Category: Luận bàn văn chương

KHÔNG THỂ CÓ HÒA HỢP HÒA GIẢI VỚI VIỆT CỘNG NẾU NHỮNG ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT KHÔNG ĐƯỢC THỰC HIỆN

Sau đây là những điều kiện tiên quyết Cộng sản Việt Nam phải thực hiện trước khi nói chuyện hòa hợp hòa giải với các nạn nhân của chúng. Đây cũng là những điều kiện lý luận nòng cốt khi nghe bất cứ một tin tức nào về cái gọi là "sự đổi mới của chế độ cộng sản cầm quyền" hoặc "cộng sản nay không còn là cộng sản nữa".

Để chứng tỏ thiện ý và thực tâm bỏ tà theo chính, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phải:

1- Phải thú nhận những tội lỗi chúng đã gây nên cho dân tộc Việt Nam trong mấy chục năm qua từ ngày đảng cộng sản ra đời núp dưới danh nghĩa phong trào Việt Minh và đảng Lao động cho đến ngày nay. Hai tội lỗi to lớn nhất là cuộc tàn sát trong Cải cách ruộng đất và cuộc Thảm sát Mậu Thân.

2- Phải chính thức nói lời xin lỗi công khai trước thế giới và trước các gia đình nạn nhân của chúng và phải bồi thường những thiệt hại mà chúng đã gây nên cho các nạn nhân và gia đình của họ.

3- Phải trao trả lại những gì mà Cộng sản đã cướp đoạt vơ vét của nhân dân trong suốt mấy chục năm qua.

4- Phải lập tức cho trùng tu và xây dựng lại Nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

5- Phải sa thải khỏi guồng máy chính quyền tất cả những tên tội phạm đã nhúng tay vào máu của nhân dân nếu chúng không chịu đứng lên thú tội và xin lỗi các gia đình nạn nhân của chúng.

6- Ngưng ngay lập tức các hoạt động đàn áp các tôn giáo và các nhà hoạt động dân chủ. Lập tức trả tự do cho các tù nhân chính trị, các tù nhân lương tâm bị kết án vì cái gọi là "hoạt động tuyên truyền chống phá lại nhà nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam".

7- Phải chấp nhận đa nguyên, đa dảng. Đảng cộng sản phải chính thức tuyên bố từ bỏ độc quyền cai trị.

Xin hãy nhớ rằng bất cứ sự tham gia nào vào các sinh hoạt chính trị, kinh tế hoặc xã hội tại Việt Nam đặt dưới sự chỉ huy và lãnh đạo của đảng cộng sản cũng chỉ là những hình thức tay sai làm đầy tớ cho đảng cộng sản để chống lại tổ quốc và dân tộc. Chủ nghĩa cộng sản vô thần là một chủ nghĩa ngoại lai vong bản và bán nước, chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn chống lại truyền thống văn hóa và nền văn minh Việt tộc.

ÁI HỮU NINH THUẬN

MẤY VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CẤP BÁCH LIÊN QUAN ĐẾN MỐI QUAN HỆ DÂN TỘC HIỆN NAY


Gs. Po Dharma

Mấy vấn đề lý luận và thực tiển cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay
Source: Champaka

Phân tích bởi P. Gs. Po Dharma
(Viện Viễn Ðông Pháp)

Mấy vấn đề lý luận và thực tiển cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay là một đề tài do Phan Hữu Dật làm chủ biên, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia ấn hành tại Hà Nội vào năm 2001. Tác phẩm này dày 356 trang do 23 vị giáo sư-tiến sĩ Việt Nam thực hiện, trong đó có Gs. Mạc Ðường, Phan An, Phan Xuân Biên là những chuyên gia về dân tộc Chăm và thường viết về dân tộc Chăm. Trong tác phẩm này, chúng tôi chỉ chú tâm đến chương số 4 với nhan đề “Mấy vấn đề về quan hệ ở một số vùng dân tộc thiểu số.” II.- “Vùng dân tộc Chàm” (trang 200-223), một đề tài mà chúng tôi muốn đưa ra để phân tích và bình luận ở đây.



Ðứng trên bình diện khoa học mà nói, tác phẩm này chỉ là một bài nhận định về những nhân tố tác động từ bên ngoài đã đưa mối quan hệ dân tộc Kinh-Chăm thành hai đối tượng thù nghịch hiềm khích lẫn nhau.

Theo tập thể tác giả này, đối tượng thù nghịch dân tộc Kinh-Chăm phát xuất từ những âm mưu của các “thế lực thù địch” chống Nhà Nước Việt Nam, trong đó có nhóm Fulro của Huỳnh Ngọc Sắn, Trung Tâm Văn Hóa Chăm của cha G. Moussay, nhóm Thanh Niên Chí Nguyện Quốc Tế của ông Jay Scarborough, hội IOC-Champa, hội Muslim Champa, hội Liên Minh Ty Nạn Chăm ở Hoa Kỳ và một số đối tượng Chăm lưu vong. Các “thế lực thù địch” này luôn luôn nuôi dưỡng kích động tinh thần dân tộc và ý chí phục quốc Champa, chờ thời gian gây phản loạn ly khai.

Cũng trong bài này, tập thể tác giả đưa ra những nhận định về tình hình phức tạp trong sự sinh hoạt của các tôn giáo người Chăm, về ảnh hưởng nặng nề của tôn giáo đối với quan hệ giữa các dân tộc. Sau cùng, tập thể tác giả cũng không quên trình bày các tác động của Hồi Giáo Quốc Tế, của tổ chức ngoại giao nước Hồi Giáo ở Việt Nam với cộng đồng Hồi Giáo người Chăm.

Hiện tượng Fulro

Liên quan đến hiện tượng Fulro, các vị giáo sư-tiến sĩ cho rằng (tr. 213): “tổ chức Fulro trong người Chàm ở Việt Nam được nhen nhóm hình thành từ năm 1966, do tay chân của Leskossem (sic) từ Campuchea về móc nối và giao cho Huỳnh Ngọc Sắng cầm đầu (...). Trong các năm 1972-1973, Sắng và đồng bọn lén lút về lại vùng Chàm bí mật hoạt động gây dựng cơ sở (...) chuẩn bị đối phó với cách mạng khi miền nam giải phóng”. Trang 211, tác giả cũng nêu ra: “một trong những sản phẩm nguy hiểm nhất trong âm mưu của các thế lực thù địch đối với dân tộc Chàm là Fulro Chàm do chúng nặn ra và nuôi dưỡng, sử dụng”. Sau cùng, trang 213-214, tác giả còn nhấn mạnh rằng “tháng 4 năm 1975, khi quân ta tổng tiến công giải phóng miền Nam, bọn cầm đầu Fulro Chàm tự xưng là “lực lượng thứ ba đòi được đứng ra tiếp quản vùng Chàm. Nhưng do không được chấp thuận, bọn chúng đã tuyên truyền kích động (...) chia rẽ người Kinh với người Chàm, kêu gọi hạ cờ cách mạng, treo cờ Fulro (...) phát động chiến dịch “Chế Bồng Nga”, tập hợp lực lượng chống lại cách mạng (...). Trong quá trình tồn tại và hoạt động chống phá cách mạng, Fulro Chàm đã gây cho ta nhiều tổn thất (...). Ðặc biệt chúng đã gây tác hại nghiêm trọng về mặt chính trị, gây thêm hận thù (...) tác động nuôi dưỡng tư tưởng phục quốc Chăm Pa”.

Nhìn qua nội dung phần này, độc giả có cảm tưởng rằng 23 vị giáo sư-tiến sĩ không nắm vững lịch sử của tổ chức Fulro, ngay cả quá trình hoạt động Fulro sau ngày chiếm đóng Miền Nam Việt Nam vào tháng 4 năm 1975. Một thí dụ điển hình, danh xưng của một lãnh tụ Fulro tên là Les Kosem, tác giả ghi thành Leskossem. Các tác giả này cũng cho rằng Huỳnh Ngọc Sắng (tên thật Huỳnh Ngọc Sắn) lén lút về vùng Chăm vào năm 1972-1973 thì càng sai lầm thêm nữa. Vì năm 1971, Huỳnh Ngọc Sắn đã xin trở về Việt Nam để hợp tác với chính phủ Sài Gòn. Tác giả cho rằng nhóm Fulro Huỳnh Ngọc Sắn kêu gọi dân chúng hạ cờ cách mạng để treo cờ Fulro vào tháng 4 năm 1975 lại càng đi ngược lại với sự thật. Trên thực tế, nhóm Huỳnh Ngọc Sắn chỉ hạ cờ Việt Nam Cộng Hòa để treo cờ Fulro thì đúng hơn, vì lúc đó quân giải phóng chưa chiếm Phan Rang, thế thì có cờ cách mạng ở đâu mà hạ xuống.

Ai cũng biết, ngày 20 tháng 4 năm 1975 đánh dấu sự sụp đổ của Fulro, vì toàn diện thành viên trung ương của tổ chức này kể cả nhà lãnh đạo Y Bham Enuôl đều bị Khmer Ðỏ tiêu diệt. Trong khi đó, thiếu tướng Les Kosem, là nhân vật chính của Fulro-Champa chạy sang Pháp lánh nạn và từ trần vào năm 1976 tại Mã Lai. Chính vì thế, Fulro của Huỳnh Ngọc Sắn không thể dựa vào các “thế lực thù địch” của Fulro từ bên ngoài như tập thể tác giả này đã nêu ra.

Nếu có sự vùng dậy Fulro do Huỳnh Ngọc Sắn chủ trương vào ngày 8 tháng 4 năm 1975 ở khu vực Phan Rang và Phan Rí, tức là trước vài ngày của sự sụp đổ miền nam vào 29 tháng 4 năm 1975, có chăng đây chỉ là một truyền thống đấu tranh của dân tộc Champa trước sự thay đổi chủ thuyết chính trị ở Việt Nam quá bất ngờ, từ chế độ Việt Nam Cộng Hòa biến thành Chủ Nghĩa Xã Hội, mà người Chăm chẳng biết gì về đường lối chính trị của Chủ Nghĩa Xã Hội này sẽ dành cho họ những gì trong tương lai. Fulro của Huỳnh Ngọc Sắn chỉ là một sự tiếp nối trong lịch sử Champa. Vì rằng truyền thống vùng dậy này đã từng diễn ra trong quá khứ, đó là sự ra đời của phong trào Bajaraka sau ngày Ngô Ðình Diệm lên nắm chính quyền ở Sài Gòn năm 1954; sự vùng dậy của Fulro vào tháng 9 năm 1964 cũng sau ngày tướng Nguyễn Khánh lật đổ chính quyền Dương Văn Minh ở Sài Gòn. Và hiện tượng này cũng từng đã xảy trước thế kỷ 20 đó là sự vùng dậy của Katip Sumat và Ja Thak Wa vào năm 1833-1835 khi triều đình Huế xâm chiếm Champa và xóa tên vương quốc này trên bản đồ vào năm 1832; sự vùng dậy của nhân dân Champa vào năm 1693 chống lại chính quyền nhà Nguyễn xâm chiếm Panduranga để biến vương quốc này thành phủ Bình Thuận vào năm 1692.

Sau năm 1975, Fulro của Huỳnh Ngọc Sắn vẫn tiếp tục đấu tranh và sự đấu tranh này có thể phát xuất từ một nguyên nhân khác nữa. Vì sau ngày giải phóng, đồng bào Chăm cực kỳ hoang mang dao động qua các vụ bắt bớ, giam cầm, trả thù những ai làm việc cho chế độ ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn. Vụ ám sát ông Nại Hùng ở thôn Hữu Ðức và Ðàng Linh ở Hậu Sanh là một trong những thí dụ điển hình. Có chăng vì tình thế dao động này, một số người Chăm phải bỏ thôn xóm ra đi để thoát thân, hơn là họ ra đi để tiếp tay cho “thế lực thù địch” bên ngoài như tập thể tác giả này suy đoán. Hai người uy tín của cộng đồng Chăm cũng tham gia vào phong trào của Huỳnh Ngọc Sắn đó là ông Từ Công Xuân, cựu dân biểu và Thiên Thiện, xã trưởng. Nhưng hai người này cũng không phải là thành viên Fulro.

Sau ngày 20 tháng 4 năm 1975, Fulro không còn mang ý nghĩa là tổ chức của “Mặt Trận Thống Nhất Ðấu Tranh Các Dân Tộc Bị Áp Bức” mà trung ương đặt tại thủ đô Nam Vang, nhưng là ý thức hệ của một tập thể dân tộc bị áp bức thì đúng hơn. Nhận diện mình là Fulro, có nghĩa là tự xác nhận mình là người thiểu số bị áp bức. Và “ý thức hệ” này bắt đầu định hình trong tiềm thức của các dân tộc thiểu số ở miền trung Việt Nam, để rồi trở thành một thành ngữ: “Còn áp bức thì còn Fulro, hết áp bức thì hết Fulro”. Thế thì, muốn giải quyết vấn đề Fulro nhanh chóng, 23 vị giáo sư-tiến sĩ này nên đưa ra những đề nghị nhằm xóa bỏ chế độ áp bức đối với dân tộc Chăm, chấm dứt sự nghi ky và kiềm chế dân tộc Chăm mà các nghị quyết của Ðảng và Nhà Nước Việt Nam đã từng nêu ra, hơn là đi tìm phương cách kết tội dân tộc này có liên hệ với “các thế lực thù địch” từ bên ngoài, tức là Fulro, một tổ chức đã bị sụp đổ, trên phương diện pháp lý, từ tháng 4 năm 1975. Thế thì, “thế lực thù địch” của Fulro trong bài nhận định này có chăng chỉ là một câu chuyện hão huyền do tập thể tác giả này dàn dựng để có cớ hầu áp đảo và chụp mũ dân tộc Chăm?

Trung Tâm Văn Hóa Chàm

Trang 210-211, tác giả đưa ra vấn đề Trung Tâm Văn Hóa Chàm ở Phan Rang như sau: “bằng nguồn tiền tài trợ nước ngoài, chúng đã dựng lên “Trung tâm văn hóa Chàm” ở Phan Rang (...) để tuyên truyền tư tưởng dân tộc hẹp hòi, gây kỳ thị chia rẽ dân tộc, tập hợp lực lượng phục vụ ý đồ về lâu về dài là chống phá cách mạng. Trung tâm này đã đào tạo, tập hợp được nhiều trí thức (...) tham gia tích cực hoặc ủng hộ, hậu thuẫn cho Fulro. “Trung tâm văn hóa Chàm” còn là đầu mối liên lạc, cung cấp lực lượng cho tổ chức Fulro Chàm, tuyển chọn giới thiệu người của Fulro để đưa ra nước ngoài huấn luyện, chỉ đạo hoạt động của lực lượng Fulro ở vùng dân tộc Chàm”.

Ai cũng biết, Trung Tâm Văn Hóa Chàm ở Phan Rang do Cha G. Moussay thành lập vào năm 1969 chỉ có 7 người Chăm làm việc đắc lực cho trung tâm này. Trong danh sách 7 người, có ba người cộng tác viên Trung Tâm Văn Hóa Chàm trở thành cán bộ đắc lực của cách mạng sau ngày giải phóng và 4 người khác không ai là thành viên Fulro cả.

Thêm vào đó, Trung Tâm Văn Hóa Chàm của G. Moussay thu hút rất nhiều thiện cảm của đồng bào Chăm, vì trung tâm này đã giúp đỡ thật sự người Chăm nhằm phát triển văn hóa Chăm và có chương trình từ thiện dành cho con em người Chăm nghèo được may mắn tiếp tục học hành. Chuyện có thật nữa đó là Cha Moussay, nhân danh người làm từ thiện, có giúp đỡ vợ chồng Thuận Thị Trụ và Ðàng Năng Giáo là hai thành viên Fulro trong thời gian họ ở Pháp. Cha Moussay không đưa ai đi nước ngoài để làm việc cho Fulro cả. Ngược lại cha Moussay lại đưa thành viên Fulro về Việt Nam thì có, đó là cô Thuận Thị Trụ vào tháng 7 năm 1973. Sau này, cô Thuận Thị Trụ trở thành một cộng tác viên rất đắc lực của nhóm công an Ngôn Vĩnh để thực hiện tác phẩm mang tên “Fulro: tập đoàn tội phạm” do Nhà Xuất Bản Công An Nhân Dân ấn hành vào năm 1983.

Nếu kết luận rằng Trung Tâm Văn Hóa Chàm của Cha Moussay là trung tâm đào tạo, tuyên truyền ý thức hệ chia rẽ, cung cấp lực lượng cho Fulro, thì ít ra các nhà nghiên cứu này cũng phải đưa ra một bằng chứng cụ thể để minh chứng cho lý luận của mình. Nếu không, độc giả có cảm tưởng rằng đây là một loại văn chương chụp mũ, chứ không phải là lý luận theo chiều hướng khoa học.

Thanh niên chí nguyện quốc tế

Liên quan đến Thanh niên chí nguyện quốc tế, tác giả nhấn mạnh rằng: “các thế lực thù địch còn đưa người vào xây dựng cơ sở, tập hợp lực lượng trong dân tộc Chàm thông qua hoạt động văn hóa, thông qua hoạt động của tổ chức “Thanh niên chí nguyện quốc tế” để xuyên tạc, bóp méo lịch sử nhằm kích động nuôi dưỡng tư tưởng kỳ thị dân tộc, chống phá cách mạng quyết liệt sau ngày miền Nam giải phóng”. (tr. 211)

Một người duy nhất trong tổ chức thanh niên chí nguyện quốc tế có liên hệ với dân tộc Chăm đó là ông Jay Scarborough. Tiếc rằng, ông ta chỉ là một giáo viên dạy tiếng Anh và hướng dẫn thực hành tiếng Anh ở trường trung học Po Klaong mà thôi. Nếu cho rằng Jay Scarborough là người chống phá cách mạng, tại sao chính quyền Việt Nam không truy nã ông ta? Ngược lại Ðảng và Nhà Nước vẫn xem ông Jay Scarborough là một người tốt, vì chính quyền Việt Nam đã cho phép ông ta sang viếng thăm Việt Nam thường xuyên sau năm 1975 ?

Hội đoàn phản động người Chăm ở Hoa Kỳ

Hội đoàn người Chăm ở Hoa Kỳ đã trở thành một đối tượng thù địch nguy hiểm mà tập thể tác giả cũng không quên đưa ra bàn thảo: “một số đối tượng người Chàm lưu vong đã thành lập tổ chức “Văn phòng Chăm Pa quốc tế” (IOC) và hội “Muslim Chăm Pa” nhằm tập hợp cộng đồng Chàm ở nước ngoài (...) hoạt động tuyên truyền kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, phục quốc Chăm Pa trong người Chàm ở nước ngoài và tác động vào trong nước”. Trang 215, tác giả lại đưa ra thêm quan điểm “đáng chú ý (...) là “Văn phòng Chăm Pa quốc tế” (IOC), “Hội Muslim Chăm Pa” và “Liên minh người Chàm ty nạn”. Các tổ chức dù mang danh xưng khác nhau nhưng đều do những đối tượng theo chủ nghĩa dân tộc và có hận thù với cách mạng cầm đầu, như: bọn cầm đầu Fulro, những quan chức cao cấp trong bộ máy ngụy quyền Sài Gòn trước đây. Hoạt động của chúng rất là tinh vi, bên cạnh núp dưới các hình thức ái hữu, tương trợ, bảo tồn văn hóa dân tộc (...), nhiều đối tượng chống đối cực đoan trong số cầm đầu đã bộc lộ rõ ý đồ tập hợp lực lượng, nuôi dưỡng và kích động “tinh thần dân tộc”, ý chí “phục quốc Chăm Pa” trong cộng đồng người Chăm ở nước ngoài và tác động vào vùng dân tộc Chăm trong nước thông qua quan hệ dân tộc, tôn giáo, để gây ảnh hưởng, tập hợp lực lượng, chờ thời gian gây phản loạn ly khai” (tr. 203).

Ơ hải ngọai, nhất là ở Hoa Kỳ, có rất nhiều hội đoàn người Chăm, tiêu biểu nhất là Văn Phòng Champa Quốc Tế-IOC, Hội Muslim Champa, Liên Minh Người Chăm Ty Nạn, Hội Bảo Tồn Văn Hoá Champa có trụ sở ở San Jose và Hội Bảo Tồn Văn Hóa Cổ Truyền Champa tập trung một số người Chăm Ahier (tạm gọi là Bà La Môn) ở Sacramento và Modesto.

Ai cũng biết, tất cả hội đoàn Chăm này không phải là tổ chức chính trị, nhưng chỉ là hội đoàn phi chính phủ có mục tiêu duy nhất là phát triển chương trình văn hóa, ái hữu, tương thân tương trợ hay sinh hoạt tôn giáo người Chăm mà thôi. Không biết 23 vị giáo sư-tiến sĩ này dựa trên tư liệu nào để kết luận các hội đoàn này muốn vùng dậy phục hưng Champa, chờ thời gian gây phản loạn ly khai. Chỉ nhận định về một tổ chức rất là nhỏ nhoi như hội đoàn người Chăm ở Hoa Kỳ mà tập thể tác giả này không nắm vững thông tin, thế thì làm sao độc giả tin được những quan điểm khác mà tác phẩm này đưa ra.

Ðiều đáng ngạc nhiên đó là trong 5 hội đoàn này, 23 vị giáo sư-tiến sĩ chỉ tố cáo 3 hội:

- Văn Phòng Champa Quốc Tế (IOC-Champa)
- Hội Muslim Champa
- Liên Minh Người Chăm Ty Nạn
là những tổ chức làm tay sai cho các “thế lực thù địch” bên ngoài để kích động ý chí phục quốc Champa. Ðiều mà độc giả tự đặt nghi vấn ở đây, nếu 3 hội đoàn này bị xếp vào thành phần “gây phản loạn ly khai”, có chăng là vì một số thành viên của 3 hội này, vì lý do gì đó, không muốn trở về Việt Nam thăm quê hương, để rồi họ bị xếp vào thành phần là những “Chăm kiều phản động” chứ không phải “Chăm kiều yêu nước”, tức là nhóm người Chăm thường về Việt Nam thăm quê hương.

Ðiều đáng ngạc nhiên thêm nữa đó là trong số 5 hội đoàn của người Chăm lưu vong ở Hoa Kỳ, 23 vị giáo sư-tiến sĩ này không nhắc đến hai hội, đó là:

- Hội Bảo Tồn Văn Hoá Champa cũng là nhà xuất bản tập san Vijaya
- Hội Bảo Tồn Văn Hóa Cổ Truyền Champa ở Sacramento-Modesto.

Có chăng tập thể tác giả không biết sự hiện hữu của 2 hội đoàn này hay là tác giả có một ẩn ý khác muốn xếp 2 hội đoàn này vào thành phần “Chăm kiều yêu nước”, với mục tiêu để biến người Chăm lưu vong ở hải ngoại này thành hai đối tượng thù nghịch nhau: “Chăm kiều phản động” và “Chăm kiều yêu nước”. Có chăng đây chỉ là một chính sách chia để trị?

Theo tác giả, 3 hội đoàn “gây phản loạn ly khai” này đều do những đối tượng chống Cộng Sản có liên hệ với bọn cầm đầu Fulro và những quan chức ngụy quyền Sài Gòn lưu vong ở hải ngoại. Ðây là nhận định hoàn toàn sai lầm và phi khoa học. Vì rằng, sau năm 1975, ở hải ngoại chỉ còn 5 thành viên Fulro người Chăm đó là Po Dharma, Ðàng Văn Tấn, Nara Vija, Từ Công Thị Lộc và Châu Văn Tần. Trong 5 nhân vật này, không có tư liệu nào chứng minh họ đang hoạt động trong tổ chức chính trị chống Ðảng và Nhà Nước như các tập thể tác giả này đã phỏng đoán. Số còn lại, đó là các cựu công chức, sĩ quan và dân biểu của chính quyền Sài Gòn hiện đang định cư ở nước ngoài. Ða số các nhân vật này, kể cả cựu sĩ quan và cựu dân biểu Chăm, thường xuyên trở về Việt Nam thăm quê hương. Tiếc rằng, không có một dữ kiện nào để chứng minh rằng một số người không muốn về Việt Nam thăm quê huơng là những người Chăm phản động?

Cũng trong phần này, 23 vị giáo sư-tiến sĩ cho rằng người Chăm ở hải ngoại đang kích động “tinh thần dân tộc, ý chí phục quốc Chăm Pa”. Chúng tôi tin rằng hiện tượng này có thể xảy ra, nhưng đó chỉ là tư tưởng của một vài người Chăm quá khích chứ không phải là chủ trương chung của cộng đồng người Chăm lưu vong.

Ngoại trừ một số dân tộc “man rợ” đang sống trong thời kỳ ăn lông ở lổ, tất cả dân tộc vong quốc trên thế giới, dù họ là người Chăm hay dân tộc nào đi nữa, đều biết đau xót và tủi hận cho thân phận quê hương họ bị chiếm đóng hay bị xâm lược. Ðây là tâm lý chung của một tập thể nhân loại, chứ không phải tâm lý riêng tư của người Chăm. Người Việt cũng có một tâm lý tương tự nếu một ngày nào đó đất nước Việt Nam bị xâm chiếm bởi ngoại lai.

Nhưng không phải vì quá đau xót và tủi hận cho quê hương Champa vong quốc mà người Chăm ở hải ngoại đang kích động tinh thần dân tộc nhằm phục quốc Champa. Ðó là hai vấn đề khác nhau mà tập thể tác giả này không nhận diện ra được, hay không muốn phân biệt sự khác biệt giữa hai khái niệm này.

Qua các cuộc điều tra và nghiên cứu, chúng tôi tạm kết luận rằng người Chăm ở hải ngoại thường xuyên đưa vấn đề Champa vào cuộc đối thoại hàng ngày của họ. Tiếc rằng, tư tưởng phục quốc Champa là một vấn đề quá trọng đại, quá to tát và quá khổng lồ mà người Chăm ở hải ngoại không dám nghĩ đến, chứ không phải họ không muốn nghĩ đến. Một số người Chăm ở hải ngoại còn cho rằng chờ năm 3000 để rồi nói chuyện phục quốc, giải phóng quê hương. Thế thì, nhóm người Chăm nào ở hải ngoại này đang kích động tinh thần để phục quốc Champa mà 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã đưa ra?

Ða số người trí thức Chăm ở hải ngoại mà chúng tôi tiếp xúc đã nhận thức rằng dân tộc Chăm hôm nay với dân số khoảng 100.000 người chỉ là một “hạt cát bụi” đang chìm đắm nhấp nhô chờ ngày tắt thở trong một tập thể khổng lồ của 80 triệu người Việt. Trước hiện tượng này, họ tự đặt câu hỏi rằng liệu dân tộc Chăm hôm nay có đủ năng lực để thoát thân ra khỏi sức ép của ảnh hưởng ngôn ngữ, văn hóa và nền văn minh Việt Nam hay không? Họ có đủ ý chí để khỏi bị đồng hóa thành người Việt một cách tự nhiên, vì sự bành trướng văn hóa Việt Nam quá mạnh mẽ, chứ không phải vì sự ép buộc của Ðảng và Nhà Nước nữa? Trong thập niên sắp tới, họ có còn hy vọng nói được tiếng Chăm của họ, nhận diện được đâu là phong tục tập quán của họ, truyền thống văn hóa tín ngưỡng của họ, đâu là lịch sử của họ, một di sản quí báu của nền văn minh nhân loại đáng được bảo tồn và được duy trì dù trong hoàn cảnh nào đi nữa. Có chăng người Chăm vẫn còn tồn tại trong thế kỷ thứ 21 này, nhưng họ không còn biết họ là ai nữa, không còn nhận diện nguồn gốc chủng tộc và yếu tố văn hóa, lịch sử của họ nữa? Hay nói một cách khác, họ chỉ còn thể xác không hồn trong thế kỷ thứ 21 này !

Qua các cuộc tiếp xúc với một số trí thức người Chăm ở hải ngoại, họ cho rằng sự sống còn của dân tộc Chăm trong thế kỷ thứ 21 này với tư cách là một loài người có nguồn gốc riêng, tiếng nói riêng, văn hóa riêng và truyền thống riêng đã trở thành một chủ đề chính yếu mà cộng đồng người Chăm ở hải ngoại hôm nay thường bàn bạc đến, chứ không phải là vấn đề phục quốc Champa như 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã lập luận. Vì ý thức đến sự nguy cơ này, người Chăm ở hải ngoại thường kích động “tinh thần dân tộc” để bảo tồn văn hóa và nền văn minh của họ, chứ không phải kích động “tinh thần dân tộc” để khôi phục lại quốc gia hay giải phóng Champa như tập thể tác giả này đã đưa ra.

Một số trí thức Chăm còn cho rằng trong vòng 50 năm sắp đến, người Chăm không còn nói tiếng Chăm của họ nữa, không còn nhận diện đâu là tín ngưỡng truyền thống, văn hóa cổ truyền, tôn ti trật tự của xã hội của họ nữa v.v... Ðó là một vấn đề trọng đại, một thực tiễn cấp bách mà cộng đồng Chăm hôm nay đang thao thức, đang đắn đo và đang suy nghĩ. Ðiều mong ước của họ không phải là phục quốc Champa, nhưng chỉ là làm thế nào để dân tộc này còn được tồn tại trong thế kỷ thứ 21 như những dân tộc khác trên thế giới, chứ không phải tồn tại như một loài người chỉ có thể xác, tức là chỉ biết tìm kế sinh nhai, lấy văn hóa ngoại lai làm tôn chỉ, để rồi họ không còn biết nguồn gốc họ là người Chăm, có lịch sử, văn hóa và nền văn minh riêng biệt.

Lợi dụng chính sách mở

Trang 215, tác giả viết rằng : “lợi dụng chính sách mở cửa của nhà nước ta, (...) người Chàm lưu vong (...) tăng cường thâm nhập vào vùng Chàm, phổ biến là dưới hình thức thăm thân nhân, du lịch, viện trợ từ thiện, nhân đạo và đặc biệt là trên lĩnh vực nghiên cứu văn hóa và lịch sử dân tộc Chàm”.

Ðây là lối suy luận mờ ám, nhằm chụp mũ người Chăm trong nước thì đúng hơn. Tất cả người Chăm về Việt Nam đều được chính quyền địa phương cho phép và có khi còn tiếp đãi một số “Chăm kiều” này rất nồng hậu để vuốt ve, tìm hiểu tin tức. Mỗi lần có Chăm kiều về thăm Việt Nam, công an thường đến gặp họ tại nhà để bàn chuyện nhằm thu thập một số thông tin. Thế thì làm sao “Chăm kiều” về nước lọt ra khỏi mạng lưới của chính quyền Việt Nam, để làm việc phi pháp như tập thể tác giả đã đưa ra. Trước khi kết tội, ít ra các tập thể tác giả này cũng phải cho biết ai là “người Chàm lưu vong” sang Việt Nam để hoạt động chống cách mạng? Tại sao Nhà Nước không bắt họ đưa ra tòa để truy tố theo luật lệ hiện hành?

Quốc tế hóa vấn đề Champa

Trang 216, tập thể tác giả cũng nêu ra : “chúng lợi dụng danh nghĩa nghiên cứu văn hóa để móc nối lại các quan hệ cũ với người Chàm, nhằm thu thập tin tức, tác động tư tưởng, kể cả tuyên truyền gây hoài nghi, chia rẽ dân tộc, kích động tư tưởng và tâm lý hoài cổ (...). Chúng cố tình xuyên tạc lịch sử, kích động hận thù dân tộc Kinh-Chàm nhằm phục vụ ý đồ quốc tế hóa vấn đề Chàm ở Việt Nam”

Có chăng tác giả muốn ám chỉ ông Po Dharma? Tiếc rằng, ông ta là một nhà nghiên cứu trong Viện Viễn Ðông Pháp, chuyên về lịch sử và nền văn minh Champa. Chính vì thế, ông ta không cần lợi dụng danh nghĩa nghiên cứu để phổ biến văn hóa Champa như tập thể tác giả này đưa ra, nhưng là người phải có nghĩa vụ nghiên cứu và phát triển văn hóa và lịch sử Champa này trong cộng đồng khoa học thế giới. Quốc tế hóa chương trình nghiên cứu Champa là một dự án khoa học của viện nghiên cứu và đại học Pháp, chứ không phải công trình riêng tư của ông Po Dharma nữa. Có chăng, các vị giáo sư-tiến sĩ này muốn nói đến nội dung của một số tác phẩm Po Dharma chứa đựng một văn chương nhằm tác động tư tưởng, tuyên truyền gây hoài nghi, chia rẽ dân tộc Kinh-Chăm? Nếu thế, thì ít ra các vị tác giả này phải đưa ra bằng chứng cụ thể: trong tác phẩm nào và trang nào?

Các ý đồ “quốc tế hóa vấn đề Chàm ở Việt Nam” mà tập thể tác giả đã nêu ra không liên hệ gì với “người Chăm lưu vong”. Hàng loạt đại hội hay triển lãm quốc tế về Champa được tổ chức tại các quốc gia như Pháp, Ðan Mạch, Nga, Ðức, Mỹ, Gia Nã Ðại, Nhật, Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan, Kampuchia .v.v... Nhưng đó chỉ là chương trình giáo dục và nghiên cứu của các đại học hay viện nghiên cứu trong mỗi quốc gia này. Việt Nam cũng thường tổ chức đại hội và triển lãm về Champa. Ðại hội hay triển lãm quốc tế về Champa là chương trình khoa học nhằm tăng cường thêm kiến thức về lịch sử và nền văn minh của vương quốc này, chứ không phải là công trình phục quốc Champa như các vị giáo sư-tiến sĩ hiểu lầm. Trong các đại hội Champa này cũng có sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu người Kinh, như Gs. Mạc Ðường, Phan An, Phan Xuân Biên, v.v... Có chăng các giáo sư người Kinh này cũng có ý đồ “quốc tế hóa vấn đề Chàm” hay phục quốc Champa?

Trang 216 tác giả dẫn chứng: “một số đối tượng tài trợ tiền cho số ở trong nước hình thành nhóm nghiên cứu Chàm nhưng thực chất là cố tình gieo rắc tư tưởng mặc cảm, hận thù người Kinh”.

Ðây là một lối suy diễn thiếu khoa học. Vì người Chăm ở nước ngoài không có phương tiện để tài trợ cho nhóm nghiên cứu Chăm trong nước. Nếu có sự hình thành nhóm nghiên cứu Chăm ở Việt Nam do người Chăm ở hải ngoại nuôi dưỡng, thì ít ra tập thể tác giả này phải cho biết họ là ai? và làm sao nhóm nghiên cứu Chăm này lọt ra khỏi màng lưới tinh vi của công an, của Ðảng và Nhà nước.

Trang 217, tập thể tác giả đưa ra một dữ kiện khôi hài đó là: “một vấn đề cần chú ý là một số đối tượng Chàm lưu vong đang tìm cách thu thập tư liệu để chứng minh rằng nhà nước Chăm Pa mới bị diệt vong vào thế kỷ XIX, chứ không phải là thế kỷ XVII như các nhà sử học đã nêu, nhằm từng bước tạo cơ sở pháp lý phục vụ mưu đồ tìm sự ủng hộ của quốc tế trong việc phục hồi nước Chăm Pa”.

Ơ đây, các vị giáo sư-tiến sĩ này muốn ám chỉ Po Dharma là người Chăm lưu vong. Tiếc rằng, Po Dharma không đang đi tìm tư liệu này như tác giả đã nêu ra, vì ông ta đã dùng tư liệu này để chứng minh rằng Champa chỉ diệt vong vào năm 1832 trong tác phẩm của ông ta với nhan đề là Vương Quốc Panduranga Campa. Sự liên hệ chính trị với Việt Nam từ năm 1802-1835, do Viện Viễn Ðông Pháp xuất bản tại Paris vào năm 1987. Có chăng các vị giáo sư-tiến sĩ chưa đọc tác phẩm này?

Nhìn qua nội dung của phần này, độc giả có cảm giác rằng các vị giáo sư-tiến sĩ này đang khoác áo nhà khoa học để làm cán bộ của một đảng phái chính trị thì đúng hơn. Nhân danh một nhà khoa học, nếu tác giả không chấp nhận Champa bị diệt vong vào năm 1832 do Po Dharma đưa ra, thì ít ra các tác giả này phải đi tìm những dữ kiện hợp lý khác để minh chứng rằng nhà nước Champa đã bị diệt vong vào thế kỷ thứ XVII. Ơ đây, tác giả chỉ phóng đại rồi kết tội Po Dharma đang tạo cơ sở pháp lý nhằm phục hồi vương quốc Champa. Ðây không phải là văn chương khoa học nữa, nhưng là một văn chương chính trị nhằm chụp mũ và khủng bố nhà khoa học ở nước ngoài.

Huấn luyện ở nước ngoài

Trang 216, nhằm kết tội “thế lực thù địch” của người Chăm lưu vong, tác giả nhận định rằng: “chúng cũng tìm mọi cách nhằm lôi kéo người Chàm, nhất là trí thức và cán bộ Chàm ra nước ngoài dưới hình thức tài trợ cho đi đào tạo, nghiên cứu, bảo lãnh đi nước ngoài thăm quan, học tập, nhằm mục đích tiếp cận và lôi kéo”

So với hàng ngàn người Kinh sang ngoại quốc trong chương trình trao đổi văn hóa và khoa học, nhóm trí thức Chăm được may mắn đi ra nước ngoài chỉ có 12 người. Ðó là Lâm Gia Tịnh, Nguyễn Văn Tỷ, Thành Phú Bá, Ðàng Năng Quạ, Thành Công Sưởng, Thành Phần, Bá Trung Phụ, Lộ Minh Trại, Phú Văn Hẳn, Trượng Văn Tốn, Thuận Thị Trụ, Nguyễn Thị Bạch Cúc. Trong số 12 trí thức này, một người sang Thái Lan đó là Lâm Gia Tịnh. Số còn lại sang Mã Lai trong chương trình Po Dharma. Nhưng đây chỉ là chương trình của viện nghiên cứu của Pháp và Mã Lai giúp đỡ một số nhà nghiên cứu hay trí thức Chăm nhằm mở rộng kiến thức về văn hóa và văn học Chăm mà thôi. Nếu 12 người Chăm này bị Po Dharma lôi kéo để chống Ðảng và Nhà Nước, tại sao tập thể tác giả không đưa ra một minh chứng nào, trước khi kết tội hay chụp mũ họ?

Ngoài 12 nhà trí thức Chăm, Po Dharma cũng mời một số người Kinh sang Mã Lai trong chương trình nghiên cứu khoa học và văn hóa Champa, trong đó có Lưu Trần Tiêu (thứ trưởng Văn Hóa), các nhà nghiên cứu như Mạc Ðường, Phan Xuân Biên, Phan An, Hải Liên, Nguyễn Văn Lịch, Võ Công Nguyện, Trần Kỳ Phương, Trương Hiến Mai. Tại sao tác giả không đặt vấn đề gì về 9 người này, có chăng vì họ là người Kinh?

Nhóm đối lập trong nước

Trang 217, tập thể tác giả nêu ra vấn đề nhóm đối lập trong nước và cho rằng: “trước sự tác động của các thế lực thù địch bên ngoài và ảnh hưởng của nhân tố tiêu cực bên trong, ở vùng dân tộc Chàm trong nước cũng xuất hiện những đối tượng có tư tưởng, hoạt động đối lập với chế độ ta, tiếp tay cho các đối tượng bên ngoài dưới nhiều hình thức”.

Ðảng và Nhà Nước có mạng lưới công an vô cùng tinh vi so với các quốc gia ở Ðông Nam Á. Nếu có những tổ chức phá hoại này của người Chăm, thì ít ra công an phải biết và đã dùng biện pháp tiêu diệt họ đi. Có chăng các vị giáo sư-tiến sĩ này đang tạo dựng ra những hiện tượng hư ảo hầu chụp mũ kết tội những người Chăm vô tội?

Tôn giáo

Ðề cập đến tôn giáo, tập thể tác giả này đã nêu ra trong trang 219 : “đến năm 1997, tại Việt Nam có 10 đại sứ quán của các quốc gia Hồi giáo. Các cơ quan này đã có nhiều hoạt động liên hệ và chỉ đạo, hỗ trợ cho các chức sắc Hồi giáo người Chàm (...) bảo trợ, cấp học bổng cho một số thanh niên Chàm ra nước ngoài đào tạo và cho tiền xây dựng thánh đường Hồi giáo (...). Năm 1990, các thánh đường Hồi giáo ở An Giang đã nhận được của nước ngoài số tiền trị giá hơn 2.500 triệu đồng Việt Nam để phục vụ cho hoạt động tôn giáo”.

Nếu cho rằng đại sứ quán của các quốc gia Hồi Giáo ở Việt Nam cấp học bổng cho sinh viên Chăm ra nước ngoài và giúp tiền cho thánh đường Hồi Giáo ở An Giang là việc phi pháp thì ít ra Ðảng và Nhà Nước phải trục xuất họ ra khỏi Việt Nam thể theo quy luật ngoại giao hiện hành. Người Chăm có tội gì là phi pháp trong chương trình giúp đỡ này?

Trang 219, tác giả cho rằng: “một số chức sắc cầm đầu Hồi Giáo lấy danh xưng tôn giáo đẩy mạnh hoạt động móc nối với các cá nhân, tổ chức Hồi Giáo quốc tế để liên hệ xin kinh sách, tiền tài trợ”.

Ðây cũng là một nhận định ẩn ý những lời lẽ mang tính cách kỳ thị tôn giáo. Hàng triệu người Kinh theo Phật Giáo, Kitô Giáo cũng xin kinh sách và tiền tài trợ nước ngoài để phát triển tôn giáo của mình, tại sao các vị giáo sư-tiến sĩ này không đặt vấn đề?

Trang 220, tác giả còn cho rằng, Chăm Hồi Giáo còn lập ra: “tổ chức bịp bợm hợp pháp, như: “Liên minh các thánh đường Islam tại Việt Nam” để quan hệ (...) một số tổ chức đại diện ngoại giao ở Việt Nam nhằm yêu cầu can thiệp với chính phủ Việt Nam cho người Chàm tín đồ Islam được công nhận là ngoại kiều. Ðặc biệt nghiêm trọng, một số tên cầm đầu trong Hồi giáo Islam đã kích động dấy lên chiến dịch đăng ký xin “phục hồi quốc tịch Malaixia”, “xin xuất cảnh tập thể sang Malaixia”.

Hiện tượng này cũng thường xảy ra ở những nước độc tài đảng trị mà quần chúng không còn tin tưởng vào tập đoàn lãnh đạo của họ nữa. Nếu người Chăm xin xuất cảnh tập thể như các vị tác giả đã nêu ra, có chăng vì cộng đồng người Chăm Hồi Giáo không còn tự do để hành đạo của họ nữa, hay là họ không còn tin vào chính quyền Việt Nam nữa? Tại sao dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, người Chăm Hồi Giáo không bao giờ xin chạy trốn ra nước ngoài? Ðó cũng là điều đáng suy nghĩ.

Trang 220, tác giả viết rằng: “đạo Kitô (Thiên chúa và Tin lành) đang đẩy mạnh hoạt động xâm nhập, phát triển vào vùng dân tộc Chàm. Giáo hội Thiên chúa giáo chủ trương cho một số giáo sĩ học tiếng Chàm để phục vụ cho việc phát triển đạo này (...), đầu tư kinh phí tài trợ (...) để lôi kéo lớp trẻ trong người Chàm theo đạo của họ. Bằng thủ đoạn trên, trong thời gian qua họ đã lôi kéo được gần 6.000 người Chàm ( chiếm 5% dân số ) theo Thiên chúa và Tin lành”.

Theo luật pháp hiện hành ở Việt Nam, ai cũng có quyền học và nói tiếng Chăm. Một số giáo sĩ Thiên Chúa học tiếng Chăm là một vinh dự lớn cho ngôn ngữ này chứ không phải là một thái độ thù địch.

Theo tập thể tác giả, chưa đầy 20 năm sau ngày giải phóng, gần 6.000 người Chăm đã bỏ tín ngưỡng cha ông của mình để theo Công Giáo và Tin Lành. Ðây là một hiện tượng đáng suy nghĩ. Vì không thể đi sâu vào chi tiết của vấn đề quá khó khăn này, chúng tôi chỉ đặt ra hai nghi vấn ở đây. Có chăng vì quá nghèo đói dưới chế độ Chủ Nghĩa Xã Hội, một số người Chăm (chứ không phải tất cả người Chăm) phải bỏ tín ngưỡng tổ tiên của mình để theo một tín ngưỡng khác hầu tìm một ít lương thực, một vài chén cơm để sống qua ngày? Có chăng vì mọi giá trị cơ bản của tổ chức xã hội và gia đình người Chăm hoàn toàn bị sụp đổ, hoàn toàn thay đổi sang một trạng thái khác sau ngày giải phóng 1975, là nguyên nhân chính đáng đã đưa đẩy dân tộc Chăm phải bỏ đạo truyền thống của mình?

Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, không nghe ai nói người Chăm bỏ tín ngưỡng của mình đi theo đạo khác. Và hơn mười mấy năm ở Việt Nam, linh mục Moussay, cũng là nhân vật có ảnh hứởng lớn trong cộng đồng người Chăm, chưa bao giờ chinh phục được người Chăm nào theo Công Giáo của mình. Tại sao dưới chế độ Chủ Nghĩa Xã Hội, tập thể tác giả cho rằng có gần 6.000 người Chăm đã bỏ tín ngưỡng cha ông của mình để theo tôn giáo khác. Ðó mới là vấn đề cấp bách cần đặt ra.

Ý thức quan hệ dân tộc Kinh-Chăm

Trang 221-222, các vị giáo sư-tiến sĩ cho rằng : “hơn 70 năm qua (...) những mặc cảm trong mối quan hệ dân tộc, nhất là quan hệ Kinh-Chàm (...) vẫn còn tồn tại trong tâm khảm một bộ phận người Chăm. Nó tạo ra một sự nhạy cảm đặc biệt ở dân tộc này (...). Nó khuyếch đại những mâu thuẫn xích mích và cả những tai nạn rủi ro trong đời sống thường ngày trở thành vấn đề quan hệ dân tộc, vấn đề chính trị. Một số vụ bắn nhằm trong lúc đi săn hay cướp bóc làm thiệt mạng người Chăm, đều bị xuyên tạc là do người Kinh cố ý giết hại. Các vụ đào bới mồ mã để lấy tài sản, các vụ mất cổ vật hay di sản văn hóa ở các tháp Chàm (...) cũng bị xuyên tạc, kích động, cho thủ phạm là người Kinh”.

Ðây là một vấn đề thực tiễn duy nhất mà 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã nhìn thấy trong tác phẩm này. Tiếc rằng, tác giả cho đây là vấn đề khủng hoảng giữa người Chăm và người Kinh. Ðối với chúng tôi, đó là sự mâu thuẫn và nghi kỵ trong mối quan hệ giữa dân tộc Chăm và chính quyền Việt Nam thì đúng hơn.

Một khi chung sống trong một khu vực Phan Rang và Phan Rí, vừa chật hẹp vừa khô cằn sỏi đá, sự xích mích và hiểu lầm nhỏ nhoi giữa người Chăm và Việt, hai dân tộc không cùng một nền văn hóa và văn minh, là một điều không thể tránh khỏi trong qui luật xã hội. Nhưng không vì thế mà hai dân tộc Chăm-Việt lại hận thù nhau. Bằng chứng cụ thể là người Chăm và Việt vẫn sống trà trộn với nhau, có sự liên hệ mật thiết với nhau trên mặt tình cảm và cùng chung sống với nhau trong một không khí rất là bình thường. Người ta còn ghi nhận rằng là có nhiều cặp vợ chồng Chăm-Việt đã từng xãy ra và người Chăm có rất nhiều bạn bè người Việt, ăn cơm Việt, nói tiếng Việt. Một số người Chăm, nhất là giới trẻ, còn thích ăn mặc theo người Việt, nghe câu thơ lời hát bằng tiếng Việt còn hơn tiếng Chăm của họ.

Những hiện tượng mà chúng tôi vừa trình bày đã cho độc giả thấy rõ là không có sự hận thù, nghi kỵ và mâu thuẫn giữa dân tộc Chăm và dân tộc Việt như 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã mô tả. Ngược lại, môi trường chính trị sau ngày giải phóng 1975 đã tạo ra mối quan hệ vô cùng căng thẳng giữa chính sách dân tộc của Ðảng và Nhà Nước đối với người Chăm, mà chúng tôi xin tạm gọi đó là “mối quan hệ Chăm-chính quyền Việt Nam”.

Lúc ban đầu, sự khủng hoảng này chỉ thể hiện qua sự nghi kỵ và ngờ vực của người Chăm đối với chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa đến với họ quá bất ngờ, trong một thời điểm vô cùng hoang mang và sợ sệt vì sự thay ngôi đổi chúa ở miền nam vào năm 1975. Sự nghi kỵ và ngờ vực này càng khuyếch đại lên thành những mối mâu thuẫn và đối nghịch, một khi Ðảng và Nhà Nước áp dụng chính sách biến dân tộc Chăm thành một “công dân mới” của Xã Hội Chủ Nghĩa qua chương trình cải tạo, tịch thu tài sản, trưng dụng đất đai, ngăn cấm việc hành đạo, đào thải văn hóa truyền thống mà Ðảng và Nhà Nước cho đó là mê tín dị đoan, bãi bỏ biên giới đất đai thần quyền (đất đai của đền tháp chẳng hạn) .v.v... Kể từ đó, mối quan hệ giữa người Chăm và chính quyền Việt Nam trở thành hai “đối tượng thù địch”, không phải vì vấn đề chủng tộc Chăm-Việt như 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã đưa ra, mà vì một số điểm trong chủ thuyết chính trị Xã Hội Chủ Nghĩa không phù hợp với cơ cấu tổ chức cổ truyền người Chăm, nhất là không phù hợp với tâm tính người Chăm, một dân tộc đã ý thức rõ rệt rằng họ là người vong quốc, nhưng họ không bao giờ chấp nhận với bất cứ giá nào quyền thống trị của dân tộc khác trên định mệnh của mình. Ðể định nghĩa cho hiện tượng này, chúng tôi tạm gọi đó là “ý thức hệ chống áp bức” của người Chăm hơn là “ý thức hệ quốc gia” đòi quyền tự trị hay phục hưng vương quốc Champa như 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã đề cập.

Ngoài một số điểm trong chủ thuyết Xã Hội Chủ Nghĩa không phù hợp với truyền thống cơ bản người Chăm, Ðảng và Nhà Nước lại giao cho giai cấp lãnh đạo người Việt ở địa phương toàn quyền để thống trị người Chăm qua nhiều hình thức và trong nhiều mô hình khác nhau, từ hâm dọa đến nghi ngờ chụp mũ dân tộc này một các tùy tiện, dù họ là người vô tội. Các lực lượng công an và giới lãnh đạo này có quyền quyết định truy nã và bắt bớ giam cầm người Chăm trong bất cứ lúc nào khi họ cần, không phải vì người Chăm vi phạm luật pháp Việt Nam hay chống Ðảng và Nhà Nước, nhưng vì người Chăm này không chấp nhận thái độ hách dịch của họ, lối tham nhũng trắng trợn của họ hay là phương cách lợi dụng danh nghĩa của Ðảng và Nhà Nước để đàn áp người Chăm vô tội. Kể cả 23 vị giáo sư-tiến sĩ, dù họ không phải là thẩm phán quan tòa, cũng có chức năng để vu khống và chụp mũ người Chăm là nhóm nuôi dưỡng tư tưởng phục quốc Champa, kết tội dân tộc Chăm là dân tộc phản động !. Nhưng rồi, người Chăm vô tội này tìm thấy ở đâu là bóng hình của Ðảng và Nhà Nước để mà cầu cứu.

Một số trí thức người Chăm ở hải ngoại cho chúng tôi biết rằng mọi thống khổ cơ cực, mọi sự bất công và áp bức mà dân tộc Chăm đang gánh chịu sau ngày giải phóng không bao giờ được Ðảng và Nhà Nước lắng tai nghe, nghĩ đến hay biết đến. Mặc dù người Chăm đã kêu van về sự bất công, áp bức tại địa phương, từ vụ giết hại người Chăm, cướp bóc làm thiệt mạng người Chăm, vụ đào bới mồ mã người Chăm, vụ xe cán người Chăm, đến vụ một số nhà lãnh đạo địa phương vu khống và kết tội người Chăm không bằng chứng .v.v..., mà 23 vị giáo sư-tiến sĩ đã đưa ra, nhưng Ðảng và Nhà Nước chỉ biết làm ngơ, không trả lời và cũng không giải quyết.

Ðiều mà chúng tôi xin khẳng định ở đây, đó là không có tư liệu nào chứng minh rằng Ðảng và Nhà Nước ra lệnh cho 23 vị giáo sư-tiến sĩ kết tội dân tộc Chăm. Ngược lại cơ quan kiểm duyệt của Ðảng và Nhà Nước cho phép xuất bản bài nhận định của 23 vị giáo sư-tiến sĩ này. Giấy phép xuất bản đăng trong tác phẩm này là một bằng chứng cụ thể. Ðối với độc giả, nếu cơ quan kiểm duyệt của Ðảng và Nhà Nước cho phép xuất bản tác phẩm này có nghĩa là Ðảng và Nhà Nước cũng đã chấp thuận, dù là gián tiếp, quan điểm bôi nhọ người Chăm của 23 vị giáo sư-tiến sĩ là đúng sự thật, không đi ngược lại với quy luật nhân quyền và pháp lý ở Việt Nam. Sự đồng ý của cơ quan kiểm duyệt của Ðảng và Nhà Nước đã đưa độc giả đặt lại bao nghi vấn ở đây: có chăng người Chăm này chỉ là công dân ngoại lệ của đất nước Việt Nam, thành vậy bất cứ ai thuộc thành viên của Ðảng, dù họ là nhà khoa học hay người viết lách, đều có quyền kết tội, chụp mũ và bôi nhọ dân tộc Chăm theo thiển ý của mình?

Sự im lặng của luật pháp Việt Nam đối với nội dung tác phẩm này càng gây thêm sự mâu thuẫn, nghi kỵ trong mối quan hệ dân tộc Chăm-Ðảng và Nhà Nước. Nó càng khuyếch đại thêm bao sự uất ức trong tâm khảm của giới trí thức người Chăm, vì quá tủi thân và đau buồn cho số mệnh của một dân tộc vong quốc. Sự kiềm chế và áp bức qua nhiều hình thức khác nhau sau ngày giải phóng càng châm ngòi thêm sự thù hằn, mất lòng tin hay yếu tố nghi kỵ của người Chăm đối với Xã Hội Chủ Nghĩa, càng làm tăng thêm lòng nuối tiếc của dân tộc Chăm đối với chế độ Việt Nam Cộng Hòa, một chế độ dù sao đi nữa, cũng hiểu được tâm tính người Chăm, giải quyết nguyện vọng của người Chăm, luôn luôn cho người Chăm một tiếng nói thật sự trong mọi tổ chức xã hội và chính trị ở Việt Nam thời đó.

* * *

Mấy vấn đề về quan hệ ở một số vùng dân tộc thiểu số. II.- Vùng dân tộc Chàm đúng ra phải là một bài nhận định khoa học về mối quan hệ dân tộc Chăm-Kinh. Tiếc rằng, bài nhận định này trở thành một văn chương thù hằn và khiêu khích, nhằm chỉ mặt đặt tên cho dân tộc Chăm mà tác giả gọi đó là “các thế lực thù địch”. Tác giả dùng bao cụm từ vô cùng khắt khe để ám chỉ tâm tính người Chăm, ẩn chứa bao lý luận vừa thách đố vừa khinh bỉ dân tộc này, bộc lộ lối hành văn vô cùng thô bạo để phản ảnh quyền lực của dân tộc Kinh đa số.

Sau năm 1975, mọi định mệnh tương lai của dân tộc Chăm không còn trong bàn tay họ nữa. Sống trong một đất nước Việt Nam “độc lập, tự do và dân chủ”, trong một quốc gia Xã Hội Chũ Nghĩa, người Chăm chỉ là một “công dân ngoại lệ”. Mọi nguyện vọng của họ, dù đó là vấn đề chỉ liên quan đến đời sống kinh tế, giáo dục, xã hội, tôn giáo hay tinh thần, cũng bị hiểu lầm, chụp mũ hay gạt bỏ. Họ là công dân Việt Nam, nhưng họ không được luật pháp Việt Nam che chở dù họ không có tội gì, và cũng không được Ðảng và Nhà Nước đùm bọc, dù họ có than van bao nhiêu đi nữa. Nếu có một pháp lý rõ ràng ở Việt Nam về luật nhân quyền của một công dân và nếu pháp lý này cho rằng danh dự của một dân tộc hay của một cá nhân là quyền bất khả xâm phạm, chúng tôi tin rằng tác phẩm của 23 vị tiến sĩ-giáo sư không thể ra mắt với độc giả được.

Bài nhận định còn có một mục tiêu khác đó thông tin rằng dân tộc Chăm có tư tưởng cực đoan, kỳ thị dân tộc Kinh, là một trong “bốn dân tộc phản động” có sự liên hệ mật thiết với các “thế lực thù địch” bên ngoài nhằm chống Ðảng và Nhà Nước, tìm cách lật đổ chính quyền Việt Nam. Tiếc rằng đây chỉ là một lối suy diễn để kết tội một cách tùy tiện cho dân tộc Chăm, chứ không phải là quan điểm nghiêm túc hay nhận định khách quan của các nhà nghiên cứu về xã hội người Chăm nữa. Mặc dù trong ban biên tập này có một số giáo sư như Mạc Ðường, Phan An, Phan Xuân Biên, được xem như là chuyên gia về văn hóa và xã hội của dân tộc Chăm, nhưng tác phẩm này đã đưa ra bao quan điểm hoàn toàn đi ngược lại với lịch sử hiện đại của dân tộc Chăm trong buổi ban đầu của thế kỷ thứ 21 này.

Cũng nhìn qua nội dung bài nhận định, độc giả có cảm tưởng rằng tập thể tác giả đang viết một bản tuyên cáo chống người Chăm, chứ không phải là bài viết khách quan về người Chăm. Lợi dụng ngòi bút và dựa vào “thế lực khoa học”, tập thể tác giả này đánh giá tư tưởng và hành động của người Chăm một cách tùy tiện, không đi tìm nguyên nhân sâu xa để giải thích tại sao mối quan hệ giữa dân tộc Chăm và nhà nước Việt Nam trở thành hai “đối tượng thù nghịch”, và tại sao dân tộc Chăm không còn tin vào chính sách của Ðảng và Nhà Nước nữa? Tác giả đưa ra bao quan điểm sai lầm về tổ chức “người Chăm lưu vong”, coi đó là những đối tượng chống cách mạng, muốn phục quốc Champa, nhưng tác giả không đưa ra một minh chứng nào để giải thích cho lý luận của mình. Tác giả chỉ lấy hiện tượng làm bản chất, dùng bao cụm từ vừa tinh vi vừa thô bạo để chụp mũ và khủng bố người Chăm hơn là đi tìm minh chứng cụ thể để phân tích hiện tượng mất lòng tin của dân tộc Chăm đối với Ðảng và Nhà Nước.

Ðối với người Chăm, vì bị kết tội, bị vu khống và bị chụp mũ, bài nhận định này có chăng chỉ làm bùng cháy thêm lòng câm hờn của họ đối với Ðảng và Nhà Nước? Tăng cường thêm bản chất hận thù giữa hai dân tộc Kinh-Chăm? Qua phong cách hành văn thô bạo, dùng cụm từ khắt khe để kết tội người Chăm một cách phi khoa học, độc giả có cảm tưởng rằng có chăng các vị giáo sư-tiến sĩ này đang lột bỏ đi bộ áo khoa học để ôm ấp tư tưởng dân tộc lớn của người Kinh và thái độ tự cao trịch thượng của người Kinh để đánh giá tâm lý người Chăm vong quốc hôm nay. Có chăng thái độ này chỉ làm cho người Chăm càng có tư tưởng khép kín trong sự tự ti mặc cảm đối với Ðảng và Nhà Nước?

Người Chăm rất thật thà nhưng rất là nhạy cảm. Họ không bao giờ hiểu nổi tại sao Ðảng và Nhà Nước luôn luôn chủ trương đoàn kết dân tộc, nhưng ngược lại Ðảng và Nhà Nước cũng cho phép xuất bản tác phẩm này với mục tiêu để bôi nhọ và chụp mũ dân tộc Chăm vô bằng chứng. Có chăng chủ trương đoàn kết và hoà đồng dân tộc của Ðảng và Nhà Nước chỉ là một chính sách mị dân?

Bài nhận định này còn có một tác hại khác, đó là đưa độc giả người Kinh càng câm thù người Chăm thêm nữa, càng nghi nghờ người Chăm là những kẻ phản bội Ðảng và Nhà Nước đã cưu mang đùm bọc dân tộc này, là những kẻ theo “các thế lực thù địch” bên ngoài chống lại cách mạng.

Ở các nước tự do trên thế giới, dùng ngòi bút để chụp mũ hay bôi nhọ một cá nhân hay một tập thể dân tộc khác là điều cấm kỵ trong luật pháp. Không ai dám làm chuyện này. Chính vì thế, sự ra đời của tác phẩm này càng làm tăng cường thêm số lượng độc giả đứng ra bênh vực dân tộc Chăm hơn là lên án người Chăm vô tội. Và sự ra đời của tác phẩm này còn có một tác hại quan trọng khác đó là tập thể tác giả này, vì vô tình hay cố ý, tự đứng ra để mô tả lại chính sách thống trị của Ðảng và Nhà Nước đối với dân tộc thiểu số ở miền trung Việt Nam.

Dựa trên những dữ kiện mà tập thể tác giả này đã đưa ra trong tác phẩm này, chúng tôi cho rằng hiện tượng thù nghịch giữa người Chăm và Chủ Nghĩa Xã Hội đã bộc phát từ ngày giải phóng 1975. Và sự bộc phát này không phải vì người Chăm là dân tộc phản động, nhưng vì họ không hiểu một chút gì về vai trò của Ðảng và Nhà Nước trong “chính sách hòa đồng dân tộc” hay khẩu hiệu “Ðộc Lập, Tự Do và Dân Chủ” mà Xã Hội Chủ Nghĩa đã đưa ra. Một bằng chứng cụ thể đó là cùng chung sống trong đất nước Việt Nam, người Chăm có cảm tưởng rằng họ chỉ là “công nhân ngoại lệ, một nhóm tội phạm hay một khối thù địch”.

Nếu công nhận người Chăm là công dân thật sự của một nước Việt Nam dân chủ và luôn luôn được luật pháp Việt Nam che chở, chúng tôi tin rằng 23 vị giáo sư-tiến sĩ này không dám tạo dựng ra một hiện tượng hoàn toàn hư ảo để lên án dân tộc Chăm hoàn toàn vô tội, một dân tộc chỉ có 100.000 người, không nhà lãnh đạo và cũng không có một tổ chức tập thể vững chắc, đang trôi dạt nhấp nhô trên sóng bể đại dương mà người ta sẽ không còn biết họ là ai nữa trong thế kỷ thứ 21 này. Ðó mới là vấn đề thực tiễn cấp bách của người Chăm hôm nay.

PGs. Po Dharma
Viện Viễn Ðông Pháp

KHÓC ĐI EM! KHÓC ĐI EM!


Khóc đi em! Khóc đi em!

Các em còn nhiều điều đáng khóc lắm! Đừng bạ đâu khóc đấy rồi sẽ không còn nước mắt để khóc những điều cần phải khóc. Một lần nữa, nước sẽ mất, nhà sẽ tan, chừng đó mặc sức mà khóc! Các em tìm đọc "Thời Của Thánh Thần" (tác giả: Hoàng Minh Tường) hoặc đọc truyện ngắn "Chị Cả Bống" của Phạm Lưu Vũ để mặc sức mà khóc.

Việt nam không sớm thì muộn cũng sẽ là tỉnh "Quảng Nam" của Tàu cộng; chúng đã có tỉnh Quảng đông, Quảng Tây rồi. Có thể chúng sẽ cải địa danh Tây Tạng thành tỉnh "Quảng Bắc". Dân của chúng mà chúng còn tàn sát không gớm tay (Thiên An Môn, Pháp Luân Công). Các em và bạn bè, thân quyến, cùng đồng bào ruột thịt sẽ chỉ là Tàu gốc Việt làm sao chịu nổi sự thống trị tàn bạo cuả chúng! Chừng đó mặc sức mà khóc!

- Tết Mậu thân, VC giết trên 5 ngàn người ở Huế, các em có khóc không?

- Thiếu tá Ngụy Văn Thà và đại úy Nguyễn Thành Trí (hạm trưởng và hạm phó) cùng 56 thủy thủ, hạ sĩ quan và sĩ quan của chiến hạm HQ10 anh dũng hy sinh để bảo vệ Hoàng Sa - Trường Sa, các em có khóc không?

- VC trực xạ, pháo kích vào rừng người trên đại lộ kinh hoàng và liên tỉnh lộ 7B giết hàng vạn nam phụ lão ấu, các em có khóc không?

- Cha, anh, chú, bác, cậu, dượng của các em và các chiến hữu của cha, anh, chú, bác, cậu, dượng của các em bị bọn ngụy quyền Việt Cộng hành hạ, tàn sát trong các trại tù khổ sai sau 30/04/75, các em có khóc như mấy ngày hôm nay không?

- Năm 1979, khi Trung Cộng tràn vào giết dân lành trong 6 tỉnh biên giới các em có khóc không?

- Từ năm 1984-1989, Tàu cộng đánh và chiếm dãy núi đất các em có khóc không? Nhiều lần "tàu lạ" bắn giềt ngư dân Việt Nam, gây tang tóc cho hằng trăm gia đình, các em có khóc không?

- Khi "bác Hồ đang sống chuyển sang từ trần" nghĩa là khi "bác đi gặp cụ Các Mác, bác Lê Nin" các em ở Hà Nội có khóc như mưa như mấy ngày nay không? Dĩ nhiên là có vì lão Hồ-chí-Hẹ là "cha già dân tộc". Chính tên Tàu gốc "hành hẹ" này đã "đẻ" ra dân tộc Việt Nam; phải vậy không các em?

Các em ở Saigon có khóc như cầm chỉnh mà đổ khi bọn VC tràn vào Saigon không? Cao nguyên Trung phần đã bị Trung Cộng chiếm dưới danh nghĩa "khai thác các quặng bauxite" nhưng đó chỉ là diện mà thôi. Vậy điểm là gì? - chúng lập căn cứ chiến lược để khống chế và tấn chiếm 3 xứ thuộc bán đảo Đông Dương. Các em đã khóc chưa?


Trần thị Khánh

TRUYỆN DÀI: THỜI CỦA THÁNH THẦN ( Click để xem trực tiếp đầy đủ )

Click vào dưới đây để download về máy hoặc xem dưới dạng PDF
http://samesamevn2.googlepages.com/Thoicuathanhthan.pdf

Click vào dưới đây để xem bài của Phương Ngọc nguyên thủy đăng trên VIETNAMNET, nay đã bị xóa bỏ (nhớ nhấn chuột trái trên hình để phóng lớn):
http://img230.imageshack.us/img230/2686/thoicuathanhthanju8.jpg

---------------------------------------------------------------------------------------

TRUYỆN NGẮN: CHỊ CẢ BỐNG
Source: toquocvietnam.org

(Lời giới thiệu: Truyện ngắn Chị Cả Bống xuất hiện đầu tiên trên báo Người Hà Nội, số ra ngày 8/6/05. Lập tức toàn bộ số báo bị tịch thu. Ông phó tổng biên tập cho in bài "nổi loạn" này bị mất chức. Tác giả đang bị công an hù dọa liên tục. Hiện tại số báo ngày 8/6 này đang được phô tô truyền tay nhanh chóng tại Hà Nội, vượt xa cả số phát hành chính thức là 2000 tờ. Những số báo đã lỡ gởi ra trước khi có lệnh tịch thu mà các đại lý nhanh tay giấu được ngay lập tức được bán với giá gấp 10 lần ( 20.000 đồng một tờ ). Tại Sài Gòn nơi tác giả lấy bối cảnh để viết, giá lên gấp hai mươi, ba mươi lần.)


Phạm Lưu Vũ

Chiều tà, một người đàn ông phóng như ngựa phi nước đại về phía tây thành phố, nơi ấy có nhà tù với cái tên rất đẹp là "Hoà khí". Tới cổng gác, ông ta trình thẻ căn cước cho lính canh. Sau khi xem chứng minh thư, lính canh dẫn ông vào văn phòng nộp hồ sơ. Một người đứng tuổi đeo kính trắng nhận hồ sơ rồi bảo:

- Dẫn tới khu nhà chờ, đợi thẩm tra hồ sơ, ba tuần sau có kết quả.

Lính canh lại dẫn ông ta đi, khu nhà chờ gồm vài dãy nhà cấp 4 sập xệ và rêu mốc, rất đông người ở kín các gian phòng, đàn ông, đàn bà, lớn bé, già trẻ, đủ cả... Điều kiện sinh hoạt rất tồi tệ song không ai ta thán, đơn giản họ chỉ ở lại đây có vài tuần. Từ khi lập ra khu nhà chờ này không lúc nào vơi người. Ngày nào cũng có người đi lại, ngày nào cũng có người đến. Giống như người đàn ông kia, mọi người chờ thẩm tra hồ sơ, nếu đủ tiêu chuẩn sẽ được vào tù. Tiêu chuẩn đơn giản nhưng không phải không kỹ càng, chỉ những người lương thiện không dính tý lưu manh nào mới được vào tù. Tất nhiên lũ bất lương đừng hòng bén mảng tới. Chẳng ai lấy làm ngạc nhiên, ở xứ xở này, không có chuyện gì là không xảy ra kể cả những chuyện ngược đời, đơn giản mọi người không những thích đùa mà còn đùa rất dai.

5 giờ rưỡi sáng, kỹ sư Hoàng thức dậy, vợ và đứa con trai mười tuổi của anh đang ngủ say. Đứa con gái 17 tuổi của anh đêm qua không về, chị giúp việc cũng đã dậy từ lúc nào, đèn dưới bếp hắt lên mấy vệt sáng le lói qua khe cửa. Mười phút cho việc vệ sinh cá nhân, 25 phút cho việc mở các loại cửa. Như mọi nhà trong thành phố, từ lâu anh đã biến căn hộ của mình thành một pháo đài. Các cửa sổ ngoài việc lắp chấn song bằng thép dày, còn được giằng ngang ba ống thép to bằng cổ tay, chia đều từ trên xuống dưới. Cửa đi cũng bằng thép đúc, bên ngoài dán một lớp gỗ mỏng. Tính từ trong ra đến cửa, còn năm lớp cửa như thế, tất cả đều có khoá đặc biệt, mỗi cửa gồm ba chiếc khác loại nhau. Mở đến lần cửa cuối cùng thì vợ con anh cũng vừa trở dậy. Những việc chuẩn bị cho một ngày mới diễn ra đã thành nếp. Sau khi dặn dò kỹ lưỡng chị giúp việc hai vợ chồng dắt xe đi làm. Chị kiêm thêm nhiệm vụ đưa con tới trường, chiều về ghé qua chợ mua thức ăn cho ngày hôm sau. Trước khi ra cổng, anh một lần nữa kiểm tra trên người vợ con xem có đeo bất cứ loại trang sức nào không, nhắc vợ cẩn thận kẻo bị cướp... Anh lại lần lượt khoá tất cả các cửa từ trong ra ngoài, trong lúc vợ đứng giữ xe. Đứng bên ngoài thò tay qua các lỗ cửa thực hiện những thao tác của người mù, mười phút nữa cho công việc ấy, xong xuôi vợ chồng con cái chia thành hai ngả phóng xe đi.

Kỹ sư Hoàng làm việc tại một cơ quan thiết kế gần trung tâm thành phố. Mới ngoài 40 mà tóc anh đã gần như bạc trắng, thằng con trai lớn 19 tuổi đang ở trung tâm cai nghiện, đứa con gái thứ hai 17 tuổi đua đòi chúng bạn bỏ cả học đi vũ trường thâu đêm, suốt sáng. Không phải vợ chồng anh không biết dạy con mà là bất lực. Con đường đời biết bao nhiêu cạm bẫy, nó gài khắp mọi nơi, mọi chốn, gài trên mỗi bước chân. Già đời chững chạc như vợ chồng anh, ngày nào cũng phải nhắc nhau từng tí một mà vẫn ngay ngáy lo rằng không biết lúc nào, cái bẫy nào sẽ ụp xuống mình đây?

Kỹ sư Hoàng chợt lạnh người. Có tiếng còi nghe rợn tai, một cảnh sát giao thông bước quả quyết từ trên vỉa hè xuống đường vừa tuýt còi, vừa chỉ thẳng cái dùi cui vằn vện vào mặt anh, một cảnh sát khác ngồi vắt vẻo trên yên xe máy phân khối lớn sơn màu trắng. Chưa kịp hiểu mình có sai luật hay không anh vội đạp phanh, chiếc xe dừng tắp lại.

Kiểm tra giấy tờ!

Người cảnh sát vừa rút chiếc còi ra khỏi miệng vừa giơ tay lên mũ chào như một cái máy, vừa ra lệnh cho anh. Cầm giấy tờ của anh đưa cho anh cảnh sát ngồi trên chiếc xe phân khối lớn, anh cảnh sát ấy lại tiếp tục đút còi vào miệng cầm gậy trỏ xuống đường chọn bắt xe khác. Anh cảnh sát ngồi trên chiếc xe phân khối lớn, lướt qua đống giấy tờ của một anh khác. Không nói năng anh ta đưa mắt ngó lơ đi chỗ khác như thể chờ ai đến đọc giùm. Cũng như một cái máy, kỹ sư Hoàng dựng xe, móc bóp, rút ra một tờ đẹp đẽ vuông vắn có in hình lãnh tụ, bước tới chỗ anh ta.

Đến cơ quan, vừa kịp giờ làm việc, chuông điện thoại reo. Đầu dây bên kia là một thẩm phán toà án, người đang xử lý vụ kiện đòi nợ của cơ quan anh. Bằng một giọng rất lễ phép anh thẩm phán nhắc khéo anh rằng vụ kiện của cơ quan anh sẽ có thể bị đình chỉ vì phía anh chưa nộp chi phí cho việc thẩm tra. Nhân tiện anh ta nhắn rằng bữa nhậu chiều qua vì điện thoại cho anh không được mà anh ta và đám chiến hữu bên viện kiểm soát phải ký nợ nhà hàng một khoản kha khá, lúc nào anh ghé qua thanh toán giùm...

Chiều hôm đó về nhà, kỹ sư Hoàng chưa kịp mừng vì tin cô con gái đã trở về đang nằm bẹp trên gác thì đã nghe vợ mếu máo báo tin chiếc xe máy của chị bị cướp, mẹ con phải đi bộ về. Thực ra chị đã dối anh, chiếc xe máy đó chị đã buộc phải thế chấp để chuộc cô con gái từ cái động của một mụ tú bà, vì cô còn nợ mụ một khoản tiền vay mua son phấn với mức lãi 40 % một ngày. Thế coi như của đi thay người. Kỹ sư Hoàng chưa kịp phát điên lên vì giận dữ thì may quá nhà có khách. Ông trưởng khu phố và mấy cán bộ của Uỷ ban lừng lững bước vào:

- Chúng tôi đến nhắc anh về khoản đóng góp xây nhà tù - Ông trưởng khu vào đề ngay, nhân tiện báo để anh biết tháng trước có xe chở vật liệu đến đây, anh đã thuê thợ sửa nhà mà không xin phép. Uỷ ban đã nắm được việc này, nếu anh không thu xếp ngay thì sẽ bị lập biên bản thu giữ giấy tờ nhà, giấy tờ đất.

Kỹ sư Hoàng ngớ ra, quả thật tháng trước anh có thuê thợ lắp thêm một lần cổng nữa, phải xây mấy mét vuông tường, tưởng việc nhỏ, không phải xin phép, ai ngờ... Thôi đành "thu xếp" cho mấy vị trong Uỷ ban, nhưng còn khoản đóng góp xây nhà tù?

- Can phạm bây giờ nhiều quá - ông trưởng khu phố giải thích. Đấy anh xem, trong nhà gặp lưu manh, ra đường đụng kẻ cướp, đủ các kiểu ăn cướp; rồi còn lũ ăn trộm, lừa đảo cho vay nặng lãi, nhà tù nào cũng chật ních, phải xây thêm. Ngân sách không kham nổi phải áp dụng phương pháp "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Phố ta được giao chỉ tiêu góp vốn xây 500 mét vuông nhà tù, thế mà ngẫm lại vẫn chưa đủ cho số tội phạm của chính phố ta đang nằm trong đó, chưa kể số sắp phải vào tù nay mai...

Đoàn cán bộ khu phố về được một lúc thì lão Tiến cụt giò đến, đó là một lão già vô tích sự nhà kế bên. Lão bị cụt một bên giò từ hồi chiến tranh, giờ sống bằng số tiền thương tật, thỉnh thoảng con cháu dấm dúi gặp chăng hay chớ cho thêm. Suốt ngày chẳng làm trò gì, chỉ hay la cà hết nhà này đến nhà khác kiếm câu chuyện làm quà. Nhà kỹ sư Hoàng là một trong những nơi lão hay mò đến. Lão dở hơi ấy liến thoắng như thể đã tỏ tường mọi chuyện:

- Họ đến đòi tiền đóng góp xây nhà tù phải không? Anh kỹ sư này tôi nói anh xem có đúng không nhé: - Làm người lương thiện bây giờ vất vả quá, phải góp tiền xây nhà tù cho bọn bất lương ở, lại còn phải nai lưng nuôi chúng nữa, trong khi bọn lưu manh ngày càng chiếm đa số, người lương thiện ngày càng giảm đi. Biết đâu đến một lúc nào đó, những nhà tù kia mới chính là địa chỉ mà người lương thiện cần đến cho mình. Khi ấy tất nhiên bọn lưu manh tha hồ ở ngoài, vì lương thiện bây giờ đâu có nhiều nhặn gì, vừa bắt chính bọn chúng phải nai lưng ra làm đề nuôi người lương thiện, như thế có phải là công bằng không?

Kỹ sư Hoàng phì cười vì cái lý sự ấy của lão Tiến cụt, vừa lúc ấy, chuông điện thoại trong nhà đổ dồn, vợ anh nghe xong, mặt tái mét ra báo tin dữ:

- Anh tới ngay bệnh viện Chúng Sinh. Thằng Phúc con chị cả bị cướp giật té xe, chấn thương sọ não đang nằm cấp cứu trong ấy.

Chị Cả Bống là chị gái kỹ sư Hoàng ở dưới quê, anh chị có ba thằng con trai thì hai thằng lớn theo bố làm nghề xin đểu kiêm trấn lột ở bến đò Đuôi Cáo bị đâm lòi ruột, chết cả ba bố con từ năm kia. Cũng là cái số thôi. Làng khối người làm nghề ấy hoặc hao hao nghề ấy mà có sao đâu, chỉ thỉnh thoảng lại thấy đi ở tù, vài năm về còn lưu manh hơn trước. May còn lại một mình thằng út tên Phúc ngoan, hiền, học giỏi. Năm ngoái đỗ đại học lên ở ký túc xá. Nó thương cậu mợ Hoàng nghèo nên không muốn nhờ vả. Chị Cả bán hết mảnh vườn còn lại sắm cho nó cái xe máy cũ làm phương tiện đi lại. Hôm ấy đang làm cỏ ngoài đồng có người gọi về cái trạm điện thoại công cộng ở đầu làng báo tin nó bị nạn. Chị nghe nhắn lại mà muốn quỵ luôn xuống ruộng. Vội vã chạy về nhà, chị vét vội mấy bơ lạc, bơ gạo nếp cho vào mấy cái bao ruột tượng tất tả chạy ra bến đò Đuôi Cáo. Vừa mới mon men gạ bán ở các hàng quán quanh đó, bất ngờ gặp mấy anh quản lý thị trường, chị bị bắt vào trụ sở. Lạy van thế nào họ cũng không nghe, còn dẫn hết "nghị định 01" đến "thông tư 04" gì đó ra đọc sang sảng vào hai cái tai đã chỉ còn nghe thấy tiếng lùng bùng của chị. Kết quả mấy bơ lạc ấy bị tịch thu vì lý do bao bì không có nhãn hiệu hàng hoá!

Thật khốn khổ cho chị, chỉ do cuống lên vì đứa con cuối cùng còn sót lại đang gặp nạn, muốn bán tống bán tháo mấy món tài sản ít ỏi ấy cho thật nhanh để lấy tiền đi xe lên thành phố. Chứ có phải chị buôn gian bán lận gì đâu ? Còn tiền thuốc thang, nói dại, nếu nó bị nặng chị chưa biết sẽ trông vào đâu, một viên thuốc cảm bằng cái cúc áo bây giờ giá bằng ba bốn cân thóc. Giờ thì ngay đến việc lên nhìn mặt con cũng bị chặn đứng lại rồi. Không có tiền ai người ta cho chị đi xe hàng trăm cây số? Càng nghĩ chị càng quýnh quáng chân tay, cuống cuồng, đứng chôn chân một chỗ, đầu óc mụ đi, mắt ráo hoảnh, vô hồn nhìn phía trước như một bức màn sương... bỗng từ trong cái màn đục lờ ấy, một bóng trắng hiện ra quằn quại, máu bê bết hiện ra chập chờn lúc xa xa, lúc ập ngay trước mặt, gió lạnh quất gai người. Phảng phất màu tanh của máu tươi. Tai chị nghe rõ ràng tiếng kêu cứu của đứa con trai. Chị bàng hoàng nhận ra đó là tiếng rên từ địa ngục, tiếng của một âm hồn không còn ở cõi nhân gian này nữa:

- Mẹ ơi, con chết rồi. Họ đang mổ bụng con. Mẹ ơi...

Chị cả Bống hốt hoảng lao tới, giơ hai tay túm lấy bóng con, chợt cái bóng như có người giằng lấy, chập chờn quăng qua quăng lại trước mặt chị rồi mờ dần mờ dần, vẫn còn ri rỉ tiếng kêu cứu của oan hồn, rồi tất cả lịm đi. Cả tiếng kêu cứu lẫn cái bóng máu me chợt tắt ngấm bởi một tràng cười ré lên sằng sặc như của lũ ma quỷ nhưng không phải vọng lên từ địa ngục, tiếng cười ấy rõ ràng đang ở cõi nhân gian hiện hữu này...

Chị cả Bống sau này phát điên không về làng nữa, cứ lê la liếm láp ở quanh cái bến đò có cái tên rất ấn tượng là bến đò Đuôi Cáo ấy. Nhưng chị không điên ngay lúc đó, có người chứng minh là sau khi ra khỏi trụ sở ban quản lý thị trường chị vẫn còn tỉnh táo nhớ ra trong người còn sót mấy đồng tiền lẻ. Chị lần vào trạm điện thoại công cộng gọi điện báo cho cậu em trai. Đó là tất cả những gì chị làm được cho đứa con. Sau đó chị mới phát điên.

Kỹ sư Hoàng đến bệnh viện Chúng Sinh thì trời đã tối. Tìm tới phòng cấp cứu, anh hỏi thăm nạn nhân tên Phúc, cô hộ lý mặc blu trắng bảo:

- Biết ai là phúc với hoạ gì ở đây. Đi mà hỏi trực ban.

Phòng cấp cứu rộng mênh mông, đầy những giường là giường, giường nào cũng ít nhất hai người nằm trở đầu đuôi. Đủ các kiểu tai nạn, vỡ đầu, gãy chân, lòi ruột, lòi xương. Ánh đèn nê ông trắng bệch soi loang lổ những máu me bông gạc. Nồng nặc một thứ mùi vừa tanh tanh máu, vừa ngầy ngậy thuốc tây. Bóng những blu trắng đi qua lại giữa các giường như ma trơi. Làm sao nhận ra đứa cháu bây giờ ?

Kỹ sư Hoàng vội vã đến phòng trực ban. Phòng trực ban cấp cứu nằm cuối dãy hành lang đầy những kẻ nằm người ngồi vạ vật rất chi là bệ rạc. Trong phòng có mấy người cũng mặc blu trắng đang chụm đầu bàn bạc nhỏ to:

- Cái mật hôm trước bán vội quá. Ngay hôm sau có người tới trả cao hơn cả chục triệu, tiếc đứt ruột - một người nói

- Cái này đếch bán nữa, đem ngâm rượu. Hũ rượu trước hết con mẹ nó rồi. Mấy lão hen suyễn kinh niên uống vào là khỏi, để giành bán cho các lão ấy. Gớm họ vừa chi tiền vừa cám ơn rối rít ấy chứ - một người khác nói

- Thôi được rồi! Người thứ ba nói - các ông xuống làm ngay đi, thằng này căn cước ghi rõ ràng: - 19 tuổi. Đã kiểm tra, đảm bảo còn nguyên dương ( đàn ông chưa xuất tinh lần nào) chết do chấn thương sọ não vừa được mấy phút. Cái mật này mới tuyệt hảo, để quá hai tiếng có mà hỏng mẹ nó cả chì lẫn chài. Đã điện thoại cho bên công an rồi, họ bảo cứ mổ đi, có gì đừng "quên" họ là được.

Hai người kia vội vã đứng dậy lao nhanh ra khỏi phòng, vừa lúc ấy kỹ sư Hoàng bước vào:

- Bác sĩ làm ơn cho hỏi thăm nạn nhân tên Phúc, 19 tuổi, sinh viên năm thứ hai, nghe nói bị chấn thương sọ não có cấp cứu ở đây không, nằm giường số mấy? Tôi là cậu ruột cháu - kỹ sư Hoàng vừa hỏi vừa tự giới thiệu

Anh bác sĩ còn lại trong phòng thoáng một chút giật mình. Anh ta làm như nghĩ ngợi điều gì rồi ngập ngừng:

- Tên Phúc, sinh viên, 19 tuổi.. A... anh... à bác ngồi chờ cháu một lát.

Linh cảm thấy có gì nghiêm trọng xảy đến với đứa cháu, lại cứ tưởng anh bác sĩ kia vì thông cảm với nỗi đau của mình mà chưa nỡ nói ngay. Kỹ sư Hoàng vừa lo sợ vừa cảm động nhìn anh bác sĩ đang cúi gằm mặt, tay lần giở một cuốn sổ to tướng chậm rãi lần một hồi. Mồ hôi đã toát ra lấm tấm trên khuôn mặt đỏ như gà chọi, anh bác sĩ chợt ngẩng lên bảo:

- Trong sổ này không thấy có tên Phúc. Bác ngồi đây chờ cháu đi lấy sổ khác. Nhớ là đừng đi đâu đấy.

Nói xong anh ta gập sổ rồi vội vã ra khỏi phòng, không quên đóng sập cửa lại, còn một mình trong phòng, kỹ sư Hoàng lòng như lửa đốt. Bỗng chuông điện thoại reo vang, một hồi, hai hồi... chừng như người đầu dây bên kia có việc cần gọi cho bằng được. Kỹ sư Hoàng do dự giây lát rồi nhoài người với lấy cái ống nghe, định nói cho bên kia chờ lát nữa gọi lại. Vừa áp ống nghe lên tai, kỹ sư Hoàng chợt nghe ngay một giọng nói dằn từng tiếng:

- Trực ban cấp cứu phải không? Bảo với pháp y rằng cái mật lần này tuyệt đối không được bán nghe chưa! Chú Sáu bên Uỷ ban đăng ký rồi đấy.

Kỹ sư Hoàng chưa kịp hiểu mô tê ra sao thì người đầu dây bên kia đã dập máy. Sau khi định thần suy nghĩ kết hợp với mấy câu cuối nghe được loáng thoáng lúc mới bước vào phòng, kỹ sư Hoàng chợt lạnh người với một nỗi nghi ngờ. Anh với cuốn sổ lúc nãy mở ra. Ngay giữa trang cuối cùng, rõ ràng có tên nạn nhân Nguyễn Hồng Phúc, 19 tuổi, sinh viên, té xe, nhập viện lúc... giờ... ngày - người đưa đến: Phạm văn A - bạn cùng lớp. Bỗng cánh cửa sịch mở, anh bác sĩ khi nãy ùa vào. Nhìn thấy cuốn sổ trên tay kỹ sư Hoàng, anh ta thoáng một giây bối rối rồi lập tức liến thoắng:

- Cháu quên không đọc trang cuối, đúng là có...

Anh ta chưa kịp nói hết câu kỹ sư Hoàng đã ngắt lời:

- Tôi biết hết rồi, anh không phải giải thích

Rồi chẳng muốn nói gì thêm nữa, kỹ sư Hoàng ném trả cuốn sổ, hấp tấp lao nhanh ra khỏi phòng, anh bác sĩ hé cửa ngó theo, hơi lắc đầu, mỉm một nụ cười ý nhị rồi đóng cửa lại, ung dung quay vào. Chuông điện thoại lại reo, anh ta cầm lấy ống nghe:

- Dạ... dạ... à thế ạ... Báo cáo, xong xuôi cả rồi ạ. Thế thì chú nói chú Sáu chuẩn bị rượu tốt để ngâm, cháu sẽ bảo anh em mang sang ngay bây giờ ạ.

Kỹ sư Hoàng xuống đến nhà xác thì Phúc đã nằm trong ngăn lạnh. Một không khí thê lương sặc mùi tử khí. Nền nhà vương đầy những bó nhang cụt, những cục nến gãy, những mẩu giấy tiền vàng mã... làm quang cảnh nơi đây giống như vừa xảy ra một vụ cướp. Viên quản lý nhà xác nghe trình bày, quan sát anh từ đầu đến chân bằng cặp mắt âm u như cặp mắt quỷ rồi chẳng nói chẳng rằng, ông ta lừ lừ tiến đến kéo một ngăn tủ ra. Kỹ sư Hoàng lạnh toát người nhìn trân trân cái xác... "Đúng thằng Phúc rồi, chị Cả ơi, khổ thân chị quá"... Không giữ nổi bình tĩnh, anh khuỵu xuống gục đầu vào ngăn tủ. Mùi máu tanh tưởi ập vào giác quan. Anh chợt tỉnh, ngẩng phắt lên, lấy tay lật manh áo trước bụng đứa cháu... một vết mổ cẩu thả còn chưa khít miệng với mấy mũi khâu vội vàng, dúm dó:

- Các người đã mổ cháu tôi... các người đã... Tôi sẽ kiện, kỹ sư Hoàng gào lên trong nước mắt

- Híc... viên quản lý nhà xác cất tiếng, giọng cũng âm u như phát ra từ bụng gã – Tha hồ cho ông kiện, tất cả những cái chết bất đắc kỳ tử thế này đều phải mổ hết, luật pháp quy định như vậy. Hừ có mà điên mới đi kiện luật pháp. À mà tôi đã vi phạm nội quy khi cho ông xem xác, lấy gì chứng minh ông là người nhà bây giờ? Mời ông đi khỏi đây. Nói xong gã đưa tay đóng sập ngăn tủ lại

- Nhưng tôi... kỹ sư Hoàng chưng hửng... vậy còn cháu tôi?

- Trước hết phải có giấy tờ chứng minh ông là người nhà của nạn nhân đã, rồi sau đó phải làm đầy đủ thủ tục mới mong được lấy xác ra khỏi đây. Mà ông định cõng xác trên lưng mang về hay sao? Viên quản lý lạnh lùng phán.

Kỹ sư Hoàng có vẻ hiểu ra những việc cần làm, anh thất thểu bước ra khỏi nhà xác gọi điện về nhà bảo vợ chuẩn bị căn cước, sổ hộ khẩu lên phường xin giấy chứng nhận rồi tìm đến một tiệm bán quan tài. Ông chủ tiệm quan tài có tên "Nhân nghiã đường" hăng hái đón khách. Chỉ vào đống quan tài đủ các kiểu loè loẹt đang bày la liệt, bảo kỹ sư Hoàng:

- Tùy bác chọn cái nào thì chọn. Bác cho biết địa chỉ, số nhà, giờ khâm liệm... chúng tôi sẽ cho người đến lo liệu.

- Không phải liệm ở nhà mà là ở nhà xác bệnh viện chúng sinh. Kỹ sư Hoàng ngắt lời.

- Thế thì không được rồi. Ông chủ Nhân nghĩa đường lắc đầu - tôi không bán được cho bác đâu, cũng không làm gì được hết.

- Tại sao lại như thế? Kỹ sư Hoàng kinh ngạc thốt lên?

- Chắc đây là lần đầu tiên nhà bác có người chết ở bệnh viện - ông chủ Nhân nghĩa đường giải thích - bệnh viên có luật của họ, muốn lấy được xác ra phải có cửa. Quan tài mua tiệm nào do họ chỉ, khâm liệm, ma chay... tất tần tật do người của họ làm hết. Có thế họ mới ăn chứ, độc quyền mà.

- Té ra phải như vậy. Kỹ sư Hoàng cay đắng nghĩ rồi rời khỏi tiệm "Nhân nghĩa đường". Quay lại chỗ nhà xác chờ một lúc lâu thì vợ anh mang giấy tờ tới. Mấy đứa bạn học của Phúc biết tin cũng đã tìm đến, mang theo nhang hoa và trái cây. Lúc này đêm đã gần khuya, mắt đỏ hoe vợ anh mếu máo:

- Ối anh ơi, vẫn chưa thấy tăm hơi chị cả đâu, em đến nhà ông chủ tịch nói mãi ông ấy mới ký cho cái giấy chứng nhận, lại vừa đóng lệ phí, vừa bồi dưỡng hết mấy trăm. Cháu nó nằm đâu để em vào thắp nén nhang cho cháu.

Kỹ sư Hoàng dẫn vợ và đám bạn của Phúc vào, trình mớ giấy tờ cho viên quản lý.

Gã này săm soi một lát rồi lắc đầu:

- Không được, trường hợp này công an còn phải điều tra, vả lại khi nãy ông còn định kiện tụng gì nữa cơ mà? Sáng mai đến giải quyết.

- Chẳng lẽ để đứa cháu lạnh lẽo qua đêm không một chút khói nhang an ủi linh hồn? Kỹ sư Hoàng lúc này đã mụ mẫm hết tinh thần, cụt què cả ý chí, anh chỉ còn biết vớt vát như một cái máy:

- Tôi xin ông, ấy là tôi trót nhỡ mồm. Tôi không kiện tụng gì đâu. Mọi việc giao cho các ông "lo" hết. Chỉ mong sao mang cháu về nhà...

- Vậy thì về viết cam đoan đi, viên quản lý hạ giọng - nhưng cứ phải sáng mai mới giải quyết. Không có giấy của công an thì bố tôi cũng không dám giao xác cho các người.

Sáng sớm hôm sau. vừa thò mặt đến cổng nhà xác bệnh viện Chúng Sinh đã có mấy kẻ mặt mũi rất chi là khả nghi túm lấy kỹ sư Hoàng.

- Xác của bác là xác tai nạn giao thông phải không? Giá chót tám triệu, chúng em lo mọi thủ tục chiều lấy xác ra... quan tài khâm niệm 12 triệu nữa bao trọn gói - một người trong bọn bảo

- Tại sao lại phải đến chiều? Làm ngay trong sáng nay không được sao? Kỹ sư Hoàng hỏi lại

- Hì các bác này đúng là chưa "chết" lần nào. Phải đợi công an người ta hoàn tất hồ sơ chứ... một người khác giải thích - mà chúng em phải đưa bác đến làm tờ khai, chiều lấy được là còn nhanh, với điều kiện phải có bồi dưỡng... không thì cứ đợi đấy.

Đám người ấy quả là thạo việc, rốt cục chiều hôm ấy kỹ sư Hoàng cũng đưa được xác đứa cháu về nhà sau khi đã được khâm liệm cẩn thận. Vẫn không thấy bóng dáng chị cả đâu, linh tính xảy ra chuyện chẳng lành, kỹ sư Hoàng bàn với vợ cùng mấy đứa bạn của Phúc trông nom nhang khói, để anh về làng đón chị Cả lên.

Có mấy kẻ lạ mặt lảng vảng ngoài cổng nghiêng ngó hỏi thăm, mấy đứa bạn của Phúc chạy ra nghe ngóng rồi vào bảo:

- Mấy thằng cò nghĩa địa bác ạ. Nó bảo đất chôn mặt tiền lối đi là 12 triệu, phía trong tám triệu, chưa kể tiền lo giấy phép chôn và công đào huyệt lấp đất xây mộ, tùy theo to nhỏ tính riêng. Nếu túng tiền thì chôn đứng. Chôn đứng rẻ hơn một nửa, tất nhiên đất rộng chỉ bằng 1/3. Nghĩa địa bây giờ khối người phải chôn như thế, thành ra đầy những ma đứng, linh hồn đứng, đứng vĩnh hằng.

Vội vã phóng về quê, kỹ sư Hoàng hoảng hốt lạnh người khi hàng xóm bảo chị Cả Bống đã lên thành phố từ chiều hôm qua, mấy nhà khác thấy anh về đổ đến hỏi thăm. Có người chợt nhớ ra bảo:

- Sáng nay đi chợ thấy ở bến đò Đuôi Cáo có ai nhang nhác bác Cả Bống ấy. Hay là bác sang tìm thử xem.

Không kịp suy tính, kỹ sư Hoàng vội vã lao sang bến đò, tìm khắp các hàng quán hỏi thăm, ai cũng lắc đầu. Chợt anh nhìn thấy dưới bờ sông sát mép nước, một người đàn bà đầu tóc rũ rượi đang ngồi ném những nắm cát xuống dòng sông... kỹ sư Hoàng vừa nghi hoặc, vừa thận trọng tiến lại gần... "Ai như chị Cả? Anh cất tiếng gọi... một tiếng, hai tiếng... Người đàn bà chợt quay phắt lại... Đúng là chị, chị nhìn anh với đôi mắt thất thần, khuôn mặt răn reo, lem luốc cát. Bỗng chị lảo đảo lao đến, ôm chầm lấy anh, gào lên nức nở:

- Ối! Con ơi, con về với mẹ đây rồi, người ta cướp cái gì của con, con chết có đau không? Con về đây báo oán mẹ... mẹ không đến được với con... con ơi.

Cứ thế chị gào mãi, gào mãi, tiếng gào rợn cả một khúc sông. Kỹ sư Hoàng hai tay nâng khuôn mặt chị, miệng hoảng hốt nhắc đi nhắc lại:

- Em đây mà, Hoàng đây mà!

Song chị đâu có nghe, đâu có thấy, chỉ một mực gào tên con... dần dần tiếng chị khản đặc chỉ còn như tiếng thở lào phào... Người chị bỗng lả đi, từ từ khuỵ xuống. Kỹ sư Hoàng quỳ xuống theo, hai chị em ôm nhau quỳ trên bãi cát, hoàng hôn bắt đầu buông, trăng chiều rực lên đỏ thẫm. Qua màn nước mắt, anh cảm thấy tất cả không gian như chìm trong biển máu, bên tai anh chợt vọng lên văng vẳng giọng nói của lão Tiến cụt hôm trước:

- Làm người lương thiện bây giờ vất vả quá... biết đâu đến một lúc nào đó những nhà tù kia mới chính là địa chỉ mà người lương thiện cần đến cho mình.

Phạm Lưu Vũ

---------------------------------------------------------------------------

THỜI CỦA THÁNH THẦN - TIẾNG NỔ CỦA VĂN XUÔI VIỆT NAM 2008?

Source: Vietimes -VietNamNet
Thời của Thánh thần - tiếng nổ của văn xuôi Việt Nam 2008 (?)

Cuốn tiểu thuyết thoạt đầu có tựa đề “Tốt sang sông”. Cố nhà thơ Trịnh Thanh Sơn, người trước khi mắc căn bệnh ung thư vòm họng hiểm nghèo (và qua đời một năm sau đó), từng ở chung căn phòng áp mái với Hoàng Minh Tường tại Nhà sáng tác Tam Đảo, tháng 9-2006, khi biết bạn đang đánh vật với cái laptop, để đưa từng “con tốt” sang sông, liền bảo: “Ông viết trúng ý một bài thơ tôi viết cách đây mấy năm. Tôi chép lại tặng ông, nếu thích thì ông có thể lấy làm đề từ cho tác phẩm này.


Nhà văn Hoàng Minh Tường

Tốt sang sông

Anh muốn xóa tất cả đi như xóa một bàn cờ

Rồi kiên nhẫn bày lại từng con Tốt.

Tốt chưa qua hà đâu, em ơi đừng nóng ruột

Rồi tốt sẽ qua hà, rồi tốt sẽ đi ngang.

Hoàng Minh Tường tỏ ra tâm đắc với bài thơ này. Ông chọn thêm một câu trong “Vang bóng một thời” của nhà văn Nguyễn Tuân: “… Một con Tốt lọt qua sông là cái trị giá nó bằng nửa sức con Xe rồi. Ở đời không nên khinh thường cái gì. Con Tốt mà sang hà, tức là đứa tiểu nhân lúc đã đắc thế…”, để dành làm lời đề từ cho cuốn tiểu thuyết của mình.

Khi bản thảo hoàn thành, nhà văn Nguyễn Khắc Trường, tác giả Mảnh đất lắm người nhiều ma, Tổng biên tập NXB Hội Nhà văn, người sẽ ký "giấy thông hành" cho cuốn tiểu thuyết vào đời, là người đọc đầu tiên. Ông trầm ngâm một lát, rồi bảo: “Phải cân nhắc lại cái tên sách, in ở Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, với tựa đề Khi con tốt sang sông”.

Hoàng Minh Tường toát hết mồ hôi. Không thể lặp lại ý tưởng của người khác. Ông tin ở cái trí nhớ kỳ lạ của Nguyễn Khắc Trường. Nhiều cuốn sách nhiều bài báo in từ đời tám hoánh, không mấy ai đọc, mà ông nhà văn ma xó này vẫn nhớ vanh vách.

Nguyễn Khắc Trường chép chép miệng, rồi thêm: “Đặt tên cho cuốn sách, còn hơn cả tên khai sinh cho con mình, cực khó đấy. Truyện của ông lẽ ra phải đặt là “Những người khốn khổ”, hoặc “Con đường đau khổ”. Tiếc là các cụ Vichto Huygô và Alếcxan Tôlxtôi đã đặt mất rồi…”

Trường nói và mở to mắt nhìn Tường tủm tỉm, rồi hai gã nhà văn thông quê cùng cười hô hố, như tự thưởng cho mình những ý tưởng mà chỉ họ mới ngầm hiểu với nhau. Phải tìm một cái tên mới, Hoàng Minh Tường tự nhủ. Đành gác ván bài “Tốt sang sông” lại. Cũng tiếc một cái tựa đề đắc ý. Tác phẩm mô tả hành trình của những người nông dân đi theo cách mạng. Họ là những nông dân khoác áo lính. Ví như những con Tốt trên bàn cờ thế cuộc. Chỉ có tiến, không có lùi. Qua sông rồi thì được quyền vừa tiến vừa đi ngang. Cao cờ. Tốt có sức mạnh chẳng kém gì Xe, Pháo, Mã. Cao cờ nữa, Tốt có thể nhập cung bắt tuốt tuột Tướng, Sĩ, Tượng. Cuộc cách mạng tháng Tám, 1945 long trời lở đất đưa hàng triệu Tốt sang sông, trao cho mỗi con Tốt một sứ mạng Xe, Pháo, Mã. Và rồi họ đã hoàn thành cuộc cách mạng Dân tộc Dân chủ…

Sau một đêm trằn trọc, tảng sáng, tựa đề sách đã bật lên trong đầu nhà văn.“Thời của Thánh Thần”, tên tập thơ đầu tay của nhà thơ Nguyễn Kỳ Vỹ, nhân vật chính trong tác phẩm, mà nhà văn đã dày công xây dựng, xứng đáng được chọn đặt tên cho cuốn tiểu thuyết.

“Thời của Thánh Thần” viết về những biến động của một gia đình nông dân có truyền thống khoa bảng ở làng quê châu thổ sông Hồng suốt nửa sau thế kỷ XX. Bốn anh em trai, ba con đẻ, một con nuôi, sau Cách mạng tháng Tám, 1945, mỗi người đi một ngả. Người trở thành cán bộ lãnh đạo, người là nhà thơ, người phát vãng, người ở nhà cày ruộng. Đồng hành với họ là những người đàn bà, những mối tình sét đánh, éo le, oan trái… Tất cả họ, không ai thoát khỏi những biến động, những sự kiện, những bước ngoặt lớn của đất nước. Đòn xoáy khốc liệt suốt hai cuộc chiến tranh đã cuốn họ đi, nhào nặn nên tính cách và số phận của họ. Họ là những tiêu bản, những hóa thạch của lịch sử mà qua đó nhà văn giúp người đọc hồi ức quá vãng…

Nhà lý luận phê bình Vũ Nho rất có lý khi nhận xét: “Cải cách ruộng đất, Đấu tranh chống Nhân văn Giai phẩm, chống Xét lại, Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Hòa hợp dân tộc… Những vấn đề cốt lõi ấy được xem xét và đánh giá qua những số phận mấy đời chìm nổi của một gia đình. Thời gian đủ độ lùi cần thiết. Nhưng những hiểu biết của một cây bút phóng sự, tiểu thuyết có hạng, và suy ngẫm một đời viết, mới là yếu tố quyết định làm nên thành công của tác phẩm này…”

Đúng là, phải đợi tròn một hoa giáp, vào tuổi 60, nhà văn Hoàng Minh Tường mới đủ độ chín, đủ từng trải, đủ đau đớn, dằn vặt, và cả đủ lòng dũng cảm nữa, để viết một tác phẩm tổng kết đời văn của mình.

Tiếp nối những trang nhức nhối về nông thôn một thời mà các nhà văn đàn anh lớp trước đã đề cập (Vũ Bão với Sắp cưới, Ngô Ngọc Bội với Ác mộng, Tô Hoài với Ba người khác…), Thời của Thánh Thần chỉ chấm phá thêm đôi nét nhưng cũng đủ để khép lại một giai đoạn văn học vết thương về Cải cách ruộng đất, mà sau này các tác giả khác không nhất thiết phải quay lại. Và, cùng với mạch cảm xúc bi thương ấy, lần đâu tiên trong văn chương đương đại, sự kiện Nhân văn giai phẩm và cuộc đấu tranh với bè lũ Xét lại hiện đại, cũng như cuộc vượt biển di tản của gần hai triệu người, được nhà văn đề cập đến với cái nhìn điềm tĩnh và xa xót của một người có đủ độ lùi thời gian để phân tích, lý giải, đặng trả lại cho những nhân vật trong cuộc bức chân dung thật của họ.

Nhân vật Nguyễn Kỳ Vỹ có bóng dáng bao nhiêu văn nghệ sỹ, trí thức bị oan sai một thời. Nhân vật Nguyễn Kỳ Vọng là hình ảnh tột cùng đau đớn, vô cùng đáng thương của bao người ly hương, bao kẻ vong bản. Càng về cuối truyện, không chỉ những xung đột tính cách, sự trớ trêu số phận, mà quyết liệt hơn là những đối nghịch về quan niệm sống, lý tưởng sống, về trách nhiệm công dân đối với Dân tộc, Đất nước… cùng cộng hưởng kéo độc giả vào cuộc, tham gia tranh cãi, phản biện.

Những ai ít thích ứng trước những biến động có tính quy luật toàn cầu, hẳn sẽ phẫn nộ với những nổi loạn trong tính cách của lớp nhân vật trê như Lê Lỳ Chu, Chiến Thống Nhất, những phản biện quyết liệt của Nguyễn Kỳ Vọng, hoặc sẽ lên án cái gọi là “sự băng hoại lý tưởng”, “thoái hóa phẩm chất cách mạng” của những người từng có bề dày mấy chục tuổi Đảng, như bà Đào Thị Cam, như nhà văn cộng sản Châu Hà…

Chính độ mở của tiểu thuyết, thái độ nhập thế của tác giả, dám đối diện với những vùng khuất lấp, những mảng đời sống mà lâu nay nhiều người tự coi như vùng cấm kỵ bất khả tri… đã khiến Thời của Thánh Thần không bị rơi vào khuôn mẫu buồn tẻ, một chiều. Đây cũng chính là một bứt phá của Hoàng Minh Tường, kể từ sau hai tiểu thuyết gây tiếng vang Thủy Hỏa Đạo Tặc và Đồng sau bão.

Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm trong trường ca Văn đàn bi tráng sắp xuất bản, dường như đã có con mắt rất “xanh”, khi ông viết về Hoàng Minh Tường:

“Hết Thủy Hỏa lại đến hồi Đạo Tặc
Đồng sau bão chỏng chơ những tượng đất Thánh Thần”


Phương Ngọc
Nguồn: Vietimes

----------------------------------------------------------------------------------

Giới thiệu về nội dung:

“Cuốn tiểu thuyết Thời Của Thánh Thần viết về một số gia đình làng quê châu thổ sông Hồng, được tác giả nuôi dưỡng trong âm hưởng sử thi của Nước Việt suốt nửa sau thế kỷ XX...”

Hoàng Minh Tường

THỜI CỦA THÁNH THẦN *

NUNG NẤU VÀ THÀNH CÔNG CỦA MỘT ĐỜI CẦM BÚT

Vũ Nho

Hoàng Minh Tường là người sớm đến với tiểu thuyết. Ngoài hai chục tuổi, khi những bạn viết đồng trang lứa như Trịnh Thanh Sơn, Nguyễn Đức Thiện, Hồ Thuỷ Giang, Chu Hồng Hải… mới có vài ba truyện ngắn đăng báo thì Hoàng Minh Tường đã bắt tay vào tiểu thuyết Đầu sông, trích đăng vài chương trên Văn Nghệ Việt Bắc. Thế rồi tiểu thuyết đầu tay Đồng chiêm được xuất bản khi anh ba mươi mốt tuổi. Rồi liên tiếp một loạt các tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường được xuất bản ( 11 cuốn với dung lượng hơn nửa vạn trang in). Đáng kể nhất là Những người ở khác cung đường, giải A văn học công nhân ( 1985-1990) và Thuỷ hoả đạo tặc, giải thưởng Hội nhà văn Việt nam ( 1997). Được mệnh danh là cây bút của làng quê viết về nông thôn có hạng, nhưng Hoàng Minh Tường không chỉ có thể viết về nông dân. Anh viết về các chiến sĩ công an, về những người làm du lịch trong khách sạn, về những người làm giao thông, về những người dân chài…Với một sự kinh lịch của người làm báo viết phóng sự nổi tiếng, sự ý thức nghề nghiệp luôn tích luỹ, làm giàu vốn sống bằng cách trực tiếp và gián tiếp; và điều quan trọng nhất là suy ngẫm, chiêm nghiệm những gì thấy được, nghe được và đọc được, Hoàng Minh Tường đã có một số lượng tác phẩm mà nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn phải thốt lên thán phục: “nhà văn có hiệu suất cao”. Nhưng văn chương đâu phải chỉ tính bằng số lượng? Ông bạn Nguyễn Khắc Trường của anh chỉ in mỗi tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma lập tức trở thành nhà văn nổi tiếng. Và rồi Hoàng Minh Tường cũng nung nấu phải viết một quyển tiểu thuyết để đời, viết xong là có thể nghỉ ngơi, có thể giã từ…ngòi bút. Chính vì thế sau khi in Ngư Phủ, Hoàng Minh Tường đã để hẳn gần bốn năm để thai nghén tiểu thuyết Thời của thánh thần với dự định dồn hết tâm lực của một đời cầm bút…

Thời của Thánh Thần viết về những số phận khác nhau của một gia đình có truyền thống khoa bảng ở làng quê châu thổ sông Hồng. Bốn anh em trai Khôi, Vĩ, Vọng, Quặc ba người con đẻ, một con nuôi, sau Cách mạng tháng Tám, 1945, mỗi người đi mỗi ngả. Có người trở thành cán bộ lãnh đạo; có người là nhà thơ nhưng bị quy là theo nhóm Nhân văn, xét lại; có người di cư vào Nam rồi di tản sang Mĩ; người ở nhà cày ruộng. Cùng với họ là những người đàn bà, những người vợ, những mối tình sét đánh, éo le, ngang trái...Ba thế hệ của một gia đình, từ ông Lí Phúc, đến bốn người con trai của ông, rồi đến những đứa cháu của ông đã vật vã trên nửa thế kỉ của đất nước trong cơn gió bụi và cuộc bể dâu. Dòng xoáy khốc liệt suốt hai cuộc chiến tranh đã cuốn họ đi, nhào nặn nên tính cách và số phận của họ. Họ là những thân phận, những nhân chứng của một thời chưa cách chúng ta xa.

Cải cách ruộng đất; Đấu tranh chống Nhân văn Giai phẩm, chống Xét lại; Giải phóng miền Nam, thống nhất Đất nước; Hoà hợp dân tộc...những vấn đề cốt lõi ấy, được xem xét và đánh giá qua những số phận mấy đời chìm nổi của một gia đình. Thời gian đủ độ lùi cần thiết. Nhưng những hiểu biết của một cây bút phóng sự, tiểu thuyết có hạng, và suy ngẫm một đời viết, mới là yếu tố quyết định làm nên thành công của tác phẩm này...

Đúng là phải đợi đến những năm cuối của tuổi tri thiên mệnh, nhà văn Hoàng Minh Tường mới đủ từng trải, đủ độ chín, và cả đủ lòng dũng cảm nữa, để viết một tác phẩm coi như tổng kết đời viết của mình.

Cuộc Cải cách ruộng đất đã không ít lần được các nhà văn đề cập với những thành công và cả thất bại; với cái nhìn đúng đắn và cả lệch lạc.Vũ Bão với Sắp cưới, Ngô Ngọc Bội với ác mộng, Tô Hoài với Ba người khác, Trần Mạnh Hảo với Ly thân... Thời của Thánh Thần thể hiện một cách nhìn khách quan, bình tĩnh với tư cách người từng được chứng kiến, và người cũng đã chiêm nghiệm những cách tiếp cận khác nhau của các nhà văn đồng nghiệp. Sự oan sai trong quy kết, sự ấu trĩ trong cách nhìn nhận địch ta, những tình huống giở khóc giở cười trong việc giác ngộ và mớm lời đấu tố… số phận những người từng ủng hộ Việt Minh dưới lốt hợp tác với địch…được trình bày khúc chiết và thuyết phục. Việc đào xác Hội Thiện để chôn lại trong quan tài, cái chết không toàn thây của Lí Phúc, cuộc cắt chim Đội Tựu là những sự kiện được miêu tả sống động, dữ dội. Các nhân vật Chiến Thắng Lợi, Cam, Hội Thiện, Lý Phúc, Cục là người trong cuộc, là những chứng nhân lịch sử của một thời. Đây là một đóng góp quan trọng vào việc soi rọi quá khứ, khép lại một vết thương của đất nước về Cải cách ruộng đất.

Cải cách ruộng đất mới chỉ là khúc dạo đầu để cho gia đình dòng họ Nguyễn Kỳ phân hoá và li tán. Nguyễn Kỳ Khôi tức Chiến Thắng Lợi trở thành cán bộ cốt cán của Cách mạng. Nhưng anh ta vẫn ở thế chông chênh vì cuộc tình vụng trộm giấu tổ chức có đứa con ngoài giá thú, vì cậu em Nguyễn Kì Vỹ thi sĩ của Cách mạng nhưng theo nhóm Nhân văn, vì cậu em khác Nguyễn Kì Vọng di cư vào Nam. Với số phận của Vỹ và Vọng, lần đầu tiên trong văn chương đương đại, sự kiện Nhân văn Giai phẩm và cuộc đấu tranh với bè lũ Xét lại hiện đại, cũng như cuộc vượt biển di tản của gần hai triệu người, được nhà văn đề cập đến với cái nhìn điềm tĩnh và xa xót.

Nhân vật Nguyễn Kỳ Vỹ là sự tập trung, hội tụ số phận nhiều văn nghệ sỹ, trí thức bị oan sai một thời. Nhà văn đã dựng lại nỗi khổ về vật chất, tinh thần, đặc biệt là nỗi đau tinh thần của người nhiệt tình, thành tâm theo Cách mạng nhưng bị nghi ngờ, bị gạt ra ngoài đội ngũ và bị quy cho là kẻ chống phá…Thực chất cái án mà Kì Vỹ phải chịu chính là vì đã dại dột phê bình một nhà thơ cách mạng cấp trên, và các bạn bè anh bị chụp mũ vì “ đã dám mó dái cọp, dám phủ nhận, tranh đoạt ngôi vị của một đại công thần” ( lời nhân vật Đà Giang). Hoàng Minh Tường đã dựng lại sự bền bỉ, kiên trì của những con người muốn dùng ngòi bút cống hiến cho Cách mạng. Dù cho bị đối xử thiếu công bằng, họ vẫn kiên trì phụng sự cho dân tộc và đất nước. Trong thực tế, sau khi Đảng chủ trương đổi mới, hàng loạt những nhà văn nhóm Nhân văn giai phẩm đã được phục hồi và đã có thêm những cống hiến quan trọng.

Nhân vật Nguyễn Kì Vọng là hình ảnh tột cùng đau đớn, vô cùng đáng thương của bao người buộc phải ly hương, buộc phải mang tiếng là vong bản...Vọng không phải là người xấu. Vọng đi Nam chỉ là nông nổi, muốn được học hành thành người có ích. Những năm sống dưới chế độ nguỵ quyền, Vọng không ham chính trị, chỉ là một nhà chuyên môn. Tình yêu quê hương của người trí thức chân chính đã khiến Vọng khước từ việc di tản. Nhưng Vọng buộc phải ra đi vì không được tin dùng, không được cống hiến, ra đi trong tình trạng mạo hiểm, ra đi mà lòng vẫn không nguôi đau đáu hướng về quê hương.

Càng về cuối truyện, không chỉ có những xung đột tính cách, sự trớ trêu số phận của những anh em cùng một gia đình đi theo các ngả đường khác nhau, mà quyết liệt hơn là những đối nghịch về quan niệm sống, lý tưởng sống, về trách nhiệm công dân đối với Dân tộc, Đất nước của lớp con cái của họ, những Chiến Thống Nhất, Lê Kì Chu, Đinh Mạn... Họ suy nghĩ và hành động dựa trên thế của cha ông, nhưng khác với cha ông. Mấy anh doanh nghiệp mới phất nhờ thế lực của bố mẹ nói giọng đầy tự tin: “Thế mới biết anh em mình kiếm tiền dễ gấp mấy ở Mĩ. Vụ ô tô này mà trót lọt, cũng bằng chú Vọng kiếm cả đời…”.

Viết về một thời kì lịch sử nửa thế kỉ của đất nước, Hoàng Minh Tường chỉ trình bày lại những nét lớn với tình thần suy ngẫm và đối thoại. Những sự kiện lịch sử vừa làm nền, làm bối cảnh, nhưng lại cũng vừa gắn bó máu thịt và chi phối trực tiếp số phận của những con người trong một gia đình, một giòng họ, những con người của một thời lắm chiến công nhưng cũng không ít những sai lầm xót xa, ấu trĩ. Nếu nhìn theo cách nhìn của một thời xa vắng, có thể sẽ có phẫn nộ với những nổi loạn trong tính cách của lớp nhân vật trẻ như Lê Lỳ Chu, Chiến Thống Nhất, những phản biện quyết liệt của Nguyễn Kì Vọng, hoặc sẽ lên án cái gọi là “sự băng hoại lý tưởng”, “thoái hoá phẩm chất cách mạng” của những người từng có bề dày mấy chục tuổi Đảng, có vị trí cao trong guồng máy nhà nước như Chiến Thắng Lợi, như Đào Thị Cam, như nhà văn Châu Hà... Ngay cái việc viết về góc khuất một nữ cán bộ Việt Minh đi tu không trót, hoàn tục để làm Cách mạng, có hai người con nhưng đã từng bỏ rơi một đứa ngay khi mới sinh, còn đứa khác thì giấu biệt lai lịch cũng là một sự táo bạo và bản lĩnh của nhà văn.

Một điều cũng cần phải nói đến là sự chắc tay trong bố cục, sự nhuần nhuyễn trong hư cấu, sức hấp dẫn của cốt truyện đã tạo cho tiểu thuyết Thời của Thánh Thần một sự cuốn hút mạnh mẽ. Dù muốn hay không, trong thời buổi tràn lan kĩ thuật nghe nhìn, nếu một tiểu thuyết không lôi cuốn và hấp dẫn thì dù nhà văn có tâm huyết đến mấy cũng sẽ bị độc giả khước từ. Sau nhiều cuốn tiểu thuyết, Hoàng Minh Tường vẫn có thể làm cho người đọc ngạc nhiên về vốn hiểu biết sâu rộng và những trang văn ngồn ngộn chi tiết, thấm đẫm tình cảm và vừa tươi tắn, vừa thâm trầm, vừa đủ mùi ái, ố, nộ, hỉ.

Gần một đời cầm bút với hàng chục tiểu thuyết, có những tác phẩm đã từng đoạt giải thưởng cao vừa là một thuận lợi vừa là một thử thách với nhà văn. Thời của Thánh Thần có thể coi là một bứt phá mới ngoạn mục của Hoàng Minh Tường. Kinh nghiệm, vốn sống, vốn hiểu biết và thái độ tập trung quyết liệt viết một cuốn tiểu thuyết để đời và sự dũng cảm khai thác những vùng được coi là nhạy cảm, “cấm kị” bất thành văn…đã không phụ lòng bạn đọc. Chắc chắn cuốn tiểu thuyết này sẽ được độc giả đón nhận nồng nhiệt.

Hà Nội, tháng 7 và 8 năm 2008

--------------------------------------------

*) Tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Quý III-2008

TRÁCH NHIỆM CỦA TRÍ THỨC CHĂM ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA CỦA MỘT DÂN TỘC - SỐ PHẬN HẨM HIU CỦA DÂN TỘC CHĂM HÔM NAY


Hoa champa ( hoa sứ ) biểu tượng của vương quốc Champa - Ảnh Google

Thay lời giới thiệu: Một trong những "công trình" to lớn nhất về văn hóa mà Mao Trạch Đông đã tạo dựng nên ở Trung Hoa lục địa chính là loại chữ Hán gọi là giản thể mà tiếng Anh gọi là Simplified Chinese characters ( Trung văn giản thể ), tức là loại chữ Hán "cắt đầu chặt đuôi" cho... "đỡ tốn giấy mực" và phù hợp với giai cấp bình dân. Mao Trạch Đông đã đưa khoảng 47.035 chữ Hán truyền thống (theo Tự điển Khang Hy), mà Lý Tư đời nhà Tần đã thống nhất và hệ thống hóa, lên bàn mổ "cách mạng văn hóa" xem xét lại, và sau đó biến nó thành một loại chữ giản dị hơn nhắm vào nhóm đại chúng ít học, loại chữ ấy đã được dạy trong tất cả các trường học ở Hoa Lục suốt mấy chục năm nay và đã trở thành một loại chữ chính thức về hành chánh trong tất cả mọi sách vở, văn bản, công văn giấy tờ tại Hoa lục, rồi mò dần sang Singapore, Mã Lai và Macau, và sau đó là Đài Loan và Hồng Kông.... , và nay thì cả thế giới người Hoa, hấu hết đều biết đọc loại chữ giản thể này mà người ta còn đặt cho cái tên là chữ Mao Trạch Đông hay chữ Hoa lục! Khi Mao mới lệnh cho dân Hoa lục học và dùng loại chữ mới giản thể thì cả thế giới của mấy chú ba ở hải ngoại nhao nhao phản đối kịch liệt vì nó... "hủy diệt di sản văn hóa truyền thống Trung Hoa, loại chữ Hán có từ thời nhà Thương, nhà Chu, và sau đó do Thương Hiệt thời Chiến Quốc hệ thống hóa" .v.v..., nhưng... cách mạng làm tất cả mọi thứ kể cả văn hóa đều bằng bạo lực đàn áp, và vũ khí... khống chế bao tử, cho nên cuối cùng xu thế chữ viết giản thể đã thắng và những nhà chống đối đã dần dà "tắt máy", vì... "cạn xăng hoặc hết xú-páp", trong khi cộng sản tiếp tục duy trì sự thống trị ở Hoa lục, và tầm ảnh hưởng của Trung quốc trên thế giới ngày càng lớn mạnh.

Ngày nay thì cả người Hoa ở lục địa và hải ngoại đều có xu hướng là học và xử dụng cả hai loại chữ truyền thống và chữ giản thể. Nhiều sách vở, tự điển, các website .v.v..., đều có 2 phiên bản song song, một theo kiểu chữ truyền thống, một theo kiểu chữ giản thể, hoặc cả hai. Riêng ở Hoa Lục ngày nay, khuynh hướng quay trở lại với loại chữ truyền thống ngày càng lan rộng và được giới trí thức hâm mộ và cổ vũ.

Qua câu chuyện trên, và đối chiếu với vấn đề 2 loại chữ Chăm đang lưu hành, có lẽ còn có một "giải pháp hòa bình" khác để duy trì di sản văn hóa Chăm là giáo dục và truyền bá cả 2 loại chữ cải tiến của "BBSSCC" và loại chữ truyền thống Akhar Thrah Chăm cùng một lúc. Lịch sử sẽ xoay chuyển và tự nó sẽ làm việc gạn đục khai trong. Bài học của người Trung Hoa đáng để giới trí thức và những người nặng lòng với tiền đồ dân tộc Chăm cùng ngồi lại bàn bạc với nhau hơn là cứ chỉ trích lẫn nhau mãi, ai cũng cho mình có lý: người ở hải ngoại cho rằng phải giữ nguyên trạng không được sửa đổi, người "cách mạng trong nước" thì cho rằng cái gì cũng "cách mạng "được cả, "cải tiến" được cả, lại thêm có chính quyền "cách mạng" đứng sau lưng thì làm việc gì lại không được. Còn việc năn nỉ xin nhà nước cộng sản xem xét lại để ủng hộ cho những lập luận của cộng đồng người Chăm hải ngoại thì than ôi, lại đúng là việc làm của mấy bà mê tín thắp nhang xin "ông cọp" đừng ăn thịt sống!

Những bài trích đăng dưới đây không nhất thiết phản ánh quan điểm hay lập trường của Diễn Đàn Ái Hữu Ninh Thuận. Chúng tôi chỉ làm nhiệm vụ giới thiệu đến quý vị và các bạn những gì đang diễn ra trong cộng đồng dân Ninh Thuận của chúng ta, cũng như những quan điểm của tất cả mọi xu hướng, được trình bày công khai trên giấy trắng mực đen.

Đồng bào Chăm là một bộ phận của dân Ninh Thuận chúng ta, là anh chị em của chúng ta, chúng ta phải tôn trọng, bảo vệ họ, và cùng chia xẻ những ưu tư của người anh em bình đẳng với chúng ta, đó là sự khác biệt giữa con người quốc gia nhân nghĩa, lương thiện, và con người cộng sản bạo tàn. Đó là sự khác biệt giữa những con người suốt đời đấu tranh để mưu cầu lợi ích cho đồng bào và dân tộc, và những con người chỉ thực hiện dã tâm và mưu mô của họ vì lợi ích của đảng cộng sản, của tập đoàn "vô sản quốc tế", bán đứng dân tộc và tổ quốc cho bọn Nga Tàu.

Ái Hữu Ninh Thuận

Trách nhiệm của trí thức Chăm đối với di sản văn hóa của một dân tộc
Source: Champaka


Bài của Musa Porome

Sau 8 thế kỷ đắm chìm trong bao chiến tranh tang tóc do cuộc Nam Tiến gây ra, lịch sử chỉ để lại cho dân tộc Champa hôm nay một chuổi đền đài hoang phế nằm ngỗn ngang ở miền Trung, một di sản văn hóa đang trên đà thoái hóa mạnh mà không ai có thể tiên đoán sự sống còn của nó còn có thể kéo dài được bao lâu trong thế kỷ thứ 21 này. Chính vì thế, vai trò và trách nhiệm hàng đầu của trí thức Chăm hôm nay là góp phần vào việc bảo tồn di sản văn hóa, có nghĩa là bảo vệ và gìn giữ lại tất cả những giá trị truyền thống của nó, dù đó là văn hóa vật chất hay phi vật chất, để nó không bị mục nát và hủy hoại theo thời gian.

Văn hóa vật chất của vương quốc Champa tập trung các công trình kiến trúc và điêu khắc những đền đài, cung điện, bia đá, mương đập... v.v. mà ngày nay hội đồng UNESCO của Liên Hiệp Quốc đã công nhận một vài di tích như là di sản văn hóa của nhân loại nên cần phải được bảo tồn một cách nghiêm chỉnh. Văn hóa phi vật chất Champa bao gồm các phong tục tập quán, lễ nghi, văn chương, nhạc vũ, ngôn ngữ chữ viết .v.v... Sau năm 1975, vì thời thế biến đổi, văn hóa phi vật chất của dân tộc Chăm ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận đang lâm vào tình trạng thoái hóa. Sự thoái hóa nguy hiểm nhất là di sản ngôn ngữ chữ viết Chăm bị cải biến và hệ thống hóa một cách phi khoa học để rồi hôm nay dân tộc Chăm cùng chung một tiếng nói nhưng có hai chữ viết khác nhau. Ðiều đáng buồn, là sự sụp đổ của hệ thống ngôn ngữ chữ viết này không phát xuất từ nhân tố bên ngoài mà là do một số người Chăm đã không cần biết thế nào là nghĩa vụ của mình đối với công tác bảo tồn di sản văn hóa của một dân tộc. Ðây là trọng tâm của đề tài mà tôi muốn đưa ra bàn bạc ở đây.

Nguyên nhân của sự khủng hoảng

Ngôn ngữ chữ viết là phương tiện giao lưu giữa những thành viên cùng chung một nguồn gốc lịch sử và nền văn minh, là biểu tượng cho nét đặc trưng của một tộc người và được xem như là di sản văn hóa thiêng liêng của một dân tộc nên nó cần phải được bảo tồn một cách nghiêm túc.

Năm 1978 đánh dấu cho sự khủng hoảng ngôn ngữ chữ viết Chăm phát xuất từ ngày ra đời của Ban Biên Soạn Sách Chữ Chăm (BBSSCC) do nhà nước Việt Nam thành lập, tập trung một số giáo viên cấp trung học và tiểu học có trách nhiệm biên soạn sách giáo trình giảng dạy chữ Chăm để đưa vào trường lớp dành cho con em Chăm trong hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, và năm 2008 là ngày kỷ niệm 30 năm của cơ quan này. Nhân tiện đây, tôi xin mượn diễn đàn này gởi đến toàn thể quí vị trong BBSSCC lời chúc tốt đẹp nhất và sau đó xin gửi lời thành kính đến nhà nước Việt Nam đã hỗ trợ cho chương trình phát triển và làm sống lại ngôn ngữ chữ viết Chăm trong một quốc gia đa văn hóa và đa chủng tộc.

Sau 30 năm sinh hoạt, không ai chối từ công lao của toàn thể anh chị em trong BBSSCC đã làm sống lại ngôn ngữ chữ viết Chăm qua việc soạn thảo và xuất bản các giáo trình giảng dạy. Tuy nhiên, trong quá trình soạn thảo này BBSSCC đã đưa ra các phương án chỉnh lý cũng như cải tiến hệ thống ngôn ngữ chữ viết Chăm. Trong khi vấn đề chính yếu của BBSSCC không phải là công tác chỉnh lý, cải tiến, hệ thống hóa chữ Chăm mà mục tiêu là bảo tồn giá trị truyền thống ngôn ngữ chữ viết này. Ðây là vấn đề vô cùng quan trọng mà mỗi người Chăm chúng ta, nhất là giới trí thức cần phải chọn một lập trường rõ rệt.

Sau một thời gian theo dõi những bài viết đăng trên nhiều diễn đàn liên quan đến vấn đề BBSSCC đã chỉnh lý Akhar Thrah Chăm, tức là chữ viết phổ thông mà các bậc tu sĩ, bô lão và trí thức Chăm đang xử dụng hôm nay, tôi nhận thấy một số bài viết thường mang tính chất độc đoán và thiển cận chỉ nhằm bảo vệ cho phe nhóm hơn là tinh thần xây dựng chung cho mục đích bảo tồn di sản ngôn ngữ chữ viết của dân tộc.

Trước hiện tượng thoái hóa này, là một công dân Champa vong quốc, thiết nghĩ tôi có bổn phận góp phần vào công tác nhận định để đi tìm nguồn gốc đâu là vấn đề nan giải của Akhar Thrah Chăm sau ngày ra đời của BBSSCC vào năm 1978 mà nhiều người Chăm đang tranh cãi hôm nay. Bài nhận định của tôi sau đây không nhằm mục tiêu bàn về qui luật ngôn ngữ chữ viết Chăm vì tôi không phải là nhà ngôn ngữ học và cũng không phải là chuyên gia về chữ Chăm, nhưng chỉ muốn đặt lại vấn đề một cách nghiêm túc thế nào là vai trò và trách nhiệm của trí thức Chăm trong công tác bảo tồn di sản văn hóa Champa nói chung và ngôn ngữ chữ viết Chăm nói riêng.

Dân tộc Chăm chỉ có một chữ viết mà thôi

Trước khi đi vào vấn đề, chúng ta cần định nghĩa lại một cách chính xác về vai trò và nghĩa vụ của BBSSCC. Nếu tôi không lầm, BBSSCC đã được nhà nước Việt Nam tin tưởng giao trách nhiệm để biên soạn sách giáo trình chữ viết Chăm. Theo tôi, nội dung của sách giáo trình phải là công tác truyền bá Akhar Thrah Chăm truyền thống trong các trường lớp, dù chữ viết này chứa đựng quá nhiều trường hợp bất qui tắc, khó học đến đâu đi nữa. Mục tiêu dạy chữ Chăm là nhằm giúp con em Chăm đọc được chữ Chăm truyền thống mà cha mẹ của họ đang xử dụng. Chính đó mới là trách nhiệm bảo tồn di sản ngôn ngữ chữ viết Chăm. Tiếc rằng, BBSSCC lại tự tiện cải biến, chỉnh lý và hệ thống hóa «lung tung beng» Akhar Thrah Chăm truyền thống.

Ðể trả lời cho nguyên nhân thoái hóa di sản văn hóa của dân tộc, Harak Champaka số 28 ra mắt ngày 20-7-08 lên tiếng chỉ trích mãnh liệt vụ việc BBSSCC đã hiên ngang tự ý chỉnh lý chữ viết truyền thống Chăm mà bất cần sự đồng thuận của nhân dân Chăm trong và ngoài nước. Theo Harak Champaka, cuộc chỉnh lý này đã đưa Akhar Thrah Chăm vào hố thẳm mà không ai tiên đoán được hậu quả của nó. Vì rằng, cộng đồng người Chăm hôm nay cùng chung một tiếng nói, nhưng lại có hai chữ viết khác nhau: Akhar Thrah Chăm truyền thống mà dân tộc Chăm ở Việt Nam và Campuchia đang xử dụng và Akhar Thrah Chăm cải biến hay gọi là chữ chỉnh lý của BBSSCC dùng để giảng dạy trong trường lớp.

Trong ngày kỷ niệm 30 năm của BBSSCC tổ chức vào ngày 25-7-2008, thay vì đề nghị với chính quyền Việt Nam một số giải pháp nhằm thống nhất Akhar Thrah Chăm, các vị lãnh đạo trong BBSSCC lại hô hào rằng dân tộc Chăm hôm nay có hai chữ viết: Chữ Chăm xưa và chữ Chăm nay. BBSSCC đã cho rằng «chữ Chăm xưa» tức là Akhar Thrah Chăm truyền thống lưu truyền từ thời Po Romé quá cổ điển khó học nên phải loại bỏ đi. Ngược lại, «chữ Chăm nay» là chữ Chăm cải biến của BBSSCC dễ học cần phải duy trì và phổ biến trong trường lớp. Ðây là quan điểm vô trách nhiệm đối với di sản văn hóa truyền thống Champa.

Ai cũng biết, trước năm 1975, dân tộc Chăm chỉ có một chữ viết đó là Akhar Thrah Chăm truyền thống. Tại sao sau năm 1975, BBSSCC lại tự tiện loại bỏ Akhar Thrah truyền thống này để chế tạo thêm một chữ viết nữa gọi là «chữ Chăm nay»? Ðây là trọng tâm của vấn đề mà tôi muốn nêu ra. Vì rằng đã có hai hội thảo khoa học tổ chức tại Osaka, và Kuala Lumpur lên tiếng phản đối sự “chỉnh lý” này, và sau cùng là Ðại Hội Champa 2007 tại Hoa Kỳ cũng có lên tiếng trong kiến nghị yêu cầu nhà nước Việt Nam phải tìm mọi giải pháp để thống nhất Akhar Thrah Chăm.

Nếu tôi không lầm, Harak Champaka số 28 không đả phá công lao của BBSSCC mà chỉ nêu ra hai vấn đề:

- Akhar Thrah Chăm, cũng như tiếng Việt, Anh, Pháp, Mã Lai, v.v... có nhiều trường hợp bất quy tắc, viết như nhau nhưng lại đọc khác nhau. Thành vậy, người học phải chấp nhận học thuộc lòng những trường hợp bất qui tắc này, vì đây là di sản chữ viết của một dân tộc, không ai có quyền sửa đổi cải biến theo quan điểm thiển cận và riêng tư của mình.

- Akhar Thrah Chăm, cũng như tiếng Việt, Mã Lai.... v.v. nói sao cũng được, nhưng viết thì phải viết đúng chính tả đã qui định.

Ðể giải quyết những trường hợp bất qui tắc «viết như nhau nhưng lại đọc khác nhau», Harak Champaka 28 cho rằng BBSSCC tự tiện chế tạo ra 4 ký hiệu sai lầm để biến chữ Chăm không còn bất qui tắc nữa, nên sự ra đời của 4 ký hiệu này đã làm đảo lộn cả một hệ thống chữ viết Chăm. Bốn sai lầm đó là:

- BBSSCC chế tạo chữ Chăm có paoh gak, tức là phụ âm ga ở cuối từ. Các nhà khoa học cho rằng đây là sự bịa đặt phi lý, vì chữ Chăm không bao giờ có paoh gak (gak matai) .

- BBSSCC bỏ dar tha trong ký hiệu craoh aw. Các nhà khoa học cho rằng đây là cuộc chỉnh lý mang tính vô trách nhịêm, vì chữ Chăm, craoh aw luôn luôn phải có dar tha.

- BBSSCC thêm baluw trên ký hiệu dar tha dar dua. Các nhà khoa học cho là hoàn toàn không đúng và không thể có. Vì trong qui luật chữ Chăm, ký hiệu dar tha dar dua không bao giờ có baluw.

- BBSSCC chủ trương «nói sao viết vậy». Các nhà khoa học đánh giá BBSSCC không biết gì về qui luật ngôn ngữ giữa «tiếng nói» và «chữ viết» do bởi nói sao cũng được, nhưng khi viết thì phải viết đúng theo qui luật chính tả.

Ðó là nội dung chính yếu của Harak Champaka số 28. Ngay trong ngày hội thảo về Ngôn Ngữ Chữ Viết Chăm tại Kuala Lumpur 2006, các nhà lãnh đạo BBSSCC cũng đã công nhận 4 sai lầm này nên đã hứa sẽ điều chỉnh lại và ký vào biên bản của hội thảo. Như thế, mục tiêu của Harak Champaka số 28 đã không đã phá BBSSCC mà là yêu cầu BBSSCC phải nên chỉnh lý lại 4 sai lầm này để thống nhất Akhar Thrah Chăm? Vấn đề chỉ có thế thôi.

Phe nhóm chống phá di sản văn hóa Chăm

Theo tôi, bảo tồn Akhar Thrah Chăm truyền thống mà dân tộc Chăm ở Việt Nam và Campuchia đang xử dụng hôm nay cũng là nghĩa vụ của BBSSCC trong công tác tổng thể của sự bảo tồn di sản văn hóa. Tiếc rằng cơ quan này không chấp nhận sửa đổi 4 sai lầm mà còn lôi kéo thêm một bè nhóm nhằm bảo vệ một cách mù quáng chữ viết “chỉnh lý” của BBSSCC. Bằng chứng cụ thể gần đây nhất sau ngày ra mắt Harak Champaka số 28 (20-7-2008), ông Quảng Ðại Cẩn viết bài phản đối quan điểm của tờ báo này do nhóm Damdrachampa ở hải ngoại chuyển đến bà con Chăm qua hệ thống email. Tiếp theo là ông Thành Ðài đã vội vã dùng diễn đàn email để ngợi khen bài viết của Quảng Ðại Cẩn mà bất cần suy nghĩ đến việc làm của BBSSCC có hợp tình hợp lý hay không trong công tác bảo tồn di sản ngôn ngữ chữ viết Chăm mà tôi vừa định nghĩa ở phần trên.

Trong bài viết của ông Quảng Ðại Cẩn trả lời cho Harak Champaka 28, mang tựa đề «Khái quát về sự chỉnh lý chữ Chăm Akhar Thrah của BBSSCC», tôi cứ tưởng rằng ông ta sẽ đưa ra bằng chứng cụ thể nhằm chứng minh rằng sự chỉnh lý chữ Chăm của BBSSCC là hợp lý vì cơ quan này dựa vào văn bản Akhar Thrah Chăm lưu truyền từ thời Po Romé cho đến hôm nay như tư liệu hoàng gia Champa hay là các tác phẩm văn học viết bằng chữ Chăm truyền thống mà Harak Champaka đã nêu ra. Tiếc rằng, trong bài viết này, Quảng Ðại Cẩn chỉ đưa ra nhiều chứng cớ quanh co, dài dòng nhằm biện minh cho lập luận của mình, để rồi không ai hiểu nổi ông ta muốn gì. Nếu tôi không lầm, bài viết của Quảng Ðại Cẩn chỉ chứa đựng nội dung chính yếu:

Quảng Ðại Cẩn cho rằng, chữ viết Chăm có nhiều trường hợp bất qui tắc, viết như nhau nhưng lại đọc khác nhau, như trường hợp palei caok, gem caok, gem caok (người thôn Hiếu Lễ vừa khóc vừa bóc) mà Harak Champaka đã đưa ra, làm cho con em Chăm khó nhớ đâm ra chán nản, vô tình Quảng Ðại Cẩn đồng tình với BBSSCC trong việc cải biến chữ Chăm, xóa bỏ những giá trị qui luật bất qui tắc này. Vì lẽ đó tôi đánh giá Quảng Ðại Cẩn không biết về qui luật cấu trúc chữ viết trên thế giới. Vì rằng, tiếng Việt là bằng chứng cụ thể, cũng có hàng ngàn trường hợp bất qui tắc, nào là dấu hỏi và dấu ngã phải học thuộc lòng, như «đả phá và đã qua», nào là phụ âm C và K là hai ký hiệu khác nhau nhưng phát âm như nhau ( thí dụ: cả và kẻ ), nào là một chữ viết như nhau (như đồng bào, đồng lòng, đồng ruộng) nhưng nghĩa thì khác nhau, .v.v. .. Quảng Ðại Cẩn chắc cũng đã dư biết tiếng Anh cũng có hàng ngàn trường hợp bất qui tắc, nào là cách chia động từ, nào là viết như nhau nhưng lại đọc khác nhau. Tiếng Chăm cũng có trường hợp tương tự như tiếng Anh. Ông còn cho rằng tiếng Anh, Pháp, Việt, v.v... cũng trải qua bao lần chỉnh lý, thế thì tại sao người Chăm không có quyền chỉnh lý Akhar Thrah Chăm? Ðây là cách biện luận quá sơ sài vì rằng dù có chỉnh lý đến đâu đi nữa, chữ Anh và Việt, v.v... vẫn còn hàng ngàn trường hợp bất qui tắc. Tôi không phải là chuyên gia về ngôn ngữ học, nhưng tôi biết đọc tiếng Việt và tiếng Anh nên cũng có chút hiểu biết vấn đề này.

Harak Champaka là cơ quan thông tin và nghị luận về lịch sử và nền văn minh Champa, đấu tranh để đem sự thật đến mọi người. Mục tiêu hàng đầu của Harak Champaka là bảo tồn bằng mọi cách những giá trị di sản văn hóa truyền thống của dân tộc Champa; thẳng thắng chỉ trích, phê bình và phản đối bất cứ ai dù họ là người Chăm hay bất cứ tổ chức nào, quốc gia nào không tôn trọng quyền lợi và nguyện vọng chung của dân tộc này. Chính vì thế, Harak Champaka phải có nghĩa vụ phản đối những lỗi lầm của BBSSCC trong vấn đề chỉnh lý chữ viết Chăm để thống nhất lại Akhar Thrah Chăm.

Cũng vì BBSSCC đã làm đảo lộn cả một di sản ngôn ngữ chữ viết Chăm, thành ra những nhà nghiên cứu phải tốn kém nhiều thời gian, công lao để tổ chức hai đại hội mang tầm vóc quốc tế nhằm đưa ra ánh sáng những sai lầm trong việc chỉnh lý chữ viết Chăm của BBSSCC hầu thống nhứt lại Akhar Thrah và bảo tồn giá trị nguồn gốc ngôn ngữ chữ viết Chăm truyền thống. Ðại hội đầu tiên đã diễn ra tại Osaka, Nhật Bản vào tháng 2 năm 2006. Ðại hội lần thứ hai tại Kuala Lumpur, Mã Lai vào tháng 9 năm 2006, tập trung 15 đại biểu, tương đối đầy đủ các thành phần tiêu biểu trí thức Chăm trong đó có 3 nhà lãnh đạo BBSSCC là Lộ Minh Trại, Nguyễn Văn Tỷ, Thuận Ngọc Liêm. Mục tiêu của hội thảo Kuala Lumpur là cùng nhau góp phần phân tích những gì đã xảy ra trong công trình chỉnh lý chữ viết Chăm của BBSSCC. Kết quả của hội thảo là toàn thể đại biểu, trong đó có ông Nguyễn Văn Tỷ và Lộ Minh Trại đều thừa nhận BBSSCC đã vấp phải 4 lỗi lầm quan trọng trong việc chỉnh lý chữ viết Chăm, nên đã đồng ký tên vào biên bản của hội thảo và hứa hẹn sau khi trở về Việt Nam sẽ chỉnh đốn những sai lầm ấy.

Nhưng khi về đến Việt Nam, BBSSCC lại trở ngược nước cờ, tiếp tục con đường xưa lối cũ, không chấp nhận chỉnh lý những sai lầm trong sách giáo trình của cơ quan này. Thế thì còn đâu là tư cách của giới trí thức Chăm? Từ đó, tôi phải đánh giá lại bài viết của Harak Champaka 28 trở nên có ý nghĩa nhằm phản đối một cách mãnh liệt cái bất tín của BBSSCC, đó cũng là đòn chí tử đấm mạnh lên nhóm bạc nhược cầu an tiêu cực không tôn trọng quyền lợi chung của dân tộc Chăm và phản bội công ơn vua chúa Champa đã có công xây dựng di sản ngôn ngữ chữ viết Chăm.

Hỏi các nhà lãnh đạo BBSSCC có biết rằng hàng trăm ngàn người Chăm sống bên xứ Campuchia hôm nay vẫn còn lưu trữ một số tài liệu sử sách viết bằng Akhar Thrak Chăm và họ vẫn còn tiếp tục giáo dục con cháu của họ đọc được chữ viết Chăm truyền thống này một cách rành mạch?

Cũng cần hỏi thêm BBSSCC có biết rằng dân tộc Chăm đã xử dụng Akhar Thrah từ thời vua Po Romé đến ngày hôm nay vẫn còn hàng ngàn tu sĩ, bô lão và trí thức Chăm xử dụng chữ viết này trong các văn bản và kinh kệ của họ? Tại sao BBSSCC không nối gót phương pháp của họ để đưa vào trường lớp nhằm bảo tồn di sản ngôn ngữ chữ viết này, mà lại tự tiện chế biến thêm một loại chữ Chăm mới để làm gì?

Và cũng cần nhắc thêm. Trước năm 1975, dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, nhà nước Việt Nam cũng cho phép đưa chương trình giảng dạy Akhar Thrah Chăm truyền thống trong các trường lớp đặt dưới quyền chỉ đạo của ông Thiên Sanh Cảnh, Lưu Quí Tân, Thành Phú Bá. Tại sao con em người Chăm dưới thời Việt Nam Cộng Hòa học được chữ Chăm truyền thống của họ, nhưng dưới thời Xã Hội Chủ Nghĩa lại phải chỉnh lý? Trước biến cố này, BBSSCC có nhận thức được việc chỉnh lý chữ viết Chăm một cách tùy tiện, phản khoa học mà quí vị đề ra đã gây một ảnh hưởng vô cùng tai hại cho con em người Chăm đến mức độ nào và hậu quả việc làm của quí vị sẽ ra sao đối với di sản văn hóa của dân tộc?

Trong bài viết Quảng Ðại Cẩn luôn luôn cho rằng công trình chỉnh lý chữ Chăm của BBSSCC có sự đồng thuận của «đồng bào Chăm». Tôi không nghĩ vậy. Có chăng đây chỉ là những người cùng trong phe nhóm của BBSSCC. Nếu tôi không lầm, chỉ có Quảng Ðại Cẩn là người đứng ra biện hộ cho công trình chỉnh lý sai lầm chữ Chăm của BBSSCC nên lúc nào ông cũng cay cú mỗi khi có sự phản ứng từ giới khoa học chuyên ngành chống lại những sai lầm này. Phải chăng Cẩn là một thành viên trong hội đồng chỉnh lý? Ðiều này làm tôi nhớ lại bài viết của ông về lễ hội Katê trong những năm vừa qua. Thay vì đưa ra minh chứng khoa học để giải thích thế nào là ý nghĩa của lễ hội thì Quảng Ðại Cẩn nói quanh co liệt kê hàng loạt các Bà Xứ trong đó có Bà Xứ của dân tộc Campuchia ở Núi Bà Ðen (Châu Ðốc) chẳng liên quan gì đến gốc tích thần thánh Champa. Là người đồng hương và là người bạn, tôi yêu cầu ông Cẩn đừng nên biện hộ cho sự sai lầm mà vô tình bạn trở thành kẻ đốt phá di sản văn hóa dân tộc Chăm.

Trước sự đổi thay của bao biến cố xã hội và chính trị từ năm 1975 mà dân tộc Chăm là nạn nhân của thời cuộc, chúng ta phải chấp nhận vai trò và trách nhiệm bảo vệ di sản văn hóa truyền thống của dân tộc hơn là hô hào cho sự cải tạo. Nên biết rằng ngày hôm nay chúng ta chỉ là một tập thể tộc người vong quốc, nên vai trò và trách nhiệm hàng đầu của chúng ta là phải kiên trì bảo tồn giá trị ngôn ngữ chữ viết Akhar Thrah nói riêng và tất cả những gì nằm trong hệ thống di sản văn hóa Champa nói chung. Bảo tồn thì phải bảo vệ, lưu trữ và gìn giữ cái đẹp cái nguyên thủy của nó. Ðó mới là việc làm chân chính, bày tỏ lòng biết ơn đến vua chúa và những bậc tiền nhân đã có công xây dựng di sản văn hóa này.

Nên cứu xét lại mục tiêu của BBSSCC

Nếu BBSSCC nhận tiền lương của nhà nước Việt Nam để dạy con em Chăm học chữ Chăm, thì BBSSCC phải làm thế nào để con em Chăm này trở thành một thế hệ không quên cội nguồn, có cơ hội đọc được những kho tàng văn học mà cha ông chúng ta để lại và những văn bản mà cha mẹ họ đang xử dụng. Chính vì thế, BBSSCC cần nên xét lại công trình chỉnh lý chữ viết Chăm của mình có đúng theo chủ trương bảo tồn di sản văn hóa dân tộc bản địa mà Ðảng và Nhà Nước đã đưa ra hay không.

Dân tộc Chăm sẽ mang ơn BBSSCC, nếu cơ quan này từ bỏ đi chủ thuyết đề cao bản thân và tự mãn cho việc làm sai lầm của mình để chỉnh lý lại 4 lỗi lầm mà các nhà khoa học đã đưa ra để thống nhất lại Akhar Thrah Chăm. Bằng không, BBSSCC vô tình tự đào thải bản thân ra khỏi không gian liên đới của xã hội Chăm, tự chà đạp lên công trình của các vua chúa Champa đã có công xây dựng hệ thống ngôn ngữ chữ viết của chúng ta.

Theo quan điểm của tôi, nếu muốn tiếp tục nhận nguồn tài trợ của nhà nước Việt Nam và sự ủng hộ của đồng bào Chăm cho công trình bảo tồn di sản ngôn ngữ chữ viết của dân tộc. BBSSCC nên nghĩ đến một số yếu tố sau đây:

1. Liêm chính, vô tư, thật thà, đạo đức, tự trọng và tôn trọng lẽ phải.

2. Không được lạm dụng trách nhiệm biên soạn giáo trình chữ Chăm mà nhà nước Việt Nam đã giao phó để tự do chỉnh lý, cải biến Akhar Thrah Chăm, làm đảo lộn cả một hệ thống di sản văn hóa của dân tộc này.

3. Phải tuyệt đối bảo tồn Akhar Thrah Chăm truyền thống mà các bậc tu sĩ, bô lão và trí thức Chăm đang xử dụng hôm nay và phải chấm dứt truyền bá chữ Chăm cải biến của BBSSCC trong các trường lớp.

4. Phải chấp nhận dân tộc Chăm chỉ có một chữ viết đó là Akhar Thrah Chăm truyền thống đã có từ lâu đời.

Nhân dịp này, tôi cũng không quên đề cập đến hai ông Lưu Quang Sang và Thành Phú Bá là hai đại biểu Chăm từ Hoa Kỳ đến dự đại hội Ngôn Ngữ Chữ Viết Chăm tại Kuala Lumpur vào năm 2006. Với tư cách là đại biểu đã đồng ý ký tên trong biên bản, hai ông nên tỏ thái độ rõ rệt nhằm lên tiếng yêu cầu BBSSCC giữ lời hứa và sửa lại những sai lầm, chứ không nên im hơi lặng tiếng trước thực trạng văn hóa dân tộc đang trên đà thoái hóa này. Vì người trí thức Chăm phải làm gương “khuyến thiện trừng ác”, không nên tiếp tục mưu cầu công ích cho riêng bản thân trên sự đau khổ của dân tộc và bao che cho nhóm phản di sản ngôn ngữ chữ viết Chăm.

Hy vọng Akhar Thrah Chăm sẽ được thống nhất lại trong một ngày gần đây, và trí thức Chăm hôm nay ý thức được vai trò và nghĩa vụ bảo tồn di sản văn hóa của dân tộc.

Harak Champaka số 31

SỐ PHẬN HẨM HIU CỦA DÂN TỘC CHĂM HÔM NAY
Source: Champaka


Bản đồ vương quốc Champa cũ
Po Dharma - 1966

BBT Harak Champaka

Nói đến những cuộc xung đột gay go giữa hai vương quốc láng giềng ở bán đảo Ðông Dương trong quá khứ, thì người ta phải nói đến chiến tranh kinh hoàng giữa vương quốc Ðại Việt và Champa, hai quốc gia hấp thụ hai nền văn minh hoàn toàn khác biệt: dân tộc Việt chịu ảnh hưởng nền văn minh Trung Quốc và dân tộc Champa theo văn hóa Ấn Ðộ Giáo và Hồi Giáo.

Nói đến định mệnh hẩm hiu của các dân tộc ở khu vực Ðông Nam Á, thì người ta phải nói đến số phận của dân tộc Chăm. Sau 8 thế kỷ đấu tranh và đương đầu với cuộc Nam Tiến, lịch sử chỉ để lại cho dân tộc này một kết quả tang thương và đẫm máu: vương quốc Champa bị xóa bỏ trên bản đồ, đất đai Champa bị chiếm đóng, chính quyền và vua chúa Champa bị sụp đổ, đền đài và cung điện Champa bị phá hủy, dân tộc Champa hoàn toàn bị tiêu diệt chỉ còn lại khoản 100.000 người Chăm đang sống chui nhủi trong hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận và gần 700.000 người Tây Nguyên sống ở miền cao.

Con số 100.000 người Chăm còn sống sót ở miền trung Việt Nam hôm nay đã nói lên thế nào là hậu quả của chính sách diệt chủng mà cuộc Nam Tiến đã dành cho dân tộc này. Ðây là một biến cố kinh hoàng chưa từng xảy ra trong lịch sử của các quốc gia ở khu vực Ðông Nam Á. Trước sự tang thương đổ nát này, dân tộc Champa chỉ biết chấp nhận, vì đây là dữ kiện đã diễn ra trong quá trình lịch sử, nhất là lịch sử thời cổ đại, vì vua chúa Ðại Việt thời đó chưa ý thức được thế nào là qui luật chiến tranh giữa hai quốc gia láng giềng, cũng như vai trò và trách nhiệm của dân tộc thắng trận đối với dân tộc thua trận.

Sau ngày vương quốc Champa bị xóa bỏ trên bản đồ vào năm 1832, dân tộc Chăm trở thành công dân Việt Nam, hưởng một qui chế tự trị do vua Thiệu Trị ban hành và qui chế này được lưu truyền cho đến chế độ Việt Nam Công Hòa. Cũng nhờ qui chế này, dân tộc Chăm có được cơ hội quản lý trực tiếp mọi cơ cấu tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội theo truyền thống và nhất là kiểm soát biên giới đất đai thuộc quyền sở hữu của mình. Ðây là một ân huệ đầu tiên mà nhà nước Việt Nam đã dành cho dân tộc thua trận sau 8 thế kỷ chiến tranh tương tàn.

Chưa đầy 140 năm đi tìm lại sự ổn định cho cuộc sống sau, biến cố 1975 lại một lần nữa đưa dân tộc Chăm vào một khúc quanh mới, mà không ai có thể tiên đoán được thế nào là định mệnh sống còn của họ trong thế kỷ thứ 21 này.

Sau ngày giải phóng miền nam, chính quyền Hà Nội xóa bỏ ngay qui chế tự trị mà vua Thiệu Trị đã ban hành, không công nhận người Chăm là dân tộc bản địa tại miền trung Việt Nam, có một chiều dài lịch sử, hiện đang sinh sống trên dải đất Champa, tức là quê hương thân yêu của họ bị vua chúa Việt Nam chiếm đóng sau 8 thế kỷ của cuộc Nam Tiến. Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã quốc hữu hóa toàn diện đất đai, ruộng rẫy của dân tộc Chăm, biến họ thành một tập thể vô sản nghèo đói và bần cùng, cấm đoán mọi lễ nghi tín ngưỡng và phong tục tập quán không phù hợp với chủ nghĩa Mac-Lénin. Sự kiện này đã làm thay đổi toàn diện nguồn gốc di sản văn hóa và xã hội của dân tộc này, từ ngôn ngữ chữ viết, cách ăn mặc, phong cách đối xử, nề nếp gia đình cho đến tư duy và nhân cách của con người. Nếu nhìn theo bề sâu trong không gian lịch sử, đây cũng là chính sách diệt chủng êm đềm không đẫm máu qua chính sách đồng hóa, giết chết lần mòn đi cội nguồn lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và chữ viết của một dân tộc để rồi họ trở thành một tập thể lai căng, mất gốc trong vài thập niên tới.

Hết quyền làm chủ trên đất đai và di sản văn hóa của mình, người Chăm lại trở thành một công dân ngoại lệ, sống bên lề xã hội Việt Nam mang danh là một quốc gia đa chủng tộc, nhưng không được pháp luật che chở, không được Ðảng và Nhà Nước cưu mang, đùm bọc. Chỉ trong vòng hai tháng, tức là tháng 7 và tháng 8 năm 2008, dân tộc Chăm đã gặp phải 4 biến cố dồn dập xảy ra:

Chiếm đoạt đất đai dân tộc Chăm

Cho dù sau ngày “đổi mới”, nhà nước đã ra lệnh trao trả lại đất đai cho dân tộc Chăm, nhưng cho đến hôm nay chính quyền địa phương tỉnh Ninh Thuận vẫn còn tiếp tục chiếm đoạt ruộng đất của dân tộc Chăm để bán nhượng cho công ty tư nhân. Chính vì thế, đàn bà và phụ nữ Chăm thôn Văn Lâm, tỉnh Ninh Thuận quyết tâm xuống đường, chận xe phái đoàn của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 23 tháng 7 năm 2008 để đòi quyền sở hữu đất đai họ.

Cũng vì cuộc Nam Tiến, vương quốc Champa đã nhường cho Ðại Việt toàn diện lãnh thổ của mình ở miền trung chạy dài từ Quảng Bình đến biên giới Biên Hòa. Hôm nay, dân tộc Chăm chỉ còn một vài mảnh đất canh tác để nuôi thân qua ngày. Tại sao chính quyền địa phương không thương xót cho dân bản địa này mà lại tiếp tục tước đoạt thêm đất đai của họ nữa. Ðây là một hồ sơ dân oan, nhưng Ðảng và Nhà Nước Việt Nam không quan tâm cho lắm, vì người Chăm chỉ là công dân ngoại lệ tại Việt Nam hôm nay.

Lò hạt nhân diệt chủng

Gần mấy năm qua, cho dù có nhiều ý kiến phản đối của các nhà khoa học chuyên môn về điện hạt nhân, nhà nước Việt Nam vẫn quyết định xây hai lò điện hạt nhân tại Sơn Hải, địa đầu của hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận nơi tập trung hầu hết người Chăm ở miền trung Việt Nam. Sự viếng thăm khu vực này của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 23 tháng 7 năm 2008 đã xác nhận sự ra đời của lò hạt nhân đầu tiên tại Việt Nam.

Lò hạt nhân là cần thiết cho sự phát triển năng lượng điện lực cho quốc gia. Tiếc rằng, chỉ cần một sơ suất trong lý do kỹ thuật, chất phóng xạ có thể tiêu diệt toàn diện dân số của hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, trong đó có 100.000 người Chăm đang sinh sống.
Ai cũng biết, sau 8 thế kỷ đương đầu với cuộc Nam Tiến, dân tộc Champa hoàn toàn bị diệt chủng trên dải đất miền trung. Hôm nay, họ chỉ còn sống sót chưa đầy 100.000 người. Sự hiện diện của họ là một vấn đề thiết yếu phù hợp với hiến chương của Liên Hiệp Quốc liên quan đến môi trường nhân sinh nhằm bảo vệ sự sống còn của một số động vật hay tộc người trên đà bị diệt chủng. Nếu không có giải pháp thích đáng, chất phóng xạ của hạt nhân sẽ tiêu diệt cộng đồng người Chăm trong chốc lát và xóa bỏ vĩnh viễn tên dân tộc này trên bản đồ chủng tộc của thế giới.

Một số động vật, vì số lượng quá ít, được các quốc gia trên thế giới che chở và bảo vệ cho sự hiện hữu của nó. Dân tộc Chăm, dù sao cũng là một tộc người, phải hưởng một qui chế bảo tồn ưu tiên hơn so với động vật, để họ còn hiện hữu bên cạnh dân tộc Kinh trong thế kỷ thứ 21 này. Không lý do gì mà nhà nước Việt Nam lại dùng lò hạt nhân để tiêu diệt họ.

Ðây cũng là hồ sơ dân oan mà Ðảng và Nhà Nước không đưa ra một lời giải thích. Vì người Chăm chỉ là công dân ngoại lệ, thành ra sinh mạng hay sự sống còn của họ không phải là vấn đề quan trọng đối với chính quyền Việt Nam hôm nay.

Ngôn ngữ chữ viết Chăm bị thoái hóa

Sau mấy chục năm, các bậc tu sĩ, bô lão và trí thức Chăm than oán, vì Ban Biên Soạn Chữ Chăm (BBSSCC) do nhà nước thành lập vào năm 1978, đã tự tiện chỉnh lý chữ Chăm để đưa Akhar Thrah Chăm truyền thống đi vào con đường thoái hóa.

Ngày 25 tháng 7 năm 2008, nhân ngày kỷ niệm 30 năm của tổ chức này, nhà nước Việt Nam không đưa ra một giải pháp nào để thống nhất lại Akhar Thrah Chăm mà dân tộc này đã yêu cầu gần 30 năm qua. Có chăng, các bậc tu sĩ, bô lão và trí thức Chăm chỉ là công dân ngoại lệ, thành ra nguyện vọng của họ không đáng đưa ra để cứu xét.

Tiếp tục giết hại người Chăm

Sau ngày giải phóng miền nam vào năm 1975, người Chăm bị xếp ngay vào thành phần dân tộc phản động, tiếp tay cho tập đoàn Fulro, làm tay sai cho ngoại bang chống phá nhà nước Việt Nam, cần được cảnh giác và canh chừng thường trực. Kể từ đó, các cơ quan an ninh địa phương thao túng hăm dọa, bắt bớ, tra tấn biết bao người Chăm vô tội, che chở cho những tội phạm người Kinh giết hại người Chăm mà chúng tôi đã trình bày 9 trường hợp điển hình trong Harak Champaka số 12 ra mắt vào ngày 8 tháng 4 năm 2006.

Tháng 8 năm 2008 lại xảy ra thêm một vụ giết hại người Chăm nữa, đó là trường hợp ông Bá Văn Bản, 25 tuổi, một nông dân Chăm ở thôn Văn Lâm, tỉnh Ninh Thuận. Cũng vì muốn bảo vệ đất đai của mình bị chiếm đóng, ông Bản quyết tâm vào vườn trồng cây thuộc quyền sở hữu của ông ta để chặt phá một số cây nhằm bày tỏ sự bức xúc của mình.

Ngày 2 tháng 6 năm 2008, công an tỉnh Ninh Thuận bắt ông Bản đưa vô trại giam. Hơn hai tháng trong tù, ông Bản bị tra tấn một cách vô nhân đạo cho đến trọng thương. Trước tình thế này, công an ra lệnh đưa ông ta đến bệnh viện để cấp cứu. Vì mang thương tích quá nặng, ông Bản từ trần vào ngày 27 tháng 8 năm 2008.

Thay vì pháp lý Việt Nam phải đứng ra bảo vệ cho ông Bá Văn Bản, một người nông dân Chăm đấu tranh để bảo vệ đất đai của mình bị tước đoạt, cơ quan an ninh Việt Nam lại tra tấn ông ta trong trại giam cho đến chết vào tháng 8 năm 2008. Giết chết một thanh niên Chăm như ông Bá Văn Bản, chỉ vì tội chặt bỏ vài cây mà người khác tự tiện trồng trọt trên đất đai của ông ta là bản án quá nặng nề, vượt ra khỏi sức tưởng tượng của nhân loại. Nhân danh cơ quan anh ninh của nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam dùng quyền lực để hành hung thanh niên Chăm cho đến chết là điều mà dân tộc Chăm không bao giờ chấp nhận được.

Cái chết của ông Bá Văn Bản là một vụ án kinh hoàng chưa từng xảy ra ở khu vực Ðông Nam Á, càng làm khơi dậy thêm lòng căm thù của dân tộc Chăm đối với Ðảng và Nhà Nước. Vì rằng, sau 8 thế kỷ của cuộc Nam Tiến, người Chăm đã chấp nhận họ là dân tộc thua trận nên bị diệt chủng. Năm 2008 không còn cuộc Nam Tiến nữa. Thế thì tại sao nhà nước Việt Nam vẫn còn tiếp tục giết hại người Chăm vô tội trong thế kỷ thứ 21 này. Vụ án của ông Bá Văn Bản, người Chăm thôn Văn Lâm là một thí dụ điển hình.

Chấp nhận làm người Chăm thì phải chấp số phận hẩm hiu của dân tộc này: mất quê hương tổ quốc và mất cả quyền làm chủ trên định mệnh của mình. Vì đây là dữ kiện lịch sử đã trải dài trên dải đất miền trung kiêng kị này, nơi mà hai dân tộc Việt-Chăm đã từng lao đầu vào chiến trường đẫm máu để giải quyết những sự khác biệt chính trị của họ trong suốt 8 thế kỷ qua. Nhưng lịch sử cũng từng chứng minh rằng, dân tộc Chăm có thể vượt ra khỏi thực trạng tăm tối này, nếu Ðảng và Nhà Nước Việt Nam công nhận người Chăm không phải là sắc dân thiểu số mà là dân tộc bản địa phù hợp với Bản Tuyên Ngôn Quyền Dân Tộc Bản Ðịa của Liên Hiệp Quốc ký vào ngày 13 tháng 9 năm 2007 tại New York mà Việt Nam là quốc gia thành viên. Ðiều cần thiết nữa, nếu Ðảng và Nhà Nước không xem người Chăm như là dân tộc thua trận cần phải tiêu diệt nữa, mà là một sắc dân cấu thành đại gia đình dân tộc trong một quốc gia Việt Nam đa chủng tộc và đa văn hóa, đáng được tôn trọng vì đó là danh dự, nhân phẩm, phong tục tập quán của họ.

Dân tộc Chăm cũng sẽ thoát ra khỏi sự diệt chủng trong thế kỷ thứ 21 này, nếu các nhà nghiên cứu, các lực lượng trí thức và các tổ chức hội đoàn Việt Nam trên thế giới quan tâm đến họ, xem họ như dân tộc anh em cần được bảo trợ và che chở, vì họ cũng là thành phần đã từng đóng góp vào lịch trình xây dựng lịch sử và nền văn hóa Việt Nam được giàu mạnh.

Ðịnh mệnh sống còn của dân tộc Chăm còn tùy thuộc vào nhân tố quyết định quan trọng hơn đó là nội bộ của xã hội Chăm hôm nay. Nếu các lực lượng trí thức và hội đoàn dân tộc Champa trong và ngoài nước từ bỏ mọi tị hiềm mang tính chất cá nhân, gia đình và địa phương, để cùng nhau xây đựng một thế hệ mới trong đó mỗi người Chăm chấp nhận rằng xã hội Champa không phải là sở hữu riêng của một người nào mà là không gian liên đới giữa những thành viên Champa cùng xuất thân từ một nguồn gốc văn hóa và lịch sử.
Chính vì thế, mỗi cá nhân và mỗi hội đoàn dù có quan điểm và chủ trương đấu tranh riêng, nhưng lúc nào cũng sẵn sàng ngồi chung với nhau bất cứ nơi đâu và bất kỳ lúc nào trong không gian liên đới này để cùng nhau tìm ra một giải pháp thực tiễn hầu bảo vệ quyền lợi chung của dân tộc Champa. Nếu không, các lực lượng trí thức và các hội đoàn Champa chỉ là một tổ chức ô hợp và tiêu cực, đang quay lưng với sự thống khổ và số phận hẩm hiu mà dân tộc Chăm trong nước đang gánh chịu hôm nay.

Harak Champaka số 31

ĐIỆN PANTHÉON VÀ BÀI BÁO HAY NHẤT TRONG LỊCH SỬ BÁO CHÍ


Zola thời trẻ

Điện Pantheon và bài báo hay nhất trong lịch sử báo chí
Source: TPO

Như đã biết, Điện Pantheon là nơi an nghỉ ngàn thu của các vĩ nhân Cộng hòa Pháp. Lần đầu tiên, Quốc hội Pháp và ban quản lý Pantheon tổ chức 100 năm ngày di hài văn hào Emile Zola (1840-1902) được chuyển vào đây.

Hiện diện tại buổi lễ, bên cạnh Chủ tịch Quốc hội Pháp Bernard Accoyer là chắt gái Brigitte Emile-Zola của nhà văn và Charles Dreyfus, chắt trai của đại úy Alfred Dreyfus (1859-1935), nạn nhân ê chề của một vụ án kinh thiên động địa đến nay vẫn rất thời sự.

Hai ngày sau lễ trên, diễn ra trong lòng Pantheon một hội thảo lớn. Chuyện vừa nêu cũng là trọng tâm của cuộc triển lãm Zola ở Pantheon tại quảng trường Pantheon, Paris, mở cửa ngay hôm sau, 5 tháng sáu...

Năm 1894, đại úy Alfred Dreyfus, người do thái, bị kết tội bán bí mật quân sự cho tùy viên quân sự Đức Schwartzkoppen ở Paris, bị tước lon và đầy suốt đời đến đảo Quỷ.

Dreyfus kêu oan, nhưng ông vô tình trở thành biểu tượng của tộc người do thái đáng ghét và đáng miệt thị. Một chiến dịch thóa mạ dân do thái rùm beng một dạo. Rồi vụ án chìm vào quên lãng.

Năm 1896, thiếu tá Picquart, chỉ huy mới của đơn vị phản gián mà Dreyfus làm việc, thu lượm được những bằng chứng cho thấy tội đồ thực sự là viên sỹ quan Esterhazy, tố cáo tên này và đòi trả lại sự vô tội cho Dreyfus.

Tại phiên xử đầu tiên, Esterhazy được tòa án binh tha bổng. Picquart bị chuyển công tác sang Tunisie, chính phủ Pháp một mực tuyên bố “Không hề có vụ Dreyfus” trong khi dư luận bán tin bán nghi. Zola vào cuộc (như đề cập ở dưới), buộc người ta phải rà lại vụ án và sự thật được phanh phui dần dần.

Năm 1898, một số giấy tờ giả mạo được phát hiện và kẻ dựng lên hồ sơ man trá, đại tá Henry, phải tự tử. Việc xem lại vụ án không đảo ngược được nữa.

Tuy thế, năm 1899, một hội đồng chiến tranh mới vẫn tuyên phạt Alfred Dreyfus 10 năm lao động cải tạo. Có điều, mấy ngày sau, Tổng thống Pháp Loubet ra lệnh ân xá.

Song năm 1906, Dreyfus mới được tuyên trắng án và được phục hồi chức vụ và công việc.

Năm 1930, các sổ ghi chép của tùy viên quân sự Đức nói trên được công bố, tiết lộ sự thật rằng Esterhazy đã cung cấp cho y thông tin quân sự Pháp, và vu cáo Dreyfus để chạy tội.

Emile Zola không hay biết gì về vụ Dreyfus, cho tới năm 1895, ông cất công tự điều tra và kết thúc bài thứ nhất ngày 25 tháng mười hai 1897 trên tờ Figaro bằng câu bất hủ: “Sự thật đang tiến bước và không gì cản nó được”.

Ngày 10 tháng một 1898, “tên phản bội Tổ quốc” đích thực Esterhazy bị đưa xét xử tại Hội đồng chiến tranh Paris, và được miễn tố tức thì. Zola không làm ngơ được nữa. Ông dồn tâm sức cho Tôi tố cáo, hiện được suy tôn là bài báo hay nhất trong lịch sử báo chí toàn cầu.

Tờ Figaro thân thiết của nhà văn vì nhiều lý do, không dám đăng nó. Ông bèn thuyết phục chủ bút tờ Aurore (Bình minh) và nó chấn động toàn xã hội Pháp từ ngày xuất hiện, 13 tháng một 1898.

Số Aurore hôm ấy tăng lượng phát hành lên 300.000 bản, gấp mười thường ngày. Và tiêu thụ hết veo chỉ trong vài tiếng. Chứng cứ xác thực, lập luận đanh thép, bài báo không phải một tư liệu lịch sử hay một bản buộc tội, mà một đòn công kích thức tỉnh lương tâm trước sự tham nhũng kép, nhằm vào một tên tội phạm và một người vô tội.

Nó cũng là bản tổng hợp đầu tiên về vụ Dreyfus, mở đường cho dân chúng nắm được tổng thể sự việc. Nó bóc trần một sự dàn dựng tinh vi và thâm độc, nhằm tới những mục tiêu xã hội và chính trị đáng sợ.

Một lần và mãi mãi, nó khẳng định rằng vụ Dreyfus không đơn thuần là một sai lầm pháp lý, mà quan trọng hơn, một cuộc khủng hoảng chính trị nghiêm trọng của nền Cộng hòa thứ ba.

Nó phân chia dứt khoát xã hội Pháp thành hai phe, ủng hộ và kết tội Dreyfus. Nó khiến tổ chức bảo vệ nhân quyền ra đời sau đó vài ngày. Nó phơi bày một ứng xử đau lòng, ấy là việc không chấp nhận những dân tộc khác biệt như về tôn giáo, ngay trong lòng một đất nước được coi là văn minh nhất hành tinh.

Nó phát lộ cho toàn thế giới hình ảnh lẫm liệt của một chiến sỹ kiên cường đấu tranh cho công lý và nhân phẩm, một hiền nhân quyết liệt bảo vệ những giá trị của bao dung, của công bằng và của sự thật.


Vua heo Zola - biếm họa

Mấy ngày tiếp theo bài báo, Zola nhận được khoảng hai ngàn bức thư khen ngợi và cổ vũ, một nửa từ nước ngoài. Đương nhiên, các nhà quân sự kiện ông về tội xúc phạm danh dự của họ.

Tòa đại hình vùng Seine lúc đầu định xử ông qua ba phiên, cuối cùng hành hạ ông liên tục qua mười lăm phiên, từ 7 đến 23 tháng hai 1898. Luật sư của ông đưa vào Tòa 200 nhân chứng để bênh vực ông.

Việc bào chữa bị bóp méo và nhấn chìm. Dù bên nguyên không đưa được bằng chứng buộc tội, Tòa vẫn kết án ông một năm tù giam và 3.000 francs tiền phạt.

Lường trước sự ngoắt ngoéo của những người cầm cân nảy mực, từ phiên xử thứ nhất, luật sư của Zola đã khuyên ông tính chuyện lưu vong, để khỏi bị đày đọa oan uổng.

Ông biết không tránh khỏi “sự hy sinh ác độc nhất trong đời ” ấy. Kể cũng lạ, phán quyết của Tòa đại hình vùng Seine hôm 23 tháng hai 1898 không bao giờ được tống đạt đến bên bị.

Còn Zola, trong khi chờ bản án được ký duyệt và có hiệu lực, ngày 18 tháng bảy năm đó, ông một mình lặng lẽ rời nhà, đáp chuyến tầu hỏa 21 giờ đi Calais, ven biển Manche. Hành lý mang theo chỉ là một chiếc sơ mi ngủ, bọc trong một tờ báo.

Ngay trong đêm, ông xuống tầu thủy vượt biển sang Xứ sở sương mù. Sáng ngày 19 tháng bảy, ông tới được London, vào trọ Khách sạn Grosvernor, dưới tên Ông Pascal.

Tại Pháp, vụ bỏ trốn nhanh chóng loang ra, báo chí cho đấy là sự thú nhận tội lỗi. Tin tức đủ loại, thường trái chiều, tới tấp xuất hiện trên mặt báo không chỉ ở đất nước ông. Tài sản của ông bị tịch thu để thi hành án.

Một nhà xuất bản phải bảo lãnh để bảo tồn chúng cho “lương tâm nhân loại một thời”. Cảnh sát lùng sục ông khắp hang cùng ngõ hẻm, nhất là ở các vùng biên ải. Một kiểu lệnh truy nã đặc biệt được ban bố khẩn cấp, nhằm bắt thật nhanh “tên tội phạm nguy hiểm”.

Trong khi đó, bí mật được giữ kín hoàn toàn. Ông vẫn bình an vô sự, được bạn hữu và vợ con sang thăm. Ernest Vizetelly, dịch giả người Anh chuyên in ấn tác phẩm của ông tại quê hương của Dickenz, cho con gái ngày ngày đến giúp ông như một người phiên dịch và quán xuyến việc vặt.

Cô gái cập nhật thông tin cho ông, nhất là diễn biến của vụ án đau đầu. Đáng khâm phục, trong bối cảnh ức chế về tinh thần, ông vẫn tìm cách rèn luyện sức khỏe và làm việc không mệt mỏi. Đôi lúc bi quan không chịu nổi. Niềm vui chen lẫn nỗi buồn.

Tên Henry chủ mưu trong vụ Dreyfus tự kết liễu đời hắn chưa lâu, ông mất ăn mất ngủ vì con chó Pinpin thân thiết với ông bao năm ròng bỗng một đi không trở lại.

Ông rất mừng rằng việc cứu xét vụ án được tiến hành khẩn trương từ đầu 1899. Quyết định của Tòa phá án sẽ được đưa ra vào tháng sáu cùng năm. Ông gấp rút hoàn thành tiểu thuyết Mắn đẻ (tạm dịch Fecondité) và chuẩn bị lên đường trở về.

Ngày 3 tháng sáu 1899, bản án 1894 bị hủy bỏ. Hôm sau, Emile Zola đã có mặt ở Paris, kết thúc mười một tháng ăn đậu ở nhờ, với Mắn đẻ, về sau được đánh giá là một kiệt tác.

Từ bấy, ông không lộ liễn mà âm thầm che chở Dreyfus. Bản án dành cho ông như vô tình bị lãng quên. Mặc dù vậy, ông vẫn bị đánh đập tơi bời. Trong mấy năm, ông là đối tượng chế diễu và cười cợt của những người chống Dreyfus. Dưới con mắt ghẻ lạnh của báo chí, ông là kẻ duy nhất phản lại Tổ quốc và quân đội.

Từ 1898, những lời đả kích cay độc, những tranh biếm họa, những bài ca chế nhạo, những tờ gấp thóa mạ tuôn đổ về ông như bao dòng thác rợn người.

Đốn mạt nhất là vụ tổng biên tập tờ Le Petit Journal (Báo nhỏ, tạm dịch) đăng tải một chuỗi bài bôi nhọ cha ông, kỹ sư cầu dường Francois Zola qua đời đã lâu lắm, nhằm luật nhân quả “cha nào con nấy”.

Loạt bài ấy cho rằng cha ông từng biển thủ công quỹ, và bị đuổi khỏi quân ngũ khoảng năm 1830, thời gian cha mẹ ông chưa gặp gỡ. Ông đích thân điều tra và tại phiên tòa liên quan, bác bỏ từng điểm dựng chuyện một...

Cứ như thế, cây bút tiếng lòng của hàng triệu phó thường dân vượt được mọi oái oăm và cơ cực trí não để giữ vững niềm tin của họ vào chính nghĩa và nhân tâm.

Chuyện thần kỳ đã xảy ra như để đền bù cho những tổn thương của những người hâm mộ và tin tưởng vào ông. Bốn năm sau khi ông tạ thế, có lẽ bị ám sát bằng khí độc tại nhà, Alfred Dreyfus được khôi phục toàn diện ngày 13 tháng sáu 1906.

Hôm sau, ông được Quốc hội Pháp biểu quyết thông qua việc đưa ông vào thờ tại Pantheon, sau một cuộc khẩu chiến nảy lửa. Tuy nhiên, Quốc hội còn phải thông qua 35.000 francs ngân sách di chuyển hài cốt nhà văn.

Và ngày 4 tháng sáu 1908, việc di chuyển đó mới được tiến hành. Bất chấp quốc ca được cử hành và sự hiện diện của tổng thống Pháp, một nhóm phần tử bài do thái và bài ngoại (Zola gốc Italia) vẫn rống lên: “Hãy quẳng Zola vào hố cứt!”.

Thậm chí, Alfred Dreyfus đứng cúi đầu trên bậc thềm Pantheon khi linh cữu đi qua, đã bị một nhà báo bắn súng lục bị thương nhẹ ở tay.

Hiện nay, công lao, đức độ và tầm vóc của Emile Zola đang được đồng thanh long trọng ghi nhận. Triển lãm Zola ở Pantheon kéo dài cho tới 31 tháng mười.

Thế nhưng, một đôi tờ báo đưa tin về lễ kỷ niệm 100 năm ông nhập điện với lời lẽ thiếu thiện ý. Có bài đặt câu hỏi tại sao Nhà nước Cộng hòa cho vào ngự trong Đền thiêng đó một kẻ chuyên viết văn đồi trụy?

“Đồi trụy” nói đây thực chất là những tác oai tác quái của bản năng và nhục dục đối với cuộc sống con người. Zola phải chăng không đáng được xem như người dự báo về thảm họa tình dục hiện tại?...

Phú Khê - Bạch Nga
Theo nhiều tài liệu nước ngoài

1 2 3 >>