Archives for: February 2010
XEM PHIM VUI ĐẦU NĂM: "HERCULES IN NEW YORK", TỰ HỎI XEM CÓ NÊN TRƯỜNG SINH BẤT LÃO HAY KHÔNG
Hercules tại Nữu Ước (Hercules In New York)
Sau nhiều thế kỷ, Hercules đã chán sống trên ngọn Olympus, và quyết định dời về... Nữu Ước (New York). Nhưng, lẽ dĩ nhiên, đâu phải dễ gì để cho một anh sống từ thời cổ đại Hy Lạp làm quen với đời sống văn minh hiện tại. Vì vậy mọi sự trở nên rắc rối, đặc biệt khi thần Zeus, cha của Hercules gởi vài thần khác sang New York để mang lão nửa thần nửa người Hercules về lại núi Olympus.
Chắc quý vị và các bạn cũng đã nghe tin về 3 nhà khoa học Mỹ được giải Nobel năm 2009 vì đã tìm ra chất xúc tác sinh học Telomerase với hy vọng có thể kéo dài tuổi thọ và ngăn ngừa bệnh tật nguy hiểm như ung thư và bệnh tim mạch v.v... vì vậy, người ta còn gọi chất xúc tác này là chất xúc tác bất tử (The Immortallity Enzyme). Các nhà khoa khọc hy vọng là có thể ứng dụng những thành quả nghiên cứu về Telomerase vào con người trong những thập niên đầu của thế kỷ này, đặc biệt trong lãnh vực tái tạo các tế bào mầm (stem cells) hữu ích. Như vậy, chúng ta có thể hy vọng đón những tin vui về trường sinh bất lão trong thế kỷ mà chúng ta đang sống. Chuyện "đi thăm bạn gái" hoặc "bồ nhí" mấy trăm năm sau e không chừng trở thành sự thực.
Trong khi chờ đợi thuốc trường sinh bất lão (chắc chắn không phải là cái đồ "dỏm" làm chết sớm "Viagra"), mời quý vị và các bạn hãy xem ngài Thống đốc California, Arnold Schwarzenegger đã làm cái trò gì trong vai Hercules tại New York?!
Kính chúc quý vị và các bạn Năm Mới vui vẻ,
Kình Dương Đạo Nhân
Hercules In New York

Click vào chữ PLAY để xem phim trực tiếp trên Youtube
GOOGLE SẼ TUNG RA CÁCH TRUY CẬP INTERNET CỰC NHANH

Google thí nghiệm cho khách hàng được truy cập Internet nhanh hơn cách truy cập hiện nay tới 100 lần.
Google sẽ tung ra cách truy cập Internet cực nhanh
Source: VOA News
Công ty Google cho biết, họ sẽ thiết lập một mạng lưới thí nghiệm mới tại một số địa điểm, cho khách hàng được truy cập Internet nhanh hơn cách truy cập hiện nay tới 100 lần.
Các giới chức Google nói rằng, hệ thống đang thí nghiệm này sẽ được triển khai tại những khu vực nhỏ ở Hoa Kỳ và phục vụ từ 50 ngàn tới 500 ngàn khách hàng.
Các giới chức tại công ty có công cụ tìm kiếm nhanh dữ liệu trên Internet này nói rằng, tốc độ cao hơn có thể giúp các bác sĩ khi cho họ những hình ảnh video cực nhiều chi tiết của các bệnh nhân ở những địa điểm rất xa.
Tốc độ cực nhanh cũng sẽ giảm thiểu thời gian cần thiết để tải các phim tài liệu với độ phân giải cao, và chắc sẽ khuyến khích những xử dụng Internet mới mẻ.
Giới hữu trách Hoa Kỳ hoan nghênh hành động của Google. Mới đây, Ủy Ban Truyền Thông Liên Bang nói rằng, trong một thời gian ngắn nữa họ sẽ công bố một kế hoạch cải tiến việc truy cập Internet trên khắp nước.
IS IT TIME TO THROW OUT "PRIMORDIAL SOUP" THEORY? - WHAT ROTTING FISH REVEAL ABOUT THE FOSSIL RECORD

Deborah Kelley/University of Washington/Oceanographic Society
The "Lost City" vent off the Mid-Atlantic ridge was the first alkaline deep-sea hydrothermal vent discovered. Biochemist Nick Lane believes inorganic cells within these vents provide an ideal setting for the origin of life.
IS IT TIME TO THROW OUT "PRIMORDIAL SOUP" THEORY?
Source: NPR
February 7, 2010
Listen to the Story
Is the "primordial soup" theory — the idea that life emerged from a prebiotic broth — past its expiration date?
Biochemist Nick Lane thinks so. The University College London writer and his colleagues argue that the 81-year-old notion just doesn't hold water.
Lane tells NPR's Guy Raz there's another possible explanation for the emergence of life. But before we get to that, why toss out the soup theory?
Lane says the idea of a primordial soup goes back to 1929, and great biologists like J.B.S. Haldane.
"He proposed that the Earth's early atmosphere was composed of simple gases like methane and ammonia. And they would react together under the influence of ultraviolet rays or lightning to produce a thin 'soup' — which became thicker over time — of organic molecules," Lane says.
Those molecules formed amino acids, so the theory goes, which are the building blocks of the proteins from which all life has evolved.
But, Lane says, it turns out that the planet's early atmosphere might not have contained much methane or ammonia after all. Instead of atmospheric gases and lightning, Lane's team proposes that deep-sea, alkaline hydrothermal vents powered life's predecessors.
At these vents, warm fluids percolate up through the ocean floor. When they react to ocean water, they form tiny, inorganic cells. Lane says these cells produce energy the same way that living cells do today: by harnessing chemical gradients across a membrane.
To understand how these gradients work, Lane says to imagine a reservoir behind a dam. "It's the flow of water downhill through the power turbine which is generating electricity. Much the same thing happens in our cells, except instead of having water across a dam, what you actually have in cells is protons," he says.
Lane says the movement of protons drives energy production in all living cells. His argument is that the first cells learned to do this from the honeycomb of tiny chambers found at these deep-sea vents.
"We think that the first cells could not have left these vents unless they'd found a way of tapping into these gradients that were naturally existing there, and then later on learning to generate their own."
He hopes that laboratory scientists will now put the idea to the test.
*******************************************************

Mark Purnell, Rob Sansom and Sarah Gabbott
This sequence of images shows changes to the bodies of Amphioxus, also known as the lancelet, during decay. It has only a primitive proto-spinal column called a notochord, but it is a close relative of vertebrates. The variation in colors is caused by interference between the equipment and the light illuminating the fish.
WHAT ROTTING FISH REVEAL ABOUT THE FOSSIL RECORD
Source: NPR
February 7, 2010
Listen to the Story
Anyone with a functioning nose probably wants to stay away from rotting fish, but a team of British researchers braved the stench — and turned something gross into scientific gold.
According to a study just published in the journal Nature, fish — and other living creatures — don't decompose in a random order. It's the newly evolved parts that go first.
That could have a major impact on the way we read the fossil record. Dr. Rob Sansom is a researcher at the University of Leicester and the leader of the study. He tells NPR's Guy Raz that decomposition plays an important part in the formation of fossils.
Sansom and his team were hoping to find out more about the oldest branches of our family tree. He says fossils from that era — about 500 million years ago — often don't give researchers much information to work with.
"At this part of the fossil record, we don't have any bones or teeth, so the fossil record can be very difficult to interpret," he says. Complex soft structures like tentacles and sensory organs decay too fast to become fossilized, and that means it's hard to tell how evolved an animal really was.

Mark Purnell, Rob Sansom and Sarah Gabbott
Amphioxus diverged from vertebrates more than 500 million years ago, and is often studied by researchers hoping to learn more about the early history of vertebrates.
"You can end up with an organism, or a fossil, that may look more primitive than it may have been in life," Sansom say.
Sansom says the new research means scientists will begin to get a better picture of our earliest ancestors. "We now have a framework of data with which to interpret these fossils, and place them more correctly in the tree of life," he says.
But that new knowledge came with a price. Sansom says he and his colleagues caught fish in the wild and put them in boxes to watch them decay as part of their research. That made his laboratory one of the least popular places on the University of Leicester campus.
"I've grown used to the smell for now," he says, "but colleagues and visitors are less keen."
NĂM LINH MỤC: MỘT THOÁNG NHÌN VỀ NHỮNG LINH MỤC - KHOA HỌC GIA

Linh mục Julius Nieuwland trong phòng thí nghiệm
Năm Linh Mục: Một thoáng nhìn về những linh mục-khoa học gia
Source: VietCatholic News, Australian Ejournal Of Theology
Ngày 12 tháng 3 năm 2008, Tổ chức John Templeton Foundation loan báo tên người đoạt giải Templeton hàng năm; giải này vinh danh những thành quả đạt được trong lãnh vực liên quan đến những vấn nạn lớn trong cuộc sống con người và vũ trụ. Giải thưởng năm 2008 trị giá 1 triệu 600 ngàn mỹ kim về tay Michal Heller, một nhà vũ trụ học người Ba lan, là giáo sư tại phân khoa triết học Viện Thần học Giáo hoàng tại Cracow, nước Ba lan. Một điều làm cho Heller thêm phần đặc biệt, vì ông là một linh mục Công giáo.
Vị linh mục 72 tuổi này cho biết có dự tính dùng số tiền đoạt giải này để thiết lập một viện nghiên cứu – tên viện nhằm vinh danh nhà thiên văn học Nicholas Copernicus -- với mục đích tìm cách hoà giải giữa khoa học và thần học. Cha phát biểu:
Nếu chúng ta nêu ra câu hỏi về nguyên nhân của vũ trụ, chúng ta nên đặt câu hỏi về nguyên nhân của các luật toán học. Làm như thế, chúng ta trở lại bản vẽ thiết kế lớn lao trong suy tư của Thiên Chúa về vũ trụ; câu vấn nạn về nguyên nhân tối hậu: Tại sao có còn hơn không có? Khi đặt câu hỏi này, chúng ta không hỏi về một nguyên nhân như mọi nguyên nhân khác. Mà chúng ta hỏi về căn cội của mọi nguyên nhân khả thể. Khoa học chỉ là một nỗ lực tập thể của những trí óc con người nhằm đọc được trí óc của Thiên Chúa từ những dấu hỏi xem chúng ta và vũ trụ quanh ta có thể được tạo dựng từ những gì.
Vừa là nhà khoa học, vừa là một linh mục, trường hợp như cha Heller không phải là duy nhất. Hơn thế nữa, ngài đứng trong một truyền thống cao cả và dài lâu những hàng linh mục uyên bác, vừa là những nhà khoa học vừa là những con người của đức tin. Một số trong các ngài được biết đến tường tận trong lịch sử, như Roger Bacon, một tu sĩ Dòng Thánh Phanxicô sống ở thế kỷ 13, người đã nhấn mạnh về quan niệm “luật thiên nhiên” và đã đóng góp vào sự phát triển của khoa cơ giới, địa lý, và đặc biệt là về quang học. Một số khác lại không ai biết tới. Tuy vậy, tất cả đều đã để lại một di sản lâu bền từ thời đại các ngài, về học tập, khoa học, toán học, và những tiến bộ thực tiễn khác.
Trên hết cả, những linh mục-khoa học gia này đã cống hiến một bài học mạnh mẽ cho những nhà biện giải Công giáo: Không có lý do gì phải đứng câm lặng khi tên của Galileo được sử dụng như một chiếc dùi cui để tấn công, và Giáo hội bị chỉ trích nghiêm khắc là kẻ thù của tiến bộ nơi loài người. Các nhà biện giải và các thức giả Công giáo có thể chỉ tay vào những linh mục-khoa học gia này mà tuyên bố hùng hồn như Cha Georges Lemaître - người khám phá ra thuyết “Big Bang” – đã kiên cường tuyên xưng năm 1933: “Không có gì xung đột giữa tôn giáo và khoa học cả.”
Dưới đây chúng tôi lược kê một ít trong số nhiều vị linh mục và khoa học gia đã làm cho thế giới chúng ta tốt đẹp hơn qua bao nhiêu thế kỷ. Danh sách này không có tham vọng được coi là đầy đủ, thấu đáo, và những vấn đề sâu sắc hơn nằm bên dưới cuộc xung đột từ lâu giữa khoa học và tôn giáo, thuyết tiến hóa, và vũ trụ học – xuất hiện rất nhiều trong cuộc tranh cãi về văn hóa hiện đại – sẽ được tìm hiểu trong những dịp khác.
Robert Grosseteste (c. 1175-1253)

Robert Grosseteste
Robert Grosseteste, người nước Anh, sinh trưởng tại Suffok trong một gia đình nghèo, nhưng đã trở thành một trong một khuôn mặt bác học nhất ở Anh quốc vì lòng ham hiểu biết, một đức tin sâu xa và một nhân cách khiêm hạ. Ngài được huấn luyện về thần học và sau đó bắt đầu giảng dạy tại Oxford. Nơi trường đại học này ngài gia nhập một hiệp hội cùng với các tu sĩ Dòng Phanxicô mới tới và có lẽ ngài đã có thời gian làm chưởng ấn. Được phong chức giám mục giáo phận Lincoln năm 1235, ngài quan tâm sâu xa về công tác cải tổ Giáo hội tại Anh quốc. Ngài tố cáo các tu viện trưởng tham nhũng hoặc thiếu khả năng, giảm thu nhập của giới giáo sĩ, và lập ra một loạt những quy chế để làm phương châm đặc biệt hướng dẫn tư cách của hàng giáo phẩm và cách quản trị các giáo phận.
Tuy nhiên, những thành quả của ngài trong vai trò một người lãnh đạo Giáo hội đã bị lu mờ trước danh tiếng được coi là một trong số người uyên bác nhất thời đó. Ngài là người mẫn tiệp về toán học, quang học, và khoa học, làm báo hiệu trước các phương pháp thực nghiệm sau này của học trò mình là Roger Bacon. Các nhà chép sử khoa học cho rằng ngài là người sáng lập ra phong trào khoa học tại trường Đại học Oxford, và do đó làm phát sinh ra đường lối theo đuổi sự hoàn thiện hoàn mỹ vẫn còn tiếp nối cho tới ngày nay. Một ít trong số những thành đạt của ngài: phẩm bình về cuốn Physics của Aristote, phê bình lịch Julian dẫn đến cuộc cải cách lịch dưới triều Giáo hoàng Gregory XIII vào 300 năm sau, và các luận án về quang học, âm nhạc và toán học. Vì quá nổi danh với tài thiên phú và kiến thức về thế giới thiên nhiên, đến độ ngài cũng nổi tiếng trong giới bình dân ít học; họ coi ngài như một người có tài lạ hoặc như một bậc phù thủy.
Ignazio Danti (1536-1586)

Ignazio Danti
Một trong những người kế thừa truyền thống học thuật do Grosseteste khuyến khích là một giám mục người Ý tương đối ít người biết tới: Ignazio Danti. Là con của một người thợ thủ công, ngài sanh tại Perugia và có lẽ theo học tại trường đại học ở đó trước khi gia nhập Dòng Thánh Đa minh năm 1555. Ngài tiếp tục nhận được sự bảo trợ từ những khuôn mặt hàng đầu của thời đại này, trong số đó có Cosimo de'Medici ở Florence và Thánh Giáo hoàng Piô V, Giáo hoàng Gregorio XIII. Vị giáo hoàng sau đặt ngài làm giám mục Alatri. Tại đây, ngài chứng tỏ một nhiệt tình lớn lao muốn xúc tiến việc cải tổ Giáo hội.
Rất giống Grosseteste, ngài quan tâm về nhiều lãnh vực khoa học, trong đó có thiên văn, toán, quang học, kiến trúc, kiến thiết cầu đường, thủy lực và đồ bản. Ngài đặc biệt nổi danh về kiến thức và tài trí của một nhà thiên văn. Năm 1574, ngài thực hiện một loạt những quan sát quan trọng và tìm ra phân điểm (xuân phân và thu phân) 11 ngày sớm hơn qui định trong lịch. Do đó ngài giữ một vai trò trong việc cải tạo lịch Julian dưới triều Giáo hoàng Gregory XIII. Nhưng Danti đã để lại dấu ấn thực của mình trong vai trò một nhà đồ bản. Cosimo de'Medici đã đặt ngài vẽ các bản đồ và làm một trái cầu thiên thể lớn trong bộ sưu tập của ông. Ngài cũng nhận lời Giáo hoàng Piô V để vẽ họa đồ vùng Perugia, và lời Giáo hoàng Gregory XIII để vẽ bản đồ các vùng lãnh thổ thuộc giáo hoàng. Những bản đồ ngài vẽ hiện nay vẫn còn nhìn được trên những bích họa lớn trong Palazzo Vecchio ở Florence và trên các bức tường của La Galleria delle Carte Geografiche trong điện Belvedere thuộc Tòa thánh Vatican. Sau chót, Danti đã hoàn thiện rado latino, một dụng cụ đo đạc, và đã vẽ họa đồ một kinh đào xuyên ngang nước Ý, chảy qua Florence, nối liền biển Adriatic và Địa trung hải.
Marin Mersenne (1588-1648)

Marin Mersenne
Linh mục người Pháp Marin Mersenne bắt đầu một sự nghiệp lâu dài tại ngôi trường Dòng Tên mới lập tại La Flèche, nơi duy nhất lúc đó cho các học sinh nghèo được theo học. Trong số bạn học có cậu bé René Descartes mới lên 8 tuổi, sau này sẽ trở thành một triết gia, nhà toán và vật lý học, bạn của Mersenne. Năm 1611, Mersenne gia nhập Dòng Minims (dòng Anh em Hèn mọn do thánh Phanxicô Paola sáng lập) và thụ phong linh mục một năm sau đó. Sau khi nghiên cứu học tập về thần học, ngài nổi danh trong giới triết gia và thần học về những công trình hăng say chống chủ thuyết vô thần và chủ thuyết hữu thần tự nhiên (deism). Tuy nhiên, lịch sử lại ghi nhớ đến ngài nhiều nhất về công trình trong khoa toán, đặc biệt là cái gọi là các số nguyên Mersenne, và nỗ lực của ngài để tìm ra một công thức có thể trình bầy mọi số nguyên tố.
Trong tác phẩm La vérité des sciences (Sự thật về các khoa học), ngài biện bác về giá trị của lý trí con người. Ngài giao tiếp thư từ với những khuôn mặt tiến bộ nhất lúc đó, như Pierre Gassendi, René Descartes, Pierre de Fermat, Thomas Hobbes, và Blaise Pascal. Ngài tổ chức đàm trường dành cho các nhà khoa học khắp cả châu Âu để đọc các luận văn của họ và trao đổi các ý kiến. Những công trình quy tụ này được biết đến dưới cái tên Académie Parisiensis, nhưng cũng còn được gọi là Académie Mersenne, và con số những nhà khoa học mà sự nghiệp được đàm trường này hướng dẫn thật không thể đánh giá thấp. Giữ lời cam kết phục vụ cho khoa học, ngài để lại chỉ thị trong di chúc dùng thân xác ngài cho các cuộc nghiên cứu.
Jean-Felix Picard (1620-1682)

Jean Picard
Là người đồng thời với Mersenne, tu sĩ Dòng Tên người Pháp Jean-Felix Picard đạt được danh hiệu là người sáng lập khoa thiên văn hiện đại ở Pháp, đồng thời cũng là một linh mục nhiệt tâm. Ngài sanh tại La Flèche, và học trường Đại học Hoàng gia Henry-Le-Grand của Dòng Tên tại đây. Ngay từ thuở còn niên thiếu, ngài đã say mê các thiên thể trên bầu trời, và sau này đã cống hiến cuộc đời trí thức của mình để phụng sự khoa thiên văn học. Picard đã đưa ra những phương pháp mới để quan sát các vì sao và cải tiến những dụng cụ khoa học mới.
Picard là người đầu tiên trong thời đại Khai minh (Enlightenment) đã đưa ra một số đo chính xác về kích thước của Trái đất qua cuộc thăm dò thực hiện vào những năm từ 1669 đến 1670. Tính toán của ngài về đường bán kính của trái đất là 6328.9 kilomet chỉ sai lạc 0.44%, và sự tiếp tục đạt được nhiều tiến bộ của ngài về các dụng cụ đã chứng tỏ là điều tối cần trong việc lập ra lý thuyết về trọng lực trong vũ trụ của Isaac Newton. Picard cũng còn hoạt động và giao tiếp với một số lớn các nhà khoa học thời đó, như Isaac Newton, Christian Huygens, và cả với một đối thủ lớn nữa là Giovanni Cassini.
Ngài được người đương thời kính trọng sâu xa nhưng bị lu mờ vì những tên tuổi lớn như Galileo, Newton, và Cassini. Ngài là sáng lập viên Hàn lâm viện Pháp năm 1666. Năm 1935 ngài được tôn vinh bằng việc dùng tên ngài đặt cho một hố trên mặt trăng. Một vinh dự thấp hơn được trao vào năm 1987, khi tên ngài được dùng để đặt cho Captain Jean-Luc Picard trong show truyền hình Star Trek: The Next Generation.
Gregor Mendel (1822-1884)

Gregor Mendel
Dĩ nhiên được nổi danh hơn Picard rất nhiều, đó là Gregor Mendel, Tu viện trưởng Dòng Thánh Augustine, cha đẻ của khoa di truyền học hiện đại. Sinh tại nước Áo trong một gia đình nông dân, ngài nhập Dòng Thánh Augustine năm 1843 và 4 năm sau được thụ phong linh mục. Sự nghiệp của Mendel gần như không được báo trước trong cuộc đời, và đã hoàn thành được công trình vĩ đại trong hoàn cảnh tối tăm khi giảng dạy môn khoa học tự nhiên tại một ngôi trường trung học dành cho nam sinh ở nước Áo. Quả vậy, chỉ vào những năm cuối đời, ngài mới được lên chức tu viện trưởng.
Mendel có được địa vị trong khoa học là do công trình ngài thực hiện với những cây đậu quả tầm thường. Ngài thích đi bách bộ chung quanh tu viện và nhận xét thấy có mấy thứ cây cỏ khác biệt căn bản về hình dạng và mô thức tăng trưởng. Cũng nhứ bất cứ một học sinh trung học thời nay nào có thể học biết, Mendel đã trải nghiệm bao nhiêu năm để quan sát 7 đặc tính của loại cây đậu quả và xác định được những luật căn bản chi phối sự di truyền các đặc tính trong phạm vi một loài. Đặc biệt quan trọng là sự khám phá ra các genes trội (dominant) và lặn (recessive ), đó là một chìa khoá mở ra cho khoa di truyền học hiện đại, và cuộc nghiên cứu về các đặc tính trội và lặn, kiểu di truyền (genotype) và kiểu hiện tượng (phenotype), ý niệm về dị hợp tử (heterozygous) và đồng hợp tử (homozygous). Buồn thay, Mendel đã đi trước thời đại của ngài quá xa đến nỗi mãi tới đầu thế kỷ 20 khoa học mới công nhận công lao đóng góp của ngài. Ngày nay, ngài được nổi tiếng khắp toàn cầu và thường các học sinh không mấy thích thú khi phải làm các thí nghiệm riêng của họ dựa trên công trình của ngài.
Armand David (1826-1900)

Armand David
Vào khoảng cùng thời gian Mendel đi bách bộ quanh tu viện, nhà truyền giáo thuộc Dòng Lazarist, cha Armand David, đồng thời cũng là một nhà thực vật học, đang làm việc ở một nơi cách xa nửa vòng trái đất, đó là Trung quốc.
Sinh quán tại Bayonne, nước Pháp, ngài gia nhập Tu đoàn Truyền giáo năm 1848 và thụ phong linh mục năm 1862. Được sai đi truyền giáo tại Bắc kinh, ngài đã phục vụ trong cộng đồng nơi đây một cách xuất sắc. Ngài thấy thời gian ở Trung quốc là một cơ hội tốt đẹp để khảo sát về các khoa học tự nhiên.
Vì những phát hiện của ngài trong các lãnh vực về động vật học, thực vật, địa chất và cổ sinh vật học, chính phủ Pháp yêu cầu ngài gửi các mẫu tìm kiếm được về Paris để được nghiên cứu thêm. Những mẫu này, lần đầu tiên được người phương Tây chứng kiến, đã tạo ra mối quan tâm lớn lao đến độ cha David được các nhà khoa học nước Pháp yêu cầu thám hiểm nước Trung hoa để tìm ra các phát kiến mới. Khi trở về Pháp năm 1888, ngài đọc một bài diễn từ thời danh tại Hội nghị Khoa học Quốc tế của người Công giáo tổ chức tại Paris, trình bầy tài liệu nghiên cứu của ngài về hơn 60 chủng loại thú vật và hơn 60 loại chim muông, tất cả đều chưa được biết đến trước đó. Đặc biệt đáng quan tâm là “phát kiến” của của ngài về loài Gấu trúc Lớn (Giant Panda, chưa được châu Âu biết tới) và loại Nai Milu (Milu Deer), một loài nai mà sau này được gọi là Nai Cha David (Père David’s Deer - Elaphurus davidianus) để vinh danh ngài.
Julius Nieuwland (1878-1936)

Julius Nieuwland
Linh mục Julius Nieuwland thuộc Dòng Thánh giá, đã quan tâm về các giải đáp thực tiễn trong lãnh vực hóa học mà ngài nghiên cứu. Con của người di dân gốc Bỉ, Nieuwland sinh trưởng tại vùng South Bend, tiểu bang Indiana, và theo học trường Đại học Notre Dame. Thụ phong linh mục năm 1903, ngài tiếp tục học tại trường Đại học Công giáo Mỹ (The Catholic University of America), chuyên khoa về thực vật và hóa học.
Trở lại trường Notre Dame năm 1904, ngài phục vụ trong ban giảng huấn, làm giáo sư dạy môn thực vật và sau đó là môn hóa học cho mãi tới khi về hưu năm 1936. Trong những sảnh đường yên tĩnh, khi nghiên cứu về khoa học, ngài đã thành công trong việc polymer-hóa chất acetylene để trở thành divinylacetylene. Elmer Bolton, giám đốc nghiên cứu tại hãng Dupont, đã dùng nghiên cứu căn bản này để đạt được việc phát triển ra neoprene. Trong thực tế, chính vị linh mục khiêm tốn này là người tìm ra được chất cao su nhân tạo đầu tiên. Được Công ty Du Pont áp dụng, phát minh này có ảnh hưởng to lớn trên nhiều ngành kỹ nghệ và cuộc sống của chúng ta. Chẳng hạn, neoprene được dùng làm chất cách điện/cách nhiệt trong dây điện, đường dây điện thoại, mặt sau các tầm thảm, và vật dụng lợp mái nhà. Cha Nieuwland cũng gần như tạo được một ảnh hưởng lớn trên lịch sử ngành football các trường đại học, khi ngài cố gắng – nhưng bất thành – thuyết phục người huấn luyện viên lừng danh trong tương lai tại trường Notre Dame là Knute Rockne trở thành một nhà hóa học thay vì làm huấn luyện viên môn thể thao này.
Không xao lãng khoa thực vật học, cha Nieuwland đã lặn lội trong những vùng sình lầy và rừng rú, tìm kiếm những mẫu thích hợp để nghiên cứu, và ngài nổi danh vì đã dùng súng lục bắn những mẫu này rớt từ những cành cây cao xuống đất.
Vì sự nghiệp trong ngành hóa học, chứ không phải tài thiện xạ, ngài được trao huân chương Morehead Medal vì công trình nghiên cứu chất acetylene, huân chương American Institute Medal, và vinh dự cao quý nhất của Hiệp hội Hóa học Hoa kỳ (American Chemical Society) là huân chương Nichols Medal.
Georges Lemaître (1894-1966)

Georges Lemaitre
Cha Georges Lemaître, một linh mục người nước Bỉ, một nhà vật lý và toán học gia, là người đầu tiên đề ra Lý thuyết Big Bang để giải thích sự ra đời của vũ trụ.
Sinh tại Charleroi, nước Bỉ, ngài học toán và khoa học tại trường Đại học Cambridge sau khi chịu chức linh mục năm 1923, và chuyên khoa về các nghiên cứu rất thịnh hành thời đó trong khoa thiên văn và vũ trụ học, đặc biệt về lý thuyết tương đối tổng quát của nhà bác học Eisntein.
Trong ngành vật lý, cái ý tưởng lúc đó được chấp nhận là vũ trụ, về bản chất, ở trong tình trạng không thay đổi, một “Tình trạng Kiên định (Steady State)”. Trong khi Einstein coi vũ trụ đang thực sự chuyển động – co cụm hoặc phình nở -- và nghĩ ra được hằng số vũ trụ học đã duy trì được tình trạng ổn định của vũ trụ, thì Lemaître lại kết luận rằng vũ trụ đang phình ra. Không chỉ như thế, Lemaître còn đề xuất rằng từ điểm đó có thể kết luận rằng mọi vật chất và năng lượng đã có lúc tập trung tại một điểm. Do đó: Vũ trụ đã có một lúc khởi đầu.
Lý thuyết này, lúc đầu gặp phải nhiều hoài nghi, được mệnh danh một cách châm biếm là “Big Bang”. Về phần mình, Lemaître mô tả một cách hoa mỹ sự khởi đầu này là “một ngày không có hôm qua.” Tháng giêng năm 1933 ngài trình bầy lý thuyết này trước cuộc hội họp các nhà khoa học tại tiểu bang California, và vào cuối buổi trình bầy, Einstein đã khen ngợi và tuyên bố: “Đây là cách giải thích về sự sáng tạo vũ trụ đẹp đẽ và thỏa mãn hết sức mà tôi được nghe từ trước đến giờ.” Những ý tưởng của Lemaître sau đó đã có được thế đứng.
Ngày nay các nhà vật lý vũ trụ sẵn sàng chấp nhận thuyết Big Bang và sự tiếp tục bành trướng của vũ trụ. Vì những công lao này, Lemaître được gia nhập Hàn lâm viện Hoàng gia Bỉ, và lên chức kinh sĩ (canon) nhà thờ chính tòa Malines. Năm 1936, Giáo hoàng Piô XI nhận ngài vào Hàn lâm viện Giáo hoàng về Khoa học.
Stanley Jaki (1924-2009)

Stanley Jaki
Các linh mục Nieuwland và Lemaître đã chứng tỏ rằng đức tin và khoa học không bất tương hợp. Còn linh mục Stanley Jaki, thuộc dòng Biển đức, lại đã lý luận một cách rất hùng biện rằng chính khoa học chỉ có thể phát triển được trong một nền văn hóa Kitô giáo. Với những thành quả đạt được, ngài đã được tưởng thưởng giải Templeton, và năm 1990 được Giáo hoàng Gioan Phaolô II nhận cho gia nhập Hàn lâm viện Giáo hoàng về Khoa học.
Sinh trưởng tại Hung gia lợi (Hungary), cha đậu các cấp bằng tiến sĩ về Thần học Hệ thống (Systematic Theology) và về Vật lý Hạt nhân, thông thạo 5 ngôn ngữ và là tác giả 30 đầu sách. Là một Giáo sư ưu tú tại trường Đại học Seton Hall, công trình của cha Jaki về lịch sử và về triết học khoa học đã đưa ngài gặp gỡ nhiều người trên khắp thế giới. Trong một thế giới khoa học tân tiến đạt được đỉnh cao trong triết học thời Khai minh (Enlightenment) và rất mục chống đối sự liên hệ với tôn giáo, sự khẳng định của cha Jaki rằng khoa học và tôn giáo đều phù hợp, và rằng sự phân tích khoa học có thể rọi ánh sáng vào cả những đề cương khoa học lẫn thần học, quả là một khẳng định táo bạo.
Theo quan niệm của Jaki, những khám phá về khoa vật lý hạt nhân và khoa thiên văn đã xác nhận một trật tự thiết yếu trong vũ trụ. Tuy sự hiểu biết của chúng ta về cả hai lãnh vực đều quả thực còn chưa đầy đủ, nhưng viễn kiến Kitô giáo chứng tỏ rằng trật tự của vũ trụ thì hoàn toàn phù hợp với quan điểm về sự Sáng tạo vũ trụ theo Kinh thánh.
Đi theo dấu chân của Lemaitre, Jaki đã tìm cách giải quyết một trong những vấn nạn lớn lao nhất trong khoa học, vũ trụ học, và đã kết luận rằng khoa học cho phép chúng ta có một cái nhìn vào trong những biến cố tiếp theo sau giây phút sáng tạo, nhưng không cho biết điều gì hết về những gì đã xảy ra trước đó, lúc mà chính vật chất được tạo dựng từ hư không. Do đó mà ngài can đảm thách thức các khẳng định của các nhà vũ trụ học và vật lý học thiên thể như Stephen Hawking, cho rằng nguồn gốc của vũ trụ chứng tỏ sự bất hiện hữu của Thiên Chúa; trái lại, chính cái mệnh đề đó không thể chứng minh được bằng khoa học vì không có gì để quan sát cả. Đồng thời, trật tự tạo dựng của Thiên Chúa phản ảnh một đấng Sáng tạo hoàn toàn hợp lý và bất tận vượt trên đường lối suy nghĩ của chúng ta. Thế nên, không mấy ngạc nhiên khi một tiến độ quân bình và tích cực như thế đi vào thế giới tự nhiên được tìm thấy trong giảng huấn và văn hóa Kitô giáo chân chính, đã cho phép khoa học được nở rộ.
Michal Heller (1936- )

Michal Heller
Những vấn nạn lớn lao về vũ trụ cũng là địa hạt chuyên biệt của vị linh mục Ba lan đồng thời cũng là một nhà vật lý học: Michal Kazimierz Heller, giáo sư dạy tại Cracow, nước Ba lan, và là thành viên Viện Khoa học Giáo hoàng từ năm 1990. Cha Heller đã dấn thân đi vào những lãnh vực cao nhất của toán học và thiên văn. Hiện nay cha đang nghiên cứu vấn đề đơn thuần (singularity) trong tương đối tổng quan (general relativity) và sự dùng khoa hình học không giao hoán (non-commutative) khi tìm kiếm việc kết hợp giữa tương đối tổng quan với cơ học lượng tử (quantum mechanics). Ngài cũng quan tâm về triết học, lịch sử khoa học, khoa học và thần học. Theo quan điểm của cha, tất cả những mặt khác biệt nhau này của khoa học đều qui tụ về một điều gì đó thật quan trọng liên quan đến “bản thiết kế” của sự Sáng tạo vũ trụ -- và giảng huấn của Giáo hội giúp chúng ta hiểu được bản vẽ đó.
Cơ may hay Mục đích?
Các linh mục-khoa học gia, những người vừa trung thành với các giảng huấn của Giáo hội và với những khắt khe gian khổ của khoa học, đã chiếm được một chỗ đáng tôn trọng trong lịch sử kiến thức, như nhận xét sau đây của Hồng y Christoph Schönborn:
Một trong những “huyền thoại” dai dẳng của thời đại chúng ta – thực ra, tôi muốn nói đến một trong những thiên kiến hình thành từ lâu – cho rằng những mối liên hệ giữa khoa học và Giáo hội là xấu, rằng đức tin và khoa học, từ những thời đại đã qua, tồn tại trong một thứ xung đột triền miên… Tin rằng Thiên Chúa là đấng Sáng tạo vũ trụ không chỉ là một trở ngại mà hơn thế, còn ngược lại. Tại sao tin rằng vũ trụ có một đấng Sáng tạo lại làm cản trở con đường của khoa học? Tại sao nó gây ra những khó khăn cho khoa học, nếu các khoa học gia hiểu biết rõ cuộc nghiên cứu của họ, phát kiến của họ và những lý thuyết họ đề ra, sự hiểu biết của họ về những mối liên hệ, như là “nghiên cứu học tập cuốn sách về sự tạo dựng vũ trụ?
Nguồn: Matthew E. Bunson/"Fathers of Science." This Rock (San Diego: Catholic Answers Inc., September 2008).
Phụng Nghi
Bài đọc thêm: HISTORICAL PARTICIPATION OF CHRISTIAN CHURCH MINISTERS TO THE DEVELOPMENT OF SCIENCE: AN ECUMENICAL SURVEY
THỦ TỤC KHIẾU TỐ CÁC VI PHẠM NHÂN QUYỀN TẠI HỘI ĐỒNG NHÂN QUYỀN LHQ

Tất cả mọi người đều có quyền kiện lên Liên Hiệp Quốc những vi phạm nhân quyền trắng trợn hiện tại của nhà cầm quyền CSVN. Chúng ta hãy đồng loạt nộp đơn kiện chúng!
Thủ tục khiếu tố các vi phạm Nhân quyền tại Hội đồng Nhân quyền LHQ
Ls Trần Lê Nguyên
Source: VietCatholic News, Geneva International
LTS: Chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu tài liệu quan trọng sau đây về "Thủ tục khiếu kiện các vi phạm nhân quyền tại Hội đồng Liên Hiệp Quốc" do luật sư Trần Lê-Nguyên soạn. Luật sư Trần Lê Nguyên và các người con của ông cũng là những luật sư chuyên môn về luật quốc tế và các luật lệ liên quan tới nhân quyền. Tài liệu sẽ giúp cho người Việt Nam chúng ta được hiểu rõ những quyền lợi của mình, đồng thời cũng cho thấy những hậu quả mà các kẻ lãnh đạo độc tài CS lạm dụng quyền thế đàn áp dân chúng, rồi sớm muộn những vi phạm nhân quyền sẽ bị đưa ra ánh sáng Công Lý và những kẻ phạm dù quyền lực cao đến mấy cũng sẽ bị trừng phạt.
Theo vị Giám đốc ban chấp hành của Hiệp hội Nhân quyền Washington DC chi nhánh Châu Á, có tối thiểu 50 vụ kiện chống các viên chức Đảng Cộng Sản Trung Quốc nộp bởi các học viên Pháp Luân Công từ 2002 đến 2007. Có hơn 30 quốc gia và hơn 70 luật sư đang giúp các học viên trong các vụ kiện, phần lớn kể cả trường hợp hộ và hình, là chống Giang Trạch Dân (hiện có 15 quốc gia).
THỦ TỤC KHIẾU TỐ CÁC VI PHẠM NHÂN QUYỀN TẠI HỘI ĐỒNG NHÂN QUYỀN LIÊN HIỆP QUỐC.
Nghị Quyết 5/1 của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiêp Quốc ngày 18/6/2007 đã mở ra một cơ hôi mới cho các nạn nhân bị chà đạp các quyền căn bản được công nhận (1).
Thực vậy, Thủ tục có tên 1503 đã được cải tiến theo Quyết Nghị 5/1, trở thành phổ quát và tự động phải được xem xét bởi một Ủy Ban Hành Động thuộc Hội Đồng Nhân Quyền LHQ.
AI CÓ THỂ TÔ CÁO HAY KHIẾU KIỆN
Trước đây, theo các Thỏa Ước cũ, các đơn kiện khiếu tố chỉ được chấp nhận một khi quốc gia liên hệ công nhận thẩm quyền của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiêp Quốc.
Trái lại, theo thủ tục mới đơn kiện khiếu tố được chấp nhận, không cần quốc gia liên hệ có ký hay phê chuẩn các thỏa ước về nhân quyền hay không.
Chính vì vậy, thủ tục khiếu tố này có tính cách PHỔ QUÁT (universelle).
Do vậy mỗi công dân của một quốc gia thành viên của Liên Hiêp Quốc có thể tự mình đứng nguyên đơn khiếu tố tại Hội Đồng Nhân Quyền LHQ.
Hơn thế nữa, tất cả các cá nhân, đoàn thể, hoặc một nhóm người tự thấy mình là nạn nhân của sự đàn áp nhân quyền hay các quyền căn bản, đều có thể khiếu kiện.
CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƠN ĐƯỢC CHẤP NHẬN
Đơn khiếu kiện, trước tiên phải liên quan tới một trong các quyền của con người hay các quyền tự do căn bản được công nhận và phải hội đủ các yếu tố sau đây:
1- Đơn khiếu kiện phải rõ ràng không có ý đồ (motivation) chính trị và mục tiêu hợp với Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Công Ước Quốc Tế về quyền dân sự và Chính Trị và các qui ước khác về nhân quyền...
2- Đơn khiếu kiện phải ghi rõ chi tiết các sự kiện của các vi phạm và mục đích của đơn kiện cũng như các quyền đã bị chà đạp (2).
3- Đơn khiếu kiện cần được biên sọan theo cung cách nhã nhặn, không dùng các từ, các câu văn có tính cách phỉ báng hay nhục mạ.
4- Đơn khiếu kiện có thể là do một cá nhân, một tổ chức, một nhóm người tự thấy mình là nạn nhân của sự đàn áp nhân quyền, nhóm người này có thể là một tổ chức ngoài chính phủ, hành động vì thiện ý, không có mục tiêu chính trị, và quả quyết trực tiếp và chắc chắn các vi phạm ghi trong đơn. Tuy nhiên, nếu sự hiểu biết các vi phạm trên mặc dù không trực tiếp, cũng được chấp nhận, miễn là các chi tiết của chứng cớ đó không thể tranh cãi được.
5- Đơn khiếu kiện không được chỉ căn cứ duy nhất dựa trên các thông tin trên các phương tiện truyền thông đăng tải.
6- Đơn khiếu kiện này phải là mới, không liện hệ tới vụ việc đã xem xét trong khuôn khổ của một thủ tục đặc biệt của một cơ quan của LHQ hay các tổ chức miền tương tự.
7- Đơn khiếu kiện này không có hiệu quả hay quá lâu nếu hành xử trong nước.
TIẾN TRÌNH ĐƠN KHIẾU KIỆN
Khi nhận được các đơn khiếu kiện bởi các cá nhân, một tổ chức hay một nhóm người, một Ủy Ban Hành Động trực thuộc Hội Đồng Nhân Quyền gồm 5 thành viên sẽ cứu xét xem các tố cáo này có tuân thủ các tiêu chuẩn qui định hay không.
Nếu đơn khiếu kiện này được tuyên bố chấp nhận (recevable), quốc gia liện hệ sẽ nhận được đơn tố cáo này và phải trả lời các tố cáo đó.
Một khi có đủ bằng chứng cho thấy thực tế có những vi phạm trầm trọng và có hệ thống các quyền được công nhận, Ủy Ban Hành Động sẽ đệ trình lên Hội Đồng Nhân Quyền bản tường trình chi tiệt các vi phạm và các quyên bị chà đạp đồng thời đưa ra các biện pháp thích nghi cần thiết khuyến cáo quốc gia vi phạm nhân quyền.
Các khuyến cáo vi phạm nhân quyền này cũng được trình lên Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiêp Quốc để cơ quan này có những biện pháp trợ giúp nhằm cải thiện và phòng ngừa các vi phạm bị chỉ trích tố cáo.
Ngoài ra còn có một thủ tục đặc biệt dành cho các nhóm chuyên viên, thu nhận các hồ sơ khiếu kiện cá nhân, gia đình họ hay các ngườì đại diện, hay do một tổ chức bảo vệ nhân quyền, tổ chức ngoài chính phủ, thay thế họ hành động.
Các nhóm này chuyển các đơn khiếu kiện, qua đường lối ngoại giao cho chính phủ bị tố cáo vi phạm nhân quyền và yêu cầu họ cho biết trong hạn 90 ngày, ý kiến, bình luận về các cáo buộc nêu trên, cả về các sự kiện lẫn luật áp dụng, tiến trình, kết qủa điều tra.
Sau đó các nhóm này sẽ đưa ra một thông báo kèm theo những khuyến cáo và gửi cho chính phủ liện hệ vi phạm nhân quyền. Các người khiếu tố cũng sẽ nhận đuợc thông báo trên, ba tuần sau. Thông báo này cũng được công bố trong phúc trình hàng năm của Hội Đồng Nhân Quyền LHQ.
ĐƠN KHIẾU KIỆN GỦI VỀ:
SERVICE D APPUI
HCDH-UNOG
1211 GENEVE
SUISSE
Télécopie: (4122) 917-9011
Email: 1503@OHCHR.ORG
Tiện đây chúng tôi cũng xin lưu ý quí độc giả rằng một số lớn các quốc gia dân chủ tự do cho phép khởi kiện trước Tòa Án địa phương, các vi phạm nhân quyền trầm trọng và có hệ thống, không những thủ phạm trực tiếp đàn áp mà cả những người lãnh đạo chính quyền từ trung ương tới địa phương.
THÍ DỤ:
- Toà án Đức quốc ngày 25/01/2010 đã ra án lệnh quốc tế bắt giam Tướng Jorge Rafael Videla, nguyên lãnh đạo cuộc đảo chánh tại Argentine năm 1976 vi tội vi phạm nhân quyền.
- Brasil đã cho dẫn độ một lãnh đạo quân sự về hưu tới Argentine để trả lời về những vi phạm nhân quyền trong chiến dịch “Condor.”
- Tòa Tối Cao Pérou đã xác nhận cựu TT Fujimori 25 năm tù, và bị dẫn độ vào tù sau nhiều năm lẩn trốn ở ngoại quốc.
- Tướng Reynaldo Bignone, nay 83 tuổi, nguyên Chủ Tịch nước Argentine, bi kết án hàng chục năm vì tội bắt cóc, hành hạ, thủ tiệu đối thủ chính trị.
- Giang Trạch Dân, nguyên Chủ Tịch, cùng 4 ủy viên trong Bộ chính trị Đảng Cộng Sản Trung Quốc bị ông Ismael Moreno, Thẩm phán Tòa án Quốc gia Tây Ban Nha truy tố về tội ác tra tấn và diệt chủng đối với học viên Pháp Luân Công ở Bắc Kinh và các tỉnh Liêu Ninh, Sơn Đông.
- Tại Canada, nhiều vụ kiện vi phạm nhân quyền bởi các cựu lãnh đạo ngoại quốc cư trú tại Canada đang bị truy tố hình sự mà hai trong số vụ kiện do Văn phòng Luật sư của hai đứa con người viết đảm trách.
Theo cô Theresa Chu, giám đốc ban chấp hành của Hiệp hội Nhân quyền Washington DC chi nhánh Châu Á, có tối thiểu 50 vụ kiện chống các viên chức Đảng Cộng Sản Trung Quốc nộp bởi các học viên Pháp Luân Công từ 2002 đến 2007. Có hơn 30 quốc gia và hơn 70 luật sư đang giúp các học viên trong các vụ kiện, phần lớn kể cả trường hợp hộ và hình, là chống Giang Trạch Dân (hiện có 15 quốc gia).
Chúng tôi chỉ nêu lên vài vụ kiện tiêu biểu, còn hàng trăm các vụ kiện khác đang tiếp diễn trên nhiều nước khác nhau vì những vi phạm trầm trọng và có hệ thống các quyền căn bản được quốc tế công nhận.
Các điều trình bày trên chứng tỏ rằng, sớm muộn những vi phạm nhân quyền sẽ bị đưa ra ánh sáng Công Lý và những kẻ phạm dù quyền lực cao đến mấy cũng sẽ bị trừng phạt.
Không gian bắt đầu dần dần càng chật hẹp cho những chính quyền độc tài và các nhà lãnh đạo chà đạp các quyền căn bản của con người, tự cho mình cái quyền ngồi trên luật pháp quốc nội và quốc tế.

GHI CHÚ:
(1) - các quyền căn bản được nghi nhận trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền :
Điều 7
Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị trái với Tuyên Ngôn này.
Điều 13
1. Ai cũng có quyền tự do đi lại và cư trú trong quản hạt quốc gia.
2. Ai cũng có quyền rời khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả quốc gia của mình, và có quyền hồi hương.
Điều 18
Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.
Điều 19
Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.
Điều 20
1. Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội có tính cách hoà bình.
2. Không ai bị bắt buộc phải gia nhập một hội đoàn.
Điều 21
1. Ai cũng có quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình, hoặc trực tiếp hoặc qua các đại biểu do mình tự do lựa chọn.
2. Ai cũng có quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.
3. Ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia; ý nguyện này phải được biểu lộ qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương thức phổ thông đầu phiếu kín, hay theo các thủ tục tuyển cử tự do tương tự.
(2) - Các quyền căn bàn nghi nhận trong Công Ước Quốc Tế về quyền dân sự và Chính Trị.
Điều 12
1. Những người cư trú hợp pháp trong lãnh thổ một quốc gia đều có quyền tự do đi lại và tự do lựa chọn nơi cư trú trong lãnh thổ.
2. Mọi người đều được quyền tự do rời khỏi một quốc gia, kể cả quốc gia của mình.
3. Những quyền tự do ghi trên không thể bị giới hạn, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ công cộng, đạo lý, hay những quyền tự do của người khác, và nếu không trái với những quyền tự do khác được thừa nhận trong Công Ước này.
4. Không ai có thể bị tước đoạt quyền hồi hương một cách độc đoán.
Điều 18
1. Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo. Quyền này bao gồm quyền tự do theo một tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự thờ phụng, hành đạo, nghi lễ hay giảng dạy, hoặc riêng tư hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.
2. Không ai bị cưỡng bách tước đoạt quyền tự do lựa chọn tôn giáo hay tín ngưỡng.
3. Quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn theo luật, vì nhu cầu bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý hay những quyền tự do căn bản của người khác.
4. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết tôn trọng quyền của cha mẹ hay người giám hộ trong việc giáo dục các con về tôn giáo hay đạo lý theo tín ngưỡng của họ.
Điều 19:
1. Mọi người đều có quyền giữ vững quan niệm mà không bị ai can thiệp.
2. Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia.
3. Việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm (ghi ở khoản 2 nói trên) đòi hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu:
a. Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh của người khác.
b. Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý.
Điều 21
Quyền hội họp có tính cách hoà bình phải được thừa nhận. Việc hành xử quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi luật pháp, vì các nhu cầu cần thiết trong một xã hội dân chủ để bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý, hay những quyền tự do của người khác.
Điều 22
1. Ai cũng có quyền tự do lập hội, kể cả quyền thành lập và gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình.
2. Việc hành xử quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi luật pháp, vì các nhu cầu cần thiết trong một xã hội dân chủ để bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý, hay những quyền tự do của người khác. Điều luật này không có tác dụng ngăn cấm việc ban hành các giới hạn luật định liên quan đến sự hành xử quyền tự do lập hội của các giới quân nhân và cảnh sát.
3. Điều luật này không có hiệu lực cho phép các quốc gia hội viên ký kết Công Ước Lao Động Quốc Tế năm 1948 về Quyền Tự Do Lập Hội và Bảo Vệ Quyền Lập Hội, được ban hành hay áp dụng những đạo luật có tác dụng vi phạm những bảo đảm về những quyền tự do ghi trong Công Ước Lao Động Quốc Tế.
Điều 25
2. Không bị kỳ thị (như đã quy định ở điều 2) và không bị giới hạn bất hợp lý, mọi công dân đều có quyền và có cơ hội:
a. Được tham gia vào việc điều hành chính quyền, hoặc trực tiếp hoặc qua những đại biểu do mình tự do tuyển chọn.
b. Được bầu cử và ứng cử trong những cuộc tuyển cử tự do và công bằng theo định kỳ, bằng phổ thông đầu phiếu kín, bảo đảm trung thực ý nguyện của cử tri.
c. Được quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.
Điều 26
Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Trên phương diện này, luật pháp cấm mọi kỳ thị và bảo đảm cho tất cả mọi người quyền được bảo vệ một cách bình đẳng và hữu hiệu chống mọi kỳ thị về chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào.
Điều 27
Đối với các cộng đồng thiểu số về chủng tộc, tôn giáo, hay ngôn ngữ tại các quốc gia hội viên, Công Ước này bảo đảm cho các thành phần thiểu số cũng với những người khác trong cộng đồng của họ được quyền hưởng văn hoá riêng, được truyền giáo và hành đạo riêng, và được xử dụng ngôn ngữ riêng của họ.
(3) - Đơn khiếu kiện phải ghi rõ: tên tuôỉ, giới tính, nơi cư trú; nếu là tổ chức hay nhóm người phải ghi danh tính của tổ chức, cộng đồng; diễn tả trường hợp xẩy ra tai nạn; tác giả vi phạm hay suy đoán; quan chức, chức vụ, lý do viện cớ hay suy đoán; các cấp chính quyền cao có liên hệ và, hay họ đã có những biện pháp gì khi đã được thông báo.
Ls Trần Lê Nguyên

Nguyên bản "Thủ tục khiếu kiện các vi phạm nhân quyền tại Hội đồng Liên Hiệp Quốc" bằng tiếng Anh:
Human Rights Council Complaint Procedure
http://www.internationalgeneva.com/navigate.php?kind=0&id=158&lang=en&last=58&lastsub=60
On 18 June 2007, the Human Rights Council adopted the President text entitled "UN Human Rights Council: Institution Building" (resolution 5/1) by which a new Complaint Procedure is being established to address consistent patterns of gross and reliably attested violations of all human rights and all fundamental freedoms occurring in any part of the world and under any circumstances.
The new Complaint Procedure is established in compliance with the mandate entrusted to the Human Rights Council by General Assembly resolution 60/251 of 15 March 2006, in which the Council was requested to review and, where necessary, improve and rationalize, within one year after the holding of its first session, all mandates, mechanisms, functions and responsibilities of the former Commission on Human Rights, including the 1503 procedure, in order to maintain a system of special procedures, expert advice and a complaint procedure.
Accordingly, ECOSOC resolution 1503 (XLVIII) of 27 May 1970 as revised by resolution 2000/3 of 19 June 2000, served as a working basis for the establishment of a new Complaint Procedure and was improved where necessary to ensure that the complaint procedure be impartial, objective, efficient, victims-oriented and conducted in a timely manner.
Review of the 1503 procedure
In compliance with the mandate entrusted to it by the General Assembly, the Council decided on 30 June 2006 to establish the Working Group on the implementation of operative paragraph 6 of General Assembly resolution 60/251 (decision 1/104), to formulate concrete recommendations on the issue of reviewing and when necessary, improving and rationalizing all mandates, mechanisms, functions and responsibilities of the former Commission on Human Rights, including the 1503 procedure.
The Working Group held three formal open-ended sessions from 13 to 24 November 2006, 5 to 16 February 2007 and 10 to 27 April 2007. The segment on the complaint procedure was chaired by the Permanent Representative of Switzerland , who was appointed by the President of the Council to facilitate the consultations on this mechanism. Discussions in the Working Group and various rounds of informal consultations were conducted on the basis of an initial and subsequently revised framework for discussions prepared by the Facilitator. Following the last session of the Working Group, a final proposal (A/HRC/5/15) was submitted by the Facilitator to the President, taking into account to the greatest extent possible, the positions expressed during several months of consultations, with a view to facilitating the drafting of the section on the Complaint Procedure of a final document on institution building of the Council to be adopted in June 2007.
Summaries of the discussions held in the Working Group on the Complaint Procedure are contained in documents A/HRC/3/CRP.3, A/HRC/4/CRP.6 and A/HRC/5/CRP.6.
How does the complaint procedure work?
Pursuant to Council resolution 5/1, the Complaint Procedure is being established to address consistent patterns of gross and reliably attested violations of all human rights and all fundamental freedoms occurring in any part of the world and under any circumstances.
It retains its confidential nature, with a view to enhancing cooperation with the State concerned. The procedure, inter alia, is to be victims-oriented and conducted in a timely manner.
Two distinct working groups - the Working Group on Communications and the Working Group on Situations - are established with the mandate to examine the communications and to bring to the attention of the Council consistent patterns of gross and reliably attested violations of human rights and fundamental freedoms.
Manifestly ill-founded and anonymous communications are screened out by the Chairperson of the Working Group on Communications, together with the Secretariat, based on the admissibility criteria. Communications not rejected in the initial screening are transmitted to the State concerned to obtain its views on the allegations of violations.
The Working Group on Communications (WGC) is designated by the Human Rights Council Advisory Committee from among its members for a period of three years (mandate renewable once). It consists of five independent and highly qualified experts and is geographically representative of the five regional groups. The Working Group meets twice a year for a period of five working days to assess the admissibility and the merits of a communication, including whether the communication alone or in combination with other communications, appears to reveal a consistent pattern of gross and reliably attested violations of human rights and fundamental freedoms. All admissible communications and recommendations thereon are transmitted to the Working Group on Situations.
The Working Group on Situations (WGS) comprises five members appointed by the regional groups from among the States member of the Council for the period of one year (mandate renewable once). It meets twice a year for a period of five working days in order to examine the communications transferred to it by the Working Group on Communications, including the replies of States thereon, as well as the situations which the Council is already seized of under the complaint procedure. The Working Group on Situations, on the basis of the information and recommendations provided by the Working Group on Communications, presents the Council with a report on consistent patterns of gross and reliably attested violations of human rights and fundamental freedoms and makes recommendations to the Council on the course of action to take.
Subsequently, it is the turn of the Council to take a decision concerning each situation thus brought to its attention.
What are the criteria for a communication to be accepted for examination?
A communication related to a violation of human rights and fundamental freedoms is admissible, unless:
• It has manifestly political motivations and its object is not consistent with the UN Charter, the Universal Declaration of Human Rights and other applicable instruments in the field of human rights law; or
• It does not contain a factual description of the alleged violations, including the rights which are alleged to be violated; or
• Its language is abusive. However, such communication may be considered if it meets the other criteria for admissibility after deletion of the abusive language; or
• It is not submitted by a person or a group of persons claiming to be the victim of violations of human rights and fundamental freedoms or by any person or group of persons, including NGOs acting in good faith in accordance with the principles of human rights, not resorting to politically motivated stands contrary to the provisions of the UN Charter and claiming to have direct and reliable knowledge of those violations. Nonetheless, reliably attested communications shall not be inadmissible solely because the knowledge of the individual author is second hand, provided they are accompanied by clear evidence; or
• It is exclusively based on reports disseminated by mass media; or
• It refers to a case that appears to reveal a consistent pattern of gross and reliably attested violations of human rights already being dealt with by a special procedure, a treaty body or other United Nations or similar regional complaints procedure in the field of human rights; or
• The domestic remedies have not been exhausted, unless it appears that such remedies would be ineffective or unreasonably prolonged.
The National Human Rights Institutions (NHRIs), when they are established and work under the guidelines of the Principles Relating to Status of National Institutions (the Paris Principles) including in regard to quasi-judicial competence, can serve as effective means in addressing individual human rights violations.
Where to send communications?
Communications intended for handling under the Council Complaint Procedure may be addressed to:
Human Rights Council and Treaties Division
Complaint Procedure
OHCHR-UNOG
1211 Geneva 10, Switzerland
Fax: (41 22) 917 90 11
E-mail: CP@ohchr.org
For complaints mechanisms of the Special Procedures please click here http://www2.ohchr.org/english/bodies/chr/special/communications.htm
For treaty based complaint procedures please click here
http://www2.ohchr.org/english/bodies/petitions/index.htm
***************************************************************
Nguyên bản "Thủ tục khiếu kiện các vi phạm nhân quyền tại Hội đồng Liên Hiệp Quốc" bằng tiếng Pháp:
Procédé de plaintes assumé par le Conseil des droits de l'homme
http://www.internationalgeneva.com/navigate.php?kind=0&id=158&lang=es&last=58&lastsub=59
Procédure "1503" révisée
La procédure 1503 d’examen de communications confidentielles a été modifiée à la cinquante-sixième session de la Commission des droits de l'homme tenue en 2000. Le Groupe de travail sur le renforcement de l’efficacité des mécanismes de la Commission des droits de l’homme, qui s’est réuni entre les cinquante-cinquième (1999) et cinquante-sixième (2000) sessions de la Commission, a fait figurer dans son rapport (E/CN.4/2000/112) des recommandations concernant la manière dont la procédure 1503 devait être modifiée (voir chapitre III). Ces recommandations ont ensuite été incorporées dans un projet de résolution intitulé Procédure à suivre pour l’examen des communications concernant les droits de l’homme, qui faisait partie de la décision 2000/109 de la Commission (adoptée sans vote le 26 avril 2000). Le Conseil économique et social, à la reprise de sa session d’organisation de 2000, a adopté ce projet le 16 juin 2000, devenu sa résolution 2000/3. Néanmoins, et conformément à cette résolution, la procédure modifiée continue d’être appelée procédure 1503.
Comme le prévoit ladite résolution, un groupe de travail sera constitué chaque année par la la Sous-Commission de la promotion et de la protection des droits de l'homme, composé de membres de cet organe géographiquement représentatifs des cinq ensembles régionaux, un roulement approprié étant encouragé. Cet organe, appelé Groupe de travail des communications, se réunira tous les ans immédiatement après la session de la Sous-Commission afin d’examiner les communications (plaintes) reçues de particuliers et de groupes dénonçant des violations des droits de l’homme et des réponses reçues des gouvernements. Les communications manifestement dénuées de fondement comme par exemple celles faisant référence à des questions qui ne relèvent pas de la Déclaration Universelle, seront éliminées par le Secrétariat avec l’accord du Président-Rapporteur du Groupe de Travail des communications. Ces communications ne seront pas envoyées aux gouvernements concernés ni présentées au Groupe de travail des communications. Le fait qu’une communication soit transmise au gouvernement concerné et qu’un avis de réception soit envoyé à son auteur ne suggère aucun jugement sur la recevabilité ou le bien-fondé de ladite communication. Si le Groupe de travail relève des preuves suffisantes de l’existence d’un ensemble de violations flagrantes et systématiques des droits de l’homme, il transmet le dossier au Groupe de travail des situations.
Le Groupe de travail des situations sera composé comme auparavant de cinq membres désignés par les groupes régionaux, avec un roulement convenable. Il se réunira au moins un mois avant la Commission afin d’examiner les situations qui lui ont été transmises par le Groupe de travail des communications et de décider de leur renvoi éventuel à la Commission. Ce sera ensuite à la Commission de prendre une décision concernant les situations ainsi portées à son attention.
Confidentialité
Toutes les étapes liminaires du processus sont confidentielles tant que la situation n’a pas été renvoyée au Conseil économique et social. À ce stade en revanche, et ce depuis 1978, le Président de la Commission des droits de l’homme dévoile le nom des pays dont la situation est examinée. Ainsi, un ensemble de violations commises dans un pays donné peut, si l’affaire n’est pas réglée aux premières étapes du processus, être porté à l’attention de la communauté internationale par l’un des organes principaux des Nations Unies, le Conseil économique et social.
Quels sont les critères de recevabilité d’une communication?
fin de déterminer quelles communications sont recevables, la Sous-Commission de la promotion et de la protection des droits de l’homme a établi une procédure [résolution 1 (XXIV) de la Sous-Commission datée du 13 août 1971] dont les grandes lignes peuvent se résumer de la façon suivante:
- Les communications incompatibles avec les principes de la Charte des Nations Unies ou motivées par des raisons politiques ne sont pas admissibles.
- Les communications ne sont recevables que si leur examen donne raisonnablement lieu de croire - compte tenu aussi des réponses envoyées par le gouvernement - qu’elles révèlent l’existence d’un ensemble de violations flagrantes et systématiques des droits de l’homme et des libertés fondamentales.
- Les communications peuvent émaner de tout individu ou groupe de personnes affirmant avoir été victime de violations des droits de l’homme ou ayant une connaissance directe et sûre de violations. Les communications anonymes ne sont pas recevables, non plus que celles qui reposent exclusivement sur des nouvelles diffusées par des moyens de communication de masse.
- Toute communication doit contenir une description des faits et indiquer l’objet de la pétition et les droits qui ont été violés. En règle générale, les communications rédigées en termes outranciers ou insultant l'État en cause ne sont pas examinées.
- Les recours internes doivent avoir été épuisés pour qu’une communication soit examinée, à moins qu'il ne soit établi que des démarches au niveau national seraient inefficaces ou que la procédure se prolongerait indûment.
À qui envoyer les communications?
Les communications relevant de la procédure 1503 peuvent être envoyées à l’adresse suivante:
Service d’appui
HCDH-UNOG
1211 Genève 10
(Suisse)
Télécopie : (41 22) 917 90 11
Email: 1503@ohchr.org
Website của Geneva International bằng tiếng Anh: http://www.internationalgeneva.com/pages/en/;
Website của Geneva International bằng tiếng Pháp: http://www.internationalgeneva.com/pages/fr/;
Website của Geneva International bằng tiếng Tây Ban Nha: http://www.internationalgeneva.com/pages/es/;
TÀU NGẦM TRUNG CỘNG TIẾN VÀO VÙNG BIỂN ĐÀI LOAN

Tàu ngầm Trung cộng - Ảnh Sinodefenceforum
Tàu ngầm Trung Quốc tiến vào vùng biển Đài Loan
Source: vietnamnet, TaipeiTimes, AP
Một tàu ngầm của Trung Quốc đã tiến vào vùng biển Đài Loan nhưng rút lui sau khi tàu hải quân Đài Loan tìm cách định vị nó, báo United Evening News xuất bản bằng tiếng Trung của Đài Loan hôm 31/1 đưa tin.
Theo báo này, sự kiện trên xảy ra sáng 27/1 khi máy bay trực thăng phát hiện sự hiện diện của một tàu ngầm ở ngoài khơi cảng Zuoying, thành phố Cao Hùng khi đang tiến hành một cuộc diễn tập. Chiếc tàu ngầm đã rút lui khi hải quân Đài Loan đề nghị cung cấp thông tin nhưng không nhận được phản hồi, và tiến hành truy tìm. Theo United Evening News, tàu ngầm chỉ cách cảng Zuoying 44km.
Cũng trong ngày 31/1, ban đầu phát ngôn viên bộ chỉ huy đội tàu hải quân Đài Loan Wen Chen-kuo từ chối bình luận khi được đề nghị có ý kiến về bài báo. Sau đó, vào cuối ngày, giám đốc hậu cần của cơ quan thời chiến Hsia Teh-yu phủ nhận bản tin trên.
Ông Hsia Teh-yu nói, đúng là máy bay đã phát hiện được một thứ gì đó dưới nước khi tập trận hôm thứ tư tuần trước. Tuy nhiên, sau đó, nó được xác định không phải là tàu ngầm. "Nếu là tàu ngầm, hải quân sẽ áp dụng những biện pháp tức thời để buộc nó nổi lên hoặc chặn đường", ông Hsia nói.
Theo quan chức này, có một số yếu tố dẫn tới việc phát hiện những chuyển động bất thường dưới nước như tàu chìm hay một đàn cá lớn.
Thông tin về tàu ngầm Trung Quốc tiến vào vùng biển Đài Loan được đưa một ngày sau khi Tổng thống Mỹ phê chuẩn thỏa thuận bán số vũ khí trị giá 6,4 tỷ USD, gồm tên lửa Patriot, trực thăng Black Hawk, tàu dò mìn và các vũ khí khác cho Đài Loan.
Đài Loan và Trung Quốc bị chia tách trong cuộc nội chiến năm 1949. Bắc Kinh tuyên bố Đài Loan là một phần lãnh thổ của Trung Quốc và dọa sẽ dùng vũ lực nếu hòn đảo này muốn độc lập.
•Hoài Linh (Theo TaipeiTimes, AP)
