết lại trong lịch sử như những tội đồ … tôi có thể nào quên họ, quên cái quá khứ có sự hy sinh vô bờ và cô đơn của họ? Trong tự do của hôm nay tôi vẫn nên tiếp tục “hy sinh”, không nên nói lên những khát vọng của những người bạn, của đại đa số đồng bào kém may mắn hơn tôi đễ giữ an toàn và phồn vinh cho thiểu số còn lại chấp nhận đổi đời? Tôi không có tư cách để khuyên mọi người nên nói như tôi nói. Nhưng tôi sẽ cảm thấy hổ thẹn khi khuyên họ không nên làm như thế bởi vì với tôi, viết là để công bằng trả lại cho đời chút ân tình mà tôi đã nhận, dù chỉ là ngọn lửa của một que diêm, như một người bạn của chúng tôi có nói, sẽ không đủ sức để sưởi ấm cho cả một mùa đông băng giá này!.
Võ Trang Hiền
12/22/09. 07:58:47 pm. 5435 words, 767 views. Categories: Không ðề, Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Lịch sử thế giới, Chiến tranh và hòa bình, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Lịch sử và ðịa dư Việt Nam, Ôn cố nhi tri tân, Video tài liệu, Xã hội và nhân văn ,
BIỆN PHÁP Y TẾ (HEALTH MEASURE) ĐÃ ĐƯỢC THƯỢNG VIỆN HOA KỲ THÔNG QUA VÀO LÚC 12:18 AM NGÀY 21 THÁNG 12/2009

Capitol Hill đêm lịch sử thông qua Biện pháp Y tế (Health Measure). Ảnh vietnetlinks
Washington D.C. - Bây giờ là 12:18 AM ngày 21 tháng 12/2009, Thượng viện Hoa Kỳ đã chính thức thông qua Biện Pháp Y Tế ( Health Measure, hay còn gọi là Healthcare Plan - Kế hoạch Săn sóc Y tế ) với tỷ lệ 60-40, 60 phiếu là số phiếu tối thiểu cần thiết để chống lại khả năng ngâm tôm trì hoãn (filibuster) của phe Cộng hòa, và dẫn đến cuộc bầu phiếu kết thúc trong cuối tuần này để xúc tiến kế hoạch Săn sóc Y tế mới. Thượng nghị sĩ Arlen Specter của Pennsylvania, người từng bỏ đảng Cộng hòa ra ứng cử độc lập đã bỏ phiếu ủng hộ. Đảng Dân chủ hy vọng dự luật Săn sóc Y tế (Healthcare Bill) 871 tỷ đô-la sẽ được thông qua vào đêm Giáng Sinh này.
Theo Văn phòng Ngân sách Quốc hội (Congressional Budget Office), chương trình Săn sóc Y tế mới này sẽ cắt giảm bớt 132 tỷ đô-la thâm thủng trong vòng thập kỷ đầu tiên, và giảm bớt 1000 tỷ đô-la thâm thủng ngân sách trong thập kỷ kế tiếp. Chương trình Săn sóc Y tế mới sẽ mang lại bảo hiểm và các dịch vụ y tế cho hơn 30 triệu người Mỹ hiện đang chưa có bảo hiểm.

Dân biểu Cao Quang Ánh, dân biểu Cộng hòa duy nhất trước đây đã bỏ phiếu thuận cho dự luật Cải tổ Y tế với tỷ lệ thông qua tại Hạ viện là 220-215. Ảnh AP
Chúng tôi tích cực ủng hộ chương trình Cải tổ Y tế do đảng Dân chủ đề nghị từ thời ông Bill Clinton còn làm Tổng thống Hoa Kỳ. Cũng đồng ý với quan điểm của Hạ Nghị Sĩ Cao Quang Ánh, chúng tôi ủng hộ chương trình Cải tổ Y tế do đảng Dân chủ và tổng thống Obama đề ra vì những lý do sau đây:
- Phúc lợi về y tế phải là phúc lợi toàn dân, không ai được quyền từ chối cung cấp phúc lợi này vì bất cứ lý do gì. Tất cả mọi người dân sống hợp pháp trên nước Mỹ hoặc là công dân Hoa Kỳ đều phải được nhận bảo hiểm y tế đầy đủ.
- Sự cạnh tranh giữa bảo hiểm y tế do chính phủ cung cấp và các công ty bảo hiểm y tế tư nhân sẽ mang lại lợi ích cho toàn dân.
- Việc săn sóc y tế là tối cần thiết để duy trì sự sống lành mạnh của một dân tộc, nó không thể để lọt vào tay những kẻ có túi tham vô hạn, làm giàu trên nỗi đau khổ của người bệnh tật. Phúc lợi y tế phải được nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của chính phủ để các công ty, các cơ sở điều trị và bệnh viện tư nhân, các công ty dược phẩm và các nhà cung cấp dược liệu, các tập đoàn Y-Nha-Dược sĩ, các hãng bảo hiểm y tế và các nơi bán thuốc không thể tự tung tự tác chém chặt nạn nhân của nó mà thường là những người nghèo lắm bệnh thiếu khả năng trả các món nợ kếch sù vì bệnh tật của họ ( người giàu có thừa khả năng chữa chạy thì chẳng cần lo gì, mà cũng chẳng cần quan tâm đến giá cả )!
- Phúc lợi y tế toàn dân đã được nhiều nước trên thế giới thực hiện thành công mỹ mãn, giá dược phẩm tại các nước này đều thấp hơn nhiều nếu so với Mỹ, giá khám bệnh và trị bệnh, làm răng, nằm bệnh viện v.v... đều thấp hơn so với Mỹ, phẩm chất dịch vụ y tế chẳng thua kém gì Hoa Kỳ cả. Lấy một ví dụ điển hình gần với Mỹ nhất là Canada nơi mà phúc lợi y tế là phúc lợi toàn dân thì thấy rõ, cho nên nhiều người Mỹ thích mua thuốc bên Canada, làm răng bên Canada, chữa bệnh bên Canada... vì giá rẻ hơn bên Mỹ, mà phẩm chất thì đôi khi còn trội hơn. Không có lý do gì khi một cường quốc kinh tế bậc nhất như Hoa kỳ lại để cho nhân dân mình thiếu kém về săn sóc y tế.

Thắng lợi trong bầu phiếu ngày hôm nay đáng được chúng ta chào mừng vì đây là bước đi lịch sử, nó sẽ mang đến Luật Săn sóc Y tế mới trong một ngày rất gần đây, và Luật Săn sóc Y tế mới sẽ mang lại một phần hạnh phúc cho nhân dân Hoa Kỳ, trong đó có chúng ta và các thế hệ con cháu của chúng ta. Cuộc chiến đấu để thành Luật vẫn còn một số khó khăn cần phải vượt qua, xin hãy tích cực vận động và ủng hộ chương trình Cải tổ Y tế này.
Thân ái gởi lời chúc mừng đến qúy vị già yếu bệnh tật và những vị có lợi tức thấp không đủ sức trang trải các chi phí về bảo hiểm y tế và chữa chạy. Mong rằng mùa Giáng Sinh và Năm mới 2010 sẽ thực sự là mùa của yêu thương và hy vọng.
DIỄN ĐÀN ÁI HỮU NINH THUẬN
12/21/09. 04:42:27 am. 1341 words, 546 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Không ðề, Nối vòng tay lớn, Tin tức ðó ðây, Thông báo, Tin quan trọng, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn ,
MILITARY CHANNEL: FUTURE WEAPONS VIDEOS - VŨ KHÍ TƯƠNG LAI
12/20/09. 01:09:50 am. 0 words, 286 views. Categories: Khoa học kỹ thuật, Uncategorized, Phát minh sáng chế, Khoa học quân sự và chiến tranh, Phát triển kỹ thuật, Chiến tranh và hòa bình, Liên kết blogs, Video tài liệu, Video chuyên ðề, Vòng quanh thế giới ,
NGHE LẠI CỰU ĐẠI TÁ VIỆT CỘNG ĐÀO VĂN NGHỆ NÓI VỀ HỒ CHÍ MINH

Hồ Chí Minh cũng giống như Trường Chinh, đều là những kẻ mê đắm tôn thờ mẫu quốc Trung Hoa. Ảnh Hồ chí Minh quay về thăm mẫu quốc, đang lội sông Li Giang 漓江 ( Lijang River) gần Dương Sóc 陽朔 (Yangshuo), Tỉnh Quảng Tây 廣西 (Guangxi), Trung Hoa. Hình này được chụp vào năm 1961 và được trưng bày tại hành lang của khách sạn Địa đàng (Paradise Hotel) ở Dương Sóc. Tác giả: Miguel A. Monjas, chụp lại từ hình nguyên thủy vô danh - Source: wikipedia
Chúng tôi hoàn toàn không chịu trách nhiệm về sự chính xác của tất cả những lời ông Đào văn Nghệ nói, tuy nhiên, nói chung những chuyện ông nói ra cũng đã được nhiều người khác nói đến giống như vậy. Sự nhận xét và phán đoán xin dành lại cho quý vị và các bạn.
12/19/09. 10:49:40 am. 213 words, 241 views. Categories: Góp nhặt, Thiên hạ sự, Hậu trường ,
TÌNH TRẠNG MƠ HỒ CÓ TÍNH TOÁN TẠI BIỂN ĐÔNG

Bản đồ vùng tranh chấp với các vị trí các bên đã chiếm đóng cho đến năm 1996. Các tam giác đỏ là điểm Trung cộng tuyên bố chủ quyền nhưng tính đến năm 1996 thì vẫn chưa chiếm đóng. Click trên các bản đồ để phóng lớn.
Tình trạng mơ hồ có tính toán tại Biển Đông
Peter J Brown, Asia Times Online, ngày 08/12/2009
Nguồn: http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/KL08Ae01.html
Ngay lúc một nhóm chuyên gia bay đến Hà Nội hồi tháng trước để dự hội thảo lần đầu tiên qui tụ nhiều nước có tuyên bố chủ quyền chồng lấn ở Biển Đông, tàu giám hộ đánh cá lớn nhất Trung Quốc, Ngư Chính 311, đã thả neo tại Đảo Vĩnh Hưng (tức Đảo Phú Lâm – người dịch) thuộc quần đảo mà Bắc Kinh gọi là Tây Sa (tức Hoàng Sa – người dịch). Đó là hành động khởi đầu cho chuyến tuần tra dài ngày của Trung Quốc tại Biển Đông, kể từ căn cứ hải quân Tam Á trên Đảo Hải Nam.
Trung Quốc khẳng định chủ quyền nhiều nơi trên Biển Đông, như quần đảo Nam Sa, Tây Sa và Trung Sa, những nguyên đơn khác – gồm Việt Nam, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei và Philippines – cũng đang tranh chấp chủ quyền trên các nhóm đảo và những đảo riêng lẻ. Họ gọi bằng các tên khác nhau chẳng hạn Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, Bãi ngầm Scarborough và Macclesfield, chỉ đơn cử một vài trường hợp.
Bằng chứng về hoạt động bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông có thể xác định tại những điểm khống chế mặt bằng khó hiểu, chẳng hạn Đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa, nơi Trung Quốc liên tục mở rộng và cải thiện đường băng, cũng như Bãi Vành Khăn xa xôi – khoảng 150 dặm về hướng Tây của Philippines, nơi Trung Quốc lập nên nhiều công trình xây dựng khác nhau. Láng giềng của Trung Quốc xem tiến trình này là hoạt động bành trướng và thậm chí thù địch, tuy đã cùng ký vào Tuyên bố chung về cách Ứng xử của các Bên trên Biển Đông năm 2002.
Theo một số chuyên gia an ninh, mục tiêu cuối cùng của Trung Quốc không đơn thuần việc xây dựng vùng kinh tế đặc quyền rộng lớn (EEZ – Exclusive Economic Zone), mở rộng xuống tận phía Nam nơi Quần đảo Natuna giàu khí đốt mà Indonesia đã khẳng định chủ quyền. Họ cho rằng Trung Quốc muốn kiểm soát Biển Đông như một phần trong kế hoạch xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh hơn, với hạm đội tàu ngầm tên lửa đạn đạo hạt nhân (SSBN – nuclear ballistic missile submarine), trên những hải tuyến mở rộng từ Thái Bình Dương cho đến Ấn Độ Dương. Biển Đông là hải tuyến nhộn nhịp đứng hàng thứ hai thế giới, là cửa ngõ để Trung Quốc nhập khẩu dầu từ Vịnh Péc-xích cùng tài nguyên thiên nhiên từ Châu Phi.
“Các chiến đoàn hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc đặt căn cứ trên Đảo Hải Nam, và chúng sẽ tuần tra những tuyến vận chuyển tài nguyên này. Theo lãnh đạo chính trị Trung Quốc, kiểm soát Biển Đông là một mục tiêu then chốt nhằm đảm bảo sự tồn vong về kinh tế cũng như chính trị cho nền cai trị độc tài của Đảng Cộng sản,” Richard Fisher, học giả cao cấp thuộc Trung tâm Đánh giá và Chiến lược Quốc tế ở Washington, phát biểu.
Tuy nhiên, ông cho rằng Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia và nhiều nước thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vẫn đang cản đường Trung Quốc.
“[Trung Quốc muốn] biến Biển Đông thành lãnh hải được bảo vệ sát sao cho hoạt động SSBN cho đến khi Đài Loan có thể cung cấp căn cứ tốt hơn cho những hoạt động SSBN,” Fisher nhận định. “Trung Quốc có thể đặt phân nửa số tên lửa hạt nhân trên các SSBN, tức họ sẽ dừng lại chỉ sau khi đã áp đặt được hình thức quản lý tương lai cho Biển Đông.” Hành động tăng cường sự hiện diện trên biển của Trung Quốc đồng nghĩa với việc Cục Quản lý Nhà nước về Tài nguyên Biển (SOA – State Oceanic Administration) và Cơ quan Giám sát Đường biển Trung Quốc (CMS – China Maritime Surveillance) muốn rằng ngư dân và tàu nghiên cứu đại dương di chuyển trên Biển Đông của các quốc gia khác trong vùng sẽ ngày càng phải giáp mặt nhiều hơn những tàu lớn hơn và tối tân hơn của Hải quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLAN), trong đó có tàu Ngư Chính 311.
Biến cố hôm 16/03 chứng tỏ Bắc Kinh ngày càng tỏ ra sẵn sàng ra lệnh cho các tàu không thuộc PLAN, gồm những tàu thuộc hải đoàn SOA và CMS, thi hành các hành động vũ lực tại quần đảo Trường Sa – nhằm làm nhục những nước láng giềng, đặc biệt là Philippines. Sau khi tàu do thám USNS Impeccable của Hoa Kỳ bị tàu Trung Quốc quấy rối hôm 08/03, Trung Quốc đã triển khai cái họ gọi là tàu ngư chính (tuần tra ngư thuyền) – chứ không phải tàu chiến – nhằm bảo vệ quyền lợi của họ trên Biển Đông.
“Trung Quốc thiết tha muốn biến ý đồ kiểm soát Biển Đông thành một hành động gìn giữ trật tự mang tính đối đầu, trong khi Việt Nam, Philippines và các quốc gia khác về cơ bản chẳng làm gì cả,” Fisher phát biểu. “Trao cho cơ quan không thuộc PLAN những tàu lớn hơn cùng hỏa lực mạnh hơn có thể là một nỗ lực quân sự hóa mang tính giảm nhẹ, nhưng tác động gây bất ổn thì vẫn như nhau.”
Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông thường phát sinh xung đột, trong đó có cuộc đụng độ giữa tàu hải quân Trung Quốc và Việt Nam năm 1988 ở Bãi Đá Gạc Ma thuộc Quần đảo Trường Sa. Phiên họp chung hồi tháng trước tại Hà Nội, do Học viện Ngoại giao cùng Hội Luật gia Việt Nam đồng tổ chức, đã đi đến các hứa hẹn khởi động cuộc đối thoại đa phương về nhiều tuyên bố chủ quyền chồng lấn chưa được giải quyết trong khu vực.
“Tuy trong quá khứ Trung Quốc luôn cương quyết về những giải pháp song phương, song chẳng đạt được tiến bộ nào vì hầu hết tranh chấp đều cần sự nhượng bộ từ nhiều phía. Mục tiêu hội thảo là nhằm xây dựng lòng tin qua hai phiên thảo luận sơ bộ và không ràng buộc, đồng thời một tín hiệu tốt là các học giả Trung Quốc đã tham dự hội nghị vì điều này sẽ phản ánh mức độ chấp nhận nào đó bên phía Trung Quốc về cách tiếp cận đa phương nhằm gỡ rối xung đột,” Dutton phát biểu.
Theo một trong những người tham dự, Carlyle Thayer, giáo sư chính trị học tại Đại học New South Wales, Học viện Quốc phòng Australia, chẳng có phái đoàn quốc gia nào tham dự, các đại diện Trung Quốc được hoan nghênh chỉ đến từ trường đại học và tổ chức nghiên cứu chính sách (think tank). “Cuộc họp được gọi là hội thảo, chứ không phải hội nghị, nhằm tránh ấn tượng hy vọng rằng một loạt các kết luận dưới dạng một nghị quyết hay một tuyên bố sẽ được ban hành,” Thayer nhận định.
Sự kiện đã thành công trong việc xới lên những quan ngại trong khu vực về diễn biến Biển Đông, nơi cho là đang tàng trữ rất nhiều dầu khí, được “các đại biểu nhấn mạnh là đang chuyển biến hoặc có tiềm năng xấu,” Thayer phát biểu. “Đã nổi lên sự đồng thuận cho rằng một đề xuất phối hợp phát triển lâu dài phải được phục hồi để các nước tham gia tranh chấp xem xét.”

Bản đồ chủ quyền biển đông chính thức của Trung cộng - Ảnh: The Nine-dotted-line map - The Traffic and Tourist Map of Hainan, 1999
Bản đồ ngớ ngẩn
Thayer nhận định, bên cạnh sự kiện “chẳng có ai đại diện cho Trung Quốc,” quan trọng hơn có lẽ là “bản đồ chín đường đứt đoạn” do một học giả Trung Quốc trình bày, “hiện đang gây tranh luận”. Năm 1947, Chính phủ Tưởng Giới Thạch đưa ra tuyên bố Biển Đông với một bản đồ có 11 đường đứt đoạn.
Bản đồ này được Cộng sản Trung Quốc thừa nhận lúc họ lên nắm quyền và sau đó Thủ tướng Chu Ân Lai xóa đi hai đường trong Vịnh Bắc Bộ, giảm 11 đoạn về chín. Bản đồ không chính thức chứa chín đường đứt đoạn đã được lưu hành từ lâu. Các quan chức trong khu vực không thể yêu cầu Trung Quốc giải thích cơ sở nào đã tạo ra những đường đứt đoạn này và diện tích khu vực mà họ khẳng định chủ quyền, theo Thayer.
“Học giả Trung Quốc nói rõ rằng bản đồ Biển Đông chính thức có chứa chín đường đứt đoạn, thể hiện phạm vi mở rộng tối đa của những tuyên bố chủ quyền trong lịch sử của họ về khu vực này. Chuyên gia Trung Quốc lưu ý rằng vấn đề này có thể được thảo luận thêm,” Thayer cho hay. “Chẳng hạn, một học giả Trung Quốc đề nghị, nếu các nước khẳng định chủ quyền trên thềm lục địa mở rộng rút lại những khẳng định đó, một số khu vực bên trong đường đứt đoạn có thể tuân theo việc phát triển chung.”
Đề xuất này gắn liền với bản đăng ký thềm lục địa mở rộng do Việt Nam và Malaysia đệ trình hồi đầu năm theo thời hạn mà Liên Hiệp Quốc đã đề ra. Hai nước đăng ký chung các khu vực phía Nam, trong khi Việt Nam trình riêng bản đăng ký thềm lục địa mở rộng ở phía Bắc.

Bản đồ 9 đường đứt đoạn vùng biển đông do Trung cộng tuyên bố chủ quyền.
“Trung Quốc đã gửi công hàm phản đối kèm theo bản đồ chín đường đứt đoạn nhằm chỉ ra khu vực mà họ bảo là thuộc về Trung Quốc. Có vẻ đây là lần đầu tiên Chính phủ Trung Quốc đệ trình bản đồ này,” Thayer cho biết. “Trung Quốc đang cố tình theo đuổi chính sách mơ hồ có tính toán trong vấn đề này. Họ đang trì hoãn bất kỳ hòa giải nào về những tuyên bố chủ quyền lãnh hải gây tranh chấp cho đến lúc thích hợp với Bắc Kinh.”
Hiện đã có thảo luận về một hội thảo Biển Đông lần thứ hai tại Hà Nội vào giữa năm 2010. Dutton xác định một số đề mục có thể thảo luận. “Một bước đi tích cực là tổ chức diễn đàn đa phương mang tầm khu vực nhằm thảo luận nhiều dự án đa phương khả dĩ, có thể nghiên cứu phạm vi các trữ lượng hydrocarbon dưới Biển Đông,” Dutton phát biểu.
“Bước đi tích cực khác có thể bao gồm phát triển khuôn khổ quản lý đa phương về tài nguyên sinh vật, cùng một tổ chức mang tầm khu vực nhằm điều phối hoạt động đánh cá bền vững cho tất cả các bên liên quan, dựa trên hiệp ước cấp phát tổng lượng đánh bắt cho phép đối với những bên khác nhau. Các bước đi như thế sẽ giải quyết được một số thách thức ít rắc rối hơn, trong lúc tạm thời hoãn lại những vấn đề khó khăn liên quan đến chủ quyền,” ông nói.

Vùng tranh chấp biển đông, tuyến màu đỏ là ranh giới vùng Trung cộng tuyên bố chủ quyền, tuyến màu xanh là giới hạn 200 hải lý theo công ước quốc tế UHCLOS, những chấm xám nhỏ là các đảo tranh chấp - Ảnh BBC
Tuyên bố thành kiến
Dutton lưu ý rằng tranh luận bên trong Trung Quốc luôn khăng khăng về bản chất xác thực của các khẳng định chủ quyền và quyền tài phán nhà nước duyên hải của họ trên Biển Đông. Ngoài những vấn đề khác, rất có thể ở đây Trung Quốc sẽ thiên về giải pháp chính trị, thay vì giải pháp áp dụng một khuôn khổ pháp lý mà có thể phương hại đến các tuyên bố của họ, ông nhận định.
“Luật pháp bên trong Trung Quốc đã khẳng định chủ quyền trên mọi hòn đảo thuộc Biển Đông đồng thời còn khẳng định những lãnh hải và EEZ phát xuất từ các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của họ. Tuy nhiên, Trung Quốc có thể hưởng lợi nếu duy trì tình trạng mơ hồ về bản chất xác thực của những khẳng định pháp lý Biển Đông của họ,” Dutton phát biểu.
“Điều vô cùng quan trọng là việc hòa giải các tuyên bố của Trung Quốc trên Biển Đông không được áp dụng biện pháp pháp lý mà có thể ảnh hưởng đến những khẳng định chủ quyền của họ đối với Nhật Bản trên Biển Hoa Đông. Như vậy, từ quan điểm Trung Quốc, khuôn khổ pháp lý nhằm giải quyết các tranh chấp Biển Đông phải được triển khai sao cho không được phương hại đến những tuyên bố chủ quyền trên Biển Hoa Đông của họ.”
Dù có hay không khuôn khổ pháp lý, Thayer tin rằng Trung Quốc sẽ theo đuổi hành động gây chia rẽ các nước trong khu vực và nhắm vào những thỏa thuận song phương.
“Trung Quốc hiện đã bảo 10 thành viên thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á rằng họ cần phải làm việc với nhau trước khi tiếp cận Trung Quốc để thảo luận về Biển Đông. Một số nước ASEAN cho rằng việc đạt được sự đồng thuận trong 10 quốc gia ASEAN sẽ gặp khó khăn, đồng thời một khối duy nhất chỉ tạo ra xích mích trong lúc đàm phán với Trung Quốc,” Thayer cho hay.
Tiếp sau hội thảo gần đây ở Hà Nội sẽ là vòng thảo luận khác về Biển Đông vào ngày 16/12. Vòng kế tiếp được gọi là những thảo luận về Thỏa thuận Tư vấn Quân sự Hàng hải (MMCA – Military Maritime Consultative Agreement) gồm các phái đoàn đến từ Trung Quốc và Hoa Kỳ. Cuộc họp sẽ diễn ra tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á – Thái Bình Dương ở Honolulu, Hawaii.
“Về cơ bản, Hội nghị Việt Nam là “bản nhạc thứ hai” nhằm thảo luận một số vấn đề, trong khi MMCA lại là “bản thứ nhất” về đối thoại quân-sự-với-quân-sự,” Dutton nhận định. “Hội nghị Việt Nam sẽ không tác động đến MMCA, vì vấn đề thảo luận khác nhau về cơ bản. Đại biểu tham dự Hội nghị Việt Nam đã thảo luận về vấn đề chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, trong khi thảo luận của MMCA sẽ tập trung vào quyền tự do đi lại và việc sử dụng quân sự trên vùng biển ngoài bờ Trung Quốc.”
Thayer lưu ý rằng Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội đã không gửi quan sát viên ngoại giao của mình đến dự hội thảo, như vậy Hoa Kỳ đã đứng xa các tranh chấp chủ quyền và lãnh thổ trên Biển Đông. “Phiên họp MMCA kế tiếp có thể ngăn chặn hành động đối đầu trên biển, chẳng hạn vụ liên quan đến tàu USNS Impeccable. Nhưng ‘Thỏa thuận về Đối đầu trên Biển’ có thể phải mất từ một năm trở lên mới được ký kết,” Thayer phát biểu.
Thayer đề cập đến chuyến viếng thăm Hoa Kỳ hồi tháng 10 của Tướng Xu Caihou, Phó Chủ tịch Quân Ủy Trung ương. Tướng Xu xác định bốn trở ngại cho mối quan hệ quân sự Hoa Kỳ – Trung Quốc lành mạnh và ổn định, bắt đầu là Đài Loan, ông kêu gọi Hoa Kỳ chấm dứt hoạt động xâm nhập EEZ trên vùng biển Trung Quốc bằng máy bay quân sự và tàu thủy.

“Mục tiêu chính của Trung Quốc là khiến Hoa Kỳ giảm bớt, nếu không nói là chấm dứt, những hoạt động giám sát ven miền duyên hải Trung Quốc và đặc biệt là căn cứ hải quân trên Đảo Hải Nam,” Thayer nhận định.
Bên cạnh yêu cầu của Tướng Xu, Fisher còn cho hay một vị tướng PLA vừa nghỉ hưu đã công khai kêu gọi Trung Quốc gia tăng mạnh mẽ việc triển khai lực lượng quân sự của họ trên Biển Đông đồng thời xây dựng một căn cứ không quân trên Bãi Vành Khăn thuộc Quần đảo Trường Sa.
“Ngoài vấn đề chỉ cách xa đảo Palawan của Philippines 200 dặm, nó sẽ mở rộng phạm vi kiểm soát của PLA đến tận Eo biển Palawan, một hải tuyến thương mại sống còn đối với Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan,” Fisher phát biểu, mới đây ông đã viết một bài về vấn đề này. “Căn cứ không quân trên Bãi Vành Khăn sẽ tạo ra một thách thức an ninh ở cấp rất cao khiến Washington không thể bỏ qua.”
Các hòn đảo thuộc Đài Loan trên Biển Đông còn làm cho vấn đề càng phức tạp hơn. “Còn có những đảo nhỏ hơn sát với Hải Nam do Đài Loan chiếm giữ. Bắc Kinh có thể viện dẫn một số lý do, từ hoạt động quân sự đe dọa nhắm vào cơ sở hạt nhân trên Hải Nam, cho đến tham vọng tạo ra tình trạng bất ổn tại Đài Loan, để xâm chiếm chúng,” Fisher cho hay.

“Nhờ đầu tư cả chục năm vào lực lượng lính thủy đánh bộ, PLA có thể dễ dành đánh chiếm những hòn đảo này. Ngoài việc từ lâu thừa nhận chính sách ‘Một Trung Quốc’ của Bắc Kinh, rất khó xảy ra khả năng bất kỳ quốc gia Châu Á nào sẽ phản ứng theo cách bảo vệ quyền lợi to lớn hơn của Trung Quốc.”
Biển Đông và ngay cả Đài Loan đã không còn là tầm quan trọng chiến lược đối với Hoa Kỳ như trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Nhưng Trung Quốc không nên xem lập trường ngày càng “vô tư” này là hiển nhiên. Chiến lược của Hoa Kỳ có thể sẽ chuyển biến, gia tăng theo hoạt động quân sự của Trung Quốc bên trong khu vực. Đồng thời vẫn còn quá sớm nếu cho rằng hội thảo Hà Nội đặc biệt mở ra một chương mới quan trọng về cách giải quyết của Trung Quốc với các nước láng giềng.
“Việc tiếp tục thể hiện thái độ trung lập của Hoa Kỳ sẽ chỉ phục vụ cho việc đẩy nhanh đến ngày Trung Quốc thành kẻ bá quyền phi dân chủ trong khu vực, với khả năng sử dụng những áp lực kinh tế và quân sự to lớn nhằm buộc các nước trong vùng tuân theo ý muốn của họ,” Fisher phát biểu.
Peter J Brown là một nhà văn tự do sống ở tiểu bang Maine – Hoa Kỳ.
12/18/09. 07:55:56 am. 4919 words, 469 views. Categories: Thiên hạ sự, Thông báo (A), Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Lịch sử thế giới, Thời cuộc, Khoa học quân sự và chiến tranh, Chiến tranh và hòa bình, Hậu trường, Thông báo (A), Lịch sử và ðịa dư Việt Nam ,
CHUYỆN BIỂN ĐÔNG TRÊN MẠNG HOÀN CẦU CỦA TRUNG CỘNG

Lính hải quân Trung cộng - Ảnh BBC
MẠNG HOÀN CẦU VIẾT GÌ VỀ BIỂN ĐÔNG?
Source: BBC Vietnamese
Dương Danh Dy
Nhà nghiên cứu Trung Quốc
Trước tiên xin phép được nói đôi lời về nguồn gốc của mạng Hoàn Cầu (Huan Qiu Wang-环球网- http://www.huanqiu.com).
Có thể nói mẹ đẻ của mạng này là tờ Hoàn cầu thời báo.
Tờ này do Nhân Dân nhật báo - cơ quan của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trì, ra số đầu tiên ngày 3/1/1993 với tên gọi là tạp chí Hoàn Cầu văn túy, đến năm 1997 mới đổi tên là Hoàn cầu thời báo, từ tháng 1/2006 ra hàng ngày (từ thứ Hai đến thứ Sáu).
Hoàn Cầu thời báo là tờ báo quốc tế có uy tín tại Trung Quốc, lượng phát hành mỗi số là 1,6 triệu bản. Báo có phóng viên tại 65 nước trên thế giới.
Mạng Hoàn cầu đưa lại tin của báo mẹ và đăng lại nhiều tin của các báo và mạng chính thức có tên tuổi trên khắp Trung Quốc và thế giới.
Số bài và tin liên quan đến Biển Đông, mạng Hoàn Cầu đưa khá đều và khá nhiều.
Để tránh trùng lặp, chúng tôi chỉ giới thiệu những ý chính, mới của họ từ tháng 3/2009 đến gần đây, và chỉ dịch tên đầu bài vì nếu giới thiệu hết sẽ rất dài. Hơn nữa chỉ cần đọc tên bài, bạn đọc cũng có thể hiểu được họ định nói gì.
Chủ đề Biển Đông
Dưới đây là một số tên bài thu thập được trên mạng Hoàn Cầu tiếng Trung được dịch ra tiếng Việt
- “Biển Đông, biển phức tạp nhất thế giới” (18/3/2009)
- “Chuyên gia bàn vấn đề Biển Đông: thành ý hòa bình của Trung Quốc bị các nước xung quanh lợi dụng” (18/3/2009)
- “Biển Nhật Bản, Biển Đông, Trung Quốc giải quyết vấn đề nào trước thì tốt” (1/4/2009)
- “Chuyên gia quân sự: dựa vào sự hiển thị “cơ bắp” giải quyết vấn đề Biển Đông không được đâu” (28/4/2009)
- “Nguyện vọng lương thiện không thể bị lợi dụng.Giải quyết vấn đề Biển Đông cần tư duy mới” (23/5/2009)
- “Không thể để mất lãnh hải” đưa lại bài của mạng Trung quốc tân văn ngày 27/5/2009
- “Vấn đề Biển Đông, vì sao Quân Giải phóng không chọn phương thức giải quyết trên bộ?” (30/6/2009)
- “Vấn đề Biển Đông cuối cùng nước Mỹ đã nhảy ra trước sân khấu” (1/7/2009)
- “Trung quốc phải xử dụng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông” (3/7/2009)
- “Dân mạng Trung Quốc tán thành trên vấn đề Biển Đông phải cứng rắn hơn nữa” 4/7/2009 đưa lại tin của mạng Nhân Dân
- “92% dân mạng Trung Quốc tán thành dùng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông” (5/7/2009)
- “Quân Giải phóng giải quyết bằng vũ lực vấn đề Biển Đông, nước Mỹ không có khả năng trực tiếp tham chiến” (16/7/2009)
- “Quan điểm của phái phản đối: vấn đề Biển Đông cần giải quyết nhanh, càng kéo dài càng chết” (5/8/2009)
- “Cuộc chiến ở Biển Đông: năm nguyên nhân lớn khiến Trung Quốc nên đánh cho Việt Nam lụn bại” (18/8/2009)
- “Nghị sĩ Mỹ thăm Việt Nam nói ủng hộ lập trường của Việt Nam tại Biển Đông” (22/8/2009)
- “Trung Quốc không giải quyết xong vấn đề Biển Đông thì đừng nghĩ đến việc thu hồi vùng Tạng Nam( vùng đất Trung Quốc đang tranh chấp với Ấn Độ ) (27/8/2009)
- “Túi khôn Mỹ: Trung Quốc không thể chỉ dựa một mình sức mạnh mềm giải quyết vấn đề Biển Đông” (26/8/2009)
- “Trung Quốc không thể lại để mất thời cơ lớn để giải quyết triệt để vấn đề Biển Đông” (7/9/2009)
- “Xâm chiếm các đảo của ta, quân Việt Nam đã có thế hệ thứ hai. Giải quyết vấn đề Biển Đông không thể chậm được nữa” (8/9/2009)
- “Vấn đề Biển Đông khó giải quyết, Mỹ phải chịu trách nhiệm” (26/10/2009)
- “Trung tướng Quân Giải phóng nói dữ dằn: “đã chuẩn bị đánh ở Biển Đông rồi” (27/10/2009)
- “Truyền thông Anh: Việt Nam có ý đồ quốc tế hóa vấn đề Biển Đông” đưa lại tin của BBC ngày 26/11/2009
- “Âm mưu mới của Việt Nam tại Biển Đông, muốn quốc tế hóa vấn đề Biển Đông” (29/11/2009)
- “Mưu cầu quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, Việt Nam mời “hòa thượng Tây” đọc kinh" (30/11/2009)
Ghi chú quan trọng: Ngoài mạng Hoàn cầu, nhiều mạng chính thức khác của Trung Quốc như “Trung Hoa võng, Trung Quân võng, Trung Tân võng, Thiết huyết luận đàn, Nhân Dân võng v.v..cũng đều đưa tin về Biển Đông theo lập trường, quan điểm của nước họ.

Vùng tranh chấp biển đông, tuyến màu đỏ là ranh giới vùng Trung cộng tuyên bố chủ quyền, tuyến màu xanh là giới hạn 200 hải lý theo công ước quốc tế UHCLOS, những chấm xám nhỏ là các đảo tranh chấp - Ảnh BBC
MẠNG TRUNG QUỐC VÀ BIỂN ĐÔNG
Source: BBC Vietnamese
Dương Danh Dy sưu tầm và giới thiệu
Trong thời gian gần đây số dân mạng Trung Quốc tăng nhanh như vũ bão.
Nếu cuối năm 2006 Trung Quốc mới có 137 triệu dân mạng thì đến cuối năm 2008 con số đó đã là 298 triệu và đến tháng 6 năm 2009 dân mạng Trung Quốc đã đạt khoảng 338 triệu người.
Dân mạng phần lớn là thanh niên và tráng niên, chỉ cần 10-30% số dân mạng bị huyễn hoặc là đã có từ vài chục triệu người đến trăm triệu người.
Mạng Milchina.com ngày 26/02/09 và Nam phương chu mạt số đặc biệt tháng 02/2009 có một số nhận định sau:
"Hiện nay ngoài 7 đảo (bãi đá ngầm) do Trung Quốc khống chế và đảo Ba Bình (Trung Quốc gọi là Thái Bình, đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa) do Đài Loan đóng giữ ra, tổng cộng có 42 đảo (bãi đá ngầm) bị các quốc gia khác chiếm đóng.
Đã hình thành cục diện vũ trang cát cứ chiếm đóng quân sự “4 nước 5 bên” và có xu thế kéo dài.
Trong tranh cướp Trường Sa (Nam Sa), Việt Nam thể hiện tích cực hơn, có qui hoạch, đã phân chia lãnh hải Trường Sa thành hơn một trăm vùng đấu thầu dầu khí.
Mấy năm gần đây Việt Nam không ngừng cùng các nước Mỹ, Nga, Pháp, Anh, Đức v.v. không ngừng ký hợp đồng thăm dò dầu khí, ý đồ nhấn mạnh sự chiếm hữu thực tế đối với Trường Sa.
Chỉ nửa đầu năm 2006, Tổng Công ty dầu khí Việt Nam đã khai thác 12,37 triệu tấn dầu khí, trong đó 8,6 triệu tấn dầu thô và 3,765 tỷ m3 khí, xuất khẩu đạt 4,14 tỷ USD.
Các học giả trong nước nói chung cho rằng Việt Nam là đối thủ nguy hiểm nhất và cũng là khó giải quyết nhất trong tranh chấp với Trung Quốc tại Trường Sa.
Một bước đi quan trọng trong việc tranh cướp Trường Sa với Trung Quốc là vào năm 2004, quân đội Việt Nam đã sửa lại một sân bay quân sự cũ trên quần đảo Trường Sa, sân bay này có thể dùng cho máy bay chở khách loại trung và được rêu rao là sẽ xử dụng cho khách du lịch.
Trên thực tế Việt Nam là quốc gia duy nhất đề xuất có chủ quyền toàn bộ với quần đảo Trường Sa và cũng là kẻ được lợi lớn nhất trong cuộc tranh giành Trường Sa, có dã tâm lớn nhất, và cũng tạo thành uy hiếp lớn nhất đối với Trung Quốc.
Ở miền tây Trường Sa, Việt Nam đóng 1 tiểu đoàn 600 quân và thiết lập Bộ chỉ huy trên đảo Trường Sa (Nam Uy)
Khu vực chiếm đóng của Việt Nam trên Trường Sa đã hình thành một vùng chuỗi đảo, từ đảo Song Tử Tây ( Nam Tử ) đến đảo An Bang (An Bà Sa Châu) dài khoảng 230 hải lý, trong đó tại 29 đảo có quân đội đóng giữ.
Có tin, hải quân Việt Nam đang đóng 30-40 chiến hạm, đồng thời chuẩn bị đầu tư 3,8 tỷ USD xây dựng một quân cảng lớn tại vùng Đông bắc, thay thế một loạt rada cảnh giới tầm xa nhằm tăng cường lực giám sát khống chế vùng lãnh hải nam Biển Đông của Trung Quốc.
Ngoài ra Nga còn cung cấp cho Việt Nam kỹ thuật chi tiết sản xuất tên lửa chống hạm tầu tốc độ siêu âm kiểu SS-N-26, đây là loại tên lửa chống hạm tầu tiên tiến nhất của Nga.
Các trang mạng này cũng điểm qua hiện diện của một số bên khác như Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Đài Loan tại Biển Đông để rồi kết luận: Trung quốc phải chuẩn bị “mềm rắn cùng thi hành, tiên lễ hậu binh”. Khi lễ không có hiệu quả thì phải dùng binh, nhưng binh không phải chỉ là đánh nhau mà còn chỉ vận dụng sức mạnh tổng hợp của đất nước.
Các học giả trong nước nói chung cho rằng Việt Nam là đối thủ nguy hiểm nhất và cũng là khó giải quyết nhất trong tranh chấp với Trung Quốc tại Trường Sa.
Có thể dự đoán, trong tương lai tại Trường Sa, Việt Nam sẽ không ngừng hành động gặm nhấm tài nguyên, củng cố những nơi đã chiếm đóng trong đó ý đồ quốc tế hóa của họ không mất, tình hình quần đảo Trường Sa còn rất phức tạp.
Các trang mạng khác
- "Muốn giải quyết vấn đề Nam hải (Biển Đông), Trung Quốc phải đoạt trọn Việt Nam - Việt Nam đừng liều lĩnh. Nam Sa (Trường Sa) chỉ là cái cớ để xuất quân, đoạt được miền Nam Việt Nam mới là việc quan trọng nhất! Hạ được Việt Nam là có thể khống chế được Đông Nam Á" (nguồn Luận đàn 29/07/2008).
- "Việt Nam đáng cảnh giác, trong tranh chấp Nam hải (Biển Đông) tích cực nhất là làm nhiều nói ít” (Trung Quân võng ngày 06/50/09).
- "Việt Nam quyết ý chống Trung Quốc: mua tầu ngầm Nga, tham quan hàng không mẫu hạm Mỹ” (milchina.com ngày 09/05/09).
- "Việt Nam rất tức giận, hậu quả nghiêm trọng! Trung Quốc là chàng câm ăn phải hoàng liên!”(Trung Quân võng ngày 22/05/09)
- "Việt Nam ăn sống Trung Quốc, chuẩn bị chiếm thêm mấy đảo nữa của Trung Quốc” (milchina.com ngày 23/05/09)
- “Thu hồi các đảo bãi đá ngầm bắc quần đảo Nam Sa(Trường Sa), xây dựng nhóm hàng không mẫu hạm không chìm của Trung Quốc ( đáng chú ý: bài viết phân tích và đưa ra nhiều số liệu về vị trí địa lý…của một số đảo trên quần đảo Trường Sa mà Việt Nam, Philippines… đang chiếm giữ )
- “Trung Quốc cứng rắn ra lệnh ngừng đánh cá đã 12 ngày mà không có ai dám trái ý Trung Quốc”, “Chỉ cần Trung Quốc đằng hắng một cái là các nước nhỏ Đông Nam Á sợ ”( Trung Quân võng ngày 25/05/09)
- “Tin tức tốt: kế hoạch quân sự của Trung Quốc đả kích Việt Nam đã từng bước thực hiện”(bài viết cho biết đã có lý để ra quân và dự đoán chiến tranh sẽ xảy ra trước sau năm 2013)
- “Hai bờ nhất trí đối ngoại: Chủ quyền Tây Sa (Hoàng Sa) không có việc cho người Việt Nam”( Trung Quốc và Đài Loan nhất trí ).
- Ngày 5/7/09, “Hoàn cầu thời báo” Trung Quốc đưa tin: “92% dân mạng Trung Quốc tán thành dùng vũ lực giải quyết vấn đề Nam hải (Biển Đông)”
- Ngày 11 tháng 12 năm 2009, mạng Trung Hoa võng (China.com) đăng hai bài “Chính sách Việt Nam điều chỉnh gấp - Chuẩn bị lực lượng giành lấy Nam hải (Biển Đông) và “Tranh chấp ở Nam Hải (Biển Đông) có xu thế ngày càng phức tạp, dùng vũ lực để thu hồi đã thành sự lựa chọn duy nhất” với dã tâm hừng hực và tính toán mọi bề, mũi nhọn dường như muốn chĩa thẳng vào Việt Nam.
* Một câu hỏi không thể không đặt ra sau khi đọc các thông tin trên: sắp tới Trung Quốc có thể làm gì tại Biển Đông?
12/15/09. 07:20:01 am. 3063 words, 654 views. Categories: Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Tin tức ðó ðây, Khoa học quân sự và chiến tranh, Chiến tranh và hòa bình, Hậu trường, Trên liên mạng, Xã hội và nhân văn, Vòng quanh thế giới ,
CHỨNG CỚ MỚI VỀ SỰ CAN DỰ CỦA MỸ VÀO CUỘC CHIẾN VIỆT NAM

Cố Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy
Chứng cứ mới về sự can dự của Mỹ vào cuộc chiến Việt Nam
Source: VOA News
Căn cứ trên những tài liệu vừa được giải mật của Văn Khố An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ người ta có được bằng chứng vững chắc về chính sách của Hoa Kỳ đối với vụ đảo chính ông Diệm và nó cho thấy những chứng cứ mới về một trong những giai đoạn gay cấn nhất của sự can dự của nước Mỹ vào cuộc chiến Việt Nam.
Căn cứ trên các băng ghi âm và tài liệu ghi lại các buổi họp của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, có những bằng chứng mới cho thấy:
- Tổng thống Kennedy không ngừng áp lực đòi phải có những thông tin chính xác hơn liên quan đến những thành phần quân đội VN ủng hộ cũng như chống đối một cuộc đảo chính. Trong lúc Tổng thống Kennedy bày tỏ sự miễn cưỡng trong việc tiến hành một vụ đảo chính mà không có cơ may thành công, ông lại đồng ý với các giới chức Hoa Kỳ rằng giới lãnh đạo chính phủ Sài Gòn lúc đó sẽ không có cơ may thành công trong cuộc chiến Việt Nam. Trong băng ghi âm người ta có thể nghe thấy ông Kennedy đang điều hợp các cuộc tranh luận của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia để hình thành một chính sách đặc biệt nhắm tới vụ đảo chính.
- Tổng thống Kennedy và những giới chức cao cấp khác của Hoa Kỳ đồng ý rằng ít nhất thì lãnh tụ của miền Nam Việt Nam lúc đó là ông Diệm phải bị buộc loại ông Nhu và bà vợ của ông ta ra khỏi chính phủ miền nam Việt Nam. Chuyện này có thể được thực hiện bằng các đường lối ngoại giao hay đòi hỏi phải đi tới một cuộc đảo chính đã trở thành trọng tâm của hầu hết những cuộc tranh luận trong Hội Đồng An Ninh Quốc Gia. Ngay cả các giới chức chống đối biện pháp đảo chính cũng đồng ý phải loại bỏ ông Nhu. Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, cũng giống như Tổng thống Kennedy, chỉ đồng ý cho thực hiện cuộc đảo chính với điều kiện là nó có thể thành công, đồng thời để giải quyết vấn đề ông Nhu. Những người đồng ý gồm cả các giới chức Mỹ mà sau đó đã được coi là chống đối việc mở rộng cuộc chiến Việt Nam, trong số này nổi tiếng nhất là Thứ trưởng Ngoại giao George W. Ball.
- Ông Kennedy và nhóm cố vấn của ông coi những đề nghị ngưng viện trợ của Hoa Kỳ cho Việt Nam là những biện pháp làm suy yếu chính phủ Diệm trước mắt những tướng lãnh miền nam hoặc giao thẳng viện trợ cho quân đội Việt Nam thay vì trao cho ông Diệm.
Những đề nghị di tản người Mỹ ra khỏi nam Việt Nam rõ ràng có liên hệ đến vụ quân đội đảo chính.
Những băng ghi âm tiết lộ rằng những kế hoạch cho một cuộc triệt thoái của người Mỹ được tạo dựng trong bối cảnh những cuộc tranh luận của Hội Đồng An Ninh Quốc gia về vụ đảo chính, nó trở thành một nét đặc trưng trong phương kế ngoại giao để thuyết phục ông Diệm loại bỏ ông Nhu.
Sự chọn lựa cụ thể trong chính sách của Hoa Kỳ mà ông Kennedy đưa ra, bằng cách gửi Bộ trưởng Quốc phòng McNamara và tướng Maxwell D. Taylor sang Sài Gòn trong một sứ mạng ngoại giao vào tháng 9 năm 1963, đã được tính trước trong các cuộc thảo luận của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia.
Các băng ghi âm cho thấy sứ mạng của họ được hoạch định để tạo áp lực với ông Diệm loại bỏ ông Nhu, lúc đầu là một phương kế để đạt được mục tiêu cho Hoa Kỳ bằng đường lối ngoại giao trong lúc các tướng lãnh quân đội nam Việt Nam kết nạp thêm những người ủng hộ cho một vụ đảo chính.
Tất cả những điểm được nêu lên này mang tầm vóc quan trọng để cho chúng ta hiểu biết hơn về cuộc chiến Việt nam.
Lấy ví dụ, các cuộc thảo luận được ghi âm về các mục đích của việc hoạch định một vụ triệt thoái của người Mỹ ra khỏi nam Việt nam đã làm suy yếu những luận cứ của một số người nói rằng Tổng thống Kennedy trước sau chỉ muốn rút ra khỏi cuộc chiến.
Mặc dù là Tổng thống Kennedy có bày tỏ những nghi ngờ như trong đoạn băng ghi âm ông nói với những người thân cận nhất tại phòng bầu dục này 29 tháng 8 năm 1963 là ‘chúng ta mắc kẹt ở đó rồi’, nhưng ông không bao giờ bác bỏ sự cam kết đối với Việt Nam.
Và thực ra,chỉ ít lâu sau đó, ông đã nói trước cùng nhóm thân cận này rằng trong khi quốc hội có thể sẽ nổi giận với việc Hoa Kỳ tiến tới với các tướng lãnh Việt Nam thì Quốc hội sẽ càng nổi giận hơn nếu Việt Nam sụp đổ.
Những lời lẽ này cho thấy quyết tâm của Tổng thống Kennedy dấn thân vào cuộc chiến chứ không bỏ cuộc.
12/15/09. 06:53:39 am. 1382 words, 148 views. Categories: Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Lịch sử thế giới, Chiến tranh và hòa bình, Hậu trường, Ôn cố nhi tri tân ,
ĐỌC LẠI BÀI VIẾT CŨ: BỌN MÙ HẾT THUỐC CHỮA & BỆNH MÙ LÒA VÌ RỰNG MỠ

Bài tuy cũ nhưng vẫn phù hợp với thế sự hiện thời, chỉ có điều khác là bọn người mù này càng ngày càng nhiều, và đã trở thành một đại họa, quả là... hết thuốc chữa!!!
BỌN MÙ HẾT THUỐC CHỮA
Source: Diễn Đàn 3 Cây Trúc
Nguyễn Châu
Đã sáng mắt ra chưa?
Tin từ Washington D.C. cho hay một hội từ thiện ở Virginia đã giúp nhiều người già cô quạnh, mù lòa, tàn tật và trẻ em mồ côi trong các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Đà Nẵng, Bình Định, An Giang và nhiều nơi xa xôi khác tại Việt Nam. Kết quả: tại An Giang, 157 người được mổ mắt, thay tinh thể (25/1/2004); tại Hải Lăng, Quảng Trị, 50 người được sáng mắt; huyện Triệu Phong 50 người được thấy ánh sáng; tại Huế cũng có khoảng 40 người được sáng mắt...
Theo báo cáo của hội, hiện toàn tỉnh Quảng Trị có 250 người mù cần giúp đỡ... Hội thiện nguyện Pháp Hoa kêu gọi hảo tâm của người hải ngoại, chỉ cần 36 Mỹ kim là có thể giúp cho một người mù được sáng mắt. Thế là chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cứ để dân mù lòa cho đến khi có hảo tâm giúp đỡ của người hải ngoại.
Trước 30 tháng Tư 1975, tại miền Nam và tại Mỹ, Pháp v. v... đã có khá nhiều người bị mù lòa mà thuốc men và kỹ thuật chữa trị của Thế Giới Tự Do không chữa nổi.
* Chứng mù của một bộ phận trí thức miền Nam Việt Nam, của nhóm phản chiến Hoa Kỳ, của một vài tài tử, ca sĩ, của một số triết gia Pháp, Đức, của một số tu sĩ đầy vọng tâm...
* Bệnh mù của họ kéo dài gần ba thập niên, tưởng đã trở nên kinh niên bất trị, nhưng không ngờ Cộng sản Việt Nam sau khi xâm chiếm Nam Việt Nam khoảng hai năm, đã phát minh được phương thuốc chữa bệnh mù cho hơn 20 triệu người miền Nam, cho hầu hết những người chủ trương phản chiến hăng say nhất như Joan Baez, Jane Fonda...
* Bệnh mù của Kissinger và một số nhà ngoại giao Tây phương cũng được chữa lành. Họ được sáng mắt khi Cộng sản Việt Nam thi hành chính sách man rợ đối với “đồng bào ruột thịt miền Nam” như lùa hết Quân, Dân, Cán, Chính của Việt Nam Cộng Hòa vào các trại tù được mở ra dọc theo núi rừng từ Nam ra Bắc, cưỡng bách dân miền Nam đi vùng Kinh Tế Mới, thực chất là một cuộc đày ải để cướp nhà, cướp đất, cướp của cải của họ tại các thành phố...
Hàng triệu người Việt liều chết bỏ nước ra đi, cả triệu người bỏ mạng trên biển Đông, trong rừng sâu, tại các vùng kinh tế mới “Khổ Thấy Mẹ” và trong các nhà tù mang mỹ danh “Cải Tạo”.
*****
Chính sách tàn bạo và thâm độc của Cộng sản nói chung và Cộng sản Việt Nam nói riêng là một thần dược chữa chứng mù lòa cho những kẻ bị huyền thoại Giải Phóng mê hoặc, cho những người mù lòa do tham vọng cá nhân, chức quyền bốc hỏa làm mờ lương tri. Đa số những người mù lòa trước năm 1975 đã được sáng mắt để nhìn rõ thực chất của Cộng sản, thấy rõ “tính ưu việt” của tập đoàn “sinh ra trong đói nghèo, lớn lên bằng chiến tranh, giết hại, nuôi sống bằng sự dối trá và đang hấp hối bởi sự bất tài, bất lực và tham nhũng”...
*****
Tự nhận là đỉnh cao trí tuệ, sau 29 năm thống nhất lãnh thổ, xây dựng đất nước trong hòa bình, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn không thực hiện được CÔNG VIỆC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO cho nhân dân, mặc dù tài nguyên đất nước vô cùng phong phú: rừng vàng, biển “đô la” từ dầu mỏ và hải sản, Quỹ Tiền Tệ Thế Giới cấp cho chương trình Xóa Đói Giảm Nghèo 54 triệu Mỹ Kim, và tiền Việt Nam Hải Ngoại “chi viện không hoàn trả” cho thân nhân mỗi năm hơn 3 tỷ Đô-la Mỹ.
Tiền ấy đi về đâu, mà đại đa số nhân dân vẫn đói nghèo đến độ mẹ phải bán con nhỏ, con lớn 9-10 tuổi qua Cam-Bốt làm điếm, nhà Nước thì bán hàng chục ngàn phụ nữ qua làm vợ người Đài Loan, xuất khẩu nhân công, xuất khẩu con nuôi quốc tế? Trước tình cảnh này, nhiều cán bộ cao cấp của Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam, một số trí thức Cộng sản cũng đã sáng mắt nhìn thấy rõ bản chất ác quỷ của Đảng ta, đã liều thân lên tiếng và đã bị Đảng tru diệt không nương tay...
*****
Thế mà tại hải ngoại, hiện nay vẫn còn một số người Việt mang danh tỵ nạn chưa được sáng mắt, vẫn mắc chứng mù lòa mà nguyên nhân chính là do lòng tham tiền bạc, hoặc mơ ước chút danh vị nào đó từ phía Cộng sản.
* Trong số người mắc chứng mù lòa này, ngoài một số cựu tù nhân chính trị đi trong thành phần “HO” không có ý thức quốc gia, không lý tưởng, vừa mới qua Mỹ được vài tháng, đã vội quay trở lại Việt Nam làm việc cho kẻ đã muốn giết mình (Chu Tất Tiến – Sau 25 Năm Nhìn Lại Việt Nam..., trang 77), còn có một số luật sư, bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, chủ báo, nhà văn, nhà thơ, thương nhân... Số người này tìm cách len lỏi vào cộng đồng tỵ nạn để tuyên truyền cho chế độ Cộng sản bằng cách này hay cách khác, thầm lén hoặc lộ liễu.
Họ lập ra những tổ chức “nhân đạo” với mục đích bòn rút tiền của Việt Nam Hải Ngoại đem về trong nước nói là “Nuôi trẻ mồ côi”, “giúp người tàn tật”, tổ chức Đại Nhạc Hội gây quỹ cứu trợ “thương phế binh” không phân biệt Bắc Nam, “xây trường học, sắm bàn ghế cho học sinh”, “mua thuốc và đưa các đoàn y tế về chữa bệnh, chủng ngừa, chữa bệnh mù tại Việt Nam...
Người mù tại Việt Nam được sáng, nhưng số người hải ngoại tham danh hám lợi này lại không sáng mắt, cho nên họ đã hành động như chính phủ Cộng sản Việt Nam là một con số không to tướng, vì tất cả mọi vấn đề từ ấm no, học hành, y tế, trẻ mồ côi người tàn tật tại quốc nội đều do ngân sách của Việt Nam Hải Ngoại chi ra hết.
Các viên chức Đảng và Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khỏi phải bận tâm gì đến đời sống nhân dân, để chăm lo bòn rút công quỹ cho đầy túi riêng, đưa Việt Nam đạt vị trí thứ ba trong nấc thang tham nhũng tại các quốc gia Đông Nam Á.
*****
Người mù đeo kính "Hoà Hợp Hoà Giải
Số người hải ngoại tối mắt vì đeo kính hiệu “Hòa Hợp Hòa Giải”. HHHG là chiêu bài của cái gọi là Chính phủ Cách Mạng lâm thời sau 30-4-1975 có mục đích dụ dỗ quân dân cán chính miền Nam đi trình diện để nộp mình vào ở tù một cách thoải mái, Cộng sản khỏi đi lùng bắt, tránh sự rối loạn nguy hiểm.
Bằng chứng là sau khi đưa hết vào trại tù, thì chính phủ Cộng sản không còn nhắc lại nữa, chỉ còn một số người mù tại hải ngoại, đứng đầu là Kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng, hô hào HHHG mà thôi. Tháng 7 năm 2000, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định là tiếp tục con đường xã hội chủ nghĩa và cảnh giác trước âm mưu “Diễn Tiến Hòa Bình”, vẫn bảo vệ chế độ độc đảng bằng mọi giá, kể cả bỏ tù và triệt hạ các Đảng viên Cộng sản phản tỉnh, phê bình sai trái của Đảng trong việc trị quốc.
*****
Người mù: cựu thành viên MTGPMN
Hầu hết các thành viên của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cũng bị uy hiếp phải tìm cách trốn thoát ra ngoại quốc. Các tay cầm cờ ba màu ra đón quân Giải Phóng vào Sài Gòn như Đoàn Văn Toại, chẳng bao lâu sau đó bị Cộng sản bắt giam và đánh đập tàn nhẫn... Sau khi được thả ra, Toại vượt thoát được sang Pháp, “bệnh mù” khỏi được một thời gian. Sáng mắt, Toại tố cáo tội ác của Cộng sản Việt Nam trong cuốn “Le Goulag Vietnamien” (Nxb Laffont, Paris 1979).
Trong nhà tù Đoàn Văn Toại đã gặp một cựu chiến binh Cộng sản, 82 tuổi, cũng bị giam, mặc dầu cuối thập niên 1920, ông ta là một trong những lãnh tụ và sáng lập viên của Đảng Cộng sản Đông Dương... Ở Pháp một thời gian, không hiểu sao, Đoàn Văn Toại bị mù trở lại, “bệnh mù tái phát” làm cho Toại có luận điệu nịnh bợ Cộng sản và đã bị trừng trị đích đáng.
*****
Từ thập niên 70 đến 80, Đảng và nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam gọi những người vượt biển ra nước ngoài là bọn người phản quốc, chống phá cách mạng, “là những thành phần rác rưởi, lưu manh, những kẻ phản động, phản quốc, bỏ nước ra đi theo ngụy”. Chính Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thượng Nhân đã phát biểu là “nên treo cổ hết những kẻ phản động ấy”!
*****
Người mù: Việt Kiều yêu nước
Thế nhưng đến thập niên 1990, thì Đảng và chính phủ Cộng sản Việt Nam đã gọi họ là “Việt Kiều Yêu Nước” và một cách âu yếm hơn là “Khúc ruột ngàn dặm”. Lập tức, trong những năm đầu của thập niên 90, ở Pháp, và Nam California-Hoa Kỳ, bỗng nẩy sinh một khuynh hướng mong muốn Hòa Hợp Hòa Giải với chính quyền Cộng sản Việt Nam.
“Bằng những bài báo dùng ngụ ngôn bóng bẩy kêu gọi kết hợp trong nước và ngoài nước, bằng những tập san xuất bản đều đặn với những bài xã luận nói về hợp sông, hợp suối, hợp lưu, bằng cách cho đăng những bài viết của những người Cộng sản đích thực như Trần Bạch Đằng, một nhà lý luận Cộng sản chuyên nghiệp, hay của những người có nợ máu với dân chúng như Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhóm chủ trương Hòa Hợp Hòa Giải này mong muốn có quan hệ tốt với Cộng sản, quên thù hận xưa, để cùng tiếp tay xây dựng đất nước. Một vài nhân vật nổi tiếng trong giới Y khoa và báo chí cũng tuyên bố kêu gọi về nước làm chính trị và xã hội.” (Chu Tất Tiến, sđd, tr. 89-90).
*****
Những tổ chức tranh đấu trong Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại gọi nhóm này là “cơ hội chủ nghĩa” hoặc “tay sai Cộng sản Việt Nam”, thậm chí còn buộc tội họ là “Việt gian”. Vì trên lý thuyết, nếu nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam thực tâm muốn cho đất nước thoát nghèo nàn và lạc hậu, thực tâm quên hận cũ, thù xưa, chào đón người Việt hải ngoại về cùng chung tay phục hưng đất nước, thì đó là một phước lớn của dân tộc Việt.
Nếu được như thế, thì sẽ không còn phân biệt LÝ LỊCH quốc gia hay cộng sản, không còn tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm bị giam giữ, tra tấn, ngược đãi trong các nhà tù; nhà cửa của người vượt biển được chính quyền Cộng sản trả lại nguyên vẹn, vô điều kiện, người bất đồng chính kiến không bị theo dõi, bắt giam hoặc hãm hại một cách bí mật...
*****
Nhưng trên thực tế, người Cộng sản chỉ mong hải ngoại mang tiền về, mà không mang theo chính trị. Cộng sản Việt Nam chỉ dùng những người đem lại lợi ích tiền của về trong nước và tuyên truyền chính trị cho họ ở hải ngoại mà thôi. Những kẻ mơ mộng, thơ ngây hoặc những tay ham mê chút lợi danh, vội vã trở về hợp tác với Cộng sản, chỉ sau một thời gian ngắn, đều phải “trở lại hải ngoại sống âm thầm, xa lánh bạn hữu và cộng đồng”. Kinh nghiệm cho thấy khi một người thân Cộng ở hải ngoại, đã lộ mặt, bị cộng đồng lên án, tẩy chay, khi họ không còn chút uy tín nào nữa, thì người Cộng sản lập tức bỏ rơi. (Nhiều trường hợp cụ thể, về nạn nhân của hòa hợp, giao lưu, thiện nguyện, cứu trợ vân vân... được nêu rõ trong tác phẩm của Chu Tất Tiến, từ trang 92 đến 95).
*****
Chủ trương “hòa hợp hòa giải” với Cộng sản Việt Nam của kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng qua nhóm Thông Luận, nhóm Hợp Lưu Giao Điểm... đã bị hầu hết Cộng Đồng Người Việt khắp nơi xem là ngây thơ và mù quáng, vì trên thực tế Cộng sản Việt Nam không bao giờ chấp nhận đa nguyên, họ bảo vệ Đảng bằng bất cứ giá nào.
Ngay cả với người đã nằm xuống, Cộng sản Việt Nam vẫn nuôi mối hận thù và đã ngược đãi họ. Nghĩa Trang Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa ở Biên Hòa đã bị phá, bức tượng “Tiếc Thương”, một tác phẩm điêu khắc của điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu, dựng trước cổng nghĩa trang, đã bị Cộng sản Việt Nam tiêu hủy đi.
*****
Một số người Việt hải ngoại gọi là Việt Kiều Yêu Nước tình nguyện về quê hương giúp đỡ người dân tật nguyền, đau ốm, nghèo khổ... sau nhiều lần đi về tự do thoải mái, họ đã bị nghi ngờ là nằm trong kế hoạch mà Cộng sản Việt Nam gọi là “diễn tiến hòa bình” của đế quốc chống phá chủ nghĩa xã hội.
Cuối cùng, họ gặp khá nhiều phiền hà, như bị rút giấy phép, bị gọi đến trình diện, đến “làm việc” với công an, với Thành ủy, nhận chỉ thị về các hạn chế sinh hoạt của họ vân vân. Kết quả: họ phải tìm cách “bỏ của chạy lấy người”. Những công tác thiện nguyện do người Việt hải ngoại hoặc người ngoại quốc thực hiện ở Việt Nam, nếu chỉ trong giai đoạn ngắn, thì ít gặp trở ngại, nhưng nếu có kế hoạch lâu dài mà Cộng sản chưa gài được người vào tổ chức, thì nhất định sẽ gặp khó khăn và nguy hiểm. Giáo sư Chu Tất Tiến trong “Sau 25 năm nhìn lại Việt Nam...” trưng dẫn trường hợp “ông Giám đốc Hãng Citroen Pháp Quốc, khi sang Việt Nam tìm thị trường, lang thang đi mua những cái “name tag” (tấm thể bài) của lính Mỹ cũ bán đầy ngoài đường, đã bị bắt giữ, vì nghi ngờ là gián điệp đi tìm tù binh! Ông đã chán nản bỏ sang Thái Lan và chỉ bay qua Sài Gòn để làm việc trong ít ngày rồi biệt luôn” (Chu Tất Tiến, sđd, tr. 89-92).
*****
Những tên mù trong hẽm Hợp Lưu Giao Điểm ở California, khi về Việt Nam, những tưởng được biểu dương, ưu ái, nào ngờ bị xem như chó ghẻ. Lý do đơn giản: Cộng sản nghi ngờ bọn này là cò mồi của kế hoạch “Diễn Tiến Hòa Bình” mà chúng đang hết sức cảnh giác đề phòng. Vì mù lòa cho nên nhóm này không thấy được rằng Cộng sản Việt Nam không tin ai cả, ngay cả đồng chí với nhau ở Trung Ương cũng chơi nhau sát ván và tìm cách hãm hại lẫn nhau, thì biết tin ai?
*****
Người mù: anh hùng Điện Biên và cố vấn Bác Hồ
Đại Tướng Cộng sản Võ Nguyên Giáp nổi danh với trận Điện Biên Phủ, có số phiếu cao nhất trong kỳ Đại hội Đảng toàn quân tháng 9-1986, từng bị các đồng chí ganh tị, phanh phui lý lịch, để tìm cách hạ bệ. Võ Nguyên Giáp bị nghi là tay sai thực dân Pháp và bị mất tín nhiệm chỉ vì “cơ quan tổ chức của Đảng Cộng sản lục trong Thư Khố của Pháp, thấy một lá đơn của cậu học sinh Võ Nguyên Giáp gửi quan Toàn Quyền Đông Dương xin học bổng du học, với những lời lẽ quỵ lụy không thể chấp nhận được đối với người cách mạng...” (Vũ Thư Hiên, “Đêm Giữa Ban Ngày” tr.350).
*****
Võ Nguyên Giáp, bí danh là “Văn” bị kết tội âm mưu lập “bè phái chống đảng”, rồi bị thất sủng... đã âm thầm chịu đựng hàng chục năm, nay 93 tuổi, kề miệng lỗ, mới dám liều mạng viết Cáo trạng kêu oan, đòi “công đạo” “ (Thư của Võ Nguyên Giáp ngày 3/1/2004).
*****
Những người mù “bẩm sinh của Đảng Cộng sản Việt Nam” như ông bà Vũ Đình Huỳnh, thân sinh của Vũ Thư Hiên, đến năm 1967, mới được Đảng giải phẫu và sáng mắt ra để nhìn thấy nguyên hình của Cộng sản Việt Nam: “... chúng nó đến, con tưởng tượng được không, còn tệ hơn cả mật thám nữa kia. Tay bố to, còng không vừa, chúng nó cố ních khóa vào đến bật máu ra mà chúng nó vẫn cố khóa cho bằng được” .
Đây là lời kể của bà Vũ Đình Huỳnh về cảnh công an đến nhà bắt ông Vũ Đình Huỳnh, người đã nuôi dưỡng, cận kề chăm sóc cho Hồ Chí Minh. Vũ Thư Hiên viết: “Trong lòng bà, ông Hồ Chí Minh chết vào đêm cha tôi bị bắt...” (ĐGBN, tr. 28). Bệnh mù của gia đình Vũ Thư Hiên được chữa khỏi sau 9 năm bị Cộng sản tù đày, cả nhà bị khổ đau, tan tác. Vũ Thư Hiên đã thấy và đã nói lên cho những người khác:
“Nhờ đảng gỡ hộ cho tôi cái màng ảo tưởng, lần đầu tiên trong đời tôi thấy mắt mình nhìn rõ sự vật đến thế. tất cả như tuột hết vẻ hào nhoáng bên ngoài, lớp vàng mạ bong ra, phơi hình thù thật của chúng, trần trụi, lõa lồ dưới ánh mặt trời.
“Cũng nhờ đảng, tôi trút bỏ được niềm sùng kính đối với ông Hồ Chí Minh. Tại sao tôi lại mê muội đến thế nhỉ? Ông làm sao yêu được đồng chí khi người làm việc sát cánh cùng ông trong những năm gian khổ, bị Lê Đức Thọ bắt giam mà ông vẫn điềm nhiên không hề can thiệp, dù chỉ tìm hiểu ngọn nguồn?" ...(ĐGBN, tr. 456)
*****
Người mù: Khoa bảng sản phụ, mổ tim, mổ mắt
Một thí dụ cụ thể về “quên quá khứ, xóa bỏ hận thù để hòa hợp hòa giải”: đó là trường hợp một bác sĩ có tiếng ở Nam California đã có công đón tiếp một phái đoàn cộng sản qua Hoa Kỳ tính toán làm ăn. Ông ta cũng cả gan thách thức cộng đồng Người Việt bằng những lời cổ động cho việc hòa hợp hòa giải, rồi thách cộng đồng: “nếu có 500 người biểu tình chống lại việc ông về Việt Nam hợp tác, thì ông sẽ bỏ ý định về.” Lập tức Cộng Đồng Người Việt phản ứng bằng cách tập hợp hơn một ngàn người trước cửa phòng mạch của ông cựu sĩ quan quân y “ngụy” này và lên án ông quyết liệt.
Tuy nhiên, ông bác sĩ “mù lòa” này đã nuốt lời, tiếp tục việc về nước, đinh ninh rằng mình đã lập được công chống cộng... đồng hải ngoại, sẽ được Đảng đón tiếp long trọng, sẽ mời ông vào phòng họp với cơ quan Nhà Nước cấp cao. Có ngờ đâu, khi ông bác sĩ “mù” này về đến phi trường, chỉ gặp được vài nhân viên cấp thấp đến chào hỏi mà thôi, không có một sự gọi là đón tiếp nào. Tại Việt Nam, ông bác sĩ “mù” này phải mò mẫm tự mình đi xin xỏ, xin giấy phép... khi muốn gặp một cơ quan nào cần giao dịch. Tại sao “Nhà Nước ta” lại nhạt nhẽo với các “Việt kiều yêu nước này”?
Điều này người sáng mắt thấy được ngay. Đó là vì tên tuổi của ông bác sĩ này đã bị Cộng Đồng Người Việt xóa đi, còn giá trị nào nữa để Đảng ta lợi dụng cho việc tuyên vận chiêu dụ hòa hợp hòa giải. Ông bác sĩ này đã bị hải ngoại tẩy chay, thì trong nước dùng làm cái gì? Ngoài ra, có thể Cộng sản Việt Nam còn suy luận rằng: nó là sĩ quan “Ngụy”, làm bác sĩ, được Cộng Đồng Người Việt nuôi và giúp cho thành giầu có, thế mà khi mê đắm công danh, nó còn phản lại Cộng Đồng, thì Đảng làm sao tin được một tên đã công khai phản chủ nó là Cộng Đồng Hải Ngoại.
*****
Cho đến nay, Cộng Đồng Hải Ngoại đã có ít nhất là ba bác sĩ mắc bệnh lòa. Ông thì lòa vì lợi lộc, tiền bạc, ông thì lòa vì lời tâng bốc và hư danh... Ông Họ Bùi ở Cựu Kim Sơn, từng theo Hương Dương Thu về Hà Nội yết kiến, lần thứ hai bị Cộng sản bắt giam nửa năm vì tội giao lưu; ông họ Phạm Phụ Khoa, quận Cam thì chẳng còn ai đếm xỉa; còn ông Nguyễn Lão Khoa xứ Cao Bồi bị thong manh, làm bồi bút, đi yết kiến Nguyễn Đình Bin, về Việt Nam hứa hẹn nhiều giúp đỡ. Có lẽ vì lo sợ “không biết bỏ nắm xương tàn nơi đâu” trên đất Hoa Kỳ, nên sau khi đi yết kiến thượng cấp tại Việt Nam, bác sĩ Nguyễn Lão Khoa về Hoa Kỳ, lại tìm cách lân la với Cộng Đồng Hải Ngoại, không hiểu ông đã khỏi bệnh chưa?
*****
Những người mù lòa nghèo khổ tại Việt Nam khi được sáng mắt ra thì có thể tự đi kiếm cái ăn, cái mặc, khỏi phải làm thân khất thực nhục nhằn. Nhưng những người trong Cộng Đồng Hải Ngoại mù vì lòng tham mà quên chính nghĩa dân tộc và hoài bão của Cộng Đồng, khi được sáng mắt ra thì đã muộn màng. Xin anh linh các Quân, Dân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hòa nhân ngày Quốc Hận, hộ phù cho những kẻ mù lòa lương tri sớm được sáng mắt trở về với chính nghĩa
*******************************************************************
BỆNH MÙ LÒA VÌ RỰNG MỠ
Source: Diễn Đàn 3 Cây Trúc
Thanh Vân
Nhiều người bị mù loà, bị cataract, được chữa lành và đã sáng mắt, ấy thế mà vẫn có người có mắt cũng như không, vẫn u tối như thường.
Mấy ngày hôm nay cả thế giới đang mải chú tâm đến Thế Vận Hội tại Bắc Kinh, thì Nga sô nhân cơ hội đem quân đội, máy bay, xe tăng tầu bò, đánh vào Georgia. Putin là trùm KGB ngày xưa có thừa kinh nghiệm lợi dụng thời cơ để lừa cả thế giới.
Trung Cộng trong ngày mở màn Thế vận Hội (*080808) , cũng đâu kém gì, làm hàng giả bằng cách cho một em bé (Lin Miaoke) nhép miệng hát thay cho em bé gái khác tên là Yang Peiyi kém sắc hát thật phía trong. Khán giả vỗ tay khen tặng rối rít. Rồi một số pháo bông tung lên trời hôm đó cũng dùng ảo ảnh vi tính loá mắt thế giới kiểu David Copperfield nữa đấy.
Ở Việt-Nam và cả ở hải ngoại ngày nay có rất nhiều người bây giờ mới sáng mắt khi được sống chung và làm ăn với bọn Cộng Sản. Họ là ai?
Ở Việt-Nam
1.- Họ là những bà mẹ quê chất phác. Trước đây họ nghe lời ngon ngọt của CS, ấp ủ, che đỡ du kích trong nhà họ, những tưởng khi VC chiếm miền Nam thì họ được ưu đãi lắm! Ai ngờ! họ chỉ được cấp mấy giấy ban khen là mẹ chiến sĩ, mẹ liệt sĩ, mấy huy chương bằng đồng để treo trong nhà cho nó oai, chứ đem ra chợ bán không ai mua. Hổm rồi, họ bị xử ức: đất đai của tổ tiên họ bị cán bộ công an lấy đem bán cho ngoại quốc làm sân golf, họ mang cờ đỏ sao vàng , biểu ngữ, huy chương, bằng khen đi biểu tình khiếu kiện. Kết quả? Họ bị hốt và vất lên xe cây như con heo, chung với cờ quạt, huy chương, biểu ngữ. Bây giờ họ đã sáng mắt nhưng đã muộn. Có bà dân oan tức quá còn tụt quần ra trước văn phòng xã ấp cho công an xem nữa.
2.- Họ là giới trí thức sống tại miền Nam Việt-Nam. Trước đây họ nghe lời dụ dỗ của bọn CS, họ đọc toàn sách Karl Marx, Engels, Jean Paul Sartre họ mơ tưởng thấy tương lai sán lạn, bầu trời nở hoa, một thế giới đại đồng, không giầu không nghèo, ai cũng như ai, gọi nhau tất cả bằng "đồng chí". Thế là họ xuống đường biểu tình, phá rối trị an của VNCH, làm mồi cho tụi VC xâm nhập thành thị phá hoại. Sau ngày 30-4-75, họ ra ứng cử vào QH bù nhìn. Kết quả rớt đài. Họ thấy tất cả mọi sự đều tệ hại hơn ngày xưa nhiều, họ la ó, phản đối. Kết quả họ bị quản chế, họ bị công an thuê xã hội đen đánh đập, gây ra tai nạn. Thế là họ mở mắt trong nhà thương. Rồi họ sáng mắt không kịp nữa khi đã vào nhà xác.
3.- Họ là những đại diện được dân cử ở miền Nam. Trước đây họ bị dụ khị với củ cà rốt đỏ tươi là sẽ ở lại làm việc cho thành phần thứ ba, với hoang tưởng là CS Miền Bắc giải thể VNCH và trao cho nhóm thành phần thứ ba thành lập chính phủ miền Nam, chia ghế chung với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Họ ra sức xử dụng cái tự do dân chủ miền Nam đánh phá VNCH đủ mọi mặt. Đến khi VNCH bị bạn đồng minh bỏ rơi thì ai ngờ họ bị cho ra rià, chỉ còn ngồi chia với nhau cái "ghế đá công viên".
4.- Họ là thành phần du kích miền Nam, tập kết ra Bắc. Họ đã sống dở chết dở trên dẫy Trường Sơn, trên đường mòn HCM. Họ tin là mai này miền Bắc đánh thắng miền Nam thì họ trở về vinh quang, CS Miền Bắc sẽ để cho họ thống lãnh miền Nam, ít nhất cũng làm quan to. Hỡi ôi! Họ được gì? Tất cả những chức vụ ngon lành đều do cán ngố miến Bắc nắm hết. Họ từ từ bị bỏ rơi, uất ức quá họ xin phục viên. Bây giờ họ chỉ còn biết mở mắt và chửi thề từ sáng đến tối mà thôi.
5.- Họ là thành phần giầu sang phú quý miền Nam. Nghe lời hứa ngọt như mía lùi của quen, vào bưng thành lập cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Họ được rủ sang Paris ngồi vào bàn tròn bàn vuông, dự hội nghị thanh toán miền Nam do Kissinger và Lê Đức Thọ bầy mưu đạo diễn năm 1973. Sau 30-4-75 họ được gì? Ôi chao, cái MTGPMN sống chưa được bao lâu đã bị CS Miền Bắc bóp cổ chết ngắc ngày 2-7-1976. Bấy giờ họ mới sáng mắt ra thì đã trễ, chỉ còn biết than thân trách phận là mình quá ngu.
Tại Hải Ngoại:
Họ là những Việt Kiều đã liều chết vượt biên.
Từ ngày Mỹ nối lại bang giao với Việt-Nam và bỏ cấm vận Việt-Nam, họ đã nghe lời dụ dỗ đường mật của CSVG, về lại Việt-Nam làm ăn:
a.- Một ông vua chả giò, đem về hàng triệu đôla đầu tư, rồi bị kết án về tội hối lộ (Khổ quá VK nào muốn làm ăn tại VN cho an toàn mà không phải hối lộ cơ chứ, kể cả người dân trong nước cũng vậy), chỉ vì cán bộ gộc tranh nhau ăn. Kết quả ông vua chả giò bị 11 tháng tù, may mắn quen lớn, quen đến tận ông "Tưởng Thú Khải" nên mới "tái vượt biên bằng đường hàng không" ra khỏi nước. Ông mướn luật sư đoàn ngoại quốc kiện VNCS lấy lại tiền. Ông hú vía và sáng mắt và sẽ chẳng bao giờ về Việt-Nam nữa.
b.- Một ông bác sĩ tim, bỏ ra cả bạc triệu mua máy móc rất "hiện đại" về Sàigon mở phòng mạch mổ tim mong làm ăn, nhưng rồi bị VC đội cho cái mũ "gián điệp CIA" không đưa ra toà nhưng chỉ xin ông để lại phòng mạch và tất cả dụng cụ, ra khỏi VN trong vòng 6 tiếng đồng hồ. Thế là mất cả chì lẫn chài. Về lại Hoa Kỳ ông tức lắm lập đảng chống, ông định làm cả cái kiềng 3 chân mời ông VC ngồi một chân để hoà hợp hòa giải.
c.- Một ông giáo sĩ chuyên về truyền thông, đi về VN hơn 10 lần rồi như đi chợ và có cả mấy căn hộ cho thuê. Rồi một ngày đẹp trời xin Visa về VN nữa để thâu tiền, nhưng đến phi trường Tân Sơn Nhất thì hải quan TSN hổng cho ổng vào vì lý do gì đó, đúng ra chỉ vì chúng muốn xiết mấy căn hộ của ông thôi. VK hồi đó chưa được phép mua nhà ở VN, mà tại sao ông lại có mấy căn hộ cho thuê "thế nà nàm sao?" , chắc chúng "điều cha" là ông nhờ người khác đứng tên. Ông tẽn tò trở về Mỹ, nuốt hận, nhưng vẫn cái trò nửa nạc nửa mỡ, vẫn nâng đỡ cho đám quốc doanh trong nước, đăng cả bài chống cờ vàng 3 sọc đỏ của HY đỏ Phạm Minh Mẫn mới đây.
d.- Một ông chuyên viên thu băng video và CD, DVD lậu, khoái "bác hồ" hết cỡ thợ mộc, nên treo cờ máu và ảnh tên hồ già trong tiệm, bị người Việt hải ngoại giàn chào cả 2 tháng. Ở VN hồi đó ông được CSVG nâng cấp lên thành "anh hùng". Rồi ông tưởng bở bán nhà bán cửa, thu xếp tiền bạc gia đình vợ con về VN làm ăn. Ông bỏ ra mấy chục ngàn đô ( gần 1 tỷ bạc hồ ) mua ao thả cá, nuôi tôm kiếm sống. Thu hoạch đang ngon lành, ai ngờ ông bà "anh hùng" bị gọi lên làm việc về tội "quên đóng thuế" cho nhà nước. Bà vợ ông ức quá "anh hùng" mà chả được cư xử như anh hùng tí nào cả, lại còn bắt đóng thuế, nên tự tử may mà không chết. Mất cả chì lẫn chài, gia đình lại cuốn gói về lại đế quốc Mỹ chả biết ẩn dật tại Tiểu Bang nào. Bà con ai biết mách giùm nhé.
e.- Một ông giáo sư dậy điện toán, mua lại một số máy computer rẻ tiền đem về Sàigòn mở trường. Ông đoán đúng mạch dân VN. Thời kỳ tin học, ai mà chẳng muốn học "vi tính - piu tơ", thế là cơ sở ông phất lên như diều gặp gió. Ông làm thêm chi nhánh ở Cần Thơ, ngon trớn ông tiến nhanh tiến mạnh ra Đà Nẵng. Nhưng ông quên một điều là VN cũng có "rừng nào cọp nấy". Cọp miền Nam khác cọp miền Trung, miền Bắc. Ông quên không xin phép đúng nơi đúng chốn hay vì thủ tục "đầu tiên" của ông hơi yếu cho nên ông cũng bị mời lên Công An làm việc vì có thơ tố cáo ông làm gián điệp cho đảng phái hải ngoại chống phá nhà nước. Họ mời ông và gia đình ra khỏi nước trong vòng 24 tiếng, để lại 2, 3 trường học cho nhà nước quản lý. Ông biết bị ăn cướp nhưng chỉ nhỏ lệ mà ra đi và về hải ngoại ông vẫn im thin thít sợ nói ra bị đồng bào chửi.
f.- Chàng là một VK rất bình thường, nhưng có tật hay "nổ" khi về VN. Chàng đã về nước cả chục lần đâu có làm sao, về lại Hoa Kỳ lần nào cũng khen lấy khen để là "Sàigòn bây giờ đổi mới lắm, làng nướng, quán ăn, bia ôm, càfê cũng ôm luôn, hớt tóc muốn ôm cũng được" . Vì vậy người Việt "hải ngại" đặt tên mới cho hòn ngọc viễn đông ngày trước, bây giờ là "thành phố ôm".
Chàng chỉ là một chuyên viên làm Nail, mùa đông ế khách nên về VN du hí. Nhưng VK về nước mà lại khoe là làm nail thì hơi bị quê, nên bèn nổ lớn và tự giới thiệu là kỹ sư "hoá học". Nói cho đúng thì ngày ngày chàng đụng tới hóa chất (acetone .v.v...) hơi nhiều, phải đeo khẩu trang như các nhà bác học trong phòng thí nghiệm thật. Lần này về VN thì sáng ngày hôm sau, có một Công an đến vấn an và gãi đầu gãi tai xin ông Kỹ sư giúp đỡ chút xíu vì nhà đang gặp khó khăn. Chàng kỹ sư mở bóp lấy ra tờ 20 đôla trao cho viên công an. Viên công an tỏ ý hơi thất vọng rồi ra về.
Sau chuyến đi chơi Đalạt 3 ngày về thì chàng kỹ sư nhận được một công văn của Công An số 4 Phan đăng Lưu yêu cầu lên làm việc để làm sáng tỏ một vài vấn đề. Ông "kỹ sư" hoang mang nhưng cũng đến trình diện. Viên Đại Uý Công An mời ngồi và nói là ông ta mới nhận được một lá thư từ trong phường xóm nơi chàng tạm cư ngụ, tố cáo ông VK là một nhân viên của một đảng phản động tại hải ngoại lần này có nhiệm vụ về điều nghiên để phá hoại. Anh kỹ sư VK tái mét mặt, hết hồn bèn khai thật là ở bên Mỹ chỉ làm nail thôi chứ đâu có phải kỹ sư gì đâu, về nước để du lịch chứ không có tham gia một đảng phái chính trị nào cả.
Viên Đại Uý cười khẩy và nói là ty công an thành phố phải điều tra ra sự thật vì vậy theo luật thì phải giữ anh kỹ sư ở lại bóp vài ba ngày để tiến hành cuộc thẩm vấn. Sau cùng ông Đại úy nhắc khéo là đã liên lạc với hải quan TSN rồi và được biết là anh kỹ sư có khai đem về 5 ngàn đôla kỳ này. Chàng "kỹ sư" được dẫn vào nhà giam ngủ 1 đêm.
Sáng hôm sau tại địa chỉ mà chàng tạm trú, một người ăn mặc complet bảnh bao, tay sách cạc táp đen, đến gõ cửa và tự nhận là luật sư. Ông luật sư vào đề ngay là ông ta "nghe nói" có một VK bị bắt vào ty Công An PĐL. Nếu muốn nhờ ông ta biện hộ hay giải quyết thì đây là giá cả:
- (1) Muốn khỏi phải ra toà và được thả ngay thì giá là 3 ngàn đôla, vì ông ta phải chi tiền chạy chọt.
- (2) Còn muốn ra toà thì ông ta nhận biện hộ với giá $1,500 USD, nhưng ông luật sư thòng một câu là không biết ngày nào ra toà, có thể từ 3, 4 tháng đến 1 năm tuỳ theo. Bị cáo không được rời khỏi VN. Ông ta nói xong để lại danh thiếp với số điện thoại.
Ngày hôm sau ông bạn chạy đến ty CA thành phố xin thăm gặp ông "kỹ sư" nạn nhân, và trình bầy 2 giải pháp của ông Luật sư. Anh "kỹ sư" hốt hoảng nói anh bạn gọi điện thoại và điều đình với ông luật sư chấp thuận giải pháp 1 là trả 3 ngàn đô "cúng cô hồn" để được trả tự do ngay, chứ theo giải pháp thứ 2 rẻ hơn nhưng làm sao mà ở VN lâu như vậy được, còn phải về Mỹ dũa móng chứ .
Chiều hôm sau, chàng "kỹ sư" được trả về nhà, túi bị nhẹ đi mất 24 triệu bạc hồ, một số tiền khá lớn. Hai ngày sau chàng "kỹ sư", ra hãng máy bay xin đổi vé về lại Mỹ càng sớm càng tốt và hứa là sẽ không bao giờ về thăm chùm khế ngọt nữa.
12/15/09. 03:21:08 am. 9307 words, 143 views. Categories: Trong ðời sống hàng ngày, Thiên hạ sự, Hậu trường, Những chuyện ỡm ờ, Ôn cố nhi tri tân ,
XEM PHIM MÙA LỄ 2009-2010
12/12/09. 07:06:35 am. 0 words, 795 views. Categories: Nghệ thuật sân khấu và phim ảnh, Liên kết blogs, Video tài liệu, Video chuyên ðề, TV - Truyền hình, Trực tiếp truyền hình ,
VƯƠNG QUỐC BỈ ĐÃ CHÍNH THỨC PHÁT THÀNH TEM THƯ BƯU CHÍNH QUỐC GIA MANG HÌNH LINH MỤC NGUYỄN VĂN LÝ, LUẬT SƯ LÊ THỊ CÔNG NHÂN VÀ THUYỀN NHÂN LÁNH NẠN CỘNG SẢN

Tem hình con thuyền và đồng bào Việt Nam bị vùi dập trong phong ba trên đường lánh nạn Cộng sản tìm tự do
Những con tem tranh đấu cho nhân quyền.
Do sự yêu cầu của đồng bào Việt Nam tại Vương Quốc Bỉ, bưu điện nước nầy đã phát hành nhiều con tem, trên đó có hình ảnh con thuyền nghiêng, ném xuống biển hàng chục người VN khi họ chạy trốn Cộng sản. Có hình ảnh những anh hùng bất khuất trước bạo quyền cộng sản, đòi tự do dân chủ cho nhân dân hòng cứu nguy tổ quốc VN đang bị Trung Quốc lấn chiếm đất và biển, và đang âm thầm xâm lăng vào nước ta.
Những con tem đó theo từng lá thư đi khắp các nơi trên quả địa cầu, để nói lên sự đau khổ cùng cực của người Việt khi chạy trốn Cộng sản, để vinh danh những anh hùng VN, hiện là những tù nhân lương tâm mà cả thế giới đều biết đến như luật sư Lê Thị Công Nhân, linh mục Nguyễn văn Lý.
Những vị nầy tranh đấu bằng lương tâm, bằng trí tuệ, bằng sự can đảm một cách ôn hòa; thế mà chánh quyền CSVN bắt bớ giam cầm, xử án không công lý, truy tố về tội "âm mưu lật đổ chính quyền" bằng đường lối ôn hòa, bất bạo động, bất tín nhiệm.
Quả thật chính quyền CSVN đang lo sợ. Họ sợ khi người dân biết quyền làm người của mình như thế nào rồi thì lúc đó người dân sẽ không để chính quyền cùm xích họ một cách bá đạo, ngang ngược như hiện nay.
Những con tem đòi nhân quyền cho VN chạy khắp nơi trên thế giới đã làm chính quyền CSVN nhức nhối, nhục nhã, bèn ra lịnh cho bộ ngoại giao và đại sứ can thiệp với chính quyền Bỉ để ngăn chận ... Nhưng tem vẫn phát hành ...
Không biết làm sao hơn, CSVN bèn nghĩ ra cách rất phù hợp với bản chất tham nhũng của họ là o bế, đút lót, nói láo ... để thuyết phục nhân viên bưu điện đừng bán tem và chuyển những thư đó đi... Nhưng vô ích, vì dân Bỉ đâu có ngu như họ tưởng!!!
Ngoài những vu cáo đối với các vị anh hùng của nhân dân VN, Cộng sản còn rêu rao rằng họ muốn xóa hận thù giữa người VN bằng cách xóa bỏ hết những vết tích trốn chạy Cộng sản của đồng bào chúng ta.
Nhưng, những nhân viên bưu chính Bỉ đâu có dốt như CSVN tưởng.
Họ hiểu nhiều về Cộng sản và rất tự hào được sống trong chế độ tự do dân chủ nên họ quyết tâm bảo vệ cái họ đang có là Dân Chủ và Tự Do. Họ biết rằng trên đường trốn chạy Cộng sản của hàng triệu người VN, biết bao thảm cảnh đã xảy ra, do sóng gió, do hải tặc và nhất là do bộ đội, công an CSVN đã nã súng xối xả vào đoàn người gồm đàn bà, trẻ con. Bắn cho đến khi tiếng thét đau đớn im bặt ... Họ còn cho rằng đảng CSVN đã nhúng tay trực tiếp vào máu, hay là thủ phạm đã gây ra những thảm cảnh rùng rợn, bọn Cộng sản cũng là tội nhân ghê tởm nhất thế kỷ với tội danh Diệt Chủng, vì đã ra tay tàn sát đồng bào của mình.
Vì thế nên, những người Bỉ nầy nói rằng:
Xóa bỏ vết tích tội ác không phải là cách hóa giải hận thù; mà ngược lại là tòng phạm với hung thủ. Vì bưng bít dối trá là khuyến khích hung thủ tiếp tục giết người. Chúng tôi thiết nghĩ là nếu CSVN thật lòng muốn xóa bỏ hận thù, thì cũng dễ thôi. Chỉ cần làm những chuyện sau đây là đủ:
1/- Đảng CSVN thành thực khai báo những tội ác đã từng làm, và xin sám hối.
2/- Xây dựng tự do dân chủ cho VN.
3/- CSVN phải cam kết không gian xảo, bao nhiều của cải tham nhũng khi nắm quyền phải trả lại hết cho quốc gia.
Trên đây là một ít chuyện bên lề việc phát hành những con tem nhân quyền.
Mong rằng những con tem nầy chuyển lửa đi khắp nơi, góp phần vào việc tranh đấu đòi nhân quyền cho VN... đòi lại quyền sống đã bị CSVN cướp mất.
Hy vọng cộng đồng người Việt hải ngoại trên toàn thế giới đồng loạt có những vận động tương tự, để cứu tổ quốc và dân tộc khỏi thảm họa cộng sản. Ngày nào mà những con tem "Thảm sát Mậu Thân" và "Thảm sát trong cải cách ruộng đất" chưa được thế giới phát hành, ngày đó cộng sản vẫn còn lừa bịp được và chạy tội trước công luận thế giới. Ngày nào mà cộng sản vẫn tiếp tục làm áp lực các quốc gia Đông Nam Á xóa bỏ các vết tích của đồng bào tị nạn Việt Nam, thì cộng sản vẫn còn là cộng sản với đầy đủ các bản chất gian ác xảo quyệt và các âm mưu thâm độc dã man tinh vi của nó. Phải vạch trần bộ mặt thật của chúng ra để mở mắt cho bọn ăn cơm thế giới tự do, nuôi cho chúng ăn học, tạo cơ hội thành đạt cho chúng để thờ ma Cộng sản.
![]()
Tem hình Luật Sư Lê Thị Công Nhân, người tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam.

Tem hình đồng bào đang vượt biển bằng ghe đánh cá để tỵ nạn Cộng sản.

Tem hình Linh mục Nguyễn Văn Lý, nhà tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam.
12/09/09. 09:40:02 am. 1517 words, 343 views. Categories: Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Thông báo, Liên kết blogs, Xã hội và nhân văn, Vòng quanh thế giới ,
DIỄN ĐÀN [TY NAN VIET NAM] RA MẮT ĐỒNG HƯƠNG KHẮP NƠI

Bia tưởng niệm thuyền nhân tại Galang, Indonesia bị Việt cộng áp lực nhà cầm quyền Nam Dương phá hủy, hòng xóa bỏ tội ác diệt chủng, chống lại nhân loại do chúng gây nên. Tiếc thay bọn trí thức mù lòa và bạc nhược không thấy được bản chất gian trá độc ác của cộng sản, hãy còn mơ mộng hòa hợp hòa giải với chúng!!! Thật là đáng xấu hổ vô cùng!!!
Diễn đàn [TY NAN VIET NAM] ra mắt đồng hương khắp nơi
Kính thưa quý đồng hương
Sau trên hai tháng thử nghiệm tạm gọi là thành công, diễn đàn [TY NAN VIET NAM] (TNVN) hân hạnh ra mắt đồng hương năm châu tại hải ngoại và trong nước.
Với số lượng trên 5.000 thành viên, diễn đàn TNVN là một diễn đàn có tầm cỡ trung bình, so với một số diễn đàn đàn anh khác có số lượng từ 10 đến 50 ngàn người tham gia.
Được sanh sau đẻ muộn và được ra đời trong bối cảnh những ngày bước vào năm 2010, diễn đàn TNVN mang những ý nghĩa và đặc điểm với các chi tiết như sau:
A- Sáng lập viên:
Trần Đông, (email: trandong.vktn@ yahoo.com) 60 tuổi, tốt nghiệp Master of Science Đại học VU (Victoria, Australia) năm 1990, hiện là công chức chính phủ Úc, đồng thời cũng là Sáng lập viên và là Giám đốc tổ chức thiện nguyện Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam (www.vktnvn.com) được thành lập từ năm 2005 đến nay.
B- Mục tiêu phục vụ:
Diễn đàn TNVN là cánh tay phải trợ lực cho tổ chức VKTNVN để chuyển thông tin của tổ chức đến các diễn đàn thân hữu và quý đồng hương mọi nơi với hoài bão:
1- Vai trò thu thập dữ kiện về Thuyền nhân Việt Nam: Diễn đàn TNVN thông báo, phổ biến để giúp thu thập tin tức - tài liệu (báo chí, bài vỡ, hình, phim, truyện kể, ...), di vật , v.v... liên quan đến biến cố tỵ nạn Việt Nam để chuyển vào hệ thống Văn khố quốc gia hay quốc tế làm di sản cho các thế hệ mai sau. 35 năm đã qua, chúng ta đã để mất rất nhiều tài liệu. Rất nhiều nhân chứng đã vĩnh viễn ra đi. Chúng ta không thể để những vốn quý giá này tiếp tục mai một. Với tư cách là những chứng nhân lịch sử, chúng ta có nhiệm vụ thiêng liêng đối với tổ quốc là phải gìn giữ những sự thật lịch sử này làm di sản ngàn năm cho con cháu của chúng ta mai sau. Chúng ta đã mất đi tài liệu cuộc vượt biên lần thứ nhất vào thế kỷ thứ 13 đời nhà Trần (triều thất nhà Lý đã vượt biển đến Cao Ly tỵ nạn). Chúng ta đã mất đi rất nhiều tài liệu về cuộc vượt biển lần thứ hai vào năm 1954 khi một triệu người Miền Bắc trốn chạy thiên đường Cộng sản để vào Nam bằng hai bàn tay không lập nghiệp. Giữa thời đại tin học và viễn thông toàn cầu ngày hôm nay, chúng ta quyết không để mất một mảnh tài liệu nào trong cuộc vượt thoát vĩ đại kéo dài một phần tư thế kỷ với hơn nửa triệu người trải thân lót đường ngõ hầu hai triệu người khác (tỵ nạn, đoàn tụ gia đình, bảo lãnh nhân đạo, ...) được đặt chân lên bến bờ tự do an cư lạc nghiệp.
2- Vai trò cầu nối: Diễn đàn TNVN sẽ là cầu nối để đại gia đình chúng ta tìm biết nhau, nhắc lại chuyện xưa, an ủi tuổi già, đồng thời chia xẻ những tin tức liên quan đến các sinh hoạt bảo vệ di tích tỵ nạn còn rải rác các nơi trên thế giới (Bidong, Galang, Palawan, Bataan, v.v...). Một ngày nào đó khi đổi đời, con cháu chúng ta sẽ xây dựng những nơi chốn thiêng liêng này một cách hoành tráng tạo thành những di tích để đời cho hậu thế.
3- Chia xẻ thông tin: Diễn đàn TNVN sẽ gửi đến các thành viên trong đại gia đình năm châu những tin tức, những bài viết chọn lọc của các học giả, chuyên viên trong cộng đồng Việt Nam trong và ngoài nước, hy vọng những bài viết này sẽ chuyển tải những tư tưởng mới về tự do, dân chủ, về dân quyền và nhân quyền, về bảo toàn lãnh thổ, những mong tổ quốc yêu dấu của chúng ta sẽ thoát ách bị trị của giai cấp phong kiến độc tài và nhà nước thái thú chủ nô kiểu mới, đặc biệt là tổ quốc chúng ta cần được cứu tức thời ngõ hầu có thể thoát cảnh nô lệ 1.000 năm bắc thuộc lần thứ hai.
Trong vai trò và sứ mệnh đó, tổ chức Văn Khố Thuyền Nhân Việt nam là một tổ chức từ thiện, bất vụ lợi, các hoạt động VKTNVN mang tính xã hội, lịch sử, nhân văn. VKTNVN không hoạt động chính trị, tuy nhiên VKTNVN cũng như tất cả các hội đoàn và tất cả các cá nhân khác trong thế giới tự do, sử dụng quyền tự do ngôn luận của mình để phát biểu lập trường quan điểm, được truyền bá những tư tưởng tiến bộ đối với một sự kiện có ảnh hưởng đến đời sống xã hội, gia đình và sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước đang cư ngụ cũng như đối với tổ quốc Việt Nam, ngõ hầu có thể góp phần thăng tiến hóa đời sống xã hội, gia đình và sự toàn vẹn lãnh thổ của cả hai nơi này.
Việt Nam không thể tiếp tục mất biên giới, không thể tiếp tục mất cao nguyên, mất thềm lục địa. Việt Nam không thể bị nạn ngàn năm nô lệ giặc Tàu lần thứ hai. Việt Nam cần ít nhất là bằng hoặc tốt hơn về phương diện tự do dân chủ và phúc lợi xã hội như y tế và giáo dục, và giữ vững vai trò Con Rồng Đông Năm Á, Sài Gòn tiếp tục là Hòn Ngọc Viễn Đông,... như tại Miền Nam Việt Nam trước năm 1975.
Với những mục tiêu trọng tâm vừa nêu, một mình tổ chức VKTNVN, một mình diễn đàn TNVN, một mình bà con Việt Nam Bắc Mỹ, hay Liên Âu, hay Úc Đại Đại Lợi, hay chỉ riêng Việt Nam, đều không tài nào có thể hoàn thành sứ mạng một cách vẽ vang. Chúng ta cần đoàn kết. Chúng ta cần tương trợ. Chúng ta cần giúp nhau.
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây dụm lại nên hòn núi cao
Trong tình nghĩa đồng bào, với thành tâm và thiện chí của một thuyền nhân tỵ nạn gian nan trên 10 năm mới đến được bến bờ tự do, chúng tôi đã âm thầm làm việc từ 5 năm nay, và sẽ còn tiếp tục dấn thân, rất mong nhận được những giúp đỡ tích cực của đồng hương năm châu ngõ hầu tất cả chúng ta đều có thể hảnh diện vì mình đã hoàn tất trong vinh quang vai trò chứng nhân lịch sử.
Melbourne ngày 01 tháng 12 năm 2009
TRẦN ĐÔNG
+61 403 578 467
email: trandong.vktn@ yahoo.com
NHỮNG HOẠT ĐỘNG 4 NĂM QUA (2005 – 2009) của tổ chức VĂN KHỐ THUYỀN NHÂN VIỆT NAM
Những công tác quan trọng mà tổ chức VĂN KHỐ THUYỀN NHÂN VIỆT NAM đã thực hiện trong 4 năm qua:
1- Tổ chức 7 chuyến đưa gần 500 người về thăm viếng các di tích tỵ nạn tại Malaysia, Indonesia, Thái lan, Philippines.

2- Dựng 2 bia tưởng niệm thuyền nhân tại Bidong (21-3-2005) và Galang (24-3-2005). Hai bia tưởng niệm này bị Hà Nội áp lực triệt hạ đã khiến dậy lên niềm cảm hứng xây dựng bia tưởng niệm thuyền nhân ở nhiều nơi trên thế giới.
3- Thu thập hàng ngàn hình ảnh, tài liệu khác nhau liên quan đến sinh hoạt tỵ nạn tại Malaysia, Hongkong, Philippines, Indonesia. Dù vậy, hiện chúng tôi hiện vẫn chưa có tài liệu nào trong tay về sinh hoạt tỵ nạn tại Thái lan, và có rất ít tài liệu liên quan đến tỵ nạn Việt Nam tại Hongkong, Philippines, Indonesia. Chúng tôi vẫn còn phải nỗ lực và cần sự giúp đỡ nhiều hơn nữa của quý đồng hương năm châu trong công tác sưu tập này.
4- Trùng tu hàng trăm ngôi mộ cá nhân và tập thể trong đất liền Malaysia năm 2007. Hiện còn phải trùng tu mộ phần thuyền nhân tại đảo Bidong, đào Galang, trại Bataan và các ngôi mộ lẻ rải rác trong khu vực quần đảo Anambas và Natuna (Indonesia).
5- Tổ chức hàng chục cuộc triển lãm hình ảnh thuyền nhân tại Úc. Rút kinh nghiệm những cuộc triển lãm này để cải tiến kỹ thuật, từ năm 2010 VKTNVN sẽ thực hiện những cuộc triển lãm lưu động tại Châu Âu và Bắc Mỹ.
6- Sẽ cải tiến kỹ thuật để biến đổi web site hiện tại (www.vktnvn.com) thành một E-Museum (Bảo tàng viện điện toán)
7- Đã thăm viếng và có thảo luận những bước khởi đầu để kết hợp với các tổ chức bạn có cùng chức năng như Bảo tàng viện VNCH tại San Jose, Bảo Tàng viện Thuyền nhân tại Ottawa, v.v... để tự lực thực hiện Bảo Tàng Viện cố định và tiến tới hỗ trợ những nơi này để chưng bày hình ảnh, di vật tỵ nạn Việt Nam một cách phong phú hơn.

NHỮNG DỰ ÁN TƯƠNG LAI:
1- Xúc tiến mạnh hơn công tác sưu tập tài liệu và dữ kiện về biến cố tỵ nạn Việt Nam, kể cảcông tác Oral History tại nhiều nơi trên thế giới.
2- Xúc tiến công tác Bảo tàng viện như: Bảo tàng viện trên mạng Internet (E-Museum), Bảo tàng viện cố định (dưới hình thức phòng triển lãm cố định) và những đợt Triển lãm lưu động tại nhiều nơi trênt thế giới.
3- Đẩy mạnh các đợt Về Bến Tự Do, thăm viếng di tích tỵ nạn. Đẩy mạnh công tác bảo trì di tích tỵ nạn, trọng tâm là bảo trì mồ mả thuyền nhân tại Bidong, Galang, quần đảo Anambas, quần đảo Natuna, và tại Bataan.
4- Phát động và đẩy mạnh phong trào Đền Ơn Đáp Nghĩa.
5- Tổ chức các buổi họp mặt thuyền nhân ở nhiều nơi.
6- Kêu gọi và hỗ trợ mọi nơi thực hiện Đài Tri Ân và Tưởng niệm (Vietnamese Boat People Monument of Gratitude and Commemoration).
CÔNG TÁC NĂM 2010
Kỷ niệm 35 năm định cư hải ngoại vào năm 2010, VKTNVN sẽ thực hiện:

Bản đồ vùng Nam biển Đông, quần đảo Anambas và Natuna, nơi có khoảng 2.000 thuyền nhân bỏ xác trên đảo vì bệnh sốt rét cấp tính, đồng thời cũng là khu giáp tuyến của Việt Nam, Malaysia và Nam dương và là khu cuối của vùng lưỡi bò Trung Quốc. Khu vực này nằm giữa nam biển đông, cũng là khu vực có rất nhiều tàu thuyền tử nạn vì sóng gió và lênh đênh vì hư máy. Phải mất gần 4 năm VKTNVN mới tìm được đường đưa một nhóm 22 người về khu vực này thăm di tích Kuku và Air Raya lần đầu vào tháng 4 năm 2009. Xem chi tiết và hình ảnh chuyến đi này ...
- Chuyến về thăm Bidong, Galang và di tích thuyền nhân vùng giữa biển Đông, khu vực quần đảo Anambas và Natuna (gồm các trại nổi tiếng ngày xưa như Kuku, Air Raya, ...) từ ngày 26-3-2010 đ1ên hết ngày 11-4-2010, gồm 2 chặng đường: Bidong (từ 26-3-2010 đến 2-4-2010) và Kuku Galang (từ 31-3-2010 đến 11-4-2010) thích hợp cho các đồng hương không thể đi từ 26-3 đến 11-4. Nhân chuyến này, Ban Tổ chức sẽ thực hiện buổi Cầu nguyện - Cầu siêu chính thức lần đầu tiên cho vong linh thuyền nhân khu vực này và khu vực giữa biển Đông. Xin xem thêm chi tiết tại www.vktnvn.com.
- Chuyến thăm Bidong và Galang dành riêng cho Sinh viên Học sinh được tổ chức lần đầu. Chuyến đi bắt đầu từ Thứ bảy 26-6-2010 đến 5-7-2010. Học sinh dưới 15 tuổi cần có Cha Mẹ hay người bảo hộ đi kèm. Xin xem thêm chi tiết tại www.vktnvn.com.
- Trùng tu mộ tập thể thuyền nhân tại Cherang Ruku: Ngôi mộ tập thể mai táng 123 thuyền nhân tại Cherang Ruku và một ngôi mộ khác tại Balai Bachok mai táng 46 thuyền nhân Việt Nam tọa lạc tại miền nam tiểu bang Kelantan (Malaysia). Sau khi phối kiểm nhiều nguồn tin, chúng tôi có thể đoan chắc đây là hai ngôi mộ của khoảng 170 thuyền nhân trên tàu MT065 bị chìm vào cuối năm 1978, cách bờ chỉ vài trăm thước nhưng biên phòng Malaysia không cho cặp bến vì chính sách Push-back (đẩy tàu thuyền ra biển) của Malaysia và Thailand. Công trình trùng tu trị giá khoảng 30.000 Mỹ kim để làm hàng rào vách mộ, nhà mồ và trùng tu một nhà nguyện trong tinh thần Đền Ơn Đáp Nghĩa người địa phương đã âm thầm cưu mang và chăm sóc hai nghĩa trang trong hơn 30 năm. VKTNVN cần sự giúp đỡ tài chánh của quý đồng hương mọi nơi, nhất là thân nhân của những nạn nhân tàu MT065.

Ngôi mộ tập thể 123 thuyền nhân được mai táng tại Cherang Ruku. 5 tấm bia sẽ được dời ra trước, hàng rào sắt chung quanh để bao bọc. Nhà mồ dựng phía trước để che mưa nắng cho người đến cầu nguyện. Đồng thời một nhà nguyện kiên cố sẽ được thực hiện thay thế nhà nguyện bằng tole và gỗ mau hư hoại, đây là công trình Đền Ơn Đáp Nghĩa để đền trả chút công ơn 35 năm chăm sóc mộ phần thuyền nhân trong âm thầm lặng lẽ của người dân địa phương.

Ngôi mộ tập thể mai táng 46 thuyền nhân Việt Nam. Ngôi mộ được thực hiện 3 ngày sau ngôi mộ trên. Người địa phương không ghi nhận có tàu nào bị chìm trong khu vực. Cộng hai con số 123 của Cherang Ruku và 46 của Balai Bachok chúng ta có tổng số 169, con số người tử nạn của tàu MT065 chìm tại Cherang Ruku vào cuối tháng 12-1978.
- Triển lãm hình ảnh và thuyết trình về Thuyền nhân:
+ Tại Houston: ngày 18-4-2010.
+ Tại Quận Cam, California: từ 11g trưa ngày chủ nhật 25-4-2010, tại Westminster Community Center, 8200 Westminster Blvd, Westminster, CA 92683.
+ Tại Perth (Úc): từ ngày 29-5-2010 đến 22-6-2010.
+ Tại Sydney, Melbourne, Adelaide, Hambourg: sẽ được thông báo sau.

Đoàn 22 người đổ bộ lên Kuku, 12-4-2009.

Đoàn 22 người đi tìm mộ thuyền nhân tại Kuku.

1- Mộ của Maria Bùi Thị Thu Kiều tìm thấy ngày 12-4-2009
2- Mộ Phero Vũ Tấn Trung tìm thấy ngày 12-4-2009

3- Mộ Cecile Hoàng Thu Minh tìm thấy ngày 12-4-2009

4- Mộ Quách Thị Mai tìm thấy ngày 12-4-2009

5- Mộ Nguyễn Kim Oanh tìm thấy ngày 12-4-2009

6- Ngôi mộ bà Trịnh Đinh Hàng, mẹ của David Lee tại Georgia. David lặn lội ngàn cây số tìm mộ của mẹ, bà qua đời năm David 6 tuổi. Đây là chuyến về thăm mẹ lần đầu tiên.

7- Một ngôi mộ không tìm thấy tên họ ngưòi quá cố và những gộp đá đánh dấu ngôi mộ "nhà nghèo".

8- Một ngôi mộ không tìm thấy tên họ ngưòi quá cố. Gộp đá đánh dấu một ngôi mộ thuyền nhân. Còn nhiều gộp đá khác được tìm thấy tại Kuku và tại Bataan (Philippines)

9- Một ngôi mộ không tìm thấy tên họ ngưòi quá cố. Gộp đá đánh dấu một ngôi mộ thuyền nhân. Còn nhiều gộp đá khác được tìm thấy tại Kuku và tại Bataan (Philippines) .

10- Một ngôi mộ không tìm thấy tên họ ngưòi quá cố. Tấm bia lớn nhưng không còn thấy chi tiết nào.

11- Những gộp đá đánh dấu ngôi mộ "nghèo".

12- Gộp đá đánh dấu một ngôi mộ khác.

13- Và đây cũng là một ngôi mộ.

14- Một ngôi mộ người Hoa.

15- Một ngôi mộ người Hoa khác nữa.

16- Thêm một ngôi mộ đánh dấu bằng đá.

17- Và một ngôi mộ người Hoa khác.

18- Một ngôi mộ bị lãng quên tại Kuku.
19- Dưới đây là một loạt hàng chục ngôi mộ được đánh dấu bằng các gộp đá được tìm thấy tại Kuku.






Chị Cecile Hoàng Thu Minh, người yêu mới cưới của anh Triệu, tại Melbourne, mang thai và qua đời vì sốt rét tại Kuku. Ấp ủ tâm sự nhớ người vợ đầu đời, anh Triệu quyết tìm về Kuku lấy hài cốt chị Thu Minh mang về quê nhà. Anh đã toại nguyện. Hoàn thành tâm nguyện 30 năm của anh và gia đình.
12/08/09. 09:09:11 am. 4250 words, 453 views. Categories: Không ðề, Khảo cổ và nhân chủng, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Tin tức ðó ðây, Thông báo, Hậu trường, Liên kết blogs, Lịch sử và ðịa dư Việt Nam, Ôn cố nhi tri tân, Xã hội và nhân văn ,
BÓNG HÌNH FULRO 1975 - 2004 - CUỘC NỔI DẬY CỦA DÂN TỘC TÂY NGUYÊN Ở MIỀN TRUNG VIỆT NAM VÀO THÁNG 2 NĂM 2001

Tháp Poklong Garai tại Tháp Chàm, Ninh Thuận
"Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh"
Ông tổ cộng sản, Karl Marx
LỜI GIỚI THIỆU:
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu đến quý vị và các bạn hai bài viết về đề tài FULRO và các dân tộc Tây nguyên:
- Bài thứ nhất: BÓNG HÌNH FULRO 1975 - 2004 của Dominique Nguyen trong Chương trình thế giới Mã Lai-Ðông Dương.
- Bài thứ hai: CUỘC NỔI DẬY CỦA DÂN TỘC TÂY NGUYÊN Ở MIỀN TRUNG VIỆT NAM VÀO THÁNG 2 NĂM 2001 của Giáo sư TS. Nguyễn Văn Huy thuộc Ðại Học Paris VII.
Nhận xét một cách thành thật và vô tư, ít có người Kinh nào có được những quan điểm rộng rãi chấp nhận cuộc sống chung bình đẳng và tôn trọng đồng bào thiểu số như tôn trọng chính người Kinh. Những tư tưởng bá quyền kiêu căng tự thị theo kiểu Tàu đã ăn sâu vào tâm thức nhiều người Kinh cho nên từ đó đã mang đến những danh xưng miệt thị các dân tộc khác mà mình cho là thấp hèn hơn mình và đối đãi với họ một cách rất kỳ thị và bất công.
Cộng sản là những con người mang bản chất tàn ác, độc tài, độc đoán, tự tôn và cao ngạo. Sau khi xâm chiếm miền Nam Việt Nam, tập đoàn cộng sản Hà Nội thi hành một chính sách trả thù, phân biệt đối xử với ngay chính những người Kinh mà họ chụp cho cái mũ là Mỹ Ngụy, vì họ biết rất rõ rằng những người ấy tài giỏi hơn họ nhưng không cam tâm làm nô lệ cho chủ nghĩa cộng sản quốc tế, phản lại truyền thống lễ nghĩa cao đẹp của dân tộc. Cộng sản thi hành một chính sách di dân Bắc hóa, chúng đưa dân miền Bắc vào chiếm đoạt đất đai, tài sản của đồng bào miền Nam, xua đẩy nhân dân miền Nam vào các khu Kinh Tế Mới để đày đọa, và cầm tù nhiều triệu quân dân cán chính miền Nam Việt Nam, khiến miền Nam đã biến thành một nhà tù khổng lồ, mà cai tù là những tên thái thú cộng sản tàn ác và tham lam vô độ. Chúng cướp đoạt tất cả mọi thứ thuộc về nhân dân miền Nam, chỉ cần gắn cho họ cái nhãn hiệu phản động theo Mỹ Ngụy, tống tất cả vào tù là xong chuyện.
Ngay đến người Kinh tài giỏi hơn họ mà bọn cộng sản còn đối xử miệt thị và tàn nhẫn như vậy, huống hồ chi đối với đồng bào thiểu số thì sự phân biệt đối xử còn tệ hại hơn nhiều. Cộng sản đưa dân miền Bắc vào chiếm các vùng đất đai trù phú của đồng bào thiểu số, đẩy họ vào rừng sâu, nơi khô cằn sỏi đá, để họ chết dần chết mòn vì đói lạnh, bệnh tật không thuốc chữa. Cái gọi là chính sách dân tộc mà cộng sản rêu rao thực ra chỉ là thủ đoạn nuôi dưỡng một đám tay sai người thiểu số, ban cho họ đặc quyền đặc lợi để tự họ chống lại dân tộc của mình.
Sức cam chịu của con người luôn có giới hạn, cho nên đứng trước một chọn lựa duy nhất là vùng lên đấu tranh hay là chết trong ô nhục, những ai còn có chút lương tri và khí phách làm người đều phải chọn con đường đấu tranh, may ra thành công thì mới duy trì được sự sống còn. Đó chính là cái lý lẽ đơn giản mà đồng bào thiểu số phải chọn để mong được tồn tại. Ngày nào mà đồng bào thiểu số còn hơi thở, và ngày nào mà họ còn bị đối xử dã man, áp bức và bất công, ngày đó họ sẽ còn tiếp tục đấu tranh, và thế giới loài người văn minh sẽ không bỏ rơi họ trong cuộc chiến sống còn, bảo vệ lương tâm và phẩm giá làm người.
Mọi người sinh ra là bình đẳng trước mặt thượng đế. Đức Phật dạy rằng muôn loài chúng sinh là bình đẳng và có Phật tính như nhau. Nếu chúng ta là người quốc gia chân chính biết yêu nước thương dân, chúng ta phải có lòng thương yêu đồng bào của chúng ta, bất luận là ai đi nữa và theo chủ nghĩa nào đi nữa, mọi người đều cùng sống chung trong căn nhà Việt Nam và cần phải được tôn trọng như nhau, được hưởng mọi quyền lợi và cơ hội thăng tiến đồng đều. Chỉ có tình yêu thương mới xóa bỏ được oán thù và làm cho tất cả mọi người khẩu phục tâm phục, quốc gia khi ấy ắt phải thái bình, dân cư an lạc. Đó là cái chính sách đúng đắn mà tất cả mọi nhà cầm quyền trên thế giới này đều phải đi theo để trị nước và thực hiện hòa hợp hòa giải dân tộc.
Tự cổ chí kim, tất cả mọi nhà cầm quyền đều phạm phải lỗi lầm không ít thì nhiều, tuy nhiên muốn hoàn thiện chính quyền và mang lại lợi ích cho tổ quốc và dân tộc, các nhà cầm quyền phải biết thành thật nhận lỗi, sửa sai, và can đảm gánh chịu tránh nhiệm trước lịch sử. Những kẻ có tâm địa hẹp hòi, tham lam, kiêu căng và tàn ác, thì dù họ có tài năng cách mấy cũng không thể tham dự vào công việc trị nước được, huống hồ chi là những kẻ bất tài vô đức mà cầm quyền, chỉ mang lại thảm họa cho đất nước. Ngày nào mà bọn này còn cầm quyền và cỡi đầu cỡi cổ nhân dân thì ngày đó chúng ta còn phải tranh đấu cho đến cùng để tống khứ chúng, những con đỉa ngoan cố hút máu nhân dân.
Diễn Đàn Ái Hữu Ninh Thuận
Quý vị và các bạn cũng có thể theo link dưới đây để xem các tài liệu của CIA đã giải mật có liên quan đến FULRO và một số đề tài khác trong chiến tranh Việt Nam.
http://library2.usask.ca/vietnam/index.php?state=browse&descriptor=FULRO

Thiếu nữ Chăm trong đám cưới

Nhà thờ Degar đầu tiên xây dựng tại Buôn Ale “A”, Ban-Mê-Thuột, đã bị nhà cầm quyền cộng sản phá hủy vào ngày 13 tháng 3 năm 2009.

Em H’Liana, 15 tuổi, là sinh viên Degar trẻ tuổi nhất theo học tại đại học Winthrop, South Carolina.
BÓNG HÌNH FULRO 1975 - 2004
Source: Champaka
Tác giả: Dominique Nguyen
(Chương trình thế giới Mã Lai-Ðông Dương)
Fulro là cụm từ viết tắt của Front Unifié de Lutte des Races Opprimées (Mặt Trận Thống Nhất Ðấu Tranh Các Dân Tộc Bị Áp Bức). Ðây là một tổ chức liên hiệp gồm ba mặt trận:
- Mặt Trận Giải Phóng Kampuchia Krom (lãnh thổ Cao Miên từ Sài Gòn đến Cà Mau).
- Mặt Trận Giải Phóng Kampuchia Bắc (lãnh thổ Cao Miên ở khu vực Champasak, nước Lào).
- Mặt Trận Giải Phóng Champa, sau này thành Mặt Trận Giải Phóng Cao Nguyên Champa.
Một khi nói đến Fulro, người ta thường nói đến Mặt Trận Giải Phóng Cao Nguyên Champa, một tổ chức đã từng làm náo động bàn cờ chính trị ở Ðông Dương từ năm 1964 đến năm 1975. Ðây là một lực lượng vũ trang do Y Bham Enuôl (Radé) và trung tá Les Kosem (Chăm Cao Miên) lãnh đạo, có sự bảo trợ của chính phủ Kampuchia, nhất là Thủ Tướng Lon Nol. Mặt Trận Giải Phóng Cao Nguyên Champa-Fulro đặt hậu cứ quân sự của mình tại tỉnh Mondulkiri, Cao Miên (1).
Sau 10 năm đấu tranh vũ trang với mục tiêu nhằm biến Tây Nguyên Champa thành khu vực tự trị, lực lượng Fulro đã trở thành đối tượng thù địch của quân Khmer Ðỏ, khi lực lượng này chiếm thủ đô Nam Vang vào ngày 17 tháng 4 năm 1975. Ngoại trừ trung tá Les Kosem được may mắn thoát thân ra nước ngoài, tất cả cấp lãnh đạo Fulro được lệnh lui về sứ quán Pháp để xin tị nạn. Ngày 20 tháng 4 năm 1975, Khmer Ðỏ bất chấp quy chế ngoại giao, ra lệnh xâm nhập vào sứ quán Pháp để truy nã và lùng bắt tất cả các cấp lãnh đạo Fulro, trong đó có Y Bham Enuôl, thiếu tá Y Bun Sur, Y Nham, Kpa Dơh, Ksor Duôt, v.v. Sau đó, Khmer Ðỏ đưa họ ra khỏi sứ quán Pháp và ra lệnh tử hình toàn diện nhóm lãnh đạo của mặt trận này. Ngày 20 tháng 4 năm 1975 là ngày đánh dấu cho sự sụp đổ hoàn toàn của tổ chức Fulro (2).
Ðứng trên phương diện lịch sử mà nói, sau khi Khmer Ðỏ làm chủ tình hình Cao Miên vào ngày 17 tháng 4 năm 1975 và Cộng Sản chiếm miền Nam Việt Nam vào ngày 29 tháng 4 năm 1975, Fulro không còn hiện hữu trên mặt pháp lý nữa. Nhưng trên thực tế, vấn đề Fulro vẫn còn tồn tại qua nhiều hình thức và nẩy nở trong nhiều môi trường hoàn toàn khác nhau. Vì không tìm ra một cụm từ chính xác để định nghĩa cho sự tồn tại này, chúng tôi tạm gọi đó là “Bóng hình Fulro” sau năm 1975.
Trong bài tiểu luận này, chúng tôi chỉ đưa ra những tin tức liên quan đến biến cố dù trực tiếp hay gián tiếp đến “Bóng hình Fulro” ở trong và ngoài nước do các báo chí hay tập san đã đăng tải. Ðể tiện cho độc giả theo dõi tình hình nhanh chóng hơn, chúng tôi xin trình bày “Bóng hình Fulro” theo thời gian tuần tự.
Ai cũng biết, Bóng hình Fulro” là một lịch sử hiện đại. Chính vì thế, nhiều tin tức được đăng tải liên quan đến biến cố này thường hay chứa đựng nhiều sự mâu thuẫn và đôi lúc còn mang một ẩn ý chính trị nhằm bảo vệ cho phe phái hay quan điểm chính trị của mỗi tác giả. Chúng tôi xin đưa ra đây một thí dụ điển hình. Cùng một biến cố đã xảy ra liên quan đến Bóng hình Fulro”, tin tức do chính quyền Hà Nội cung cấp hoàn toàn đi ngược lại với những gì mà độc giả tìm thấy trong báo chí xuất bản ở hải ngoại. Ðây là một vấn đề vô cùng nan giải mà các nhà khoa học thường gặp phải một khi bước vào đề tài nghiên cứu những biến cố chính trị đã xảy ra ở các nước Ðông Dương hôm nay (3).
Biến cố năm 1975
Ngày 29 tháng 4 năm 1975, miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản. Chính quyền Hà Nội bắt đầu truy nã và lùng bắt tất cả trí thức người gốc Tây Nguyên và Chăm phục vụ trong chính phủ Sài Gòn để đưa họ vào trại cải tạo. Sau đó, Hà Nội biến khu vực Tây Nguyên và đồng bằng Phan Rang, Phan Rí thành những vùng kinh tế mới và đưa hàng triệu người Kinh sang lập nghiệp ở khu vực này (4).
Trong lộ trình giải phóng miền Nam, cũng nhờ sự yểm trợ của nhóm Fulro do Kpa Koi (Radé) lãnh đạo, Việt Cộng chiếm được thành phố Buôn Mê Thuột vào ngày 10 tháng 3 năm 1975. Một khi đã làm chủ tình hình khu vực Tây Nguyên, Cộng Sản lại bắt đầu tình nghi các trí thức gốc người sắc tộc phục vụ trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có nhóm Fulro Kpa Koi. Ngay những người gốc Tây Nguyên đi tập kết như ông Y Bloc Eban, Y Bih Aleo .v.v... và cũng là thành viên của Mặt Trận Tây Nguyên Tự Trị mà Cộng Sản đã từng quảng cáo từ mấy năm qua, cũng không có một quyền hành gì trong Ðảng và Nhà Nước. Sau ngày giải phóng, quy chế Tây Nguyên Tự Trị cũng bị Hà Nội chôn vùi theo thời gian, không còn ai dám nhắc đến tổ chức này, ngay cả ông Y Bih Aleo là chủ tịch của Mặt Trận Tây Nguyên Tự Trị (5).
Một khi nhận diện họ chỉ là con cờ của Cộng Sản và một ngày nào đó, họ cũng bị truy nã bởi Cộng Sản, nhóm Fulro của Kpa Koi quyết định ly khai với chính quyền Hà Nội. Vào tháng 7 năm 1975, Fulro của Kpa Koi rút quân về chiến khu nhằm tiếp tục đấu tranh chống lại chính quyền Cộng Sản (6). Cùng trong thời điểm, nhóm Fulro do Jaya Mrang (tức là Huỳnh Ngọc Sắn) lãnh đạo cũng đứng ra kích động người người Chăm vùng dậy ở khu vực Phan Rang, Phan Rí. Chỉ vài tháng sau, lực lượng Fulro của Jaya Mrang cũng bị tan rã vì không có phương tiện để tiếp tục hoạt động (7)
Biến cố năm 1976
Bước vào năm 1976, đài phát thanh Hà Nội lần đầu tiên loan tin vào ngày 10 tháng 6 năm 1976 cho rằng có lực lượng phản động vẫn còn hoành hành trong một số khu vực ở Tây Nguyên và yêu cầu dân chúng phải cẩn thận với nhóm phản động này. Lực lượng phản động này tự gọi mình là mặt trận Fulro do Kpa Koi (gốc Jarai) lãnh đạo. Ðây là sự xuất hiện đầu tiên của “Bóng hình Fulro” sau ngày giải phóng miền Nam (8).
Cũng vào tháng 6 năm 1976, cơ quan Liên Hiệp Quốc thông báo rằng chính phủ Hà Nội quyết định đưa 8 triệu người Kinh đến khu vực Tây Nguyên, Phan Rang-Phan Rí, để thành lập vùng kinh tế mới, chiếm đất đai dân tộc thiểu số để định cư. Sự hiện diện quá đông đảo người Kinh đã làm đảo lộn hoàn toàn địa bàn dân cư ở khu vực này. Chính sách bao vây kinh tế đã đưa dân tộc thiểu số ở miền Trung vào con đường nghèo đói thê thảm, vì thiếu đất đai để canh tác (9).
Biến cố năm 1979
Ngày 2 tháng 7 năm 1976, hai miền Nam-Bắc Việt Nam được thống nhất. Các nhà nghiên cứu tưởng rằng sau ngày thống nhất ở Việt Nam, lực lượng đấu tranh dưới mô hình Fulro hoàn toàn bị dập tắt. Ðột nhiên, vào tháng 6 năm 1979, “Bóng hình Fulro” lại xuất hiện trên bàn cờ chính trị Ðông Dương. Chính ông Ieng Sary, một trong những lãnh tụ Khmer Ðỏ tuyên bố rằng có một tổ chức mang tên Fulro-Dega vẫn còn hiện hữu, và nhóm này đã góp phần đấu tranh đắc lực bên cạnh Khmer Ðỏ để chống lại quân xâm lược Việt Cộng. Lực lượng Fulro cũng thường trao đổi với Khmer Ðỏ về chiến dịch quân sự, tin tức tình báo và kinh nghiệm về du kích chiến. Theo ông Ieng Sary, lực lượng Fulro đã dẹp tan hơn 200 quân du kích Cộng Sản ở Tây Nguyên vào tháng 2 và 3 năm 1979. Tiếc rằng, ông Ieng Sary không cho biết ai là người lãnh đạo nhóm Fulro-Dega này (10).
Gần 8 tháng sau, tức là ngày 14 tháng 11 năm 1979, đài phát thanh Khmer Ðỏ loan tin rằng chính quyền Khmer Ðỏ có nhận bức thư của một nhân vật có tên đọc theo âm Khmer là ông Anâk N'Gram. Theo đài phát thanh này, Anâk N'Gram là một nhân vật gốc Chăm đã từng tham gia trong ngày vùng dậy của Fulro ở Buôn Sarpa vào năm 1964. Chủ tịch của mặt trận Fulro Dega-Chàm là ông Ndrang Hmuol và Anâk N'Gram là thủ tướng (11).
Biến cố năm 1980
Theo đài phát thanh Khmer Ðỏ loan tin vào ngày 23 tháng 1 năm 1980, chính phủ Khmer Ðỏ có nhận một văn thư khác của lực lượng Fulro-Dega, với nội dung là Cộng Sản đang áp dụng chính sách diệt chủng dân tộc thiểu số ở miền Trung Việt Nam. Thư này cũng cho biết rằng, kể từ năm 1975, Hà Nội đã đưa gần 150.000 dân tộc thiểu số vào ngục tù mà Cộng Sản gọi là trại cải tạo tư tưởng (12). Gần 9 tháng sau, tức vào ngày 18 tháng 10 năm 1980, tờ Washington Post viết rằng, Trung Quốc rất quan tâm đến sự yểm trợ súng đạn cho các dân tộc Tây Nguyên thuộc nhóm Fulro-Dega, nhằm phá tan quyền thống trị Hà Nội ở các nước Ðông Dương (13).
Biến cố năm 1982
Quay lưng với tổ quốc
Bước sang năm 1982, “Bóng hình Fulro” lại trở thành một thế lực thù địch nguy hiểm, mà Hà Nội đang tìm cách loại trừ ra khỏi ảnh hưởng của người Chăm và dân tộc Tây Nguyên. Ðể đập tan thế lực thù địch này, Ngôn Vĩnh, tên của một nhóm tình báo Hà Nội chuyên về vấn đề dân tộc Tây Nguyên và Chăm, ra đời một tác phẩm với nhan đề FULRO? do Nhà Xuất Bản Công An Nhân Dân năm 1982. Một năm sau, tác phẩm này lại tái bản với nhan đề FULRO: Tập đoàn tội phạm. Sau cùng, sách này được tái bản lần thứ ba vào năm 1995 với nhan đề khác đó là: FULRO do nhà Xuất Bản Văn Học ấn hành.
Ðây là một cốt truyện Fulro trình bày theo lối tiểu thuyết dựa trên lời tường thuật của bà Thuận Thị Trụ (tên trong tác phẩm là Thuận Thị Trúc) và ông Ya Duck.
Trước năm 1975, Thuận Thị Trụ (Chăm Phan Rang) là hạ sĩ quan của Lữ Ðoàn 5 Ðặc Biệt (5 B.I.S.) trong mặt trận Fulro. Bà ta là phu nhân của đại úy Yang Neh (Ðàng Năng Giáo, Chăm Phan Rang) được Fulro gởi sang Pháp du học. Tiếc rằng, vì vấn đế riêng tư trong gia đình của ông ta, Yang Neh đã tự tử ở Pháp vào năm 1972. Ngược lại, Ya Duck (Churu) là công cán viên của Văn Phòng Thường Trực Fulro (Délégation Spéciale et officielle, DSO-Fulro) ở Buôn Mê Thuột.
Ðiều mà chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây, đó là nhật ký liên quan đến các nhà lãnh đạo Fulro gốc Chăm đăng trong tác phẩm của Ngôn Vĩnh, hoàn toàn do Thuận Thị Trụ kể lại. Ðọc qua nhật ký này, độc giả có cảm giác rằng Thuận Thị Trụ là người “quay lưng với tổ quốc” thì đúng hơn. Vì trong tác phẩm này, Thuận Thị Trụ chỉ dàn dựng bao câu chuyện để bôi nhọ và tẩy chay Fulro hơn là những lời tường thuật thật sự về tổ chức này. Nhân vật đầu tiên mà bà ta nói đến là thiếu tướng Les Kosem, một nhân vật chủ chốt của Fulro. Theo Thuận Thị Trụ, thiếu tướng Les Kosem chỉ là kẻ háo danh tham vọng muốn làm lãnh tụ vương quốc Champa (tr. 5-11), một nhà chính trị đê tiện vô lương tâm, dám hiến cả vợ mình cho Quốc Trưởng Sihanouk mua vui để đổi chác quyền lực (tr. 7), một nhân vật tham nhũng kinh tài Fulro để làm giàu cho vợ con mình (tr. 47).
Hết kết tội thiếu tướng Les Kosem, Thuận Thị Trụ lại cung cấp cho Ngôn Vĩnh bao câu chuyện lằng nhằng về tình yêu giữa bà ta với Huỳnh Ngọc Sắn, thêu dệt cho nhóm Ngôn Vĩnh nghe bao cuộc tình éo le giữa bà ta với Yang Neh (tr. 12-16). Bà ta không ngần ngại vu khống cho linh mục G. Moussay, là một ông Cha đam mê tình dục vừa thương bà ta vừa yêu người đàn bà khác (tr. 203), một ông cha chỉ mượn danh Chúa để che đậy hành động ô uế bên trong (tr. 145). Bà ta tự nêu tên Nara Vija (Ngụy Văn Nhuận, Chăm Phan Rang), một thành viên Fulro rất trung trực, để làm nhân chứng cho vấn đề tự tử của chồng mình là Ðàng Năng Giáo, vì quá ghen với Cha G. Moussay (tr. 145), v.v...
Ðọc qua lời tường thuật vừa độc đáo, vừa ô uế này, độc giả có cảm giác rằng Thuận Thị Trụ cố tình dàn dựng câu chuyện hoàn toàn hư ảo, để bôi nhọ và tẩy chay mặt trận Fulro mà chính bà ta là một cán bộ. Vấn đề mà độc giả tự đặt câu hỏi ở đây, có chăng sự ra đời tác phẩm của Ngôn Vĩnh có thể trở thành một bích chương nhằm kích động người Chăm chống lại chính sách của Ðảng và Nhà Nước hơn là đưa người Chăm về gần gũi với Ðảng và Nhà Nước để chống lại tập đoàn Fulro. Vì tác phẩm của Ngôn Vĩnh được Ðảng và Nhà Nước cho phép xuất bản, nhưng nội dung của tác phẩm này chỉ là một văn chương chính trị để bôi nhọn hay chụp mũ những người Chăm hoàn toàn vô bằng chứng.
Riêng về nhật ký của Ya Duck, ông ta chỉ thuật lại những công tác Fulro, mà ông ta đã đảm nhiệm với tư cách là công cán của Văn Phòng Thường Trực Fulro (DSO-Fulro) ở Buôn Mê Thuột. Trong tác phẩm này, ông ta không ngần ngại đứng ra tố cáo hàng loạt các nhân vật lãnh đạo Fulro ở Tây Nguyên như Paul Nưr, Nay Luett, Y Blieng .v.v... với mục đích duy nhất là xin trở lại hợp tác với chính quyền Hà Nội.
Fulro dưới cặp mắt của tình báo quân đội Mỹ
Cũng vào năm 1982, Gerald C. Hickey, nhân viên của Rand Corporation ( cơ quan tình báo quân đội Mỹ ) xuất bản một tác phẩm cũng liên quan đến Fulro với nhan đề “Tự do trong núi rừng. Lịch sử của sắc dân ở Cao Nguyên Việt Nam, 1954-1976” (Free in the Forest. Ethnohistory of the Vietnamese Central Highlands 1954-1976).
Chủ yếu của tác phẩm đó là tác giả đi tìm những nguyên nhân sự vùng dậy của Fulro vào năm 1964. Ðây là một tác phẩm khoa học đầu tiên viết về Fulro. Trong tác phẩm này, G. C. Hickey chỉ dựa trên tài liệu do chính phủ Sài Gòn và CIA Mỹ cung cấp, để phác họa bối cảnh lịch sử đấu tranh của Fulro thời đó. Chính vì thế, nội dung của tác phẩm chỉ nói lên những quan điểm của chính phủ Sài Gòn và nhận định của Mỹ về vấn đề Fulro thì đúng hơn. Chính vì quá tin vào tư liệu của Sài Gòn và CIA Mỹ, tác giả đưa ra một số nhận định sai lầm về tổ chức Furlo. Theo tác giả, Fulro là một phong trào đấu tranh của người Thượng, đặt dưới sự lãnh đạo của Y Bham Enoul. Tiếc rằng Fulro không phải là phong trào của người Thượng, nhưng là một tổ chức liên hiệp gồm ba mặt trận:
- Mặt Trận Giải Phóng Kampuchia Krom.
- Mặt Trận Giải Phóng Kampuchia Bắc.
- Mặt Trận Giải Phóng Champa, sau này thành Mặt Trận Giải Phóng Cao Nguyên Champa.
Y Bham Enuôl là chủ tịch Mặt Trận Giải Phóng Cao Nguyên Champa, kiêm phó chủ tịch Fulro, chứ không phải là chủ tịch Fulro. Thêm vào đó, quyền lực của Fulro hoàn toàn nằm trong tay của thiếu tướng Les Kosem, chứ không phải nằm trong tay của Y Bham Enoul như G. C. Hickey đã nêu ra.
Biến cố năm 1983
Fulro là công cụ của CIA
Nối gót nhóm Ngôn Vĩnh, phóng viên nhà báo Thành Tín phát hành tại Việt Nam vào tháng 4-1983 một tài liệu khác liên quan đến “Bóng hình Fulro”, dưới nhan đề Ðập nát công cụ hậu chiến CIA: FULRO do Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh phát hành. Nội dung của tác phẩm chỉ nhằm quảng cáo những thắng lợi của lực lượng công an, cảnh sát Hà Nội đã có công dẹp tắc phong trào Fulro ở Tây Nguyên, mà phóng viên Thành Tín cho rằng là công cụ của CIA Mỹ.
Biến cố năm 1992
Fulro-Dega tiếp tục hoạt động ở biên giới Thái-Miên
Sau năm 1983, không còn ai nhắc đến “Bóng hình Fulro” nữa. Mãi đến năm 1992, vấn đề Fulro lại xuất hiện ở khu vực biên giới Thái-Miên. Theo phóng viên Nate Tahyer, lực lượng mang tên là Fulro-Dega là một tổ chức vũ trang đặt dưới quyền lãnh đạo của Ðại Tá Y Peng Ayun, vẫn tiếp tục liên hiệp với Khmer Ðỏ để chống lại quân xâm lăng Hà Nội. Sau 17 năm chống cộng, lực lượng của Ðại Tá Y Peng Ayun chỉ còn lại khoảng 2.000 người. Từ biên giới Thái -Miên, Ðại Tá Y Peng Ayun tuyên bố rằng, lực lượng Fulro-Dega sẽ tiếp tục đấu tranh cho tới khi nào Cộng Sản trao trả lại tự do cho dân tộc Tây Nguyên (14).
Biến cố năm 1994
Fulro-Dega sang Mỹ định cư
Năm 1994, Cộng Sản Việt Nam rút quân ra khỏi Cao Miên và Khmer Ðỏ cũng chấm dứt mọi hoạt động ở vương quốc này. Một chính phủ liên hiệp bắt đầu hình thành ở Cao Miên, dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc. Riêng về Fulro-Dega ở biên giới Thái-Miên, Ðại Tá Y Peng Ayun, lãnh đạo phong trào này tuyên bố rằng lực lượng của ông ta sẵn sàng chấm dứt mọi đấu tranh vũ trang, nếu Liên Hiệp Quốc đứng ra bảo trợ để cho những thành viên Fulro-Dega sang định cư ở Hoa Kỳ. Năm 1994, Liên Hiệp Quốc và Hoa kỳ chấp nhận yêu sách của Y Peng Ayun, đưa toàn bộ tàn quân Fulro-Dega sang định cư ở Mỹ (15).
Biến cố năm 1996
1996 là năm đánh dấu cho sự ra đời của “thế lực văn hóa” chống lại “Bóng hình Fulro”. Mục tiêu của thế lực mới này, là nhằm tẩy chay những nhân vật có liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với Fulro, đang nghiên cứu về văn hóa và lịch sử Champa ở nước ngoài. Biểu tượng cho “thế lực văn hóa” này là Inrasara.
Năm 1994, ông ta ra mắt một tác phẩm mang tựa đề Văn Học Chăm (16). Qua sự giới thiệu của Ts. Po Dharma, cựu thành viên Fulro, nhưng cũng là nhà nghiên cứu về lịch sử và nền văn minh Champa tại Pháp, tác phẩm Văn Học Chăm của Inrasara được bằng khen ngợi của Trung Tâm Lịch Sử và Nền Văn Minh Bán Ðảo Ðông Dương (CHCPI) thuộc đại học Sorbonne, Paris. Ðây là phần thưởng dành cho những ai không xuất thân từ viện nghiên cứu, có công trình lớn lao viết về lịch sử và nền văn minh Champa. Một khi đã nhận bằng khen ngợi, Inrasra công bố tin tức này trên báo chí ở Việt Nam (17).
Hai năm sau, tức là năm 1996, Inrasara ra mắt cuốn Văn Học Chăm II. Trên bìa sau của tác phẩm, tác giả cho rằng sách Văn Học Chăm của ông ta được giải thưởng của Viện Viễn Ðông Pháp (EFEO), chứ không phải của đại học Sorbonne. Ðây là công trình do Gs. Bùi Khánh Thế (người Kinh) sang Pháp để quảng cáo tác phẩm này. Ðại học Sorbonne có yêu cầu Inrasara đính chính lại sự sai lầm này, vì Viện Viễn Ðông Pháp không bao giờ cấp phần thưởng văn học cho ai cả. Tiếc rằng Inrasara chỉ trả lời rằng đó là sự sai lầm của nhà xuất bản. Ðây là lối lý luận khôi hài và phi khoa học. Làm sao nhà xuất bản hay báo chí Việt Nam biết danh xưng của EFEO, nếu Inrasara không cung cấp tên EFEO cho họ (18).
Nhìn qua phương cách xóa bỏ danh xưng một cựu cán bộ Fulro trên mặt báo chí Việt Nam, độc giả tự đặt lại vấn đề có chăng đây chỉ là bước khởi đầu của chiến dịch dùng “thế lực văn hóa” ở trong nước, nhằm phản chiến chống lại một số nhân vật mà Inrasara tự cho đó là thành phần phản động của “Bóng hình Fulro” đang làm văn hóa ở nước ngoài? (19).
Biến cố năm 1999
Thế lực văn hóa chống bóng hình Fulro
Bước vào năm 1999, “Bóng hình Fulro” lại chuyển hướng sang một hiện tượng mới đó là sự ra đời cùng một lúc gồm 3 tác phẩm nói về Champa. Ðó là tập san Champaka (20); nội đặc san Vijaya do Hội Bảo Tồn Văn Hóa Champa ở Hoa Kỳ xuất bản. Cũng vào năm 1999 này, Hà Nội lại cho phép Inrasara xuất bản một tác phẩm mang tựa đề Văn Hóa-Xã Hội Chăm (21).
Mặc dù Champaka chỉ là một tập san khoa học, chuyên nghiên cứu về lịch sử và nền văn minh Champa và Vijaya chỉ là một nội san của một hội đoàn người Chăm ở hải ngoại, chính quyền Hà Nội vẫn xem đó là một hiện tượng văn hóa thù địch nằm trong “Bóng hình Fulro”, không được phổ biến trong cộng đồng người Chăm ở Việt Nam.
Sự ra đời cùng một lúc hai tập san văn hóa xuất bản ở nước ngoài, và một sản phẩm văn hóa in trong nước có thể do sự tình cờ trùng hợp hoàn toàn ngẫu nghiên, nhưng cũng có thể do sự nhúng tay của thế lực văn hóa nào đó?
Nhìn qua nội dung Văn Hóa-Xã Hội Chăm của Inrasara, độc giả có cảm giác rằng đây là một cuốn ký sự nhằm phản chiến chống lại một số yếu tố văn hóa Chăm không phù hợp với chủ trương của Nhà Nước Việt Nam hay dẹp bỏ một số trí thức Chăm có “địa vị con con, một mảnh bằng tàm tạm” (22) như tiến sĩ hay phó tiến sĩ không cùng trường phái và quan điểm với tác giả thì đúng hơn. Vì tác phẩm không mang nội dung khoa học để phân tích những gì liên quan đến văn hóa và xã hội Chăm. Văn Hóa-Xã Hội Chăm chỉ tập trung một số chủ đề quá tạp nham mà tác giả muốn đưa ra nhằm tôn vinh năng khiếu và công trình văn hóa cá nhân mình đôi lúc quá hở hang. Tác giả cho mình là bậc siêu nhân đã “thuộc nằm lòng Ariya Glang Anak [dài vào khoảng 125 câu thơ] ngay thời mới 5-6 tuổi, khi còn chưa cắp sách đến trường” (tr. 11), trong khi đó các trẻ em trên thế giới, dù thông minh, với lứa 5-6 tuổi chỉ biết tập tành nói tiếng mẹ đẻ. Tác giả phô trương cuộc đời làm văn học và nghề làm thơ của mình. Tác giả quảng cáo đi quảng cáo lại bao giải thưởng văn học của mình. Tự đặt ra các câu hỏi rồi tự viết ra câu trả lời, tác giả cho đó là bài phỏng vấn của phóng viên báo chí Việt Nam viết về mình (23). Tác giả tự dàn dựng mục đối thoại với người ảo tưởng nhằm hạ bệ một số quan điểm người Chăm không phù hợp với chủ trương của mình. Tác giả không ngần ngại đưa ra danh sách người Chăm lập gia đình với người Kinh trong làng Mỹ Nghiệp, để rồi phân tích cặp vợ chồng nào hạnh phúc hay không hạnh phúc, nhưng tác giả lại quên đi đây là chuyện đời tư của người khác mà không ai có quyền xúc phạm đến.
Ngoài phần văn chương viết lách đó, tác phẩm Văn Hóa-Xã Hội Chăm còn chứa đựng một trọng tâm khác đó là tác giả dựa vào “thế lực văn hóa” để đập tan một số yếu tố văn hóa Chăm không phù hợp với chủ trương của Ðảng và Nhà Nước, tẩy chay một số nhân vật làm văn hóa ở nước ngoài có liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với Fulro hay châm biếm một số nhà nghiên cứu Chăm (tiến sĩ Po Dharma ở Pháp, tiến sĩ Thành Phần, Phú Văn Hẳn và Bá Trung Phụ ở Sài Gòn) không cùng chủ trương và quan điểm với tác giả.
Ðiều đáng chú ý nhất trong tác phẩm này, đó là tác giả dựa vào một số thí dụ thiển cận, quá sơ sài và không cơ sở khoa học, để kết tội và chê bai một cách tùy tiện dân tộc Chăm chỉ là những kẻ “cục bộ, tính khí tiêu cực, thiếu khoa học, lánh đời và trốn xã hội, sĩ hão, không biết giúp nhau, nhát gan, không trung dung, tính đổ thừa, không bền chí” (tr. 111-116). Ai cũng biết, cộng đồng dân tộc Chăm hơn 100.000 người ở Việt Nam, và 200.000 người ở Cao Miên (24) gồm đủ thành phần từ bậc tu sĩ đến trí thức và nông dân, chưa kể thành phần đang đấu tranh ở nước ngoài nhằm bảo tồn sự sống còn của dân tộc Chăm trong thế kỷ 21 này. Có chăng cả 300.000 người Chăm đều là những kẻ có 10 khuyết tật xấu như Inrasara đã tuyên bố?
Người Chăm là dân tộc vong quốc. Nhưng không phải vì thế mà các nhà viết lách như Inrasara lại gán cho dân tộc Chăm này bao cá tính xấu xa và vô cùng tồi bại. Nhìn qua nội dung của bài này, độc giả có cảm tưởng rằng tác giả muốn sỉ nhục dân tộc Chăm hơn là phân tích một cách khoa học liên quan đến cá tính của người Chăm.
Tác giả than phiền về người Chăm là những kẻ bội bạc vì “Inrasara được Giải Thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, ít anh em Chăm biết mà chúc mừng” (tr. 30). Cũng trong tác phẩm này, tác giả dùng ngòi bút của mình để tẩy chay một cách tùy tiện những thế lực thù địch ở hải ngoại đang làm văn hóa hay viết về văn hóa Champa, trong đó có Po Dharma, G. Moussay .v.v... Tác giả cho rằng những nhân vật này là những kẻ “hạn chế về kiến thức, nhất là không hiểu bản chất văn học ... Uổng !” (tr. 22), chính vì thế, ông ta phải “cười ra nước mắt” (tr. 245) khi đọc bài viết của quí vị này. Ông ta cũng “đã cười méo miệng” (tr. 19) khi nghe đến quan điểm khoa học của Po Dharma, một vị tiến sĩ người Chăm không biết đọc tiếng Chăm: “300 lỗi lớn nhỏ trong 25 trang sách” (tr. 152) trong tác phẩm Dewa Mano, nhưng tác giả không đưa ra danh sách 300 lỗi này. Tác giả tìm cách chê bai Thành Phần là “vị tiến sĩ đầu tiên của Chăm này cũng chưa có công trình nào trình làng cộng đồng Chăm” (tr. 35). Ðây là một thái độ quá ngạo nghễ. Ðứng trên phương diện pháp lý, Inrasra không tư cách gì để lên án Thành Phần là kẻ có khuyết tật lười biếng, vì ông ta là giảng viên ở Ðại Học trực thuộc Bộ Giáo Dục Việt Nam chứ không trực thuộc cơ quan hay là công ty của tác giả.
Ðứng trên phương diện khoa học mà nói, Văn Hóa-Xã Hội Chăm của Inrasara chỉ là một văn chương của “thế lực văn học” cùng trường phái với văn chương của “thế lực công an” do nhóm Ngôn Vĩnh sáng tác, nhằm tôn vinh ai mà tác giả ưa thích hay tẩy chay ai mà tác giả cần tẩy chay, chứ không phải lối hành văn của một người làm văn hóa hay một nhà nghiên cứu thật sự. Có chăng phong trào tẩy chay “Bóng hình Fulro”, châm biếm một số tiến sĩ người Chăm trong nước và ngoài nước cũng như hành động sỉ nhục dân tộc Chăm của Inrasra có sự chỉ thị của Ðảng và Nhà Nước? Nếu không, tại sao tác phẩm này được Ðảng và Nhà Nước cho phép xuất bản?
Chào cờ Việt Nam Cộng Hòa
Cũng trong năm 1999, “bóng hình Fulro” lại xuất hiện ở Hoa Kỳ. Vào ngày 4 tháng 12 năm 1999, Văn Phòng Quốc Tế Champa (IOC) tổ chức một buổi lễ ra mắt tập san Champaka số 1, tại Westminter, tiểu bang California. Giáo sư Phạm Cao Dương thuộc đại học Los Angeles là người đứng ra giới thiệu tập san này, với sự tham dự nhiều giới trí thức Việt Nam và một số thành viên cũ của Fulro.
Theo chương trình, ông Dohamide, một nhà trí thức Chăm, là người đứng ra làm xướng ngôn viên của buổi lễ. Tiếc rằng, ông ta đưa ra điều kiện là buổi lễ ra mắt tập san Champaka phải chào cờ Việt Nam Cộng Hòa. Nếu không, ông ta không tham dự buổi lễ, vì người Việt Nam ở Hoa Kỳ sẽ dùng vũ lực để tẩy chay ngày ra mắt Champaka (25).
Ban tổ chức buổi lễ Champaka đứng lên phản đối kịch liệt thái độ của Dohamide. Trong dịp này, một số thành viên cũ của Fulro cũng lên tiếng rằng họ sẵn sàng “chào cờ Champa còn hơn chấp nhận chào cờ Việt Nam Cộng Hòa ở nước Mỹ tự do và dân chủ”. Ðối với họ, thái độ buộc người Chăm phải chào cờ Việt Nam Cộng Hòa tại Mỹ là một hành động sỉ nhục danh dự dân tộc Champa (26).
Biến cố năm 2001
Bóng hình Fulro trở lại Cao Nguyên
Ngày 1 tháng 2 năm 2001 đánh dấu cho sự vùng dậy của hàng ngàn dân tộc Cao Nguyên ở Ðắc Lắc, Kontum và Pleiku yêu cầu chính quyền Hà Nội phải giải quyết một số yêu sách sau, đó là chính phủ Việt Nam phải trao trả đất đai của dân tộc Tây Nguyên bị tịch thu sau ngày giải phóng; tôn trọng nhân quyền và tự do tín ngưỡng của dân tộc Tây Nguyên.
Thay vì tìm một giải pháp đối thoại, chính quyền Hà Nội lại gán cho họ là những phần tử Fulro, ra lệnh cho quân đội và công an dùng mọi quyền lực để tiêu diệt nhóm này (27).
Ngày 10 tháng 2 năm 2001, tình hình an ninh ở Cao Nguyên vẫn còn trong tình trạng nghiêm trọng. Cuộc vùng dậy đòi đất đai này đã trở thành một cuộc xung đột bạo động. Dân tộc Cao Nguyên không ngần ngại chặt tay một số cán bộ an ninh của Cộng Sản và đánh tổn thương nhiều cán bộ Cộng Sản khác. Một số nữa bị bắt giam để làm con tin cho cuộc thương thuyết giữa anh em Tây Nguyên và chính quyền Hà Nội (28).
Sau cuộc nổi loạn này, bộ trưởng bộ quốc phòng, và một số tướng lãnh Việt Nam bị nhà nước khiển trách vì thiếu nghiêm túc trong công việc phòng thủ an ninh ở Tây Nguyên. Ngày 27 tháng 3 năm 2001, Tổng Bí Ðảng Cộng Sản Việt Nam cũng lên án ông Hoàng Ðức Nghị, Chủ Tịch Ủy Ban đặc trách dân tộc ít người và miền thượng du, vì ông ta không làm tròn nghĩa vụ do nhà nước giao phó (29).
Ngày 24 tháng 3 năm 2001, chính quyền Hà Nội lên tiếng yêu cầu Hoa Kỳ không nên nhúng tay vào cuộc vùng dậy của dân tộc Tây Nguyên vào đầu tháng hai năm 2001. Theo Hà Nội, sự vùng dậy này là chuyện nội bộ của Việt Nam (30).
Hai ngày sau, tức là ngày 26 tháng 3 năm 2001, hai mươi bốn người Tây Nguyên đã thành công chạy sang Cao Miên lánh nạn, nhưng bị lực lượng biên phòng Cao Miên trấn giữ lại. Theo nguồn tin chính thức, 24 người này là cán bộ chỉ huy cao cấp trong cuộc nổi loạn ở Tây Nguyên vào đầu tháng 2 năm 2001. Chính phủ Hà Nội yêu cầu thủ tướng Hun Sen phải trao trả cho Việt Nam những tội phạm này. Hoa Kỳ can thiệp với Hun Sen để đưa 24 thành viên này sang định cư ở Mỹ. Tiếp theo 24 thành viên này, Cao Ủy Liên Hiệp Quốc còn cho biết rằng có hơn 1.000 người Tây Nguyên nữa chạy sang lánh nạn ở tỉnh Mondulkiri, Cao Miên. Theo Cao Ủy Liên Hiệp Quốc, mặc dù Hoa Kỳ đã hứa sẽ giúp đỡ họ, nhưng phải chờ sự quyết định của chính phủ Cao Miên để hợp thức hóa giấy tờ cần thiết (31).
Người Chăm là dân tộc phản động
Năm 2001, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia ra đời một tác phẩm với nhan đề “Mấy vấn đề lý luận và thực tiển cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay” do giáo sư Phan Hữu Dật làm chủ biên. Ðây là một công trình tập thể gồm 23 vị giáo sư-tiến sĩ gốc người Kinh thực hiện. Trong phần Vùng dân tộc Chàm (trang 200-223) các vị tiến sĩ này đưa ra bao quan điểm để chứng minh rằng dân tộc Chăm có tư tưởng cực đoan, kỳ thị dân tộc Kinh, là một trong bốn dân tộc phản động có sự liên hệ mật thiết với các “thế lực thù địch” bên ngoài, đó là Fulro nhằm chống đảng và nhà nước và tìm cách lật đổ chính quyền Việt Nam.
Năm 2001 đánh dấu một khúc quanh trong văn chương tuyên truyền ở Việt Nam. Ðể đối phó với “Bóng hình Fulro, chính quyền Hà Nội tập trung một lực lượng nghiên cứu người Kinh, vận dụng tối đa văn chương khoa học để đưa ra quan điểm, nhận định, đánh giá hay vạch mặt chỉ tên những thành phần người Chăm ở trong và ngoài nước, mà tác giả gọi là những “tội phạm Fulro” hay liên hệ với Fulro để phục quốc Champa.
Dựa trên thế lực khoa học, 23 vị tiến sĩ này không ngần ngại xử dụng bao cụm từ vô cùng khắt khe để ám chỉ tâm tính người Chăm, triển khai phương cách lý luận vừa thách đố vừa khinh bỉ dân tộc này, dùng lối hành văn vô cùng thô bạo để phản ảnh quyền lực của dân tộc Kinh đa số (32).
Biến cố năm 2002
Nhóm Tây Nguyên sang Mỹ
Ngày 1 tháng 4 Năm 2002, hơn 1000 người tị nạn Tây Nguyên tham gia trong cuộc biểu tình vào tháng 2-2001 ở Buôn Mê Thuột được chính phủ Cao Miên cho phép sang Mỹ. Ða số dân tộc Tây Nguyên xin tị nạn là những cựu chiến binh của Hoa Kỳ trong chiến tranh ở Việt Nam trước năm 1975 và cũng là những thành viên cũ của Fulro (33).
Linh mục Moussay bị trục xuất
Trong tác phẩm Mấy vấn đề lý luận và thực tiển cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, do 23 vị tiến sĩ gốc Kinh thực hiện và do Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia ấn hành vào năm 2001, Linh mục G. Moussay bị 23 vị tiến sĩ kết tội là thành phần bắt tay với mặt trận Fulro, biến Trung Tâm Văn Hóa Chàm Phan Rang vào những năm 1969-1974 thành một cơ sở đào tạo cán bộ Fulro.
Một năm sau, tức ngày 6 tháng 8 năm 2002, linh mục G. Moussay được Hà Nội cho phép sang viếng thăm Việt Nam qua đường du lịch. Khi đến sân bay Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn, G. Moussay bị công an bắt giam giữ tại phi trường và đối đãi với ông ta như một tội phạm, sau đó công an Hà Nội đưa ông ta lên máy bay trở về Pháp cùng ngày, nhưng không cho biết lý do chính đáng.
Ngày 20 tháng 9 năm 2002, linh mục G. Moussay phản đối kịch liệt cách cư xử của chính quyền Hà Nội trong một bức thư mà ông ta đã gởi cho nhiều nhân vật chính quyền và nhân quyền trên thế giới, trong đó có Tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam; Chủ tịch nước; Thủ tướng; Chủ tịch quốc hội; Bộ trưởng ngoại giao; Bộ trưởng công an; Bộ trưởng du lịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bộ trưởng ngoại giao nước Cộng Hòa Pháp; Ông đại sứ Cộng Hòa Pháp tại Việt Nam; Ông tổng lãnh sự nước Cộng Hòa Pháp tại thành phố Hồ Chí Minh (34).
Cũng cần nhấn mạnh ở đây, G. Moussay là linh mục thuộc cơ quan truyền giáo của Missions Etrangères de Paris, đã thành lập Trung Tâm Văn Hóa Chàm tại Phan Rang vào năm 1968, và cũng là người thường quen biết trung tá Les Kosem, một nhân vật chính trong tổ chức Fulro.
Biến cố năm 2004
Dân ca Champa của Chế Linh bị cấm
Sự trục xuất linh mục G. Moussay chỉ là bước đầu của chính sách Hà Nội chống lại một số nhân vật có liên hệ với “Bóng hình Fulro”. Ngày 24 tháng 1 năm 2004, Bộ Văn Hóa và Thông Tin của Hà Nội ra lệnh cấm người Chăm nghe CD “Dân Ca Champa” do Chế Linh thực hiện tại hải ngoại (35).
Theo Bộ Văn Hóa, tại nhiều tỉnh thành trong nước Việt Nam vẫn còn lưu hành dĩa lậu CD “Dân Ca Champa” của Chế Linh. Vì trong CD này, Chế Linh hát một số bài không phù hợp với chính sách tôn giáo và đại đoàn kết dân tộc của Ðảng và Nhà Nước đưa ra. Chính vì thế, bộ văn hóa đã gởi công văn cho các cơ quan trong nước yêu cầu thu hồi CD này.
Ðiều đáng ngạc nhiên ở đây là “Dân Ca Champa” tập trung một số bài hát dân gian mà nội dung chỉ biểu tượng cho giá trị văn hóa và truyền thống của người Chăm mà thôi. Trong CD, Chế Linh không đá động gì đến chính trị của Ðảng và Nhà Nước và cũng không có đoạn hát nào gây tai hại cho chính sách đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam. Có chăng sự quyết định của Hà Nội cấm người Chăm nghe CD này, vì Chế Linh hát dân ca Champa bằng tiếng Chăm mà Hà Nội cho đó cũng là một biểu tượng của “Bóng hình Fulro”?
Nhóm Dega ở Hoa Kỳ bị chụp mũ
Sau ngày cấm lưu hành CD “Dân Ca Champa” của Chế Linh, Hà Nội đưa ra chiến dịch tẩy chay nhóm Cao Nguyên định cư ở Hoa Kỳ. Ngày 11 tháng 2 năm 2004, sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ đưa lên mạng web một bài nhận định về nguồn gốc Quỹ Dân Tộc Cao Nguyên (Montagnard Foundation) tại Hoa Kỳ, một tổ chức phi chính phủ do Ksor Kơk lãnh đạo.
Trước khi vào đề, sứ quán Việt Nam tóm lược sơ qua lịch sử Fulro, kết tội phong trào này là một tổ chức phản động có sự yểm trợ của nước ngoài nhằm gây hận thù, chống Ðảng và Nhà nước Việt Nam. Sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ cho rằng, Quỹ Dân Tộc Cao Nguyên là một tổ chức có liên hệ với Fulro, vì người lãnh đạo của quỹ này là ông Ksor Kơk (gốc Jarai), cũng là một thành viên Fulro lưu vong bên Kampuchia từ năm 1969. Chính vì thế, sự ra đời của Quỹ Dân Tộc Cao Nguyên do Ksor Kơk lãnh đạo, không phải là tổ chức phi chính phủ nhằm phát triển vấn đề xã hội của dân tộc Cao Nguyên, nhưng là một tổ chức phi pháp nhằm thành lập một quốc gia độc lập mang tên là Cộng Hòa Dega tại miền Trung Việt Nam.
Cũng theo mạng web này, nhóm Ksor Kơk lợi dung danh nghĩa đạo Tin Lành để tuyên truyền cho chính sách Cộng Hòa Dega Ðộc Lập, gây ngân quỹ để yểm trợ cho dân tộc Tây Nguyên trong nước nhằm vùng dậy chống lại chính phủ Việt Nam.
Ðiều cũng cần nhấn mạnh ở đây, có hàng ngàn hội đoàn Việt kiều tại Mỹ xuống đường hàng năm, để hô hào quần chúng vùng dậy giải phóng Việt Nam ra khỏi ách nô lệ của Cộng Sản, nhưng sứ quán Việt Nam không hề lên tiếng trên mạng Web của mình. Tại sao cơ quan này chỉ chụp mũ hội đoàn phi chính phủ của nhóm Ksor Kơk? Có chăng Hà Nội tự tiện xếp họ vào thành phần “Bóng hình Fulro”?
Sự vùng dậy ở Cao Nguyên lần thứ hai
Ba năm sau, “Bóng hình Fulro” lại xuất hiện trên Cao Nguyên lần thứ hai. Một số báo chí nước ngoài (36) thông tin rằng, trong dịp lễ Phục Sinh từ ngày 10 đến 11-4-2004, hàng chục ngàn người sắc tộc Tin Lành gốc Tây Nguyên biểu tình trước Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Ðắc Lắc, căng biểu ngữ đòi tự do tín ngưỡng và đất đai của họ đã bị truất hữu. Chính quyền Hà Nội liền xử dụng bạo lực, ra lệnh cho lực lượng công an và quân đội đã dùng vòi rồng xịt nước, lựu đạn cay, dùi cui và roi điện tấn công đoàn người biểu tình. Theo một số báo chí nước ngoài, có ít nhất 17 tín đồ Tin Lành Tây Nguyên bị bắn chết, trên 150 bị thương, khoảng 300 người bị bắt và gần 100 người khác chạy qua Kampuchia lánh nạn. Thủ tướng Hun Sen hăm dọa lùng bắt những người tị nạn này trao trả lại cho Việt Nam. Sau ngày vùng dậy, Hà Nội cấm hẳn những người nước ngoài dù họ là phái đoàn bộ ngoại giao hay báo chí lên khu vực Tây Nguyên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2004, Human Rights Watch ( cơ quan nhân quyền có trụ sở đặt tại Mỹ ) lên tiếng phản đối kịch liệt sự đàn áp của Hà Nội chống lại dân tộc Tây Nguyên. Ngày 14 tháng 4 năm 2004, quốc vương Cao Miên Norodom Sihanouk (37) lên tiếng qua mạng Web cho rằng ông ta là người đã từng đứng ra trong quá khứ bênh vực cho dân tộc Tây Nguyên, một khi dân tộc này bị đàn áp. Hôm nay, ông ta vẫn tiếp tục bênh vực dân tộc này. Cùng trong Web này, Norodom Sihanouk hứa là sẽ can thiệp với chính phủ Hun Sen để đón nhận những người gốc Tây Nguyên chạy sang Cao Miên lánh nạn sau vụ vùng dậy của họ vào ngày 9 tháng 4 năm 2004.
Vấn đề dân tộc Chăm lại tái diễn
Năm 2004, vấn đề dân tộc Chăm lại tái diễn trong bài viết của Nguyễn Văn Tỷ đăng trong tập san Tagalau số 4, 2004, trang 118-165 (38).
Chủ đề đầu tiên đó là truyền thống người Chăm mà tác giả cho rằng đó chỉ là “những phong tục rườm rà lại thêm nhiều phát sinh (...),những tập quán còn lạc hậu (...),những kiềm hãm vô lý (...) thiếu ổn định và nhất quán” (tr. 124-139). Có thật sự chăng phong tục tập quán Chăm vẫn còn lạc hậu trong thế kỷ thứ XXI này?
Theo chúng tôi, có hai nguyên nhân chính đã đưa tác giả đến kết luận này. Hoặc là tác giả quá tin vào giá trị truyền thống của dân tộc lớn, như dân tộc Việt chẳng hạn, để định nghĩa truyền thống dân tộc Chăm, hoặc là tác giả có quan niệm rằng phong tục người Chăm chỉ là một lễ hội mua vui mà mỗi nhà tổ chức có quyền thêm bớt để làm hài lòng những người khách đến tham dự.
Ðứng trên phương diện khoa học mà nói, truyền thống Chăm là một di sản tinh thần của một tập thể dân tộc Chăm, được truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác trong không gian và thời gian dài hàng thế kỷ. Văn hoá, phong tục tập quán là nguồn gốc con người, chính vì đó trải qua những thăng trầm của lịch sử nhưng họ vẫn duy trì truyền thống là điều đáng trân trọng.
Hiến chương của UNESCO-Liên Hiệp Quốc cũng đã quy định rằng mọi truyền thống của bất cứ dân tộc nào trên thế giới đều có một giá trị ngang nhau. Không có phong tục tập quán của dân tộc nào được xem như là văn minh hơn, khoa học hơn. Vì tất cả tập quán đó đều là di sản của nền văn minh của nhân loại.
Nếu tác giả cho rằng phong tục tập quán người Chăm hôm nay là một di sản tinh thần vô cùng quí giá, là một tín ngưỡng thiêng liêng của dân tộc này, có một giá trị ngang hàng với tất cả phong tục của các dân tộc khác trên thế giới, thế thì đâu có chuyện cần phải thay đổi phong tục người Chăm như tác giả đã yêu cầu, ngược lại tác giải phải có nghĩa vụ đứng ra để bảo tồn và nuôi duỡng nó thì đúng hơn.
Ngoài sự lầm lẫn về việc đánh giá phong tục đó, tác giả còn cảnh cáo quá khắt khe một số hiện tượng trong xã hội, như là hiện tượng thanh niên làm việc thì tiêu cực mà ăn chơi lại tích cực (tr. 134), hiện tượng sinh hoạt xã hội Chăm chỉ lấy rượu làm tôn chỉ (tr. 136), v.v... Ðây là một kết luận quá vội vàng và chủ quan, có thể xúc phạm đến quyền tự do của con người. Có chăng tất các thanh niên Chăm hôm nay chỉ là một nhóm người vô trách nhiệm? Có chăng tất cả người Chăm hôm nay chỉ là những kẻ chỉ biết đến rượu chè mà thôi?
Phần thứ hai của bài này liên quan đến bản chất của dân tộc Chăm. Ðể biện minh cho quan điểm của mình, tác giả đưa ra một số lý luận rất là đơn sơ để rồi kết luận rằng dân tộc Chăm có thêm 6 khuyết tật thô thiển nữa (vì năm 1999, Inrasara đã vạch ra 10 khuyết tật của Chăm mà chúng tôi đã nêu ra ở phần trên), đó là “bản chất tị hiềm nhau; bản chất dốc phách; bản chất thiếu khiêm tốn; bản chất háo danh; bản chất thiếu tính nhân ái; bản chất thiếu tính sòng phẳng; bản chất không dám nói trước mặt nhau” (tr. 130-134) và 4 hiện tượng tiêu cực: “thứ nhất là hiện tượng của thanh niên Chăm làm việc thì tiêu cực mà ăn chơi lại tích cực. Thứ hai là kỳ thị những người ngoài làng lấy vợ ở làng ta. Thứ ba là sự bất hòa thường trực trong thôn xóm. Thứ tư là rượu chi phối quá lớn đối với xã hội Chăm” (tr. 134-136).
Nếu tác giả cho rằng có một số người Chăm nào đó có 6 bản chất thô thiển, thì đó là vấn đề tự nhiên trong xã hội. Nhưng không thể dựa vào cá tính xấu xa của một số người Chăm để rồi kết luận rằng cả tập thể dân tộc Chăm có những khuyết tật này. Có chăng cụm từ “người Chăm” mà tác giả lặp đi lặp lại trong bài này, hoàn toàn ám chỉ cho một số người Chăm nào đó chứ không phải tác giả muốn kết tội cả một tập thể dân tộc Chăm có khuyết tật xấu xa đó? Chỉ có tác giả là người có thể trả lời cho câu hỏi này. Nếu không, bài khảo luận của tác giả trở thành một văn chương viết lách nhằm bôi nhọ dân tộc Chăm hơn là một bài phân tích sâu đậm về cơ cấu xã hội của người Chăm.
Vì đã nhận diện có thể có sự sai lầm trong quan điểm của mình, nên tác giả đã yêu cầu độc giả (tr. 119) vì lợi ích của dân tộc, chúng ta cùng nhau tranh luận những vấn đề mà tác giả đã đưa ra. Chính vì thế, những gì mà Nguyễn Văn Tỷ đề ra trong bài nhận định này không có mục tiêu nhằm kết tội phong tục và dân tộc Chăm, nhưng chỉ là một ý kiến sơ khởi của một người Chăm đang nhìn xã hội Chăm, dù tầm nhìn đó có đi ngược hoàn toàn với thực tế.
*****************************
Sau tháng 4 năm 1975, Fulro không còn là tổ chức của một “mặt trận giải phóng” nữa, nhưng là một phong trào đấu tranh của dân tộc Tây Nguyên và Chăm, nhằm yêu cầu chính quyền Hà Nội phải trao trả lại cho dân tộc này quyền được sống trên lãnh thổ mà tổ tiên của họ đã để lại, trong khuôn khổ truyền thống văn hóa và tín ngưỡng của họ.
Sự hiện hữu của phong trào này có chăng chỉ là sự kế thừa của bao phong trào đấu tranh khác đã xảy ra từ ngày Champa bị xóa bỏ trên bản đồ Ðông Dương vào năm 1832.
Notes:
(1) Về lịch sử Fulro, xem Champaka số 5 sắp ra mắt.
(2) Ponchaud, 1977: 15-16, Hickey, 1982b: 283.
(3) Chúng tôi xin chân thành tri ân P. Gs. Po Dharma và Nicolas Weber đã cung cấp một số tư liệu để chúng tôi hoàn tất bài tiểuu luận này.
(4) Hickey, 1982b: 285.
(5) Hickey, 1982b: 273.
Nhóm Kpa Koi, trong đó có Y Chon Mlo, một trong những người lãnh đạo trong Bộ Phát Triển Sắc Tộc, đã quyết định ly khai chính phủ Sài Gòn để hợp tác với Cộng Sản từ tháng 3 năm 1974. Xem Hickey, 1982b: 268; Ngôn Vĩnh, Fulro: 238-239.
(6) Hickey, 1982b: 285.
(7) Ngôn Vĩnh, 1982, tr. 272.
(8) Butterfield, 1976; Hickey, 1982b: 288.
(9) U.N. 1976.
(10) Nayan, 1979: 10-11; Chandra, 1979: 10-11.
(11) Hickey, 1982b: 298.
(12) Hickey, 1982b: 298.
(13) Hickey, 1982b: 299.
(14) Nate Tahyer, 1992.
(15) Nate Tahyer, 1992.
(16) Inrasara Văn Học Chăm, Xuất Bản Văn Hóa Dân Tộc, 1994.
(17) Phụ Nữ, 28-6-1995; Tuổi Trẻ Chủ Nhật, 4-7-1995.
(18) Xem Chamapaka số 2, năm 2002, tr. 162-163.
(19) Xem thêm phần bình luận liên quan đến thay đổi danh xưng này trong Champaka số 2, 2002, tr. 162
(20) Champaka là một tập san khoa học chuyên về lịch sử và nền văn minh Champa, mà trụ sở đặt tại Pháp. Ða số thành viên khoa học của Champaka là những chuyên viên nghiên cứu của Trung Tâm Lịch Sử và Nền Văn Minh Bán Ðảo Ðông Dương (CHCPI), Paris.
Champaka không phải là nội san của hội IOC-Champa ở Hoa Kỳ như một số độc giả hiểu lầm, nhưng là một tập san hoàn toàn độc lập trên phương diện khoa học lẩn cơ cấu tổ chức.
Champaka có hai mục tiêu duy nhất đó là tập trung các nhà khoa học trên thế giới hướng về chương trình nghiên cứu Champa; phê bình và phân tích những bài viết hay quan điểm sai lầm liên quan đến lịch sử và nền văn minh Champa, dù tác gỉa đó là người Chăm hay nước ngoài.
Champaka ấn hành bằng tiếng Việt chỉ là một phương tiện nhằm giúp đỡ một số độc giả và nhà nghiên cứu không đọc được tiếng Pháp, nhằm tiếp thu nhanh chóng hơn những tin tức khoa học liên quan đến Champa.
(21) Sách này được tái bản lần thứ 2 vào năm 2003 do Nhà Xuất Ban Văn Học ấn hành. Chúng tôi dùng tác phẩm tái bản vào năm 2003 để nghiên cứu trong bài này.
(22) Inrasara, “Chăm Panduranga tại thành phố Hồ Chí Minh” Tagalau só 4, 2004, tr. 46.
(23) Ngay trong tập san Tagalau só 4 (“Thơ-Viết và Luận”, 2004, tr. 70-82) tác giả cũng dàn dựng cho bằng được bài phỏng vấn của phóng viên báo chí Việt Nam. Các nhà trí thức thật sự ở Việt Nam hay trên thế giới không bao giờ dùng ngòi bút để quảng cáo về minh.
(24) J. Migiozzi (Cambodge Faits et problèmes de population, Paris 1973, tr. 41-41); J. Delvert (le paysan Cambodgien, Paris 1961, tr. 305); J. Pouvatchy (Les Vietnamiens au Cambodge, luận án tiến sĩ 1975, tr. 78).
(25) Tư liệu Champaka 12-99.
(26) Tư liệu Champaka 12-99.
(27) New Straits Times, 2-2-2001; Frédérique Martin, 9-2-2001.
(28) New Straits Times, 10-2-2001.
(29) New Straits Times, 27-3-2001.
(30) New Straits Times, 23-3-2001.
(31) New Straits Times, 26-3-2001; 27-3-2001.
(32) Xem thêm phần bình luận tác phẩm của Po Dharma ở phần cuối.
(33) New Straits Times, 28-3-2002; 1-4-2002.
(34) Thông Luận số 163, tháng 10-2002, tr. 28-29.
(35) Web. Việt Nam cho rằng Bộ Văn Hóa và Thông Tin 24-1-2004.
(36) Thông Luận số 181, tháng 5-2004, tr. 4; Human Rights Watch (Web.); Tuần báo L'Express số 2768, tháng 7-2004, tr. 33; Tuần báo Le Point số 1649, tháng 4-2004, tr. 54.
(37) Norodom Sihanouk, Web. ngày 14-4-2004.
(38) Nguyễn Văn Tỷ, “Thực trạng xã hội Chăm - Một số giải pháp chính”, in Tagalau số 4, 2004, trang 118-165.
Tư Liệu Trích Dẫn
Butterfield, Foc,
“Vietnam Refugees Say Attacks on Communists Continue in Highlands”, trong New York Time, 1 June 1976.
Bộ Văn Hóa và Thông Tin, Web. ngày 24-1-2004.
Chandra, Nayan,
“Ieng Sary: Unite for our Contry”, trong Far East Economic Review 104, số. 25, 1979.
Delvert, J.,
Le paysan Cambodgien, Paris, 1961.
Hickey, Gerald C.,
Free in the Forest. Ethnohistory of the Vietnamese Central Highlands 1954-1976, New Haven and London, Yale University Press, 1982.
Human Rights Watch, Web. 10 tháng 4 năm 2004.
Inrasara,
- Văn Học Chăm, Xuất Bản Văn Hóa Dân Tộc, 1994.
- “Chăm Panduranga tại thành phố Hồ Chí Minh”, trong Tagalau só 4, 2004, tr. 42-48.
- “Thơ-Viết và Luận”, trong Tagalau só 4, 2004, tr. 70-82.
Martin, Frédérique,
“Les paysans des “minoritâs ethniques” revendiquent leurs terres ancestrales. Hanòi face à la révolte des Montangards”, trong Figaro, 9-2-2001.
Migiozzi, J.,
Cambodge Faits et problèmes de population, Paris 1973.
Nate Tahyer,
“Trails of Tears: Lost Montagnard Army Vows to fight On”, trong Far Eastern Review, 10 september 1992.
New Straits Times, 2-2-2001 ; 10-2-2001 ; 23-3-2001 ; 26-3-2001 ; 27-3-2001 ; 28-3-2002 ; 1-4-2002.
Ngôn Vĩnh,
FULRO, Nhà Xuất Bản Văn Học, 3e édition, 1995.
Nguyễn Văn Tỷ,
“Thực trạng xã hội Chăm. Một số giải pháp chính”, trong Tagalau số 4, 2004, tr. 118-165.
Norodom Sihanaouk,
“Statement”, Courrier électronique, Pyongyang, 14 avril 2004.
Phụ Nữ, ra ngày 28-6-1995.
Ponchaud, F.,
Cambodia Year Zero, Holt, Rinehart and Winston, New York, 1977.
Po Dharma, Abdul Karim, Danny Wong Tze-Ken,
Champa trên làn sóng báo chí quốc tế từ năm 1975, Champaka số 2, Toronto, San Jose, Slagelse, Dormagen, 2000.
Pouvatchy, J.,
Les Vietnamiens au Cambodge, luận án tiến sĩ, Paris, 1975.
Tư liệu Champaka 12-99.
Thông Luận Số 163, tháng 10-2002 ; số 181, tháng 5-2004.
Tuổi Trẻ Chủ Nhật, ra ngày 4-7-1995.
U.N.,
“Study Urges Heavy Vietnam Aid”, trong Washington Post, 2 June 1976.
Dominique Nguyen
(Chương trình thế giới Mã Lai-Ðông Dương)

Lá cờ của phong trào FULRO - Ảnh Wikipedia

Ông Y Bham Ênuôl (?-1975) - người sáng lập FULRO - Ảnh wikipedia
CUỘC NỔI DẬY CỦA DÂN TỘC TÂY NGUYÊN Ở MIỀN TRUNG VIỆT NAM VÀO THÁNG 2 NĂM 2001
TS. Nguyễn Văn Huy
(Ðại Học Paris VII)
Chưa bao giờ, sau 1975, một sự kiện vừa xảy ra tại Việt Nam đã được các hãng thông tấn ngoại quốc loan tin nhanh và gây xúc động trong dư luận quốc tế đến như vậy.
Ðầu tháng 2-2001, ngay khi cuộc xuống đường của khoảng 500 người Tây Nguyên tại trụ sở huyện Chu Prong ngày 31-1-2001, đòi trả tự do cho hai tín đồ Tin Lành bị công an bắt giam, dư luận quốc tế và cộng đồng người Việt hải ngoại đã được thông tin kịp thời và đầy đủ. Ðại diện các chính phủ dân chủ phương Tây có mặt tại Hà Nội cũng đã yêu cầu chính quyền Việt Nam giải thích sự việc và cảnh báo không nên dùng bạo lực để đàn áp những người thiểu số.
Về phía Việt Nam, chính quyền cộng sản đã không coi nhẹ tầm quan trọng những cuộc xuống đường này, phản ứng của họ đã rất khôn ngoan và liền tức thời. Một mặt, chính quyền địa phương xoa dịu sự căm tức của dân tộc Tây Nguyên bằng cách trả tự do cho hai tín đồ Tin Lành vừa nói, kỷ luật năm cán bộ đặc trách chính sách người sắc tộc thiểu số vào ngày 29-3-2001 và cử cán bộ đến giải thích chính sách của nhà nước để dập tắt mầm chống đối ngay từ trứng nước. Mặt khác, Hà Nội loan tải nhanh chóng những tin tức liên quan đến các cuộc xuống đường của dân tộc Tây Nguyên, để minh oan trước dư luận quốc tế. Họ gán cho những người lãnh đạo gốc Tây Nguyên đủ thứ tội danh, nào là “phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc”, “gây rối, bạo động”, “tái lập nhà nước Ðê Ga (1) tự trị”... Chưa hết, Hà Nội còn huy động bộ chỉ huy quân khu 5 đưa một lực lượng quân sự quan trọng, có cả trực thăng, đại pháo và xe tăng, lên Tây Nguyên ngăn chặn phong trào đòi đất đai của dân tộc Tây Nguyên lây lan sang những tỉnh khác. Cộng đồng người gốc Tây Nguyên tại các tỉnh Kontum, Bình Ðịnh, Phú Yên và Khánh Hòa đã bị giới hạn đi lại, các tuyến giao thông lên cao nguyên (quốc lộ 14, 19) bị chặn xét gắt gao, điện thoại của người gốc Tây Nguyên bị cắt. Tuy vậy những gì thực sự đã xảy ra vẫn lọt ra ngoài: nhiều cuộc va chạm giữa lực lượng an ninh và người gốc Tây Nguyên đã được biết đến.
Theo tuần báo An Ninh Thế Giới xuất bản tại Viêt Nam (2) từ ngày 7-3-2001 đến 14-3-2001, đồng thời cũng là những thông tin do Thông tấn xã Việt Nam phát hành và được đăng trên các báo Lao Ðộng, Nhân Dân, Quân Ðội Nhân Dân... ra cùng thời điểm, cuộc bạo loạn đã diễn ra như sau:
“Ngày 29-1-2001, đồn [công an] biên phòng bắt quả tang Rơ Lan Bon và Rơ Lan Duianh, người Gia Rai, trú tại buôn Ia Pla và Ia Mơ, xã Ia Pia, huyện Cư Prông mang nhiều tài liệu của Ksor Kơk (3) có nội dung kích động, chia rẽ tình đoàn kết dân tộc. Ngay sau đó, từ Mỹ, Kơk liên lạc với các tổ chức quốc tế, chỉ đạo tay chân ở trong nước gây sức ép thả hai tên này...”
“Trong cuộc gây rối ngày 2-2-2001 tại Pleiku, Buôn Ma Thuột, các đối tượng quá khích đã có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng... Tại một số huyện ở Ðắc Lắc, một số tên cầm đầu quá khích đã tìm cán bộ người dân tộc để trả thù vì họ không vận động bà con không theo chúng... Bọn cầm đầu còn bắt tất cả những thanh niên “hăng hái” đến ngủ tập trung để dễ huy động lực lượng khi cần. Nhưng từ ngày 5-2-2001, khi các đội công tác vận động, giải thích bà con để họ gọi con cái về, vạch ra những việc làm phạm pháp luật thì nhiều người thấy mình bị lừa đã quay lại trả thù bọn cầm đầu. Có nơi bà con tự bắt và giải chúng lên chính quyền. Anh em công an lại phải vận động để mọi người không trả thù, bảo vệ tài sản cho bọn chúng. Từ ngày 7-2 -2001, hầu hết những tên cầm đầu đã ra tự thú, xin lỗi chính quyền...”
Sự thật như thế nào khi đọc các báo chí nước ngoài viết về biến cố này từ ngày 31-1-2001 đến 28-9-2001?
Một số báo chí cho rằng, ngày 31-1-2001, khoảng 500 người Jarai kéo tới trụ sở huyện Chu Prong phản đối việc bắt giam và đòi trả tự do cho hai tín đồ Tin Lành là hai ông Rahlan Pon và Rahlan Djan, bị lực lượng công an biên phòng bắt hai ngày trước đó (29-1-2001).
Ngày 2-2-2001, khoảng 6.000 tín hữu Jarai từ khắp nơi trong tỉnh Gia Lai kéo đến trụ sở tỉnh ủy và ủy ban nhân dân thành phố Pleiku yêu cầu thả hai tín đồ Tin Lành vừa kể. Cuộc biểu tình sau đó biến thành phong trào đòi tự do tôn giáo và trả lại đất đai cho dân tộc Tây Nguyên. Ngày 4-2-2001 đoàn biểu tình có lúc đã lên tới 20.000 người, trong đó có cả người Bahnar, một sắc tộc theo đạo Công Giáo ở phía Bắc tỉnh Gia Lai, đòi chính quyền trả lại đất đai của những buôn làng đã bị người Kinh chiếm đoạt trước đó.
Tại Ðắc Lắc, trong các ngày từ 3 đến 11-2-2001, hàng ngàn người Rhadé và Mnong từ các huyện Ea Súp, Ea H'Leo, Buôn Ðôn, Krong Năng, Krông Buk đã cùng nhau kéo về trụ sở tỉnh ủy Ðắc Lắc biểu tình ủng hộ những đòi hỏi của người Jarai và yêu cầu nhà nước trả lại những phần đất đai của buôn làng đã bị đại diện các cơ quan công quyền tước đoạt.
Lo sợ phong trào đòi đất đai ngày càng lan rộng, các chính quyền cộng sản địa phương đã tỏ ra không nhân nhượng trước những đòi hỏi chính đáng này. Nhiều toán công an chống biểu tình đã được gởi tới để giải tán các đoàn biểu tình. Xô xát liền xảy ra, công an dùng dùi cui và roi điện đánh vào đoàn người biểu tình để giải tán; những người biểu tình dùng đá và gậy gộc để chống lại. Tổng kết sau nhiều ngày xô xát, hơn 600 người gốc Tây Nguyên bị đánh đập, 200 người khác và 20 công an bị thương, nhiều cơ quan công quyền bị đập phá, hàng trăm người gốc Tây Nguyên bị bắt giam và hàng ngàn người khác chạy sang Campuchia lánh nạn.
Ngày 26-9-2001, tòa án tỉnh Ðắc Lắc đã tuyên những án tù rất nặng, từ 6 đến 11 năm tù, cho 7 người bị kết tội “phá rối an ninh” và “tàng trữ vũ khí quân dụng”. Ngày 28-9-2001, tòa án tỉnh Gia Lai cũng đã tuyên những án tù nặng cho 7 người cầm đầu, nặng nhất là 12 năm tù và 5 năm quản chế. Trong năm 2002, hàng chục người khác cũng đã bị tuyên những án phạt nặng nề từ 2 đến 8 năm tù.
Kể từ sau biến cố vừa nói, toàn bộ lãnh thổ Tây Nguyên bị đặt dưới quyền quản trị triệt để của quân đội. Sư đoàn Tây Nguyên cùng những đại đội tổng hợp 15 và 16 đảm trách việc giữ gìn an ninh và dân vận trong những vùng sắc tộc gốc Tây Nguyên cư ngụ. Mọi ngõ ra vào Tây Nguyên đều bị kiểm soát gắt gao.
Hiện nay tình hình trên cao nguyên tuy tạm lắng yên nhưng vấn đề người gốc Tây Nguyên vẫn còn nguyên vẹn, chỗ đứng của những người gốc Tây Nguyên trong lòng dân tộc Việt Nam chưa có đáp số.
***********************
Một sự kiện quan trọng cần được nhấn mạnh là những cuộc xuống đường phản đối của dân tộc Tây Nguyên không mang tính tự phát mà có sự vận động qui mô trên khắp cao nguyên giữa ba sắc tộc lớn, đó là Jarai, Rhadé và Bahnar. Không kèn, không trống, không phô trương, không có người đứng đầu, từng đoàn người càng ngày càng đông đi về phía trung tâm thành phố biểu tình. Họ đến từ các buôn làng lớn chung quanh, từ các nơi làm việc đã ùn ùn tới trước các trụ sở công quyền phản đối, tuy bất bạo động nhưng không sợ sệt. Mục đích của những cuộc xuống đường này là để đánh động dư luận quốc tế về sự tuyệt vọng của cộng đồng người gốc Tây Nguyên trong một xã hội mà họ và con cháu họ không có chỗ đứng. Sự quyết tâm và can đảm của dân tộc Tây Nguyên càng đáng được lưu ý.
Ðây là những cuộc xuống đường lớn nhất xuất phát từ quần chúng tại miền Nam, đúng hơn là trên cao nguyên miền Trung, từ ngày toàn bộ miền Nam bị đặt dưới quyền quản trị của chế độ cộng sản miền Bắc. Khác với người Kinh, cả ở trong lẫn ngoài nước, cộng đồng dân tộc Tây Nguyên đã biểu dương quyết tâm và lực lượng một cách hiệu quả, trực diện với chính quyền Hà Nội nhưng không phô trương và gây ồn ào.
Cũng như sau 1975, toàn bộ quân lực miền Nam Việt Nam hùng mạnh nhất Ðông Nam Á đã rã hàng, không còn một ai nghĩ tới chuyện tái lập một lực lượng quân sự đủ khả năng chống lại quân cộng sản. Cộng đồng dân tộc Tây Nguyên thì trái lại, với một nhóm người ít ỏi nhưng đầy quyết tâm, họ đã thu nhặt những loại vũ khí mà quân đội Việt Nam Cộng Hòa bỏ rơi trên đường tháo chạy từ cao nguyên xuống đồng bằng tháng 3-1975 và đã đánh trả lại quân đội cộng sản trong suốt 7 năm trời, không có sự tiếp tế hay tiếp sức nào của ngoại bang. Chính vì ước muốn được sống trong danh dự, nhân phẩm không bị chà đạp mà cộng đồng dân tộc Tây Nguyên đã vùng dậy, họ chỉ muốn được sinh sống bình thường và được đối xử bình đẳng như mọi công dân Việt Nam gốc Kinh khác.
Có ít nhất ba nguyên nhân dẫn đến sự phản đối rầm rộ của dân tộc Tây Nguyên, nguyên nhân này kết nối với nguyên nhân kia tạo thành một khối nhuần thể.
Giọt nước đã làm tràn ly là việc bắt bớ, giam cầm và đánh đập hai tín đồ Tin Lành người Jarai, đó là hai ông Rahlan Pon và Rahlan Djan, người huyện Chư Prong. Hai người này bị kết tội “kích động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc” vì đã truyền bá giáo lý đạo Tin Lành bằng thổ ngữ qua đài Chân Trời Mới phát thanh từ Philippines, một đài mà chính quyền cộng sản tìm cách phá sóng mà không được. Uy tín của hai vị này rất cao trong sắc tộc Jarai và được đông đảo người gốc Tây Nguyên địa phương ngưỡng mộ.
Việc bắt bớ và cấm đoán những người truyền bá đạo Tin Lành trên cao nguyên miền Trung không phải chỉ mới đây, nó đã bắt đầu từ ngày Buôn Ma Thuộc lọt vào tay phe cộng sản, ngày 19-3-1975. Ðạo Tin Lành trong giới người gốc Tây Nguyên gần như bị cấm hoạt động, 87 nhà thờ bị niêm phong, rất nhiều mục sư và tín đồ đạo Tin Lành người gốc Tây Nguyên, đa số là người Rhadé, Jarai, Churu và Kaho, đã bị bắt và giam giữ trong các trại học tập cải tạo; nhiều người đã thiệt mạng vì bệnh tật và thiếu đói, một số khác vẫn còn bị giam giữ cho tới ngày nay.
Chỉ từ đầu năm 1999, sau khi bị Liên Hiệp Quốc và Hoa Kỳ làm áp lực, Hà Nội mới chấp nhận để cho đạo Tin Lành trên cao nguyên được hoạt động trở lại, từ đó số tín đồ người gốc Tây Nguyên tăng lên rất nhanh. Hiện nay có hơn 200.000 người gốc Tây Nguyên chính thức theo đạo Tin Lành, 12% tổng số người gốc Tây Nguyên trên cao nguyên, con số này sẽ còn cao hơn nữa trong những ngày tháng sắp tới. Nhưng đa số những tín đồ Tin Lành gốc Tây Nguyên vẫn sinh hoạt đạo dưới hình thức “hội thánh tư gia”, nghĩa là không trực tiếp đến nhà thờ, vì chỉ có một vài nhà thờ Tin Lành trong các thành phố và thị xã lớn mới được cử hành lễ ngày chủ nhật, tại những địa phương khác các nơi thờ phượng vẫn còn bị niêm phong. Hơn nữa, những tín đồ Tin Lành gốc Tây Nguyên đều là đối tượng cần theo dõi bởi các chính quyền địa phương, mọi hình thức hội họp đều bị cấm đoán.
Tại sao dân tộc Tây Nguyên theo đạo Tin Lành? Có hai lý do. Lý do sâu xa là tìm được trong đạo này sự an ủi trong tâm hồn trước cuộc sống vật chất đầy khó khăn và thiếu thốn, hơn nữa giáo lý của đạo Tin Lành cũng rất giản dị, chỉ cần kính Chúa yêu người là đủ. Lý do thực tiễn là muốn được nâng cao mức sống, nghĩa là được giúp đỡ về vật chất như những mục sư Tin Lành người Mỹ trước 1975 đã từng làm, vì khi theo đạo này số phận của họ không bị lãng quên.
Trên nguyên tắc giáo lý của đạo Tin Lành không chống lại chủ nghĩa cộng sản nhưng chính quyền cộng sản rất e ngại thế lực của đạo Tin Lành, một tôn giáo mà họ chưa khống chế được. Chỉ mới gần đây, ngày 8-2-2001, chính quyền cộng sản mới chủ động tổ chức một đại hội đồng tổng liên hội Hội thánh Tin Lành tại miền Nam Việt Nam nhằm loại trừ những hệ phái độc lập mà họ không thể kiểm soát được như các “hội thánh tư gia” của người gốc Tây Nguyên.
Tin Lành là một tôn giáo có tổ chức và có hậu thuẫn quốc tế cao, nhất là hậu thuẫn của dư luận Hoa Kỳ và các chế độ dân chủ phương Tây, khống chế được thành phần lãnh đạo tôn giáo này chính quyền cộng sản Việt Nam sẽ bớt lo ngại những chống đối bất ngờ có thể xảy ra. Một vấn đề đặt ra đối với chính quyền cộng sản là đạo Tin Lành có rất nhiều hội thánh, và hội thánh này độc lập với hội thánh kia, do đó rất khó quản trị mặc dù trên hình thức đã có sự thống nhất. Trong thực tế chính quyền cộng sản chỉ nắm được hội thánh Tin Lành của người Kinh trong các thành phố lớn, tại những nơi xa trung tâm thành phố những tín đồ Tin Lành gốc Kinh cũng vẫn bị phân biệt đối xử và đàn áp như người gốc Tây Nguyên.
Ðối với cộng đồng dân tộc Tây Nguyên, những vị mục sư và người phụng sự đạo Tin Lành là những lãnh tụ mới. Từ sau 1975 giai cấp lãnh đạo cộng đồng người gốc Tây Nguyên đã gần như bị chính quyền cộng sản làm tan rã. Những người lãnh đạo phong trào Fulro (Mặt trận thống nhất giải phóng các dân tộc bị áp bức) thì một số đã chết, một số vẫn còn ngồi tù và một số khác đã trốn sang nước ngoài. Những lãnh tụ mới do đảng cộng sản dựng lên không được người gốc Tây Nguyên kính trọng và sống tách rời với đồng hương, trên thực tế họ chỉ là những bóng ma, có hư vị chứ không có thực quyền, vì tất cả những quyết định quan trọng đều do cán bộ cộng sản gốc Kinh, thực ra là Ðảng Cộng Sản Việt Nam, định đoạt. Chính vì thế những cán bộ cộng sản gốc Tây Nguyên, đủ mọi cấp, đã không những không dám bênh vực quyền lợi của người Tây Nguyên trước sự lấn áp của thành phần di cư gốc Kinh mà còn thay mặt chính quyền hà hiếp đồng hương của họ. Phần lớn những cán bộ loại này an phận với những quyền lợi vật chất nhỏ nhoi mà chế độ ban cho, uy tín của họ rất thấp, đôi khi còn là đối tượng bị khinh miệt đối với người gốc Tây Nguyên.
Vai trò của lãnh tụ trong cộng đồng dân tộc Tây Nguyên rất quan trọng. Những người này phải là những người có đạo đức, có kinh nghiệm sống và kiến thức để hướng dẫn và bảo vệ cộng đồng. Ðó là những tộc trưởng, chủ làng trước kia; những trí thức được đào tạo theo Tây học dưới thời Pháp thuộc; những nhân sĩ, sĩ quan dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa sau 1954 và là những tu sĩ Công Giáo và Tin Lành sau 1975. Tuy vậy, có uy tín song song với những nhân sĩ này là những vị bô lão trong mỗi gia đình và dòng tộc. Nói chung, đó là những người được cộng đồng người gốc Tây Nguyên kính trọng như những thần tượng của họ.
Bắt giam và đánh đập hai ông Rahlan Pon và Rahlan Djan chẳng khác nào đánh đập và xúc phạm thần tượng của người Djarai. Cũng nên biết Rahlan (hay R'Lan, Rơ Lan) là một trong mười họ lớn nhất của bộ tộc Jarai, đó là các họ Rchom, Ksor, Siu, R'ô, Rahlan, Rmah, Nay, Hieu, Kpa, Pui. Trước kia nhiều lãnh tụ thuộc các họ lớn của sắc tộc Rhadé như Nié, Mlô hay Emé, Jdrong, Eban, Lo, Eman... bị bắt giam cũng đã gây phẫn uất trong lòng người Rhadé và dẫn đến chống đối chính quyền. Kính trọng những người lãnh đạo cộng đồng người gốc Tây Nguyên là điều tối thiểu mà các quan chức lãnh đạo và dân chúng gốc Kinh địa phương chưa hề ý thức.
Việc xuống đường phản đối việc bắt giam hai tín đồ Tin Lành người Djarai chỉ là lý cớ, nguyên do cụ thể là đời sống của người gốc Tây Nguyên ngày càng xuống cấp, nếu không muốn nói đang trên bờ tuyệt vọng. Mức sống của người gốc Tây Nguyên hiện nay quá thấp so với người Kinh, mặc dầu cũng đã rất thấp so với thế giới. Lợi tức bình quân đầu người của một người gốc Tây Nguyên hiện nay chưa tới 50 USD/năm (toàn quốc khoảng 400 USD/năm).
Hàng năm, sau mỗi cơn bão hay hạn hán, tỷ lệ người gốc Tây Nguyên thiếu đói tăng cao so với toàn quốc, nhiều dân làng người gốc Tây Nguyên phải vào rừng đào củ rừng, bắt côn trùng ăn cho đỡ đói. Những nhóm người gốc Tây Nguyên ở dọc dãy Trường Sơn phía Tây các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên (người Pacô, Ktu, Bru, Djẻ Triêng, R'măm) sống trong bệnh tật và thiếu đói triền miên; nơi cư trú của họ quá sâu và quá xa nên ít ai biết đến, phẩm vật cứu trợ nhận được gần như không có. Báo chí trong nước đã nhiều lần lên tiếng kêu cứu giùm họ nhưng không được đón nghe.
Trên cao nguyên, từ sau 1975 và nhất là từ 1986 trở đi, khi chính quyền cộng sản Việt Nam thi hành kế hoạch sản xuất cà phê xuất khẩu, nhiều công ty quốc doanh chiếm nhiều vùng đất tốt để lập đồn điền. Người Kinh từ đồng bằng sông Hồng và người sắc tộc thượng du miền Bắc cũng được ồ ạt đưa vào Tây Nguyên phá rừng, khẩn hoang để trồng cây cà phê. Ðất đai cổ truyền quanh những buôn làng sắc tộc Tây Nguyên teo hẹp lại theo số di dân lên cao nguyên miền Trung lập nghiệp ngày càng đông. Những vùng đất dọc các trục lộ giao thông, trong thung lũng hay cạnh sông ngòi lần lượt lọt vào tay những người mới đến, nhiều buôn làng mất hết đất canh tác phải dời vào những chốn rừng sâu để tái định cư.
Luật đất đai ban hành năm 1993 phá vỡ nếp sống cổ truyền và bần cùng hóa người gốc Tây Nguyên vì mỗi hộ ( nhà ) bất kể số nhân khẩu chỉ được canh tác tối đa ba mẫu (3 hecta) và với lối canh tác kém năng suất hiện nay (làm rẫy) mỗi gia đình không thể canh tác đủ ăn. Chỉ một số ít gia đình gốc Tây Nguyên sinh sống cạnh những thành phố lớn, là cán bộ hay công nhân các đồn điền cà phê, có mức sống cao hơn đồng hương ở những nơi xa xôi (lương trung bình khoảng 400.000 đồng/tháng), nhưng vẫn còn rất thấp so với người Kinh trong vùng.
Sau mười năm triệt để canh tác cà phê (1986-1996), Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất cà phê Robusta (canephora) hàng đầu trên thế giới với trên 210.000 tấn/năm (hay 3,5 triệu bao) và xuất khẩu cà phê Robusta đứng hàng thứ hai trên thế giới, sau Indonesia, với 190.000 tấn/năm (gấp ba lần năm 1990). Cũng nên biết cà phê Robusta chiếm 25% thị trường cà phê quốc tế sau cà phê Arabica.
Lợi tức do nghề trồng cà phê này mang lại trong thập niên 1990 khá cao, không những đủ bù đắp cho việc không trồng cây lương thực mà còn đem lại một cuộc sống sung túc cho người canh tác. Nhưng kể từ 1997 trở đi, thị trường cà phê quốc tế khựng lại, giá cà phê giảm liên tục cho tới ngày nay, lợi tức của nghề khai thác cà phê cũng giảm theo (giá một kí cà phê hột từ 20.000 đồng xuống còn 4.000 đồng).
Ðể bù đắp sự thiếu hụt này, những người canh tác cà phê gốc Kinh tìm thêm đất mới để trồng cây lương thực. Một phong trào khai hoang man dại đã diễn ra liên tục từ 1997 đến nay vẫn chưa chấm dứt mà nạn nhân là những dân làng gốc Tây Nguyên chất phác, bị lường gạt hay bị ép buộc nhường những vùng đất tốt cho những người khôn lanh hơn. Hậu quả hiển nhiên của những hành động này là nhiều buôn làng phải dời nơi cư trú cổ truyền vào những vùng đất kém màu mỡ trên các triền núi và chốn rừng sâu để sinh sống. Ðó là chưa kể cách thi hành những biện pháp hành chánh của chính quyền địa phương trong việc xây dựng và mở rộng đường sá, đất đai của những buôn làng gốc Tây Nguyên nằm dọc những đoạn đường được qui hoạch ngang qua bị trưng thu một cách tùy tiện và không được bồi hoàn xứng đáng. Hiện tượng này gián tiếp khuyến khích phong trào di dân đến lập nghiệp quanh các trục lộ giao thông mới, đẩy cộng đồng người gốc Tây Nguyên địa phương lùi sâu về phía rừng xanh. Trong chốn rừng sâu họ cũng không được yên thân, những công ty khai thác gỗ ngày đêm ra vào chở cây rừng đi bán, bất chấp sự bảo tồn hay bảo quản thiên nhiên và môi trường.
Những số tiền khổng lồ mà chính quyền cộng sản quảng cáo đã đổ ra trên cao nguyên không nhằm nâng cao mức sống người gốc Tây Nguyên mà để củng cố sự kiểm soát của nhà nước và tăng cường vai trò khống chế của những công ty cà phê quốc doanh trên toàn cao nguyên. Chỉ một vài nhóm người gốc Tây Nguyên lớn như Jarai, Rhadé và Bahnar mới đủ mạnh để chịu đựng sức ép này, những nhóm nhỏ hơn, sống rải rác trên khắp vùng đồi núi cao nguyên, chỉ biết cúi đầu chấp nhận số phận đen tối và tàn lụi dần theo thời gian.
Trước sự thua thiệt này, cộng đồng người gốc Tây Nguyên chỉ còn trông đợi sự cứu tế của các tổ chức thiện nguyện nhân đạo và tôn giáo quốc tế để tồn tại, nhưng tất đã đều bị chính quyền cộng sản Việt Nam cản ngăn nên sự giúp đỡ rất là nhỏ giọt, đôi khi không đến tay người cần giúp đỡ mà lọt vào túi các quan chức địa phương. Tại nhiều nơi, chỉ vì muốn giúp riêng cộng đồng người gốc Tây Nguyên mà nhiều tổ chức thiện nguyện quốc tế bị đình chỉ hoạt động, các cơ sở đã xây dựng đều bị trưng thu, chỉ những người gốc Tây Nguyên bị thua thiệt. Gần như tất cả các chính quyền địa phương không quan tâm đến sự sống còn của cộng đồng người gốc Tây Nguyên, họ chỉ biết chăm nom đời sống của chính cá nhân và gia đình họ.
Sức chịu đựng của người gốc Tây Nguyên đã đạt tới hạn tối đa. Ngày 8-8-2000 hơn 150 người Rhadé tại Ðắc Lắc bị cưỡng bách di trú sang một làng mới đã trở về tấn công di dân gốc Kinh đang cư ngụ trong làng cũ (Buôn Xer) của họ. Những cuộc xuống đường phản đối hồi đầu tháng 2-2001 vừa qua chỉ là khởi điểm của phong trào bất mãn đòi công lý, do chính quyền không đưa ra một giải pháp cụ thể để giải quyết sự thua thiệt của người gốc Tây Nguyên trước sức ép của những di dân mới.
Hai biện pháp cụ thể có thể thực hiện được là để cho các hội thiện nguyện quốc tế đến giúp đỡ và trả lại những vùng canh tác cổ truyền quanh các buôn làng gốc Tây Nguyên. Nhưng cho dù chính quyền cộng sản có nhượng bộ trên hai điểm vừa nói, vấn đề người gốc Tây Nguyên sẽ cũng không được giải quyết nếu không có một chính sách hội nhập đứng đắn, tôn trọng tiếng nói và chỗ đứng của họ trong lòng dân tộc Việt Nam.
Hai nguyên nhân vừa kể chỉ là phần nổi của một băng đảo đang cơn phẫn nộ, thực chất của vấn đề là danh dự của người gốc Tây Nguyên đã và đang bị chà đạp nặng nề. Trong gần 50 năm cộng cư với người Kinh, từ 1954 đến nay, chưa một chính quyền Việt Nam nào thực sự tôn trọng sự hiện hữu và thành tâm nâng cao mức sống của người gốc Tây Nguyên. Cộng đồng người gốc Tây Nguyên luôn bị coi là những thứ dân hạng hai, bị khinh khi và lợi dụng vì không cùng văn hóa và huyết thống với người Kinh.
Ðể tiếng nói và chỗ đứng của mình được tôn trọng, người gốc Tây Nguyên đã xử dụng đủ mọi biện pháp có thể xử dụng được, từ đấu tranh quân sự bạo động đến đấu tranh chính trị ôn hòa, từ can đảm đương đầu đến an phận cúi đầu, họ chỉ lãnh nhận những hậu quả tai hại của một quyết tâm đàn áp mạnh hơn của bất cứ chính quyền nào của người Kinh.
Chính vì không muốn bị diệt vong, từ 1956 người gốc Tây Nguyên tìm hậu thuẫn ở các thế lực phương Tây ( Pháp và Mỹ ) để được tồn tại, và dưới áp lực của các cường quốc này cộng đồng người gốc Tây Nguyên mới có một chỗ đứng vinh dự hơn, nhưng thời vàng son này đã không kéo dài lâu, chỉ được mười năm thì chấm dứt (từ 1964 đến 1975).
Dưới chế độ cộng sản, đa số những lãnh tụ gốc Tây Nguyên thuộc chính quyền miền Nam cũ đều bị bắt giam hoặc bị giết, những người còn lại phải trốn ra nước ngoài hay sống im lặng trong chốn rừng sâu. Những lãnh tụ gốc Tây Nguyên theo phe cộng sản, các ông Y Bih Aleo (phó chủ tịch Mặt Trận Giải Phóng miền Nam), Y Blok “ban (cựu chủ tịch ủy ban quan quản Buôn Ma Thuột vào tháng 3-1975), Y Niê Thuột (thượng tá thường vụ tỉnh ủy, chỉ huy trưởng bộ chỉ huy quân sự Ðắc Lắc), Ksor Phước (bí thư tỉnh ủy Gia Lai, bộ trưởng tài nguyên và môi trường, chủ nhiệm ủy ban dân tộc quốc hội), Y Vênh (chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Kontum)... bất lực trước sự bạc đãi của cán bộ người Kinh, chỉ biết im lặng và sống trong bóng tối. Hơn nữa mỗi khi xảy ra lỗi lầm nào do cán bộ gốc Kinh gây ra, thay vì kỷ luật những cán bộ gây ra lỗi lầm đó đằng này chính những cán bộ gốc Tây Nguyên đang công tác trong lãnh vực đó bị chế tài như trường hợp Ksor Phước cuối năm 2003 vừa qua.
Sự bất mãn của người gốc Tây Nguyên trước phong trào chiếm đất của người Kinh, có lý do chính đáng. Họ là những cư dân đầu tiên trên cao nguyên miền Trung, quyền làm chủ tự nhiên vùng đất này đã có từ lâu, nhưng ngày nay người gốc Tây Nguyên trở thành thiểu số và không có tiếng nói ngay trên chính quê hương của họ. Trước 1940, người Kinh chỉ chiếm 1% dân số trên cao nguyên, năm 1945: 5%, năm 1954: 15%, năm 1975: 32%. Năm 2000 người Kinh trở thành đa số với hơn bốn triệu dân, chiếm 72% dân số trên tổng số 5,8 triệu dân trên toàn cao nguyên miền Trung, toàn bộ cộng đồng người gốc Tây Nguyên chỉ còn tượng trưng 28% dân số.
Sự áp đảo về dân số và số lượng cũng còn có thể chấp nhận được vì họ trở thành thiểu số, nhưng điều mà người gốc Tây Nguyên không chịu đựng được là sự khinh miệt của người Kinh. Chỉ cần rảo mắt nhìn quanh, người ta dễ dàng phát hiện sự coi thường người gốc Tây Nguyên trong những quan hệ thường ngày. Trước các trạm bệnh xá, không bao giờ người Kinh chịu xếp hàng chung với người gốc Tây Nguyên; trong các trường học, trẻ em gốc Kinh không chơi với trẻ em gốc Tây Nguyên; trong chợ, thương gia gốc Kinh không chịu ngồi nơi nào có người gốc Tây Nguyên đứng bán. Khi vào cơ quan xin cấp giấy tờ hay bị xét hỏi ngoài đường, sự khinh miệt của những viên chức nhà nước không cần che giấu, họ cười cợt và chế giễu công khai trước sự ngây ngô của cư dân gốc Tây Nguyên.
Số người Kinh thực sự quan tâm đến sự sinh tồn của người gốc Tây Nguyên rất ít, đa số là những tu sĩ Công Giáo, Tin Lành và Phật Giáo, số còn lại là những chuyên gia sắc tộc, giáo viên và y sĩ trẻ. Hơn nữa, muốn giúp đỡ người gốc Tây Nguyên cũng không dễ dàng, những người thiện tâm bị ức chế đủ điều. Tại nhiều nơi, các đoàn thiện nguyện phải tổ chức cứu trợ “chui”, lén lút chở đồ cứu trợ ban đêm để tránh sự ngăn chặn của các toán công an địa phương và biên phòng, có như thế phẩm vật cứu trợ mới tới tay người cần. Khi bị phát hiện, những người cứu trợ bị trói, bất kể là tu sĩ hay dân thường, dẫn về đồn để tra khảo và đánh đập.
Người Kinh không được thông tin và giáo dục về sự hiện hữu của các cộng đồng sắc tộc thiểu số một cách lương thiện. Người gốc Tây Nguyên vẫn còn bị gọi là “man”, là “mọi”, hai ngôn từ cần phải xóa bỏ trong ký ức tập thể của người Việt Nam. Hai ngàn năm trước dân tộc Việt Nam đã tranh đấu với Trung Quốc để xóa bỏ danh xưng đầy miệt thị này, thì ngày nay người Kinh không nên gọi các dân tộc không cùng văn hóa bằng những danh xưng đó. Hiện nay chính quyền cộng sản dùng danh xưng “người dân tộc” để chỉ người gốc Tây Nguyên, nhưng trong những quan hệ thường ngày họ vẫn là những sắc dân “man, mọi” thường bị đối xử lỗ mãng và bất kính.
Sự khinh miệt người gốc Tây Nguyên càng kéo dài chỉ có hại vì phản ứng của người gốc Tây Nguyên rất khó lường trước. Tiêu cực thì họ rút vào rừng sâu sống biệt lập với người Kinh để rồi tuyệt tích; tích cực họ sẽ dùng bạo lực để tiếng nói và chỗ đứng được tôn trọng. Nếu phản ứng thứ hai này được xử dụng, cụm từ “đại đoàn kết dân tộc” hay “dân tộc Việt Nam” mất hết nội dung, và hậu quả biết trước là một cộng đồng dân tộc yếu kém hơn sẽ bị tiêu diệt, về văn hóa lẫn thể chất.
Vấn đề người gốc Tây Nguyên hiện nay cần phải đòi hỏi một giải pháp toàn bộ chứ không thể bằng những giải pháp cục bộ.
Notes:
(1) Ðê Ga, đúng ra phải viết Déga, ngôn ngữ Rhadé có nghĩa là “dân tộc miền núi, người cao nguyên".
(2) “Sự thật về cuộc gây rối mang màu sắc chính trị ở Tây Nguyên”, ra ngày 7/3/2001 và 14/3/2001.
(3) Ksor Kơk là cựu thành viên Fulro, hiện cư trú tại Hoa Kỳ.
TS. Nguyễn Văn Huy
(Ðại Học Paris VII)
12/04/09. 08:11:22 am. 24387 words, 1084 views. Categories: Không ðề, Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Lịch sử thế giới, Chiến tranh và hòa bình, Liên kết blogs, Lịch sử và ðịa dư Việt Nam, Ôn cố nhi tri tân, Xã hội và nhân văn ,