Category: Lịch sử thế giới

XEM PHIM TÀI LIỆU "ÐẠI HỌA MẤT NƯỚC"


Đại họa mất nước về tay Trung cộng là không thể tránh khỏi nếu tập đoàn Việt cộng bán nước và nô lệ cho Trung cộng còn nắm chính quyền. Chế độ cộng sản là một thảm họa cho dân tộc Việt Nam. Giải trừ quốc nạn cộng sản là nghĩa vụ của toàn dân Việt Nam, không thể chần chờ đến khi muốn yêu nước thì cũng chẳng còn nước để mà yêu.

by AI HUU NINH THUAN
12/02/10. 02:38:46 pm. 119 words, 19149 views. Categories: Thiên hạ sự, Lịch sử thế giới, Chiến tranh và hòa bình, Trực tiếp truyền hình ,

30-04-1975: MÁU VÀ NƯỚC MẮT - NGHỊ QUYẾT 36 ĐANG THỰC THI TẠI MỸ - LM NGUYỄN THUẬN LÀ AI MÀ DẸP CỜ VÀNG TẠI NHÀ THỜ ARIZONA? - BỊ HÃM HIẾP, VẪN CÒN TRINH!


Dương Văn Minh - Thích Đôn Hậu - Thích Trí Quang

Thảm sát Mậu Thân...

... đầu hàng Việt cộng...

... thư đầu hàng của Dương văn Minh...

... Việt cộng ngơ ngáo vào chiếm Dinh Độc Lập

... người di tản trên mẫu hạm Midway...

30-04-1975: Máu và Nước Mắt
Source: congdongnguoiviet.fr

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
2010/04/20



Kể từ giờ phút tên phản tặc Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng để dâng Miền Nam Tự Do vào tay của cộng sản Hà Nội; thì hàng năm cứ đến ngày Quốc Hận 30-04, là mọi người dân Việt, dù ở quốc nội, hay nơi hải ngoại cũng đều cảm thấy xót đau; bởi tất cả đều không bao giờ quên; và mãi mãi vẫn nhớ đến một ngày tang thương đã trùm phủ xuống quê hương. Ngày nước Việt Nam Cộng Hòa rơi vào tay giặc thù cộng sản.

Ngày 29/03/1975. Nhưng riêng thành phố Đà Nẵng quê hương tôi vì nhờ có «công lao » của « Lực lượng Hòa hợp Hòa giải Phật Giáo Thống Nhất (Ấn Quang)» đã đưa từng đoàn xe ra tận núi rừng để đón rước bộ đội Bắc Việt vào thành phố sớm hơn một tháng.

Từ ngày vượt biển ra hải ngoại cho đến hôm nay, tôi vẫn hằng mong đợi một bài viết thật trung thực và đầy đủ về những cuộc bạo loạn, cũng như những ngày cuối cùng của thành phố Đà Nẵng trước khi mất nước. Song, cho đến giờ phút này tôi vẫn chưa hề thấy, nên tôi, một phụ nữ không biết gì về văn chương lại thấp kém về mọi mặt. Nhưng, bởi mấy chục năm qua lòng tôi vẫn xót đau, khi những hình ảnh của những người đã bị chết oan, trong đó có những bé thơ, cứ hiện về như trách móc bảo tôi hãy lên tiếng. Vì thế, tôi phải hết sức cố gắng để viết lại những gì mà chính tôi đã mắt thấy, tai nghe, những điều mà có rất nhiều người đã biết, nhưng vì một lẽ nào đó nên tất cả đều im lặng. Họ không muốn hay không dám nói.

Tôi đã chứng kiến từ ngày 20/03/1975, với từng đoàn người di tản từ các tỉnh Trị-Thiên, Nam-Tín-Ngãi, đổ về Đà Nẵng mỗi ngày một đông, họ chỉ mong được lên tàu di tản vì ở những nơi đó VC đã hoàn toàn kiểm soát, không còn gì để hy vọng.

Tại Đà Nẵng, trong khi từng đoàn người bồng bế nhau chạy xuống bến Bạch Đằng, thì từng loạt pháo kích của VC bắn theo nổ chặn đường, làm kẻ chết, người bị thương, ai còn sống, bỏ tất cả lại để chạy thoát thân. Nhưng rồi chuyến tầu cuối cùng cũng đã rời bến Bạch Đằng; những người còn lại đành quay trở về. Trên đường phố từng toán người dìu dắt nhau trở lại, sau khi trở về nhà, họ đóng cửa, chỉ nhìn ra đường qua cửa sổ, họ đã sống trong những giờ phút hãi hùng, chờ đợi, không biết những gì sẽ xãy ra. Thành phố ngưng mọi sinh hoạt.

Thầy chùa đã đưa xe ra tận núi rừng để đón Cộng quân vào Đà Nẵng:

Tôi vẫn nhớ mãi về buổi sáng 29/03/1975, lúc ấy, vì phải đi tìm người thân bị thất lạc nên tôi có mặt tại ngã ba Huế, nhìn kim đồng hồ tay đương chỉ đúng tám giờ, khi nghe những tiếng động ồn ào, đồng bào mở cửa nhìn ra. Tôi cùng đồng bào đều nhìn thấy trên đường phố, từng đoàn xe đủ loại, xe Jeep, xe chở khách, xe nhà binh của các đơn vị quân sự bỏ lại. Trên các đầu xe, tất cả đều có cắm song song một lá cờ ngũ sắc của Phật giáo và một lá cờ nửa đỏ, nửa xanh, ở giữa có ngôi sao vàng của «Mặt trận Giải phóng miền Nam » tất cả đều có gắn loa phóng thanh đang ầm ầm tiến ra hai ngã một về phía Hòa Mỹ hướng ra đèo Hải Vân để đi Huế; và một về phía Phước Tường hướng về Hòa Cầm để đi vào Tam Kỳ-Quảng Nam. (xin lỗi tôi phải nói như thế, để các vị chưa biết về Đà Nẵng sẽ dễ hiểu hơn).

Đến 13 giờ cùng ngày, cả thành phố đều nghe những tiếng hô vang dậy:

« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng, yêu cầu đồng bào hãy mau mau mở cửa ra để chào mừng và hoan hô bộ đội giải phóng miền Nam anh hùng! ».

Cả thành phố đều mở cửa nhìn ra. Trên đường phố từng đoàn xe từ hai ngã đang tiến vào thành phố, đồng bào nhìn kỹ thì ra là hai đoàn xe đã ra đi hồi tám giờ sáng, chỉ khác hơn là trên các xe bây giờ chở đầy bộ đội miền Bắc, còn được cắm thêm những cành lá mà trước kia VC thường gọi « cành lá ngụy trang ». Tiếp theo sau là những xe thiết giáp trang bị đầy đủ hỏa tiển phòng không, đại bác và tiếng hô vẫn tiếp tục vang vang, bây giờ mọi người mới nhìn thấy rõ ràng, tất cả các xe, ngoài người tài xế, còn có một « ông hoà giải » và một « vị sư » mặc áo cà sa vàng ngồi bên cạnh, và những tiếng hô đó cứ thay phiên phát ra từ hai cái mồm của hai người này.


Đại đức Thích Minh Tuấn

Đến chiều, vẫn chưa tìm được người thân, tôi được tin là có nhiều người đã bị « An ninh Phật giáo » bắt giam ở các « chùa », nên tôi đến chùa Pháp Lâm tức chùa tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng, số 500 đường Ông Ích Khiêm ĐN, để cầu cứu « Thượng tọa » Thích Quang Thể, Chánh đại diện Phật giáo QN-ĐN. Vì thế, khoảng 17 giờ tôi nhìn thấy một chiếc xe Jeep nhà binh dừng lại ngay cổng chùa, từ trên xe có hai « thầy » bước xuống đó là « Đại đức » Thích Minh Tuấn, người Huế, Hiệu trưởng trường trung học Bồ Đề, Phó Đại diện tỉnh Giáo hội QN-ĐN, Thích Minh Tuấn là một trong những người lãnh đạo trong Viện Hóa Đạo 1 của Ấn Quang. Sau đó là Thượng tọa-Thị giả của Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại Tu viện Nguyên Thiều. Và hiện nay là Thượng tọa Viện chủ Tu viện Nguyên Thiều, Bình Định. Và « Đại đức » Thích Như Ký tức Mai Đăng Em, quê ở Mân Lập, quận 3, Đà Nẵng, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam - Đà Nẵng. Tiếp theo là hai « ông hòa giải » quần tây, áo sơ mi trắng, cả hai cùng mang băng đỏ như hai «thầy ». Cả bốn người cùng vào nhà khách của chùa gặp Thượng tọa Thích Quang Thể.

Mở đầu bằng giọng Huế, Thích Minh Tuấn nói:

"Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia ruớc sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chon vào thành phố, mọi việc đều tốt".

Tiếp theo, Thích Như ký nói:

"Bạch Thượng Tọa, tôi đã đưa xe vô tận Hà Lam, Thăng Bình, đã đón bộ đội ta, do Đại Tá Phan Hoan chỉ huy vào thành phố một cách an toàn".

Thượng tướng Lê Quang Hòa (tên thật Lê Thành Kim, 1914-1993), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng thanh tra Quân đội, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Chính ủy đầu tiên Quân đoàn 1, Chính ủy Cánh quân Duyên hải rồi cánh quân Đông trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.

« Thượng tọa » Thích Quang Thể gật đầu vui vẻ định nói gì với hai « thầy », nhưng ngay lúc đó Lê Quang Hòa (Trung tướng Việt cộng) tức Nguyễn Văn Hòa, quê Điện Bàn, Quảng Nam, tập kết ra Bắc trở về, là Tư lệnh phó quân khu 5 cùng đi với mấy tên cận vệ bước vào chùa, Thượng Tọa Thích Quang Thể đứng lên chào, Lê Quang Hòa nói:

« Tôi đến đây để thăm chùa, đồng thời để nói lên lời cám ơn Thượng Tọa và giáo hội đã tích cực trong công việc đưa, đón bộ đội giải phóng vào thành phố, một thành quả không ngờ, vì khi nghe Ngô Quang Trưởng tuyên bố: "Các Lực luợng Quân-Cán-Chính tại Đà Nẵng sẽ tử thủ và có 45 ngày để dân Đà Nẵng di tản". Chúng tôi nghĩ là sẽ có môt lực luợng hùng hậu, nên Bộ tư lệnh quân khu 5 đã dự tính lập vòng đai bao vây trong vòng ba tháng, mới có thể vào thành phố Đà Nẵng được. Vì vậy, khi các thầy đưa xe ra đón, chúng tôi không tin, nên phải lấy tin từ quân báo thật chính xác, mới dám cho bộ đội lên xe của các thầy. »

Quay sang hai « thầy » Lê Quang Hòa nói:

« Tôi đặc biệt khen ngợi Đại đức Thích Minh Tuấn đã đưa xe ra tận đèo Phú Gia để đón Sư đoàn Sao Vàng của tướng Nguyễn Chon vào thành phố một cách an toàn. Tướng Chon rất vui mừng khi được trở lại quê hương Thanh Khê, Đà Nẵng, và công lao của Đại đức Thích Như Ký cũng không kém vì Đại đức cũng đưa xe vào tận Hà Lam, Thăng Bình để đón bộ đội của Đại tá Phan Hoan vào thành phố không hề gặp trở ngại".

Giữa lúc đó, tôi nhìn thấy Thượng tọa Thích Quang Thể quay vào phía góc chùa nhìn tôi một cách ái ngại. Tôi hiểu ý, nên liền chào Thượng tọa và ra về.

Sau đó, "Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo" đã hướng dẫn các đoàn xe của bộ đội VC vào chiếm giữ các đơn vị của quân đội cũ, và lại dùng loa phóng thanh kêu gọi:

« Yêu cầu tất cả đồng bào hãy treo cờ Phật giáo! »

Phải công nhận là Phật giáo nói Phật tử chiếm 80% là đúng, Nhưng chỉ đúng trong những ngày này mà thôi, vì thấy các « chùa » đồng loạt treo cờ «Mặt trận giải phóng » cũng như thấy khí thế của Phật giáo như vậy, nên nhiều người bình thường chỉ theo đạo thờ cúng ông bà hoặc Khổng Giáo nhưng vì muốn an thân, họ đã đến các « chùa » mua cờ ngũ sắc đem về treo trước cửa, xem như là lá bùa hộ mệnh. Trừ ba tôn giáo đã chấp nhận mọi thứ, cương quyết không treo cờ Phật giáo đó là Công Giáo, Tin Lành và Cao Đài.

Ngoài ra, để lập công với « cách mạng » Đại đức Thích Minh Tuấn, đã nhân danh: « Là phó đại diện tỉnh giáo hội Phật giáo QN-ĐN, Hiệu trưởng trường Trung tiểu học Bồ Đề, xin dâng hiến tất cả các trường Bồ Đề và các cơ sở khác của giáo hội cho cách mạng ». Thấy vậy, có nhiều Phật tử phản đối, Thích Minh Tuấn trả lời:

« Bây giờ mình đâu có cần gì những thứ đó nữa, vì chúng ta có công đánh đuổi Mỹ-Ngụy, thống nhất đất nuớc, mọi việc Giáo hội cần đến thì có chính phủ giúp đỡ».

Khi nói đến LLHG, thì ngoài những công lao trên họ còn có những thành tích khác đáng kể như sau đây:

Trong lúc đồng bào trên đường di tản, LLHG đã xuống tận bến Bạch Đằng dùng loa phóng thanh kêu gọi:

« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp, Hòa giải thị bộ Đà Nẵng. Trụ sở đặt tại chùa Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng, thiết tha kêu gọi đồng bào đừng di tản, hãy ở lại với chính quyền cách mạng ; ngụy quân, ngụy quyền cấp bậc, chức vụ gì sẽ được trả nguyên cấp bậc và chức vụ ấy. »

Vì thế, mà ở trại cải tạo T.154, Tiên Phước, Quảng Nam, tôi biết có người không phải sĩ quan mà đã khai là « Trung úy », mục đích để được « trả lại »… cấp bậc cũ! Nhưng không ngờ, rồi sau đó đã phải ở tù như những sĩ quan thật. Và rồi, cấp bậc, chức vụ gì thì phải ở tù theo cấp bậc, chức vụ ấy!!!


Tái hiện sự tích Đức Phật đản sinh tại chùa Pháp Lâm (Đà Nẵng).

Nhân đây, tôi xin viết thêm một trường hợp khác. Trong cơn say máu người, Hòa giải Phật giáo cũng đã đến nhà ông bà Trần Quốc Thái ở số 06 đường Lý Thường Kiệt, Đà Nẵng, nhưng khi ập vào nhà thì chỉ còn căn nhà trống. Ông bà Trần Quốc Thái đã chạy thoát, mất mồi, chúng tức tối la hét, đập phá lung tung. Tôi nghĩ là ông bà Trần Quốc Thái đã có được một hồng ân quá lớn, nếu không thì chúng đã xé xác ông rồi, nhẹ lắm cũng như ông Trần Sô vậy.

Nhân đây, tôi xin nói rõ về ngôi nhà này: Tôi biết ông bà Trần Quốc Thái đã vay muợn của nhiều người để xây cất, Nhưng sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn đâm thuê chém mướn giết chết, Hội đồng Gian nhân Phản loạn đã tịch thu với lý do là « tài sản của đảng Cần Lao » và dùng làm cơ quan Nha Cảnh sát Quốc gia vùng 1. Ông bà Trần Quốc Thái đã dắt con cái đi ở nhờ nhà người khác, Nhưng cũng phải thắt lưng, buộc bụng để có tiền trả cho đến mười năm mới hết nợ làm nhà.

Năm 1973, vì truy tìm mãi vẫn không có bằng chứng là « tài sản của Cần Lao » nên ngôi nhà mới được trả lại cho ông bà Trần Quốc Thái.

Đến năm 1975, Hòa giải Phật giáo chiếm giữ, sau đó giao cho VC lấy làm Bộ chỉ huy công an vũ trang.

Từ ngày 30/04/1975, Việt cộng ra lệnh truy tầm ông Trần Quốc Thái, « Bí thư đảng Cần Lao miền Trung ». Tôi cũng biết ông Trần Quốc Thái là người Bắc di cư, thời Đệ Nhất Cộng Hòa có làm Quận trưởng quận Điện Bàn, Quảng Nam, còn có Cần lao hay không thì khó biết được, vì đảng Cần Lao không công khai hoạt động như các đảng phái khác

Một nạn nhân khác là ông Trần Quốc Dân, người Thanh Khê, quận 2, Đà Nẵng, đi kháng chiến chống Pháp, sau đó là Thiếu tá Quân đội Bắc Việt xâm nhập vào Nam. Lúc đó, ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, (sau là Sư đoàn Sao Vàng) Nguyễn Chon cũng người Thanh Khê, Đà Nẵng là Trung đoàn phó. Ông là người đầu tiên rời bỏ hàng ngũ VC trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia vào năm 1962. Ông kể với người thân:

"Trước đó tôi có gặp người của ông Ngô Đình Cẩn, nên mới dám quyết định trở về. Sau khi quyết định, tôi đã lợi dụng trong một lần giao tranh với quân đội VNCH tại chiến trường Đại Lộc, Quảng Nam, tôi vượt sông Thu Bồn và theo sự hướng dẫn của người tôi đã gặp, tôi được gặp ông Ngô Đình Cẩn. Và tôi được sự giới thiệu của ông Cố vấn nên tôi vào Sài Gòn trình diện Tổng Thống Ngô Đình Diêm., vì tôi tin tưởng rằng Tổng Thống chắc chắn hiểu được những người đi tham gia kháng chiến. Và tôi đã nghĩ đúng, vì khi gặp mặt Tổng Thống, sau khi nói rõ về mình và trình bày ý nguyện của tôi, thì Tổng Thống dạy rằng:

Tôi đã hiểu được chú em, bây giờ đáng lẽ ra tôi trả lại em quân hàm Trung tá, vì ngoài đó có cấp Thượng tá, Nhưng thôi vì danh dự Quốc Gia em hãy nhận quân hàm Thiếu tá. Tôi xin được ra chiến đấu, Nhưng Tổng Thống bảo:

Không được, hãy về đoàn tụ với gia đình trước khi nhận công tác. Và Tổng Thống ban thưởng tôi ba trăm ngàn đồng từ tay của Tổng Thống".

Ông Trần Quốc Dân trở về Đà Nẵng, sau một thời gian ngắn ông mua một căn nhà tại đường Trần Cao Vân và cuới vợ. Rồi ông được làm việc tại Bộ Công Dân Vụ.

Một năm sau, Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị bọn đâm thuê, chém mướn giết chết. Là một người cứng cỏi, Nhưng ông Dân đã rơi nuớc mắt, ông kêu lên:

"Thế là hết! Tổng Thống không còn nữa, thì sẽ không còn ai hiểu tôi ngoài Tổng Thống".

Vài tháng sau ông tâm sự với người thân:

"Tôi chán nản trước nạn kiêu binh và kiêu tăng ngày càng lộng hành trên đất nuớc, chắc tôi sẽ xin xuất ngũ".

Tôi không nhớ rõ ngày tháng, Nhưng sau đó ông đã xin xuất ngũ và cộng tác với cụ Vũ Hồng Khanh. Chức vụ cuối cùng VNQDĐ của ông là một trong bốn Phó chủ tịch Thành bộ Đà Nẵng.

Ngày 24-03-1975, trong lúc ông Trần Quốc Dân chuẩn bị đưa gia đình đi di tản, thì bất ngờ hai ông: Đại đức Thích Như Ký, Tổng thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam-Đà Nẵng cùng Huỳnh Phổ, cư sĩ Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo quận 2, Đà Nẵng (cả hai đều là cố vấn của LLHG Thị bộ ĐN) dắt theo một đám "Thanh niên Phật tử" có vũ trang đến nơi (sau này tất cả trở thành công an VC). Hai người này vào nhà ông Dân, Thích Như Ký nói:

"Chúng tôi Ban lãnh đạo Lực luợng Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng, mời ông lên chùa tỉnh Giáo hội để cùng làm việc, ông hãy tin tưởng vào chúng tôi và ông sẽ có một chỗ đứng trong lòng lịch sử".

Nói là "mời" Nhưng đám thanh niên Phật tử đứng sau lưng hai ông, tên nào cũng lăm lăm tay súng. Không còn cách nào khác, ông Dân đành phải theo chúng lên chùa.

Ông Dân đi rồi, gia đình biết ông sẽ gặp nguy, nên vợ ông dắt hai đứa con thơ của ông bà đến chùa Pháp Lâm tức chùa Tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng để xin gặp chồng; Nhưng đội An ninh Phật tử chặn ngay ở ngoài cổng không cho vào. Vợ ông Dân khóc lóc, van lạy thế nào cũng không được, nên đành dắt hai con trở về.

Ngày 30-03-1975, khoảng 10 giờ sáng, LLHG Phật giáo đưa ông Dân từ chùa Pháp Lâm đến nhà giam Kho Đạn ở số 15, đường Đào Duy Từ, Đà Nẵng. Lúc giải giao, chúng đã trói hai tay ông ra sau, còn tròng thêm một vòng thòng lọng lên cổ, cách trói này giống như chúng đã trói các vị quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa, trong cuộc bạo loạn bàn Phật xuống đường, vào mùa hè 1966; khi áp giải các vị nói trên đến chùa Phổ Đà. Bởi cách trói này, nếu nạn nhân bỏ chạy, thì sợi dây sẽ tự thắt cổ lại mà chết. Như thế, vẫn chưa đủ, mà đội "An ninh Phật tử" còn cầm súng đi kèm hai bên. Thấy vậy, đồng bào Đà Nẵng đã gọi chúng là "Ủy ban Áp giải".

Ngày 03-04-1975, khoảng 21 giờ tối, Nguyễn Chon, tướng VC. Đến nhận ông Dân tại nhà giam Kho Đạn. Sáng hôm sau, người ta phát hiện xác chết của ông Dân đã chết, xác được bỏ vào Nhà Vĩnh Biệt của Quân Y Viện Duy Tân ĐN, trên thân thể của ông có nhiều vết đạn.

Chúng tôi xin nhắc lại. Năm 1962, ông Dân là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sao Vàng, thì Nguyễn Chơn là Trung đoàn phó. Sau khi ông Dân bỏ đơn vị trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia, thì Nguyễn Chơn đã thay thế ông Trần Quốc Dân làm Trung đoàn trưởng. Đến 1975, Nguyễn Chơn lên tướng. Như vậy, cho chúng ta thấy, một mặt Phật giáo đã bắt ông Trần Quốc Dân đem giam trong chùa Pháp Lâm. Mặt khác ra lệnh cho Thích Minh Tuấn đem xe ra tận đèo Phú Gia để rước Sư đoàn Sao Vàng của Nguyễn Chơn (tướng VC), rồi sau đó giao ông Dân cho Nguyễn Chơn xử bắn, theo chỉ thị của VC một cách rõ ràng không thể chối cãi.

Sau khi ông Dân chết, bọn "An ninh Phật tử" đã hướng dẫn VC, xông vào nhà ông Trần Quốc Dân dùng bạo lực đuổi vợ con ông ra khỏi nhà, mà chúng nói là "Nhà của Diệm".

Vợ ông Dân chỉ được ôm mấy bộ áo quần và dắt các con ông bà về nương tựa với gia đinh tại chợ Tân Lập, Đà Nẵng.

Những người đã chết dưới bàn tay tàn bạo của "Lực luợng An ninh Phật giáo Ấn Quang":

Tối 29-03-1975, Đội "An ninh Phật giáo" đã bắn chết bảy người tại quận 3 Đà Nẵng. Trong số này chúng tôi biết mặt, biết tên bốn người, đó là các ông:

1- Hồ Hân, quê Quảng Ngãi, nhà ở An Thị, An Hải Bắc, nguyên Trưởng ban Thẩm vấn Ty Cảnh sát Quốc gia, thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Năm 1964, ông bị Phật giáo bắt đánh về tội "Dư đảng Cần Lao".

2- Nguyễn Phận, nhà ở An Tân, An Hải Bắc, nhân viên ban 2 Chi khu quận 3, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, thuộc Khu đảng bộ Yên Bái.

3- Phạm Lý, quê Tứ Câu, Thanh Thủy, Điện Bàn, Quảng Nam, nhà ở An Cu 3, An Hải Đông, công nhân sở Mỹ, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cả hai vị nói trên đều trực thuộc Trung ương Pháp định do cụ Vũ Hồng Khanh lãnh đạo.

4- Riêng ông Bùi Ngọc Cang, Phường trưởng Phường An Hải Bắc. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa ông là nhân viên phòng 2, Thị đoàn Bảo An Đà Nẵng. Năm 1964, ông bị Phật giáo bắt đánh về tội "Dư đảng Cần Lao".

Lúc "Lực luợng An Ninh Phật giáo đến nhà, vợ ông Cang ra mở cửa. Vừa thấy mặt ông Cang là một tên đã bắn xả vào người ông liền mấy phát. Ông Bùi Ngọc Cang gục chết ngay giữa nhà, trước sự kinh hoàng của vợ con; bà Cang ngất xỉu, các con ông gào thét lên kêu cứu, còn "Đội An Ninh Phật Giáo lạnh lùng bỏ đi ra!!!

Cùng bị bắn với bốn vị kể trên, còn có ba người nữa. Tôi nhớ một người tên Mua, một người tôi quên tên cả hai người này đều là người An Hải Đông, quận 3 Đà Nẵng, là Cán bộ Liên hiệp Nghiệp đoàn lao công, đảng viên Đảng Công Nông do Chủ tịch Trung ương Trần Quốc Bửu lãnh đạo; và một người khác là nhân viên Cảnh sát, người Quảng Trị (chúng tôi cũng quên tên) đã bị bắn chết ngay trước Trại Ngô Quyền, An Hải Bắc, quận 3. Sau khi chết được đồng bào chôn cất ngay tại chỗ. Cho đến trước ngày vượt biển chúng tôi vẫn còn thấy nấm mộ của người này tại đó, đồng bào vẫn thường đến thắp hương cho nấm mộ vô chủ này. Không biết bây giờ có dời đi nơi khác hay không?

Ngoài ra, vào buổi chiều 29-03-1975, khoảng 19 giờ, vì không lên tầu di tản được, tôi trở về nhà, khi xe tôi chạy đến ngã ba Huế, bỗng thấy một đám đông vây quanh trước một căn nhà ở góc phía trái thuộc phuờng An Khê, quận 2, Đà Nẵng làm kẹt xe. Tôi phải dừng lại, trước mặt tôi là một lũ "An ninh Phật giáo" Đang đằng đằng sát khí trực chỉ vào một căn nhà khá khang trang, đang đóng cửa, bọn này la hét:

"Tất cả mọi người ở trong nhà phải đều ra ngoài hết, nếu không thì chúng tao sẽ đốt nhà".

Sau một hồi lâu không thấy động tĩnh; tôi nhận thấy trên khuôn mặt của đồng bào ai cũng đều lo sợ. Có lẽ ở gần nhà nên họ biết về những người trong nhà này. Trong lúc đồng bào đang lo lắng, thì bỗng có hai người đàn ông khoảng chưa tới ba mươi tuổi đã mở cánh cửa ở bên hông trái của căn nhà bước ra. Nhưng thật bất ngờ là khi hai người này vừa bước xuống chưa hết bậc tam cấp; thì bọn "An Ninh Phật Tử" liền nổ súng bắn xả vào hai người này. Cả hai vị đều gục chết trên vũng máu, thân thể nằm vắt ngang nửa trên nửa dưới của bậc tam cấp nơi thềm nhà của họ. Thấy vậy, tôi mới hỏi thăm đồng bào ở đó và tôi được biết: hai vị đó là hai anh em ruột và đều là nhân viên Cảnh Sát.

Trước cái chết của hai vị này, đồng bào đã khiếp đảm vội giải tán ngay, ai về nhà nấy, tôi cũng phải rời hiện trường lập tức. Nhưng cho đến bây giờ và mãi mãi, tôi vẫn không bao giờ quên được hình ảnh của hai vị cũng như căn nhà của họ, tôi vẫn tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại quê hương để tìm cho ra tên họ của những người đã chết một cách tức tuởi và oan uổng dưới bàn tay tàn ác của Phật giáo Ấn Quang; bởi tôi không muốn tên tuổi của họ sẽ bị đi vào quên lãng.

« Ủy ban lãnh đạo Lực luợng hòa hợp, hòa giải dân tộc thị bộ Đà Nẵng »

Người đứng đầu cái Ủy ban nầy là La Thành Tỵ, một tên tàn ác đã từng ra tay sát hại đồng bào trong cuộc tấn công phường Thanh Bồ - Đức Lợi, làm Chủ tịch LLHHHG Thị bộ, trụ sở được đặt tại chùa Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm Đà Nẵng, nơi trụ trì của Thượng tọa Thích Quang Thể, Chánh Đại diện Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng.

Chúng tôi vẫn nhớ, bắt đầu từ ngày 01/04/1975, sau khi đã có công ra tận vùng giặc đón VC vào thành phố, LLHHHG liên tiếp từng ngày cho xe chạy khắp đường phố dùng loa phóng thanh kêu gọi:

« Chúng tôi Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải Thị bộ Đà Nẵng. Yêu cầu tất cả ngụy quân, ngụy quyền, đảng phái chính trị thuộc chế độ Sài Gòn, hãy mau mau tập trung về chùa Pháp Lâm, tức chùa tỉnh giáo hội giao nộp vũ khí và trình diện. »

Đối với Quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa đều chưa biết số phận mình sẽ ra sao, khi nghe lời kêu gọi đó họ đã đến « chùa » để trình diện.

Một điều mà chắc nhiều người còn nhớ, là lúc chạy giặc đa số sĩ quan vứt bỏ súng, khi đến chùa trình diện không có súng đã bị La Thành Tỵ, một trong những tên sát thủ trong cuộc tấn công hai Phường Thanh Bồ - Đức Lợi, 24-8-1964. Lúc này là Chủ tịch LLHHHG thị bộ Đà Nẵng, cùng lũ lâu la trong cái thị bộ này, lớn tiếng la lối, nạt nộ đủ điều:

« Các anh phải giao nộp súng ngắn, vì sĩ quan phải có súng ngắn, các anh giữ súng lại để tìm cách chống phá cách mạng à? Không có súng ngắn chúng tôi không cấp giấy chứng nhận đâu".

Vậy là các vị sĩ quan này phải về đi tìm súng, Nhưng súng còn đâu nữa mà tìm, bởi lúc hỗn loạn xảy ra, La Thành Tỵ đã ra lệnh cho thanh niên Phật tử phải đi thu nhặt hết đem về chất trước sân chùa. Nhưng có vị đã đi đến những hang cùng, ngõ hẻm tìm được súng, có vị tìm được cả chục khẩu súng như M.16, R.15... vác lên chùa. Trong số đó, tôi biết có một người là Thiếu Tá Đỗ Công Hào, Thuộc Tiểu đoàn 10, Chiến Tranh Chính Trị, cũng ôm một bó súng, ông yên tâm đem vào chùa; Nhưng không ngờ khi nộp súng ông lại càng bị La Thành Tỵ la hét càng to hơn nữa:

" Các anh có đem hàng trăm súng dài cũng không được, vì Sĩ quan thì phải giao nộp súng ngắn, các anh phải nộp súng ngay, không thì đừng có trách".

Đến nuớc này, thì các vị không có "súng ngắn" chỉ còn có một cách là về nhà đem tiền lên chùa để đưa cho "Lực Luợng An Ninh phật Giáo" đám này hễ ai có tiền thì chúng lấy những cây "súng ngắn" trong cái đống súng ở trước sân chùa trao cho, để nộp và để đổi lấy cái "Giấy chứng nhận trình diện" của "Thị Bộ Hòa Hợp-Hòa Giải". Thiếu tá Đỗ Công Hào cũng phải đem tiền mua súng. Sau đó, ông đã phải vào nhà tù "cải tạo" T.154, đến gần mười năm sau khi đã bị què một chân mới được ra tù. Và bây giờ, dù đã trải qua những năm dài bị hành hạ, đọa đày, nhưng Thiếu tá Đỗ Công Hào vẫn còn giữ nguyên được cái cây... súng ngắn. Chẳng biết bây giờ bọn Hòa hợp-Hòa giải Phật giáo có còn muốn đòi Thiếu tá Đỗ Công Hào phải trình ra cái cây... súng ngắn nữa không???

Việt Cộng trả công cho "Lực luợng Hòa hợp Hòa giải Phật giáo Ấn Quang"

Trở lại với cái gọi là LLHHHG, sau khi Quân, cán, chính VNCH đã giao nộp vũ khí, thì trước sân chùa một đống súng cao như núi; Lực luợng Hòa hợp - Hòa giải đã đến Tòa Thị Chính mời "Ủy ban Quân quản" đến nhận súng. UBQQ cử Hoàng văn Lai, ủy viên an ninh (sau Lai là Đại tá Trưởng ty công an QN-ĐN) đến chùa Pháp Lâm, Lai đứng ở sân « chùa » dằn từng tiếng:

« Các anh hãy trả lời: Cách mạng chiến thắng hay Phật giáo chiến thắng? Hòa giải là cái gì? Mỹ, ngụy bỏ chạy, chúng tôi tiếp thu chớ có có ai đánh đâu mà hòa giải, còn súng, chúng tôi không cần, cho các anh đấy!!!".

Bấy giờ đến luợt « Ban lãnh đạo hòa giải » lạy Hoàng văn Lai để y chở đống súng đi, vì để đống súng nằm hoài ở sân « chùa » thì … không tiện.

Sau đó « Ủy ban quân quản » ra lệnh như sau:

“- Sĩ quan trình diện tại số 03 Duy Tân.
- Ngụy quyền trình diện tại số 12 Bạch Đằng.
- Đảng phái chính trị trình diện tập thể tại số 09 Gia Long”.

Có người nghĩ rằng đã có giấy chứng nhận của « Lực lượng Hòa hợp, Hòa giải Phật giáo » nên không đi trình diện nữa. Nhưng nhiều vị đã bị bắt vì không có giấy chứng nhận của "Ủy ban quân quản", có người xuất trình giấy chứng nhận của « LLHHHG » thì bọn an ninh nói:

« Giấy chứng nhận của hòa giải hãy bỏ vào sọt rác vì không có giá trị, chỉ có giấy chứng nhận của ủy ban quân quản, có chữ ký của ông Hoàng văn Lai mới có giá trị".

Cuối cùng Quân, Cán, Chính VNCH ở thành phố phải đi trình diện hai lần, Nhưng may là lần sau không bị đòi nộp súng ngắn nữa!!!

Bây giờ đến lượt « cách mạng thưởng công » cho « Lực luợng hòa giải:

Qua sự thanh lọc, một số đông bị rớt, riêng La thành Tỵ được tiếp tục làm việc trong « Mặt trận tổ quốc » hiện nay La Thành Tỵ là « Trưởng ban hướng dẫn gia đình Phật tử Quảng Nam - Đà Nẵng ».

" Chính quyền Phật Giáo ":

Một điều, hơn ai hết chính LLHG Phật giáo chắc khó quên, ấy là trong thời gian hơn một tháng từ 20/03/1975, LLHG đã nổi lên cướp chính quyền phường, khóm xã, thôn, bởi chính quyền cũ có người đã di tản, còn những người kẹt lại vì thấy những bộ mặt đằng đằng sát khí của những « ông » hòa giải nên chẳng ai dám nói gì. Họ cũng tự xưng là Phường trưởng, Xã trưởng, Thôn, Khóm trưởng, đã làm mưa làm gió, bắt giết người, lập tòa án nhân dân đấu tố nhiều người đến 29/03/1975, VC vào thành phố rồi, chúng cũng không hề nói gì mà còn vui vẻ bắt tay « các ông » hòa giải gọi là « đồng chí ». Nhưng sau ngày 30/04/1975, Việt cộng mới yêu cầu các khuôn hội bàn giao chính quyền cho chúng. Điều này đã làm « Hòa giải Phật giáo » bị mất mặt trước dân chúng, nên « Chính quyền Hòa giải » nhất định không chịu bàn giao, vì đã nắm quyền hơn một tháng rồi, giết người chẳng ít, bắt giam cũng nhiều ( như tôi đã viết ở bài trước). Nên chính quyền hòa giải đòi VC phải hợp thức hóa cho họ trở thành những cán bộ lãnh đạo phường, khóm, xã, thôn vì đã có công lao đưa xe đi đón bộ đội Bắc Việt vào thành phố.

Cuối cùng Việt cộng tổ chức một cuộc mít-tinh tại Đài phát thanh Đà Nẵng, trong buổi mít tinh ban tổ chức đã giới thiệu tên Trần Thận, Thường vụ tỉnh ủy Quảng-Đà lên phát biểu như sau:

« Sở dĩ có cuộc mét-tinh hôm nay là do sự đòi hỏi của Phật giáo. Tôi nhấn mạnh là Phật giáo chớ không có hòa hợp, hòa giải chi hết á. Vì cái chiêu bài hòa hợp, hòa giải là chỉ do Phật giáo tổ chức ra để lừa bịp với chế độ Sài Gòn mà thôi. Chúng tôi công nhận Phật giáo Ấn Quang đã có công đóng góp với cách mạng đánh đổ Mỹ- ngụy. Nhưng, đó là nghĩa vụ công dân chớ không vì thế mà Phật giáo đòi cầm quyền. Hiện nay, còn có một số phường, khóm, xã, thôn thuộc các khuôn hội còn nắm giữ không chịu bàn giao cho ủy ban nhân dân các địa phương. Phật giáo nên biết, ngày xưa ông Lý Vạn Hạnh là cha ruột ông Lý Công Uẩn nên Phật giáo muốn làm gì thì làm, còn hiện nay ông Đôn Hậu không phải là cha của đồng chí Lê Duẩn, và chính quyền cách mạng chứ không phải là triều Lý. Vậy chúng tôi yêu cầu Phật giáo phải khẩn trương bàn giao gấp, nếu chậm trễ chúng tôi sẽ có biện pháp… ».

Nói đến đây, y nổi nóng vung tay hét:

« Nay đất nước đã có độc lập tự do rồi mà không lo tu thân, tăng gia sản xuất để góp phần xây dựng đất nuớc, mà cứ đòi cầm quyền! Phật giáo lấy tư cách gì để đòi cầm quyền? Ai cho cầm quyền? Phật giáo chỉ có cầm …cầm … cầm… »

Bỗng nhiên có tiếng cười nổi lên, nhiều bà cười lớn quá khiến tên Thận phải khựng lại, rồi không biết phải nói tiếp những gì nên y nói đại:

« O … cầm … cầm … cầm …cái gì cũng được nhưng không được cầm quyền".

Thích Đôn Hậu bắt buộc đồng bào phải đi diễn hành mừng sinh nhật Hồ Chí Minh:


Chùa Phổ Đà, 340 Phan Chu Trinh, Đà Nẵng

Ngày 18/05/1975, Thích Đôn Hậu chỉ thị tỉnh giáo hội Quảng Nam - Đà Nẵng và Thị bộ Hòa giải tổ chức sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Pháp Lâm. Trước khi tổ chức sinh nhật, các khuôn hội tại các quận lân cận và thành phố Đà Nẵng đã ra lệnh cho đồng bào phải tập trung về « chùa » Phổ Đà « để bắt đầu cuộc diễn hành chào mừng chiến thắng và dự sinh nhật của bác Hồ vị cha già của dân tộc ». "Lực luợng Hòa hợp-Hòa giải " đã bắt đồng bào ở các quận như: Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An, Hòa Vang… phải đi bộ, mọi người phải tay cầm đèn gió để đem xuống thì thắp sáng lên cho nó ra vẻ « phấn khởi hồ hởi » và gói cơm đem theo để ăn dọc đường vì có nơi phải đi bộ một ngày một đêm mới tới Đà Nẵng. Trước khi đi, các khuôn hội đã tập dượt cho đồng bào hô khẩu hiệu như sau: Khi những « ông » hòa giải tay cầm loa phóng thanh, mồm hô:

« Hoan hô bộ đội giải phóng miền nam anh hùng.»

thì đồng bào phải hô lớn « hoan hô… hoan hô… » còn khi mấy « ông » hô:

« Đả Đảo đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai bán nuớc », thì đồng bào phải hô « đả đảo…đả đảo… »

Nhưng sau một đêm ngày đi bộ vì mệt và buồn ngủ, nên đồng bào chẳng còn nhớ những gì khác cả, mà chỉ còn nhớ bốn tiếng « hoan hô » và « đả đảo » mà thôi. Tôi vẫn nhớ như in vào đêm ấy đã hơn một giờ sáng ngày 19/05/1975. Lúc đó tôi đang ngủ, thì bỗng nghe tiếng chân người đi, tiếng ồn ào, tiếng loa phóng thanh cùng với tiếng hô « hoan hô…đả đảo… » Bây giờ mỗi lần nhớ lại chuyện đêm ấy, nếu có ai thì tôi kể lại để cùng cười, còn nếu chỉ mình tôi, thì tôi … cười một mình.

Đêm ấy, khi đoàn người đã bị các «ông» hòa giải hành hạ đang đi qua nhà, tôi đã vừa cảm thương đồng bào vừa không nén được tiếng cuời, khi nghe mấy «ông» hòa giải tay cầm loa phóng thanh mồm la ơi ới:

«Bà con ơi! ai rớt gói cơm?»

thì có tiếng của đồng bào đáp trả:

« hoan hô... hoan hô… »

Nghe vậy mấy « ông » hòa giải lại la lớn:

« Bà con ơi! gói cơm ai rớt? »

Đồng bào lại hô

« đả đảo … đả đảo …».

Cứ tiếp tục như vậy, một hồi lâu, đồng bào cứ mắt nhắm, mắt mở cũng chỉ biết có

« hoan hô »

với

« đả đảo » cái... gói cơm.

Cuối cùng, các « ông Hòa giải» tức quá mới đi tới gần từng nhóm người, tay đập mạnh vào người họ mồm hét:

«Gần sáng rồi, tỉnh táo đi, nghe chúng tôi nói đây nè ai…làm…rớt…gói…cơm…thì nhận lại, chứ nghe cái gì đâu mà cứ hoan hô với đả đảo hoài…vậy hả? »

Lúc đó đồng bào mới biết là có « sự cố ».

Nên biết là lúc đó, đồng bào rất sợ Hòa giải Phật giáo, các khuôn hội buộc mỗi gia đình ít nhất phải có một người phải cầm đèn gió đi diễn hành. Tại thành phố Đà Nẵng, để cho nó có « hệ thống » trước khi diễn hành đến « chùa » Pháp Lâm, các khuôn hội dùng loa phóng thanh kêu gọi:

" Yêu cầu tất cả đồng bào hãy tập trung về tại « chùa » Phổ Đà ở số 340 đường Phan Châu Trinh ĐN, tức Phật học viện Trung phần, để bắt đầu cuộc diễn hành trên khắp thành phố suốt đêm để mừng cách mạng chiến thắng, cho đến sáng ngày 19-05, trước khi đến chùa Pháp Lâm tại số 500, đường Ông Ích Khiêm để mừng sinh nhật Hồ Chủ tịch vĩ đại"

Trở lại với cuộc diễn hành hay đúng hơn là Hành diễn. Sau khi đã thấy những sự kiện kể trên, tôi nghĩ chờ Trời sáng sẽ xuống chùa Pháp Lâm xem thử mọi việc ra sao.

Khi đến « chùa » Pháp Lâm, tôi cùng vào với đồng bào diễn hành. Chúng tôi đã chứng kiến « Thượng tọa » Thích Đôn Hậu ngỏ lời nói:

"Yêu cầu đồng bào từ nay hãy lập tại nhà một bàn thờ thật trang trọng, phải có ảnh bác Hồ kính yêu để thờ vị cha già của dân tộc, ảnh đang có tại các chùa, đồng bào hãy đến để mua đem về mà thờ ».

Tiếp theo Thích Đôn Hậu (dân Đà Nẵng thường gọi là Thích Đoản Hậu hoặc Thích Đâm Hậu), giới thiệu một « cán bộ cách mạng lên nói chuyện với đồng bào » khi người này lên nói chuyện đã tự giới thiệu tên là Hoàng Châu Ký, Giám đốc Sở Thông tin văn hóa khu trung, Trung bộ.


Giáo sư Hoàng Châu Ký, sinh năm 1921 tại xã Cẩm Kim, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình khá giả. Ông tham gia cách mạng ngay từ năm 16 tuổi, từ trần ngày 31 tháng 1 năm 2008 tại Đà Nẵng, hưởng thọ 87 tuổi.

Hoàng Châu Ký đã ngỏ lời khen ngợi có đoạn như sau:

« … Quý Thượng tọa, đại đức và quý vị thuộc lực luợng hòa hợp hòa giải, là những người đã có công với cách mạng, tham gia đánh đổ Mỹ- ngụy, thật là đáng ngợi khen. Trước đây, quý vị nói là bị Mỹ-Ngụy áp bức, kềm kẹp không có tự do, nay cách mạng đã giải phóng, không còn ai bị áp bức nữa. Từ nay, quý vị tu sĩ đều được tự do ở lại chùa tu hành. Ngoài ra, cách mạng sẽ giúp đỡ bằng cách tạo điều kiện cho có đất đai để quý vị được tự do làm chủ, tự do lao động sản xuất, để góp phần xây dựng đất nước, và để được vinh dự là không còn ăn bám vào thiên hạ nữa.

Còn đối với những người không phải tu hành, tôi biết ở đây có nhiều người có bằng cấp cao như tiến sĩ, bác sĩ, giáo sư, kỹ sư … Các anh sẽ được trọng dụng trở lại, làm việc theo nghành nghề chuyên môn, bác sĩ trở lại bệnh viện, giáo sư trở lại trường học … Các anh sẽ được bình đẳng như những giáo sư, bác sĩ, kỹ sư cách mạng miền Bắc. Nghĩa là, hàng tháng họ được bao nhiêu ký rau muống, bao nhiêu mì chính (bột ngọt)… thì các anh cũng được lãnh bấy nhiêu. Ngoài ra, muốn cải thiện, nếu ở thành phố không có đất, chúng tôi sẽ giúp đỡ cho các anh có điều kiện để tự do nuôi heo, tự do nuôi gà, tự do nuôi vịt, tự do… tự do... ».

Hoàng Châu Ký còn nói thêm nhiều thứ tự do nữa, Nhưng sao tôi thấy trên từng khuôn mặt của những « vị trí thức » này bỗng trở nên nhợt nhạt khi biết mình đã có đầy đủ những thứ… tự do!!!

Trong lúc y còn nói chuyện, nhưng chúng tôi không thể đứng nhìn những đồng bào tội nghiệp của mình, mà chúng tôi biết chắc chắn là họ phải nằm đường, ngủ chợ, lê lết một ngày, một đêm nữa mới trở về đến nhà của họ, nên chúng tôi phải ra về.

"Trại Cải Tạo T.154":

Đến đây, tôi xin nói qua về trại cải tạo T.154, là hậu thân của trại cải tạo Đá Trắng. Nhân đây, vì tôi vốn là dân gốc tại làng Thạnh Bình, Tiên Phước, Quảng Nam; từ nhà tôi đến nhà cụ Huỳnh Thúc Kháng chỉ cần đi bộ, tôi biết rất rõ về trại này, nơi Bác ruột của tôi đã bỏ mình tại trại vào năm 1964, nên tôi phải nói rõ về cái tên T.154. Bởi khi quận Tiên Phước mất vào ngày 13/03/1975, thì VC đã cấp tốc khởi công phá bỏ trại Đá Trắng vốn ở dưới hầm, để thành lập trại tù mới lớn hơn, từ lúc đầu VC đã bắt thanh niên quận Tiên Phước làm công việc xây dựng bằng nhà tranh vách đất, đến ngày 15/04/1975, Việt cộng cho « khánh thành » và trại Đá Trắng chính thức đổi tên thành "Trại cải tạo T.154", để rồi các vị ai đã vào đấy, thì ít có vị nào ra trại trước mười năm, có vị đã bỏ mình tại trại vì bị hành hạ đến bệnh tật không được điều trị, có vị bị xử bắn, bị bỏ đói chết trong nhà biệt giam.

Sau đó, khi đưa tất cả các vị quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã trình diện tại « chùa » Pháp Lâm vào đây, VC lại bắt các vị tù trong trại tự xây nhà tù mới, mái lợp ngói, nền lát gạch. Trại chính là Trại 1, bên nam gồm có 12 (mười hai) nhà, mỗi nhà có bốn phòng, mỗi phòng có hai dãy sạp gỗ dài song song và một sạp chiếc, mỗi sạp chứa được trên dưới 20 ( hai mươi) người. Tất cả các phòng, các cánh cửa đều có gài một thanh sắt dài có gắn khóa sắt, để mỗi tối sau một ngày lao động, mọi người tù phải vào phòng để một công an gọi là « Cán bộ trực trại » điểm danh xong rồi khóa cửa lại. Nhưng chưa đủ mà còn có một nhà Biệt Giam, trong nhà nầy có những thanh sắt gài hai chiếc cùm sắt xuyên qua tường gạch kiên cố, để cùm hai chân người tù, phòng chỉ bốn mét vuông, không có cửa sổ, chỉ có một lỗ thông hơi hình tròn đường kính khoảng 08 cm (tám phân), bên ngoài là cánh cửa sắt có gài một thanh sắt có khóa sắt. Trong trại còn có nhà cấp dưỡng ( nhà bếp) một trạm xá.

Ngoài ra, quanh trại VC còn xây thêm các phân trại như các trại: Trại Thôn Năm, Thôn Tư, Na Son, Nà Thao, Lò gạch, Nhà chăn nuôi, Nhà máy ly tâm sản xuất đường (chỉ phân phối cho công an, còn tù cải tạo thì chỉ được nhìn mà thôi). Đầu năm 1979, vì đánh nhau với Tàu nên VC chuẩn bị đưa một số vị tù ra Bắc, đã phải ngưng lại, thay vào đó VC đã lập thêm nhà biệt giam 02.79 ( Đồng Mộ ). Rồi thay vì đưa ra Bắc; vào đêm 03-05-1979, các vị này đã bị trói dính chặt vào nhau. Sau đó, các vị đã bị công an vũ trang dao kề cổ, súng kề lưng, đưa vào nhà biệt giam 02.79 ( Đồng Mộ ) trong một đêm khuya tối Trời. Trong số này có bốn vị tu sĩ đó là quý ngài:

- Linh mục Đặng Đình Canh, hiện nay quản nhiệm giáo xứ Thanh Bồ, Đà Nẵng,
- Linh mục Vũ Dần, hiện nay quản nhiệm giáo xứ Phú Thượng, Đà Nẵng,
- Linh mục Nguyễn Đình Ánh.

Riêng Linh Mục Tống Kiên Hùng sau khi ra tù ngài trở về giáo xứ Tam Tòa, nhưng công an QN-ĐN đã trục xuất ngài vào miền Nam, rồi ngài sang Hoa Kỳ, hiện nay ngài đã vào dòng tu kín tại Hoa Kỳ, và Mục sư Dương Đình Nguyện, hiện cũng đã tiếp tục hầu việc Chúa ở Hoa Kỳ.

Ngoài các trại tù nam, VC cũng lập thêm phân Trại Nữ gồm có năm nhà, có nhà cấp dưỡng, trạm xá riêng, các phòng cũng kiên cố như trại nam. Nhưng mỗi khi nữ tù « vi phạm nội quy » thì công an trại nữ lại "Lập biên bản" để đưa vào cùm trong nhà biệt giam của trại nam, vì trại nữ không có nhà cùm biệt giam. Ví thế, nữ tù vì mắc cỡ nên rất sợ bị vào nhà cùm ở bên trại nam; bởi bất kể một nữ tù nào chỉ cần có một giờ bị ôm áo quần đi vào nhà cùm ở trại nam, là cả hai trại nam - nữ tù đều biết tất cả.

Hai trại nam, nữ cách nhau một giòng suối nhỏ, « tuy xa mà gần, tuy gần mà xa » chung một hội trường để hai trại nam, nữ cùng học tập chính trị, hoặc họp toàn trại mỗi khi trong trại có nhiều người « vi phạm nội quy » hoặc xem văn nghệ vào dịp Tết, hay ngày 2/09, « nghệ sĩ » là các anh chị em đa số là các anh chị em thuộc Chiến Tranh Chính Trị cũ.

Nói đến nhà tù này, thật là kinh hoàng, khủng khiếp!!! Vì là nhà tù lao động chuyên về nông nghiệp, nên cả nam lẫn nữ tù đều phải làm những công việc vô cùng nặng nhọc. Hàng ngày, nữ tù chúng tôi thường đi làm chung với quý vị nhà 08 do Trung tá Nguyễn Văn Chước « Tự quản » (nhà trưởng) quý vị này đã từng qua nhà biệt giam 02-79 ( Đồng Mộ ) và nhà 10 do Thiếu tá Trương Quang Dõng làm nhà trưởng, ngày nào hai nhà này cũng thay phiên lao động bên nữ tù. Các anh đã thay trâu bò cày, bừa cho nữ cấy, gặt. Với chỉ tiêu chung, ba người một sào, bắt buộc phải đạt trong ngày. Ngoài ra phải leo lên đồi cao cuốc đất trồng sắn, mỗi ngày với chỉ tiêu vừa cuốc vừa trồng phải « đạt » 500 cây hom sắn, hay cuốc đất trồng mía, tỉa đậu, trồng khoai, lên rừng nam đốn củi, nữ vác xuống chất thành mét khối, cũng phải "đạt chỉ tiêu". Nói tóm lại làm việc gì cũng phải « đạt chỉ tiêu » hết.

Nhưng không phải « đạt chỉ tiêu » rồi mà tối về phòng được ngủ sớm, mà tất cả chúng tôi, sau giờ ăn tối còn phải «làm tranh thủ» hái đậu phụng (lạc) cũng «chỉ tiêu» cho ba người đầy một thúng mới được về phòng, đặt lưng xuống chưa được bao lâu thì 06 giờ sáng phải thức dậy để bắt đầu một ngày lao động khác. Có khi vừa ăn tối xong, phải «tranh thủ» làm cỏ mía... Thôi thì đủ thứ «tranh thủ» không làm sao kể hết.

Chúng tôi vẫn nhớ, có những lần suốt ngày dầm mình dưới sình, lầy, tới ngực, tới bụng làm mồi cho đỉa; Nhưng vẫn "không đạt chỉ tiêu". Vì vậy, đến chiều về trại, chúng tôi đã bị phạt, bằng cách không cho tắm rửa. Những lần như thế, chúng tôi cứ khóc như mưa, chẳng làm sao nuốt nổi chén sắn độn cơm, cũng không sao ngủ được vì trên người còn dây dính những bùn lầy, hôi hám!!!

Chúng tôi cũng không bao giờ quên những năm tháng lao động bên các vị Quân, cán, chính VNCH, thuộc nhà 08 và nhà 10. Tôi vẫn nhớ mãi những ánh mắt đầy thương cảm và lo lắng của các anh, khi nhìn chúng tôi với những tấm thân yếu đuối, mà các anh chỉ nhìn thấy từ bụng, từ ngực nổi trên sình lầy, trong những ngày đông buốt giá, đến những ngày hạ nắng như thiêu đốt. Đôi chân của chúng tôi lúc nào cũng phải lần bước theo những cây đà, do chính các anh đốn từ trên rừng đem bỏ xuống ruộng. Các anh luôn luôn lưu ý đến chúng tôi, để khi nào nữ tù có ai lỡ trượt chân khỏi cây đà, thì các anh kịp thời nối cuốc, nối tay, kéo chúng tôi lên. Vì thế, có nhiều người rơi xuống ruộng, nhưng không hề có một ai bị chết vùi thân dưới sình lầy cả.



Nhưng với tôi, mặc dù bị tù đày. Tôi vẫn thấy mình có cái « may mắn » là « được » chứng kiến những trận đòn thù dã man, tàn bạo nhất mà công an trại đã giáng trên những tấm thân gầy yếu, trơ xương của nhiều vị tù, nhưng vì là một bài viết có hạn, nên tôi chỉ nói đến những trường hợp như sau đây:

- Thiếu tá Hồ Minh, ông đã bị « kỷ luật » cùm tay, chân, miệng, và ở phòng biệt giam. Chẳng những thế, mà ông còn bị công an trại dùng những khúc củi đánh đập nhiều lần, đến nỗi mỗi lần ông bị đánh, tù nhân chỉ nghe tiếng hét, tiếng rú của ông chứ không hề nghe tiếng ông nói thành lời. Một lần, tù nhân nghe tiếng mở cửa của thanh sắt phòng biệt giam. Họ thấy ông Hồ Minh bị hai tên công an vũ trang lôi ra khỏi phòng, rồi dùng những khúc củi đánh tới tấp lên người ông. Đau quá, ông bỏ chạy quanh khu biệt giam, lúc ấy, nhiều người mới nhìn thấy chiếc cùm đã không còn trên miệng của ông nữa, Nhưng ông không còn hét thành lời, mà chỉ có tiếng rú vô cùng man dại, đôi mắt vô hồn, nét mặt thất thần, có lẽ ông đã mất trí, cũng có thể vì chiếc cùm lâu ngày trên miệng đã làm ông không còn nói được nữa. Nhưng bọn công an vẫn đánh vì nói ông giả câm, chúng cứ tiếp tục đánh, buộc ông phải nói. Khi ông ngã sấp xuống mặt đất thì chúng không đánh bằng những khúc củi nữa, mà chúng thẳng chân giày đạp lên đầu, lên lưng ông, cho đến lúc ông nằm bất động, chúng mới cho « trật tự » trại khiêng xuống trạm xá trại 1. Nhưng đã quá trễ, vì khi vào trạm xá, thì thân xác ông đã lạnh ngắt tự bao giờ. Mọi người mới hay rằng bọn công an trại đã đạp lên cái xác chết của ông.

- Đại úy Nguyễn Phượng, bị cùm bỏ đói cho đến chết. Khi chết rồi, mà đôi chân của ông vẫn còn trong đôi cùm sắt treo trên tường, thân thể quắt queo trên nền gạch lạnh lẽo của phòng biệt giam tăm tối!!!

- Thiếu tá Nguyễn Xuân Giáo, cựu Trưởng ty Cảnh sát Quốc gia Quảng Nam (thời Đệ Nhất Cộng Hòa). Trước khi chết, ông đã bị hành hạ đến không còn nhìn ra được là con người nữa. Ngày ông chết trong nhà biệt giam, khi đưa ra ngoài, không biết là vô tình hay hữu ý, mà bọn công an đã cho người con trai ruột của ông cùng đồng tù là anh Nguyễn Xuân Đức khiêng xác đi chôn, mà vẫn không biết đó là cha ruột của mình. Cho đến khi huyệt mộ đã lấp đất xong, tên công an trại ra lệnh cho « trật tự » trại mang tấm bảng gỗ đến và viết tên Nguyễn Xuân Giáo, đem cắm dưới chân mộ. Lúc ấy, anh Đức mới kinh hoàng, chết điếng ngã lăn xuống đất, ôm lấy nấm mộ của đấng sinh thành vừa lạy vừa kêu Trời. Nhưng Trời thì ở trên cao và xa quá, còn công an thì ở gần, nên chúng ra lệnh cho « trật tự » trại vực anh dậy và lôi về phòng. Trước cảnh Trời sầu, đất thảm ấy, tất cả tù nhân chỉ biết rơi lệ vì cảm thương và đau xót!!!

- Chúng tôi cũng đã chứng kiến tại "Đồng Cừ", hôm ấy là ngày cấy lúa, bọn công an bảo Trung tá Không quân, anh Nguyễn Văn Đức nấu ăn, đến khi dọn cơm ra cho chúng, bỗng chúng nói anh rửa rau muống không sạch, là muốn đầu độc chúng, rồi mấy tên công an vũ trang đã dùng báng súng, dùng giày, đánh, đạp vào người anh đến ngã ngụy xuống mặt đất trước mặt Mục sư Dương Đình Nguyện và Giáo sư Đồng Sĩ Ninh, là hai vị tù chịu trách nhiệm đắp nước ruộng và đồi sắn tại "Đồng Cừ", cùng đông đảo tù cải tạo. Chúng tôi hết sức kinh hoàng và vô cùng đau đớn, nhưng không biết phải làm gì hơn là cúi mặt để giấu đi những dòng nước mắt cứ trào tuôn từ đáy lòng thương cảm, và cũng từ nỗi uất hận. Bởi, anh Đức đã lớn tuổi, mắt kém nhưng không có kính, nếu anh có rửa rau không được sạch thì đó không phải là lỗi của anh. Tại sao chúng không bảo những người tù khác mắt còn nhìn rõ hơn để nấu ăn cho chúng. Vả lại, chúng biết rõ là anh Nguyễn Văn Đức không có ý đầu độc chúng, Nhưng chúng muốn đánh anh vì lòng thù hận. Nên biết, bọn công an luôn luôn tìm một sơ hở nhỏ nào đó của tù cải tạo để có cớ mà đánh, đập, cùm kẹp để hành hạ trả thù mà thôi.

- Trung tá Nguyễn Tối Lạc, quận trưởng quận Đức Dục, người từng bị cùm cả tay, chân, có khi bị cùm cả miệng. Trước khi bị cùm miệng, ông đã xin Linh mục Vũ Dần, Linh Mục Đặng Đình Canh, Linh Mục Nguyễn Đình Ánh, Linh Mục Tống Kiên Hùng, truyền dạy Kinh Thánh cho ông, nên mỗi lần bị cùm miệng, nhưng còn hai tai nên qua cái lỗ thông hơi của phòng biệt giam, ông vẫn học thuộc hai câu Kinh Thánh mỗi ngày. Và nhiệm mầu thay, ông đã thoát chết. Bây giờ ông đã sang Hoa Kỳ theo diện tù cải tạo.

Người ta thường bảo khi cùng đường, sắp chết mới thấy Trời. Quả đúng như vậy, khi vào các nhà tù của Việt Cộng là đi vào tử lộ, và chính ở nơi ấy con người mới biết đến Đấng Toàn Năng.

- Ngoài ra, còn có nhiều vị bị xử bắn tại trại như Đại tá Nguyễn Văn Bình… Đặc biệt là Kỹ sư Trung úy Trần Quang Trân đã bị xử bắn vì tổ chức giải thoát tất cả tù nhân. Nên biết, ông Trần Quang Trân là một Kỹ sư điện tử, từng được tu nghiệp tại Nhật và Hoa Kỳ, ông được công an trại giao cho tất cả công việc bảo quản điện, đài trong trại, được tự do về thành phố Đà Nẵng mua phụ tùng các loại máy móc cho trại, ông cũng là một tay trống của đội văn nghệ trại, nhưng ông không thể ung dung để hưởng những ưu đãi của Việt cộng, không thể nhìn những người đồng cảnh ngộ bị đọa đày. Nên ông phải hành động, để rồi ông phải chịu chết thảm!!!

- Ngày ông Trần Quang Trân bị xử bắn, một buổi chiều khoảng 06 h 30 ngày 27/05/1982, khi cả hai trại nam, nữ đã ăn « cơm » xong. Trại nam đã điểm danh khóa cửa, nhưng trại nữ chưa điểm danh. Vì thế, chúng tôi còn rủ nhau đi quanh sân trại để « tâm sự ». Bỗng nhiên, chúng tôi thấy một tiểu đội công an vũ trang xuất hiện, chúng kềm ông Trần Quang Trân ở giữa và dắt theo bốn nam « trật tự » khiêng một chiếc quan tài, tất cả đang đi về hướng Hố Ông Hức, là nơi dành để chôn tù cải tạo. Riêng tôi, là thợ cắt, may được Âu-Việt phục, nên thỉnh thoảng công an trại bảo đi lấy số đo ở gia đình chúng để vào may trong trại nam, vì trại nam có bốn máy may, trại nữ không có, máy may chỉ dành để may áo quần cho công an, còn tù phải tự vá áo quần rách bằng những sợi nylon, tách ra từ bao cát mà ngày xưa thường dùng để làm hầm tránh đạn. Mỗi lần một « cán bộ » nào muốn nhờ tôi cắt, may, thì chính « cán bộ » ấy phải đích thân ra trại nữ xin phép « cán bộ trực trại » để nhận và cùng đi với tôi đến nhà, sau khi đo, đến ngày tôi vào trại nam để may công an cũng phải đi kèm, may xong, lại dắt tôi về trả cho « cán bộ trực trại ».

Vì vậy, lúc ấy tôi đang từ nhà của vợ chồng Phó giám thị Nguyễn Văn Bá và vợ là Nguyễn Thị Thanh Yên người Kỳ Hà, quận Lý Tín, Quảng Tín. Yên là « cán bộ y tế ». Thời gian này Nguyễn Văn Bá đã lên Phân trại Thôn 05 để kiêm luôn chức Trưởng trại Thôn 05. Nhưng không hiểu vì quên giờ hành quyết ông Trần Quang Trân, hay vì tôi đo áo quần cho cả gia đình nên bị chậm trễ giờ giấc. Nhà của vợ chồng tên Bá ở gần Hố ông Hức. Trên đường về trại có « cán bộ » Yên đi kèm, tôi đã nhìn thấy ông Trần Quang Trân bị bịt mắt và cùm miệng, vì sợ ông Trân có thể có lời nói bất lợi, hoặc hô khẩu hiệu, ngay như Trung tá Nguyễn Tối Lạc, khi bị kỷ luật cũng phải bị cùm miệng, bọn công an trong trại không bao giờ cho tù nói những lời mình muốn nói... Ông Trần Quang Trân bị đưa đến Hố ông Hức. Vừa thấy tôi, mấy tên công an hét lớn, bảo tôi nhanh chân về trại, « cán bộ » Yên bảo tôi chạy ngay về trại, không được nhìn cái gì cả, còn y thị cũng chạy biến vào đám mía của nhà «Phó giám thị » Nguyễn Văn Tài và vợ là Trần thị Lệ cán bộ phụ trách hồ sơ tù cải tạo. Tôi lén nhìn ông Trân rồi cúi đầu đi thẳng. Khi về trại, tôi thấy mọi nữ tù đều khóc, vì họ cũng đã thấy, và đã biết những gì sẽ xảy ra!!! Khoảng nửa giờ sau, có mấy phát súng nổ. Mặc dù trừ bốn « trật tự » và đội công an hành quyết, không có một ai biết, hay thấy được giây phút cuối cùng của ông Trần Quang Trân, Nhưng nữ tù đều hiểu khi nhìn thấy chiếc quan tài khiêng đi bên cạnh ông, nên họ biết chắc chắn những phát súng đó là đã bắn vào ông Trân. Không cầm lòng được nữa, cả trại nữ khóc thét lên, tiếng khóc thấu Trời, làm bọn công an trên cơ quan nghe được. Vì thế, « cán bộ trực trại » tên Trịnh Thị Thư vợ của « giám thị » Huỳnh văn Hưng người Bình Dương, Thăng Bình, Quảng Nam, đã xuống trại, y thị phùng mang trợn mắt hét chúng tôi, bảo tất cả vào phòng khóa cửa lại. Y còn nói: « Nếu các chị còn khóc tui sẽ cùm đầu hết ». Nhưng chúng tôi không sợ, vì cùm hết thì lấy ai ngày mai đi lao động.

Trong những ngày đi cắt bổi (cắt những cành lá trên ngọn để bỏ vào chuồng trâu, bò làm phân bón ruộng) quanh Hố ông Hức, tôi đã bốn lần lén lút đến gần ngôi mộ ông Trần Quang Trân. Ông được chôn riêng trên ngọn đồi, dưới chân mộ là một gốc cây cao, có bóng mát tỏa xuống chở che một nắm xương tàn, một linh hồn, mà lúc sinh tiền là một tâm hồn cao thượng. Những ngày bị cùm kẹp trong phòng biệt giam, những vị tù bị cùm bên cạnh phòng của ông, vẫn thường nghe ông hát lên những Bài Thánh Ca với lời nguyện cầu cho đất nuớc, cho đồng bào, cho những người tù đồng cảnh ngộ. Mỗi lần viếng mộ ông, tôi chỉ vừa đi vừa nhìn, chứ không bao giờ dám đứng lại, vì tất cả tù nhân nếu ai đến thăm mộ ông mà bị chúng bắt được, sẽ bị vào nhà cùm biệt giam cả.

Tôi cũng biết chắc chắn, khi VC mở tòa án tại trại để tuyên án tử hình ông Trần Quang Trân, cũng như lúc xử bắn VC đều không cho thân nhân và vợ, con ông ở Xuân Hòa, Xuân Lộc, Đồng Nai được biết.

Nói về những vị đã chết trong trại tù còn nhiều lắm, khó có thể viết đầy đủ trên một trang báo. Nên tôi lại xin phép nữa để viết về một hòan cảnh thương tâm khác của một người, hay nói đúng hơn là của một gia đình đã bị VC đọa đày đến cảnh khốn cùng, nếu không có niềm tin nơi Đấng Tối Cao thì tôi chắc họ đã không làm sao vuợt qua được những đớn đau, nghiệt ngã, oan khiên mà đảng Cộng sản Việt Nam đã giáng cho gia đình ấy, đó là trường hợp của gia đình Giáo Sư Thượng Nghị Sĩ Bùi Văn Giải. Khi di cư vào Nam năm 1954, ông làm nghề dạy học, bà tảo tần buôn bán, tiết kiệm dành dụm tạo được một căn nhà tại phuờng Tam Tòa, đường Trần Cao Vân Đà Nẵng. Khi ông vào tù cải tạo, công an Đà Nẵng đã tịch thu căn nhà của ông bà. Bà đau buồn, ngã bệnh rồi mất ở tuổi đời 36. Ngày mất mẹ, các con ông và người thân đồng cầu khẩn VC cho ông về chôn cất vợ xong rồi tiếp tục vào tù, nhưng VC vẫn không cho. Ông đã không được nhìn mặt người bạn trăm năm vào giây phút cuối cùng!!! Nhờ bà con giúp đỡ, các con ông chôn mẹ, trong lúc cha vẫn ở trong tù!!! Chỉ có Trời cao mới thấu được nỗi đau thương của các con ông Bùi Văn Giải khi vấn vành khăn tang khóc mẹ, cũng như nỗi đớn đau của ông Bùi Văn Giải ở trong trại tù "cải tạo"!!!

Những năm dài ở trong lao lý, Giáo Sư Bùi Văn Giải đã từng bị đưa vào nhà "Biệt giam 2.79" tức Đồng Mộ và nhà "Biệt giam Nhà Trắng" cùng với nhiều vị sĩ quan cao cấp và các vị cán bộ lãnh đạo cao cấp của các chính đảng. Khi bị bệnh nặng Giáo sư Bùi Văn Giải phải vào bệnh xá Trại 1 (trại chính), khi xuất viện ông lao động ở tổ rau xanh sau trại nữ, thời gian này tôi vẫn thường thấy ông với mái tóc bạc phơ, tấm thân gầy yếu, nhưng tiếng hát của ông qua những Bài Thánh Ca nghe vẫn vút cao như bay đến tận Trời xanh.

Ngày ra tù, theo lời Thầy, tôi đến thăm các con của Thầy. Được biết khi tịch thu nhà, công an Đà Nẵng nói là vì « nhân đạo » nên chừa lại một phòng trong căn nhà của ông bà chỉ bốn mét vuông, để các con ông ăn, ngủ, còn nấu nuớng thì phải nhóm bếp ngoài sân. Nhưng những ngày mưa và mùa đông thì phải dời bếp vào phòng, bốn đứa con ông bà phải ăn, ngủ chung với tro và khói bếp. Nhưng chưa đủ, công an còn buộc các con của Giáo Sư Bùi Văn Giải phải trả tiền nhà hàng tháng cho Ty nhà đất, vì căn nhà đã thuộc sự quản lý của nhà nuớc!!!

Với hoàn cảnh bơ vơ, cha ở tù, mất mẹ, các con ông phải bỏ học, đứa vá xe đạp, đứa làm thuê. Riêng Thu con gái út, là con gái yếu đuối lại còn nhỏ, nên phải làm nghề thêu, may mướn để góp phần trả tiền thuê cho chính căn nhà mà do mồ hôi, nuớc mắt của cha mẹ mình đã tạo nên. Vì nếu không trả thì sẽ bị đuổi ra khỏi phòng, rồi phải lang thang đầu đường xó chợ. Sau 13 năm tù cải tạo, ông đã sang Hoa Kỳ và hiện đang là Chủ nhiệm Nguyệt san Về Bên Mẹ La Vang tại Portland, Hoa Kỳ.

Tạm thay lời kết:

Khi viết đến những dòng này, tôi bỗng thấy có hơi buồn; bởi chúng tôi biết có rất nhiều người đã biết, đã thấy những hành vi tàn ác của Phật Giáo Ấn Quang trong suốt bao nhiêu năm qua. Song cho đến giờ này cũng chỉ thấy xuất hiện một số ít bài viết về các biến cố như: Cuộc thảm sát tại Thanh Bồ - Đức Lợi, 24-08-1964- Cuộc Bạo Loạn tại miền Trung, mùa hè 1966, Cuộc Thảm Sát Tết Mậu Thân, 1968 và về ngày nước Việt Nam Cộng Hòa đã rơi vào tay của cộng sản Hà Nội: 30-04-1975. Nhưng, tất cả họ đã vì một lẽ nào đó, nên đều tránh né, không muốn hay không dám viết hết những sự thật. Chúng tôi nghĩ rằng, có thể bởi bị ám ảnh với những hình ảnh giết người của Ấn Quang nên họ sợ đụng chạm, hoặc vì đang đứng ở vào một tổ chức nào đó mà phải cần đến Ấn Quang; và còn một lý do khác nữa là họ sợ một ngày nào đó phải cần đến lá phiếu của Ấn Quang. Riêng kẻ viết bài này là một người không hề có tham vọng về chính trị, nên dù bất kể một thế lực nào cầm quyền tại Việt Nam, kẻ này cũng không màng đến một địa vị, chức tước gì cả. Vì thế, nên không bao giờ cần đến bất cứ một lá phiếu nào; mà điều duy nhất của người viết những loạt bài này là đã tâm nguyện: Suốt đời chỉ làm một người cầm bút, để viết lên tất cả những gì mắt thấy, tai nghe, thấy sao nói vậy, nhớ đâu viết đó. Viết với tất cả tâm thành để cho lớp trẻ sau này còn biết đến những hành vi tàn ác, bất nhân của những kẻ đã từng gieo rắc tang thương, máu lệ cho đồng bào vô tội; hầu cho họ biết đường mà tránh xa phường lục lâm, tặc phỉ, để khỏi rơi xuống hố sâu của tội ác. Bởi đó, chính là lương tâm và trách nhiệm của người cầm bút.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.

************************************************


Nhà thờ Thánh Tử Đạo tại Phoenix, Arizona

NGHỊ QUYẾT 36 ĐANG THỰC THI TẠI MỸ - LM NGUYỄN THUẬN LÀ AI MÀ DẸP CỜ VÀNG TẠI NHÀ THỜ ARIZONA?

Source: RVNAF 2010/04/23

Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ bị triệt hạ tại buổi Lễ Khánh Thành Thánh Đường Giáo Xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam tại Phoenix ngày 18.04.2010



Ngày 11 tháng 4, 2010, linh mục Nguyễn Trường Luân và ban tổ chức Đại Hội Suy Tôn Lòng Thương Xót Chúa tại Đại Học Cal State Long Beach đã dùng lực lượng cảnh sát và an ninh hộ tống Hồng Y Phạm Minh Mẫn vào nơi hành lễ cũng như cho nhân viên an ninh chìm, nổi kiểm soát gắt gao giáo dân đến dự lễ.

Một tuần sau, không kém phần sỉ nhục, sáng chúa nhật ngày 18 tháng 4, 2010 linh mục chánh xứ Nguyễn Thuận đã dùng tất cả biện pháp an ninh để ngăn chận cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trong dịp khánh thành nhà thờ.



Từ ngã tư đến cửa nhà thờ, khoảng 20 "quần chúng tự phát" được linh mục Thuận tổ chức thành nhân viên an ninh nội chính với đồng phục áo tím dàn hàng "đón" quan khách và ngăn chặn cờ Vàng của giáo dân mang theo mừng lễ. Cũng may Hoa Kỳ là một đất nước có luật pháp nên "quần chúng tự phát áo tím" của linh mục Nguyễn Thuận chỉ tịch thu cờ Vàng, hình Đức Giáo Hoàng Cổ Quàng Cờ Vàng của giáo dân chứ không đến nỗi sử dụng "bạo lực cách mạng" như "quần chúng tự phát áo xanh" đã man rợ tấn công giáo dân cầu nguyện cho công lý và sự thật trước tòa Khâm Sứ tại Hà Nội.

Ngay cửa nhà thờ 4 cảnh sát Mỹ mặc sắc phục trấn giữ và cảnh sát chìm đứng vòng trong có nhiệm vụ được giao phó từ linh mục Thuận: dẹp bỏ, tịch thu cờ Vàng.



Trước ngày khánh thành lm Nguyễn Thuận đã dằn mặt giáo dân:“ cờ Mỹ tôi cũng cấm chứ nói gì cờ Vàng!“ khi giáo dân yêu cầu với linh mục cho phép rước cờ Vàng, cờ Mỹ và cờ hội thánh Công Giáo để tăng phần long trọng cho buổi lễ và cám ơn nước Mỹ đã đón nhận người Việt tị nạn cộng sản cũng như dương cao biểu tượng của người Việt quốc gia. Chính người công giáo Việt Nam tị nạn cộng sản tại Arizona này chứ không ai khác đã đóng góp mồ hôi nước mắt để xây dựng nên ngôi nhà thờ mới này.

Trong không khí hân hoan ngày đại lễ, nhiều giáo dân đã mang cờ Vàng đến mừng lễ với sự mong mỏi chính đáng: ngọn cờ chính nghĩa sẽ được tung bay trong ngày giáo xứ ăn mừng lễ khánh thành nhà thờ mới, nhưng mọi người đã thất vọng vì nhân viên an ninh Mỹ và "quần chúng tự phát áo tím" của linh mục chánh xứ Nguyễn Thuận đã cương quyết không cho mang cờ Vàng vào sân nhà thờ. Nhóm áo tím đã còn ngang nhiên cướp cờ trên tay giáo dân.

Một số giáo dân đã truyền cho nhau hình Đức Thánh Cha Benedic 16 Choàng Cờ Vàng kèm theo thư ngỏ song ngữ Anh-Việt lời lẽ ôn hoà giài thích về cờ Vàng và lý do tại sao lá cờ được tôn vinh.

Nhưng sau đó "quần chúng tự phát áo tím" đã hung hăng "thu" lại từ tay một số giáo dân VN và xé nát, chà đạp dưới chân, mặc dù đó là chân dung vị Cha chung của giáo hội Công Giáo toàn cầu. (đây chứng tỏ họ không phải là người công giáo, mà chính là bọn công an CS được gửi sang Mỹ để lũng đoạn quần chúng VN TỴ NẠN CS).



Để phản đối, hàng chục giáo dân, nhiều cựu chiến binh Hoa Kỳ và một số thành viên cộng đồng tay cầm cờ Vàng cũng như phất đại kỳ trước nhà thờ. Niềm vui ngày đại lễ tan biến, ai cũng lấy làm đau buồn vì linh mục chánh xứ đã thành công trong việc dẹp lá cờ Vàng tại giáo xứ. Biểu tượng của người Việt Quốc Gia bị xoá bỏ trong sự im lặng cúi đầu chịu đựng của hàng ngàn giáo dân. Ai cũng sợ hành động ủng hộ cờ Vàng của mình là chống cha vì cha luôn chống cờ Vàng và chống cha là chống Chúa.

Dù đau xót vì biểu tượng hồn thiêng sông núi bị linh mục Thuận nhất quyết loại trừ khỏi giáo xứ, mọi người vẫn giữ ôn hoà, chỉ dương cờ Vàng và yên lặng tưởng nhớ đến các linh hồn tử sĩ đã dùng máu mình để tô thắm màu cờ bảo vệ chính nghiã quốc gia cũng như hiệp thông với giáo hội và đất nước đang bị đàn áp thô bạo tại Việt Nam.

Hai trong số cựu chiến binh Hoa Kỳ đã không thể chấp nhận sự bán đứng chính nghiã tự do ngay trên đất Hoa Kỳ, đã tay cầm cờ Vàng, tay cờ Mỹ đi vào sân nhà thờ nhưng cảnh sát Mỹ đã cương quyết ngăn cản theo lệnh của linh mục Thuận. Hai cựu chiến binh này đã chất vấn cảnh sát Mỹ: “ Tại sao nhà thờ này nằm trên đất Mỹ mà quý ông là công dân Mỹ lại chấp nhận cho họ ra lệnh loại bỏ quốc kỳ Mỹ? Ngoài ra, cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là biểu tượng của một dân tộc yêu công bằng, bác ái, dân chủ, tự do và hơn 50 ngàn chiến binh Mỹ đã hy sinh để bảo vệ nó cũng bị loại bỏ ở cái nhà thờ này, quý ông có thấy xấu hổ không?“

Thật ngược ngạo khi linh mục Nguyễn Thuận dùng tiền của giáo xứ do giáo dân Việt Nam đóng góp để mướn cảnh sát Mỹ đàn áp lại giáo dân và biểu tượng của họ.

Sau thánh lễ Dâng Hiến Thánh Đường do Đức giám mục giáo phận Phoenix chủ sự, các giám mục, linh mục tiến ra sân nhà thờ xem đốt pháo, muá lân mừng thánh đường mới. Một số giáo dân đã vui mừng và phất cao lá cờ Vàng. Một điều nghịch lý mà không một ai có thể hiểu, trong khi các vị giám mục, linh mục Hoa Kỳ vui vẻ ban phép lành cho lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của dân tộc Việt Nam, có linh mục còn khoác lên vai như vị Giáo Hoàng cuả họ, thì các linh mục Việt Nam một số làm ngơ, một số đi thì thầm cái gì đó với các linh mục Mỹ để các linh mục Mỹ lấy cờ Vàng đang khoác trên người xuống, thậm chí có 1 linh mục còn giật lá cờ VN trên tay một giáo dân và lẩn mất.

Trong niềm hân hoan có nhà thờ mới, giáo dân ra về không quên tự hỏi, linh mục Nguyễn Thuận là ai? Linh mục muốn gì khi bất chấp dư luận, bằng mọi cách triệt hạ cờ Vàng Ba Sọc Đỏ? Và linh mục có giữ lời hứa “xây xong nhà thờ là tôi đi” không, để giáo xứ sớm có lại bình an, đoàn kết, thương yêu nhau như trước ngày linh mục đến nhận xứ cách đây 10 năm (?)?

Phoenix, ngày 22.04.2010

Gián điệp công an Việt cộng "Nguyễn Thuận" đã lòi đuôi chồn, sau hơn năm nằm yên tại Phoenix đã được lệnh trung ương phải ra mặt thi hành NQ 36. Các giáo dân ở Phoenix và CĐ người Việt tại Mỹ phải có thái độ với tên Việt cộng này.

*********************************************************

BỊ HÃM HIẾP, VẪN CÒN TRINH!

Trần Thanh


TRƯỚC KHI VÀO TRUYỆN:
............................................

Tình cũng khó theo thời cơm áo, khó

Ta dìu nhau đi dưới bóng nợ nần!
.............................

Khăn tăm tối hãy ngang đầu quấn nốt

Quấn cho nhau, quấn bạo, quấn cuồng điên

Vòng sau cùng sẽ gặp quỷ SA TĂNG (Lê Thị Công Nhân)

Bởi hạnh phúc mơ hồ như Thượng Đế!
..................................

Đời vốn không nương người thất thế

Thì thôi, Ô NHỤC cũng là danh!
....................................

Những câu thơ trên do thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên sáng tác năm 1973. Bài thơ mang tựa đề "Hai hàng me ở đường Gia Long", nội dung nhuốm màu bi quan, yếm thế, thụ động, buông xuôi, chấp nhận số phận nghiệt ngã, coi như mọi sự đều do Thượng Đế an bài!

Khi đề cập đến sự đau khổ của toàn dân tộc ta dưới ách cai trị của bọn việt gian cộng sản, nhiều người đã cho rằng, ấy là "mệnh trời" đã quy định như vậy! Chẳng hạn, con tắc kè Đinh Thạch Bích thường xuyên đề cập đến "thuyết Định Mệnh": người Mỹ đã thay mặt cho "thuyết Định Mệnh", quyết định cho bọn việt gian cộng sản được xuống cọp an toàn rồi, đừng có chống cộng nữa, vô ích!

Do bị ảnh hưởng bởi "thuyết Định Mệnh" nên nhiều người trong chúng ta đâm ra buông xuôi mọi chuyện. Thay vì tích cực hành động để chấm dứt kiếp nô lệ thì ngày đêm họ cầu mong Thượng Đế cứu giúp, nhưng Thượng Đế đâu không thấy, chỉ thấy quỷ Sa Tăng Lê Thị Công Nhân xuất hiện, trong vai "thánh nữ", vị "cứu tinh" của dân tộc, mang màu sắc tôn giáo!

Chúng ta đang chiến đấu chống bọn việt gian cộng sản và đã chiến đấu ròng rã ba phần tư thế kỷ, từ năm 1945 đến nay. Chúng ta sẽ thua bọn chúng nếu chúng ta không thắng được trên mặt trận tôn giáo. Mặt trận tôn giáo là địa bàn hết sức quan trọng mà bọn giặc đã và đang triệt để khai thác. Ðó là nơi bọn cán bộ cộng sản đội lốt những nhà "tu hành" để bòn rút xương tủy của chúng ta và đâm chúng ta những nhát dao lút cán vào thấu tim gan, phèo phổi. Nhiều người đã bị chết mà vẫn không hiểu vì sao mình chết, ngược lại, còn cám ơn bọn chúng!

Hiện nay tại hải ngoại, bọn cán bộ cộng sản đội lốt tôn giáo đang hoạt động dày đặc. Có thể nói, khoảng 90 phần trăm những chùa và nhà thờ tại hải ngoại đều là những ổ rắn độc của bọn việt gian cộng sản. Ðó là những căn cứ địa hết sức an toàn của bọn chúng, nơi đó, chúng đã ra sức bòn rút máu tủy của chúng ta qua những chiến dịch "từ thiện", và đồng thời thi hành nghị quyết 36, quyết tâm thôn tính toàn bộ cộng đồng người Việt tại hải ngoại, biến chúng ta thành những kẻ nô lệ như 85 triệu nô lệ ở trong nước!

Vì sao bọn giặc đã và đang thành công trên mặt trận tôn giáo? Trước năm 1975, bọn chúng đã thành công và bây giờ, vẫn bổn cũ soạn lại mà chúng ta vẫn cứ bị sa vào cạm bẫy?

Sở dĩ bọn giặc thành công vì chúng dựa vào các yếu tố sau đây:

1. Dựa vào sự ngu dốt chính trị của quần chúng

2. Dựa vào sự mê tín của quần chúng

3. Dựa vào lòng tham của quần chúng

Ngu dốt về chính trị chính là cứ thấy những thằng nào cạo đầu trọc, mặc áo cà sa là cứ cắm đầu cắm cổ vái lạy mà không hề dám tìm hiểu lai lịch, gốc gác của bọn chúng từ những cái lỗ nẻ nào chui ra? Cho đến bây giờ vẫn còn rất nhiều người chưa hề biết những tên sát nhân hết sức ghê tởm như Thích Ðôn Hậu, Thích Trí Quang là những tên cán bộ cộng sản thứ thiệt! Toàn bộ những "đức tăng thống", đệ nhị, đệ tam, đệ tứ của Phật giáo đều là bọn cộng sản đội lốt!

Đúng ra, có thể nhiều người đã biết điều này nhưng không dám lên tiếng. Sự hèn nhát của họ cộng với sự ngu dốt chính trị của quần chúng đã là mảnh đất mầu mỡ hết sức thuận lợi cho bầy vi trùng ho lao sinh sôi nẩy nở để gặm nát hai lá phổi của toàn dân Việt!

Thế còn sự mê tín? Xin thưa, sự mê tín của quần chúng nằm ở chỗ, đa số đã hiểu rất sai về tôn giáo của mình. Tôn giáo vốn dĩ, từ hàng ngàn năm nay, đã bị vô số những bọn lưu manh lợi dụng, sửa đổi giáo lý, vẽ rắn thêm chân, làm cho nó khác đi rất nhiều so với những điều giảng dạy nguyên thủy của những đấng Cứu Thế hoặc Giáo Chủ. Lấy ví dụ, cốt lõi của đạo Phật là sự TỰ GIẢI THOÁT. Ðức Phật chỉ hướng dẫn phương pháp tự giải thoát, còn tự mỗi tín đồ phải thực hành để tự giải thoát cho bản thân mình. Cũng ví như Ðức Phật chỉ cho những người sắp chết đói, chết khát biết nên đi về hướng nào để gặp con suối, nơi đó có cá và cây cối. Và khi đến được con suối rồi thì chính bản thân những người chết khát phải tự múc nước mà uống, muốn ăn trái cây thì tự họ phải trèo lên cây hái trái. Ðức Phật không thể "ăn giùm" hoặc "uống giùm" cho bất cứ người nào!

Tương tự như vậy, muốn thoát kiếp nô lệ thì chính chúng ta phải đứng dậy lật đổ chế độ cộng sản chớ không thể "biểu tình tại gia", nằm trốn dưới gầm giường trùm mền mà tự nhiên chế độ cộng sản bị sụp đổ! Người Mỹ không thể chống cộng giùm chúng ta, Liên Hiệp Quốc cũng chỉ gãi ghẻ và những hình bóng "đấng cứu thế" Góc Ba Chớp Việt Nam cũng chỉ là hoang đường!

Chế độ của bọn việt gian cộng sản sẽ không bao giờ tự hủy hoại, tự sụp đổ như tên điếm chính trị Đinh Thạch Bích đang ra sức tuyên truyền trên diễn đàn paltalk và tờ điện báo VietNam Exodus. Đinh Thạch Bích là tên lưu manh chính trị, khoác áo "người quốc gia" để lừa bịp đồng bào. Sự nguy hiểm của hắn cũng không thua gì Ali Baba Nguyễn Chí Thiện, "linh mục" Nguyễn Hữu Lễ hoặc "giáo sư" đại học Đặng Văn Nhâm!!!

Thế nhưng, như đã nói trên, vì mê tín và tham lam cho nên đã có rất nhiều người làm vô số điều ác rồi cứ đến chùa bỏ tiền vào thùng "phước sương", hy vọng rằng tội ác của họ sẽ được xóa hết! Ðây chính là hành động mình khát nước mà lại nhờ Ðức Phật uống nước giùm! Giả sử, chúng ta thèm ăn phở thì chính chúng ta phải chịu khó đi đến tiệm phở. Không có người nào điên khùng tới mức, nói là:" Anh ơi, chị ơi, tôi đang thèm phở quá nhưng bận việc không đi được. Anh chị có đi ăn phở thì nhớ ĂN GIÙM TÔI một tô cho tôi được no bụng nhé!"

Ðó là lý do vì sao đã có những kẻ đi ăn cướp nhà băng được một triệu đô la rồi đem mười ngàn đô bỏ vào thùng "phước sương" ở chùa để làm "từ thiện"!

Sự mê tín của quần chúng được thể hiện qua rất nhiều khía cạnh, và chính nhờ đó, bọn cán bộ cộng sản - công an đầu trọc - đã và đang ung dung sống một cách huy hoàng như những ông vua trong những ngôi chùa nguy nga như những cung vàng điện ngọc, có đầy đủ những cung tần mỹ nữ phục vụ!

Sự mê tín đã đẻ ra lòng tham, hay nói theo kiểu cộng sản, hai cái này có mối quan hệ biện chứng! Hầu như ai đi đến chùa là cũng mong CẦU ÐƯỢC MỘT ÐIỀU GÌ ÐÓ. Cầu được danh, cầu được lợi, cầu được trúng số, cầu được tình duyên suông sẻ ..v..v... Và ai sẽ là người "đại diện" cho Ðức Phật để gia hộ độ trì cho các phật tử? Chính là quý "thầy", tức những tên công an đầu trọc chớ còn ai vào đó! Chính vì vậy mà đôi khi các tín đồ sùng bái quý "thầy" tới mức, nếu "thầy" bảo ăn cứt, họ cũng không dám từ chối!

Tất cả những điều Ðức Phật dạy, họ đã quên hết, hay nói cho đúng, họ học giáo lý như những con vẹt, học mà không bao giờ chịu suy gẫm và thực hành. Nếu may mắn, có những người học-hiểu, thì oái oăm thay, những kẻ này không bao giờ dám dùng sự hiểu biết của mình như tấm kính chiếu yêu để nhìn rõ chân tướng của những tên công an đầu trọc, như "đại đức", "thượng tọa", "hòa thượng"! (học-hiểu mà không học-hành là đồ bỏ!)

Cứ như thế, từ năm này sang năm khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, nếu chúng ta không có can đảm ÐỂ TỰ GIẢI THOÁT thì chín mươi triệu dân Việt sẽ mãi mãi làm nô lệ!

Muốn thoát kiếp nô lệ, chúng ta phải mạnh dạn lột mặt nạ của những tên công an đầu trọc và đưa bọn chúng lên giàn hỏa thiêu .....

Câu chuyện sau đây đáng để chúng ta suy gẫm. Xin mời quý vị theo dõi ....

*******

Nàng là thiếu nữ 22 tuổi, sinh ra và lớn lên tại nước Mỹ. Cha mẹ nàng là người Việt nên nàng có tên Việt Nam là "Thắm", còn cái tên Mỹ "Tracy" chỉ dùng khi nàng đi học. Thắm là sinh viên năm thứ tư chuyên ngành về hóa học, sắp sửa ra trường. Nàng là sinh viên xuất sắc, biết đọc viết và nói tiếng Việt rất thông thạo. Tuy sinh trưởng tại Mỹ nhưng cái gốc Việt Nam của nàng đã được vun bồi khá đầy đủ. Ðây là công lao rất lớn của cha mẹ nàng, tuy xuất thân từ giới bình dân, lao động nhưng không bao giờ quên cội nguồn dân tộc. Cha mẹ nàng có ba người con, Thắm là trưởng nữ, rất hiền ngoan, học rất giỏi cho nên hai ông bà cưng quý nàng như một bảo vật. Một lý do nữa, Thắm là một cô gái sắc nước hương trời, hoa ghen thua "Thắm", liễu hờn kém xanh, là niềm tự hào lớn cho cả gia đình nàng và có lẽ cho cả cộng đồng người Việt tại tiểu bang Texas. Nhiều người đã đến xúi dục cha mẹ nàng, cho Thắm đi thi hoa hậu để kiếm "danh và lợi", theo đúng lời dạy của đại lão hòa thượng Thích Quảng Ðộ* nhưng cha mẹ nàng đã gạt phắt đi. Con gái mà đi thi hoa hậu thì sớm muộn gì cũng biến thành một loài đĩ công cộng, bị những bọn lưu manh thương mại lợi dụng, và không khéo cuộc đời sẽ bị kết thúc một cách bi thảm!

Tuy đang sở hữu một viên ngọc quý nhưng cha mẹ Thắm lúc nào cũng lo ngay ngáy trong bụng, nhất là nàng đã đến tuổi cần phải lấy chồng. Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân nhưng "chốn ba quân" nào mới được chứ, xã hội bây giờ rất phức tạp, bọn ma cô, lưu manh, điếm đàng nhiều như ruồi ở khắp mọi nơi, lơ mơ là giao trứng cho ác! Cha mẹ Thắm thường bàn tính với nhau như sau:

Vợ: - Anh à, tụi mình đã thống nhất với nhau, con gái mình phải lấy chồng là người Việt. Em không thích con mình lấy Mỹ đen hay Mỹ trắng hay Mễ Tây Cơ, để rồi nó bị ảnh hưởng lối sống Mỹ, tụi mình sẽ mất con!

Chồng: - Ðúng! Bởi vậy, anh đang nghĩ nên cho con mình đến sinh hoạt trong những tổ chức của cộng đồng người Việt để nó có điều kiện kiếm chồng là người Việt!

Vợ: - Anh à, em thấy hiện nay có mấy tổ chức của người Việt quốc gia như "Ðoàn Thanh Niên Phan Bội Châu", "Tuổi Trẻ Lên Ðường", "Tuổi Trẻ Tiếp Bước Cha Anh", "Ðoàn thanh niên Hưng Việt", "Đoàn Thanh Niên Cờ Vàng" ..v..v.. Ðây là những tổ chức chống cộng, có nội quy sinh hoạt rất đàng hoàng, có cả đồng phục nữa, toàn là những thanh niên trí thức ở hải ngoại tham gia. Có lẽ mình nên cho con nó tham gia, một công đôi chuyện, vừa ích nước lợi nhà, vừa có cơ hội kiếm được tấm chồng đàng hoàng!

Chồng: (giật nảy người như bị điện giật)

- Ấy chết! Em không biết gì sao? Giao trứng cho ác! Ðó là những tổ chức do đảng cướp Việt Tân dựng lên, dưới sự chỉ đạo của bọn việt gian cộng sản! Con gái mình vào đó là tàn mạt cuộc đời! Có thể nói một trăm phần trăm tất cả những tổ chức "giáo dục tuổi trẻ" hiện nay tại hải ngoại đều là do bọn việt gian cộng sản núp trong bóng tối chỉ đạo! Tụi nó muốn biến giới trẻ tại hải ngoại thành những tên nô lệ ngu đần chỉ biết mù quáng tin tưởng vào bác và đảng, giống như những tổ chức như "Ðoàn thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh" và "Ðội thiếu niên tiền phong" ở trong nước!

Vợ: - Hay là mình cho con nó tham gia mấy tổ chức từ thiện, chuyên đi làm việc phước đức?

Chồng: (lắc đầu thở dài ngao ngán)

- Anh đã tìm hiểu rất kỹ rồi. Toàn bộ những tổ chức "từ thiện" tại hải ngoại đều là do bọn cướp Việt Tân và bọn việt gian cộng sản lãnh đạo! Con gái mình mà vào đó là tan nát đời hoa, là tự nguyện đi làm nô lệ cho bọn giặc! Nếu em xem băng Thúy Nga Paris, ở cuối cuộn băng có xuất hiện một thằng chó đẻ khoác áo "linh mục", kêu gọi đồng bào góp tiền để giúp những người "nghèo" ở Việt Nam! Toàn bộ số tiền quyên góp đó sẽ chui vào túi bọn giặc, đó là lý do vì sao hiện nay bọn cộng sản đã trở nên giàu nứt vách, mồi thuốc lá bằng giấy bạc 100 đô, mỗi khi đi ỉa thì tụi nó dùng giấy bạc NĂM TRĂM ÐÔ để chùi đít!!!

Vợ: - Còn mấy đoàn thể dành cho tuổi trẻ do nhật báo Người Việt và đài truyền hình Sinh Bắc Tử Nam tổ chức thì sao anh?

Chồng: (lắc đầu quầy quậy)

- Ðó là hai cái Ổ RẮN ÐỘC của đảng cướp Việt Tân và bọn việt gian cộng sản, em không biết hay sao? Nội em nghe mấy chữ "sinh bắc tử nam" là biết rồi! Tụi nó là rắn độc nhưng đã khéo léo hóa trang thành những con lươn vô hại, hiền lành! Thằng chó đẻ nào cũng khoác áo "người quốc gia chống cộng" nhưng thực chất lại là cộng sản thứ thiệt!

Vợ: (tỏ vẻ thất vọng)

- Như vậy thì còn chỗ nào cho con mình sinh hoạt nữa? Không lẽ mình cứ giam nhốt nó mãi trong nhà để nó bị ế chồng?

Chồng: (nét mặt rất buồn bã, u sầu)

- Anh nói thiệt với em, đôi khi anh cảm thấy hết sức buồn chán và thất vọng. Có thể nói hiện nay thiên la, địa võng của bọn việt gian cộng sản đã giăng ra khắp nơi tại hải ngoại. Giới trẻ tại hải ngoại như những con chim non hầu như không còn lối thoát, đâm đầu vào bất cứ chỗ nào cũng đều là hang ổ rắn độc của bọn giặc! Tổ chức nào cũng trương lá cờ vàng ba sọc với hình năm vị tướng đã tuẫn tiết hồi năm 1975 nhưng thực chất lại là ổ rắn độc của cộng sản! Nói đâu xa, chẳng hạn như đài phát thanh Việt Nam Hải Ngoại. Sáng nào con mẹ giám đốc Lưu Lệ Ngọc cũng kêu gọi đồng bào "nghiêm chỉnh chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa" nhưng đến tối thì nó đi dự tiệc với mấy thằng cán bộ chó đẻ trong tòa đại sứ việt cộng! Nói đâu xa, tờ điện báo VietLand thường xuyên treo cờ Việt Nam Cộng Hòa, thường xuyên in hình năm vị tướng tuẫn tiết năm 1975, rồi cả hình các chiến sĩ hải quân VNCH đã hy sinh trong trận chiến Hoàng Sa năm 1974, nhưng thực chất bọn chó đẻ này chính là những tên chó săn, tay sai của việt gian cộng sản! Bọn chúng thường ngụy biện rằng tờ báo của chúng là diễn đàn "dân chủ, đa chiều" nhưng bọn chúng chỉ đăng một vài bài "chống cộng" (dỏm) làm kiểng để ngụy trang, che mắt, còn 95% những bài viết khác đều là những bài tuyên truyền, có lợi cho bọn giặc! Nói thiệt với em, nếu bọn chúng mà dám đăng bài của những người chống cộng thứ thiệt thì anh sẽ tình nguyện .... ăn cứt chớ không thèm ăn cơm nữa!

Vợ: (cặp mắt chợt bừng sáng)

- Anh à, em nhớ ra rồi. Tại sao mình không cho con mình đến chùa sinh hoạt, làm công quả? Tụi mình là phật tử thuần thành, cho con mình đi theo con đường "tu tại gia" là rất hợp lý. Biết đâu, nhờ đến chùa làm công quả, nhờ ơn Phật tổ, mà con mình kiếm được một tấm chồng xứng đáng!

Chồng: ( nét mặt rạng rỡ )

- À, phải rồi. Em nói đúng. Anh đã quên khuấy đi môi trường tôn giáo chính là nơi rất lành mạnh để giáo dục con người! Cám ơn em đã có ý kiến này rất hay!

Vợ: - Theo em biết, ở chùa hiện nay đang có nhiều đoàn thể dành cho các gia đình phật tử, chẳng hạn như gia đình phật tử Long Hoa, Quảng Ðức, Lý Công Uẩn ..v..v.. Mình cho con Thắm tham gia vào những đoàn thể này là rất phù hợp!

Chồng: (vỗ đùi đánh đét)

- Phải rồi, đúng quá! Vậy mà hồi giờ anh nghĩ không ra! Thôi, ngày mai mình đưa con đến chùa, xin cho nó gia nhập gia đình phật tử!

Thế là sau đó, cha mẹ Thắm đã đưa nàng đến một ngôi chùa lớn nhất tiểu bang Texas để xin cho nàng được gia nhập đoàn thể gia đình phật tử. Hai ông bà rất yên tâm vì đây là môi trường tôn giáo, chắc chắn là không có những bàn tay nhám nhúa, tàn độc của đảng cướp Việt Tân và bọn việt gian cộng sản thò vào. Kể từ đó, cô Thắm được phát một bộ đồng phục màu lam và trở thành đoàn viên của gia đình phật tử. Chủ nhật hàng tuần, cô chăm chỉ đến chùa học giáo lý và làm công quả. Nhờ giỏi tiếng Anh lẫn tiếng Việt, lại là người trí thức nên cô được các anh huynh trưởng và quý thầy cô hết sức quý mến. Tính tình của Thắm lại rất ngoan hiền, chăm chỉ học giáo lý để thấm nhuần Phật pháp nên ai cũng thương mến. Và có lẽ, đặc biệt nhất, là cái nhan sắc "Tây Thi" của nàng đã làm mọi người mê mẩn, càng thương mến nàng hơn. Nhan sắc của nàng vốn được nuôi dưỡng bằng bơ sữa của Mỹ chính cống từ nhỏ đến lớn mà mấy con đĩ hoa hậu Hải Phòng ở trong nước không bao giờ có thể sánh kịp.

Ðược sinh hoạt trong gia đình phật tử, Thắm cảm thấy vô cùng thích thú vì nàng có dịp được mở mang kiến thức và quen nhiều bạn mới. Có điều Thắm hơi e ngại vì có một vài anh "huynh trưởng" mặt mũi trông rất bậm trợn tựa như du đãng bến xe, nói rặt giọng bắc Hải Phòng. Nàng đã loáng thoáng nghe một vài lời xầm xì rằng những "huynh trưởng" này chính là những đảng viên cộng sản, vượt biên qua ngã Hồng Kông, được cài vào chùa để hoạt động! Tuy nhiên, Thắm vốn là người kín đáo, thủ khẩu như bình, giả câm giả điếc để được an toàn tu học!

Một hôm, một tên huynh trưởng việt cộng nói với Thắm:

- Chị Thắm, thầy hòa thượng trụ trì cần mời chị lên để .... làm việc!

Thắm không hiểu hai chữ "làm việc" nên hỏi lại:

- Anh nói sao, em không hiểu?

Huynh trưởng việt cộng giảng ... "pháp":

- Nói chung trong thời gian qua, chúng tôi thấy chị phấn đấu tốt, học tập tốt và nàm công quả tốt nên đã kiến nghị lên thầy trụ trì giao cho chị nàm công tác quản ní thư viện!

Từ khi sinh hoạt ở chùa, Thắm chỉ được trông thấy thầy trụ trì có một vài lần. Nghe nói thầy là đại lão hòa thượng, đã trên tám mươi tuổi, đi tu từ khi ông nội của nàng vừa mới .... chào đời! Tuy đã lớn tuổi nhưng trông thầy rất quắc thước, dáng đi và những động tác vẫn còn cứng cáp, nhanh nhẹn. Thầy chỉ xuất hiện làm chủ lễ trong những buổi lễ lớn, ngoài ra, hàng ngày thầy nhập thất, muốn gặp thầy phải qua ba bốn lớp đệ tử canh gác cửa! Thắm cũng đã nghe loáng thoáng những lời xầm xì rằng thầy là đảng viên cộng sản từ hồi năm 1945 và thầy vừa mới về Việt Nam tham dự đại hội việt kiều!

Sau khi làm "công tác tư tưởng" xong, tên huynh trưởng việt cộng dẫn Thắm lên gặp thầy trụ trì. Lần đầu tiên được đứng đối diện với thầy trụ trì, Thắm không khỏi "run như run thần tử thấy long nhan". Thầy trụ trì tuy đã ngoài tám mươi, da mặt đã bị "xếp li" nhiều nhưng đỏ au và bóng lưỡng, chứng tỏ thầy được hấp thụ chất bổ rất nhiều. Ðặc biệt, thầy có cặp lông mày chổi xể rất rậm rạp, đã trổ màu bạc trắng như cước và cặp lông mi cũng đều trắng bạc, khiến bất cứ người nào mới thoạt nhìn cũng có ý nghĩ thầy giống như ... thần "Bạch Mi"!

Căn phòng riêng của thầy vừa là nơi làm việc và cũng là phòng ngủ. Ðiều đầu tiên đập vào mắt Thắm khiến nàng vô cùng kinh ngạc là ngay trong phòng có treo một tấm hình .... bác Hồ và một lá cờ đỏ sao vàng! Phía dưới lá cờ là ba khung hình lộng kiếng, có ghi mấy giòng chữ thật lớn như: "Huân chương chiến công hạng nhì", "Huân chương Ðộc Lập", "Huân chương đại đoàn kết dân tộc". Linh tính báo cho Thắm biết có một cái gì đó không ổn. Tại sao phía bên ngoài chùa thì treo cờ vàng ba sọc còn bên trong này thì treo cờ việt cộng? Thắm đã từng tham gia và chứng kiến nhiều cuộc biểu tình, nơi đó người ta đốt lá cờ máu và đốt hình Hồ Chí Minh. Nàng hiểu đại khái đó là những cái gì tượng trưng cho những tội ác hết sức ghê tởm, tựa như bọn khủng bố hoặc bọn phát xít hồi đệ nhị thế chiến! Vậy thì tại sao, tại sao lại có điều nghịch lý đến như vầy, Thắm thoáng có một dấu hỏi trong đầu.

Thầy trụ trì đang ngồi bật ngửa trên ghế, phì phèo điếu thuốc lá. Phía sau lưng thầy là một chú tiểu đang ra sức đấm bóp. Vừa trông thấy Thắm vào, thầy khoát tay ra hiệu cho chú tiểu và tên huynh trưởng việt cộng lui ra ngoài. Thầy chỉ tay vào chiếc ghế, nói với Thắm:

- Ngồi đi con!

Thầy có giọng nói rổn rảng, âm vực khá mạnh, đó là lý do vì sao đôi khi thầy thuyết pháp tại chánh điện, trước hàng ngàn phật tử mà không cần dùng máy phóng thanh! Thắm bẽn lẽn ngồi xuống ghế. Nàng vừa e thẹn, rụt rè, vừa cảm thấy hãnh diện vì không ngờ hôm nay nàng được ngồi đối diện với một vị đại lão hòa thượng, được giới tín đồ xưng tụng như "đấng giáo chủ" tại hải ngoại! Tuy nhiên, Thắm cũng hơi lo trong bụng, không biết thầy cần gặp mình có chuyện gì? Thầy trụ trì đích thân rót một tách trà rồi nở một nụ cười hiền từ, thân thiện:

- Con uống trà đi. Dạo này việc học giáo lý của con có tốt không?

Thắm đáp lí nhí:

- Thưa thầy, con học được!

Thầy hỏi tiếp:

- Mấy anh huynh trưởng giảng bằng tiếng Việt, con có hiểu không?

- Thưa thầy, hiểu!

Thầy đưa ra nhận xét:

- Thầy biết các con sinh đẻ bên Mỹ, tiếng Việt không rành cho nên nhiều con gặp khó khăn trong việc học giáo lý. Thầy đang cố gắng đào tạo những anh huynh trưởng có khả năng giảng giáo lý bằng song ngữ Anh-Việt nhưng chưa tìm được. Thật là may mắn, thầy nghe quý phật tử nói con thông thạo cả hai ngôn ngữ Việt-Mỹ. Con cố gắng học để trong tương lai làm công tác giảng dạy giúp cho Giáo Hội nghen. Phước đức nhiều lắm đó!

Ðược thầy khen, Thắm đỏ bừng mặt sung sướng. Ðúng là nàng giỏi tiếng Việt nhưng trong giáo lý có nhiều từ ngữ phức tạp, khó hiểu quá. Nghe nói đó là những từ ngữ bắt nguồn từ tiếng Tàu. Chẳng hạn như Thắm thường nghe anh huynh trưởng giảng thao thao bất tuyệt:

- .... trong các hạnh bố thí, có ba loại bố thí quan trọng nhất, đó là "Pháp thí, tài thí và vô úy thí" ...

Pháp thí và tài thí thì Thắm đã hiểu, còn "vô úy thí" là gì thì nàng mù tịt! Có lần Thắm đã hỏi anh huynh trưởng nhưng anh ta phớt lờ, viện cớ "bận việc", chắc có lẽ anh ta cũng chẳng hiểu! Thế là Thắm tự nhủ:

- Thật may quá, sẵn dịp này được gặp thầy thì mình nhờ thầy giảng cho thế nào là "vô úy thí"!

Nghĩ vậy, nên Thắm rụt rè hỏi:

- Thưa thầy, con không hiểu "vô úy thí" là gì. Xin nhờ thầy giảng cho con!

Thầy hòa thượng cười hiền từ:

- Giáo lý Phật Pháp nó vô cùng lắm. Nó thay đổi theo thời gian, tùy hoàn cảnh mà ta áp dụng! Ðể từ từ rồi thầy cắt nghĩa cho!

Nói xong, thầy nhìn hau háu vào khuôn mặt trắng hồng, đẹp tuyệt vời của Thắm khiến nàng e thẹn cúi đầu nhìn xuống sàn nhà. Tiếp theo, thầy hòa thượng đủng đỉnh tiến lại chiếc giường nệm của thầy và ra lệnh:

- Con lại đây, thầy có chuyện cần hỏi con!

Nghe thầy ra lệnh đến bên "long sàng" của thầy, tự nhiên Thắm sợ hãi phát run. Bản năng tự vệ của nàng bùng dậy, nàng muốn chống lại mệnh lệnh nhưng không có đủ can đảm. Ðể tự trấn an mình, Thắm tự nhủ:

- Mình đang nói chuyện với thầy đại lão hòa thượng mà. Thầy đáng tuổi .... ông cố nội của mình. Không sao đâu!

Nghĩ vậy nên Thắm rụt rè, co ro cóm róm tiến đến, ngồi nơi mép giường, diện đối diện với thầy hòa thượng. Tự nhiên linh tính của nàng báo cho nàng biết có một điều gì đó không được bình thường mặc dù nàng đã hết sức tự trấn an. Nàng khẽ liếc mắt nhìn trộm "long nhan" của thầy thì tự nhiên nàng thấy kinh sợ quá. Tất cả những nét hiền lành, đạo cao đức trọng, từ bi độ lượng của một vị chân tu trên bảy mươi tuổi đạo, đã hoàn toàn biến mất. Nhường chỗ vào đó là cặp mắt hau háu đầy dục vọng như mắt của con chó sói vừa trông thấy con cừu non. Bằng giác quan thứ sáu, Thắm cảm nhận được sự thèm khát nhục dục qua ánh mắt và sắc mặt của "thầy" hòa thượng. Nàng cảm nhận được hơi thở của con chó sói đang gia tăng cường độ, ánh mắt của nó như những mũi dao bén nhọn đang săm soi vào lồng ngực của nàng. Bản năng tự vệ bùng dậy, hốt nhiên Thắm lấy hai tay che lồng ngực của mình. Tất nhiên, tất cả những sự hốt hoảng của Thắm đều không qua được cặp mắt lão luyện của con chó sói. Gã hòa thượng ôn tồn, nói bằng giọng nhỏ nhẹ như để trấn an Thắm:

- À, thầy định hỏi con một chuyện. Như con biết, sự học phải luôn luôn đi đôi với hành. Con đã học về đức bố thí, vậy từ trước tới nay,có bao giờ con đã bố thí cho bá tánh điều gì chưa?

Thắm lí nhí đáp:

- Thưa thầy, "Pháp thí" thì con không có khả năng để giảng "Pháp". Còn "tài thí" thì con cũng chưa làm được vì còn đang đi học nên không có... tiền!

Gã hòa thượng bật cười trước sự ngây thơ, thật thà của Thắm:

- Như vậy là con không có cái gì để bố thí cho bá tánh, như vậy thì làm sao tu đạt được chánh quả?

Thắm cảm thấy rất bối rối và mặc cảm trước sự nhận xét này của "thầy" hòa thượng. Ðúng vậy, nàng chẳng có cái gì để bố thí cho bá tánh, con đường tu học của nàng chắc chắn sẽ còn nhiều gian nan lắm! Người Mỹ cũng thường nói "give and take". Có cho thì mới có nhận. Mình phải làm phước cho bá tánh thì những điều phước đức nó mới tự nhiên tìm tới mình. Ðây là điều hiển nhiên gần như những định luật trong khoa học vật lý! Từ chỗ bối rối, mặc cảm, Thắm cúi gầm đầu, hai tay cuống quýt vân vê tà áo. Gã hòa thượng tiếp tục nhìn Thắm bằng cặp mắt của con chó sói đói mồi:

- Con không có gì để bố thí cho bá tánh, cũng không có gì để cúng dường cho Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), thì thôi, để thầy gợi ý với con điều này, giúp con giải quyết được "vấn nạn" ....

Nghe thầy gợi ý giúp đỡ, Thắm hơi mừng, khẽ ngước nhìn lên nhưng bắt gặp cặp mắt đỏ ngầu đầy thèm khát của con chó sói, nàng run bắn người, gục đầu xuống như con đà điểu vùi đầu trong cát nóng, chạy trốn sự thật. Tiếp theo đó, bằng giọng hơi run run, khàn khàn, thầy hòa thượng nói nhỏ với Thắm:

- Con không có "tài thí", không cúng dường được phải không .... Hay là, ... con cúng dường cái .... lồn của con cho thầy được không???!!!

Lời đề nghị táo bạo của gã hòa thượng như tiếng sét nổ ngang tai của Thắm. Nàng tá hỏa tam tinh, thấy bảy ông trời. Tuy nhiên, nàng hy vọng chắc là mình vì quá bối rối mà nghe lộn chăng? Vẻ mặt của Thắm vụt trở nên tái mét vì sợ hãi. Nàng cất giọng run run hỏi:

- Thưa thầy, thầy vừa nói cái gì?

Gã hòa thượng tự động tiến tới ngồi sát bên Thắm, đưa tay vuốt má nàng và nói thì thầm vào tai của nàng:

- Thầy đề nghị con nên cúng dường cái .... lồn của con cho thầy! Phước đức lắm đó con. Thầy đại diện cho Phật Tổ Như Lai sẽ gia hộ độ trì cho con được trúng số độc đắc, trở thành triệu phú! Pháp thí, tài thí và .... lồn thí là ba điều bố thí quan trọng nhất trong thời đại ngày nay. "Vô úy thí" là xưa rồi. Thời đại ngày nay phải là "lồn thí" thì mới tạo được nhiều phước báu, có thể trở thành tỷ phú đô la như mấy đồng chí trong trung ương đảng! Mấy cô hoa hậu ở trong nước đều là "lồn thí", nhờ vậy mà họ đều được giàu sang, phú quý!

Ðến nước này thì Thắm bỗng bật lên khóc òa, khóc một cách hết sức đau đớn, tức tưởi. Nàng khóc không phải vì nhân phẩm, nhân cách của nàng bị xúc phạm mà khóc vì .... thần tượng sụp đổ! Nàng không thể ngờ được một vị đại lão hòa thượng mà lại thốt lên những điều ngoài sự tưởng tượng của nàng! Có ngủ mơ chắc cũng không bao giờ nàng mơ thấy một cơn ác mộng đang xảy ra trong thực tế như vậy! Trời ơi là trời! Tại sao, tại sao và tại sao??? Rõ ràng từ bao lâu nay, nàng đã chứng kiến vị đại lão hòa thượng này là một vị cao tăng được rất nhiều người kính nể như một ông Phật sống. Một lời vàng ngọc của thầy ban ra, thiên hạ bá tánh răm rắp tuân theo và gần như là những sự vâng lời vô điều kiện. Có nhiều tín đồ sùng bái thầy tới mức, giá như, thầy bảo họ ăn cứt chắc họ cũng không dám từ chối! Như thế, đủ thấy uy lực của thầy lớn tới cỡ nào. Chắc chắn thầy phải là một bậc chân tu, đạo rất cao, đức rất trọng, cỡ như thượng tọa Thích Quảng Ðức đã dám xả thân tự thiêu vì đạo pháp. Vậy mà .... trời ơi, tại sao? Thật không hiểu nổi!

Thấy Thắm bật khóc, gã hòa thượng bèn đưa tay xoa nhẹ lên má của nàng, rồi bỗng nhiên, tựa như một con hổ đói, cầm lòng không đậu, gã đè ngửa con mồi ra, hôn chùn chụt, hôn lia lịa vào khuôn mặt đẹp của nàng. Sự sợ hãi, sự thất vọng, sự đau đớn về tinh thần đã làm cho sức kháng cự của Thắm hoàn toàn bị tê liệt. Nàng nằm xuôi cò trên giường tựa như Thúy Kiều, cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu, mặc tình cho con chó sói tha hồ tung hoành ngang dọc! Phước báu đâu không thấy, chỉ thấy chữ trinh đáng giá ngàn vàng của nàng sắp sửa bị tước đoạt!

Gã hòa thượng đã mở được cửa thiên đàng mà không hề gặp một sự kháng cự nào thì tội tình gì mà gã không thừa thắng xông lên, "tới luôn bác tài"! Gã nhanh chóng lột tuốt luốt toàn bộ quần áo của Thắm, biến nàng thành một con nhộng nằm tô hô ở trên giường, rõ ràng trong ngọc trắng ngà, dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên! Tiếp theo, gã vùi đầu vào cặp vú của nàng và bú chùn chụt, bú lia bú lịa như một đứa trẻ bị khát sữa lâu ngày. Sau đó, như một dân chơi thứ thiệt ở động đĩ ngã ba Chú Ía, gã hòa thượng vùi đầu vào háng của Thắm, bú, mút và liếm một cách hết sức say sưa như một con chó sói đang khát máu. Thương thay một đóa trà mi, dâm tăng đã tỏ đường đi lối về!!!

Bây giờ thì gã hòa thượng đảng viên cộng sản đã hiện nguyên hình là một con quỷ dâm dục. Gã đã trần truồng một trăm phần trăm và đang nằm đè lên cô Thắm cũng đang trần truồng như nhộng. Gã ôm hôn Thắm lia lịa và thì thầm vào tai nàng qua hơi thở dồn dập:

- Tao thèm ... lồn quá!

Thắm gần như bị thôi miên hoặc tê liệt về thần kinh. Ðầu óc của nàng mơ mơ màng màng, thân thể của nàng hầu như bị mất hết cảm giác. Hay là vì nàng đã uống phải tách trà do gã hòa thượng pha, trong đó có bỏ thuốc mê? Trong cơn mê sảng, nàng chỉ loáng thoáng nghe những lời nói hằn học của gã hòa thượng:

- Hừ, trên bảo dưới không nghe! Trên bảo dưới không nghe!

********

Ngày hôm sau, Thắm vừa khóc vừa kể lại hết tất cả mọi sự cho cha mẹ nàng. Cha mẹ Thắm đã rụng rời chân tay, muốn ngất xỉu khi nghe câu chuyện kinh thiên động địa này. Hai ông bà rất tin Thắm vì nàng vốn là cô gái hết sức ngây thơ, thành thật, không bao giờ biết nói dối. Mẹ của Thắm, mặt tái nhợt như bị trúng gió, hỏi Thắm bằng giọng run run:

- Thiệt vậy sao con? Thiệt vậy sao con? Trời ơi, chắc tôi chết!

Sự lo sợ của hai ông bà tập trung vào hai điều. Thứ nhất, là câu nói của vị đại lão hòa thượng "Trên bảo dưới không nghe". Thắm đã thuật lại nguyên văn câu nói này cho cha mẹ nàng để cả hai tùy nghi nhận xét! Thứ hai, hai ông bà sợ Thắm đã bị mất trinh! Không khéo nàng mang bầu thì nguy lắm. Luật pháp nước Mỹ cấm phá thai, ai mà vi phạm, lơ mơ là đi tù! Trời ơi, chắc là phải đưa con Thắm về Việt Nam để nó phá thai!!! Thật là đại họa!

Cha mẹ của Thắm là phật tử thuần thành, rất tin vào đạo Phật, rất sùng bái mấy ông thầy chùa. Có lẽ đây là truyền thống của gia đình vì ông nội của Thắm, hồi năm 1965, đã sùng bái thầy Trí Quang tới mức, nghe theo lời thầy "dạy", đem luôn bàn thờ Phật ra ngoài đường để "đấu tranh cho đạo pháp"!

Mẹ của Thắm lo lắng hỏi chồng:

- Anh à, con Thắm làm cho thầy không vừa ý, thầy quở nó. Ðiều này làm cho gia đạo của mình bị tổn phước .... Em lo quá!

Cha của Thắm hỏi lại:

- Sao em biết là thầy quở nó?

- Thì nó kể là thầy cằn nhằn "trên bảo dưới không nghe"! Anh quên rồi sao?

Cha của Thắm đưa hai tay ôm đầu, nét mặt đăm chiêu, suy nghĩ rất dữ dội. Mỗi khi có chuyện gì quan trọng, ông thường làm như vậy. Khoảng chừng năm phút sau thì bỗng ông thở phào như trút được một gánh nặng ngàn cân. Ông mừng rỡ nói:

- Em à, con Thắm nhà mình vẫn còn .... trinh! Không phải thầy hòa thượng quở nó đâu! Anh đã tìm ra đáp số rồi!

Mẹ của Thắm hỏi dồn:

- Sao ông biết, sao ông biết?

Cha của Thắm nở một nụ cười tự hào và nói nhỏ với vợ:

- Tại em ít có theo dõi tình hình chính trị nên không biết. Cái câu nói "trên bảo dưới không nghe", nguyên thủy là câu nói của thằng chó đẻ Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước của việt cộng. Sau đó, báo chí ở hải ngoại người ta nhạo báng, biến nó thành ra câu "tục ngữ", ám chỉ mấy người bị liệt dương! Thầy đại lão hòa thượng của tụi mình là cộng sản chính cống đó. Thầy là thiếu tướng công an, trước đây đã từng là ủy viên trung ương đảng, hồi thằng Võ Văn Kiệt còn làm thủ tướng. Chính thằng Kiệt đã đưa thầy ra hải ngoại hoạt động để "gom bi" toàn bộ việt kiều! Anh biết điều này đã lâu nhưng anh không dám hé răng. Lơ mơ là tụi điệp viên của cộng sản nó tìm tới tận nhà, nó ám sát mình!

Mẹ của Thắm lại théc méc:

- Thầy là cộng sản thì có dính dáng gì đến việc con mình không bị mất trinh?

Cha của Thắm tiếp tục giải thích:

- Thầy đã cởi truồng nằm đè lên người con Thắm mà thầy thốt lên câu nói "trên bảo dưới không nghe", tức là ý thầy bất mãn, lực bất tòng tâm! Thầy muốn, nhưng "chú tiểu" không muốn! Thầy đã ngoài tám mươi tuổi thì "trên bảo dưới không nghe" là chuyện bình thường. Nhờ vậy mà con Thắm nhà mình vẫn .... còn trinh! Tôi dám cá một trăm phần trăm là nó vẫn còn trinh. Nó mắc cở không dám nói hết, chớ nếu bà hỏi nó chi tiết thì mọi chuyện sẽ minh bạch!

Nghe chồng giải đáp xong mọi chuyện, mẹ của Thắm thở phào mừng rỡ:

- Cám ơn Trời Phật. Nhà mình thiệt còn có phước lớn! Tôi chỉ sợ nó bị tai tiếng vì vụ này thì có nước ế chồng!

Ông chồng tỏ ra là người hiểu biết "nghệ thuật" sống ở đời:

- Nhưng dầu gì vợ chồng mình cũng là đệ tử của thầy. Dầu thầy của tụi mình có sai trái gì đi chăng nữa thì bổn phận là phật tử, tụi mình vẫn phải thờ kính thầy như thờ Phật, huống chi trong trường hợp này, thầy đã "nhân đạo" không làm cho con mình bị mất trinh! Bởi vậy tôi bàn với bà là ngày mai, hai vợ chồng mình phải mua trái cây, bông hoa và tiền mặt đem tới chùa làm lễ cúng tạ ơn thầy đại lão hòa thượng. Xin tạ ơn thầy đã "nhân đạo" buông tha cho con Thắm nhà mình!

PHẦN KẾT LUẬN:

Câu chuyện cô Thắm bị hãm hiếp là một trong hàng ngàn tấn bi kịch đã và đang xảy ra, trong đó, nạn nhân là những phật tử ngu dốt, mê tín và tràn đầy lòng tham. Chính vì tham lam, lười biếng, không muốn tự giải thoát cho chính mình nên họ đã nhờ các "thầy" đại diện cho Phật Tổ giải thoát giùm! Những tên công an đầu trọc thừa cơ nước đục thả câu, vừa bốc hốt đô la, vừa "gia hộ độ trì" cho nhiều cô gái bị mang bầu!

Cha của cô Thắm thừa biết tên đại lão hòa thượng là cán bộ cộng sản. Hắn đã công khai đi dự cái gọi là "đại hội việt kiều" ở Việt Nam. Nhưng cha của cô Thắm, cũng như vô số những phật tử khác đã ngậm câm miệng hến, tiếp tục cam tâm làm những tên nô lệ hèn nhát đến ngu xuẩn và tội nghiệp!

Con gái của mình bị hãm hiếp, không dám đi tố cáo với chính quyền, đã vậy hai vợ chồng còn tiếp tục rủ nhau đến chùa dâng lễ tạ ơn "thầy" đã giàu lòng "nhân đạo" không làm cho cô Thắm bị mất trinh!

Có lẽ sau khi đọc xong câu chuyện này, nhiều người sẽ kêu lên: - Ồ, đây là sản phẩm tưởng tượng của tiểu thuyết! Thực tế làm gì có ở ngoài đời?

Không đâu, xin thưa với quý vị, không phải là tưởng tượng. Bằng cớ là bọn việt gian cộng sản đang tiếp tục đổ tiền ra hải ngoại xây thật nhiều ngôi chùa thật "hoành tráng". Chắc chắn là bọn chúng thấy vấn đề kinh doanh tôn giáo, nhất bản vạn lợi nên mới làm như vậy! Ở trong nước, bọn chúng đã dám bỏ ra hàng chục triệu đô la để xây ngôi chùa lớn nhất Đông Nam Á, rồi còn thuê nguyên một chuyến bay rước "xá lợi Phật" từ bên Ấn Độ về!

Chế độ của bọn việt gian cộng sản sẽ không bao giờ tự hủy hoại, tự sụp đổ như tên điếm chính trị Đinh Thạch Bích - biệt hiệu "con tắc kè"- vẫn cứ ra rả tuyên truyền trên diễn đàn paltalk, được tờ điện báo VietNam Exodus tiếp tay phổ biến! Ngày nào bọn công an đầu trọc còn tung hoành ngang dọc, ngày đó chúng ta còn làm nô lệ.

Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa, trong lần ghé thăm Việt Nam thuyết pháp, đã dạy chúng ta rằng:

- Muốn tự giải thoát, chúng ta phải chịu khó suy nghĩ, tìm hiểu đâu là nguyên nhân gây ra sự đau khổ và phải hành động để chấm dứt nó. Ngài Drukpa đã dạy rõ rằng, nếu biết ý thức và tích cực hành động thì chúng ta vẫn có thể thay đổi, biến cái xấu thành cái tốt, làm cho số phận của chúng ta trở nên khá hơn. Lỗi của chúng ta chính là KHÔNG CHỊU TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN NÀO ĐÃ GÂY RA ĐAU KHỔ VÀ ĐÃ THỤ ĐỘNG CHẤP NHẬN SỰ ĐAU KHỔ, COI ĐÓ NHƯ MỘT SỰ MẶC NHIÊN, một loại ĐỊNH MỆNH ĐÃ được AN BÀI!!!

Trở lại trường hợp của cô Thắm, chúng ta thấy nguyên nhân gây ra sự đau khổ chính là tên dâm tăng đại lão hòa thượng. Trong trường hợp này, muốn chấm dứt sự đau khổ cho bản thân mình và cho nhiều người khác thì bản thân cô Thắm và cha mẹ cô phải làm đơn thưa tên dâm tăng ra tòa để hắn vô nhà đá mà gỡ lịch.

Ý THỨC và HÀNH ĐỘNG phải đi đôi với nhau. Cha mẹ cô Thắm ý thức được tên dâm tăng là nguyên nhân của sự đau khổ nhưng họ không đã dám hành động. Sự hèn nhát đó đã đưa đến hậu quả là bản thân họ và con gái của họ phải tiếp tục làm nô lệ!

Xin đưa thêm một ví dụ khác: - Trong chúng ta, ắt hẳn nhiều người đã từng có sự nghi ngờ về cặp bài trùng dân chủ cuội Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Lý. Tuy nhiên, họ đã không dám đi ngược lại những cái loa truyền thông bất lương của bọn giặc. Thay vì dám lên tiếng thì họ đã chọn thái độ buông xuôi, câm lặng, để mặc cho bọn giặc tung hoành, coi như định mệnh đã an bài! Họ thường tự nhủ rằng: - một tiếng nói lẻ loi của mình thì liệu có ai tin, không khéo lại bị chụp mũ là "đánh phá tôn giáo, đánh phá "anh hùng dân tộc" thì bỏ mẹ!

Tương tự như vậy, nhiều người trong chúng ta đã ý thức được tập đoàn việt gian cộng sản là nguyên nhân gây ra nỗi khổ đau cho toàn dân tộc. Nhưng họ không dám hành động, thậm chí không dám lên tiếng nói đấu tranh, thay vào đó, họ đã chọn thái độ thụ động, buông xuôi, coi như định mệnh đã an bài!

Do đó, qua tấn thảm kịch của cô Thắm, chúng ta có thể kết luận rằng: SỰ HÈN NHÁT, SỰ NGU DỐT, SỰ MÊ TÍN VÀ LÒNG THAM đã làm cho nhiều người TÌNH NGUYỆN ĐI LÀM NÔ LỆ CHO BỌN VIỆT GIAN CỘNG SẢN!!!

Trần Thanh

Ngày 11 tháng 4 năm 2010

=========================

Chú thích:

* Thầy Quảng Ðộ đã "dạy" rằng: - phàm khi làm bất cứ việc gì, chúng ta phải nhắm vào hai chữ "DANH và LỢI"!!!

ĐỘI QUÂN BÍ MẬT VẪN TIẾP TỤC CUỘC CHIẾN VIỆT NAM - CÁC NHÀ TRANH ĐẤU ĐANG BỊ ÉP VÀO ĐƯỜNG CÙNG? - HAI VỢ CHỒNG NGƯỜI TỴ NẠN VIỆT NAM TẠI THÁI LAN BỊ MẬT VỤ CSVN BẮT CÓC


Ảnh: independent

Đội quân bí mật vẫn tiếp tục cuộc chiến Việt Nam

Nguồn: William Lloyd George, The Independent

Lê Quốc Tuấn, X-Cafe chuyển ngữ

Được tuyển dụng và vũ trang bởi CIA vào những năm 1960, những người Hmông vẫn còn bị kẹt giữa rừng địch, bị Mỹ và cả thế giới bỏ quên.

Ngược lên một con đường đất quanh co qua những ngọn núi xanh tốt vọng ra âm thanh của những tiếng huýt sáo từ hai bên đường. Suýt hụt mất một chiếc xe máy chạy qua, hai chàng trai trẻ với súng máy nhảy ra khỏi khu rừng dày đặc.

Mình cần phải đi nhanh, nhưng khi một cậu bé kéo tôi ngược lên phía trên cùng của một con dốc lầy lội, bùn đất dốc theo cánh tay bắn cả vào mắt. Cậu ta cố ngăn dòng nước mắt ứa ra.

Trong một khoảng trống nhỏ xíu cắt dọn khỏi cánh rừng tre dày đặc, bốn cậu bé, có lẽ không quá 18 đang thì thầm với nhau. Vã mồ hôi vì phải leo trèo nhanh và cơn nóng hừng hực, họ phơi những bộ đồng phục màu xanh rách nát của mình trên các nhánh tre và dựng những khẩu súng AK-47 cũ móp méo sang một bên.

Đây là những dấu tích còn lại của Quân đội Hoàng gia Lào, đuợc tuyển dụng bởi người Mỹ để phá vỡ đường tiếp tế Hồ Chí Minh trong Chiến tranh Việt Nam. Mặc dù Lào đã từng tuyên bố trung lập, quân đội Việt Nam đã vẫn hoạt động ở đó và CIA đã nhìn Lào như một mặt trận khác để chống lại sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản.

Đối với cả phần còn lại của thế giới, việc chiếm được thành phố Sài Gòn – bây giờ thành phố Hồ Chí Minh – của quân đội Bắc Việt vào năm 1975 đã đánh dấu sự kết thúc chiến tranh Việt Nam, nhưng đối với người Hmong, đấy chỉ là sự khởi đầu. Khi chế độ cộng sản Pathet Lào lên nắm quyền, họ đã tuyên bố sẽ quét sạch tất cả người Hmong khỏi đất Lào. Kể từ đó, người Hmong đã lẩn trốn giấu mình trong rừng sâu và hoàn toàn cách ly khỏi thế giới bên ngoài.

Những binh lính trẻ đã dẫn đường cho người dân của mình vào sâu phía sau lằn ranh quân địch trong Saysomboun – “khu vực đặc biệt”. Họ bước đi nhẹ nhàng và thì thầm, bởi vì, họ cảnh báo, “kẻ thù ở khắp mọi nơi”.

Trèo núi suốt ngày đêm, một số lên thẳng các rặng núi cao để tránh quân thù đi tuần, cuối cùng chúng tôi được dẫn đến lối vào trại của họ. Cả một cộng đồng lăn ra trên mặt đất kêu khóc thảm thương và cầu xin được giúp đỡ. Những phụ nữ lớn tuổi run bật lên vì xúc động khi kể lại những nỗi kinh hoàng mà họ đã chứng kiến, trong khi những trẻ nhỏ khóc òa khi vừa nhìn thấy một người từ thế giới bên ngoài. Cho Her, người cựu nhân viên CIA nằm úp mặt xuống xuống bùn đất, cầu nguyện cho người dân của mình được giải cứu. “Mỹ và các nhà lãnh đạo trên thế giới hãy đến đây giải cứu chúng tôi và ngăn chặn chính phủ Lào khỏi sự ngược đãi chúng tôi vì đã từng là lính của CIA trong cuộc chiến bí mật”, ông nói.

Hơn 30 năm trước, khi chiến tranh Việt Nam đã kết thúc, CIA rút các điệp viên của mình ra thì Cher Fer còn là một thanh niên trẻ. Khi người Mỹ rời đi, họ đã mang đi một số chiến sĩ Hmong với họ, nhưng đã bỏ lại hơn 10.000 đồng minh của họ để tự bảo vệ lấy mình. Cay đắng vì bị bội phản, chính phủ Lào đã bách hại những người từng chiến đấu bên cạnh người Mỹ, buộc người Hmong phải rút lui vào rừng sâu.

“Chúng tôi không có lựa chọn gì ngoài việc bắt buộc phải dùng súng ống người Mỹ cung cấp và trốn lên rừng”, Chong Pa Thao, một cựu nhân viên CIA khác vừa nói vừa lau dòng nước mắt từ đôi má của ông. “Sau đó, người Việt Nam phối hợp lực lượng với những người cộng sản Lào săn bắn chúng tôi như những con vật trong rừng rậm, gìết hại và bỏ mặc xác chết của người chúng tôi thối rữa trong rừng”.

Các thành viên của lực lượng chiến đấu kinh hoàng từng một thời đầy tự hào bây giờ nằm trên mặt đất, buông bỏ tất cả phẩm giá để cầu xin được cứu giúp, thậm chí chỉ từ một nhà báo – hiện thân Tây Phương của họ – đến thăm. Tự xác nhận mình là lính CIA, họ năn nỉ và năn nỉ hơn nữa xin người Mỹ trở lại để đưa họ ra khỏi “địa ngục trần gian” của mình.

“Tôi là CIA. Năm 1970, ông Jerry đã cho tôi khẩu M79 này và bảo tôi bắn quân thù” Cher Fer nói trong một giọng Mỹ hoàn hảo, khi ông giơ cao một khẩu súng phóng lựu cũ mèm trong không khí.

“Chúng tôi đã mất đi hàng ngàn quân lính cho Mỹ – khi các binh sĩ Lào giết chúng tôi họ cảm thấy như họ đã giết chết được một người lính Mỹ. CIA phải đến cứu lấy chúng tôi”.

Nỗi hoang tưởng về một ngày nào đó người Mỹ sẽ đến giải thoát mình đã động viên các cựu chiến binh và gia đình họ đấu tranh mà chờ đợi được trong 30 năm qua. Nhưng bất chấp sự liên minh của CIA với phiến quân Hmong, chính phủ Mỹ đã có ít nỗ lực để mang họ ra khỏi rừng trú ẩn.

Bill Lair, người nhân viên CIA huyền thoại từng điều phối các hoạt động xây dựng một đội quân kháng chiến chống cộng sản từ những người dân bộ lạc rừng rú kém giáo dục, đã bảo vệ hành động của Cơ quan Tình báo. Phát biểu qua điện thoại từ nhà của ông ở Waco, Texas, ông nói rằng Hoa Kỳ ban đầu đã tuyển dụng người Hmong và đã xử dụng người Thái để huấn luyện họ bởi vì người Hmông “giỏi hơn so với bất cứ ai khác xung quanh, mỗi bước đi của họ là ở cùng khắp do đó họ có thể di chuyển nhanh hơn quân địch rất nhiều”.

Nhưng khi được hỏi bây giờ Mỹ có nên thực hiện các biện pháp để cứu họ, ông trả lời: “CIA không mang nợ họ điều gì cả. Chúng tôi đã cho họ sự lựa chọn để rời đi nhưng họ đã quyết định ở lại, nghĩ là mình có thể quay trở lại cách đã từng sống ở vùng núi non”.

Vào năm 2007, Vang Pao, vị lãnh đạo phiến quân Hmong được chỉ định bởi CIA, người sau đó di cư sang Mỹ và trở nên một nhà lãnh đạo cộng đồng người Hmong ở đó, đã bị bắt tại California và bị Mỹ kết tội âm mưu lật đổ chính phủ Lào. Sau đó những tội trạng này đã được hủy bỏ, nhưng bản thông điệp chỉ ra rõ ràng: Mỹ giờ đây đứng về phía Lào, kẻ thù cũ của họ, một kẻ thù mà họ đã huấn luyện Vang Pao để chiến đấu chống lại.

Sự việc đắc cử của Barack Obama vào Nhà Trắng đã được xem là một ngọn hải đăng của niềm hy vọng cho những người ủng hộ người Hmong. Tổng thống đã kêu gọi tất cả các phe phái phải tôn trọng luật pháp quốc tế và “đảm bảo rằng những người Hmong lạc loài đó không phải ở trong những phương cách nguy hiểm”. Tuy nhiên, bất chấp một cuộc tranh cãi quốc tế sôi nổi, hơn 4.500 người tị nạn Hmong đã bị Thái Lan, nơi họ đã tìm cách lánh nạn, buộc phải hồi hương về Lào. Chính phủ Mỹ đã ra tuyên bố nói rằng họ có quan tâm, nhưng đã không có hành động gì.

Tiếp theo đó chính phủ Lào đã mời ba dân biểu Hoa Kỳ sang thăm. Sau đó đã tuyên bố rằng những người trở về đã được cư xử tốt khiến thổi lên ngọn lửa giận dữ giữa những người ủng hộ Hmong cho rằng chuyến đi đã bị vận dụng bởi chính phủ Lào.

Vài tuần sau, Dân biểu tham quan Joseph Cao cho biết ông muốn tăng viện trợ cho Lào. Nhưng các nhà lãnh đạo Hmong tin rằng viện trợ của Mỹ đã được đổ vào các nỗ lực quân sự của chính phủ Lào để loại trừ người Hmong, như người Hmong vẫn tự gọi mình là “những đồng minh của CIA bị lãng quên”.

Bị cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài, đây là lần đầu tiên các nhà lãnh đạo trong rừng đã được nghe biết rằng những người tị nạn Hmong đã bị đưa trở lại Lào. Khi nhận được những tin tức này, sự tuyệt vọng của họ là hiển nhiên.

“Tối thiểu là trước đây chúng tôi nghĩ rằng mình có thể trốn thoát sang Thái Lan nhưng bây giờ chúng tôi không còn có nơi nào để chạy đi” ông Chao Fer vừa nói vừa nhìn trông qua rặng núi chỉ cách đó ba dặm. “Chúng tôi không thể cứ tiếp tục chạy, sớm muộn gì tất cả chúng tôi sẽ chết ở đây. Ngay trên núi đó là nơi của đối phương và khi chúng tôi đang nói chuyện, họ đang săn bắt chúng tôi xuống bằng chó – chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi chúng lại tấn công chúng tôi một lần nữa”.

Vài tuần trước đó quân đội Lào đã tràn ngập vào một doanh mà họ tin là của người Hmong trước đây trong một phần của chiến dịch chuẩn bị cho Các cuộc Thi đấu Thể thao lần thứ 25 của vùng Đông Nam Á. Trong cuộc đột kích một cậu bé 14 tuổi bị giết chết, những người chỉ huy cho biết là cậu bé không có vũ trang và đã chỉ đi lùng kiếm thức ăn để nuôi gia đình mình.

“Tháng trước, con trai tôi đã bị cộng sản bắn chết” mẹ của cậu bé vừa nói vừa chuẩn bị thức ăn cho những đứa con khác của bà. Nó không có súng ống gì, chỉ đi tìm ra thức ăn cho chúng tôi thôi, nhưng tôi không có khả năng để làm bất cứ điều gì – Tôi chỉ có thể chết trong rừng này”.

Những cuộc tấn công thường xuyên buộc các nhóm phải thay đổi trại mỗi hai tuần lễ và chia ra thành nhóm nhỏ để tránh các cuộc tấn công quy mô lớn của quân đội Lào. Điều này đưa đến việc cộng đồng không có cơ hội để nuôi trồng thực phẩm hoặc đạt đến được một cách sống thích hợp hơn. Khi không có sự lựa chọn khác, luộc chín lá cây đã trở thành chế độ ăn uống hàng ngày của họ và chỉ có những lúc may mắn nếu họ có thể bắt được một con khỉ hoặc loài chuột rừng. Việc thiếu ăn đã khiến họ trông suy dinh dưỡng rõ rệt – cả người già và trẻ con đều có những cái bụng sưng lên.

Ăn các loại cây lá khiến họ đói lả, cho nên như loài vật, các phụ nữ và trẻ em đến các ngọn đồi xung quanh, để đào bới bằng tay và đầu gối của mình. Bên ngoài trại, họ cho biết nhiều phụ nữ và trẻ em đã bị giết bởi quân đội Lào và những “người may mắn” thoát chết thì có những vết thương vì đạn bắn để khoe ra.

“Tôi cảm thấy đau khổ khi cho con mình những thức ăn cây lá này, nhưng chúng tôi không có lựa chọn nào khác”, một bà mẹ giải thích. “Đi săn thì hết sức nguy hiểm và chúng tôi không thể đến gần các làng mạc, vì cộng sản sẽ giết chúng tôi. Đôi khi vì quá sợ hãi không dám ra khỏi rừng, chúng tôi chỉ đành nhịn đói”.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lao Khenthong Nuanthasing đã chối bỏ sự tồn tại của nhóm người này, ông nêu rõ là nếu có bất cứ ai tồn tại như thế thì chẳng là ai khác hơn “những băng cướp”. Tuy nhiên, theo người Hmong cho biết, gần đây quân đội Lào đã gia tăng chiến dịch của họ với sự hỗ trợ của Việt Nam. Những người lãnh đạo Hmong thuật lại rằng cường độ của những cuộc tấn công chống lại họ đã tăng lên và các nhóm người của họ đang bị đẩy xa và sâu hơn vào trong rừng.

Một chuyến đi của Vang pao được thu xếp đến thăm Viêng Chăn, thủ đô Lào, để cố gắng và tạo nên một thỏa thuận hòa bình đã bị hủy bỏ, viện cớ vì những rủi ro về an ninh. Chính phủ Lào đã thông báo rằng nếu trở về ông ta “sẽ phải đối diện với bản án tử hình cho những tội ác chiến tranh của ông trong chiến tranh Việt Nam”.

Trong những căn trại giữa rừng này, nỗi sợ hãi hằn trên tất cả các khuôn mặt, ngay cả nơi trẻ em. Với Thái Lan như quay lưng lại với mình, và Mỹ dường như đang bỏ qua cảnh ngộ của mình, họ biết cơ hội sống sót thật là mỏng manh.

Khi cả nhóm tập hợp lại để nói lời chia tay, một phụ nữ lớn tuổi nắm lấy tay tôi và thì thầm vào tai :

“Tôi biết cộng sản sẽ giết tất cả chúng tôi … khi chúng hành động như thế, xin ông hãy chắc chắn nói với cả thế giới rằng chúng tôi đã ở đây và những gì công sản đã làm đối với chúng tôi”.

*****************Bản tiếng Anh nguyên thủy

The secret army still fighting Vietnam war

Hired and armed by the CIA in the 1960s, the Hmong remain trapped in enemy jungle, forgotten by America and the world

By William Lloyd George in Laos

Wednesday, 17 February 2010

Up a winding dirt path through lush mountains comes the sound of whistling from the side of the road. Narrowly missing a passing motorbike, two young boys with machine guns leap out of the dense jungle.

We need to move fast, but as one boy hauls me to the top of a steep, muddy slope his hand flicks to his eyes. He is fighting to hold back tears.

In a tiny clearing they've cut out of the thick bamboo forest four boys, seemingly no older than 18 whisper to each other. Sweating from the quick climb and dense heat, they hang up their torn blue uniforms on bamboo branches and prop up their battered old AK-47s.

These are the remnants of the Royal Laos Army, hired by the Americans to disrupt Ho Chi Minh supply lines during the Vietnam War. Although Laos had been declared neutral, Vietnamese troops were operating there and the CIA saw it as another front against the spread of communism.

For the rest of the world, the capture of Saigon – now Ho Chi Minh City – by North Vietnamese troops in 1975 marked the end of the Vietnam War, but for the Hmong, it was just the beginning. When the communist regime, the Pathet Lao took power it announced it would wipe out all Hmong from Laos. Since then the Hmong have been hiding in the depths of the jungle completely cut off from the outside world.

The young soldiers lead the way to their people deep behind enemy lines in the Saysomboun, "special zone". They tread lightly and whisper, because, they warn, the "enemy is everywhere".

Days and nights of trekking, some of it straight up mountains to avoid enemy patrols brings us eventually to the entrance of their camp. The whole community falls on the ground crying hysterically and begging for help. Old women shake with emotion as they speak of the horrors they have witnessed, while young children weep at their first sighting of an outsider. CIA veteran Cho Her lies face down in the dirt, praying for the rescue of his people. "US and world leaders please come and rescue us and stop the Laos government persecuting us for being the CIA's foot-soldiers during the secret war," he says.

More than 30 years ago, when the Vietnam War finished and the CIA pulled their agents out, Cher Fer was a young man. When the Americans left, they took a handful of Hmong fighters with them, leaving more than 10,000 of their allies behind to fend for themselves. Bitter at their betrayal, the Laos government persecuted those who had fought alongside the Americans, forcing the Hmong to retreat deep inside the jungle.

"We had no choice but to take the weapons the Americans gave us and flee to the jungle," said another CIA veteran Chong Pha Thao, wiping tears from his cheeks. "Then the Vietnamese joined forces with the Laos communists and hunted us like animals in the jungle, leaving our people's corpses to rot when they killed them."

Members of the once proud and formidable fighting force now lie on the ground, abandoning all dignity to beg for help, even from a visiting journalist, their personification of the West. Identifying themselves as CIA soldiers, they plead over and over again for the Americans to return, and take them out of their "living hell".

"I am CIA. In 1970 Mr Jerry gave me this M79 and told me to shoot enemy," Cher Fer says in a perfect American accent, as he waves a battered grenade-launcher in the air.

"We have lost thousands of troops for America – when the Laos soldiers kill us they feel like they have killed an America soldier. The CIA must come and save us."

The fantasty that America will one day come and liberate them has motivated the veterans and their families to struggle on through for the last 30 years. But despite the Hmong rebels' alliance with the CIA, the American government has made little effort to extract them from the jungle.

Bill Lair, the legendary CIA agent who co-ordinated the operation to build an anti-Communist resistance army out of poorly educated jungle tribespeople, defended the Agency's actions. Speaking by phone from his home in Waco, Texas, he said that the US originally hired the Hmong and used Thai recruits to train them because the Hmong "were better than anyone else around, every step they took was up or down so they could move a lot faster than the enemy".

But when asked if America should now take steps to save them, he replied: "The CIA owes them nothing. We gave them the choice to leave but they decided to stay, thinking they could go back to how they used to live in the mountains".

In 2007, Vang Pao, the leader of the Hmong rebels appointed by the CIA, who later emigrated to the US and was a Hmong community leader there, was arrested in California and charged by the US with conspiring to overthrow the Laos government. The charges were later dropped, but the message was clear: America was now on the side of Laos, its former enemy, an enemy it trained Vang Pao to fight.

Barack Obama's election to the White House was seen as a beacon of hope for Hmong advocates. He has called for all parties to respect international law and "ensure that displaced Hmong are not placed in harm's way". However, despite an international furore, more than 4,500 Hmong refugees were forcibly repatriated back to Laos by Thailand where they had sought refuge. The US government issued statements saying it was concerned, but took no action.

The Laos government subsequently invited three US congressmen to visit. They later claimed that the returnees were being treated well which ignited anger among Hmong advocates said the trip was orchestrated by the Laos government.

Weeks later, visiting Congressman Joseph Cao said he would like to increase aid to Laos. But Hmong leaders believe US aid has already been funnelled into the Laos government's military efforts to eliminate, as the Hmong call themselves, the "CIA's forgotten allies"

Cut off from the outside world, this is the first time the jungle leaders have heard that the Hmong refugees were being sent back to Laos. On receiving the news their despair is evident.

"At least before, we thought we could escape to Thailand but now we have no place to run to," says Chao Fer as he looks over to a mountain just three miles away. "We can't keep running, soon we will all die here. Just over that mountain is where the enemy is and as we speak they are hunting us down with dogs – it's just a matter of time before they attack us again."

Weeks earlier the Laos army had stormed the Hmong's previous temporary camp in what they believe was part of campaign to prepare for the 25th Southeast Asian Games. In the raid a 14-year-old boy was killed, the leaders say he was unarmed and foraging for food to feed his family.

"My son was shot by the communists last month," the boy's mother says as she prepares food for her other children. He didn't have any gun, just finding food for us but I don't have the ability to do anything – I can only die inside".

Frequent attacks force the groups to change camp every two weeks and break up into small numbers to avoid large-scale offensives by the Laos army. This leaves the community no chance to farm food or forge a proper way of life. With no other choice, boiled tree shrub has become their daily diet and at times they are lucky if they can catch a jungle rat or monkey. The lack of nutrients has left the group visibly malnourished – both young and old have swollen abdomens.

Eating the tree shrub leaves them starving, so like animals, women and children take to the surrounding hills to dig on their hands and knees. Outside the camp, they claim that many women and children have been killed by the Laos army and the "lucky ones" have bullet wounds to show.

"I feel so unhappy to give this food to my kids, but we have no other choice," one mother explains. "It's too dangerous to hunt and we can't reach the villages because the communists will kill us. Sometimes we are too scared to go out so we just starve."

The Lao foreign ministry spokesman Khenthong Nuanthasing has denied that the group exists, stating, if anything, they are nothing more than "bandits". However, according to the Hmong, the Laos army has recently increased their campaign with the assistance of the Vietnamese. Hmong leaders report that the intensity of attacks against them has increased and their groups are being driven further and further into the jungle.

A planned trip by Vang Pal to visit Vientiane, the Laos capital, to try and strike a peace deal has been cancelled citing security risks. The Laos government has announced that if he returns he will "face the death sentence for his war crimes during the Vietnam War".

In the jungle camp, fear is written on all the faces, even those of the children. With Thailand apparently turning its back on them, and the US seemingly ignoring their plight, they know their chances of survival are slim.

As the entire group gathers to say farewell, one old lady grabs my hand and whispers in my ear.

"I know the communists are going to kill us all... when they do, make sure you tell the world we were here and what they did to us."

**************************************************


Luật sư Lê Trần Luật

CÁC NHÀ TRANH ĐẤU ĐANG BỊ ÉP VÀO ĐƯỜNG CÙNG?

Khánh An, phóng viên RFA





Luật sư Lê Trần Luật, người từng biện hộ cho vụ giáo xứ Thái Hà và bảo vệ dân oan, lại bị ép vào con đường cùng khi bị tước mất công việc vừa có, nhiều nhà trọ cũng từ chối gia đình anh.

Truy đuổi đến cùng

Những hành động ép người vào đường cùng như trên liệu có ngăn chặn được những tiếng nói bất đồng?

Bạn bè, độc giả blog LS Lê Trần Luật chưa kịp vui khi đọc tựa đề bài viết “Việc làm mới” của anh vào ngày 20/4 đã phải nén một tiếng thở dài khi đọc đến đoạn cuối bài viết.

LS Lê Trần Luật tâm sự trên blog:

Vậy là tôi thất nghiệp đã hơn một năm ba tháng rồi. Suốt thời gian đó tôi cũng cố gắng xin việc nhiều nơi nhưng không thành. Đa số những nơi tôi xin việc đều từ chối khéo. Có nơi họ cũng thẳng thừng từ chối khi nghe đến tên tôi. Có nơi định nhận tôi vào làm việc thì ngay lập tức nơi đó nhận được “trát làm việc” của cơ quan an ninh. Sau đó tôi gọi điện nhiều lần nhưng họ không trả lời tôi nữa.

Sau nhiều lần thuyết phục, cuối cùng tôi cũng được một người nhân viên cũ nhận vào làm việc trên tinh thần hợp tác. Tất nhiên bây giờ anh ấy là Sếp của tôi… Sáng hôm qua mọi chuyện sắp đặt văn phòng xem như đã hòan tất. Tôi nghe Sếp bảo thứ năm này sẽ cúng khai trương…

Khoảng 3h chiều tôi nghe Sếp điện thoại và báo có ông Long nào bên an ninh gọi điện và yêu cầu Sếp sáng mai đúng 8h lên công an phường làm việc. Tôi hỏi lại làm việc gì? có giấy mời gì không? Sếp tôi trả lời với giọng yếu hẳn: “ Nó bảo làm việc về chuyện anh tới đây làm, có góp vốn không hay làm công ăn lương, em biết anh rồi mà nhận vô làm gì, hỏi nhiều lắm”. Tôi cố hỏi thêm: còn gì nữa không? Sếp bảo:“Nó nói anh là phần tử chống đối, hay viết bài trên mạng, và trả lời báo đài nuớc ngòai, nó sẽ kiểm tra và thu máy của văn phòng, có khi nó dẹp luôn cả văn phòng liệu hồn mà tính”…

Sáng nay, sau khi chở con đi học về, vợ tôi hỏi:“Anh không đi làm à?”. Tôi im lặng vì không biết nên trả lời như thế nào.


Luật sư Lê Trần Luật (giữa).

Trước đó chưa đầy một tuần, ngày 15/4, nhiều bạn bè đã chia sẻ với LS Lê Trần Luật về câu chuyện “Nhà mới” thuê sau khi liên tục gặp rắc rối với những căn nhà thuê trước đây. Qua blog, LS Lê Trần Luật cho biết:

Sau nhiều lần trì hoãn, cuối cùng tôi cũng phải trả nhà lại cho chủ và dọn về chỗ ở mới. Thật ra, chủ nhà cũng đã nhiều lần yêu cầu tôi trả lại nhà dù chưa hết thời hạn thuê. Tôi hoàn toàn hiểu và cảm thông với họ. Sau sự kiện Người Buôn Gió đến thăm, quan hệ giữa tôi và chủ nhà trở nên căng thẳng hơn…

Từ hơn một năm qua, những câu chuyện nhà của LS Lê Trần Luật đã không còn xa lạ đối với bạn bè và giới blogger. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, theo nhận xét của nhiều blogger, LS Lê Trần Luật đang bị đẩy dần đến bước đường cùng với tình trạng không nhà ở, không việc làm!

Các blogger nói gì?

Tin tức về tình trạng của LS Lê Trần Luật được khá nhiều blogger quan tâm chia sẻ. Có những nhận xét chân thành, chẳng hạn như “cái tâm của con người Việt Nam trong lúc này cần được giấu kỹ, phơi ra là bị gặm, bị day, bị dày vò, bị đánh cắp, bị ăn cướp ngay. Nên bây giờ, ai sống công khai với cái tâm như anh là dại, sẽ chỉ như những số phận tự nạp mạng, rồi bị diệt đơn lẻ. Từ 35 năm nay đã thế rồi. Chẳng phải mới đây đâu anh ạ”, lại có những câu hỏi đầy bức xúc như “Tại sao họ cứ xem dây như là kẻ thù của họ??? Người dân không tấc sắt trong tay, chỉ có bàn phím và cái miệng mà họ phải sợ như thế hay sao?”. Trong khi đó, blogger “giahien” cho rằng những sự việc xảy ra với LS Lê Trần Luật giống như “mật vụ SS phát xít rượt đuổi trù dập dân gốc Do Thái”.

Tương tự, blogger Bút Thép nhận xét:

Những gia đình người ta đã cho anh Lê Trần Luật thuê ở rồi mà lực lượng an ninh tác động đến để những gia đình đó không dám cho anh ấy ở thì những việc làm như vậy, nếu có, thì rất vô nhân đạo. Nó thể hiện sự man rợ, đẩy con người ta đến bước đường cùng, phải chống lại chính quyền.

Bên cạnh những nhận xét trên, còn có một số phát biểu khác tuy hài hước nhưng cay đắng, chẳng hạn như “Tui nghĩ cái ông anh Lê Trần Luật này hổng phải là người Việt Nam. Nếu anh Luật là người Việt Nam, chẳng lẽ anh lại trở thành nô lệ trên chính quê hương của mình???”. Tất cả những phản ứng của giới blogger cho thấy sự bất mãn và phẫn nộ ngày càng tăng khi họ phải liên tục chứng kiến những pha “rượt đuổi” hòan tòan không cân sức giữa chính quyền và người dân.

Vào cuối năm ngoái, Bộ Ngoại giao Việt Nam từng khẳng định: “Tại Việt Nam, không có ai bị bắt, giam giữ và xét xử vì bày tỏ chính kiến”. Tuy nhiên, những rắc rối, khó khăn tột cùng xảy ra trong cuộc sống của một người ngay sau khi họ bày tỏ chính kiến của mình, theo lời của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, là một mánh khóe của chính quyền. Ông nói:

Đó là những mánh khóe của nhà cầm quyền Hà Nội, luôn luôn làm cho người dám lên tiếng nói sợ hãi. Người tiếp xúc với chúng tôi cũng sợ hãi.

Tuy nhiên, ngay trong những nhận xét của các blogger đối với trường hợp của LS Lê Trần Luật, thì chính những hành động dồn ép, uy hiếp lại khiến cho nhiều người hiểu hơn về những chuyện phía sau hậu trường. Blogger “vietnamtudo7” cho rằng “những hành động đánh phá những người bênh vực cho lẽ phải, cho công lý như anh LS Luật làm cho quần chúng càng ngưỡng mộ anh, mà tôi là một trong số đó”. Tương tự, blogger “baobinh29nb” nhận xét: “càng có nhiều những vụ như thế này thì mọi người mới hiểu thực chất vấn đề là gì thì mới mong có sự thay đổi”. Như vậy, có thể hiểu “bước đường cùng” của một số trường hợp đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền lại là bước mở đầu cho một thay đổi tốt đẹp hơn trong tương lai chăng?! Riêng LS Lê Trần Luật dí dỏm gọi những sự việc xảy đến cho mình là “âm mưu diễn biến hòa bình”!

***********************************************


Bà Phạm Thị Phượng và chồng bị mật vụ CSVN bắt cóc tại Bangkok, Thái Lan. Hình do gia đình cung cấp.

HAI VỢ CHỒNG NGƯỜI TỴ NẠN VIỆT NAM TẠI THÁI LAN BỊ MẬT VỤ CSVN BẮT CÓC

Hai vợ chồng người tỵ nạn Việt Nam bị mất tích ở Thái Lan

Thanh Quang, phóng viên RFA

Cách đây khoảng một tuần, vợ chồng người Việt Nam tỵ nạn cộng sản, được Cao ủy Tỵ nạn LHQ (UNHCR) ở Thái Lan công nhận, bị bắt cóc ngay tại thủ đô Bangkok.





Câu hỏi được nêu lên là ai đã thực hiện hành động này. Và giới chức liên hệ cần có phản ứng ra sao để ngăn chận những hành động như vậy tái diễn ở xứ Chùa Vàng – cũng như đã từng diễn ra ở xứ Chùa Tháp. Mời quý vị theo dõi bài tường thuật từ Bangkok của Thanh Quang như sau:

Mật viên Việt Nam bắt cóc

Theo lời kể của người con trai tên Phạm Bá Tâm sau khi nhận được cú điện thoại thoáng qua của mẹ em, thì ba mẹ của em, là ông Phạm Bá Huy và bà Phạm Thị Phượng, bị một nhóm mật viên Việt Nam sang tận Thái Lan để thực hiện hành động bắt cóc này.

Em Phạm Bá Tâm cho biết:

Phạm Bá Tâm: “Vào khoảng 10 giờ sáng ngày 15 tháng Tư vừa rồi, ba mẹ nói là ra ngoài để mua đồ cho gia đình cũng như thường lệ. Đến chiều tối không thấy ba mẹ về, em nghĩ vấn đề có thể là do kẹt xe hay vấn đề gì đó của Thái Lan. Nhưng rồi đến khuya cũng không thấy ba mẹ về, em đã cố liên lạc với Cao Ủy Ty Nạn. Đến chiều tối ngày 16, lúc khoảng 7 giờ rưỡi tối, em nhận được cú điện thoại từ mẹ, cho biết rằng ba mẹ bị cảnh sát Việt Nam bắt. Cú điện thoại này của mẹ thình lình bị cắt. Em đã liên lạc nhiều nơi, với thiếu tá Mark, với phía Cao ủy Tỵ nạn nhằm giúp tìm kiếm ba mẹ.


Thủ đô Bangkok, Thái Lan.

Sau một thời gian, đến ngày hôm qua thứ Tư ngày 21/04, lúc 10 giờ rưỡi sáng, thì em nhận được cú điện thoại của chú ruột em từ Việt Nam, thông báo rằng ba mẹ bị cầm tù tại Sài Gòn, tại cơ quan công an điều tra. Bây giờ bên phía gia đình không thể gặp mặt ba mẹ được. Và những người thân đều bị bắt”.

Theo lệnh triệu tập khẩn của Cục An ninh Đảng bộ TPHCM mà chúng tôi nhận được, thì – nguyên văn: “Việt Nam yêu cầu tên Phạm Thị Phượng buộc phải trở về Việt Nam nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp chính phủ CHXHCN Việt Nam”. Vẫn theo nguyên văn của văn bản này, thì “bà không thể nào đủ sức để dựa vào cao ủy liên hợp quốc tại Thái Lan khi bà vẫn mang trọng án cao nhất của luật pháp nước CHXHCN Việt Nam”. Lệnh triệu tập này cảnh báo rằng nếu bà Phạm Thị Phượng không tự nguyện trở về Việt Nam thì – nguyên văn - “ Đội an ninh mật đóng tại Thái Lan sẽ thi hành công lệnh không phải thông qua cao ủy liên hợp quốc... kể cả chồng bà và 6 đứa con”.

Trước tình cảnh như vậy, 6 người con của hai người tỵ nạn Việt Nam vừa nói rất khủng hoảng, như em Phạm Bá Tâm cho biết:

Phạm Bá Tâm: “Cháu và các em tất cả 6 người vẫn đang chờ đợi vì chưa biết rằng sẽ đi về đâu. Phía chính quyền Mỹ hay Cao ủy Tỵ nạn sẽ giúp đỡ, bảo vệ cho anh em cháu thoát khỏi sự đe dọa, theo dõi, bắt bớ đưa anh em chúng cháu về Việt Nam. Anh em cháu hiện rất sợ. Đây là một sư đe dọa rất nặng nề, làm tụi cháu bị khủng hoảng”.

Chúng tôi đã tiếp xúc với con trai của ông bà Phạm Bá Huy và Phạm Thị Phượng là em Phạm Bá Tâm như vừa nói để tìm hiểu thêm về hoàn cảnh khó khăn, nếu không muốn nói là nguy hiểm, của gia đình họ, như quý vị nghe sau đây:

Thanh Quang: Ba mẹ và 6 anh em cháu qua Thái Lan hồi nào?

Phạm Bá Tâm: Tháng 10 năm 2002.

Thanh Quang: Gia đình cháu qua đây thì nói chung triển vọng được định cư ở Mỹ ra sao?

Phạm Bá Tâm: Khi gia đình cháu rời khỏi Việt Nam với mục tiêu là chạy trốn khỏi chế độ cộng sản, thì khi tới đây, mới đầu, chưa có mục tiêu là vào Liên Hiệp Quốc hay tới đâu, mà chỉ mong chạy khỏi đất nước thôi. Bởi vì ba mẹ đã bị tù đày, giam cầm tại đất nước cộng sản Việt Nam.


Giấy của Cao ủy Tỵ nạn LHQ (UNHCR) ở Thái Lan công nhận quy chế tỵ nạn cho bà Phạm Thị Phượng. Hình do gia đình Bà gởi cho RFA.

Thanh Quang: Tù đày như vậy thì riêng mẹ cháu đã bị Việt Nam nhốt bao lâu?

Phạm Bá Tâm: Mẹ cháu vì trước kia là mật viên của Mỹ và làm cho Việt Nam Cộng Hòa, nên sau 30 tháng Tư năm 1975, mẹ bị bắt giam hết 4 năm tại Mật khu 5 của chế độ cộng sản. Và mẹ được thả ra vào cuối năm 1979. Còn ba cháu là lính không quân Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi cộng sản vào chiếm Miền Nam thì họ bắt cả gia đình đi vùng kinh tế mới tại nông trường Thọ Vực.

Thanh Quang: Trước khi ba mẹ cháu bị bắt cách nay mấy hôm, triển vọng định cư của gia đình cháu đã tới đâu rồi?

Phạm Bá Tâm: Vấn đề định cư của gia đình cháu thật không may mắn, mất rất nhiều thời gian. Có rất nhiều điều đã xảy ra không tốt cho gia đình. Và gia đình cháu vẫn trong giai đoạn chờ đợi bên Cao ủy Tỵ nạn giúp đỡ, tìm một nước để đi định cư.

Thanh Quang: Ngay bây giờ, phản ứng của Cao ủy Tỵ nạn ra sao?

Phạm Bá Tâm: Ngay khi được tin ba mẹ bị bắt, thì Cao ủy nói là tìm mọi cách để giúp đỡ cho gia đình. Hiện chưa thấy họ giúp đỡ bằng cách nào, chỉ biết là họ đang làm việc để giúp cho gia đình cháu thôi.

Vi phạm luật pháp quốc tế

Một cựu quân nhân Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam, thiếu tá hồi hưu Mark A. Smith đang có mặt tại Bangkok, quen biết nhiều với bà Phạm Thị Phượng khi bà được huấn luyện làm nhân viên tình báo Mỹ hồi năm 1969 và rồi phục vụ cho chương trình đặc biệt do Thiếu tá Mark đánh giá. Thiếu tá Mark nhận xét trường hợp vợ chồng hai người tỵ nạn này như sau:

Major Mark: “Đây là vấn đề mang tính cách quốc tế. Nếu những người từ Việt Nam tới đây, tôi không cần biết họ lo lót cho cảnh sát Thái như thế nào, nhưng họ tự tiện bắt người đưa ra khỏi Thái Lan, trong khi xứ Thái là một nước dân chủ, pháp trị. Ngay tại Thái Lan, họ phải ra tòa, giải thích với tòa án Thái Lan lý do tại sao những người mà họ bắt cần đưa trở lại Việt Nam, vì đã là tội phạm, hay gì gì đó. Đằng này mật viên Việt Nam tự tiện bắt người và chớp nhoáng đưa trở lại Saigon. Điều này có nghĩa là họ vi phạm thỏa thuận ASEAN, thỏa ước quốc tế, vi phạm quy chế của LHQ bảo vệ người tỵ nạn như trường hợp hai vợ chồng ông Phạm Bá Huy và bà Phạm Thị Phượng, và cả luật lệ của Vương Quốc Thái.

Do đó, câu hỏi trong thời điểm này là tất cả những chính phủ liên hệ phải phản ứng như thế nào trước việc Việt Nam cho mật viên tự tiện đến Thái Lan để bắt cóc người theo ý họ. Nếu có sự nhúng tay nào đó của người Thái – như cảnh sát Thái - cũng rất có thể, nhưng hành động vừa rồi của Hà Nội là bất hợp pháp. Và chuyện 2 vợ chồng tỵ nạn Phạm Bá Huy và Phạm Thị Phượng đang ở Sài Gòn hiện giờ chỉ có mật vụ Việt Nam là câu trả lời cho sự việc liên quan hành động họ đến đây, tiếp xúc với ai để rồi bắt người và chuyển ra khỏi Vương Quốc Thái trong thời gian rất ngắn. Nên đây không phải chỉ là vấn đề vi phạm nhân quyền, mà đây còn là vấn đề vi phạm đến an ninh quốc gia của Vương Quốc Thái, và cũng có liên hệ đến an ninh quốc gia của cả Hoa Kỳ.”

Và Thiếu tá Mark Smith nhân tiện bày tỏ sự mong mỏi như sau:

Major Mark: “ Do đó, tôi tin tưởng, hy vọng và cầu mong Việt Nam thả hai vợ chồng anh Phạm Bá Tân để họ được đoàn tụ với 6 người con của họ, sau cùng rồi, tại Hoa Kỳ. Và chính phủ Hoa Kỳ phải can thiệp, chính sách Mỹ đòi hỏi Washington phải hành động để giúp đỡ gia đình này. Và đó là điều dĩ nhiên.”

Vụ bắt cóc người Việt Nam tỵ nạn vừa nói tại xứ Chùa Vàng khiến người ta liên tưởng đến những vụ mật viên Việt Nam bắt cóc người tỵ nạn ở xứ Chùa Tháp, mà cụ thể là trường hợp của Thầy Thích Trí Lực hiện định cư tại Âu Châu. Thầy Thích Trí Lực kể lại như sau:


Văn phòng UNHCR nằm trong khuôn viên trụ sở LHQ ở Thái Lan. Photo courtesy of UN Thailand.

Thầy Thích Trí Lực: “Dạ trong thời gian tôi qua và gởi đơn xin tỵ nạn tại Cao ủy Tỵ nạn ở Phnom Penh vào năm 2002, chúng tôi là người Kinh, không được ở trong trại tỵ nạn, cho nên phải thuê nhà ở ngoài. Điều cần phải biết là sau khi bộ đội Miền Bắc rút khỏi Campuchia, họ đã cài lại rất nhiều tình báo, núp dưới hình thức thương gia, kết hôn với người bản xứ hay hoạt động cho tình báo Việt Nam. Tôi là một nạn nhân của chế độ CS Việt Nam. Tôi còn nhớ vào ngày 25 tháng 7 năm 2002, lúc chạng vạng, tôi ra chợ Ô-Xây ở đường 185 để mua đồ dùng. Khi quay người lại thì một số người lạ mặt chận sau lưng tôi và vài ba người tấn công tôi, đẩy tôi lên một chiếc xe đậu sẵn bên lề đường. Họ đánh đập tôi trên xe, rút trong túi tôi thẻ tỵ nạn do LHQ cấp cho tôi ngày 28 tháng 6 năm 2002. Xe chạy một quãng, rồi vào một cơ quan mà dưới ánh đèn điện, tôi thấy rõ có chữ “cảnh sát quốc tế”.

Rồi họ chuyển tôi sang một chiếc ô-tô nhỏ đậu gần đó, mang biển số Khmer 2475. Họ ghé vào một đồn công an Campuchia gần bùng binh cầu Sài Gòn, nhốt tôi một đêm ở đó. Sáng hôm sau, ngày 26 tháng 7 năm 2002, họ chở tôi hướng về cửa khẩu Mộc Bài ở tỉnh Tây Ninh, rồi chuyển giao cho Bộ Công an Việt Nam đã chờ sẵn tại biên giới. Sau đó họ đưa tôi vào trại giam B34 tọa lạc ở số 237 đường Nguyễn văn Cừ, quận 1, Sài Gòn. Họ giam giữ tôi 15 tháng trời, rất nghiêm ngặt. Bên ngoài, người thân, bạn bè không biết tôi còn sống hay đã chết.

Thanh Quang: Như vậy Thầy nhận xét như thế nào về hành động bắt cóc của mật viên Việt Nam tại xứ nguời?

Thầy Thích Trí Lực: Nhà cầm quyền CS Việt Nam đã xem thường luật pháp quốc tế, đã ngang nhiên bắt cóc người tỵ nạn trên lãnh thổ láng giềng. Cơ quan tình báo mật vụ của Việt Nam đã tung hoành ngang dọc. Họ chẳng coi luật pháp quốc tế ra gì cả.

Vừa rồi là thầy Thích Trí Lực từ Âu Châu.

Thanh Quang tường thuật từ Bangkok, Thái Lan.

XUNG ĐỘT 1979 LÀ TRÁCH NHIỆM CỦA AI? - ĐÃ CÓ NHỮNG HY SINH KHÔNG ĐƯỢC THỪA NHẬN


Ảnh từ trên xuống theo chiều kim đồng hồ: - Một toán lính thuộc đơn vị súng phun lửa của Tàu cộng - Một binh sĩ Việt cộng đang gác tù binh thuộc lực lượng đặc biệt của Tàu cộng - Một hàng tù binh Việt cộng - Lính Tàu cộng đang săn sóc thương binh tại mặt trận - Quân Tàu cộng đang tấn công vào thị xã Lạng Sơn. Ảnh: wikipedia
Nhấn vào hình để phóng lớn

XUNG ĐỘT 1979 LÀ TRÁCH NHIỆM CỦA AI?

Tiến sĩ Hoàng Kim Phúc
Đại học Oxford, Anh Quốc

Điều Trung Quốc không lường hết là cuộc chiến 79 giống như một nhát cuốc tàn bạo, lật thẳng "tấm ván thiên" chôn nỗi căm thù sâu thẳm và âm ỷ của các dân tộc Việt với kẻ xâm lược ngàn năm từ phương Bắc.

Năm tôi lên chín, Trung Quốc tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc.

Yếu tố chính trị trực tiếp nào đưa đến cuộc chiến năm 1979? Có phải là xu hướng "ly khai" của cộng đồng Hoa kiều phía Nam khi đòi giữ ngoại tịch và chối bỏ quốc tịch Việt Nam vào nửa cuối thập niên 70?

Hay là chính sách bài trừ tư bản mà cộng đồng Hoa kiều bị ảnh hưởng nhiều nhất? Hay đó là câu trả lời cho cuộc chiến của Việt Nam với Cambodia nhằm trừ khử Khme Đỏ, khi đó đang được Trung Quốc đỡ đầu?

Phải chăng Trung Quốc gây chiến để dằn mặt khi Việt Nam đang giao hảo chặt chẽ với Liên Xô và mở rộng ảnh hưởng tới Lào và Cambodia? Hay để Trung Quốc lấy điểm với Mỹ vì lúc đó chiến tranh lạnh vẫn đang căng thẳng?

Hay nó đơn thuần để giải quyết những xung đột nội bộ Trung Quốc để lại từ thời kì Tứ Nhân Bang ? Tất cả những khả năng trên các sử gia phương Tây cho tới nay vẫn chưa ai có số liệu thật đầy đủ và thuyết phục.

Vết thương khó lành

Nhưng cho dù với bất cứ lý do gì thì đây cũng là một cuộc chiến hết sức man rợ và vô nhân đạo, vì chưa đầy 30 ngày mà gần một trăm ngàn người (60-100 ngàn theo các số liệu khác nhau) của cả hai phía đã thương vong.

Chừng nào những ẩn số lịch sử về nguyên nhân cuộc chiến chưa được sáng tỏ trước cộng luận và lịch sử thế giới thì chừng đó nguy cơ để xảy ra những tranh chấp tương tự giữa Trung Quốc và các nước láng giềng còn có cơ hội tái diễn, đặc biệt khi nền chính trị tại quốc gia khổng lồ này còn dựa trên nền tảng độc tài toàn trị.

Mặc dù cuộc chiến đẫm máu chính thức diễn ra khá ngắn ngủi nhưng những đợt pháo kích dai dẳng dọc tuyến biên giới, kéo dài nhiều năm sau đó mới để lại những "vết thương" khó lành trong ký ức đương đại của dân chúng Việt Nam, đặc biệt là dân miền Bắc.

Làng tôi sống khi ấy gồm ba xóm, nay thuộc quận Ba Đình, vậy mà cũng có tới hai anh đi bộ đội bị pháo chết trên "chốt".

Từ "lên chốt" đã có lúc được nhiều thanh niên nhắc tới như "ác mộng". Dù mục tiêu chiến lược của việc tấn công Việt Nam vẫn còn nhiều uẩn khúc lịch sử nhưng về mặt nào đó Trung Quốc đã thành công trong việc gây nên một tâm lý lo lắng bất ổn, pha sự sợ hãi trong các thành phần dân chúng Việt Nam.

Tuy nhiên điều Trung Quốc không lường hết là cuộc chiến 79 giống như một nhát cuốc tàn bạo, lật thẳng "tấm ván thiên" chôn nỗi căm thù sâu thẳm và âm ỷ của các dân tộc Việt với kẻ xâm lược ngàn năm từ phương Bắc.


Các hướng tiến công của quân Tàu cộng trên toàn tuyến biên giới - Ảnh: wikipedia
Nhấn chuột vào hình để phóng lớn

Sự căm thù tưởng đã có lúc bị vùi lấp đi bởi "tấm tình đồng chí" môi hở răng lạnh, hay bởi những luận điệu tuyên truyền "Núi liền núi, sông liền sông" hữu hảo.

Xâm lăng 1979 đã đánh mạnh vào lòng tự hào của các dân tộc Việt, cái mà ở chừng mực nào đó đã giúp họ tồn tại anh dũng bên cạnh "đế quốc" Trung Hoa trong ngàn năm không bị đồng hóa, kể từ chiến thắng Bạch Đằng.

Mục đích Trung Quốc dạy cho Việt Nam một bài học bằng cuộc chiến 1979 có lẽ cũng man dại và phản tác dụng không khác gì việc trước đó quân đội Mỹ ném bom rải thảm nhằm đưa Hà Nội quay lại "thời kỳ đồ đá".

Về mặt lịch sử, chiến tranh 79 là một mũi tiêm chủng tái khởi động ý thức đề kháng mãnh liệt chống lại dã tâm tạo ảnh hưởng và "kiểm soát" của Trung Quốc với Việt Nam ở hiện tại và tương lai.

Với những ký ức và thông tin của riêng mình có được, tôi không hề nghĩ rằng cuộc chiến tranh 1979 chỉ dừng lại ở khẩu hiệu của Đặng là "dạy cho Việt Nam một bài học".

Cuộc chiến kéo dài

Cuộc chiến đã không thực sự kết thúc sau năm 1979. Hơn thế, nó là một tính toán lâu dài, thậm chí nó là một phần trong cả một chính sách lớn của Trung Quốc với Việt Nam mà hành động phát lộ đầu tiên là đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Mặc dù trước đó lính Trung Quốc đã lấn chiếm bằng cách di dời cột mốc biên giới khi giúp chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà làm đường.

Sự ngẫu nhiên của số phận và nghề nghiệp đã cho tôi thêm tư liệu và thông tin để nhìn nhận chi tiết mối quan hệ "vừa là đồng chí vừa là anh em" rất mai mỉa này.

Với quyết tâm tìm cho ra mối quan hệ của một số loài muỗi sốt rét chính ở Việt Nam và mối tương quan dẫn truyền của nó qua biên giới Việt-Trung, tôi đã đi hàng chục chuyến công tác tại dọc tuyến biên giới Việt Trung.


Dân binh Tàu cộng trong các đội tải thương. Ước tính có khoảng 4.000 lính Tàu cộng tử trận chỉ trong 2 ngày đầu của cuộc chiến. Ảnh: wikipedia
Nhấn chuột vào hình để phóng lớn

Ở nhiều nơi khi tôi đến, danh nghĩa là cuộc chiến đã qua 20 năm, ký ức về sự man rợ của cuộc chiến như vừa mới hôm qua. Lần đầu đến Hà Giang, ngồi cạnh bác lái già chạy xe Hà Giang-Vị Xuyên, ông kể. "Năm 79 nó sang, dân bên mình hoàn toàn bị bất ngờ, vì thế thiệt hại là vô kể.

''Nó rút đi đặt mìn giật sập bất cứ cái gì gọi là do tay con người tạo nên. Mìn nó còn gài lại vô số trong các khu dân cư, tỉnh lộ. Mà nào có yên, pháo nó còn "củng" sang đây liên tục tới năm 88-89.

''Thằng con tôi đi củi với hai thằng bé cùng lớp bị trúng mìn. Hai đứa chết, một đứa cụt hai chân, mù mắt". Phía Việt Nam đã hoàn toàn bị bất ngờ trong cuộc chiến 79.

''Khu vực "Hữu nghị Quan", dân các xã xung quanh kể lại là chiều hôm trước lính Tàu còn sang đá bóng với thanh niên địa phương và lính biên phòng Việt Nam. Tối hôm đó có chiếu bóng ngoài bãi, bọn lính Tàu còn sang chơi đầy, thế mà sáng hôm sau nó tấn công.''

Nhóm nghiên cứu của tôi đã "nằm" ở Cà Liểng, nơi có hẻm núi hẹp, độc đạo, mà xe tăng Trung Quốc đã vào Việt Nam ở ngả Cao Bằng. Một cô giáo bản, dân tộc Mèo "đen" sáng hôm đó chở ông bố xuống huyện khám bệnh.

Tự dưng thấy rất nhiều xe tăng với "bộ đội" ngồi trên ở phía sau tiến tới. Ông cụ giơ tay chào nhưng sau thấy xe tăng cứ tiến sát như muốn nghiến lên chiếc xe đạp, ông kêu ầm lên để các chú "bộ đội" nghe thấy.

Đột nhiên thằng ôn vật ngồi trên tháp pháo rút súng làm đánh đùng một cái vào đầu ông cụ.

Ông cụ lăn xuống chết tức khắc, cô con gái sợ quá quăng xe đạp lao vào rừng, chạy tắt xuống huyện đội. Lúc đó người ta mới ngã ngửa ra là Tàu đánh". Dân Thạch An, Cao Bằng mạnh ai nấy chạy, giạt hết lên núi.

Vào sâu trong rừng, người đồng bào sau đó tìm thấy những vạt rừng phủ kín quần áo, võng, bạt, vỏ đồ hộp và phân...của bọn lính sơn cước Tàu. Chúng đã ém quân từ khá lâu trước đó. Từ đỉnh núi đồng bào địa phương nhìn ngay xuống bản, thậm chí sân nhà mình. Nhiều người phải liều mạng lẻn về để lấy muối, lấy dao, quần áo...

Chiều đến họ thấy hàng chục thằng lính Tàu "vật nhau" với những chiếc xe đạp của dân bỏ lại.

Bọn lính này được tuyển mộ từ những vùng cực kỳ nghèo đói và lạc hậu của Hoa lục nên không biết ngay cả đi xe đạp.

Không ngạc nhiên rằng chúng hết sức tàn bạo và hung hãn. Đối với người dân tộc sống dọc các tỉnh biên giới phía Bắc, căn nhà và các vật dụng thiết thân như con dao, cái cối đá, ngọn đèn dầu là những vật vô cùng quý giá.

Nắm được tâm lý này, bọn lính Tàu được lệnh tàn phá mọi thứ dù là nhỏ nhất, trước khi rút đi.

Người dân các vùng từ Cao Bằng, Hà Giang, Lao Cai... đều kể cho tôi nghe những chi tiết khá tương tự rằng khi về lại nhà cũ, tất cả bị thiêu trụi. Những chiếc đèn dầu hỏa, vại dưa, chum nước, cối đá... đều bị đập vỡ, ngay cả những con dao bài giắt ở vách bếp cũng bị chặt vào nhau cho nát lưỡi dao, giếng nước bị sâp vì lựu đạn tống xuống.

Năm 1986, trong một chuyến thực tập hè ở Lương Sơn, Hòa Bình, tôi ở cùng những trung đoàn lính Việt nam đang tập đạn thật vì địa hình Lương Sơn tương tự Vị Xuyên, Hà Giang.

Sau một tháng họ sẽ đi Vị Xuyên. Những người lính trẻ âu lo vì những tin tức ác liệt từ Vị Xuyên và các điểm nóng khác vẫn truyền về trong suốt nhiều năm sau 1979.

Đầu năm 1988, Trung Quốc tấn công Trường Sa, 74 bộ đội Việt Nam đã bị thiệt mạng.

Năm 1995, theo anh bạn học làm kiểm dịch sinh vật, tôi lên cửa khẩu Chi Ma. Mặc dù hai nước lúc đó đã "bình thường hóa" và thông thương buôn bán nhưng những dãy đồi trùng điệp liền kề với cửa ải này vẫn dày đặc các trận địa mìn.

Xung đột lẻ tẻ trên đường biên vẫn liên tiếp xảy ra. Ban đêm, các cột mốc bị di dời vào đất Việt Nam như cơm bữa. Nhiều năm trở lại đây, trên biên giới bộ cột mốc vẫn bị di chuyển.

Trên biển, Trung Quốc nhiều lần dùng tàu chiến tấn công thuyền đánh cá và giết hại ngư dân Việt nam. Sự leo thang đã trắng trợn tới mức báo động khi Trung Quốc tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc huyện Tam Sa của Hải Nam cuối năm 2007, xua đuổi các công ty liên doanh thăm dò dầu khí ở vùng Nam Côn Sơn của Việt nam và vừa rồi quyết định đầu tư 29 tỷ đôla để khai thác dầu trong hải phận Việt Nam.

Tiền Việt Nam giả được in bằng những kỹ thuật tinh vi từ Trung Quốc, tràn ngập qua các ngả biên giới vào Việt Nam. In bạc giả là một loại tội phạm nghiêm trọng ở mọi quốc gia. Sản xuất tiền giả để tung vào quốc gia khác là vi phạm luật pháp và công ước quốc tế.

Chính quyền Trung Quốc hoàn toàn im lặng trước những hoạt động tội phạm quy mô lớn này. Rõ ràng sự tấn công Việt Nam bằng quân sự trên biển và đất liền, tấn công chính trị và ngoại giao, tấn công phá hoại kinh tế... kéo dài hàng chục năm sau cuộc chiến, qua nhiều đời Tổng bí thư của Trung Quốc ắt phải là mưu đồ làm cho nước láng giềng nhỏ bé phải "chảy máu" tới chết.

Người Mỹ từ lâu đã có trách nhiệm hỗ trợ rà gỡ bom mìn trong chiến tranh, sao tới nay người Trung Quốc vẫn tảng lờ những trận địa mìn nằm trên đất Việt?

Theo tính toán của Bộ Quốc Phòng Việt Nam, sẽ còn mất hàng chục năm nữa để giải phóng các trận địa mìn nằm trên đất Việt, dọc biên giới phía Bắc.

Những trái mìn Made in China đang nằm trên đất Việt chính là những bằng chứng hiển nhiên để mỗi người dân Việt nam có cơ hội để đánh giá sự thành thật, thiện chí theo phương châm "16 chữ vàng" từ phía nước láng giềng khổng lồ phía Bắc này.

********************************************************************


Hình đăng trên bài báo của Huy Đức trên tờ Sài Gòn Tiếp Thị (đã bị gỡ xuống - nhưng trước đó đã được copy lại và đăng lên đây). Nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên hoang vắng, quạnh quẽ - Photo by Lê Quang Nhật

ĐÃ CÓ NHỮNG HY SINH KHÔNG ĐƯỢC THỪA NHẬN

Thiện Giao, phóng viên RFA - 2009-02-17

Nếu có dịp hỏi những người Việt Nam đang sống trong nước, ngày 2-9 là ngày gì; ngày 30-4 là ngày gì? Chắc hẳn, nhiều người có thể trả lời được ngay những sự kiện đã xảy ra vào thời điểm ấy ở một năm nào đó trong lịch sử.

Và những thế hệ tiếp theo của Việt Nam, có thể sẽ còn có cơ hội nhớ nhiều hơn thế nữa. Chẳng hạn, theo tin tức từ báo chí trong nước, thì “chương trình giáo dục mầm non” được Bộ Giáo Dục đưa ra lấy ý kiến, và sẽ giảng dạy trong năm 2009 cho trẻ em từ 3 đến 6 tuổi, có yêu cầu là “trẻ em từ 4 đến 5 tuổi phải nhận ra hình ảnh Bác Hồ… thích và thuộc một số bài hát, bài thơ về Bác.”

Nhưng, sẽ có những ngày, những thời điểm trong lịch sử, mà các thế hệ đi sau phải tranh đấu, mới có thể, hoặc có quyền, được nhớ.

17 tháng Hai là một ngày như vậy!

TQ xua quân xâm chiếm VN

Vâng, 17 tháng Hai là một ngày như vậy.

Ngày này, tháng này, của năm này sẽ là thời điểm đánh dấu 30 năm một sự kiện xảy ra nơi vùng biên giới.

Hãy nghe nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo kể lại ngày ấy, “30 năm trước, lửa đã chảy và máu đã đổ…”

“…Nhớ thời Trung Quốc nổ súng tấn công 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước ta vào ngày 17 tháng Hai, 1979 người chết như rạ mà buồn.

Hồi đó, sau cái đêm đại họa láng giềng đó, tôi viết một bài thơ ca ngợi người lính của ta chiến đấu chống bành trướng nơi biên giới đưa ngay cho báo Văn Nghệ lên trang rồi cùng Chu Lai đeo ba lô và súng ngắn ra ga Hàng Cỏ lên Cao Bằng.

Chúng tôi đi ngược dòng người gồng gánh trẻ con chạy giặc. Hai bên đường đỏ loét hầm ếch khoét vào núi. Đói và rét. Cầu sông Bằng bị đánh sập.


Một trong những nơi mà quân Tàu cộng thảm sát thường dân Việt Nam - Ảnh của Lê Quang Nhật

Thị xã Cao Bằng chỉ còn đống đổ nát, các cột điện cao thế bị bộc phá đánh gục, xác người chết còn cuốn trong giây điện. Ruồi nhặng nhiều như trấu vì xác chết của người và súc vật. Hễ đưa máy ảnh lên là ruồi nhặng bu kín ống kính. Tôi phải dùng cành cây xua đưổi ruồi nhặng cho phóng viên nước ngoài quay phim...”

Nguyễn Trọng Tạo viết tiếp, rằng ông đã “đi và viết về những người dân, người lính anh hùng trụ lại chống trả bọn xâm lược để giữ vững biên cương Tổ Quốc.” Ông viết trên blog riêng của mình, rằng sau này bài thơ ông làm “vẫn còn đau đáu nỗi đau từ tháng Hai năm ấy.”

“Thời tôi sống thêm một lần súng nổ
Trái tim đau rỏ máu dọc biên thùy...”

Và đây, ký ức Nguyễn Trọng Tạo về tháng Hai năm ấy.

“Sau cái bắt tay xòe một lưỡi dao găm
Kẻ tình nguyện giữ nhà muốn chiếm nhà ta ở
Tấm ảnh Mao treo lẫn màu cờ đỏ
Tay ta treo đâu nghĩ có một lần
Như con chiên sùng đạo chợt bàng hoàng
Nhận ra chúa chỉ ghép bằng đất đá
Thời tôi sống thêm một lần súng nổ
Trái tim đau rỏ máu dọc biên thùy...”

Biên giới tháng Hai

Nguyễn Trọng Tạo đề cập đến bài thơ, nhắc đến cái ngày “đeo ba lô và súng ngắn ra ga Hàng Cỏ lên Cao Bằng” nhân dịp có một ai đó đã nhắc lại cái ngày 17 tháng Hai cách đây 30 năm.

Nhà báo Huy Đức đã nhắc đến ngày ấy, với tựa đề “Biên Giới Tháng Hai, 2009-1979.” Bài viết này đã được đăng trên tờ Sài Gòn Tiếp Thị, trên báo in cũng như trên trang mạng của tờ báo.

Những thông tin sau đó truyền đi trên thế giới ảo cho biết bài viết đã bị lấy xuống. Tờ Sài Gòn Tiếp Thị không cho biết lý do. Và người ta cũng không thấy có lý do gì để tờ báo tự lấy bài viết này xuống.

Tác giả Huy Đức mở đầu bài viết:

“Tháng Hai, những cây đào cổ thụ trước cổng đồn biên phòng Lũng Cú, Hà Giang, vẫn chưa có đủ hơi ấm để đâm hoa; những khúc quanh trên đèo Tài Hồ Sìn, Cao Bằng, vẫn mịt mù trong sương núi.

Sáng 7-2 nắng lạnh, vợ chồng ông Nguyễn Văn Quế, 82 tuổi, nhà ở khối Trần Quang Khải 1, thị xã Lạng Sơn, ngồi co ro kể lại cái chết 30 năm trước của con trai mình, anh Nguyễn Văn Đài. Năm ấy, Đài 22 tuổi. Ông Quế nói: “Để ghi nhớ ngày ấy, chúng tôi lấy Dương lịch, 17-2, làm đám giỗ cho con”.


Bản đồ trận chiến biên giới Việt Trung 1979 - Ảnh: wikipedia
Nhấn chuột vào hình để phóng lớn

Năm 1979, vào lúc 5giờ 25 phút sáng ngày 17-2, Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, đánh chiếm từ Phong Thổ, Lai Châu, tới địa đầu Móng Cái.”

Tác giả kể tiếp, rằng từ ngày 17 tháng Hai đến 5 tháng Ba, năm 1979, cuộc chiến 16 ngày đã để lại một Lào Cai, một Sapa, một Đồng Đăng, một Lạng Sơn… bị phá tan hoang, và rằng:

“Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện.

Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai.

Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.”

Hy sinh trong ngậm ngùi!

Trong một bài viết khác, được đăng tải trên rất nhiều trang mạng, trang blog trong và ngoài nước, tác giả Hoàng Kim Phúc, đang theo học chương trình hậu tiến sĩ tại đại học Oxford, viết rằng năm anh lên chín, “Trung Quốc tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc.”

Một cuộc chiến kéo dài chưa đầy 30 ngày “mà gần một trăm ngàn người của cả hai phía đã thương vong.”

Tác giả kể tiếp:

“Mặc dù cuộc chiến đẫm máu chính thức diễn ra khá ngắn ngủi nhưng những đợt pháo kích dai dẳng dọc tuyến biên giới, kéo dài nhiều năm sau đó mới để lại những “vết thương” khó lành trong kí ức đương đại của dân chúng Việt Nam, đặc biệt là dân miền Bắc.

Làng tôi sống khi ấy gồm ba xóm, nay thuộc quận Ba Đình, vậy mà cũng có tới hai anh đi bộ đội bị pháo chết trên “chốt”.

Từ “lên chốt” đã có lúc được nhiều thanh niên nhắc tới như “ác mộng”. Dù mục tiêu chiến lược của việc tấn công Việt Nam vẫn còn nhiều uẩn khúc lịch sử nhưng về mặt nào đó Trung Quốc đã thành công trong việc gây nên một tâm lý lo lắng bất ổn, pha sự sợ hãi trong các thành phần dân chúng Việt Nam.”

Trở lại với tác giả Huy Đức. Vào thời điểm truy cập vào blog của tác giả này, chúng tôi lại thấy một bài viết khác, có vẻ như là bài tiếp theo của “Biên Giới Tháng Hai, 2009-1979” đã bị “đục bỏ” trên trang web của báo Sài Gòn Tiếp Thị.

Trong bài thứ hai này, tác giả ghi thêm bên dưới: “bài này chưa đăng báo giấy.” Có nghĩa là sao? Chỉ suy đoán thôi, bài viết thứ hai này, với tựa đề “Cuộc Chiến 1979 và Hoàng Sa” rất có thể sẽ không được đăng trên báo giấy!

Dù sao, blog cũng là một nơi chuyển tải thông tin!

Chắc hẳn tác giả Huy Đức có những ngụ ý khi cho gắn cuộc chiến 1979 vào với địa danh Hoàng Sa. Quả vậy, tác giả viết ở đoạn cuối bài trên blog của anh:

“Tôi công bố bài viết này không chỉ vì sắp đến ngày 17-2 mà còn vì, muốn lưu ý, “người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán,” không nên đặt cuộc chiến tranh 17-2 ra ngoài âm mưu Biển Đông. Bản Giốc, Tục Lãm… giờ đã xong; nhưng, Hoàng Sa, Trường Sa thì vẫn đó.”

Nếu có dịp hỏi những người Việt Nam đang sống trong nước, ngày 2 tháng Chín là ngày gì; ngày 30 tháng Tư là ngày gì? Chắc hẳn, nhiều người có thể trả lời được ngay những sự kiện đã xảy ra vào thời điểm ấy ở một năm nào đó trong lịch sử.

Nhưng sẽ có những ngày, những thời điểm trong lịch sử, mà các thế hệ đi sau phải tranh đấu, mới có thể, hoặc có quyền được nhớ.

17 tháng Hai là một ngày như vậy!

“Chỉ có một điều ngậm ngùi,” một nhà báo Việt Nam nói với chúng tôi. “Đó là, 30 năm trước, một thế hệ thanh niên Việt Nam lao về biên giới để bảo vệ lãnh thổ. Bây giờ, 30 năm sau, họ không được nhắc tới; và những người khác cũng không được quyền nhắc đến họ, như thể họ chưa hề tồn tại.”

“Có cái gì như một sự phản bội!”

-----------------

Trên đây là những ghi nhận từ các blog cá nhân liên quan đến cuộc chiến biên giới Việt – Trung năm 1979.

VIỆT NAM 35 NĂM NHÌN LẠI - BƯỚC ĐẦU TRẢ LẠI DANH DỰ CHO VIỆT NAM CỘNG HÒA - QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA SAU HIỆP ĐỊNH PARIS


Buổi Hội thảo "Việt Nam 35 năm nhìn lại" tại Hoa Thịnh Đốn ngày 9 tháng 4, 2010 - Photo: RFA

VIỆT NAM 35 NĂM NHÌN LẠI

Quỳnh Như, phóng viên RFA - 2010-04-12

Cuộc chiến tại Việt Nam đã kết thúc cách nay 35 năm nhưng đối với một thành phần đông đảo người Việt Nam, cả trong lẫn ngoài nước, vẫn còn nhiều điều cần phải bàn cãi và làm sáng tỏ.



Đó là chủ đề một cuộc hội thảo quy tụ gần 50 nhân vật gồm những cựu tướng lãnh Hoa Kỳ và những nhà nghiên cứu quân sự, nghiên cứu sử học của Mỹ, cùng với môt số nhà nghiên cứu, cựu viên chức cao cấp Việt Nam Cộng Hoà trong thành phần diễn giả và tham dự lên đến gần 200 người, trong hội trường U.S. Army and Navy Club tại Washington.

Dư luận không thể là bằng chứng

Vai trò và tinh thần chiến đấu của Quân đội Việt Nam Cộng Hoà trong trận chiến 20 năm tại Việt Nam kết thúc cách nay đã 35 năm vẫn chưa được nhiều người trong hai thành phần tham chiến đánh giá đúng đắn. Dư luận Mỹ nay đã nhìn lại đôi phần từ khi có đông đảo người Việt sang tị nạn, nhưng cũng còn sót lại những khuynh hướng đổ lỗi cho sự thất bại của phe đồng minh ở Việt Nam là do sự yếu kém trong sức chiến đấu của quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Phía đảng Cộng Sản Việt Nam thì luôn luôn nhấn mạnh đến vai trò của quân đội Hoa Kỳ, coi thành tích chiến đấu của quân đội miền Nam chỉ là thứ yếu, kém cỏi, tuy vẫn mạnh tiếng tố cáo quân đội này đã gây ra những tổn thất lớn lao cho lực lượng Cộng Sản từ những ngày nổi dậy ở miền Nam cho đến những trận tổng tấn công 1968, 1972 và 1975 của quân đội miền Bắc.


Cựu đại sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Washington, ông Bùi Diễm phát biểu lời khai mạc tại cuộc hội thảo "Việt Nam 35 năm nhìn lại" tại Hoa Thịnh Đốn (April 4, 2010) - Photo: RFA

Sự thật lịch sử rất quan trọng đối với người Hoa Kỳ trong thế hệ ngày nay đang điều hành chính sách với Việt Nam, cũng như đối với những thế hệ đi sau của của những người chiến sĩ và viên chức Việt Nam Cộng Hoà. Những thế hệ hậu duệ đó nay đang chiếm giữ ngày càng nhiều những vị thế quan trọng trong nhiều lĩnh vực ở nhiều nước bên ngoài Việt Nam, cũng là thành phần không kém quan trọng đối với tương lai chính trị, kinh tế, xã hội của nước Việt Nam sau này. Nhìn lại lịch sử sau 35 năm chiến tranh về vai trò chiến đấu của quân lực Việt Nam Cộng Hoà, do đó, là chủ đề cuộc hội thảo tại thủ đô Washington của Hoa Kỳ, do cựu đại sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Washington, ông Bùi Diễm, và những người có tâm huyết với những người Việt quốc gia trong và ngoài nước tổ chức hôm thứ sáu mùng 9 tháng 4 năm 2010.



Sự thật bị bóp méo

Một trong những nhân vật đã từng chứng kiến những giờ phút quan trọng của lịch sử là cựu Đại sứ Bùi Diễm - ông từng là thành viên trong phái đoàn của chính phủ quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng Hoà tham gia Hội nghị Geneve 1954, Hội nghị Paris năm 1973, từng nắm giữ các chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao, Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, Đại sứ lưu động của Việt Nam Cộng Hoà phát biểu lời khai mạc:

Đại sứ Bùi Diễm: “Hôm nay chúng tôi muốn chứng minh đã có sự bóp méo lịch sử, xuyên tạc những gì đã xảy ra ở miền Nam Việt Nam trước đây, và phản bác những định kiến sai lầm về vai trò, cũng như sức chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà.

Trong thập niên 1960, trên báo chí Mỹ, chẳng hạn như tờ Newsweek, đã có những tin tức, những bài báo với hàng tít: “Kẻ địch như hổ, còn chúng ta chỉ là những chú thỏ đế”. Dưới mắt những nhà báo có lối nhìn thiên lệch này, những “con hổ” được dùng để chỉ quân Cộng Sản, còn Hoa Kỳ và phía Việt Nam Cộng hoà bị ám chỉ là “những chú thỏ đế” một biểu tượng của sự hèn nhát. Sự thật thế nào, ông Bùi Diễm cho biết:

Đại sứ Bùi Diễm:“Trên thực tế, những “con thỏ” đó đã chiến đấu rất dũng mãnh. Trong số các diễn giả tham dự hội thảo này, có những người đã từng chiến đấu hồi Tết Mậu Thân ở Huế, trong đợt phản công hồi “Mùa hè Đỏ lửa” năm 1972 để giải vây An Lộc và tái chiếm Quảng Trị.

Những nhân chứng từng tận mắt chứng kiến những gì đã diễn ra sẽ chứng thực sự dũng cảm và kể về những chiến công của Quân lực Việt Nam Cộng hoà trong muôn vàn khó khăn. Dựa vào những kinh nghiệm mà họ đã từng trải qua trong cuộc chiến sôi động lúc đó. Các nhân vật này sẽ trình bày với chúng ta về sự thật đích thực”.

Trong khi báo giới Mỹ ca ngợi sự dũng cảm của quân nhân Hoa kỳ ở Khe Sanh thì những chiến công của quân đội Việt Nam Cộng Hoà trên chiến trường An Lộc, Quảng Trị hay trước đó là trong trận phản công hồi Tết Mậu Thân lại không được báo giới Mỹ nhắc đến. Tuy nhiên có những sự thật không ai có thể chối bỏ.


Thảm sát tại Huế năm 1968 vào Tết Mậu Thân của cộng sản VN. Courtesy NgoTheLinh (VN special forces website)

Cuộc thảm sát ở Huế: bằng chứng cụ thể

Năm 1968, Việt cộng mở một cuộc Tổng tấn công ở hầu hết các thành phố khắp Miền Nam như: Saigon, Huế, Đà Nẵng, Biên Hoà, Ban Mê Thuột,...

Trong các trận đánh ấy, cuộc thảm sát ở Huế là sự kinh hoàng khó quên đối với dân chúng. Đại tá Trần Minh Công thuộc Lực lượng Cảnh sát Quốc gia Nam Việt Nam, cho biết, có khoảng 5,200 người vô tội, hầu hết là thường dân, trong đó có cả những nhà truyền giáo và giáo sư ngoại quốc được Viện Đại học Huế thỉnh giảng đã bị Việt cộng giết hoặc chôn sống.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người từng đảm trách chức vụ Giám đốc Phòng Thông tin, Đại sứ quán Việt Nam tại Washington trong thời gian này nhận định, một trong những lý do khiến cuộc tấn công của Việt cộng vào Huế trở thành đẩm máu và kinh hoàng nhất là vì:

Nguyễn Ngọc Bích: “Nếu như cuộc tiến công hồi Mậu Thân vào Saigon là sự kết hợp của lực lượng quân giải phóng ở miền Nam dưới sự chỉ huy của Trần Văn Trà, Võ Văn Kiệt và Trần Bạch Đằng, cộng với các đơn vị chính quy miền Bắc do Lê Đức Anh và Mai Chí Thọ lãnh đạo thì lực lượng tấn công Huế chỉ có quân chính quy Bắc Việt và kết quả của mặt trận Huế sẽ mang lại uy danh cho lực lượng này. Đây chính là điểm quan trọng nhất để quy trách nhiệm đối với những kẻ đã gây nên các cuộc thảm sát ở Huế năm 1968”.

Cuộc tấn công Tết Mậu Thân còn cho thấy, Bắc Việt đã có sự thay đổi về chiến lược, từ chiến tranh du kích sang chiến tranh chính quy. Cựu Đại tá Cảnh sát Trần Minh Công cho biết:

Trần Minh Công: “Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, quân Cộng Sản đã bất ngờ tấn công miền Nam nhưng đã bị quân đội Việt Nam Cộng Hoà và lực lượng Cảnh sát kết hợp phản công tức thời. Vì thế âm mưu của Bắc Việt đã thất bại nhanh chóng. Kết quả là tổn thất về phía lực lượng Cộng Sản ở miền Nam rất cao và sau thất bại này, hầu hết các cơ sở nội thành và các chi bộ cộng sản được xây dựng từ lâu đã bị lực lượng Cảnh sát phá vỡ.

Hai năm sau cuộc tấn công hồi Tết Mậu Thân, Cộng Sản Việt Nam không thể tập hợp lực lượng để mở một trận đánh lớn nào vào quân đội Việt Nam Cộng hoà cho đến mùa hè 1972”.

Sức mạnh thực sự của QĐVNCH tại An Lộc và Quảng Trị

Sang năm 1972, Bắc Việt nghĩ rằng có thể sẽ giành được những chiến thắng quyết định trên chiến trường. Với chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, lúc này, Quân lực Việt Nam Cộng hoà, có sự yểm trợ hoả lực của Mỹ tự lực chiến đấu với quân đội Bắc Việt được Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ, trợ giúp súng đạn tối tân.

Đầu tháng Tư năm 1972, Cộng Sản Bắc Việt mở một trận đánh lớn vào An Lộc, một thị trấn nằm trên quốc lộ 13, nối liền Saigon với vùng biên giới Campuchia thuộc tỉnh Bình Long, với âm mưu biến khu vực này thành bàn đạp, tiến chiếm Saigon. Bắc Việt đã huy động một lực lượng hùng hậu, quân số gấp bốn lần quân trú phòng, tấn công mãnh liệt với sự yểm trợ của xe tăng và đại pháo.

Sau 7 đợt tấn công, kéo dài gần hai tháng, mất hàng chục ngàn quân, chưa kể hàng chục ngàn lính bị thương, cuối tháng 5 năm 1972, Bắc Việt phải tháo lui.

Trong mùa hè năm 1972, người miền Nam quen gọi là “Mùa hè đỏ lửa”, Bắc Việt xua quân tràn qua biên giới Việt – Lào và khu phi quân sự ở vĩ tuyến 17 chia cắt hai miền, để tấn công Quảng Trị-Huế. Sư đoàn 3 Quân đội Việt Nam Cộng Hoà thoái lui và tan rã trước sức tấn công của 5 sư đoàn quân miền Bắc và nhiều trung đoàn xe tăng, phòng không, đại pháo, hoả tiễn đủ loại. Đến tháng 5 năm 1972 thì quân Bắc Việt chiếm được toàn bộ Quảng Trị.

Giữa tháng 6, Quân lực Việt Nam Cộng hòa khởi sự phản công. Đầu tháng 7 năm 1972, Quân lực Việt Nam Cộng hòa phản công để tái chiếm Quảng Trị- Đông Hà.


Tái chiếm thành Quảng Trị. Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh

Cuộc chiến 81 ngày giành lại thị xã và thành cổ Quảng Trị trở thành trận đánh ác liệt nhất trong “Mùa hè đỏ lửa”. Hai sư đoàn dũng mãnh nhất của quân đội Việt Nam Cộng Hoà là Nhảy dù và thuỷ quân lục chiến làm lực lượng tấn công chính.

Một Đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 5 Nhảy dù Việt Nam Cộng hoà từng tham chiến tại Quảng Trị thuật trận đánh Cổ Thành đầu tiên, nổi bật tinh thần chiến đấu của đoàn quân Mũ đỏ. Ông thuật lại: tiểu đoàn của ông đi vòng lên hướng đông bắc (xử dụng lối đánh vào ban đêm), bí mật nhổ hết chốt địch dọc đường, bất ngờ đánh vào làng Tri Bưu, và áp sát cửa Tả của cổ thành sau 18 ngày tấn kích liên tục qua những biển chốt phòng thủ của quân Bắc Việt. Ông nói tiếp lúc quân Việt Nam tràn qua bức tường thành:

“Trái bom tinh khôn gây một tiếng nổ bất ngờ, rung chuyển mặt đất, khoét một lỗ có đường kính khoảng 2m trên bức tường thành, đất đá ào ào đổ xuống hào nước rộng 20 mét cho quân tấn công chạy qua, trông như một phép lạ. Đại đội 51 tràn qua lỗ hổng đó vào bên trong… Tiếng súng M-16, M-60, M-79 vang động rõ mồn một. Đại đội 52 lập tức xông vào tiếp. Binh sĩ đại đội 51 đang ruợt bắn địch quân trên tường thành. Mọi thứ diễn ra y như kế hoạch đã định. Máy bay A 37 đánh hai trái bom rất chính xác, ngay cột cờ. Nhưng chiếc Phantom sau lại đánh theo màn khói bom trước đã trúng mục tiêu vừa bị gió tạt ngang đầu quân bạn, gây tổn thất nặng nề cho hai đại đội nhảy dù đang xung phong, làm tiêu tan sức chiến đấu...

Cuối cùng các chiến sĩ mũ xanh thủy quân lục chiến của quân đội Việt Nam Cộng hoà đã làm nên lịch sử. Họ đã dựng lại lá cờ vàng của miền Nam Việt Nam trên cổ thành vốn đã đẫm máu của vô số chiến sĩ đã hy sinh vì chính nghiã tự do và dân chủ cho quê hương của họ.”

Đó là lời của một cựu sĩ quan, thuộc Tiểu đoàn 5 Nhảy dù, một đơn vị tham gia chiến dịch phản công ở Quảng Trị.

Tất cả những chiến công đó là một phần của lịch sử mà không ai có thể xóa bỏ bởi nó đã được xây dựng bằng xương máu của những người lính Việt Nam Cộng hoà, trong hoàn cảnh hết sức cam go, cả trong lúc có sự tham dự trực tiếp của lực lượng Hoa Kỳ, lẫn khi không còn lực lượng này hỗ trợ.

Tuy nhiên, sang năm 1973, tình hình chiến trường Việt Nam có nhiều thay đổi bất lợi cho phía Việt Nam Cộng hoà. Việt Hà sẽ gởi đến quý thính giả những diễn biến từ năm 1973 đến năm 1975 trên mặt trận quân sự và ngoại giao. Mời quý vị theo dõi trong buổi phát thanh tới.

Quỳnh Như tường trình từ Hoa Thịnh Đốn.

*********************************************

BƯỚC ĐẦU TRẢ LẠI DANH DỰ CHO VIỆT NAM CỘNG HÒA


Toàn cảnh buổi hội thảo Việt Nam-35 Năm Nhìn Lại. (Hình: Hà Giang)

Bước đầu trả lại danh dự cho Việt Nam Cộng Hòa

Hội Thảo "Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại" tại Washington D.C: 'Theo thời gian, sự thật lịch sử sẽ được phơi bày'
Source: Người Việt Online

Hà Giang/Người Việt (từ Washington D.C.)

WASHINGTON D.C. – Sáng sớm ngày 9 tháng Tư, gần 200 người, trang phục chỉnh tề, tụ tập tại phòng họp lớn của Câu Lạc Bộ Hải Quân Hoa Kỳ, tọa lạc trên đường 17th Street Northwest, ngay trung tâm thủ đô.

Họ là những người Mỹ gốc Việt, sử gia, học giả, chính trị gia, giáo sư các trường quân sự, cựu quân nhân và sĩ quan các cấp, cựu đại sứ, cố vấn, của hai quốc gia Hoa Kỳ, và Việt Nam trước đây (VNCH).

Họ đến từ nhiều nơi, từ California, Canada, Florida, Texas… để tham dự cuộc hội thảo có tên: “Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại” (“Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference”).

Họ đến để cùng nghe, cùng tìm hiểu và cùng nói lên sự thật về “Chiến Tranh Việt Nam,” cuộc chiến đã gây không biết bao nhiêu tranh cãi, và ngộ nhận trong suốt 35 năm qua.

Những ngộ nhận và những sự thật về cuộc chiến này là gì? Lý do nào thực sự khiến Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh Hoa Kỳ thua trận?

Mở đầu buổi hội thảo, cựu đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, ông Bùi Diễm, nói: “Người thắng trận có quyền viết lịch sử theo ý họ, nhưng qua một thời gian thật lâu, thì lịch sử thật sự sẽ được phơi bày.”

“Thời gian thật lâu,” là bao lâu? Ba mươi lăm năm có thể được xem là “đủ lâu?”


Cựu Đại Sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ trong cuộc hội thảo Việt Nam – 35 Năm Nhìn Lại: “Người thắng trận có quyền viết lịch sử theo ý họ, nhưng qua một thời gian thật lâu, thì lịch sử thật sự sẽ được phơi bầy.” (Hình: Hà Giang)

Tiến sĩ Stephen Randolph, cựu đại tá không quan Hoa Kỳ, hiện là phó khoa của Đại Học Không Quân Quốc Gia, tác giả cuốn sách có tên: “Powerful and Brutal Weapons: Nixon, Kissinger, and the Easter Offensive,” do Havard University Press xuất bản, cả quyết: “Năm 1972, trong một cuộc gặp gỡ tại Tòa Bạch Ốc, Henry Kissinger báo cho tổng thống Johnson biết là tình báo Hoa Kỳ khám phá rất nhiều xe vận tải chứa vũ khí tối tân tại miền Bắc Việt Nam, tiêu hủy những chiếc vận tải này là việc rất dễ, nhưng nếu chậm trễ để cho chỉ một chiếc xe vận tải này lọt vào Việt Nam thôi, thì Nam Việt Nam sẽ khốn đốn.”

Cũng theo lời tiến sĩ Stephen Randolph, thì Henry Kissinger nói rằng tổng thống Johnson lúc đó “băn khoăn, đi ra đi vào mãi” mà không quyết định được, lý do là vì Hoa Kỳ sắp hội thảo với Bắc Kinh trong vòng mười ngày nữa.

Cuối cùng, Tổng Thống Johson quyết định làm lơ với tin tình báo này.

“Tổng thống (Johnson) sợ là phá hủy vũ khí của Bắc Việt sẽ ảnh hưởng không tốt đến tương quan với Bắc Kinh.”

Tiến sĩ Stephen Randolph kết luận, rằng Việt Nam và Hoa Kỳ thua cuộc “là vì lý do chính sách,” và vì Hoa Kỳ lúc đó “has bigger fish to fry” (đang câu con cá lớn hơn).

Ngậm ngùi, ông nói: “Đây là nhận thức mà tôi biết rằng sẽ ám ảnh tôi cho đến suốt cuộc đời.”

Ngoài một vài tiếng thở dài, cả phòng họp dường như yên lặng sau lời tâm sự của ông.

Cuộc hội thảo hoàn toàn bằng Anh ngữ cũng đã dẫn cử tọa đi ngược thời gian, chứng kiến những trận đánh quan trọng của chiến tranh Việt Nam, qua lời kể của những nhân chứng sống, cũng như những tài liệu tham khảo, trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, trận chiến An Lộc, kỳ công tái chiếm cổ thành Quảng Trị.

Bằng giọng kể vừa linh hoạt vừa đầy xúc cảm, Trung Tá (Lieutenant Colonel) biệt cách dù Nguyễn Văn Lân, lãnh đạo của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù vẽ lên một cách sống động trận chiến An Lộc, mà tiến sĩ Jim Willbanks cho là “trận đánh quan trọng nhất trong chiến tranh Việt Nam.”

“Thời điểm 1972, Bắc Việt rất tin là họ sẽ chiếm được miền Nam, vì chính sách “Việt Nam Hóa” chiến tranh của Hoa Kỳ đã cho Bắc Việt nhiều lợi thế, cả về quân sự lẫn chính trị.”

“Binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã phải đơn phương chống cự với một đạo quân đông gấp bội, và hỏa lực ngày càng hùng hậu và tối tân do Nga và Tàu cung cấp.”

Trung Tá Nguyễn Văn Lân nói.

“Thế nhưng, lòng quả cảm của quân đội VNCH đã khiến chúng ta đẩy lui được quân Bắc Việt, dù phải chịu thiệt hại nặng nề.”

Chỉ lên tấm hình một nghĩa trang ngút ngàn thập tự giá, Trung Tá Nguyễn Văn Lân chia sẻ: “Không gì đau lòng hơn cảnh nhìn các binh sĩ của mình tìm cách chôn cất đồng đội, trong khi chính bản thân họ cũng đang cận kề cái chết.”

Rồi ông đọc một câu thơ do một phụ nữ trong vùng làm tặng các chiến sĩ bỏ mình vì thương cảm trước hoàn cảnh bi đát của họ:

“An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt Kích Dù… vị quốc vong thân…”

Cử tọa xúc động khi ông nghẹn lời, run giọng, không đọc rõ nổi bốn chữ “Vị Quốc Vong Thân.”

“Đã đến lúc phải trả lại sự thật cho lịch sử. Chúng ta phải cho các thế hệ con cháu biết là cha ông chúng đã anh dũng hy sinh để bảo vệ đất nước, để họ không bao giờ phải hỏi tại sao chúng ta đã thua trận. Chúng ta không thể để cho những người đã nằm xuống phải tức tưởi.”

Ông kết luận.

Nếu lòng quả cảm, ý chí bảo vệ bờ cõi đến giọt máu cuối cùng, và sự hy sinh anh dũng của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, bên cạnh đồng minh Hoa Kỳ được làm sáng tỏ, thì mặt khác, cử tọa cũng được các diễn giả cho thấy rõ quyết tâm tiến chiếm Miền Nam của quân đội miền Bắc, bên cạnh sự hỗ trợ ngày càng cao của hai nước Nga Sô và Trung Quốc.

Giáo sư kiêm học giả Nguyễn Ngọc Bích trình bày cuộc thảm sát, rằng Bắc Việt “chối bỏ cáo buộc là chính họ ra lệnh cho cuộc tổng tấn công và thảm sát,” và “đổ tội cho những hành động riêng lẻ của cấp dưới.”

Ông cũng nói đến vai trò của giới truyền thông trong việc tạo nên những ngộ nhận về cuộc chiến, qua biến cố Mậu Thân, “cuối cùng dẫn đến quyết định bỏ rơi Việt Nam của Tổng Thống Johnson.”

Trong một buổi hội thảo có mặt của biết bao nhân vật có tầm cỡ của cả hai chính quyền, sự có mặt và phần trình bày của thứ trưởng John Negroponte được nhiều người chú ý nhất, và ông cũng là người được nhiều người và các cơ quan truyền thông đặt câu hỏi “hóc búa” nhất.

Trả lời câu hỏi của phóng viên nhật báo Người Việt, rằng ông nghĩ gì về nhận định cho rằng việc Mỹ bỏ rơi đồng minh đã dẫn đến việc thua trận của họ và miền Nam Việt Nam, ông trả lời: “Hoa Kỳ đã hỗ trợ Việt Nam từ năm 1950 cho đến năm 1975, khi đã hỗ trợ nhau một thời gian dài như thế thì không thể gọi là bỏ rơi được. Chỉ là vấn đề lúc đó Tổng Thống Johnson đã quá kiệt sức, không “deal” nổi với cuộc chiến đó nữa.”

“Nên nhớ là sau đó Johnson quyết định không tái ứng cử nữa. Ông đã quá mệt mỏi!”

Cuộc hội thảo có sự góp mặt của một danh sách hùng hậu nhiều diễn giả có tầm vóc, và các nhân chứng sống của cuộc chiến như: Sử Gia Dale Andrade (Trung Tâm Lịch Sử Quân Đội Hoa Kỳ, người đã viết ba cuốn sách về cuộc chiến Việt Nam: “Ashes to Ashes: The Phoenix Program and the Vietnam War”, “Spies and Commandos: How America Lost the Secret War in North Vietnam”, and “America’s Last Vietname Battle: Halting Hanoi’s 1972 Easter Offensive”), Tiến sĩ John Carland (Trung Tâm Lịch Sử Quân Đội Hoa Kỳ, và là một chuyên gia nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam), ông Hoàng Đức Nhã (cựu Bộ trưởng bộ Thông Tin VNCH), Đại Tá Cảnh Sát Trần Minh Công, Đại Tá Hoàng Ngọc Lung…

Nhiều người tham dự ra về trong tiếc rẻ, vì khó có thể tóm tắt quá nhiều sự kiện quan trọng của một cuộc chiến đã làm thay đổi bàn cờ thế giới trong vòng một ngày, nhưng ai cũng đồng ý, đây là bước đầu trong việc trả sự thật cho lịch sử, và danh dự cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh, cũng như ghi ơn những người đã nằm xuống.

(Người Việt sẽ lần lượt giới thiệu chi tiết nội dung hội thảo trong các số báo tới).

***************************************

QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA SAU HIỆP ĐỊNH PARIS


Buổi hội thảo "35 năm nhìn lại: Trả lại sự thật cho lịch sử" diễn ra vào ngày 9 tháng 4, tại câu lạc bộ quân đội và hải quân ở Washington DC - RFA photo.

Việt Hà, phóng viên RFA - 2010-04-12

Ngoài những thắng lợi mà quân lực Việt nam cộng hòa đã đạt được trước khi Hiệp định Paris được ký kết, Việt Hà gửi đến những diễn biến sau Hiệp định Paris.



Mỹ cắt giảm viện trợ

Bắt đầu từ năm 1972, chiến trường Việt nam có nhiều thay đổi gây bất lợi cho phía Việt nam cộng hòa. Đó là những thay đổi cả về mặt ngoại giao lẫn quân sự.

Cựu đại sứ Bùi Diễm của Việt Nam cộng hòa tại Mỹ và là thành viên của đoàn đàm phán tại hòa đàm Paris nói về bối cảnh từ năm 1973 đến 1975 như sau: Một mặt, chúng ta thấy Hà Nội kiên quyết đi theo kế hoạch của họ để tấn công miền Nam mà không đếm xỉa gì đến hiệp định Paris. Họ nhận được viện trợ khổng lồ từ Liên xô và Trung Cộng. Còn Sài gòn ở thế thủ, không biết chính xác là mình có thể trông chờ gì ở viện trợ nước ngoài.

Hoa kỳ thì đã mệt mỏi về cuộc chiến và tê liệt vì vụ Watergate. Vì thế nước Mỹ tìm cách thoát khỏi sự rối rắm tại đông nam Á, lờ đi sự hy sinh của hơn 58,000 người Mỹ đã chết tại Việt Nam.

Lúc này, đại sứ Bùi Diễm phải thực hiện một sứ mệnh khác mà tổng thống Thiệu giao là sửa đổi một phần bản thảo hiệp định Paris, vốn có nội dung bất lợi cho Việt nam cộng hòa. Đó là sự có mặt của quân đội miền Bắc trên lãnh thổ miền Nam. Tổng thống Thiệu nói điều này với ông dù biết là đã quá muộn. Chưa kể vấn đề viện trợ của Mỹ cho Việt nam cộng hòa cũng trở thành vấn đề nóng hổi.

Đại sứ Bùi Diễm nhớ lại, lúc đó ông đi lại như con thoi giữa Washington và Sài gòn để thuyết phục người Mỹ đừng quên mục đích cuộc chiến, nhưng dường như không có ai trong hệ thống quyền lực ở Washington lúc đó muốn nói chuyện với ông, đặc biệt là về viện trợ cho Việt Nam.

Theo đại sứ Bùi Diễm, viện trợ của Mỹ cho Việt nam Cộng hoà vào năm 1973, đã giảm từ 2,1 tỷ đô la xuống còn 400 triệu đô la, giữa lúc giá nhiên liệu và hàng hóa đang tăng.

Về mặt quân sự, Bắc Việt có thêm những ưu thế so với miền Nam. Đại tá Hoàng Ngọc Lung, lúc đó là trưởng phòng hai của bộ tổng tham mưu quân lực Việt Nam cộng hòa cho biết:

Trong hòa đàm Paris, cộng sản Việt nam đã có ưu thế, trong khi hội đàm, mật đàm song phương với Hoa Kỳ nên đã biết được thỏa hiệp Paris thế nào và ngày ký kết đầu tiên dự định là 27 tháng 10 năm 1972. Đầu tháng 10 năm 1972, cộng sản Việt nam ở miền nam Việt nam bắt đầu học tập về bản thỏa thuận từ cấp huyện, vì biết trước ngày ký kết nên cộng sản đã dự trù kế hoạch chiếm đất, giành dân và lật đổ chính quyền Việt nam Cộng hòa, ngay trong ngày đầu tiên của hiệp định Paris. Tuy nhiên cộng sản đã không thành công trong chiến dịch này.

Theo ông Lung, cũng trong thời gian này, cộng sản đã mở cuộc tổng tiếp vận, vận chuyển nhiều chiến cụ mới vào miền Nam Việt nam, tu bổ và bành trướng đường mòn Hồ Chí Minh, mở thêm hành lang xâm nhập mới vào năm 1973, gọi là hành lang Trường Sơn, dài 900 cây số để vận chuyển 24 giờ mỗi ngày bằng xe. Ngoài ra Cộng sản cũng thiết trí hai hệ thống dẫn dầu vào miền Nam để tiếp liệu cho hoạt động quân sự của mình.

Tình hình thay đổi nhanh chóng

Trong khi đó, từ năm 1972, lực lượng quân sự của Việt nam cộng hòa và lực lượng đồng minh bắt đầu sụt giảm.

Ông Hoàng Ngọc Lung nói: Năm 1972, lực lượng quân sự của Việt Nam cộng hòa, của Hoa kỳ và đồng minh là 22 sư đoàn, sau hiệp định Paris chỉ còn 13 sư đoàn bộ binh Việt nam. Trong khi đó nhiệm vụ phòng thủ lãnh thổ miền nam vẫn như cũ, quân viện của Hoa kỳ bị cắt giảm tối đa.


Ông Hoàng Ngọc Lung tại buổi hội thảo ngày 9/4/2010. RFA photo

Cuối năm 1974, tương quan lực lượng ưu thế đã nghiêng về phía cộng quân, vì chi viện của Nga Xô và Trung cộng tăng gấp đôi so với năm 1972. Cộng quân hơn hẳn về chiến xa, đại bác, đạn dược, nhiên liệu, lực lượng tổng trừ bị.

Tình hình miền Nam xấu đi rất nhanh kể từ cuối năm 1974, Đại sứ Bùi Diễm nhớ lại: Khoảng cuối năm 1974, tình hình trở nên xấu đi nhanh chóng. Trên mặt trận quân sự, việc Hà nội chuẩn bị cuộc một cuộc tấn công mới đã rõ ràng. Bộ chính trị nhìn nhận việc Nixon từ chức là một dấu hiệu cho thấy Mỹ không thể quay lại và thử tấn công Phước Long vào tháng giêng, không có phản ứng nào từ phía Mỹ. Và thế là họ bắt đầu tấn công thật sự vào Ban Mê Thuột.

Sau khi Ban Mê Thuột thất thủ vào ngày 10 tháng 3 năm 1975 là việc mất các thành phố lớn khác ở miền Nam, rồi kết thúc ở Sài gòn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đại sứ Bùi Diễm đã không cầm được nước mắt khi nhớ lại biến cố lịch sử này. Ông nói: Sâu thẳm trong tim tôi, lúc đó, tôi biết rằng có một câu hỏi quan trọng không liên quan đến sự đáng tin cậy của người Mỹ cũng như khả năng của các lãnh đạo Sài gòn.

Câu hỏi quan trọng đó trong tâm trí tôi là cuộc sống của hàng triệu người Việt nam sẽ ra sao một khi quốc hội Mỹ đã quyết định như vậy. Cuộc sống của con cái họ và những đứa con của con cái họ. Đó là vấn đề chính. Nhưng trong năm 1975, đây không phải là vấn đề có thể hy vọng làm cơ quan lập pháp của Mỹ động lòng.

Tôi không thể cầm lòng mình trước sự thiếu công bằng đó. Và trong ngôi nhà nhỏ của tôi ở Washington DC, không thể cầm lòng, tôi khóc!

35 năm sau cuộc chiến Việt Nam, liệu người Mỹ đã học được những gì từ cuộc chiến này và tương lai quan hệ Việt Mỹ sẽ ra sao? Việt Hà sẽ quay lại chủ đề này trong bài kế tiếp.

1 2 3 4 5 6 7 8 9 >>