Archives for: January 2010, 29
NHỮNG TÊN ĐẶC CÔNG ĐỎ TRONG PHONG TRÀO ĐÒI DÂN CHỦ CHO VIỆT NAM

Mạt cưa mướp đắng. Mày mà nằm vùng thì đã có ông đây!
Nghe đọc tài liệu "Những tên đặc công đỏ trong phong trào đòi dân chủ cho Việt Nam"
Do Việt Thường – Nam Nhân – Lý Tuấn thực hiện
Audio source: honviet.uk
Bài 1 - Yêu nước hay bán nước?
Bài 2 - Ai là Ngụy quân?
Bài 3 - Hòa giải và hòa hợp
Bài 4 - Quên quá khứ, xóa bỏ hận thù
Bài 5 - Không được quên quá khứ
Bài 6 - Ai triệt tiêu và ai bị triệt tiêu?
Bài 7 - Theo kịch bản nào?
(Còn tiếp)
01/29/10. 10:16:57 pm. 140 words, 320 views. Categories: Thiên hạ sự, Ôn cố nhi tri tân, TV/Radio AHNT, Radio - Truyền thanh ,
GIỜ HÀNH ĐỘNG ĐỂ GIẢI TRỪ QUỐC NẠN CỘNG SẢN: NĂM HẾT TẾT ĐẾN TINH SỔ KIỀU HỐI VỚI CSVN

Mỗi đồng bạc chúng ta gởi về nước có thể trở thành những viên đạn bắn vào đồng bào của chúng ta và nuôi dưỡng sự tồn tại của một chế độ độc tài tàn bạo, phản dân hại nước. Ảnh blingcheese
GIỜ HÀNH ĐỘNG ĐỂ GIẢI TRỪ QUỐC NẠN CỘNG SẢN: Năm hết Tết đến tính sổ kiều hối với CSVN
Source: lyhuong.net
Năm Dương lịch 2009 vừa mới đi qua, Tết Âm lịch sắp đến, chúng ta hãy xem xét lại yếu tố kiều hối đã tuồn về Việt Nam trong những năm qua.
Chữ “kiều hối” ở trong nước được dùng phổ biến và được hiểu là tiền từ nước ngoài gửi về cho người trong nước, thông thường là tiền của Việt kiều gởi về cho thân nhân. Những năm sau này kiều hối được bơm về nước còn do lực lượng xuất cảng lao động, hoặc gửi về hoặc mang theo khi về thăm nhà.
Lượng kiều hối chuyển về VN hàng năm tăng liên tục và tăng rõ rệt trong 10 năm qua. Năm 2000 được 1 tỷ USD, năm 2001 tăng lên 1.5 tỷ USD, năm 2002 lên hơn 2 tỷ USD, năm 2003 2.6 tỷ USD, năm 2004 3.8 tỷ USD, năm 2005 lên gần 4 tỷ USD, năm 2006 nhảy vọt lên 5.2 tỷ USD, năm 2007 lên trên 6 tỷ USD và năm 2008 đạt kỷ lục 7.2 tỷ USD.
Đó mới chỉ là lượng tiền chuyển về qua các cơ quan chính thức như ngân hàng hay các tổ chức chuyển tiền đúc kết được. Trên thực tế, con số thực lượng tiền gửi còn lớn hơn nhiều vì không ít người Việt ở nước ngoài chuyển tiền về VN qua các con đường không chính thức.
Nhưng năm 2009 là năm khó khăn chung cho thế giới và cho chính quyền CSVN. Khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và toàn cầu đã làm tác động đến nguồn ngoại tệ gửi về nước. Tình hình đưa người dân đi làm nô lệ ở nước ngoài mà VC gọi từ hoa mỹ là “xuất khẩu lao động” cũng gặp nhiều khó khăn trong năm qua. Theo Ngân hàng nhà nước của VC, tính đến ngày cuối tháng 12 năm 2009 lượng kiều hối chuyển về VN chỉ được 6.283 tỉ USD, giảm 12,8% so với năm 2008. Còn đối với thành phố HCM thì ông Nguyễn Hoàng Minh, phó thống đốc phía Nam của Ngân hàng Nhà nước cho biết kiều hối gởi qua các ngân hàng và đại lý chuyển tiền ở thành phố này chỉ vào khoảng 3.2 tỉ USD trong năm qua, giảm 20% so với năm trước.
Nhìn lại 19 năm qua, từ khi những đồng tiền đầu tiên của kiều bào được gửi về VN qua đường chính thức kể từ năm 1991, đến nay con số này đã vượt quá 30 tỷ USD chiếm hơn 70% số vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài (FDI - Foreign Direct Investment) tính từ năm 1988 và cao gấp rưỡi nguồn vốn Viện Trợ Phát Triển Kinh Tế (ODA - Official Development Assistance) được giải ngân từ năm 1993.
Những con số này mang một ý nghĩa rất lớn. Hàng tỷ đô la được chuyển vào VN hàng năm mà nhà cầm quyền CSVN hầu như chẳng tốn một đồng nào. Điều này khác hẳn với hoạt động xuất cảng được xem là nguồn thu ngoại tệ lớn cho quốc gia. Thống kê của Bộ Kế họach và Ðầu tư của CSVN cho hay kim ngạch xuất cảng cả nước trong năm 2009 đạt gần 57 tỷ Mỹ kim, nhưng để thu được khoản ngoại tệ này, VN tốn biết bao nhiêu là công sức và chi phí. Nếu loại bỏ những chi phí này, liệu ngành xuất cảng của VN thu được bao nhiêu lợi nhuận từ con số 57 tỷ Mỹ kim đó?
Nhận thức được giá trị của kiều hối, Đại Sứ Quán CSVN tại Mỹ đã không ngần ngại xác nhận: “Kiều hối là một nguồn lực quý giá theo nhiều nghĩa, là một kênh mang lại ngoại tệ mạnh cho đất nước mà không một kênh nào có thể sánh nổi về hiệu quả. Bởi vì ngoại tệ thu được từ xuất khẩu tuy rất quý nhưng xuất khẩu thì phải mất chi phí để sản xuất hàng, chi phí vận chuyển mang ra nước ngoài, lại còn phải chịu thuế nhập khẩu, chịu hạn ngạch, chịu kiện bán phá giá, chi phí tiếp thị, quảng cáo …” [*]
Đại Sứ Quán ngớ ngẩn ‘thành thật khai báo’: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ta được lợi về thuế, giải quyết được công ăn việc làm, tiếp thu công nghệ tiên tiến, học được kinh nghiệm quản lý... nhưng vốn là của nhà tư bản nước ngoài, lãi họ hưởng, nếu họ không xuất khẩu thì còn cạnh tranh với hàng hóa cùng loại sản xuất trong nước. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cũng rất quý, nhưng hơn 90% là vốn vay, dù được vay trong thời gian dài, lãi suất thấp, lại có thời gian ân hạn, nhưng việc giải ngân không đơn giản, hơn nữa nếu xử dụng không hiệu quả thì vay mới sẽ cũng chỉ để trả nợ cũ và không chỉ để lại gánh nặng nợ nần cho con cháu mà ngay từ bây giờ đã phải trả những khoản lãi của những khoản nợ đầu tiên...” [*]
Rồi Đại Sứ Quán ma mãnh, môi miếng, không ngượng nghịu đánh động tình cảm của người Việt xa xứ: “Quan trọng hơn, nguồn kiều hối còn là tình cảm sâu nặng của bà con Việt kiều đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài đối với thân nhân và quê hương, đất nước” [*]
Người mình thường có câu “Đồng tiền liền khúc ruột”. Giờ đây CSVN thêm vào hai chữ nữa thành “Đồng tiền liền khúc ruột ngàn dặm”. Đúng vậy! Đồng tiền bây giờ đã đi liền với người Việt hải ngoại, đã không thể thiếu của hàng triệu “khúc ruột ngàn dặm” trên thế giới! Biết người quốc gia tự do đầy tình người, dù ở đâu cũng nghĩ đến bà con ruột thịt, chia xẻ miếng cơm manh áo với thân nhân đang sống khó khăn và vất vả ở quê nhà nên CSVN những năm gần đây đã rất tích cực trong việc khai triển nhiều biện pháp nhằm ra sức chiêu dụ.
Trước đây nguồn kiều hối gởi về nước chủ yếu là từ những người vượt biên nhằm giúp đỡ thân nhân, đáp ứng nhu cầu mưu sinh, giờ đây nó tăng mạnh vì nhiều nguyên nhân khác. Trước nhất, là do lực lương lao động xuất cảng ngày càng tăng. Thứ đến, đó là sự phát triển của các hoạt động kinh tế như thị trường làm ăn buôn bán, thị trường nhà đất, thị trường chứng khoán, … với mức lợi nhuận tăng cao đã dẫn dụ kiều bào nhẹ dạ gửi tiền về đầu tư, thông qua thân nhân trong nước. Lượng tiền do người Việt định cư ở nước ngoài gửi về đang có xu hướng giảm, trong khi đó người đi xuất cảng lao động gửi về lại tăng lên. Việc đẩy mạnh hoạt động xuất cảng lao động cũng giúp nguồn tiền này gửi về nước ngày một nhiều. Việt kiều ở hải ngoại phần lớn trước kia sống ở thành phố nên tiền chuyển về đổ về các đô thị lớn. Trong khi đó, thành phần xuất cảng lao động thường là những người ở xa thành phố nên tiền gởi về được đổ vào khu vực nông thôn, “cải thiện” đời sống và “Xoá Đói Giảm Nghèo” những khu vực này.
Hiện có khoảng 4 triệu Việt kiều sinh sống ở nước ngoài. Trong số này, có 1.5 triệu ở Hoa Kỳ, 300 ngàn ở Pháp, 250 ngàn ở Úc và 200 ngàn ở Canada. Theo Cục quản lý Lao động ngoài nước của CSVN, hiện có gần 500 ngàn người Việt đang lao động tại hơn 30 quốc gia trên thế giới. Ở một số nước mới có người Việt lao động bắt đầu từ năm 2005 như Đài Loan, Nhật Bản, Đại Hàn và Mã Lai thì kiều hối chủ yếu tập trung chuyển về những khu vực nông thôn. Đây là những thị trường “xuất cảng lao động” lớn của VN trong những năm gần đây. Kiều hối từ những thị trường này trực tiếp giúp đời sống gia đình của người đi xuất cảng lao động. Với những thị trường lâu năm như Mỹ, Canada, Pháp, Đức và Úc thì kiều hối lại đóng vai trò dẫn vốn đầu tư vào những lãnh vực kinh doanh trong nước.
Dựa theo phúc trình của Vụ tổng hợp kinh tế Bộ Ngoại Giao, một bản tin trên báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 28 tháng 5 năm 2009 xác nhận con số thống kê lúc nào cũng ít hơn con số thực và ước đoán tiền Việt kiều gửi về năm 2007 có thể là tới 10 tỷ Mỹ kim, vượt xa 3 tỷ Mỹ kim tiền ODA và 5 tỷ Mỹ kim vốn FDI. Bài báo sửng sốt xác nhận “người ta phải kinh ngạc về tiềm lực kinh tế của người Việt Nam đang sinh sống tại nước ngoài”. Nói như vậy để thấy tiềm năng của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại vô cùng to lớn!
Hàng năm số ngoại tệ tuôn về VN tính ra là một con số khổng lồ. Hàng tỷ đô la chui về đều đặn và tăng dần hàng năm ấy trước sau gì cũng chạy tọt vào túi riêng của các quan chức nhà nước. Số tiền khổng lồ không thể tưởng tượng nổi này như từ trên trời rơi xuống nuôi dưỡng chế độ. Lượng tiền gởi về mỗi năm mỗi tăng mà vẫn chưa vừa lòng tham của tập đoàn lãnh đạo. Chúng vẫn bằng cách này hay cách khác ra sức bòn rút và ngang nhiên ngồi hưởng trên mồ hôi và công sức làm việc ngày đêm của đồng bào hải ngoại.
Nếu không có ngoại tệ của “khúc ruột ngàn dặm” thì chế độ CSVN đã chết từ lâu. Người Việt hải ngoại biết vậy nhưng giải quyết bằng cách nào đây? Làm cách nào để thắt hầu bao và bóp họng chúng đây?

1. Không du lịch Việt Nam?
Không ai về VN du lịch, du hý và ăn chơi thì làm gì VC thâu được hàng tỷ đô la một năm? Không có con số công bố chính thức và cũng không thể thống kê chính xác nhưng theo ước đoán, mỗi năm có khoảng 1 triệu người về. Cứ đổ đồng mỗi người mang về chừng 10 ngàn đô để chi tiêu và cho thân nhân thì chúng sẽ mất số doanh thu hàng năm là 10 tỷ Mỹ kim.
2. Hạn chế tối đa việc giúp đỡ gia đình?
Vấn đề này thật đau lòng, nhức nhối và nan giải. Chúng ta không thể một sớm một chiều chấm dứt việc gởi tiền về giúp đỡ gia đình nhưng phải xét lại. Phải xét làm sao vừa đủ để cha mẹ già, anh em ruột thịt tạm sống qua ngày và hy sinh bóp bụng trong một thời gian. Tuyệt đối không bơm tiền cho thân nhân có phương tiện để phí phạm, vung vãi, đua đòi và ăn chơi ở các nơi suy đồi. Tùy theo hoàn cảnh của từng gia đình, nếu tất cả mọi người ở hải ngoại cùng một lòng cắt bớt một phần thì CSVN sẽ mất ngay một số ngoại tệ rất lớn. Làm được điều này là chúng ta đã thắng được sự dẫn dụ, khẩn khoản, van nài và cầu xin của CSVN nhằm móc hầu bao của người Việt hải ngoại rồi vậy.
3. Không làm việc thiện mù quáng
Không nhắm mắt, nhẹ dạ, thiếu suy nghĩ và thiếu suy xét làm việc thiện để tiền của và mồ hôi của những tấm lòng nhân ái của người Việt xa xứ tuồn vào túi của loài quỷ đỏ. Trường hợp cần thiết phải giúp một cá nhân hay một tổ chức nào, phải cân nhắc và đoan chắc việc làm của mình được thông qua người thân trong gia đình hay các nhà tu hành tin cẩn tại VN.
4. Tẩy chay các cơ sở kinh tài của Việt Cộng
Tẩy chay các văn phòng du lịch, các công ty xuất nhập cảng, các cửa tiệm bán thực phẩm, quần áo, đồ mỹ nghệ, … vì những cơ sở này huy động ngoại tệ cho CS Hà Nội, tạo điều kiện cho chế độ sống còn.
Vấn đề gởi tiền về VN là một việc tế nhị và khó giải quyết. Tuyệt đối không làm lợi cho CS nghe qua thì dễ nhưng chấm dứt một sớm một chiều lại không dễ thực hiện. Vậy phải làm thế nào? Tiếp tục gởi tiền về nuôi chế độ hay ngừng nuôi thân nhân? Tiền của người Việt hải ngoại chúng ta chuyển về VN dưới bất cứ hình thức hình thức nào, bằng cách này hay cách khác, hay qua các cơ sở kinh tài của tập đoàn CSVN đều làm làm lợi cho bọn chúng. Tiền của của chúng ta như bạch phiến và đảng CSVN như người nghiện. Nếu chúng ta dứt khoát và đồng loạt ngưng tiếp thuốc thì chúng sẽ dãy chết. Vũ khí lợi hại để đánh bại CSVN là đồng tiền của chúng ta. Vũ khí này cần phải đi kèm với sự đoàn kết của tất cả các thành phần trong cộng động người Việt hải ngoại. Hai hành động kinh tế và chính trị nầy nếu được phối hợp chặt chẽ, đồng loạt, quy mô và bằng tất cả sự quyết tâm của mọi người thì đảng CSVN sẽ, không sớm thì muộn, đi tới chỗ tiêu vong. Chúng ta cần phải ý thức sức mạnh của mình. Sức mạnh đó nếu được xử dụng đúng đắn sẽ mang lại kết quả thiết thực, chắc chắn sẽ góp phần vào việc thay đổi vận mệnh của đất nước theo đúng nguyện vọng của toàn dân.
Trần Việt Trình
23 tháng 1, 2010
[*] Kiều hối - Việt Nam đổi mới
http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20041013173232
*****************************************
BÀI ĐỌC THÊM:
1- Kiều hối chuyển về Việt Nam có nguy cơ sụt giảm trong năm 2009
Source: RFI
Trọng Nghĩa
Bài đăng ngày 07/09/2009

Các công ty chuyển ngân quốc tế đều có mặt tại Việt Nam như Western Union hay Moneygram
Năm 2008, Việt Nam đứng thứ 10 trên thế giới về kiều hối nhận được, với ít nhất 7,2 tỷ đô la. Năm 2009 lượng ngoại tệ ''cho không'' này có thể giảm từ 10% đến 20%. Một trong những nguyên nhân quan trọng là khủng hoảng kinh tế tác động mạnh đến Hoa Kỳ, nguồn kiếu hối chính gởi về Việt Nam. Từ California, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa phân tích về vai trò của kiều hối trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay.
*****************************************************
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới công bố vào trung tuần tháng 7/2009, Việt Nam đứng thứ 10 trong số các nước nhận được lượng kiều hối nhiều nhất trên thế giới vào năm 2008. Với tổng tri giá ước lượng là 7,2 tỷ đô la. Mức tăng này được đánh giá là đáng kể so với năm 2007, khi lượng kiều hối gởi về Việt Nam cũng đã rất khả quan, đạt 5,5 tỷ đô la, một khoản tiền mà theo Ngân hàng Thế giới tương đương với 8% GDP của Việt Nam.
Tuy nhiên trong năm 2009 này, tình hình sẽ xấu đi hơn do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động nặng nề đến các nước Âu Mỹ, nơi xuất phát của nguồn kiều hối gởi về các quốc gia đang phát triển. Ngân hàng Thế giới dự báo là tổng trị giá kiều hối nói chung sẽ giảm từ 7% đến 10%, trước khi vươn lên trở lại vào năm 2010 và 2011.
Ngân hàng Thế giới không đưa ra dự báo cụ thể cho Việt Nam, nhưng theo Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam thì tỷ lệ sụt giảm của kiều hối trong năm nay có thể xuống tới 20% so với năm ngoái. Trung tuần tháng 7 vừa qua, theo hãng Reuters, ông Nguyễn Quang Huy, Vụ trưởng Vụ Quản lý Ngoại hối thuộc Ngân hàng Trung Ương Việt Nam đã dự đoán là trong năm 2009, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam sẽ chỉ đạt từ 5,8 tỷ đến 6 tỷ đô la.
Dự báo của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam xuất phát từ tình hình thực tế là trong 6 tháng đầu năm nay, lượng kiều hối mà Việt Nam nhận được chỉ là 2,83 tỷ đô la.
Giải thích về nguyên nhân khiến cho kiều hối chuyển về Việt Nam giảm sút, giới quan sát đã nêu bật yếu tố khủng hoảng toàn cầu. Kiều hối nói chung xuất phát từ hai nguồn chính : tiền dành dụm của người Việt Nam trong nước đi xuất khẩu lao động gởi về cho gia đình, và tiền của người Việt định cư ở nước ngoài gởi về giúp đỡ thân nhân trong nước.
Do khủng hoảng kinh tế, nhiều nước trước đây thu nhận nhiều lao động Việt Nam đã bắt đầu sa thải nhân viên có sẵn, hay đình chỉ việc thu nhận nhân công mới. Hệ quả là nguồn kiều hối đến từ giới này cạn dần. Theo một ghi nhận của chính bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam vào đầu tháng 9, thì trong 8 tháng đầu năm nay, mới chỉ có hơn 45.000 lao động Việt Nam được gởi ra nước ngoài làm việc, trong lúc chỉ tiêu toàn năm của Nhà nước là xuất khẩu được 90.000 lao động. Trước đó, báo chí Việt Nam liên tục loan tin về những trường hợp công nhân Việt Nam từ Malaysia, Đài Loan, Nhật Bản, Cộng Hoà Séc, Slovakia... phải hồi hương vì bị mất công ăn việc làm.
Tuy nhiên, số tiền gởi về nước của các lao động Việt Nam hiện ở nước ngoài chỉ chiếm một phần nhỏ trong số kiều hối gởi về nước. Theo nhật báo Mỹ Wall Street Journal, gần 2 phần ba lượng kiều hối mà Việt Nam nhận được trong thời gian qua đến từ Hoa Kỳ, nơi có một cộng đồng người Việt hải ngoại đông đảo. Kinh tế Hoa Kỳ đang trải qua một giai đoạn khó khăn, nạn thất nghiệp gia tăng, các yếu tố này tất nhiên tác động đến lượng tiền gởi về Việt Nam. Theo Wall Street Journal, chính quyền Mỹ đã ước tính là kiều hối mà cộng đồng người Việt tại Mỹ chuyển về Việt Nam trong năm nay có thể giảm khoảng 10%.
Cho dù sút giảm, nhưng kiều hối vẫn được xem là một nguồn ngoại tệ quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam hiện nay, đặc biệt là trong bối cảnh đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam được dự báo sẽ sút giảm mạnh. Chỉ tiêu chính phủ Việt Nam đề ra cho năm 2009 này là 20 tỷ đô la đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép, không bằng 1/3 số liệu của năm ngoái (hơn 66 tỷ đô la).
Trong tình hình như vừa kể, khả năng kiều hối giảm sút trong năm nay không chỉ gây khó khăn cho những gia đình ở Việt Nam là người nhận số tiền này, mà còn có thể ảnh hưởng đến nguồn ngoại tệ mà nền kinh tế Việt Nam đang cần. Trả lời phỏng vấn của Ban Việt ngữ RFI, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại California đã giải thích rõ hơn về ích lợI và vị trí của kiều hối trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay.
Nghe phỏng vấn chuyên gia Kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại California
Trọng Nghĩa: Thân chào anh Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa anh, theo các số liệu của Ngân hàng Thế giới thì từ năm 2001 đến nay, lượng kiều hồi gởi về Việt Nam đã tăng thường xuyên, đạt 7,2 tỷ đô la Mỹ trong năm 2008. Nhưng năm 2009 này, cũng theo Ngân Hàng Thế Giới thì lượng tiền này có thể giảm sụt. Trước hết, xin anh cho biết kiều hối là gì và giúp ích gì cho kinh tế Việt Nam?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Có ba cách nhìn vào sự việc Việt Nam vẫn nhận được một nguồn ngoại tệ do thân nhân gửi về cho mà không đòi hoàn lại.
- Thứ nhất, trong quan hệ giữa các nền kinh tế, Việt Nam có thể thu ngoại tệ nhờ ba ngả chính là thứ nhất qua xuất nhập khẩu; thứ hai là do đầu tư từ nước ngoài đổ vào với hy vọng kiếm lời; thứ ba là do người Việt từ bên ngoài gửi về cho gia đình mà không chờ đợi sẽ được hoàn lại, tức là một hình thức kinh tế gọi là “tặng dữ”.
- Cách nhìn thứ hai là về các khoản tiền từ ngoài đem vào Việt Nam với tính cách tặng dữ này. Việt Nam được nhiều quốc gia viện trợ, tiền viện trợ ấy có thể là cho không vì mục tiêu nhân đạo nhưng không nhiều; hoặc có thể là cho vay dài hạn và nhẹ lãi, gọi là viện trợ phát triển như ODA - viện trợ chính thức - khi yếu tố cho không này phải tối thiểu là 25%. Người ta tính ra "yếu tố tặng dữ" đó khi so sánh lãi suất rất thấp, thời hạn cho vay rất lâu với sự mất giá của đồng bạc trong thời hạn hoàn trả này. Bây giờ, không phải là một quốc gia mà là cộng đồng người Việt gửi tiền về nhà với mục đích tặng dữ coi như 100%. Trong số này, ta không kể loại tiền bạc người Việt đem về giúp thân nhân mở cơ sở làm ăn, là một hình thức đầu tư từ nước ngoài.
Nói chung trên toàn thế giới thì từ năm 1996 trở về sau, lượng tiền tặng dữ ấy đã vượt qua số tiền viện trợ chính thức của các nước giàu cho các nước nghèo. Cho nên các nước giàu đã quan tâm theo dõi và đặt ra chính sách nâng đỡ vì là tiền viện trợ của tư nhân cho tư nhân thay vì chính phủ phải lấy tiền thuế của dân viện trợ cho xứ khác thì bị ràng buộc rất nhiều.
- Cách nhìn thứ ba là khi ta so sánh với nhiều xứ khác. Đa số các nước trên thế giới mà nhận được tiền gọi là "kiều hối" là do người bản xứ đi lao động ở nước ngoài rồi gửi về cho gia đình. Riêng lực lượng lao động ở nước ngoài của Việt Nam, tại vài nước như Đông Á, Trung Đông hay Đông Âu, thật ra không đông. Khoản tiền họ gửi về không nhiều và suốt năm qua, cuộc sống và việc làm của họ còn bấp bênh, và nhiều người đã bị trả về. Cho nên nguồn tiền gửi về chủ yếu là do cộng đồng người Việt, đa số là dân tỵ nạn đã thụ đắc quốc tịch nước ngoài và sẽ sống vĩnh viễn tại nước ngoài nên không thể gọi họ là "Việt kiều" được.
Trọng Nghĩa: Vị trí của nguồn tiền do người Việt ở nước ngoài gởi về cho thân nhân ở trong nước như thế nào so với các nguồn ngoại tệ khác dồn vào Việt Nam?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Về ngoại thương, Việt Nam đang bị nhập siêu đến hơn 16%, tức là nhập nhiều hơn là xuất cảng, nên bị thiếu hụt ngoại tệ. Trong sáu tháng đầu năm thì hụt mất ba tỷ tư. Tình trạng này đang bào mỏng khối dự trữ ngoại tệ của ViệtNam và gây khó khăn về ngoại hối làm đồng bạc bị sụt giá. Thứ hai, lượng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào cũng giảm mạnh và số cam kết trong sáu tháng đầu năm chỉ còn chừng 10 tỷ, quy ra cả năm thì được hơn 17 tỷ, chỉ bằng 26% của năm ngoái. Cam kết rồi, nhà đầu tư mới bỏ tiền khởi công sau đó thì tiền giải ngân trong sáu tháng đầu năm mới chỉ có bốn tỷ sáu, quy ra toàn năm thì được tám tỷ là may, so với năm ngoái thì sụt hơn 30%. Thứ ba, Việt Nam có được các nước cam kết viện trợ chừng năm tỷ đô la, nhưng vì ách tắc của mình nên sổ giải ngân nhận được chỉ bằng phân nửa, tức là hơn hai tỷ đô la. Bây giờ, người Việt ở ngoài mà gửi về sáu bảy tỷ đô la như một khoản viện trợ miễn phí, thì đấy là một nguồn lợi đáng kể về kinh tế.
- Nhìn cách khác, khi Việt Nam nói là đã đạt tốc độ tăng trưởng là 7% cho một nền kinh tế có sản lượng chừng 90 tỷ đô la theo cách tính mới nhất của Quỹ Tiền tệ Quốc tế FMI - tức là làm giàu thêm được hơn sáu tỷ đô la - thì sự giàu có phụ trội này xuất phát từ nguồn viện trợ miễn phí của người nước ngoài gửi về cho thân nhân ở nhà!
Trọng Nghĩa: Nhiều người cho rằng lượng kiều hối chính thức thống kê được thấp hơn so với thực tế. Nhận xét này có đúng không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Đúng như vậy. Số liệu ước lượng cho năm ngoái có thể đã lên tới tám tỷ đô la chứ không phải bảy tỷ hai như Ngân hàng Thế giới mới công bố hôm 13 tháng Bảy. Thứ nữa, đấy là những khoản tiền gửi chính thức qua nhiều ngả khác nhau có được bút ghi hẳn hoi, chứ ta không quên nhiều cách chuyển khác qua ngả không chính thức và càng không quên là hàng năm, mấy trăm ngàn người từ bên ngoài về thăm nhà cũng trực tiếp đem tiền làm quà cho thân nhân, giả dụ như mỗi người chừng ngàn đô la chia cho cả đại gia đình. Những số tiền ấy tất không được ghi trong sổ sách ngân hàng hay thống kê nhà nước, cho nên số tiền tặng dữ này thật ra rất cao, năm ngoái thì xấp xỉ 10 tỷ chứ không ít và tối thiểu cũng hơn 10% Tổng sản lượng Nội địa PIB hay GDP.
Trọng Nghĩa: Xin anh nói về xuất xứ của nguồn tiền đó. Nơi nào gửi tiền về nhiều nhất, có phải là Hoa Kỳ không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Theo số ước lượng của các ngân hàng hay công ty chuyển tiền chính thức thì từ 75 đến 80% số tặng dữ xuất phát từ cộng đồng người Việt tại Mỹ. Người Việt tại Mỹ có dân số gần hai triệu, bằng hai phần ba dân số người Việt ở nước ngoài, họ lại có lợi tức trung bình ngang ngửa với người Mỹ da trắng và như vậy là khá cao so với người Việt nơi khác. Trong thành phần người Việt tại Mỹ thì có lẽ dân Việt ở California - tiểu bang có mật độ cao nhất - gửi về bằng gần 80% số tiền từ Mỹ gửi về, là hơn 60% tổng số tặng dữ gửi từ nước ngoài về.
- Cũng nói về xuất xứ, đa số lượng tiền tặng dữ không gửi qua hệ thống ngân hàng mà qua các hãng chuyển tiền quốc tế, tư nhân gốc Việt hay đường dây riêng nên thường cao hơn con số chính thức. Thành phần lao động ở nước ngoài có thể vẫn gửi qua hệ thống ngân hàng và bị kiểm soát kỹ từ gốc, chứ các thành phần kia thì không mấy tin vào ngân hàng trong nước nên tìm ngả nhanh gọn, kín đáo và đáng tin hơn, chưa kể là hoa hồng còn rẻ hơn.
Trọng Nghĩa: Số tiền viện trợ ấy tất nhiên có ích cho nền kinh tế và xã hội, nhưng một cách cụ thể thì ích lợi như thế nào?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ta không quên Việt Nam vẫn là một nước nghèo, có những địa phương chậm phát triển, và nói chung còn thiếu nhiều dịch vụ an sinh, y tế hay xã hội. Về mặt xã hội đó, ta cũng cần phân biệt là tiền của giới lao động ở nước ngoài gửi về có thể ít hơn mà phân tán rộng hơn tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam, trong khi tặng dữ nhiều gấp bội của người Việt hải ngoại lại tập trung vào các tỉnh miền Nam và các thành phố lớn. Hiện tượng ấy có góp phần đào sâu hơn nữa dị biệt về lợi tức của từng vùng là một việc ta cần nghiên cứu thêm. Bây giờ, khi dân trong nước bị sụt lương, thất nghiệp hoặc đau ốm, lao động ở nước ngoài lại mất việc hoặc bị trả về thì nguồn tiền của cộng đồng ở hải ngoại mới là sự cấp cứu nhanh gọn và cấp thiết nhất.
Trọng Nghĩa: Trong hoàn cảnh khó khăn kinh tế hiện nay trên toàn thế giới, lượng kiều hối gởi về Việt Nam chắc chắn sẽ giảm sút, mức giảm có thể là bao nhiêu?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ta khó biết trước được con số của năm 2009, nhưng cứ theo tình hình kinh tế sa sút của các nước xuất xứ như Mỹ, Âu hay Úc hay Canada và hoàn cảnh khó khăn của người Việt tại đó thì lượng tiền tặng dữ có thể giảm ít ra phân nửa. Riêng tại Mỹ thì tính đến nay đã giảm chừng 40% so với cả năm ngoái. Nếu tổng cộng được năm tỷ đô la là mừng vì kinh tế của các xứ này, nhất là tại Mỹ, phải hồi phục trước thì năm sáu tháng sau cộng đồng người Việt tại đấy mới dễ thở, kiếm ra việc làm để rồi tiếp tục gửi tiền về cho thân nhân. Vì vậy, từ nay đến cuối năm, tiền tặng dữ qua ngả chính thức sẽ còn giảm, nhưng đấy chưa là vấn đề.
Trọng Nghĩa: Thế vấn đề là gì ?Phải chăng vì nhà nước Việt Nam định giá đồng bạc quá thấp cho hàng rẻ để dễ xuất khẩu nên người ở nhà nhận đối giá tiền Việt quá ít làm cho người ta ngần ngại trong vấn đề gởi tiền về Việt Nam?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ tỷ giá đồng bạc chỉ là vấn đề nhỏ thôi vì đô la Mỹ vẫn còn lên giá. Vấn đề nó nằm ở chỗ luồng tư bản biết chảy ngược và xuôi - chảy vào rồi chảy ra.
- Một thí dụ là khi gửi tiền về nhà, ở ngoài phải trả hoa hồng chừng 1%, từ Việt Nam gửi ra thì mất 5% trị giá số tiền gửi. Điều ấy cho thấy là vẫn có người gửi tiền ra ngoài. Họ là ai? Tất nhiên không là bà con vất vả của những người có từ tâm ở hải ngoại gửi tiền về. Họ là đại gia có tiền. Ta cần thấy nhiều trường hợp mà tiền gửi về nhà chỉ được bút ghi trong sổ mà vẫn nằm ở ngoài vì cơ sở trung gian không bỏ tiền ấy vào cặp đem về đưa người thừa hưởng ở nhà. Trong khi đó, đối tác ở nhà của cơ sở trung gian lại nhận tiền của ai khác để trao lại cho người thừa hưởng. Vì thế, nghiệp vụ chuyển tiền có hai chiều, tiền gửi về nhà cũng là cơ hội cho người ở nhà chuyển tiền ra ngoài! Ở nhà, người nhận và người gửi tiền ra ngoài là hai thành phần khác nhau. Con số bảy tám tỷ gửi về có thể là tặng dữ cho nhiều gia đình đỡ khổ, nhưng đối giá của nó lại là tiền mà kinh tế học gọi là "tẩu tán tư bản" hay "fuite des capitaux", là tiền được rút chạy khỏi Việt Nam. Bây giờ, khi kinh tế bên ngoài sa sút, một số gia đình ở nhà có thể bị lao đao chứ người có chức có quyền, tức là có tiền, thì vẫn không thiếu cách đem tiền ra ngoài, có khi gọi đó là đầu tư! Nhìn lại thì nếu sản lượng kinh tế Việt Nam có gia tăng 6-7% mà lại chỉ bằng với số tiền tặng dữ từ ngoài gửi về thì ta thấy ra một lượng thất thoát tư bản cũng ở khoảng đó. Và đấy mới là vấn đề!
***********************************************************************
2- Kiều hối về VN năm qua giảm
Source: BBC Vietnamese
Tiền kiều hối gửi về Việt Nam năm 2009 giảm đi 20% sau năm kỷ lục 2008 vì kinh tế toàn cầu tác động đến các nước có người Việt sinh sống và làm ăn.
Theo nguồn tin của Thông tấn xã Việt Nam trích quan chức nhà nước Việt Nam, tổng kết năm 2009 cho thấy kiều hối về Việt Nam giảm nhiều so với 2008.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thuý được trích lời nói việc sút giảm này là không tránh khỏi, một phần vì tỉ lệ thất nghiệp tăng tại các nước có kiều dân Việt Nam sinh sống.
Còn ông Nguyễn Hoàng Minh, phó thống đốc phía Nam của Ngân hàng Nhà nước tại TP Hồ Chí Minh nói kiều hối qua các ngân hàng và đại lý chuyển tiền ở thành phố này chỉ vào khoảng 3,2 tỉ USD trong năm qua, giảm 20% so với 2008.
Truyền thông Việt Nam đưa ra là trong cả năm 2009, kiều hối về nước chỉ đạt 6-6,8 tỉ USD, thấp hơn so với con số ước tính từ 7,2 đến 8 tỉ năm 2008.
Tuy nhiên, hiện chưa có con số kiều hối gửi theo đường không chính thức tăng hay giảm bao nhiêu trong năm.
Tin vừa qua chỉ xác nhận những gì giới ngân hàng Việt Nam đã đưa ra hồi tháng 10 năm qua, rằng Bấm kiều hối giảm mạnh.
Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước ở TP HCM trong tháng 10 tiếp tục giảm 8,07% so với tháng 9, chỉ đạt gần 260 triệu USD.
Cũng vào thời điểm đó, tuy kiều hối chuyển qua hệ thống ngân hàng giảm 16,1% nhưng tiền chuyển qua các công ty lại tăng nhẹ.
Theo ngân hàng, mười tháng đầu năm 2009 lượng kiều hối chuyển về TP.HCM đạt gần 2,6 tỉ USD, bằng 60% so với năm 2008.
Tác động toàn cầu
Các nước có đông Việt kiều, chủ yếu gửi tiền về các tỉnh Nam Việt Nam là Hoa Kỳ, Úc, Canada và khu vực Tây Âu.
Có vẻ như năm 2008 lượng kiều hồi gửi về Việt Nam là cao nhất từ trước đệ́n nay.
Tính đến tháng 12/2008, lượng kiều hối gửi về Việt Nam đạt chừng 8 tỉ USD, tăng 2.5 tỉ USD so với năm 2007.
Nhưng năm 2009 là năm khó khăn và Việt Nam đã vất vả để giữ mức tăng trưởng kinh tế.
Hồi tháng 9/2009, khi loan báo cho Việt Nam vay 500 triệu USD để kích thích kinh tế, Ngân hàng Phát triển châu Á ( ADB ) nói khoản vay sẽ giúp Việt Nam đối phó với ảnh hưởng của tình trạng khó khăn kinh tế toàn cầu.
Thông cáo của ngân hàng nói Việt Nam đang chịu hậu quả nặng nề khi đầu tư trực tiếp từ nước ngoài giảm, xuất khẩu và kiều hối cũng đi xuống.
Một điều tra của đài BBC công bố tháng 9/2009 cho thấy cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu đã tác động đến dòng kiều hối gửi về các nước như Mexico hay Moldova.
Ấn Độ là nước nhận kiều hối lớn nhất với người Ấn Độ trên toàn cầu gửi về nước khoảng 45 tỉ USD năm 2008.
Sau Ấn Độ là Trung Quốc và Mexico, nếu xét về tổng mức tiền gửi về những nước này.
Việt Nam cũng đứng cao tại châu Á trong số các nước nhận kiều hối, cả từ các Việt kiều lẫn lao động Việt Nam ở nước ngoài, chủ yếu tại châu Á.
Kinh tế nhiều quốc gia đang phát triển phụ thuộc nhiều vào nguồn kiều hối.
Kinh tế gia từ Ngân hàng Thế giới, ông Dilip Ratha nói tại Trung Á, Tajikistan đứng đầu bảng các nước phụ thuộc vào tiền gửi về quê trong năm 2008, với 45% kinh tế địa phương là do kiều hối hỗ trợ.
Nước nhỏ ở Đông Âu là Moldova có gần 40% dòng tiền mặt là kiều hối, và Lesotho ở nam Phi nhận gần 30%.
***********************************************************************
3- Kiều hối về TP.HCM tiếp tục giảm
Source: BBC Vietnamese
Ngân hàng Nhà nước TP.HCM cho biết kiều hối chuyển về thành phố trong tháng 10 tiếp tục giảm 8,07% so với tháng 9, chỉ đạt gần 260 triệu USD.
Trong đó kiều hối chuyển qua hệ thống ngân hàng giảm 16,1% nhưng chuyển qua các công ty lại tăng nhẹ.
Theo ngân hàng, mười tháng đầu năm 2009 kiều hối chuyển về TP.HCM đạt gần 2,6 tỉ USD, bằng 60% so với năm 2008.
Cũng theo ngân hàng này, nếu so với con số kiều hối thông qua các ngân hàng trên địa bàn TP.HCM đạt được năm ngoái là trên 4 tỷ USD thì khả năng năm nay sẽ khó đạt được con số này.
Nguyên nhân theo các chuyên gia do khủng hoảng kinh tế khiến thu nhập của Việt kiều và lao động Việt Nam tại nước ngoài giảm sút nên kiều hối cũng bị ảnh hưởng.
Tuy vậy nhiều người tin rằng kiều hối trên thị trường “ngầm” vẫn lớn hơn rất nhiều so với con số mà Nhà nước đã thống kê được.
Nhu cầu thay đổi
Giới chức ngân hàng tin rằng bên cạnh lý do khách quan làm giảm, kiều hối chỉ có thể phát triển mạnh khi có hệ thống chi trả rộng khắp và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân.
Thực tế cho thấy, đối với những người nước ngoài đi du lịch hoặc đang sinh sống tại Việt Nam cũng có nhu cầu nhận kiều hối từ thân nhân.
Tại nhiều nơi trên thế giới, dỉ nhiên điều họ mong muốn là nhận tiền tại bất kỳ điểm giao dịch nào thuận tiện như khách sạn, nhà hàng, siêu thị v.v...
Các ngân hàng ở Việt Nam cũng đã bung ra nhiều điểm giao dịch nhưng chưa đủ mạnh, theo các nhà quan sát.
Từ chỗ giúp người thân còn ở quê nhà trong những năm trước, người Việt ở nước ngoài nay chuyển sang giúp khai thác các thế mạnh của nhau để cùng làm ăn, làm giàu.
Đối với một số người đó cũng là để chuẩn bị cho lúc về hưu nếu họ có ý định quay về lại Việt Nam.
************************************
4- Kiều hối và mâu thuẫn của Ngân hàng Thế giới
Source: VOA News
Trần Vinh Dự
Kiều hối là một phần hết sức quan trọng trong cán cân tài khoản vãng lai ở Việt Nam. Ý nghĩa đặc biệt của nó còn nằm ở chỗ Việt Nam trong nhiều năm gần đây luôn là một nước nhập siêu và vì thế cần nguồn ngoại tệ mạnh để bù vào khoảng trống trong cán cân thương mại.
Báo chí Việt Nam hồi giữa tháng 7 mới đưa tin cho biết lượng kiều hối đổ vào Việt Nam năm nay có thể lên tới khoảng $5.8 tỉ tới $6 tỉ Mỹ kim. So với lượng kiều hối của năm ngoái ( $7.2 tỉ ) thì kiều hối đổ vào Việt Nam năm nay giảm khoảng 20% .

Hình: Việt Nam là một trong 10 nước nhận nhiều kiều hối nhất thế giới. Nguồn: World Bank
Ngân hàng Thế giới trong một báo cáo hồi giữa tháng 6 nhận xét về khoản kiều hối này như sau:
“Ở các nước Đông Á khác, kiều hối thường do lao động làm việc ở nước ngoài gửi về cho gia đình. Sinh kế của nhiều người lao động như vậy đang gặp rủi ro do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, và do đó kiều hối dự báo sẽ bị ảnh hưởng theo. Ở Việt Nam, kiều hối phần nhiều do cộng đồng người Việt sinh sống ở nước ngoài lâu năm gửi về, những người này tương đối khá giả và hiện nay đang đầu tư về nước, đôi khi gắn với kế hoạch nghỉ hưu của họ. Do vậy dòng kiều hối có thể sẽ giảm ít hơn so với các quốc gia khác trong khu vực.”
Thế nhưng cũng theo số liệu của ngân hàng thế giới thì kiều hối đổ vào các nước đang phát triển trong năm 2009 sẽ vào khoảng $304 tỉ Mỹ kim, giảm từ 7% tới 10% so với năm ngoái (báo cáo Migration and Development Brief, July 2009 ). Báo cáo này cũng nhìn nhận:
“Kiều hối không giảm nhiều vì mặc dù luồng lưu chuyển lao động mới đã giảm đi nhưng số lao động di cư từ trước hầu như không bị ảnh hưởng gì từ cuộc khủng hoảng.”
Rõ ràng là 2 báo cáo nêu trên của Ngân hàng thế giới có sự mâu thuẫn. Kết hợp với số liệu về kiều hối mà Việt Nam vừa công bố thì:
1. Hai báo cáo này nhận định ngược nhau. Báo cáo số một thì nói “kiều hối thường do lao động làm việc ở nước ngoài gửi về cho gia đình. Sinh kế của nhiều người lao động như vậy đang gặp rủi ro do khủng hoảng kinh tế toàn cầu” trong khi đó báo cáo số 2 thì lại nói “Kiều hối không giảm nhiều vì mặc dù luồng lưu chuyển lao động mới đã giảm đi nhưng số lao động di cư từ trước hầu như không bị ảnh hưởng gì từ cuộc khủng hoảng.” Thế mới biết dân nghiên cứu kinh tế đôi khi cũng hay ăn ốc (nói mò) và thi thoảng kiêm luôn nghề thày bói xem voi.
2. Kiều hối vào Việt Nam trong năm 2009 giảm sâu hơn nhiều so với mức trung bình của thế giới (20% so với từ 7% tới 10%). Sự chênh lệch này có lẽ là một sự bí ẩn khó giải thích?
*********************************************
Kiều hối
Source: vietnamembassy.us
Kiều hối là một nguồn lực quý giá theo nhiều nghĩa, là một kênh mang lại ngoại tệ mạnh cho đất nước mà không một kênh nào có thể sánh nổi về hiệu quả. Bởi vì ngoại tệ thu được từ xuất khẩu tuy rất quý nhưng xuất khẩu thì phải mất chi phí để sản xuất hàng, chi phí vận chuyển mang ra nước ngoài, lại còn phải chịu thuế nhập khẩu, chịu hạn ngạch, chịu kiện bán phá giá, chi phí tiếp thị, quảng cáo...
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ta được lợi về thuế, giải quyết được công ăn việc làm, tiếp thu công nghệ tiên tiến, học được kinh nghiệm quản lý... nhưng vốn là của nhà tư bản nước ngoài, lãi họ hưởng, nếu họ không xuất khẩu thì còn cạnh tranh với hàng hóa cùng loại sản xuất trong nước. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cũng rất quý, nhưng hơn 90% là vốn vay, dù được vay trong thời gian dài, lãi suất thấp, lại có thời gian ân hạn, nhưng việc giải ngân không đơn giản, hơn nữa nếu sử dụng không hiệu quả thì vay mới sẽ cũng chỉ để trả nợ cũ và không chỉ để lại gánh nặng nợ nần cho con cháu mà ngay từ bây giờ đã phải trả những khoản lãi của những khoản nợ đầu tiên...
Kiều hối còn là một nguồn lực lớn và gần như tăng liên tục trong thời gian qua (năm 1991 có 35 triệu USD, năm 1992 có 136,6 triệu, năm 1993 có 141 triệu, năm 1994 có 249,5 triệu, năm 1995 có 285 triệu, năm 1996 có 469 triệu, năm 1997 có 400 triệu, năm 1998 có 950 triệu, năm 1999 có 1.200 triệu, năm 2000 có 1.757 triệu, năm 2001 có 1.820 triệu, năm 2002 có 2.200 triệu, năm 2003 có 2.600 triệu, ước năm 2004 sẽ vượt 3.000 triệu USD, gấp 85,7 lần năm 1991, tăng tới 40,8%/năm - một tốc độ tăng gần như không có chỉ tiêu nào đạt được trong thời gian tương ứng). Tổng cộng trong 14 năm qua đã có 15 tỉ 243 triệu USD, bằng 59% tổng vốn FDI thực hiện và lớn hơn cả tổng số vốn ODA giải ngân từ 1993 đến nay.
Quan trọng hơn, nguồn kiều hối còn là tình cảm sâu nặng của bà con Việt kiều đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài đối với thân nhân và quê hương, đất nước. Điều đó còn chứng tỏ chính sách của Đảng và Nhà nước cởi mở thông thoáng khuyến khích và tạo điều kiện cho kiều bào ở nước ngoài gửi tiền về giúp gia đình; tạo điều kiện bảo đảm an toàn cho số tiền này; người thân được nhận bằng ngoại tệ không hạn chế,…
Nguồn kiều hối này cộng với các nguồn ngoại tệ khác còn góp phần cải thiện cán cân tổng thể, góp phần ổn định giá USD trong mấy năm gần đây.
Bởi vậy cần tạo điều kiện để nguồn lực quý này gia tăng hơn nữa.
Ngọc Minh
***********************************************************************
10 tháng, vốn FDI giải ngân đạt 8 tỉ đô la
(VNA) Theo Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn giải ngân của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong 10 tháng đầu năm nay đạt 8 tỉ đô la Mỹ, bằng 87,9% so với cùng kỳ năm 2008.
Cũng theo Cục Đầu tư nước ngoài, tổng vốn FDI đăng ký 10 tháng năm 2009 (tính đến ngày 21-10-2009) đã đạt hơn 18,9 tỉ đô la Mỹ.
Kết quả này chưa cập nhật hết vì trong tháng 10 có ít nhất 3 dự án lớn được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 7,8 tỉ đô la Mỹ, cộng với 12,54 tỉ đô la Mỹ của 9 tháng trước đó thì tổng vốn đăng ký trong 10 tháng đầu năm 2009 đã vướt 20 tỉ đô la Mỹ.
Với tổng số tổng vốn đăng ký trên thì 4,87 tỉ đô la Mỹ là vốn đăng ký tăng thêm của 179 dự án, bằng 95,2% so với cùng kỳ năm 2008. Số vốn còn lại là từ gần 658 dự án mới được cấp phép.
Lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống tiếp tục dẫn đầu nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong 10 tháng qua, đạt hơn 8,7 tỉ đô la Mỹ thông qua 26 dự án được cáp phép mới và 7 dự án đang hoạt động tăng thêm vốn đầu tư.
Kế đến là lĩnh vực bất động sản đạt gần 5,67 tỉ đô la Mỹ thông qua 34 dự án được cấp phép mới và 3 dự án đang hoạt động tăng thêm vốn mở rộng đầu tư. Lĩnh vực công nghiệp chế biến và chế tạo có 182 dự án mới và 103 dự án tăng thêm vốn với tổng vốn đăng ký đạt hơn 2,65 tỉ đô la Mỹ...
***********************************************************************
Kiều hối: Nguồn lực "kép" cho nền kinh tế
Để tăng trưởng kinh tế cao thì vốn đầu tư là yếu tố vật chất có tính quyết định. Trong các nguồn lực thì kiều hối là kênh ngoại tệ mạnh cho đất nước mà không có một kênh thu hút nào có thể sánh nổi.
Xuất khẩu thì phải mất chi phí để sản xuất hàng hoá, tốn chi phí để vận chuyển mang ra nước ngoài, lại còn phải chịu thuế nhập khẩu, chịu hạn ngạch, chịu bị kiện bán phá giá của nước ngoài, lại còn chi phí tiếp thị, quảng cáo... Đó là chưa kể còn phải tốn một lượng ngoại tệ không nhỏ, thậm chí còn nhiều hơn (nhập siêu) để nhập nguyên nhiên vật liệu để sản xuất và tiêu dùng.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thì vốn là của nhà tư bản nước ngoài, vốn họ thu hồi, lãi họ hưởng, nếu họ không xuất khẩu được thì còn cạnh tranh với hàng hoá cùng loại sản xuất trong nước (tất nhiên ta có lợi nhờ thu được thuế, giải quyết được việc làm, tiếp thu được khoa học- công nghệ, học tập được kinh nghiệm quản lý, nâng cao tay nghề...).
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cũng rất quý, vừa được vay trong thời gian dài, vừa có lãi suất thấp, lại có thời gian ân hạn tới 10 năm và có một phần (khoảng 10%) là viện trợ không hoàn lại, nhưng việc giải ngân không đơn giản, phần lớn vẫn là vốn vay, đặc biệt nếu sử dụng không hiệu quả thì vay mới sẽ cũng chỉ để trả nợ cũ và không chỉ để lại gánh nặng nợ nần cho con cháu mà ngay từ bây giờ đã phải trả những khoản lãi của những khoản nợ đầu tiên.
Kiều hối còn là một nguồn lực lớn và gần như tăng nhanh, tăng liên tục trong thời gian qua: năm 2004 nhiều gấp 85,7 lần năm 1991, tăng tới 40,8%/năm- một tốc độ tăng gần như không có chỉ tiêu nào đạt được trong thời gian tương ứng. Tổng cộng trong 14 năm qua đã có 15.243 triệu USD, bằng khoảng 59% tổng vốn FDI thực hiện tính từ năm 1988 và lớn hơn cả tổng số vốn ODA được giải ngân từ 1993 đến nay.
Quan trọng hơn, nguồn kiều hối là tình cảm sâu nặng của bà con Việt kiều đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài đối với thân nhân và quê hương, đất nước.
Nguồn kiều hối này cộng với các nguồn ngoại tệ khác thu được từ các kênh khác (xã hội, FDI, ODA, lao động xuất khẩu, du lịch...) đã góp phần cải thiện cán cân tổng thể của nước nhà, mặc dù nhập siêu mấy năm nay khá lớn (năm 1999 mới có 201 triệu USD, năm 2000 là 1.154 triệu, năm 2001 là 1.189 triệu, năm 2002 là 3.039 triệu, năm 2003 là 5.051 triệu, 11 tháng đầu năm 2004 là 4.461 triệu).
Đây cũng là yếu tố góp phần làm cho giá USD trong mấy năm gần đây tương đối ổn định (năm 1991 còn tăng tới 103,1%, năm 1992 giảm 25,8%, năm 1993 tăng 0,3%, năm 1994 tăng 1,7%, năm 1995 giảm 0,6%, năm 1996 tăng 1,2%, năm 1997 tăng 14,2%, năm 1998 tăng 9,6%, năm 1999 tăng 1,1%, năm 2000 tăng 3,4%, năm 2001 tăng 3,8%, năm 2002 tăng 2,1%, năm 2003 tăng 2,2%). Tháng 12/2003 so với tháng 12/1990, tỷ giá tăng 119,1%, bình quân tăng 6,2%/năm, thấp hơn nhiều so với giá tiêu dùng (tăng 229,1% hay bình quân 9,8%/năm trong thời gian tương ứng).
Đạt được quy mô lớn và gia tăng về kiều hối như trên là nhờ chính sách thông thoáng của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực này. Trước hết là chính sách tạo điều kiện cho người Việt Nam được đoàn tụ với gia định đang định cư ở nước ngoài nếu được gia đình bảo lãnh, cho Việt kiều về nước thăm thân nhân, thăm quê hương, đất nước (ngoài mục đích du lịch, công việc hoặc mục đích khác, lượng Việt kiều về thăm thân nhân qua các năm có quy mô khá: năm 1996 có 274 nghìn lượt người, năm 1997 có 372 nghìn, năm 1998 có 301 nghìn, năm 1999 có 337 nghìn, năm 2000 có 400 nghìn, năm 2001 có 390 nghìn, năm 2002 có 425 nghìn, năm 2003 có 375 nghìn, 11 tháng năm 2004 có trên 421 nghìn).
Lượng kiều hối gửi về nước hoàn toàn do người gửi lựa chọn hình thức, lựa chọn đơn vị là dịch vụ nhận gửi, không hạn chế số tiền (trừ việc mang theo người nếu vượt quá 3.000 USD phải khai báo để thống kê); người nhận được trực tiếp nhận bằng ngoại tệ, không bị ép buộc phải đổi ra VND- một sự khuyến khích thông thoáng hiếm có so với nhiều nước trên thế giới.
Việc xử dụng lượng kiều hối này cũng hoàn toàn do những người nhận quyết định, trong đó Nhà nước khuyến khích việc dành cho đầu tư. Những đơn vị làm dịch vụ nhận chuyển kiều hối bảo đảm ngày một an toàn, tiện lợi, nhanh chóng, với chi phí ngày một giảm.
Hiện có hơn 2 triệu Việt kiều ở nước ngoài, chủ yếu lại ở các nước có nền kinh tế phát triển, có thu nhập cao và hầu hết bà con các thế hệ vẫn giữ được truyền thống yêu quê hương, đất nước. Vì vậy cần có chính sách để phát triển hơn nữa đất nước, đồng thời làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền để các thế hệ Việt kiều trở về thăm quê hương và chuyển tiền về giúp đỡ cho thân nhân, xây dựng quê hương đất nước.
Thời báo Kinh tế Việt Nam, 27/12/2004
****************************************************************
Bắt đầu vào mùa kiều hối!
12/07/2004
Các ngân hàng cho biết đã vào mùa kiều hối và sẽ kéo dài đến sát tết âm lịch. Hiện bình quân mỗi ngày Ngân hàng Đông Á chi trả trên 2 triệu USD, Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín chi gần 2 triệu USD, Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) gần 1 triệu USD.
Theo Eximbank, phần lớn người nhận kiều hối vẫn thích nhận bằng USD trong khi với những người nhận kiều hối bằng các đồng tiền khác (đôla Úc, đôla Canada, EUR...) đều bán lại cho ngân hàng để lấy VND.
Ngân hàng Nhà nước Tp.HCM cho biết ngoài việc xử dụng lượng USD tiền mặt thu đổi được ở trong nước, trong tháng mười một các ngân hàng đã nhập thêm 18 triệu USD tiền mặt để đáp ứng nhu cầu nhận kiều hối bằng USD tiền mặt của người dân. Trước đó trong tháng mười các ngân hàng chỉ nhập thêm có 7 triệu.
Do đồng EUR được giá, người dân đã đưa EUR bán cho ngân hàng nhiều hơn thay vì cất giữ. Lượng bán tăng dần theo tốc độ tăng của tỉ giá EUR: tháng chín chỉ có 21 triệu EUR, tháng mười tăng lên 22,7 triệu EUR, tháng mười một tăng lên gần 31 triệu EUR.
Trước đó, trong quí I/2004, bình quân mỗi tháng chỉ khoảng 14 triệu EUR. Tỉ giá VND/EUR đã tăng mạnh qua các tháng, nếu đầu năm bán 1 EUR thu được 19.340 đồng thì thời điểm này bán được trên 21.000 đồng..
Tuổi Trẻ, 7/12/2004
01/29/10. 09:14:01 pm. 13842 words, 267 views. Categories: Thiên hạ sự, Tổ quốc dấu yêu, Nối vòng tay lớn, Trong ðời sống thật sự, Liên kết blogs, Ôn cố nhi tri tân, Xã hội và nhân văn ,
PHAN KHẮC TỪ TÊN LÍNH XUNG KÍCH VÔ DỤNG CỦA TẬP ĐOÀN BÁN NƯỚC HÀ NỘI

Linh mục gia nô Việt cộng Phan Khắc Từ - Ảnh: vietnamnet
PHAN KHẮC TỪ TÊN LÍNH XUNG KÍCH VÔ DỤNG CỦA TẬP ĐOÀN BÁN NƯỚC HÀ NỘI
Source: honviet.uk
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Sau khi Việt gian Cộng sản đã thâu tóm được chính quyền về tay nhân dân (nói theo giọng điệu bịp của VGCS) thì trong giới linh mục công giáo người ta mới thấy rõ những ai là cộng sản chính chuyên, nhãn hiệu con nai vàng. Vương Đình Bích, một tên quốc doanh trong nhóm Lũ 4 Tên, vì một vụ đụng độ nhau, ngày 25-12-1997 đã viết thư gởi lãnh đạo Thành Hồ nói huỵch toẹt chẳng cần giấu diếm rằng: “Tôi đã thành khẩn nói với hai anh Từ và Cần là vấn đề thật của tổ chức chúng ta, không phải nhóm nghiên cứu mà là nhóm 4 anh em chúng tôi, Minh - Cần - Từ – Bích đã được lãnh đạo gầy dựng và giao nhiệm vụ điều động phong trào công giáo yêu nước tại thành phố này.” Bốn anh em chúng tôi đây là các tên Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, và Vương Đình Bích. Giáo dân quen gọi bọn này là Lũ 4 Tên, hay Tứ Nhân Bang. Kể cả những ông áo đen kỳ cựu như Hồ Thành Biên, Nguyễn Thành Trinh và những người khác, hết thẩy đều chỉ là thứ cỏ đuôi chó, chứ không phải CS có license. Sau ngày đổi đời, chúng ta thấy Phan Khắc Từ thế giá như thế đấy. Nhưng trước đó thì hắn được mọi người gọi bằng một cái tên đặc sệt mùi chợ búa là “ông Linh mục hốt rác”. Hắn là một linh mục công giáo thiệt, và làm nghề hốt rác thiệt.
Khoảng đầu thập niên 1970, dân Sàigòn lao xao đồn thổi về hiện tượng các linh mục dấn thân làm các nghề lao động chân tay để truyền giáo. Những vị khác như Đức TGM Nguyễn Kim Điền, lúc đó còn là linh mục, làm nghề đạp xích lô, thì rất ít người biết đến, bởi vì các ngài làm Tông Đồ cho Chúa thiệt, nên không muốn khoa trương. Trừ ra Phan Khắc Từ, sau một bài phóng sự có tiêu đề "Linh mục hốt rác" đăng trên báo Đại Dân Tộc (?) ở Saigon, đã trở thành một hiện tượng được rất nhiều người chú ý đến. Phóng sự kể về ông linh mục trẻ Phan Khắc Từ tự nguyện xin đi làm công nhân hốt rác để được sống như một anh công nhân hạng D. Việc phóng ra tên tuổi và tô vẽ cho Phan Khắc Từ, một tên CS còn trong bí mật lúc đó, nằm trong kế hoạch dân vận của VGCS.
Tuy Phan Khắc Từ đi hốt rác, nhưng hắn không phải đụng đến cái chổi, và luôn luôn phô trương cái mark linh mục của mình cho mục đích của hắn. Những người công nhân hốt rác khác thấy hắn là một ông cha nên kính nể, và chuyện gì cũng nghe theo hắn. Cái lợi trước mắt là hắn đi làm không phải mang cơm nước theo, mà được các công nhân cơm bưng nước rót tận miệng. Có lúc hắn uống rượu với công nhân say xỉn mất hết tư cách ngay bên cạnh đống rác hôi thối. Hắn đã giác ngộ “cách mạng” và thường thân thiết tâm sự với các anh chị em công nhân: “Tôi được sống trong hoàn cảnh giáo hội toàn cầu đã thức tỉnh. Hiến chế mục vụ của cộng đồng Vatican 2 cứ vang vọng mãi trong tôi. Sao nhãng bổn phận trần thế, tức là sao nhãng bổn phận đối với tha nhân và hơn nữa đối với Thiên Chúa, khiến phần rỗi đời đời của mình bị đe dọa. Gần hơn, vừa lúc bắt đầu cuộc đời linh mục, tôi còn được nghe, được thao thức với những lời sám hối chân thành và những quyết định mạnh mẽ của một giáo hội Á châu nhỏ bé, vốn giàu có về văn hóa, tôn giáo, nhưng lại đau khổ, đói nghèo.”
Năm 1969, lần đầu tiên Phan Khắc Từ được đi dự đại hội Thanh Lao Công thế giới có xu hướng thân cộng tại Liban, được Mạc Tư Khoa đỡ đầu và tài trợ. Phan Khắc Từ nuôi ý tưởng phản bội Quốc Gia từ trước. Tại đại hội này, nhiều phái đoàn thanh niên công giáo lên tiếng đòi Mỹ rút quân, trả lại quyền tự quyết cho Việt Nam, và gọi chính quyền VNCH là bù nhìn, nên hắn càng thêm quyết tâm theo CS hơn. Sau Đại Hội Liban, hắn ở lại Âu Châu. Hơn một năm tại Pháp, Phan Khắc Từ ngả hẳn theo khuynh hướng Thần Học Giải Phóng của nhiều giáo sĩ Mỹ Châu La-tinh, với phong trào Thanh Lao Công làm điểm tựa, cũng đồng thời là môi trường hoạt động cho hắn. Hắn rất ngưỡng mộ vị Giám Mục đỏ Helder Pessoa Camara người Brazilian, và linh mục Camilo Torres Restrepo, người khởi xướng đội du kích chiến đấu tại Columbia, và phát động phong trào Thần Học Giải Phóng tại Mỹ Châu La-tinh. Tại Paris, Phan Khắc Từ tham gia đình công, biểu tình đòi công bằng cho giới lao động, tham gia nhiều cuộc biểu tình của sinh viên và công nhân đòi hòa bình cho Việt Nam. Đánh dấu bước quay đầu phản bội quan trọng nhất của Phan Khắc Từ là trong thời gian ở Pháp, hắn đã đến gặp mụ Nguyễn Thị Bình, trưởng phái đoàn thương thuyết của cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để xin được ra bưng theo CS. Thị Bình bảo hắn hãy trở về Saigon chế bom xăng đánh Mỹ trong thành phố. Và Từ đã làm theo đúng như vậy.
Cuối năm 1970, Phan Khắc Từ trở lại Sài Gòn và lập tức hăng hái nhập cuộc với các phong trào đấu tranh tại đây. Hắn bắt đầu bằng sự góp mặt trong Mặt trận Nhân dân Tranh thủ Hòa bình, rồi phong trào học sinh, sinh viên đòi quyền sống, phong trào chống tăng học phí, chống độc diễn, đốt xe Mỹ trên đường phố v.v... Nhà thờ Vườn Xoài trở thành nơi chế tạo bom xăng cho phong trào đốt xe Mỹ. Sau vụ đình công năm 1971 của công nhân hãng pin Con Ó để làm trở ngại cuộc hành quân Hạ Lào của QLVNCH, Phan Khắc Từ bị cảnh sát Saigon bắt nhốt vào khám Chí Hòa cùng với các tên Trương Bá Cần, Trần Thế Luân và Nguyễn Ngọc Lan. Cả ba cũng là linh mục. Sau một tuần được thả ra, bọn này còn làm eo với cảnh sát: "Chúng tôi chỉ ra cùng với các anh em công nhân khác." Cảnh sát bèn đưa cả ba lên xe, chở ra Quốc Lộ 4, đường về Lục Tỉnh, đẩy xuống vệ đường giữa cánh đồng vắng trong đêm khuya.
Năm 1974, VGCS dựng lên cái gọi là Ủy ban bảo vệ quyền lợi lao động miền Nam. Nhờ nổi tiếng là linh mục hốt rác, Phan Khắc Từ được bầu làm chủ tịch ủy ban này. Từ ký tên gửi thư cho đại sứ Hoa Kỳ tại VN, tố cáo người Mỹ khinh miệt giới công nhân Việt Nam và đe dọa phát động chiến dịch chống sa thải. Người Mỹ đã biết bọn này là ai rồi nên họ tỉnh queo. Bọn này cũng tổ chức nhiều cuộc biểu tình chống tham nhũng và tố cáo Mỹ và VNCH vi phạm Hiệp Định Paris.
Năm 1974, Phan Khắc Từ vào bưng một tuần lễ để thụ huấn nghiệp vụ khuấy đảo, và khóa học khủng bố trong thành phố. Cũng trong năm này, hắn bị sa thải khỏi sở rác. Từ bèn nhảy sang hoạt động từ thiện trong một tổ chức CS trá hình khác là Mặt trận nhân dân cứu đói do hòa thượng Thích Hiển Pháp làm chủ tịch, và Từ làm phó chủ tịch. Phan Khắc Từ tâm sự: “Từ đó, tôi rất thân thiết với nhà chùa, tôi di chuyển hết nhà chùa này sang nhà chùa khác để tập hợp quần chúng, tố cáo chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và phát gạo cho dân nghèo tại nhiều tỉnh từ miền Nam ra miền Trung. Kể cũng thú vị, nhiều đêm tối, một linh mục công giáo nằm gác chân với vài vị sư trên tấm phản, thì thầm bàn chuyện quyên góp, làm từ thiện.”
Từ sau 30-4-75 cho đến nay, Phan Khắc Từ luôn luôn cố thủ trong cái gọi là Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo, mà người dân miền Nam thường gọi mỉa là “ủy ban đàn két” hoặc “ủy ban đàn két gươm giáo”. Về nhân sự, tính đến cuối năm 2008, người ta đã tổng kết cái ủy ban này như sau: Theo báo cáo của UBĐK, hiện nay tổ chức này đã phát triển ra 39 tỉnh thành (trong 65 tỉnh thành cả nước), với hơn 400 linh mục, tu sĩ tham gia ủy ban các cấp. Theo điều tra của chúng tôi, ở trung ương, khóa 4 có 104 vị ghi danh, trong đó có 62 linh mục, tu sĩ. Thế nhưng, nhiều người nói đấy là “Hội của những người siêu cao tuổi” vì có tới 94 vị từ 60 tuôỉ trở lên (chiếm 91,2%). Số dưới 50 tuổi chỉ có 10 người (8,8%). Có những linh mục điếc nặng, hơn 100 tuổi như linh mục Nguyễn Chu Trình (đã mất). Có những linh mục đi họp phải có người cõng. Có một số “lẩm cẩm” nặng, nói không ai hiểu gì. Ông Vũ Thái Hòa nguyên chuyên viên Ban Tôn giáo Chính phủ cũng là ủy viên UB phải đi họp trên lưng đứa cháu. Ông Vũ Văn Chuyên trên ngực phải có biển đề số nhà, điện thoại, sợ đi lạc đường, công an biết lối đưa về… Có nhiều linh mục chỉ ghi danh, đi họp là một lần ra Hà Nội miễn phí máy bay để thăm bạn bè, chữa bệnh. Có một số chỉ đi họp một lần rồi biến mất tăm, như linh mục Trần Đức Hạnh (Cao Bằng). Ở Hà Nam, người ta cũng ghi danh 5 linh mục nhưng không thấy có ai xuất hiện. Tại một số nơi như Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Ban tổ chức chỉ xin các linh mục ghi danh và đến chụp một tấm hình mà cũng không được…..
Phan Khắc Từ nằm trong cái ủy ban đàn két gươm giáo với chức vụ tổng thư ký, kiêm phó chủ tịch ủy ban, nhưng thực chất là chỉ để cho có mặt, đồng thời để theo dõi và quản lý ủy ban về mặt tư tưởng. Những chỗ hắn cần có mặt, trước hết là tại quốc hội để kiếm tí danh hão với đời. Phan Khắc từ làm đại biểu quốc hội CS 3 khóa từ 1987 đến 2002. Sau đó, tuy còn thèm muốn lắm, nhưng hắn đã trở thành con chó già vô dụng trong đàn chó săn của tên thợ rừng rồi. Chỗ thứ hai hắn muốn có mặt là nơi cai quản của một ông cha xứ. Tên giết người khét tiếng Lê Đức Thọ đã xây cho hắn ngôi thánh đường nguy nga đồ sộ trên đường Trương Minh Giảng, Saigon, gọi là nhà thờ Vườn Xoài để trả công cho hắn đã đắc lực giúp VGCS đuổi Mỹ. Đây là cơ ngơi, đúng hơn là nhà tư của hắn chứ chẳng phải là nhà thờ. Cho dù Đức Giáo Hoàng chứ chưa nói đến giám mục, tổng giám mục, hay hồng y, có thể đẩy hắn ra khỏi cái giang sơn này của hắn được. Và nơi thứ ba hắn muốn có mặt là những chỗ nào kiếm ra tiền.
Phan Khắc Từ ham tiền không phải là chuyện lạ, vì hắn có vợ con. Không phải ai có vợ con cũng là người tham lam tiền bạc cả. Phan Khắc Từ thì khác, đó là bản tính của hắn nữa. Số vốn của tờ báo Công Giáo và Dân Tộc được tài trợ bởi Lm Nguyễn đình Thi ở Pháp tới gần 150.000 dollars. Tiền vay thêm để tự kinh doanh cho việc điều hành tờ báo, như xí nghiệp làm bút bi, làm quạt trần, lập công ty may mặc, đầu tư trồng cao su với Singapore, lập khách sạn, mở trường dậy ngoại ngữ, trường dạy nghề, và máy computer v.v... Tất cả những cơ sở làm ăn trên đều do Phan Khắc Từ quản lý. Từ tiền bạc, quyền hành, đến đàn bà, tất cả Phan Khắc Từ thâu tóm vào trong tay hắn. Đây chẳng phải là những lời đồn trong thiên hạ, mà là từ trong nội bộ ủy ban đàn két đấu đá nhau rồi khui ra. Vương Đình Bích vạch trần những chuyệm lem nhem của Phan Khắc Từ công khai trên giấy trắng mực đen. Bích viết: "...về những biểu hiện suy thoái đạo đức trong đời tư của người thường trực UB Đoàn Kết, liên quan đến kinh doanh, tiền bạc và tình dục, gây hệ qủa xã hội là hai đứa con. Xét theo giáo luật, đương sự không còn tiêu chuẩn khách quan của luật độc thân để tiếp tục hoạt đông mục vụ và đại diện cho phong trào đoàn kết công giáo với tư cách linh mục của giáo hội". Cái ủy ban đàn két chia rẽ như thế mà dám mạ vàng hai chữ đoàn kết trên cái bảng hiệu của mình thì đúng là cùi không sợ lở.
Phải nhìn nhận rằng, Phan Khắc Từ là một con người khéo xoay xở. Những chức vụ trong ủy ban không kiếm ra tiền, mà có kiếm ra cũng chẳng bao nhiêu. Vả lại đấy là tài sản chung của ủy ban. Sau khi thôi không còn làm đại biểu quốc hội nữa, Phan Khắc Từ xoay qua làm nghề từ thiện, nuôi đà điểu và gia súc. Hiện nay hắn làm chủ 3 cơ sở từ thiện mang tên là Thiên Phước. Cơ sở Thiên Phước của Từ thường được nói đến nhiều nhất là nhà nuôi dưỡng và bảo trợ 130 trẻ em khiếm thị (mù) mà Từ rêu rao là nạn nhân chất độc da cam, tọa lạc tại ấp 6, xã An Nhân Tây, huyện Củ Chi.
Chuyện lem nhem làm mất mặt Phan Khắc Từ nhất là vấn đề vợ con. Khi Từ còn là một phu hốt rác, VGCS đã bố trí bên cạnh hắn một ả nữ sinh tên là Tư Liễu, một cán bộ hoạt động nội thành. Sau ngày 30-4-75, điều nghi ngờ của đám phu hốt rác bên cạnh Phan Khắc Từ đã trở thành hiện thực. Từ và Tư Liễu sống chung với nhau thành vợ chồng, tuy vẫn còn e dè kín đáo. Hơn một năm sau họ có con. Đứa con đầu lòng được Tư Liễu tổ chức ăn thôi nôi rất linh đình. Liễu làm cửa hàng trưởng một cửa hàng lớn của quận Bình Thạnh nên y thị mời đông đủ bọn cán bộ từ cấp huyện trở xuống. Vì thế, chuyện “linh mục” Phan Khắc Từ có vợ con đổ bể tùm lum. Một anh bạn tù của kẻ hèn này là anh em tinh thần trong nhà tu với Phan Khắc Từ, trước kia là sĩ quan trưởng chi an ninh quận Cái Bè, sau khi được thả, đã tìm đến thăm Từ. Anh ta bắt gặp cả vợ con Từ. Hắn không còn đường chối cãi nên đành phải thú nhận: “đảng đã tác thành cho chúng tôi.” Phan Khắc Từ nói đúng. Đảng, chứ chẳng bao giờ Chúa tác thành cho hắn. Hắn vâng lời đảng hơn là vâng lời Chúa, dù hắn là linh mục.
Việc một ông linh mục công khai có vợ con vẫn được coi xứ, đêm ngủ ôm vợ mà vẫn sáng ngày ra nhà thờ dâng Thánh Lễ, lại vẫn còn được dơ tay tha tội cho bổn đạo, là một chuyện vô tiền khoáng hậu trong Giáo Hội Công Giáo. Có ông cha nào như thế nhưng lén lút chúng tôi không nói. Phan Khắc Từ hắn ngang nhiên và công khai. Sự việc này gây liên lụy đến vị giám mục bề trên của Từ, hiện nay là Hồng Y Phạm Minh Mẫn. Có rất nhiều giáo dân lên tiếng thống trách HY Mẫn là người để cho hiện tượng phản đạo này xẩy ra trong phạm vi trách nhiệm của ông. HY Mẫn không thể nói không biết, bởi vì dư luận đồn thổi tùm lum, Lm Vương Đình Bích trong giáo phận của ông đã lên tiếng công khai tố cáo, và nếu cần, HY Mẫn có thể cho người điều tra sẽ rõ trắng đen thôi. Kẻ phạm thánh vẫn hàng ngày thi hành chức vụ thánh, bề trên biết nhưng làm ngơ cho việc phạm thánh kéo dài. Như vậy thì đó là Phúc Âm hay là phản chứng của Phúc Âm? Chỉ tội nghiệp cho đám con chiên khù khờ, theo Chúa mà như người mù đi trong đêm tối, không biết đâu là chính đường, đâu là hố thẳm.
Với một đời tư bê bối như thế, cho nên trong đạo ngoài đời chẳng còn ai tin tưởng Phan Khắc Từ. Đức cố HY Phạm Đinh Tụng trước đây đã có lần cấm Phan Khắc Từ không được làm lễ trong Tổng Giáo Phận Hà Nội của ngài. Trong khóa họp đầu năm 2010 của ủy ban đàn két, Phan Khắc Từ dẫn một phái đoàn đến viếng thăm tòa TGM Hà Nội nhưng không được tiếp đón. Cũng trong dịp này, Từ còn dẫn phái đoàn đến thăm tên tướng già Võ Nguyên Giáp, nhưng cũng bị Giáp từ chối luôn. Cái ủy ban đàn két của Phan Khắc Từ lúc này hơn kém chỉ là cái thây ma, Từ muốn vực dậy để gây thanh thế cho mình, nhưng hết cách. Nhà báo Nguyễn Kế Nghiệp thư ký tòa soạn báo Người Công Giáo VN, là một đảng viên CS không công giáo, có lần nói với một người bạn của ông: Ông có biết vì sao cái UBĐK vẫn còn tồn tại đến nay không? Nhà nước cũng muốn dẹp cái cây cảnh héo này lắm rồi, nhưng dẹp thì mấy chục cán bộ ở ủy ban và Báo làm gì mà sống? Tôi đố tay nào ở cơ quan này đi xin nổi việc ở nơi khác vì có biết làm gì đâu, tối ngày chỉ ngồi ăn sẵn, và dọa nhà nước về nguy cơ của Vatican để nhận lương mà thôi!
Vì thế mọi người mới chưng hửng, nhưng không lấy làm ngạc nhiên khi thấy Phan Khắc Từ chường mặt ra bênh vực cho bọn phá đạo trong vụ Đồng Chiêm. Từ tuyên bố chắc nịch, VN hoàn toàn có tự do tôn giáo. Hắn còn kêu gọi trừng trị những ai lợi dụng tự do tôn giáo để làm những việc sai trái. Việc bọn bán nước huy động cả đến một trung đoàn trừ gồm bộ đội, công an, và du đãng ban đêm lên Núi Thờ chỉ để phá bỏ cây Thánh Giá trên đó là một hành động triệt hạ tôn giáo chứ còn nghi ngờ gì nữa. Cả thế giới lên án bọn côn đồ Việt gian bán nước, chỉ trừ có “linh mục” Phan Khắc Từ cho rằng đó là một hành động chính đáng của nhà nước, và còn kêu gọi phải trừng trị những nạn nhân của hành động triệt phá này. Người ta đặt câu hỏi tại sao Phan Khắc Từ lại dang thân ra làm công việc điên khùng như thế. Câu trả lời là hắn muốn tranh cái chức Tổng Biên Tập tờ báo Công Giáo Và Dân Tộc của cái ủy ban đàn két. Chức vụ này trước đây nằm trong tay Trương Bá Cần. Cần theo chân Hồ đi chầu Diêm Vương đã hơn nửa năm rồi, và chức vụ đó vẫn còn để trống. Người có khả năng điền khuyết là Thiện Cẩm, nhưng Thiện Cẩm không được VGCS tin cẩn bằng Phan Khắc Từ. Để cho chắc ăn, nhân vụ Đồng Chiêm, ông linh mục Phan Khắc Từ nhẩy ra giúp đảng đập con chiên của mình để lấy credit làm cái giá mua chức Tổng Biên Tập báo Công Giáo Và Dân Tộc. Hắn đã được toại nguyện, mặc dù Phan Khắc Từ chẳng biết báo chí là cái con mẹ gì.
Phan Khắc Từ tưởng rằng một ông linh mục tổng biên tập tờ báo công giáo độc chiếm trong nước đứng ra bảo đảm rằng VN có tự do tôn giáo là cả thế giới sẽ tin. Nhưng hắn đã lầm. Từ Hải Phòng hắn trốn chạy CS vào Nam lúc 15 tuổi. 15 năm sau, hắn trở thành linh mục, nhưng không phải là linh mục của Chúa, mà là của Satan. 72 tuổi đầu hắn còn tình nguyện làm một tên lính xung kích cho CS để kiếm một chút hư danh cỏn con. Hắn không biết hắn chỉ còn là một tên lính vô dụng, nói cho tượng hình hơn, là một con chó săn tồi cho bọn Việt gian bán nước tại Hà Nội, vì cuộc đời, lối sống, và tư cách của hắn chỉ là một chuỗi phản bội, bê tha tiền bạc và tình dục. Hắn đã trở thành con người hoàn toàn mù lòa. Hắn có tham vọng đem lại ánh sáng cho các em bé khiếm thị tại trung tâm ở Củ Chi của hắn. Thế nhưng rất tiếc, hắn không có ý hướng và khả năng làm cho đôi mắt của mình hết mù được.
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
01/29/10. 03:00:54 am. 5583 words, 129 views. Categories: Thiên hạ sự, Hậu trường, Liên kết blogs, Tôn giáo và tín ngưỡng, Xã hội và nhân văn ,