Archives for: April 2010
"BLACK SWANS" THE ONES TO WATCH FOR

The lesson is to be aware of how easily whole industries can be blown apart. Photo: AP
'Black swans' the ones to watch for
Source: smh.com.au
MATTHEW LYNN
April 26, 2010
The lesson is to be aware of how easily whole industries can be blown apart.
Whether it's banks collapsing or volcanoes erupting, the unexpected can upset the global apple cart.
FOR a generation or more, no one ever gave a second thought to Iceland. Now it has shaken up the world twice in a couple of years.
First, its banks collapsed in the most dramatic illustration of the fragility of our financial system. Now an Icelandic volcano has been spewing ash into the sky, prompting a shutdown, for some time, of European airspace.
The continent was paralysed. Planes were grounded.
Travellers were stuck thousands of kilometres from their families and workplaces. Business, for a time, ground to a halt.
Both happenings are strangely similar. They are, to borrow a phrase from financial theory, "black swan" events: unexpected developments, coming out of nowhere, for which no one has any kind of contingency plan. And they are a warning about the fragility of the modern economy.
The lesson, surely, is to be aware of how easily whole industries can be blown apart. And to make sure we build systems robust enough to survive the worst that can be thrown at them.
The Eyjafjallajokull volcano caused chaos on a massive scale. After the April 14 eruption, more than 80,000 flights were cancelled.
An easing of the cloud of ash, which can cause lethal damage to aircraft engines, meant that European airports could re-open.
But London's usually busy Heathrow Airport remained shut until late last week.
No one really knows how long the volcano will be a threat to the skies. Its last major eruption in 1821 lasted more than a year.
It can teach us useful lessons, if we want to learn them.
First, we are dependent on air travel. Our global economy is kept in motion by fleets of jetliners and a network of airports.
Business revolves around meetings in hotels next to the runways. Documents are ferried around by air. Even the food in grocery stores often lands a day before from another continent.
But air networks are very delicate. They are constantly at the mercy of the weather, mechanical failure, labour strikes and terrorist plots. We should have learnt after the September 11 attacks on New York and Washington not to depend so much on flying. Likewise, we should listen more to the climate-change scientists warning about the impact of global warming. Perhaps the recent chaos will teach us that our economy needs to be more grounded, both metaphorically and literally.
Second, we forget that distance counts. Globalisation has made the world seem a very small place. E-mails ping from continent to continent in the blink of an eye. Social networks allow us to be friends with people thousands of kilometres away as easily as if they lived in the next street. Money flashes from country to country, and ideas and trends zip around the world.
And yet, when the technology breaks down, it is a long way from Helsinki to Madrid, or from New York to Berlin.
Try doing that journey the old-fashioned way - by car, by boat, or on foot - and you suddenly realise the distance between places still counts for a lot.
The world isn't as much of a global village as we think it is. It's still a vast place, and the local can often bite back at the global.
Third, we need to prepare for the unexpected. A couple of years ago, it was the financial system that fell to pieces.
Right now, it is the transport system. In both cases, the cause was something we didn't expect, or make any plans for.
We thought hedge funds might blow up the banks - instead some rather dull-looking mortgages did. We thought terrorists might spread chaos through the airline system - it turned out that ash from an Icelandic volcano did that job.
In reality, "black swans" are everywhere. Much of Europe's energy is now supplied by Russia. Is that really stable in the long term? Much of our food is now genetically modified. What would happen if we suddenly discovered that it was not safe any more?
The euro is a relatively new currency. It has struggled to cope with a few deficit issues in Greece, one of the smallest member states. There must be half a dozen different kinds of crises that could mean the money most of the continent relies on does not work any more.
All sorts of unexpected events are lurking in the shadows.
By definition, we haven't thought about them. It is because they are so unexpected that they are so dangerous. What we can do is think harder about the threats, get better at forecasting them, and find ways of making ourselves less vulnerable.
Air travel is useful. It is the quickest and usually the cheapest way of getting around. But we shouldn't depend on it as much as we do.
We should not rely so completely on any single network, be it financial or technological. That should be obvious. But sometimes it takes something as powerful as a volcanic eruption to make a simple point.
BLOOMBERG
ĐỘI QUÂN BÍ MẬT VẪN TIẾP TỤC CUỘC CHIẾN VIỆT NAM - CÁC NHÀ TRANH ĐẤU ĐANG BỊ ÉP VÀO ĐƯỜNG CÙNG? - HAI VỢ CHỒNG NGƯỜI TỴ NẠN VIỆT NAM TẠI THÁI LAN BỊ MẬT VỤ CSVN BẮT CÓC
Ảnh: independent
Đội quân bí mật vẫn tiếp tục cuộc chiến Việt Nam
Nguồn: William Lloyd George, The Independent
Lê Quốc Tuấn, X-Cafe chuyển ngữ
Được tuyển dụng và vũ trang bởi CIA vào những năm 1960, những người Hmông vẫn còn bị kẹt giữa rừng địch, bị Mỹ và cả thế giới bỏ quên.
Ngược lên một con đường đất quanh co qua những ngọn núi xanh tốt vọng ra âm thanh của những tiếng huýt sáo từ hai bên đường. Suýt hụt mất một chiếc xe máy chạy qua, hai chàng trai trẻ với súng máy nhảy ra khỏi khu rừng dày đặc.
Mình cần phải đi nhanh, nhưng khi một cậu bé kéo tôi ngược lên phía trên cùng của một con dốc lầy lội, bùn đất dốc theo cánh tay bắn cả vào mắt. Cậu ta cố ngăn dòng nước mắt ứa ra.
Trong một khoảng trống nhỏ xíu cắt dọn khỏi cánh rừng tre dày đặc, bốn cậu bé, có lẽ không quá 18 đang thì thầm với nhau. Vã mồ hôi vì phải leo trèo nhanh và cơn nóng hừng hực, họ phơi những bộ đồng phục màu xanh rách nát của mình trên các nhánh tre và dựng những khẩu súng AK-47 cũ móp méo sang một bên.
Đây là những dấu tích còn lại của Quân đội Hoàng gia Lào, đuợc tuyển dụng bởi người Mỹ để phá vỡ đường tiếp tế Hồ Chí Minh trong Chiến tranh Việt Nam. Mặc dù Lào đã từng tuyên bố trung lập, quân đội Việt Nam đã vẫn hoạt động ở đó và CIA đã nhìn Lào như một mặt trận khác để chống lại sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản.
Đối với cả phần còn lại của thế giới, việc chiếm được thành phố Sài Gòn – bây giờ thành phố Hồ Chí Minh – của quân đội Bắc Việt vào năm 1975 đã đánh dấu sự kết thúc chiến tranh Việt Nam, nhưng đối với người Hmong, đấy chỉ là sự khởi đầu. Khi chế độ cộng sản Pathet Lào lên nắm quyền, họ đã tuyên bố sẽ quét sạch tất cả người Hmong khỏi đất Lào. Kể từ đó, người Hmong đã lẩn trốn giấu mình trong rừng sâu và hoàn toàn cách ly khỏi thế giới bên ngoài.
Những binh lính trẻ đã dẫn đường cho người dân của mình vào sâu phía sau lằn ranh quân địch trong Saysomboun – “khu vực đặc biệt”. Họ bước đi nhẹ nhàng và thì thầm, bởi vì, họ cảnh báo, “kẻ thù ở khắp mọi nơi”.
Trèo núi suốt ngày đêm, một số lên thẳng các rặng núi cao để tránh quân thù đi tuần, cuối cùng chúng tôi được dẫn đến lối vào trại của họ. Cả một cộng đồng lăn ra trên mặt đất kêu khóc thảm thương và cầu xin được giúp đỡ. Những phụ nữ lớn tuổi run bật lên vì xúc động khi kể lại những nỗi kinh hoàng mà họ đã chứng kiến, trong khi những trẻ nhỏ khóc òa khi vừa nhìn thấy một người từ thế giới bên ngoài. Cho Her, người cựu nhân viên CIA nằm úp mặt xuống xuống bùn đất, cầu nguyện cho người dân của mình được giải cứu. “Mỹ và các nhà lãnh đạo trên thế giới hãy đến đây giải cứu chúng tôi và ngăn chặn chính phủ Lào khỏi sự ngược đãi chúng tôi vì đã từng là lính của CIA trong cuộc chiến bí mật”, ông nói.
Hơn 30 năm trước, khi chiến tranh Việt Nam đã kết thúc, CIA rút các điệp viên của mình ra thì Cher Fer còn là một thanh niên trẻ. Khi người Mỹ rời đi, họ đã mang đi một số chiến sĩ Hmong với họ, nhưng đã bỏ lại hơn 10.000 đồng minh của họ để tự bảo vệ lấy mình. Cay đắng vì bị bội phản, chính phủ Lào đã bách hại những người từng chiến đấu bên cạnh người Mỹ, buộc người Hmong phải rút lui vào rừng sâu.
“Chúng tôi không có lựa chọn gì ngoài việc bắt buộc phải dùng súng ống người Mỹ cung cấp và trốn lên rừng”, Chong Pa Thao, một cựu nhân viên CIA khác vừa nói vừa lau dòng nước mắt từ đôi má của ông. “Sau đó, người Việt Nam phối hợp lực lượng với những người cộng sản Lào săn bắn chúng tôi như những con vật trong rừng rậm, gìết hại và bỏ mặc xác chết của người chúng tôi thối rữa trong rừng”.
Các thành viên của lực lượng chiến đấu kinh hoàng từng một thời đầy tự hào bây giờ nằm trên mặt đất, buông bỏ tất cả phẩm giá để cầu xin được cứu giúp, thậm chí chỉ từ một nhà báo – hiện thân Tây Phương của họ – đến thăm. Tự xác nhận mình là lính CIA, họ năn nỉ và năn nỉ hơn nữa xin người Mỹ trở lại để đưa họ ra khỏi “địa ngục trần gian” của mình.
“Tôi là CIA. Năm 1970, ông Jerry đã cho tôi khẩu M79 này và bảo tôi bắn quân thù” Cher Fer nói trong một giọng Mỹ hoàn hảo, khi ông giơ cao một khẩu súng phóng lựu cũ mèm trong không khí.
“Chúng tôi đã mất đi hàng ngàn quân lính cho Mỹ – khi các binh sĩ Lào giết chúng tôi họ cảm thấy như họ đã giết chết được một người lính Mỹ. CIA phải đến cứu lấy chúng tôi”.
Nỗi hoang tưởng về một ngày nào đó người Mỹ sẽ đến giải thoát mình đã động viên các cựu chiến binh và gia đình họ đấu tranh mà chờ đợi được trong 30 năm qua. Nhưng bất chấp sự liên minh của CIA với phiến quân Hmong, chính phủ Mỹ đã có ít nỗ lực để mang họ ra khỏi rừng trú ẩn.
Bill Lair, người nhân viên CIA huyền thoại từng điều phối các hoạt động xây dựng một đội quân kháng chiến chống cộng sản từ những người dân bộ lạc rừng rú kém giáo dục, đã bảo vệ hành động của Cơ quan Tình báo. Phát biểu qua điện thoại từ nhà của ông ở Waco, Texas, ông nói rằng Hoa Kỳ ban đầu đã tuyển dụng người Hmong và đã xử dụng người Thái để huấn luyện họ bởi vì người Hmông “giỏi hơn so với bất cứ ai khác xung quanh, mỗi bước đi của họ là ở cùng khắp do đó họ có thể di chuyển nhanh hơn quân địch rất nhiều”.
Nhưng khi được hỏi bây giờ Mỹ có nên thực hiện các biện pháp để cứu họ, ông trả lời: “CIA không mang nợ họ điều gì cả. Chúng tôi đã cho họ sự lựa chọn để rời đi nhưng họ đã quyết định ở lại, nghĩ là mình có thể quay trở lại cách đã từng sống ở vùng núi non”.
Vào năm 2007, Vang Pao, vị lãnh đạo phiến quân Hmong được chỉ định bởi CIA, người sau đó di cư sang Mỹ và trở nên một nhà lãnh đạo cộng đồng người Hmong ở đó, đã bị bắt tại California và bị Mỹ kết tội âm mưu lật đổ chính phủ Lào. Sau đó những tội trạng này đã được hủy bỏ, nhưng bản thông điệp chỉ ra rõ ràng: Mỹ giờ đây đứng về phía Lào, kẻ thù cũ của họ, một kẻ thù mà họ đã huấn luyện Vang Pao để chiến đấu chống lại.
Sự việc đắc cử của Barack Obama vào Nhà Trắng đã được xem là một ngọn hải đăng của niềm hy vọng cho những người ủng hộ người Hmong. Tổng thống đã kêu gọi tất cả các phe phái phải tôn trọng luật pháp quốc tế và “đảm bảo rằng những người Hmong lạc loài đó không phải ở trong những phương cách nguy hiểm”. Tuy nhiên, bất chấp một cuộc tranh cãi quốc tế sôi nổi, hơn 4.500 người tị nạn Hmong đã bị Thái Lan, nơi họ đã tìm cách lánh nạn, buộc phải hồi hương về Lào. Chính phủ Mỹ đã ra tuyên bố nói rằng họ có quan tâm, nhưng đã không có hành động gì.
Tiếp theo đó chính phủ Lào đã mời ba dân biểu Hoa Kỳ sang thăm. Sau đó đã tuyên bố rằng những người trở về đã được cư xử tốt khiến thổi lên ngọn lửa giận dữ giữa những người ủng hộ Hmong cho rằng chuyến đi đã bị vận dụng bởi chính phủ Lào.
Vài tuần sau, Dân biểu tham quan Joseph Cao cho biết ông muốn tăng viện trợ cho Lào. Nhưng các nhà lãnh đạo Hmong tin rằng viện trợ của Mỹ đã được đổ vào các nỗ lực quân sự của chính phủ Lào để loại trừ người Hmong, như người Hmong vẫn tự gọi mình là “những đồng minh của CIA bị lãng quên”.
Bị cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài, đây là lần đầu tiên các nhà lãnh đạo trong rừng đã được nghe biết rằng những người tị nạn Hmong đã bị đưa trở lại Lào. Khi nhận được những tin tức này, sự tuyệt vọng của họ là hiển nhiên.
“Tối thiểu là trước đây chúng tôi nghĩ rằng mình có thể trốn thoát sang Thái Lan nhưng bây giờ chúng tôi không còn có nơi nào để chạy đi” ông Chao Fer vừa nói vừa nhìn trông qua rặng núi chỉ cách đó ba dặm. “Chúng tôi không thể cứ tiếp tục chạy, sớm muộn gì tất cả chúng tôi sẽ chết ở đây. Ngay trên núi đó là nơi của đối phương và khi chúng tôi đang nói chuyện, họ đang săn bắt chúng tôi xuống bằng chó – chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi chúng lại tấn công chúng tôi một lần nữa”.
Vài tuần trước đó quân đội Lào đã tràn ngập vào một doanh mà họ tin là của người Hmong trước đây trong một phần của chiến dịch chuẩn bị cho Các cuộc Thi đấu Thể thao lần thứ 25 của vùng Đông Nam Á. Trong cuộc đột kích một cậu bé 14 tuổi bị giết chết, những người chỉ huy cho biết là cậu bé không có vũ trang và đã chỉ đi lùng kiếm thức ăn để nuôi gia đình mình.
“Tháng trước, con trai tôi đã bị cộng sản bắn chết” mẹ của cậu bé vừa nói vừa chuẩn bị thức ăn cho những đứa con khác của bà. Nó không có súng ống gì, chỉ đi tìm ra thức ăn cho chúng tôi thôi, nhưng tôi không có khả năng để làm bất cứ điều gì – Tôi chỉ có thể chết trong rừng này”.
Những cuộc tấn công thường xuyên buộc các nhóm phải thay đổi trại mỗi hai tuần lễ và chia ra thành nhóm nhỏ để tránh các cuộc tấn công quy mô lớn của quân đội Lào. Điều này đưa đến việc cộng đồng không có cơ hội để nuôi trồng thực phẩm hoặc đạt đến được một cách sống thích hợp hơn. Khi không có sự lựa chọn khác, luộc chín lá cây đã trở thành chế độ ăn uống hàng ngày của họ và chỉ có những lúc may mắn nếu họ có thể bắt được một con khỉ hoặc loài chuột rừng. Việc thiếu ăn đã khiến họ trông suy dinh dưỡng rõ rệt – cả người già và trẻ con đều có những cái bụng sưng lên.
Ăn các loại cây lá khiến họ đói lả, cho nên như loài vật, các phụ nữ và trẻ em đến các ngọn đồi xung quanh, để đào bới bằng tay và đầu gối của mình. Bên ngoài trại, họ cho biết nhiều phụ nữ và trẻ em đã bị giết bởi quân đội Lào và những “người may mắn” thoát chết thì có những vết thương vì đạn bắn để khoe ra.
“Tôi cảm thấy đau khổ khi cho con mình những thức ăn cây lá này, nhưng chúng tôi không có lựa chọn nào khác”, một bà mẹ giải thích. “Đi săn thì hết sức nguy hiểm và chúng tôi không thể đến gần các làng mạc, vì cộng sản sẽ giết chúng tôi. Đôi khi vì quá sợ hãi không dám ra khỏi rừng, chúng tôi chỉ đành nhịn đói”.
Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lao Khenthong Nuanthasing đã chối bỏ sự tồn tại của nhóm người này, ông nêu rõ là nếu có bất cứ ai tồn tại như thế thì chẳng là ai khác hơn “những băng cướp”. Tuy nhiên, theo người Hmong cho biết, gần đây quân đội Lào đã gia tăng chiến dịch của họ với sự hỗ trợ của Việt Nam. Những người lãnh đạo Hmong thuật lại rằng cường độ của những cuộc tấn công chống lại họ đã tăng lên và các nhóm người của họ đang bị đẩy xa và sâu hơn vào trong rừng.
Một chuyến đi của Vang pao được thu xếp đến thăm Viêng Chăn, thủ đô Lào, để cố gắng và tạo nên một thỏa thuận hòa bình đã bị hủy bỏ, viện cớ vì những rủi ro về an ninh. Chính phủ Lào đã thông báo rằng nếu trở về ông ta “sẽ phải đối diện với bản án tử hình cho những tội ác chiến tranh của ông trong chiến tranh Việt Nam”.
Trong những căn trại giữa rừng này, nỗi sợ hãi hằn trên tất cả các khuôn mặt, ngay cả nơi trẻ em. Với Thái Lan như quay lưng lại với mình, và Mỹ dường như đang bỏ qua cảnh ngộ của mình, họ biết cơ hội sống sót thật là mỏng manh.
Khi cả nhóm tập hợp lại để nói lời chia tay, một phụ nữ lớn tuổi nắm lấy tay tôi và thì thầm vào tai :
“Tôi biết cộng sản sẽ giết tất cả chúng tôi … khi chúng hành động như thế, xin ông hãy chắc chắn nói với cả thế giới rằng chúng tôi đã ở đây và những gì công sản đã làm đối với chúng tôi”.
*****************Bản tiếng Anh nguyên thủy
The secret army still fighting Vietnam war
Hired and armed by the CIA in the 1960s, the Hmong remain trapped in enemy jungle, forgotten by America and the world
By William Lloyd George in Laos
Wednesday, 17 February 2010
Up a winding dirt path through lush mountains comes the sound of whistling from the side of the road. Narrowly missing a passing motorbike, two young boys with machine guns leap out of the dense jungle.
We need to move fast, but as one boy hauls me to the top of a steep, muddy slope his hand flicks to his eyes. He is fighting to hold back tears.
In a tiny clearing they've cut out of the thick bamboo forest four boys, seemingly no older than 18 whisper to each other. Sweating from the quick climb and dense heat, they hang up their torn blue uniforms on bamboo branches and prop up their battered old AK-47s.
These are the remnants of the Royal Laos Army, hired by the Americans to disrupt Ho Chi Minh supply lines during the Vietnam War. Although Laos had been declared neutral, Vietnamese troops were operating there and the CIA saw it as another front against the spread of communism.
For the rest of the world, the capture of Saigon – now Ho Chi Minh City – by North Vietnamese troops in 1975 marked the end of the Vietnam War, but for the Hmong, it was just the beginning. When the communist regime, the Pathet Lao took power it announced it would wipe out all Hmong from Laos. Since then the Hmong have been hiding in the depths of the jungle completely cut off from the outside world.
The young soldiers lead the way to their people deep behind enemy lines in the Saysomboun, "special zone". They tread lightly and whisper, because, they warn, the "enemy is everywhere".
Days and nights of trekking, some of it straight up mountains to avoid enemy patrols brings us eventually to the entrance of their camp. The whole community falls on the ground crying hysterically and begging for help. Old women shake with emotion as they speak of the horrors they have witnessed, while young children weep at their first sighting of an outsider. CIA veteran Cho Her lies face down in the dirt, praying for the rescue of his people. "US and world leaders please come and rescue us and stop the Laos government persecuting us for being the CIA's foot-soldiers during the secret war," he says.
More than 30 years ago, when the Vietnam War finished and the CIA pulled their agents out, Cher Fer was a young man. When the Americans left, they took a handful of Hmong fighters with them, leaving more than 10,000 of their allies behind to fend for themselves. Bitter at their betrayal, the Laos government persecuted those who had fought alongside the Americans, forcing the Hmong to retreat deep inside the jungle.
"We had no choice but to take the weapons the Americans gave us and flee to the jungle," said another CIA veteran Chong Pha Thao, wiping tears from his cheeks. "Then the Vietnamese joined forces with the Laos communists and hunted us like animals in the jungle, leaving our people's corpses to rot when they killed them."
Members of the once proud and formidable fighting force now lie on the ground, abandoning all dignity to beg for help, even from a visiting journalist, their personification of the West. Identifying themselves as CIA soldiers, they plead over and over again for the Americans to return, and take them out of their "living hell".
"I am CIA. In 1970 Mr Jerry gave me this M79 and told me to shoot enemy," Cher Fer says in a perfect American accent, as he waves a battered grenade-launcher in the air.
"We have lost thousands of troops for America – when the Laos soldiers kill us they feel like they have killed an America soldier. The CIA must come and save us."
The fantasty that America will one day come and liberate them has motivated the veterans and their families to struggle on through for the last 30 years. But despite the Hmong rebels' alliance with the CIA, the American government has made little effort to extract them from the jungle.
Bill Lair, the legendary CIA agent who co-ordinated the operation to build an anti-Communist resistance army out of poorly educated jungle tribespeople, defended the Agency's actions. Speaking by phone from his home in Waco, Texas, he said that the US originally hired the Hmong and used Thai recruits to train them because the Hmong "were better than anyone else around, every step they took was up or down so they could move a lot faster than the enemy".
But when asked if America should now take steps to save them, he replied: "The CIA owes them nothing. We gave them the choice to leave but they decided to stay, thinking they could go back to how they used to live in the mountains".
In 2007, Vang Pao, the leader of the Hmong rebels appointed by the CIA, who later emigrated to the US and was a Hmong community leader there, was arrested in California and charged by the US with conspiring to overthrow the Laos government. The charges were later dropped, but the message was clear: America was now on the side of Laos, its former enemy, an enemy it trained Vang Pao to fight.
Barack Obama's election to the White House was seen as a beacon of hope for Hmong advocates. He has called for all parties to respect international law and "ensure that displaced Hmong are not placed in harm's way". However, despite an international furore, more than 4,500 Hmong refugees were forcibly repatriated back to Laos by Thailand where they had sought refuge. The US government issued statements saying it was concerned, but took no action.
The Laos government subsequently invited three US congressmen to visit. They later claimed that the returnees were being treated well which ignited anger among Hmong advocates said the trip was orchestrated by the Laos government.
Weeks later, visiting Congressman Joseph Cao said he would like to increase aid to Laos. But Hmong leaders believe US aid has already been funnelled into the Laos government's military efforts to eliminate, as the Hmong call themselves, the "CIA's forgotten allies"
Cut off from the outside world, this is the first time the jungle leaders have heard that the Hmong refugees were being sent back to Laos. On receiving the news their despair is evident.
"At least before, we thought we could escape to Thailand but now we have no place to run to," says Chao Fer as he looks over to a mountain just three miles away. "We can't keep running, soon we will all die here. Just over that mountain is where the enemy is and as we speak they are hunting us down with dogs – it's just a matter of time before they attack us again."
Weeks earlier the Laos army had stormed the Hmong's previous temporary camp in what they believe was part of campaign to prepare for the 25th Southeast Asian Games. In the raid a 14-year-old boy was killed, the leaders say he was unarmed and foraging for food to feed his family.
"My son was shot by the communists last month," the boy's mother says as she prepares food for her other children. He didn't have any gun, just finding food for us but I don't have the ability to do anything – I can only die inside".
Frequent attacks force the groups to change camp every two weeks and break up into small numbers to avoid large-scale offensives by the Laos army. This leaves the community no chance to farm food or forge a proper way of life. With no other choice, boiled tree shrub has become their daily diet and at times they are lucky if they can catch a jungle rat or monkey. The lack of nutrients has left the group visibly malnourished – both young and old have swollen abdomens.
Eating the tree shrub leaves them starving, so like animals, women and children take to the surrounding hills to dig on their hands and knees. Outside the camp, they claim that many women and children have been killed by the Laos army and the "lucky ones" have bullet wounds to show.
"I feel so unhappy to give this food to my kids, but we have no other choice," one mother explains. "It's too dangerous to hunt and we can't reach the villages because the communists will kill us. Sometimes we are too scared to go out so we just starve."
The Lao foreign ministry spokesman Khenthong Nuanthasing has denied that the group exists, stating, if anything, they are nothing more than "bandits". However, according to the Hmong, the Laos army has recently increased their campaign with the assistance of the Vietnamese. Hmong leaders report that the intensity of attacks against them has increased and their groups are being driven further and further into the jungle.
A planned trip by Vang Pal to visit Vientiane, the Laos capital, to try and strike a peace deal has been cancelled citing security risks. The Laos government has announced that if he returns he will "face the death sentence for his war crimes during the Vietnam War".
In the jungle camp, fear is written on all the faces, even those of the children. With Thailand apparently turning its back on them, and the US seemingly ignoring their plight, they know their chances of survival are slim.
As the entire group gathers to say farewell, one old lady grabs my hand and whispers in my ear.
"I know the communists are going to kill us all... when they do, make sure you tell the world we were here and what they did to us."
**************************************************

Luật sư Lê Trần Luật
CÁC NHÀ TRANH ĐẤU ĐANG BỊ ÉP VÀO ĐƯỜNG CÙNG?
Khánh An, phóng viên RFA
Luật sư Lê Trần Luật, người từng biện hộ cho vụ giáo xứ Thái Hà và bảo vệ dân oan, lại bị ép vào con đường cùng khi bị tước mất công việc vừa có, nhiều nhà trọ cũng từ chối gia đình anh.
Truy đuổi đến cùng
Những hành động ép người vào đường cùng như trên liệu có ngăn chặn được những tiếng nói bất đồng?
Bạn bè, độc giả blog LS Lê Trần Luật chưa kịp vui khi đọc tựa đề bài viết “Việc làm mới” của anh vào ngày 20/4 đã phải nén một tiếng thở dài khi đọc đến đoạn cuối bài viết.
LS Lê Trần Luật tâm sự trên blog:
Vậy là tôi thất nghiệp đã hơn một năm ba tháng rồi. Suốt thời gian đó tôi cũng cố gắng xin việc nhiều nơi nhưng không thành. Đa số những nơi tôi xin việc đều từ chối khéo. Có nơi họ cũng thẳng thừng từ chối khi nghe đến tên tôi. Có nơi định nhận tôi vào làm việc thì ngay lập tức nơi đó nhận được “trát làm việc” của cơ quan an ninh. Sau đó tôi gọi điện nhiều lần nhưng họ không trả lời tôi nữa.
Sau nhiều lần thuyết phục, cuối cùng tôi cũng được một người nhân viên cũ nhận vào làm việc trên tinh thần hợp tác. Tất nhiên bây giờ anh ấy là Sếp của tôi… Sáng hôm qua mọi chuyện sắp đặt văn phòng xem như đã hòan tất. Tôi nghe Sếp bảo thứ năm này sẽ cúng khai trương…
Khoảng 3h chiều tôi nghe Sếp điện thoại và báo có ông Long nào bên an ninh gọi điện và yêu cầu Sếp sáng mai đúng 8h lên công an phường làm việc. Tôi hỏi lại làm việc gì? có giấy mời gì không? Sếp tôi trả lời với giọng yếu hẳn: “ Nó bảo làm việc về chuyện anh tới đây làm, có góp vốn không hay làm công ăn lương, em biết anh rồi mà nhận vô làm gì, hỏi nhiều lắm”. Tôi cố hỏi thêm: còn gì nữa không? Sếp bảo:“Nó nói anh là phần tử chống đối, hay viết bài trên mạng, và trả lời báo đài nuớc ngòai, nó sẽ kiểm tra và thu máy của văn phòng, có khi nó dẹp luôn cả văn phòng liệu hồn mà tính”…
Sáng nay, sau khi chở con đi học về, vợ tôi hỏi:“Anh không đi làm à?”. Tôi im lặng vì không biết nên trả lời như thế nào.

Luật sư Lê Trần Luật (giữa).
Trước đó chưa đầy một tuần, ngày 15/4, nhiều bạn bè đã chia sẻ với LS Lê Trần Luật về câu chuyện “Nhà mới” thuê sau khi liên tục gặp rắc rối với những căn nhà thuê trước đây. Qua blog, LS Lê Trần Luật cho biết:
Sau nhiều lần trì hoãn, cuối cùng tôi cũng phải trả nhà lại cho chủ và dọn về chỗ ở mới. Thật ra, chủ nhà cũng đã nhiều lần yêu cầu tôi trả lại nhà dù chưa hết thời hạn thuê. Tôi hoàn toàn hiểu và cảm thông với họ. Sau sự kiện Người Buôn Gió đến thăm, quan hệ giữa tôi và chủ nhà trở nên căng thẳng hơn…
Từ hơn một năm qua, những câu chuyện nhà của LS Lê Trần Luật đã không còn xa lạ đối với bạn bè và giới blogger. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, theo nhận xét của nhiều blogger, LS Lê Trần Luật đang bị đẩy dần đến bước đường cùng với tình trạng không nhà ở, không việc làm!
Các blogger nói gì?
Tin tức về tình trạng của LS Lê Trần Luật được khá nhiều blogger quan tâm chia sẻ. Có những nhận xét chân thành, chẳng hạn như “cái tâm của con người Việt Nam trong lúc này cần được giấu kỹ, phơi ra là bị gặm, bị day, bị dày vò, bị đánh cắp, bị ăn cướp ngay. Nên bây giờ, ai sống công khai với cái tâm như anh là dại, sẽ chỉ như những số phận tự nạp mạng, rồi bị diệt đơn lẻ. Từ 35 năm nay đã thế rồi. Chẳng phải mới đây đâu anh ạ”, lại có những câu hỏi đầy bức xúc như “Tại sao họ cứ xem dây như là kẻ thù của họ??? Người dân không tấc sắt trong tay, chỉ có bàn phím và cái miệng mà họ phải sợ như thế hay sao?”. Trong khi đó, blogger “giahien” cho rằng những sự việc xảy ra với LS Lê Trần Luật giống như “mật vụ SS phát xít rượt đuổi trù dập dân gốc Do Thái”.
Tương tự, blogger Bút Thép nhận xét:
Những gia đình người ta đã cho anh Lê Trần Luật thuê ở rồi mà lực lượng an ninh tác động đến để những gia đình đó không dám cho anh ấy ở thì những việc làm như vậy, nếu có, thì rất vô nhân đạo. Nó thể hiện sự man rợ, đẩy con người ta đến bước đường cùng, phải chống lại chính quyền.
Bên cạnh những nhận xét trên, còn có một số phát biểu khác tuy hài hước nhưng cay đắng, chẳng hạn như “Tui nghĩ cái ông anh Lê Trần Luật này hổng phải là người Việt Nam. Nếu anh Luật là người Việt Nam, chẳng lẽ anh lại trở thành nô lệ trên chính quê hương của mình???”. Tất cả những phản ứng của giới blogger cho thấy sự bất mãn và phẫn nộ ngày càng tăng khi họ phải liên tục chứng kiến những pha “rượt đuổi” hòan tòan không cân sức giữa chính quyền và người dân.
Vào cuối năm ngoái, Bộ Ngoại giao Việt Nam từng khẳng định: “Tại Việt Nam, không có ai bị bắt, giam giữ và xét xử vì bày tỏ chính kiến”. Tuy nhiên, những rắc rối, khó khăn tột cùng xảy ra trong cuộc sống của một người ngay sau khi họ bày tỏ chính kiến của mình, theo lời của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, là một mánh khóe của chính quyền. Ông nói:
Đó là những mánh khóe của nhà cầm quyền Hà Nội, luôn luôn làm cho người dám lên tiếng nói sợ hãi. Người tiếp xúc với chúng tôi cũng sợ hãi.
Tuy nhiên, ngay trong những nhận xét của các blogger đối với trường hợp của LS Lê Trần Luật, thì chính những hành động dồn ép, uy hiếp lại khiến cho nhiều người hiểu hơn về những chuyện phía sau hậu trường. Blogger “vietnamtudo7” cho rằng “những hành động đánh phá những người bênh vực cho lẽ phải, cho công lý như anh LS Luật làm cho quần chúng càng ngưỡng mộ anh, mà tôi là một trong số đó”. Tương tự, blogger “baobinh29nb” nhận xét: “càng có nhiều những vụ như thế này thì mọi người mới hiểu thực chất vấn đề là gì thì mới mong có sự thay đổi”. Như vậy, có thể hiểu “bước đường cùng” của một số trường hợp đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền lại là bước mở đầu cho một thay đổi tốt đẹp hơn trong tương lai chăng?! Riêng LS Lê Trần Luật dí dỏm gọi những sự việc xảy đến cho mình là “âm mưu diễn biến hòa bình”!
***********************************************

Bà Phạm Thị Phượng và chồng bị mật vụ CSVN bắt cóc tại Bangkok, Thái Lan. Hình do gia đình cung cấp.
HAI VỢ CHỒNG NGƯỜI TỴ NẠN VIỆT NAM TẠI THÁI LAN BỊ MẬT VỤ CSVN BẮT CÓC
Hai vợ chồng người tỵ nạn Việt Nam bị mất tích ở Thái Lan
Thanh Quang, phóng viên RFA
Cách đây khoảng một tuần, vợ chồng người Việt Nam tỵ nạn cộng sản, được Cao ủy Tỵ nạn LHQ (UNHCR) ở Thái Lan công nhận, bị bắt cóc ngay tại thủ đô Bangkok.
Câu hỏi được nêu lên là ai đã thực hiện hành động này. Và giới chức liên hệ cần có phản ứng ra sao để ngăn chận những hành động như vậy tái diễn ở xứ Chùa Vàng – cũng như đã từng diễn ra ở xứ Chùa Tháp. Mời quý vị theo dõi bài tường thuật từ Bangkok của Thanh Quang như sau:
Mật viên Việt Nam bắt cóc
Theo lời kể của người con trai tên Phạm Bá Tâm sau khi nhận được cú điện thoại thoáng qua của mẹ em, thì ba mẹ của em, là ông Phạm Bá Huy và bà Phạm Thị Phượng, bị một nhóm mật viên Việt Nam sang tận Thái Lan để thực hiện hành động bắt cóc này.
Em Phạm Bá Tâm cho biết:
Phạm Bá Tâm: “Vào khoảng 10 giờ sáng ngày 15 tháng Tư vừa rồi, ba mẹ nói là ra ngoài để mua đồ cho gia đình cũng như thường lệ. Đến chiều tối không thấy ba mẹ về, em nghĩ vấn đề có thể là do kẹt xe hay vấn đề gì đó của Thái Lan. Nhưng rồi đến khuya cũng không thấy ba mẹ về, em đã cố liên lạc với Cao Ủy Ty Nạn. Đến chiều tối ngày 16, lúc khoảng 7 giờ rưỡi tối, em nhận được cú điện thoại từ mẹ, cho biết rằng ba mẹ bị cảnh sát Việt Nam bắt. Cú điện thoại này của mẹ thình lình bị cắt. Em đã liên lạc nhiều nơi, với thiếu tá Mark, với phía Cao ủy Tỵ nạn nhằm giúp tìm kiếm ba mẹ.

Thủ đô Bangkok, Thái Lan.
Sau một thời gian, đến ngày hôm qua thứ Tư ngày 21/04, lúc 10 giờ rưỡi sáng, thì em nhận được cú điện thoại của chú ruột em từ Việt Nam, thông báo rằng ba mẹ bị cầm tù tại Sài Gòn, tại cơ quan công an điều tra. Bây giờ bên phía gia đình không thể gặp mặt ba mẹ được. Và những người thân đều bị bắt”.
Theo lệnh triệu tập khẩn của Cục An ninh Đảng bộ TPHCM mà chúng tôi nhận được, thì – nguyên văn: “Việt Nam yêu cầu tên Phạm Thị Phượng buộc phải trở về Việt Nam nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp chính phủ CHXHCN Việt Nam”. Vẫn theo nguyên văn của văn bản này, thì “bà không thể nào đủ sức để dựa vào cao ủy liên hợp quốc tại Thái Lan khi bà vẫn mang trọng án cao nhất của luật pháp nước CHXHCN Việt Nam”. Lệnh triệu tập này cảnh báo rằng nếu bà Phạm Thị Phượng không tự nguyện trở về Việt Nam thì – nguyên văn - “ Đội an ninh mật đóng tại Thái Lan sẽ thi hành công lệnh không phải thông qua cao ủy liên hợp quốc... kể cả chồng bà và 6 đứa con”.
Trước tình cảnh như vậy, 6 người con của hai người tỵ nạn Việt Nam vừa nói rất khủng hoảng, như em Phạm Bá Tâm cho biết:
Phạm Bá Tâm: “Cháu và các em tất cả 6 người vẫn đang chờ đợi vì chưa biết rằng sẽ đi về đâu. Phía chính quyền Mỹ hay Cao ủy Tỵ nạn sẽ giúp đỡ, bảo vệ cho anh em cháu thoát khỏi sự đe dọa, theo dõi, bắt bớ đưa anh em chúng cháu về Việt Nam. Anh em cháu hiện rất sợ. Đây là một sư đe dọa rất nặng nề, làm tụi cháu bị khủng hoảng”.
Chúng tôi đã tiếp xúc với con trai của ông bà Phạm Bá Huy và Phạm Thị Phượng là em Phạm Bá Tâm như vừa nói để tìm hiểu thêm về hoàn cảnh khó khăn, nếu không muốn nói là nguy hiểm, của gia đình họ, như quý vị nghe sau đây:
Thanh Quang: Ba mẹ và 6 anh em cháu qua Thái Lan hồi nào?
Phạm Bá Tâm: Tháng 10 năm 2002.
Thanh Quang: Gia đình cháu qua đây thì nói chung triển vọng được định cư ở Mỹ ra sao?
Phạm Bá Tâm: Khi gia đình cháu rời khỏi Việt Nam với mục tiêu là chạy trốn khỏi chế độ cộng sản, thì khi tới đây, mới đầu, chưa có mục tiêu là vào Liên Hiệp Quốc hay tới đâu, mà chỉ mong chạy khỏi đất nước thôi. Bởi vì ba mẹ đã bị tù đày, giam cầm tại đất nước cộng sản Việt Nam.

Giấy của Cao ủy Tỵ nạn LHQ (UNHCR) ở Thái Lan công nhận quy chế tỵ nạn cho bà Phạm Thị Phượng. Hình do gia đình Bà gởi cho RFA.
Thanh Quang: Tù đày như vậy thì riêng mẹ cháu đã bị Việt Nam nhốt bao lâu?
Phạm Bá Tâm: Mẹ cháu vì trước kia là mật viên của Mỹ và làm cho Việt Nam Cộng Hòa, nên sau 30 tháng Tư năm 1975, mẹ bị bắt giam hết 4 năm tại Mật khu 5 của chế độ cộng sản. Và mẹ được thả ra vào cuối năm 1979. Còn ba cháu là lính không quân Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi cộng sản vào chiếm Miền Nam thì họ bắt cả gia đình đi vùng kinh tế mới tại nông trường Thọ Vực.
Thanh Quang: Trước khi ba mẹ cháu bị bắt cách nay mấy hôm, triển vọng định cư của gia đình cháu đã tới đâu rồi?
Phạm Bá Tâm: Vấn đề định cư của gia đình cháu thật không may mắn, mất rất nhiều thời gian. Có rất nhiều điều đã xảy ra không tốt cho gia đình. Và gia đình cháu vẫn trong giai đoạn chờ đợi bên Cao ủy Tỵ nạn giúp đỡ, tìm một nước để đi định cư.
Thanh Quang: Ngay bây giờ, phản ứng của Cao ủy Tỵ nạn ra sao?
Phạm Bá Tâm: Ngay khi được tin ba mẹ bị bắt, thì Cao ủy nói là tìm mọi cách để giúp đỡ cho gia đình. Hiện chưa thấy họ giúp đỡ bằng cách nào, chỉ biết là họ đang làm việc để giúp cho gia đình cháu thôi.
Vi phạm luật pháp quốc tế
Một cựu quân nhân Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam, thiếu tá hồi hưu Mark A. Smith đang có mặt tại Bangkok, quen biết nhiều với bà Phạm Thị Phượng khi bà được huấn luyện làm nhân viên tình báo Mỹ hồi năm 1969 và rồi phục vụ cho chương trình đặc biệt do Thiếu tá Mark đánh giá. Thiếu tá Mark nhận xét trường hợp vợ chồng hai người tỵ nạn này như sau:
Major Mark: “Đây là vấn đề mang tính cách quốc tế. Nếu những người từ Việt Nam tới đây, tôi không cần biết họ lo lót cho cảnh sát Thái như thế nào, nhưng họ tự tiện bắt người đưa ra khỏi Thái Lan, trong khi xứ Thái là một nước dân chủ, pháp trị. Ngay tại Thái Lan, họ phải ra tòa, giải thích với tòa án Thái Lan lý do tại sao những người mà họ bắt cần đưa trở lại Việt Nam, vì đã là tội phạm, hay gì gì đó. Đằng này mật viên Việt Nam tự tiện bắt người và chớp nhoáng đưa trở lại Saigon. Điều này có nghĩa là họ vi phạm thỏa thuận ASEAN, thỏa ước quốc tế, vi phạm quy chế của LHQ bảo vệ người tỵ nạn như trường hợp hai vợ chồng ông Phạm Bá Huy và bà Phạm Thị Phượng, và cả luật lệ của Vương Quốc Thái.
Do đó, câu hỏi trong thời điểm này là tất cả những chính phủ liên hệ phải phản ứng như thế nào trước việc Việt Nam cho mật viên tự tiện đến Thái Lan để bắt cóc người theo ý họ. Nếu có sự nhúng tay nào đó của người Thái – như cảnh sát Thái - cũng rất có thể, nhưng hành động vừa rồi của Hà Nội là bất hợp pháp. Và chuyện 2 vợ chồng tỵ nạn Phạm Bá Huy và Phạm Thị Phượng đang ở Sài Gòn hiện giờ chỉ có mật vụ Việt Nam là câu trả lời cho sự việc liên quan hành động họ đến đây, tiếp xúc với ai để rồi bắt người và chuyển ra khỏi Vương Quốc Thái trong thời gian rất ngắn. Nên đây không phải chỉ là vấn đề vi phạm nhân quyền, mà đây còn là vấn đề vi phạm đến an ninh quốc gia của Vương Quốc Thái, và cũng có liên hệ đến an ninh quốc gia của cả Hoa Kỳ.”
Và Thiếu tá Mark Smith nhân tiện bày tỏ sự mong mỏi như sau:
Major Mark: “ Do đó, tôi tin tưởng, hy vọng và cầu mong Việt Nam thả hai vợ chồng anh Phạm Bá Tân để họ được đoàn tụ với 6 người con của họ, sau cùng rồi, tại Hoa Kỳ. Và chính phủ Hoa Kỳ phải can thiệp, chính sách Mỹ đòi hỏi Washington phải hành động để giúp đỡ gia đình này. Và đó là điều dĩ nhiên.”
Vụ bắt cóc người Việt Nam tỵ nạn vừa nói tại xứ Chùa Vàng khiến người ta liên tưởng đến những vụ mật viên Việt Nam bắt cóc người tỵ nạn ở xứ Chùa Tháp, mà cụ thể là trường hợp của Thầy Thích Trí Lực hiện định cư tại Âu Châu. Thầy Thích Trí Lực kể lại như sau:

Văn phòng UNHCR nằm trong khuôn viên trụ sở LHQ ở Thái Lan. Photo courtesy of UN Thailand.
Thầy Thích Trí Lực: “Dạ trong thời gian tôi qua và gởi đơn xin tỵ nạn tại Cao ủy Tỵ nạn ở Phnom Penh vào năm 2002, chúng tôi là người Kinh, không được ở trong trại tỵ nạn, cho nên phải thuê nhà ở ngoài. Điều cần phải biết là sau khi bộ đội Miền Bắc rút khỏi Campuchia, họ đã cài lại rất nhiều tình báo, núp dưới hình thức thương gia, kết hôn với người bản xứ hay hoạt động cho tình báo Việt Nam. Tôi là một nạn nhân của chế độ CS Việt Nam. Tôi còn nhớ vào ngày 25 tháng 7 năm 2002, lúc chạng vạng, tôi ra chợ Ô-Xây ở đường 185 để mua đồ dùng. Khi quay người lại thì một số người lạ mặt chận sau lưng tôi và vài ba người tấn công tôi, đẩy tôi lên một chiếc xe đậu sẵn bên lề đường. Họ đánh đập tôi trên xe, rút trong túi tôi thẻ tỵ nạn do LHQ cấp cho tôi ngày 28 tháng 6 năm 2002. Xe chạy một quãng, rồi vào một cơ quan mà dưới ánh đèn điện, tôi thấy rõ có chữ “cảnh sát quốc tế”.
Rồi họ chuyển tôi sang một chiếc ô-tô nhỏ đậu gần đó, mang biển số Khmer 2475. Họ ghé vào một đồn công an Campuchia gần bùng binh cầu Sài Gòn, nhốt tôi một đêm ở đó. Sáng hôm sau, ngày 26 tháng 7 năm 2002, họ chở tôi hướng về cửa khẩu Mộc Bài ở tỉnh Tây Ninh, rồi chuyển giao cho Bộ Công an Việt Nam đã chờ sẵn tại biên giới. Sau đó họ đưa tôi vào trại giam B34 tọa lạc ở số 237 đường Nguyễn văn Cừ, quận 1, Sài Gòn. Họ giam giữ tôi 15 tháng trời, rất nghiêm ngặt. Bên ngoài, người thân, bạn bè không biết tôi còn sống hay đã chết.
Thanh Quang: Như vậy Thầy nhận xét như thế nào về hành động bắt cóc của mật viên Việt Nam tại xứ nguời?
Thầy Thích Trí Lực: Nhà cầm quyền CS Việt Nam đã xem thường luật pháp quốc tế, đã ngang nhiên bắt cóc người tỵ nạn trên lãnh thổ láng giềng. Cơ quan tình báo mật vụ của Việt Nam đã tung hoành ngang dọc. Họ chẳng coi luật pháp quốc tế ra gì cả.
Vừa rồi là thầy Thích Trí Lực từ Âu Châu.
Thanh Quang tường thuật từ Bangkok, Thái Lan.
MÂY TRO TỪ NÚI LỬA ICELAND GÂY ẢNH HƯỞNG KHÔNG LƯU KHẮP ÂU CHÂU - HÀNG KHÔNG TỪ ÂU SANG Á RỐI LOẠN VÌ NÚI LỬA ICELAND - NÚI LỬA ICELAND CÓ THỂ GÂY HỌA CHO CẢ THẾ GIỚI

Cơ quan kiểm soát không lưu Âu Châu cho biết 17,000 chuyến bay có phần chắc sẽ bị hủy bỏ trong
Tro từ núi lửa Iceland gây ảnh hưởng không lưu ở Châu Âu - Hình: AP
Mây từ tro núi lửa Iceland gây gián đoạn không lưu khắp Châu Âu
Source: VOA News
Thứ Sáu, 16 tháng 4 2010
Iceland Evacuates Hundreds, Volcano Erupts Again
Đám mây khổng lồ của tro núi lửa ở Iceland đã gây gián đoạn cho hoạt động du hành hàng không ở khắp Âu Châu sang tới ngày thứ nhì, trong vụ đóng cửa phi trường có tầm mức to lớn nhất kể từ khi xảy ra vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001.
Cơ quan kiểm soát không lưu Âu Châu cho biết 17,000 chuyến bay có phần chắc sẽ bị hủy bỏ trong ngày hôm nay và giới hữu trách nói rằng tình trạng gián đoạn sẽ tiếp tục cho tới ít nhất là ngày mai.
Hôm nay, Ba Lan đóng cửa phần lớn không phận của họ trong lúc 2 ngày nữa là ngày cử hành lễ quốc táng cho Tổng thống Lech Kaczynski, người đã tử nạn trong vụ rớt máy bay hồi tuần trước.
Nhiều người lo ngại là đám mây tro có thể khiến cho các nhà lãnh đạo thế giới không thể đến dự lễ vào ngày Chủ nhật.
Tuy nhiên, một phát ngôn viên tổng thống hôm nay nói với báo chí ở Warsaw rằng gia đình của Tổng thống Kaczynski không muốn thay đổi ngày cử hành tang lễ trong bất kỳ tình huống nào.
Tang lễ sẽ được cử hành ở Krakow trong vùng đông nam Ba Lan. Không phận ở Krakow hiện đang bị đóng.
Xem hình: Núi lửa Iceland thức giấc

Cảnh tượng này đang xảy ra tại nhiều sân bay toàn thế giới vì bụi núi lửa - Ảnh: AFP
HÀNG KHÔNG TỪ ÂU SANG Á RỐI LOẠN VÌ NÚI LỬA ICELAND
Source: RFI
Anh Vũ / Thanh Hà
Rối loạn giao thông hàng không do núi lửa Iceland phun trào lan từ châu Âu sang châu Á Thái Bình Dương. Mười bảy ngàn chuyến bay trong ngày bị hủy bỏ, châu Âu đóng cửa không phận. Rối loạn giao thông hàng không do núi lửa Iceland phun trào lan từ châu Âu sang châu Á Thái Bình Dương.
Sau hai ngày phun trào dữ dội, các đám tro bụi của núi lửa Iceland đã làm giao thông hàng không tại châu Âu bị rối loạn nghiêm trọng, và tiếp tục lan rộng sang tận khu vực châu Á Thái Bình Dương. Không phận nhiều nước châu Âu bị đóng cửa. Hàng chục nghìn chuyến bay trên thế giới bị đình hoãn. Giao thông hàng không sẽ vẫn tiếp tục bị đảo lộn ít nhất trong một vài ngày tới.
Từ Wellington, đến Tokyo, từ Hồng Kông đến Singapore hàng ngàn hành khách đến châu Âu đã thất vọng khi thấy các chuyến bay của họ bị hủy bỏ hoặc bị dời lại. Hãng hàng không dân dụng Qantas của Úc cho biết hủy toàn bộ các chuyến bay sang Luân Đôn và Frankfurt ít nhất là từ nay cho đến chủ nhật 18/4. Hãng Japan Airlines của Nhật hủy tổng cộng sáu chuyến bay trong ngày, Cathay Pacific của Hồng Kông hủy 12 chuyến.
Tại châu Âu nhiều quốc gia phải tạm đóng cửa không phận vì mây tro của núi lửa Iceland. Mây tro của núi lửa nguy hiểm ở hai khía cạnh : một là che lấp tầm nhìn của máy bay, hai là những hạt bụi đá có thể làm hỏng động cơ máy bay, gây tai nạn. Hồi năm 1982 một chiếc máy bay của hàng hàng không Anh, British Airways khi bay qua đám mây tro trên không phận Indonesia bị hỏng máy, rơi nhiều trăm mét trước khi các động cơ hoạt động trở lại.
Lần này Luân Đôn quyết định cấm tất cả các phi vụ bay ngang qua không phận Anh Quốc, ít nhất là cho đến 18 giờ quốc tế hôm nay. Đây là sự kiện hi hữu trong lịch sử đương đại của nước Anh. Ngoài Anh Quốc, nhiều nước Bắc Âu cũng có quyết định tương tự.
Tại Pháp 23 phi trường phải đóng cửa hôm qua và tiếp tục ngưng hoạt động vào hôm nay. Đức cũng đóng cửa nhiều sân bay quốc tế. Hoa Kỳ ngày hôm qua đã hủy hơn phân nửa các chuyến bay đến hoặc đi từ châu Âu.
Tại Nga, thủ tướng Poutine hôm nay phải hủy chuyến công tác đến Mourmansk ở miền bắc nước Nga vì mây tro của núi lửa đã phủ kín cả vùng. Tại Ba Lan, có khả năng là nhiều nguyên thủ quốc gia không thể đến dự tang lễ tổng thống Ba Lan, Lech Kakzynski dự trù tổ chức vào chủ nhật tới.
Đặc phái viên RFI Trọng Nghĩa trên đường đi công tác, tường trình từ Matxcơva:
NÚI LỬA ICELAND CÓ THỂ GÂY HỌA CHO CẢ THẾ GIỚI
Source: vnexpress
Khi một ngọn núi lửa tại Iceland hoạt động vào năm 1783, nhiều người tại Anh đã chết vì khí độc, mùa màng tại châu Âu thất bát khiến nạn đói lan rộng và nhiệt độ tại Mỹ xuống tới mức thấp kỷ lục.
Những cột dung nham và tro bụi vọt lên từ núi lửa Eyjafjallajokull ở phía nam Iceland hôm 22/3 sau khi mặt đất rung chuyển bởi nhiều cơn địa chấn nhẹ. Thực tế đó khiến nhiều người lo ngại núi lửa Katla gần đó cũng sẽ bị đánh thức.
Theo AP, núi lửa Eyjafjallajokull đã ngủ yên gần 200 năm rồi đột ngột tỉnh giấc vào ngày 20/3 khiến ít nhất 500 người phải sơ tán. Đa số họ đã trở về nhà, song giới chức đang chờ đợi các đánh giá khoa học để xem họ có nên tiếp tục sơ tán dân hay không. Người dân ở 14 nông trại gần núi lửa nhất được cảnh báo không nên về nhà.
Giới khoa học cho biết, lịch sử từng chứng minh khi núi lửa Eyjafjallajokull phun trào, núi lửa Katla gần đó cũng sẽ hoạt động. Do nằm gần khối băng khổng lồ Myrdalsjokull, núi lửa Katla có thể gây nên lũ lụt diện rộng và những tiếng nổ long trời khi nó hoạt động.
Iceland nằm trên vành đai núi lửa Đại Tây Dương. Trong lịch sử người dân Iceland từng chứng kiến nhiều trận núi lửa dữ dội. Núi lửa thường phun trào bởi hoạt động địa chất khi các mảng địa kiến tạo di chuyển và đá nóng chảy từ dưới lòng đất trào lên bề mặt.
Giống như động đất, dự đoán chính xác thời gian núi lửa phun trào là việc bất khả thi. Tuy nhiên, nếu núi lửa Katla phun trào thì nó sẽ gây nên nhiều hậu quả khó lường đối với Iceland và nhiều quốc gia khác.
AP cho biết, núi lửa Latki từng phun trào vào năm 1783. Lượng khí khổng lồ mà nó phun ra biến thành sương. Lớp sương này theo các khối khí lên tầng bình lưu và làm thay đổi thời tiết. Nhiều người đã thiệt mạng vì ngộ độc khí tại Anh. Sản lượng lương thực giảm mạnh ở Tây Âu khiến nạn đói lan rộng. Một số học giả còn cho rằng nạn đói sau sự phun trào của núi lửa Latki là một trong những nguyên nhân dẫn tới cách mạng Pháp vào năm 1787.
Mùa đông năm 1784 cũng là một trong những mùa đông dài và lạnh nhất trong lịch sử Bắc Mỹ. Nhiều tài liệu ghi nhận nhiệt độ ở vùng New England, Mỹ xuống dưới mức âm, trong khi bang New Jersey, Mỹ có lớp tuyết dày kỷ lục. Sông Mississippi cũng đóng băng trong địa phận thành phố New Orleans.
Colin Macpherson, một nhà địa chất của Đại học Durham tại Anh, khẳng định những sự kiện trên giống như nhiều bộ phim Hollywood song hoàng toàn có thể xảy ra nếu núi lửa Latki hoạt động.
Có ba nơi mà núi lửa thường xuất hiện: dọc theo những đường đứt gãy địa chất, dọc theo những khu vực mà các mảng kiến tạo trượt qua nhau và tại những nơi mà hai mảng kiến tạo dịch chuyển xa nhau. Iceland nằm trên vị trí thuộc loại thứ ba.
Khi những ngọn núi lửa thuộc Vành đai địa chấn Thái Bình Dương phun trào, dung nham bên dưới tràn lên từ từ nên các nhà khoa học có thể dự đoán trước thời gian núi lửa phun trào. Nhưng các núi lửa tại Iceland hoạt động khác hẳn, bởi đá nóng chảy dưới lòng đất vọt lên từ băng nên núi lửa phun trào rất nhanh và các nhà khoa học không thể dự báo.
Magnus Tumi Gudmundsson, một nhà địa chất của Đại học Iceland, nói những lần phun trào trước đây của núi lửa Katla từng gây nên những trận lũ có quy mô tương đương diện tích của rừng Amazon. Nó cũng đẩy những hòn đá to bằng ngôi nhà xuống các thung lũng và đường xá. Lần phun trào gần nhất của núi lửa Katla xảy ra vào năm 1918. Chỉ khoảng một giờ sau các cơn lũ xuất hiện.
Những đợt phun trào của Katla là hiểm họa đối với người dân sống gần đó. May mắn thay, đa số dân Iceland – khoảng 320.000 người – sống ở thủ đô Reykjavik và khu vực phía tây.
Vùng phía nam Iceland có mật độ dân cư thấp nhưng lại có cả các sông băng và những núi lửa không ổn định. Đây là một sự kết hợp đáng sợ.
Lần cuối cùng một núi lửa cách sông băng Eyjafjallajokull phun trào xảy ra vào năm 1821. Núi lửa đó đã hoạt động liên tục trong suốt hai năm.
Minh Long

Núi lửa Eyjafjallajokull tại Iceland nhìn từ xa vào ban đêm
TRO NÚI LỬA BAO PHỦ CHÂU ÂU
Source: TTO
Tro bụi phun xuất từ núi lửa Eyjafjallajokull tại Iceland đã biến châu Âu thành một vùng cấm bay khổng lồ, gây ảnh hưởng đến hàng không toàn thế giới.
Hầu như toàn bộ các sân bay tại châu Âu hôm qua đều phải đóng cửa, chỉ còn một số ít hoạt động cầm chừng, khiến hàng trăm ngàn hành khách trên khắp thế giới mắc kẹt từ hôm 15.4. Khói, bụi và hơi nước bốc lên từ một miệng núi lửa phun trào bên dưới mặt sông băng Eyjafjallajokull cách đây ba ngày khiến châu Âu hứng chịu đợt đình trệ hàng không nghiêm trọng nhất kể từ Thế chiến 2 đến nay. Cột khói bụi cao tới 6 km khiến tro lan tỏa ra khắp cựu lục địa ở độ cao từ 8-10 km, có thể ảnh hưởng động cơ máy bay và tầm nhìn của phi công, theo AFP. Brian Flynn, người phát ngôn của Tổ chức kiểm soát không lưu châu Âu Eurocontrol nói với Reuters rằng do không có nhiều gió nên đám mây bụi di chuyển rất chậm theo hướng đông nam và khá dày đặc. “Theo các dự báo, đám mây bụi sẽ còn gây ảnh hưởng trong ít nhất 24 giờ tới”, Eurocontrol nói hôm qua.
Cả ba sân bay lớn nhất châu Âu là phi trường Heathrow ở London (Anh), Charles de Gaulle tại Paris (Pháp) và Frankfurt nằm ở thành phố cùng tên của Đức đều ngưng hoạt động cùng hàng trăm sân bay khác tại Áo, Ba Lan, Bỉ, CH Czech, Đan Mạch, Nga... Khoảng 17.000 chuyến bay trên vùng trời châu Âu bị hủy vào hôm qua, BBC dẫn thông cáo từ Eurocontrol cho hay. Trước đó, đã có 6.000 chuyến không thể cất cánh vào hôm 15.4.
Hầu như toàn bộ các chuyến bay từ Bắc Mỹ và châu Á đến châu Âu đã bị hủy, hoãn và thay đổi lịch trình. AFP dẫn lời phát ngôn viên Devid Epstein của Hãng hàng không Úc Qantas Airways cho biết sẽ không thể khôi phục lịch bay đến London và Franfurt ít nhất là tới chủ nhật 18.4. Nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài, sẽ có khoảng 6 triệu hành khách và gây lỗ hơn 1 tỉ USD cho ngành hàng không, Bloomberg dẫn lời các chuyên gia nhận định.
“Tôi đã trả hơn 8.000 USD cho chuyến bay nhưng dù bạn mua vé hạng nào thì với tình thế này thì ai cũng như ai”, cô Debbie Eidsforth, người Úc, than với AFP sau hơn một ngày đêm vạ vật cùng hàng ngàn người khác tại phi trường Heathrow. Ban quản lý sân bay Schiphol (Hà Lan) thì phải chuẩn bị giường ngủ và thực phẩm cho 2.000 người kẹt tại đây.
Vụ đình trệ lần này cũng gây ảnh hưởng đến nhiều sự kiện quan trọng. Nhiều nhà lãnh đạo châu Âu hôm qua đã không thể đến dự lễ mừng thọ của Nữ hoàng Đan Mạch Margrethe II, theo AFP. Giới chức Ba Lan đang lo ngại không thể tổ chức lễ tang cho vợ chồng Tổng thống Lech Kaczynski, đúng hôm 18.4 như dự kiến. Theo AFP, đã có 80 lần máy bay đụng phải tro núi lửa trong vòng 20 năm qua, khiến hai chiếc Boeing 747 suýt rơi và làm hư 20 máy bay khác.
Đây là lần thứ hai núi lửa dưới lòng sông băng Eyjafjallajokull, một trong 5 sông băng lớn nhất Iceland, phun trào trong vòng một tháng qua. Sức nóng đã làm tan chảy một khối băng khổng lồ, gây ra lụt lội và buộc 800 người phải sơ tán, cảnh sát Iceland cho biết hôm qua. Các chuyên gia cho hay núi lửa này có thể duy trì hoạt động trong vòng một năm nhưng sẽ phún xuất ít tro bụi hơn.
Trọng Kha

Cực quang của núi lửa
Vietnam Airlines hủy nhiều chuyến đi châu Âu
Do ảnh hưởng của khói và bụi núi lửa từ Iceland, hôm qua 16.4, Vietnam Airlines (VNA) đã phải hủy 4 chuyến bay VN532 Paris - TP.HCM (khởi hành lúc 13 giờ 25 phút giờ địa phương), VN544 Frankfurt - Hà Nội (khởi hành lúc 14 giờ 40 phút), VN543 TP.HCM - Frankfurt (khởi hành lúc 23 giờ 10 phút) và VN535 Hà Nội - Paris (khởi hành lúc 23 giờ 40 phút). VNA cho biết, để đảm bảo an toàn cho hành khách, nhà chức trách hai sân bay quốc tế Charles de Gaulle (Paris, Pháp) và Frankfurt (Đức) thông báo tạm thời đóng cửa.
Trong ngày hôm nay, VNA sẽ hủy 2 chuyến bay VN542 Frankfurt - TP.HCM (khởi hành lúc 14 giờ 40 phút) và VN534 Paris - Hà Nội ( khởi hành lúc 14 giờ ).
X.Toàn
GIẢI ĐÁP MỘT VÀI THẮC MẮC VỀ CẢI TỔ Y TẾ

Tồng thống Obama ký ban hành luật cải tổ y tế, 23/3/2010 - Hình: AP
Bài viết gồm 2 phần, với phần âm thanh riêng biệt cho mỗi phần, để quý vị nào không muốn mỏi mắt thì dùng nó.
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC VỀ CẢI TỔ Y TẾ ( Phần 1/2 )
Luật cải tổ y tế vừa được Hạ viện Hoa Kỳ thông qua khuya chủ nhật 21/3 vừa qua. Theo các cuộc thăm dò cho biết, một số khá đông dân chúng Mỹ không hiểu rõ lắm về luật này. Chúng tôi đã tiếp xúc với nhà bình luận Ngô Nhân Dụng để nêu lên một số thắc mắc nhờ ông giải đáp. Mời quý vị theo dõi bài phỏng vấn sau đây do Lan Phương thực hiện cho Câu Chuyện Nước Mỹ hôm nay.
Lan Phương | Washington, DC Thứ Ba, 30 tháng 3 2010
THÁNG TƯ, ĐỌC BÀI VIẾT CŨ: SAU BA MƯƠI NĂM QUỐC HẬN, TÌM HIỂU SỰ THẬT VỀ ÐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH TRONG CUỘC CHIẾN ÐÔNG DƯƠNG II (1955-1975)

Đường mòn Hồ chí Minh. Việt cộng từ đất Lào và Cao Miên liên tục xua quân xâm lăng miền Nam Việt Nam, với bản chất dối trá, gian manh và lừa đảo, chúng trắng trợn xé bỏ tất cả mọi hiệp ước mà chúng đã ký kết. Khi nào cộng sản còn thì dân tộc Việt Nam phải nhớ nằm lòng câu nói này của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: "Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những việc cộng sản làm!" - Ảnh: PSYOP
THÁNG TƯ, ĐỌC BÀI VIẾT CŨ: SAU BA MƯƠI NĂM QUỐC HẬN, TÌM HIỂU SỰ THẬT VỀ ÐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH TRONG CUỘC CHIẾN ÐÔNG DƯƠNG II (1955-1975)
Source: greenspun's archives
MƯỜNG GIANG
Tết 2005
Một năm sau ngày miền Nam bị cưỡng chiếm, phái đoàn Bắc Việt do Trường Chinh đại diện và Ðảng Bộ Việt Cộng miền nam tức Mặt Trận Giải Phóng MN, dưới quyền Phạm Hùng, đã chính thức họp tại Sài Gòn, để khai tử cái Mặt Trận “ MA “, được Hà Nội dàn dựng và khai sinh từ ngày 20-12-1960, nhằm lường gạt dư luận thế giới và dân chúng trong nước, qua âm mưu thôn tính VNCH. Cũng từ đó (1976), cái gọi là con đường huyền thoại Hồ Chí Minh, tức đường mòn Trường Sơn với bí danh 559A, hành lang để Hà Nội chuyển tiếp liệu, quân dụng và người vào Nam, từ năm 1959 tới ngày 30-4-1975, cũng bị đảng nhận chìm trong quên lãng. Đường mòn Hồ chí Minh, khu vực màu vàng lợt là hành lang xâm nhập từ Lào và Cambodia, đường màu vàng đậm là đường mòn Shihanouk kéo dài xuống cảng Shihanouk Ville. Bản đồ cho thấy Việt cộng dùng Miên và Lào làm bàn đạp xâm lăng miền Nam Việt Nam - Ảnh wikipedia 2- Ðường Mòn Hồ Chí Minh: Sự thật, những chuyện đã xảy ra hằng ngày , trên đường mòn HCM, tức là hành lang xâm nhập người và quân dụng, từ Bắc vào Nam của cọng sản Hà Nội, đối với Hoa Kỳ và VNCH, không phải là huyền thoại hay bí mật ghê gớm, vì những gì xảy ra ở đó, qua phi cơ thám thính và các toán Biệt Kích hoạt động, họ gần như biết đủ. Có chăng là sự lạ lùng, vì ai cũng biết VC là kẻ chủ mưu gây nên cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2, chứ không phải là nội chiến. Ngoài ra cuộc xâm lược qui mô đều phát xuất từ đường mòn Trường Sơn, tiếp diễn liên tục đêm ngày không bao giờ gián đọạn. Thế nhưng quân lực Hoa Kỳ, Ðồng Minh và ngay cả VNCH, cũng bị chính phủ Mỹ tại Hoa Thịnh Ðốn, ra lệnh giới hạn trong lúc chiến đấu với VC, theo qui định tại nhiều điểm, được gọi là “Luật Chiến Ðấu - Rules of Engagement“. Ngoài ra cũng không được tấn cộng hậu phương miền bắc, để tránh sự đụng độ quân sự với Trung Cộng, như đã xảy ra năm 1950, tại chiến cuộc Cao Ly. Năm 1985, sau mười năm chấm dứt cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2, Bộ Quốc Phòng Mỹ mới cho phép giảm độ mật, khi cho Congressssional Record phổ biến hạn chế, cái gọi là “Luật Chiến Ðấu tại VN“ qua 26 trang tóm tắt, trong đó có liên quan tới đường mòn Hồ Chí Minh. Cũng nhờ vậy, ta mới biết được nhiều điều thật vô lý, chỉ có siêu cường Mỹ mới có. Chẳng hạn như trong luật chiến đấu, có điều 3 cấm không quân Mỹ giội bom các quân xa VC, nếu chúng ở cách đường mòn HCM 200m. Ðiều này giúp cho quân xa Bắc Việt an toàn khi chúng lái xe trên đường mòn Trường Sơn, lúc nghe máy bay Mỹ oanh tạc, chỉ cần lái xe ra khỏi vị trí 200m, là hết chuyện. Còn điều 6 thì cấm quân Mỹ truy kích VC, nếu chúng rút qua biên giời Lào hay Kampuchia. Biết vậy, nên hầu hết các căn cứ của Bắc Việt, kể cả cục R đều được lập sát hay bên kia biên giới, nên rất an toàn. Do trên, các cuộc hành quân vượt biên mang tên Toàn Thắng, vào năm 1970 tại Miên hay hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào, vào thời TT Nixon, đã bị đảng Dân Chủ Mỹ thân cộng, căn cứ vào luật chiến đấu, la ó phản đối dữ dội. Cuối cùng tại Quốc Hội, cũng cái đám nghị sĩ-dân biểu đảng Dân Chủ Hoa Kỳ, ra luật cấm quân lực Hoa Kỳ hành quân vượt biên khỏi Nam VN. Những bí mật nhỏ nhoi trên, chỉ là một trong muôn ngàn điều bật mí sau này, cũng là lý do, khiến cho Mỹ cũng như VNCH, dù đã nỗ lực và hao tốn không biết bao nhiêu tiền bạc, xương máu nhưng cuối cùng vẫn không ngăn nổi cuộc tiến quân của Bắc Việt, trên đường mòn HCM. Theo Ðồng Sĩ Nguyên, phụ trách Binh Ðoàn 559A từ tháng 12/1966 tới tháng 4/1975, thì đơn vị này có gần 2000 xe vận tải và 4 binh trạm, với nhiệm vụ tải người và quân dụng từ miền Bắc vào Nam. Quân số của Binh đoàn 559A trên 120.000 người, gồm 10.000 thanh niên xung phong, 1 sư đoàn cao xạ phòng không của Bộ TTM/VC tăng phái và tám sư đoàn vận tải, chiến đấu trực thuộc. Sau ngày ký hiệp định ngưng bắn 1973, cọng sản Bắc Việt bãi bỏ giai đoạn gùi thồ đường đất và binh trạm, mà công khai chuyển quân từ bắc vào nam, mỗi lần cả sư đoàn tới binh đoàn, kể cả tăng-pháo, trước sự bất lực của VNCH khi Hoa Kỳ đã phủi tay về nước. Do trên cuộc hành trình chỉ mất 12 ngày, thay vì 4 tháng như trước, nên VC lúc nào cũng đủ quân số và quân dụng, vì có cả một núi người sẵn sàng “ sinh bắc tử nam “, cũng như các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhất là Trung Cộng, hết lòng chi viện. Trong lúc đó, VNCH chiến đấu với cả khối cọng sản đệ tam quốc tế trong cô đơn nơi chiến trường, đã vậy còn bị bọn cốt người mà óc khỉ tại hậu phương, công khai đâm hùa trí mạng. Chiến đấu trong hoàn cảnh thê thiết như vậy, không mất nước mới là chuyện lạ? A - ÐƯỜNG MÒN TRƯỜNG SƠN: Hầu hết con đường chiến lược HCM đều nằm trên rặng Trường Sơn, kể cả tuyến xuất phát tại Vinh (Nghệ An), cho tới đoạn cuối cùng rẽ vào Phước Long. Rặng trường Sơn là xương sống của Trung phần, khởi đầu từ sông Cả tới sông Bông (Quảng Nam), chạy dọc theo biên giới Việt Lào. Từ bắc vào nam, có nhiều rặng núi cao trên 2500m, như Pu-Sai- Lai-Leng ở Nghệ An cao 2711m, Vụ Quang tại Hà Tĩnh cao 2286m, A Tuất ở Thừa Thiên cao 2550m... Nhưng nhờ có nhiều đèo như Kéo Nưa trên núi Bà Mụ, đèo Mụ Giạ ở Hà Tỉnh, đèo Lao Bảo trên quốc lộ 9, nên sự thông thương giữa Lào-Việt rất thuận tiện. Từ năm 1960 về sau, Bắc Việt lợi dụng những đường đèo trên, để nối liền nhánh Trường Sơn Ðông ở VN sang Trường Sơn Tây, hoàn toàn nằm trên đất Lào. Rặng Trường Sơn từ phía nam sông Bông tới Miền Ðông Nam Phần, được gọi là Cao Nguyên Nam Trung Phần, vì độ cao chỉ còn trung bình 1000m, trừ phía bắc tỉnh Kon Tum, cửa ngỏ của Bắc Việt xâm nhập vào Vùng 2 chiến thuật, lại có nhiều rặng núi cao, rất đồ sộ và hiểm trở như Ngọc Lĩnh (2598m), Movia (2338m), Ngok Krin (2215m). Tại tỉnh Pleiku, cao nguyên Nam Trung Phần, hơi cao ở mạn đông tại ranh giới các tỉnh Phú Bổn, Bình Ðịnh nhưng lại thấp dần ở Miền Ba Biên Giới. Lợi dụng địa thế thiên nhiên vùng này, Hà Nội đã làm một nhánh rẽ, từ Ðức Cơ-Pleime xuống miền duyên hải Trung phần. Khởi đầu từ năm 1959, đường mòn HCM do Hai xe ngựa (Võ Bẳm) sáng tạo, thật sự chỉ là một tuyến đường gùi vô cùng bí mật, với “ đi không để dấu, nấu không để khói và nói không thành tiếng “. Sau đó theo thời gian và nhu cầu chiến cuộc, tuyến gùi phát triển dần thành tuyến đường thồ xe đạp, rồi đường xe ô tô với đường dây điện thoại cùng hệ thống ống dẫn dầu, chạy song song kế đường mòn. Có thể gọi đây là một Bát Quái Trận Ðồ cũng không ngoa chút nào vì con đường có tới hằng trăm, hằng ngàn nhánh nhỏ, chạy chằng chịt dọc ngang, từ đông sang tây, khắp nam tới bắc, chẳng biết đâu mà mò, kể cả VC, nếu không có giao liên hướng dẫn, vẫn bị lạc chết đói, như Dương Thu Hương đã kể trong tiểu thuyết “Vô Ðề “. Sau năm 1973 khi hiệp định ngưng bắn ra đời, Kissinger cho phép quân Bắc Việt ở lại VNCH hợp pháp như là một thực thể chính trị, giúp Hà Nội ngang nhiên xây dựng con đường chiến lược trên, thành một xa lộ đất, xe cộ xuôi ngược rộn rịp đêm ngày. Năm 1974, chủ tịch cọng sản Cuba là Fidel Castro đã tặng cho Hà Nội, một dàn thiết bị máy móc, làm cầu đường do Nhật chế và còn giúp một đơn vị công binh, tới tận Quảng Trị hướng dẫn công binh Bắc Việt, làm chiếc cầu dây treo Dakrong, nằm trên ngã tư Khe Sanh-Tchépone và đường mòn. Sau đó chính Fidel Castro tới tận chỗ để làm lễ khánh thành cầu, còn được hướng dẫn đi thăm Ðông Hà, mà Bắc Việt khoe là vùng giải phóng, từ sau trận Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972. Theo các tài liệu hiện hành của cả mọi phía, có trong thư viện và báo chí VC sau này, thì hệ thống đường mòn HCM, chạy dài từ Trung Lào tới Cam Bốt, sự thật là hoàn toàn nằm trên lãnh thổ Lào-Miên. Con đường này được xâm nhập vào lãnh thổ VNCH bằng năm nhánh rẽ với 21 trục giao liên, có chiều dài tính theo đường đất tổng cộng hơn 12.000 dặm Anh. Con đường được mang nhiều tên, và chỉ có đoạn trên lãnh thổ Bắc Việt mới được gọi là đường Hồ Chí Minh. Riêng khúc đường chạy trong lãnh thổ Lào và Nam VN lại có nhiều tên như đường Thống Nhất, Dân Tộc Giải Phóng và Cách Mạng. Còn đoạn cuối trên đất Miên là đường mòn Sihanouk. Ðể bảo toàn bí mật, tất cả hàng hóa, quân dụng, vũ khí và bộ đội xuất phát từ ga Hàng Cỏ (Hà Nội) hay Vinh (Nghệ An), đều được đưa tới cửa ngõ Tân Kỳ (Nghệ An) hay Quán Trại (Ðức Thọ-Hà Tĩnh), để vào Quảng Bình và Quảng Trị, rồi từ đó mới xuất tuyến xâm nhập vào Nam. Nhưng đường đi, dù ở trong lãnh thổ Bắc Việt, vẫn vô cùng nguy hiểm, vì bị phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc hằng ngày, nhất là tại thung lũng tử thần Ðồng Lộc. Ở đây, đường chạy giữa hai rặng núi cao, bên này là Rú Mòi, còn phía kia mang tên Sọ Voi. Ðây chính là cửa ngỏ đầu tiên, của đường mòn HCM, nối liền bắc VN tới lãnh thổ Lào. Từ đó đường mòn mang tên Trường Sơn Tây, tiếp tục tới Khâm Muôn (Lào), thì gặp Ðường 20 Quyết Thắng, từ Phọng Nhạ (Quảng Bình) sang. Khúc đường này dài hơn 127 km, chạy len lỏi giữa khu rừng già Kẽ Bàng và miền hoang địa Bulapha của Lào. Theo báo Aux Ecoutes du Monte, thì hải cảng Vinh (Nghệ An), là yết hầu của đường mòn HCM, vì gần như mọi thứ đều xuất phát ở đây, để xâm nhập vào Nam. Cũng từ đây, đường được phân làm ba nhánh qua Lào, để tránh thiệt hại vì sự oanh tạc của máy bay Mỹ. Riêng tổng hành dinh của Ðoàn 559A, thì đóng rải rác trong khu tam giác các thị trấn Napé, Kamkeut, Kanmon... nằm dọc theo con sông Nam Pao của Lào. Ðây là một quân chủng đặc biệt của cọng sản Bắc Việt, gồm công binh, vận tải, trách nhiệm bảo trì, sửa chữa con đường, đồng thời phân phối quản trị đoàn dân công, xe tải chuyển vận bộ đội, vũ khí, tiếp liệu từ bắc vào chiến trường miền Nam. Tại ngã ba Khâm Muôn, giao điểm của hai nhánh Quyết Thắng 20 và Tân Kỳ, đường mòn HCM, đi vào khu rừng già Hạ Lào, cặp kè với con sông Nam Cà Dinh, chạy tới đỉnh dốc đứng 1001 trên núi Răng Cọp. Từ đây đường mòn đổi tên thành Trường Sơn, sau khi vượt qua vĩ tuyến 17, để tới thị trấn Tchepone (Muang Xepon) nằm trên quốc lộ 9. Ðây cũng là phân nhánh đầu tiên của đường mòn Trường Sơn, xâm nhập lãnh thổ VNCH, để tấn công các căn cứ quân sự Lao Bảo, Khe Sanh, Làng Vei, Cà Lu... trong tỉnh Quảng Trị. Sau đó, đường mòn vẫn tiếp tục chạy trên đất Lào tới núi Ấp Bia (937m), một địa danh nổi tiếng, trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1960 -1975), được một ký giả ngoại quốc, chứng kiến tận mắt cảnh hàng ngàn xác bộ đội Bắc Việt, bị banh thây bỏ lại tại chiến trường, vì bom đạn phi pháo, nên đã đặt là Hambuger Hill. Tại đây, đường lại được phân nhánh tới các thung lũng A Lưới, Tà Bạt và A Shau. Ðây là bàn đạp mà Hà Nội tập trung bộ đội, để tấn công Thừa Thiên và Ðà Nẳng. Sau khi vượt qua cao nguyên Boloven gần ngã ba biên giới Việt-Lào-Miên, đường mòn lại phân thành hai nhánh khác chạy vào lãnh thổ VNCH, một nhánh phát xuất từ Savarane tới Dakto, Tân Cảnh, Kontum... trước khi ngang qua các trại Lực Lượng Ðặc Biệt Benhet, Dakto... Nhánh khác từ Attopeu vào Pleiku, ngang qua Trại LLÐB Ðức Cơ, Pleime. Nằm giữa hai nhánh rẽ này vẫn trên đất Lào, là mật khu 609 của Bắc Việt. Kể từ đây, đường mòn Trường Sơn đổi thành đường mòn Sihanouk, với nhiều mật khu như 702, 701, 740, 203, 351, 350 và 400. Trên đất Miên, đường mòn có một nhánh rẽ vào Phước Long và phần cuối cùng chạy xuống tận hải cảng Kampong Som (Sihanouk Ville) của Miên. Chính tại đây, Bắc Việt nhận trực tiếp hàng hóa viện trợ của Nga, Tàu và Ðông Âu, tới năm 1970 mới chấm dứt, khi Sihanouk bị Lonnol lật đổ. Nhờ đó Hoa Kỳ và QLVNCH mới được phép hành quân sang đất Miên theo lời yêu câu của chính phủ mới, nên mới tiêu diệt gần như tất cả các mật khu của Bắc Việt tại đây, qua các cuộc hành quân Toàn Thắng và Cửu Long. Tóm lại suốt cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai, ngoài số nạn nhân chết bởi bom đạn, giao tranh, phần lớn bộ đội, cán binh cọng sản miền bắc, được ghi nhận là ngã gục trên đường Trường Sơn, vì trăm ngàn nỗi gian lao cực nhọc và bệnh tật, đó là chưa kể tới chết khi đụng trận, bị bom đạn oanh tạc, mìn bẫy... Hàng vạn nấm mồ hoang lạnh, được vùi lấp vội vàng, trên con đường dài heo hút, chỉ một thời gian ngắn, đã biến thành phân mục, bón xanh thêm cây lá rừng hoang, như Trần Xuân Lợi, một bộ đội vượt tuyến đã viết: "Những hồi mưa ngớt Hay: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ, chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, áo bào thay chiếu anh về đất, sông núi gầm vang khúc độc hành - Quang Dũng“. Tất cả là sự thật, mà Ðại Tá Võ Ðại Tôn, tức nhà thơ Hoàng Phong Linh, trong cuộc Ðông Tiến bất thành, khi trở về VN để giải phóng quê hương sau năm 1975, đã ghi lại: "Ðỉnh núi cao mây vờn, Con đường có rất nhiều đoạn dài, xuyên giữa rừng già bất tận, phi cơ quan sát hay không ảnh cũng bó tay, ngoại trừ sự xâm nhập của các Toán Biệt Kích, thuộc binh chủng LLDB/VNCH. Ðể bảo vệ con đường chiến lược này, Bắc Việt thành lập Ðoàn 559A, gồm nhiều binh trạm, mỗi nơi có quân số tương đương một trung đoàn tác chiến. Giữa hai khu vực, có các toán giao liên và các kho dã chiến. Vùng nào lo vùng nấy, không ai biết gì tới các khu vực lân cận. Tóm lại, Ðoàn 559A chỉ có trách nhiệm từ vĩ tuyến 17 đổ vào nam mà thôi. Riêng phía bên này vĩ tuyển ra tới Bắc Việt, bổn phận tái tạo và giữ tốt, các tuyến đường giao thông, tiếp vận cho chiến trường, được giao cho hàng vạn thanh niên nam nữ, trong ba tổng đội Thanh Niên Xung Phong. Do trên đã có không biết bao nhiêu người tuổi trẻ, phải gục chết giữa bom đạn, khi bị bắt buộc bám trụ tại chỗ, để mỗi lần phi cơ Mỹ oanh tạc vừa dứt, thì họ với sức người và cuốc xẻng, ào ra chiến trường, để lấp hố bom trên mặt đường vừa bị cầy nát. Bởi thế giao thông không bao giờ bị gián đoạn. B - CÁN BINH, BỘ ÐỘI BẮC VIỆT TRÊN ÐƯỜNG MÒN HCM: Với mục đích lường gạt dư luận thế giới, đánh lận con đen, chối bỏ việc trắng trợn xâm lăng VNCH, nên cọng sản Bắc Việt lúc nào cũng tổ chức cuộc chuyển quân vào Nam, thật bí mật. Thêm vào đó là sự phụ họa rất ăn khớp nhịp nhàng của một số báo chí theo VC tại miền Nam, nên Hà Nội gần như đâm mù cả nhân loại, khiến ai cũng tin là cuộc chiến tại miền nam, là do chính người miền nam vì bất mãn chính phủ độc tài tàn bạo, nên nỗi loạn chống phá, chứ miền bắc không hề can dự. Thời gian đầu cuộc chiến, việc chuyển quân từ bắc vào nam, thật vô cùng khó khăn nguy hiểm. Vì thế chỉ có bộ binh vượt tuyến mà thôi. Còn vũ khí quân dụng, được chuyển vận bằng ghe thuyền tại tuyến đường 559B trên Ðông Hải, do Ðồng văn Cống phụ trách. Trước tết Mậu Thân 1968, bộ đội Bắc Việt vào Nam, được bồi dưỡng và huấn luyện trong thởi gian 8 tháng, với tiêu chuẩn 2 đồng 40 xu tiền Hồ/1 ngày. Trước khi lên đường “ sanh bắc tử nam”, các cán binh bộ đội được cấp 5 ngày phép về thăm gia đình. Vì chủ nghĩa xã hội miền bắc rất công bình, con trốn quân dịch, cha mẹ dù có già 100 tuổi vẫn phải đi thế, ngoài ra tất cả tem phiếu, sổ gia đình đều bị tịch thu. Nên trong một xứ mà tất cả nhu yếu phẩm đều phải bó buộc mua tại cửa hàng quốc doanh, chợ nhà nước, thì đâu có ai dám không đi lính, để vừa khổ thân lại làm liên lụy cho gia đình. Ở Bắc Việt, cũng không có chùa, nhà thờ và trường đại học, nên cũng không có chế độ hoãn dịch vì tu xuất hay học hành. Còn du học hay xuất ngoại, thì chỉ dành ưu tiên cho con cái và gia đình cán bự cỡ tổng bộ trưởng và hàng trung ưởng đảng, nên sau khi hết phép, ai nấy đều trở lại để lên đường vào Nam theo lệnh đảng. Trên đường tiến quân còn trong lãnh thổ Bắc Việt, các đơn vị chính quy hành quân, vẫn xử dụng quân phục cố hữu bằng vải kaki Nam Ðịnh, với mũ bầu có bọc vải dầu, màu xanh lá cây... Quân xa sẽ chở bộ đội tới Lào, qua một trong ba tuyến đường chiến lược, nối liền hai nhánh Trường Sơn Ðông và Tây, tại Ðồng Lộc (Hà Tĩnh), Phong Nhạ (Quảng Bình) và Vĩnh Linh ( Quảng Trị ), để tới biên giới VNCH. Tại đây, bộ đội cọng sản Bắc Việt, sẽ lột xác hoàn toàn thành người “ Giải Phóng Quân “ trong MTGPMN của Anh Thọ, chị Bình, chị Ðịnh Bến Tre lập ra. Tóm lại tất cả những gì có liên hệ tới cọng sản miền Bắc, đều phải hoàn trả hết cho cán bộ chính trị đơn vị. Từ đây bộ đội chính quy miền bắc là giải phóng quân miền nam, dù cả hai đều là đảng ta đó, nên phải mặc đồ bà ba đen, khăn rằn quàng cổ, mang dép râu, đội mũ tai bèo, y chang như VC tại Nam phần đã sắm tuồng từ năm 1960. Cả tới cờ hiệu, cũng phải dùng cờ MTGPMN, nửa xanh nửa đỏ giữa có sao vàng. Còn bài hát thì đã có bản “ Giải phóng miền nam “ của Nguyễn Minh Siêng tức Lưu Hữu Phước. Trước khi hiệp định Ba Lê 1973 ký kết, nhằm hợp thức hóa cũng như cho phép bộ đội chính quy Bắc Việt, được công khai đóng ngay trên lãnh thổ VNCH, thì sự di chuyển trên đường mòn HCM rất khó khăn nguy hiểm, kể cả các tuyến giao thông chiến lược, nối Bắc Việt với nhánh Trường Sơn Tây, nằm trong lãnh thổ Trung Lào, vì phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc ngày đêm liên tục. Nên chỉ riêng đoạn đường, từ điểm xuất phát đầu tiên tại Tân Kỳ (Nghệ An), tới thi trấn Tchepone (Hạ Lào), cũng phải mất từ 2 -3 tháng. Sau đó các đơn vị bộ đội chính quy miền bắc, được các toán giao liên hướng dẫn vượt tuyến và xâm nhập các trục vào lãnh thổ VNCH để hoạt động, tuỳ theo nhiệm vụ được đảng giao phó. Sau tháng 2-1973, không quân Hoa Kỳ chính thức rút khỏi cuộc chiến, còn VNCH thì không đủ phương tiện để ngăn chận, nên Bắc Việt gần như công khai hoạt động, không cần che đậy để lừa bịp dư luận như trước. Do trên, con đường mòn được tu bổ thành một xa lộ đất. Dọc đường, thiết lập nhiều khu dưỡng quân, bệnh xá, kho tiếp liệu. Song song là một hệ thống ống dẫn dầu, xăng, cùng một đường dây điện thoại cao thế, do Liên Xô và các nước Ðông Âu cung cấp viện trợ, bơm dầu từ các tàu nhiên liệu cập bến ở Nghệ An. Tại các mật khu cũng như địa điểm trọng yếu, Bắc Việt cho bố trí một mạng lưới phòng không dầy đặc, với đủ loại súng đại bác do Nga Xô, Ðông Ðức viện trợ như súng cao xạ, hỏa tiễn loại 35 và 57 ly. Từ năm 1965 tới 1967, ước chừng 7000 bộ đội chính quy xâm nhập miền Nam hằng tháng. Trong đợt tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, quân số cọng sản Bắc Việt, có mặt tại lãnh thổ VNCH hơn 100.000 người. Ðể chuyên chở người, quân dụng và vũ khí vào Nam trên đường mòn Trường Sơn, Hà Nội đã huy động một số quân xa, từ 1250 -1700 chiếc. Những quân xa này đều do Trung Cộng, Liên Xô viện trợ, gồm các hiệu Zills, Molotova... loại 130 bốn bánh và 157 sáu bánh, có trọng tải từ 4-6 tấn. Ngoài ra có một đoàn dân công khổng lồ, thi hành theo cái gọi là “nghĩa vụ lao động“, từ 16-55 tuổi không phân biệt nam nữ, để giữ hộ khẩu và được sống yên trong chế độ công an khu vực. Hàng hóa phần lớn được chuyển vận vào Nam bằng sức người, xe đạp và voi. Sau tháng 5-1975 chiến tranh chấm dứt, có rất nhiều bí mật được bật mí, phần lớn nhằm làm sáng tỏ lý do thất bại của Quân Lực Ðồng Minh, Hoa Kỳ và VNCH trong cuộc chiến Ðông Dương, mà nỗ lực chính là ngăn chận và phá vỡ hệ thống đường mòn Trường Sơn, hành lang chính để cán binh bộ đội cọng sản Bắc Việt, xâm lăng Miền Nam. Ðồng thời phơi bày ra ánh sáng, thảm trạng “ Mạng người lá rụng “ vì đường đi không tới, của hằng trăm ngàn người “sinh bắc tử nam“. Tất cả nạn nhân chiến tranh trên, chẳng có ai vì nhiệt tình cách mang, ngu để phải chết thảm thê vì đụng độ, máy bay oanh tạc, hải pháo và bệnh tật không có thuốc men chữa trị. Và dù phía VNCH không đạt được chiến thắng cuối cùng nhưng rõ ràng họ đã tiêu diệt và phá vỡ gần hết những mật khu quan trọng của Bắc Việt, trên đuờng mòn Trường Sơn, như 604 tại yết hầu Tchépone-Hạ Lào và 611 trong thung lũng Ashau, gồm nhiều binh trạm, hậu cần, ống dẫn dầu cùng các tổng kho tiếp tế. Tác giả Lane Rogers cũng là Ðại Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, từng tham dự nhiều trận chiến trên đường mòn, đã viết :” Ðể bảo vệ và hoạt động được liên tục trên hành lang chuyển quân, Bắc Bộ Phủ đã thí quân một cách vô nhân đạo. Ðó là lý do nhiều lần con đường chính và năm nhánh rẽ vào Nam VN, tưởng như đã bị phá vỡ hoàn toàn. Nhưng rồi đoàn kiến người cũng tìm đủ mọi ngõ ngách khác để xâm lăng miền Nam. Riêng Thống Tướng Westmoreland, cựu Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ và Ðồng Minh, chiến đấu tại VN, thì giải thích lý do thất bại của Mỹ, trong nỗ lực hủy diệt con đường này, phần lớn do trở ngại thiên nhiên, là chốn ma thiêng nước độc, gây sự sợ hãi chết chóc nhiều nhất trên thế giới. 3- Máu Ðẫm Trường Sơn (1960-1975): Hai mươi năm chiến cuộc VN, đã cướp mất đi hằng triệu thanh niên nam nữ hai miền đất nước, cũng như đồng bào vô tội. Sự tủi nhục và đau lòng nhất, riêng chỉ có kẻ trong cuộc và dân chúng xã nghĩa Bắc Việt mới hiểu thấu. Riêng người miền Nam sống tại các đô thị lớn như Sài Gòn, Huế, Cần Thơ... gần hết chỉ hiểu một cách đại khái, mù mờ, qua tài liệu, báo chí và sự tuyên truyền của cả hai phía. Họ đâu có bao giờ biết rằng, trong suốt cuộc chiến, Bắc Việt, Hoa Kỳ và QLVNCH, đã dành giựt từng thước đất trên đỉnh Trường Sơn, vì một bên thì quyết lòng dùng máu xương người để xây huyết lộ, còn phía bên kia cũng lấy mạng sống, bom để phá hủy cho tận tuyệt. Nói chung cả hai phía đều xử dụng tối đa mạng sống con người Việt, qua các khẩu hiệu hào nhoáng nhưng mặt thật, cũng chỉ để phục vụ cho quyền lợi riêng tư của họ mà thôi. A- VỀ PHÍA CỌNG SẢN BẮC VIỆT: Sau khi Thủ Tướng Liên Xô Nikita Khrushchev, phát pháo mở màn cuộc chiến giải phóng toàn cầu vào ngày 6-1-1961, cũng là thời gian khởi đầu cho tới ngày 30-4-1975, Bắc Việt xâm lăng cưỡng chiếm VNCH. Ngoại trừ các chóp bu ngồi tại Bắc Bộ Phủ, không ai có thể biết rõ, đã có bao nhiêu cán binh, dân công và thanh niên xung phong đã bị thương vong vì cuộc chiến. Phần thì cọng sản quen bưng bít sự thật, hơn nữa trong chủ nghĩa thiên đàng, không có chế độ thương binh ngoài mặt trận. Nên tất cả những điều Ðảng tuyên bố, gần như là tuyên truyền láo bịp, nên sự thật đâu biết sao mà mò? Nhưng chắc chắn có điều, gần hết các trận đánh khốc liệt , đều xảy ra trên hành lang chiến lược Trường Sơn, từ sự hủy diệt bằng bom mìn, hàng rào điện tử, chiến tranh khí tượng, thuốc khai quang, không quân cho tới những đụng độ trực tiếp giữa Bắc Việt với Hoa Kỳ và VNCH, mà cao điểm là cuộc hành quân Lam Sơn 719, tại Hạ Lào -1971. Trên lãnh thổ Bắc Việt, trực diện với bom đạn hằng ngày, là những nam nữ thanh niên, trong các Tổng Ðội Thanh Niên Xung Phong. Nhiều người đã bị chết một cách oan khiên tức tưởi, tại ngã ba Ðồng Lộc (Hà Tĩnh), Ðường 20 Quyết Thắng (Quảng Bình), Hưng Hóa ( Quảng Trị ) khi bị bắt buộc thi hành các công tác hiểm nguy như giao liên đơn độc giữa rừng núi muôn trùng, làm mốc hướng dẫn đoàn xe đến các địa điểm tránh bom Mỹ... Trong muôn ngàn thảm kịch, được đưa lên phim quảng cáo, vẫn thảm nhất là cái chết của 10 cô gái TNXP, thuộc Tiểu Ðội 4/Tổng Ðội 53 - Hà Tĩnh, bị bom đánh sập, chôn sống tập thể tại Ngã Ba Ðồng Lộc, vào sáng ngày 24-7-1968. Hoặc chuyện bốn cặp TNXP và công binh, cũng bị chết ngạt trong một cái hang núi tại Kẽ Bàng (Quảng Bình)... Nhưng đây cũng chỉ là một trong hằng triệu cái chết vô danh của phận người xấu số trong chiến tranh, nếu đem so sánh với những cái chết khác tại các tuyến đường rẽ vào lãnh thổ VNCH. Không kể đến sự đụng độ thường xuyên giữa các Toán Biệt Kích Quân cảm tử, thuộc Binh chủng LLĐB/VNCH và cán binh Bắc Việt, trên mọi ngõ ngách của đường mòn Trường Sơn, ngay cả trong lãnh thổ Bắc Việt. Kể từ năm 1965 tới khi có Hiệp định Ba Lê 1973, đã có không biết bao nhiêu trận đánh lớn giữa cọng sản miền bắc và quân lực Ðồng Minh, Hoa Kỳ cũng như QLVNCH. Ðiển hình như các trận PLEIME -1965, giữa Toán A217 Biệt Kích Mỹ-Việt, TÐ91BCD/LLĐB, TĐ1/TrĐ45/SĐ23BB, TĐ21+22/BĐQ, Chi Ðoàn 3 Thiết kỵ/VNCH với 3 Trung Ðoàn 32, 33, 66 cọng sản Bắc Việt. Ngày 27-10-1965, SĐ1 kỵ binh không vận Hoa Kỳ, hành quân tại thung lũng IA-DRANG, Pleiku, bẻ gãy âm mưu tập trung của 3 SĐ Bắc Việt, nhằm chia cắt VNCH thành hai mảnh. Tháng 12-1965, Bắc Việt lại tấn công 2 Trại LLĐB Tà Bạt, A Lưới (Thừa Thiên), một trận đụng độ đẫm máu giữa cọng và Mỹ+VNCH tại căn cứ Ashau, một tiền đồn ngăn chận cán binh Hà Nội, tràn xuống miền duyên hải. Mùa thu năm 1967, Bắc Việt tấn công đồng loạt nhiều tiền đồn VNCH trên đường rẽ vào Chiến khu C (Phước-Bình Long) cũng như Kontum, vì 2 khu vực này là cửa ngõ chiến lược quan trọng nhất trên hành lang xâm lăng VNCH của cọng sản Bắc Việt. Ðể giải tỏa áp lực tại Tiền đồn Dakto, 16 tiểu đoàn thuộc SĐ4BB + SĐ Dù/Hoa Kỳ và Lực lượng Nhảy Dù VN, đã ác chiến với 1 SĐ Bắc Việt, thương vong hai phía rất nặng. Trên QL9 từ Hạ Lào vào Quảng Trị, có Tiền Ðồn Khe Sanh là căn cứ của Biệt kích quân VNCH, thành lập từ tháng 7-1962. Ðây cũng là điểm xuất phát các Phi Vụ Tiger Hound rải quân xâm nhập đường mòn HCM. Như các căn cứ Cồn Tiên, Gio Linh, Caroll, Cam Lộ... Khe Sanh là các tiền đồn, đối diện với vùng biên giới phía bắc khu phi quân sự vỹ tuyến 17 lãnh thổ Bắc Việt. Bởi vậy cọng sản luôn tìm mọi cách tiêu diệt cái gai nhọn Khe Sanh, đâm vào yết hầu đường mòn Trường Sơn. Cuối năm1967, trưóc khi mở màn cuộc tấn công đẫm máu Tết Mậu Thân 1968, Võ Nguyên Giáp đã mở một mặt trận Ðiện Biên Phủ thứ 2 tại thung lũng Khe Sanh, với ý muốn dụ quân Mỹ vào rọ để tiêu diệt như đã từng xảy ra vào năm 1954 trên đất bắc. Nhưng Giáp đã tính toán sai, vì Hoa Kỳ mạnh hơn Pháp cả 100 lần, lại có một lực lượng hải pháo không quân hùng hậu, nên cuối cùng Bắc Việt phải chém vè về Hạ Lào, bỏ lại tại Khe Sanh hơn 20.000 xác bộ đội, tỷ lệ 90% quân số tham dự trận chiến. Cũng tại đây, ngoài quân Mỹ, còn có một đơn vị VNCH duy nhất được tăng phái, đó là TĐ37 Biệt Ðộng Quân. Ðơn vị này dù quân số ít ỏi, lại bị nằm tiền đồn nhưng suốt thời gian chiến cuộc, đã giữ vững được phòng tuyến phía nam của căn cứ Khe Sanh, qua nhiều đợt tấn công biển người của SĐ304 Bắc Việt. Trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, cọng sản thất bại hoàn toàn trên chiến trường, nên hầu hết tàn binh đều rút về phía bên kia biên giới Việt-Miên-Lào, trên đường mòn Trường Sơn. Phía VNCH và Hoa Kỳ đã mở nhiều cuộc hành quân truy quét. Tại Vùng 1 chiến thuật, ngày 16-4-1968 SĐ1 Kỵ binh Mỹ + TrĐ3/SĐ1BB/VNCH hành quân Lam Sơn 216 - Delaware tảo thanh vùng A Lưới. Kế tiếp hành quân Sonerset Plain Lam Sơn 246 của SĐ101 Dù Mỹ + TrĐ1/SĐ1BB/VNCH tại vùng A Lưới, Tà Bạt và mật khu 609. Ðầu năm 1969, SĐ101 Dù + TrÐ9/TQLC/HK + TrĐ3/SĐ1BB/VNCH tảo thanh thung lũng A Shau. Vùng này có một ngọn núi cao trên 1000m, nằm ngay biên giới Lào-Việt, như một bình phong án ngữ các căn cứ A Lưới, Tà Bạt, A Sha. Một trận đụng độ kinh khiếp đã xảy ra tại đây giữa hai phía. Cùng tham chiến, không quân, pháo binh và các pháo đài bay B52, đã giội xuống chiến trường hơn một triệu cân Anh bom các loại, trong số này có 152.000 cân Anh bom lửa, khiến cho đồi núi, cỏ cây, rừng xanh và xác cán binh bộ đội cọng sản Bắc Việt bỏ lại khi chém vè, đều biến thành tro bụi. Cảm thương cho số phận con người vì tem phiếu, hộ khẩu, mà phải sinh bắc tử nam, nên một ký giả Mỹ có mặt tại trận địa, viết bài trên báo, đã ví von đặt tên núi Ấp Bia là Hamburger Hill. Sau này, báo chí VC hãnh diện tuyên truyền với thế giới, vì Mỹ chết nhiều quá, nên mới có cái tên ngộ nghĩnh trên. Nhưng một biến cố cực kỳ quan trọng trên, gần như làm đảo lộn chiến lược xâm lăng miền nam của Bắc Việt, cũng như chiến thắng gần kề của VNCH, nếu như Nixon-Kissinger không bán đứng Miền Nam cho Bắc Việt, qua cái gọi là Hiệp định Ba Lê 1973. Ðó là cuộc chính biến trên đất Miên vào năm 1970. Ai cũng biết Kampuchia từ năm 1960, là hậu cứ an toàn của cọng sản Bắc Việt, để nhận trực tiếp hàng hóa quân dụng viện trợ của các nước XHCN, tại hải cảng Sihanouk Ville nằm trong vịnh Thái Lan. Ðây cũng là tổng hành dinh của Cục R, đầu não chỉ huy của đảng bộ cọng sản miền nam, qua ngụy danh MTGPMN. Ngày 18-3-1970, Lonnol lật đổ Sihanouk và theo Mỹ. Quân Miên cũng được lệnh tấn công các mật khu của Bắc Việt trên đất Miên. Chiến tranh đã nổ toàn diện trên đất chùa Tháp. Liên quân Khmer Ðỏ của Polpot và VC phản công và bao vây thủ đô Nam Vang, đồng thời người Miên qua sự xúi ngầm của tân chính phủ Lonnol, đã đồng loạt “CÁP DUỒNG“ Việt Kiều khắp nơi, gây thảm trạng thương đau cho hằng vạn người dân vô tội, bị vạ lây do Bắc Việt gây ra từ mấy năm trước. Ðể cứu đồng bào về nước, đồng thời mượn dịp thanh toán các căn cứ địa và cục R tại biên giới Việt-Miên, theo yêu cầu của Lonnol. Do trên, QLVNCH đã tổ chức các cuộc hành quân rất qui mô, mang tên Toàn Thắng 41, 42, 43 do QĐ3 đảm trách. Song xong QĐ2 cũng hành quân Bình Tây và QĐ4 có hành quân Cửu Long. Trừ cuộc hành quân Toàn Thắng 43, do lực lượng hỗn hợp Việt-Mỹ, gồm SĐ1 Không vận Hoa Kỳ + Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù và Thiết Ðoàn 2 Kỵ binh/VNCH. Tất cả các cuộc hành quân khác, đều do QLVNCH đảm trách, đã giúp Lonnol chiếm lại thủ đô Nam Vang, hải cảng Sihanouk Ville, đồng thời phá vỡ gần như toàn diện các mật khu của VC, trong đó có Trung Ương Cục R. Trên biển Ðông, Hải quân Mỹ còn tổ chức cuộc Hành quân Market Timer, để truy đuổi các tàu thuyền của Bắc Việt, trong việc chuyển vận quân trang quân dụng vào Nam, bằng tuyến đường biển 559B. Ðể cứu sống đoàn quân xâm lăng đông đảo, đang có mặt ở miền nam, trong lúc các căn cứ tiếp vận tại Miên vừa bị phá hủy, nên cọng sản Bắc Việt đã gia tăng quân lực, bằng mọi giá giữ vững cho được Huyết lộ HCM trên đất Lào, mà trọng điểm là Thị trấn hoang tàn Tchépone. Ðây cũng lý do mà QLVNCH đã mở cuộc Hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào năm 1971, một trận chiếm đẫm máu nhất trong Ðông Dương thế chiến 2 (1960-1975). Phía VNCH có 17.000 quân tham dự, gồm các SĐ Nhảy Dù, SĐ TQLC, SĐ 1BB, Liên Ðoàn 1BĐQ và Lữ Ðoàn 1 Thiết Giáp. Về phía cọng sản Bắc Việt có Quân Ðoàn 70B, các SĐ2, 304, 308, SĐ phòng không... Quân Mỹ chỉ đóng bên kia biên giới, yểm trợ không vận, hải pháo, pháo binh... Cuộc hành quân kết thúc ngày 25-4-1971 sau khi Trung Ðoàn 2/SĐ1BB/VNCH tiến vào thị trấn Tchépone. Dù bị thiệt hại rất nặng nhưng QLVNCH đã phần nào đạt được mục tiêu chiến lược, là phá hủy hoàn toàn nhiều căn cứ tiếp liệu của Bắc Việt, tại mật khu 609 và 611 trên đường mòn HCM. B- VỀ PHÍA VNCH: Trong suốt cuộc chiến, hầu như tất cả mọi binh chủng của QLVNCH đều có mặt tại đường mòn Trường Sơn, kể cả Cảnh Sát Dã Chiến, Xây Dựng Nông thôn, ĐPQ+NQ... Tuy nhiên đã có một Binh Chủng Ðặc Biệt, từ ngày thành lập vào năm 1957, tới khi rã ngũ tan hàng, đã đơn độc hoạt động âm thầm trong lòng địch, trên suốt đường mòn HCM từ đông sang tây, ngay cả trong lãnh thổ của Miên và Lào. Họ là những chiến sĩ “ BIỆT KÍCH-BIỆT CÁCH “, không có sự yểm trợ nào của đơn vị bạn và hoàn toàn tụ lực cánh sinh để mà sống trong núi rừng, nhiều nơi chưa hề có dấu chân người. Binh chủng LLĐB có cấp số sư đoàn, bao gồm các đơn vị như Sở liên lạc, Sở công tác, Sở khai thác địa hình, các liên đoàn tác chiến 31, 77, 81 Biệt cách nhảy dù và Trung tâm Huấn luyện LLĐB Ðồng Ba Thìn tại Cam Lâm-Khánh Hòa. Như Kinh Kha ngày xưa, các chiến sĩ Biệt Kích ra đi ít khi được trở về. Một số ít đã bị bắt tại Bắc Việt và chịu kiếp tội đồ, tới nay nhiều người vẫn còn chưa được thả. Vì họ chính là kẻ thù không đội trời chung và cũng là khắc tinh của cọng sản, trên suốt đường mòn. Tóm lại nơi nào có VC thì nơi đó có LLĐB. Hai bên đã trường kỳ đấu trí trong suốt cuộc chiến, qua đủ mọi hình thức. Nhưng vì lý do bảo mật, nên cả hai phía, đều không muốn nhắc tới. C- VỀ PHÍA HOA KỲ: Từ năm 1961, Lào trở thành một quốc gia trung lập, nên chính phủ Mỹ đã bị Quốc Hội, nhất là tên thượng nghị sĩ đảng dân chủ thân cộng William Fullbright và cái gọi là ủy ban ngoại giao, tìm đủ mọi cách ngăn chận cấm đoán quân Mỹ can thiệp vào đất Lào. Trong lúc đó, cọng sản Bắc Việt không hề đếm xỉa tới cái gọi là hiệp định Genève 1961(1), tự tác mở con đường Tây Trường Sơn ngay trên đất Lào, để làm hành lang chuyển quân và tiếp vận xâm lăng miền nam. Cũng do Quốc Hội trói buộc, nên từ đời TT Kennedy cho tới Johnson, cả hai đều dè dặt trong quyết định dùng vũ lực tiêu diệt, ngăn chận sự xâm nhập của cán binh bộ đội, trên đường mòn HCM. Vì không thể xử dụng bộ binh, để tránh né khỏi bị công luận thế giới và quốc hội chỉ trích, người Mỹ đã dùng các phương tiện chiến tranh khác như oanh tạc, khai quang và dùng hàng rào điện tử. Ngay cả việc xử dụng không quân để oanh tạc cũng vô cùng bí mật, lúc đầu đều do các phi công thuê của Thái Lan, Ðài Loan đảm trách. Về sau vì Bắc Việt đã được Liên Xô giúp thiết trí một mạng lưới phòng không dày đặc, với đủ các loại đại bác, hỏa tiễn tối tân 35, 57 ly... làm nhiều thám thính cơ bị bắn hạ. Vì vậy để thích ứng với hoàn cảnh, Hoa Kỳ quyết định xử dụng những phi cơ oanh tạc Thunderchief từ Thái Lan, cùng các phi cơ F105(2), pháo đài bay B-52 từ căn cứ Guam, cũng như các Hàng Không Mẫu Hạm bỏ neo trên Thái Bình Dương, để oanh tạc liên tục con đường mòn HCM, trên đất Bắc, Lào-Miên và trong lãnh thổ VNCH. Riêng chủ trương của Tướng Westmoreland, tư lệnh các lực lượng Mỹ và Ðồng Minh tham chiến tại VN, thì luôn muốn dùng bộ binh, để cắt đứt đường mòn HCM ngay trên đất Lào. Nhưng ông đã bị Quốc Hội Mỹ chống đối kịch liệt vì sợ vi phạm hiệp định Geneve 1961(1). Ngoài ra Mỹ cũng luôn lo sợ va chạm quân sự với Trung Cộng, khi tung quân vào Lào để hủy diệt con đường chiến lược HCM. Ðây cũng là những bí ẩn trong cuộc chiến VN mới được bật mí. Năm 1968 kế hoạch vượt biên đánh sang Lào để hủy diệt đường mòn HCM, mang tên EL-PASO sắp được Quốc Hội Mỹ phê chuẩn, thì xảy ra trận Tết Mậu Thân 1968 nên chiến dịch trên đã bị hủy diệt. 12 giờ trưa ngày 30-4-1975, nhờ Tổng thống Dương văn Minh với quyền hạn của Vị Tổng Tư lệnh tối cao, ra lệnh cho QLVNCH lúc đó đang còn chiến đấu khắp các mặt trận, buông súng đầu hàng giặc. Nhờ vậy mà đoàn xe tăng của Liên Xô, chở quân cọng sản Bắc Việt, mới bon bon chạy được trên đoạn chót của đường mòn HCM, là đại lộ Thống Nhất-Sài Gòn, rồi ủi sập hai cổng sắt để vào dinh Ðộc Lập, trống trơn không có phòng thủ, lính gác. Sài Gòn hai mươi năm dưới chế độ VNCH, gần như lúc nào cũng có biểu tình. Thế nhưng trong ngày “ vinh quang của đảng-bác “, một cơ hội vàng ròng để người miền nam tha hồ xuống đường hoan hô hòa bình, ăn mừng. Tuy nhiên mọi điều xảy ra lại hoàn toàn trái ngược, chứng tỏ người miền nam không phải ai cũng hồ hởi tin hay thân cộng, như một số báo chí thời đó đã xướng. Theo hằng trăm nhà báo ngoại quốc có mặt hôm đó, trong số này có nhiều người thân cộng, cho biết: “ trưa 30-4-1975, khi quân Bắc Việt vào Sài Gòn, đã không có cảnh người thủ đô hàng hàng lớp lớp, túa ra đường, miệng la cờ phất... như họ từng làm qua nhiều biến cố trong quá khứ. “ Nói chung chỉ có cán bộ đảng và SĐ304 khăn đỏ tân lập ra chào đón quân ta về, còn dân chúng Sài đô lớp thì chạy trối chết theo chân Mỹ đi ngoại quốc, số khác lo chôm đồ... nên có ai rảnh để mà biểu tình, xuống đường như đảng mong đợi. Sau đó Hà Nội cho thu lượm hài cốt cán binh bộ đội đã chết trên đường mòn, tập trung làm nghĩa trang Trường Sơn, tại xã Gio An, quận Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Còn Tỉnh Uỷ Bình-Trị-Thiên thì tổ chức tour du lịch, để du khách trong và ngoài nước tới thăm mấy cái xác xe tăng Mỹ, cây cầu treo Dakrong do công binh Cu Ba làm tặng và đồi Hambuger Hill. Riêng đường Trường Sơn tây thì bỏ hoang hoàn toàn và mới đây Lào cho phép Trung Cộng trùng tu, nối liền xa lộ Vân-Nam-Bắc Trung Lào mà tương lai con đường này sẽ thông tới hải cảng Kompong Som của Kampuchia, như năm xưa Bắc Việt đã làm. Nay ngồi ngẫm nghĩ, mới thấy nhà văn Xuân Vũ viết “ Ðường đi tới mà không tới “ là đúng sự thật. "trăng chiến khu não nùng sầu vạn kỷ
Bắt đầu từ năm 1989 tới 1991, đã có nhiều biến cố chính trị quan trọng xảy ra tại Ðông Âu. Ðó là việc các nước chư hầu, lần lượt từ bỏ xã hội chủ nghĩa, kéo theo sự sụp đổ và tan rã của Liên Bang Xô Viết. Ðể cứu đảng khi đã mất cái dù che của Nga, Việt Cộng lại ngả về Tàu, đồng thời mở khẩu đổi mới, trải thảm đỏ, mời Hoa Kỳ, Nhật và Tây Phương vào làm ăn buôn bán. Nhờ vậy lớp son phấn che kín bản mặt thật của đảng, dần hồi bị xói mòn, bởi các tệ trạng tham nhũng, cướp bóc nơi cửa quyền và nhất là sự kiện đảng công khai bán nước cho ngoại bang, hèn nhục để cho dân mình bị Tàu Cộng bắn giết trên biển mới xảy ra vào tháng 1-2005, đã làm cho cả nước không còn hãi sợ và tin Việt Cộng, kể cả một số không ít trí thức khoa bảng NamVN trước đây, từng tin đảng là chính nghĩa, làm cách mạng chỉ để giải phóng đất nước bị Mỹ-Ngụy kềm kẹp bóc lột.
Ðể bảo vệ đảng cũng như quyền lợi của chóp bu đang hồi tiến nhanh tiến mạnh, Hà Nội lại lùi một bước, quay về với chiến lược cũ rích năm nào. Ðó là dùng lịch sử để lường gạt đồng bào và Việt kiều thêm lần nữa. Ðảng đem những huyền thoại trên trời dưới biển năm nao, ra hâm nóng lại tinh thần yêu nước là “ yêu nước xã hội chủ nghĩa “ của cán bộ đảng viên, đang bị phân hoá lung lay niềm tin tới tận gốc, vì giành ăn, tranh quyền và ganh tị lẫn nhau bởi “ trâu cột ghét trâu ăn “. Ngoài ra, đảng cho trùng tu lại các di tích chiến tranh, như Ðịa đạo Vĩnh Mốc ( Vĩnh Linh-Quảng Trị ), Củ Chi (Hậu Nghĩa), cũng như tái tạo lại con đường mòn Hồ Chí Minh. Công tác trên vừa có tính cách xoa dịu tự ái của những đảng viên bộ đội già bị vắt chanh bỏ vỏ, sau khi tàn chinh chiến. Ðồng thời lần nữa lừa bịp cũng như móc túi bọn du khách ngoại quốc, trong đó có không ít Việt Kiều trí thức Miền Nam ngày xưa trốn quân dịch, nên có bao giờ biết cũng như nếm được mùi chiến tranh bom đạn, và đám da trắng giàu có đa sự. Bọn này rất muốn biết và nhìn tận mắt con đường mà Hoa Kỳ, nói là đã oanh tạc một số bom đạn, nhiều hơn số lượng đã xử dụng trong thời đệ nhi thế chiến nhưng vẫn không ngăn nổi người và quân dụng Bắc Việt vào Nam. Việc đẻ ra kế hoạch “ mười năm du lịch “ 1995-2005 “ của Võ văn Kiệt tại nghị định số 307 ngày 24-5-1995, cũng là một trong những sự sao y bản chánh của Trung Cộng, vì thấy Ðặng tiểu Bình đã thành công, khi xây dựng các khu du lịch và công nghiệp tại Thẩm Quyến, Hải Nam, Thượng Hải... Từ đó Hà Nội đã bất chấp thực tế, vẫn hồng hơn chuyên, bỏ hằng tỷ bạc ngân sách quốc gia, để xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất và thành phố Vạn Tưởng, tại Quảng Tín-Quảng Ngãi, trước sự mai mỉa cười chê của thế giới. Khắp nước nơi nào cũng tổ chức các tour du lịch, để hốt bạc và tuyên truyền bộ mặt son phấn mới của VN xã nghĩa. Ngay chốn khỉ ho cò gáy như miền giới tuyến năm nào trong tỉnh Quảng Trị, cũng có một tour du lịch, từ Cửa Việt lên tới Khe Sanh, Tà Cơn, Cầu Treo DakRong, ngã ba QL9 và đường mòn HCM, gọi là The Demilitarized Zone tour, thường viết tắt là D.M.Z. Mục đích để đảng quảng cáo các chiến lợi phẩm thời chiến tranh và cái gọi là nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, mà theo thân nhân của người quá cố, trong hòm chỉ có cát-đất mà thôi. Có đọc trường thiên ký sự “ Ðường đi không tới “ của nhà văn VC hồi chánh là Xuân Vũ, hay đã làm lính VNCH, mới cảm nhận được cái ý vị khổ nhục cùng tận của cuộc chiến Ðông Dương lần 2 (1955-1975), do Ðệ tam quốc tế cọng sản chủ xướng, qua vai trò tên lính tiền phương đánh mướn là Việt Cộng. Trong cuộc chiến vô nghĩa phi lý này, mặt trận tại Trường Sơn, đã là mồ chôn hằng vạn tử sĩ của cả hai phía. Những địa danh như Dốc pháo cụt, Ðồi không tên, Sông A-Vương, Lũng Giằng, Khe Sanh, Dakto, A-Shau, Ia-Drang, Pleime, Ðức Cơ... ra tận miền Bắc, càng lúc càng trở nên khốc liệt, khi nó chính thức trở thành con đường chiến lược để Bắc Việt xâm lăng VNCH. Suốt thời gian chiến tranh, Võ Nguyên Giáp qua tư cách Ðại Tướng tổng tư lệnh quân đội VC, đã từng tuyên bố với báo chí quốc tế, là hắn sẽ đốt rụi Trường Sơn, dù phải đem giết hết thanh niên nam nữ miền bắc. Cho nên không lạ khi thấy Xuân Vũ nói “ mạng người lá rụng “, để viết về thảm kịch Ðường Ði Không Tới, của một số cán binh bộ đội hồi kết năm nào.
Tháng 11-1997, Võ nguyên Giáp khoe thành tích Bát Quái Ðồ, tức là đường Trường Sơn 559, do Ðinh Ðức Thiện và Ðồng Sĩ Nguyên lần lượt chỉ huy suốt cuộc chiến từ 1960-1975. Ngày xưa thế giới đui mù vì bị bọn trí thức khoa bảng, cha-sư miền nam tuyên truyền lật lọng, nên chẳng bao giờ thấy được hình ảnh bộ đội cọng sản “ sinh bắc tử nam “, khi ồ ạt vượt vĩ tuyến 17, vào đường mòn HCM, để tấn công cưỡng chiếm Miền Nam thanh bình no ấm, như họ đã thấy tại bán đảo Triều Tiên, vào tháng 6-1950, qua cuộc chiến Cao Ly. Nhưng biết sớm hay muộn cũng giống nhau, vì ngày nay trên khắp nẻo đường Trường Sơn năm cũ, từ Bắc Việt vào tới Phước-Bình Long, hằng ngày đã có hằng vạn nguời Việt, đói rách bị chĩa súng có gắn mã tấu sau lưng, để bắt họ làm nghĩa vụ lao động. Cũng qua cái hình ảnh đau thương này, đã làm cho mọi người trong cuộc của cả hai phía, chợt nhớ tới những cô gái Trường Sơn năm nào, luôn mỏi ngóng các chàng lính trận có lần đã đi vào con tim của họ. Ðể rồi từ đó tới nay, tuổi xuân tháp cánh lưng trời, mà bóng ai vẫn biền biệt, như cái huyền thoại Trường Sơn, thật sự đã chết trong tâm tư đồng bào sơn cước, khi họ bị VC cướp đất, lừa bịp... sau khi đất nước đã có hòa bình.
"mai về quê mẹ, lên biên giới
thăm lại Trường Sơn thuở kiếm cung
rừng núi vẫn xanh màu khát vọng
chỉ ta hờn tủi, kiếp tha hương ...”
1- Bối cảnh lịch sử có liên quan tới chiến cuộc Ðông Dương lần thứ 2 (1955-1975):
Ngày 7-5-1954 Ðiện Biên Phủ thất thủ, nước VN tạm thời bị chia cắt thành 2 miền riêng biệt, với 2 thể chế khác nhau, do cái gọi là tứ cường Liên Xô, Anh, Pháp và Trung Cộng tự ý quyết định số phận của đất nước và dân tộc VN, tại bàn hội nghị Genève ( Thụy Sĩ ). Hoa Kỳ lúc đó là đồng chủ tịch nhưng vì một lý do gì đó, nên không ký vào biên bản. Từ đó, Bắc Việt do Hồ Chí Minh lãnh đạo, công khai theo chế độ cọng sản và là chư hầu của Nga-Tàu. Miền Nam chọn chính thể Cọng Hòa. Hai miền VN lấy vĩ tuyến 17, cũng là con sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị, làm ranh giới tạm chia. Theo tinh thần hiệp ước đình chiến, quân viễn chinh Pháp phải rút hết về nước, còn VC trong mặt trận Việt Minh tại miền Nam, cũng phải tập kết ra bắc.
Từ khi chính thức làm trùm nửa nước, Hồ Chí Minh và đảng VC, theo chân Mao Trạch Ðông, phóng tay phát động phong trào cải cách ruộng đất năm 1956, làm cho hằng vạn người dân vô tội tại miền bắc bị đấu tố chết thảm thương, trong số này hầu hết đều có công với nước hay với đảng trong chín năm kháng chiến chống Pháp. Nội vụ được giấu kín hay được bọn trí thức khoa bảng da trắng thân cộng như G.Kolko, tác giả quyển “ VN Anatomy of wars 1940-1975 “ tuyên truyền hoàn toàn trái ngược với sự thật.
Trong khi đó, tình hình chính trị của miền Nam từ A tới Z, bị bọn trí thức thân cộng trong và ngoài nước, moi móc, bịa đặt đủ điều vớí mục đích làm mất chính nghĩa quốc gia của người miền Nam, trong lúc đang chiến đấu chống lại sự xâm lăng của đệ tam quốc tế. Tại VNCH, những năm đầu tiên, TT Ngô Ðình Diệm đã gặp rất nhiều khó khăn, trong việc đương đầu với với các Giáo phái và lực lượng Bình Xuyên. Lợi dụng giậu đổ bìm leo, VC nằm vùng tại miền Nam đã phát động các cuộc nổi loạn võ trang, gọi là đồng khởi tại Trà Bồng (Quảng Ngãi), Bắc Ruộng (Bình Thuận) và Mỏ Cầy (Bến Tre), song song với các vụ khủng bố, ám sát đồng bào và viên chức xã ấp khắp nơi nhưng cuối cùng mọi hành động phá rối của VC đều thất bại. Theo hầu hết các nguồn sử liệu còn lưu trữ, cho biết tình hình chính trị tại VNCH, vào những năm 1956, 1957, 1958 rất khả quan từ Sài Gòn cũng như các tỉnh, nơi thị tứ cho tới chốn quê làng, đâu cũng vui sống cảnh thanh bình no cơm áo ấm. Nhờ vậy TT Ngô Ðình Diệm cũng như Chính Phủ Miền Nam, lúc đó đã gây được uy tín rất lớn trên thế giới.
Trước tình hình nguy ngập đó, Hồ Chí Minh đã phải gọi Lê Duẩn, lúc đó đang làm xứ bộ trưởng, chỉ huy cán bộ nằm vùng tại miền Nam, trở ra Bắc, để duyệt xét lại kế hoạch cưỡng chiếm VNCH bằng vũ lực, thay vì kỳ vọng vào cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước như Hiệp định Genève 1954 đã qui định, mà VNCH không chịu thi hành, vì không hề ký vào biên bản hiệp ước trên. Trong phiên họp lần thứ 15 của Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng, khai diễn ở Hà Nội vào tháng 1-1959, quyết định thành lập Lực Lượng Vũ Trang tại Miền Nam. Kế tiếp ngày 5-10-1960, đảng lại họp Ðại Hội 3 cũng tại Hà Nội, để thành lập Ðảng Bộ Cọng Sản Miền Nam, qua danh xưng “ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam “, làm cánh tay nối dài, vừa là bình phong, vừa tạo công cụ xâm lăng cho Bắc Việt. Ðúng như Lê Duẩn đã tuyên bố “ Ðó là chiến lược bảo đảm thắng lợi hoàn toàn cho cuộc cưỡng chiếm miền Nam, dưới sự lãnh đạo của đảng Mác-Lê và giai cấp công nông “. Tóm lại theo chủ trương của Hà Nội, Ðảng Bộ CS miền Nam, tức MTGPMN, phải hành động theo ba mục tiêu chiến lược: 1- Ly gián đồng bào và chính quyền VNCH. 2- Ðánh lừa dư luận thế giới về cuộc xâm lăng của miền Bắc, trở thành cuộc nội chiến tại miền Nam. 3- Tuyệt đối phải tuân theo các chỉ thị của đảng, do miền Bắc lãnh đạo, Mặt trận miền Nam chỉ thừa hành, theo đúng chính sách đề cương trong khối xã hội chủ nghĩa quốc tế. Nên tới nay, dù được gọi bằng danh từ gì chăng nữa như Cục R, Ðảng bộ CS Miền Nam, Mặt Trận GPMN... thì cũng chỉ là “ Mặt trận mốc xì, đảng ta đó “ qua lời tuyên bố trơ trẽn của Lê Ðức Thọ tại Ba Lê, sau khi vừa ký xong với Kissinger trên tờ hiệp định ngưng bắn năm 1973.
MTGPMN được hợp thức hóa vào cuối tháng 12-1960 tại một căn cứ của VC, nằm cách biên giới Việt-Miên chừng 7km. Ðây là khu rừng già nằm kế cầu Cần Ðăng, trên con đường đá đỏ Trà Băng, Trại Bí, Xóm Mới, Sóc Ông Trang... thuộc tỉnh Tây Ninh. Buổi lễ được đặt dưới quyền chủ tọa của Sáu Vi, bí danh của đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ủy viên bộ chính trị, bí thư trung ương đảng, nguyên phụ trách vấn đề nông dân và thanh niên miền bắc. Mặt trận có mười nhân vật khoa bảng miền Nam, đang đối lập chính trị với VNCH, gồm Nguyễn Hữu Thọ (đang bị giam tại Củng Sơn-Phú Yên, vì tội hiếp dâm, được VC giải thoát ), Trương Như Tảng, Dương Quỳnh Hoa, Phùng văn Cung, Ưng văn Kỳ... Bọn này hầu hết thuộc thành phần địa chủ, phú gia thời Pháp thuộc, được VC nằm vùng là Huỳnh tấn Phát móc nối dụ dỗ. Tất cả được Hà Nội đem ra làm bung xung che mắt thiên hạ nhưng đầu não lãnh đạo, vẫn do Lê Duẫn, Lê Ðức Thọ, Phạm Hùng, Trần văn Trà, Nguyễn Chí Thanh... quyết định theo đúng chính sách của Hà Nội đã nghị quyết. Cũng từ đó, Nguyễn Hữu Thọ được phong hàm chủ tịch Mặt Trận, mở đầu cuộc chiến xâm lăng Miền Nam bằng vũ lực.
Tại Miền bắc, Hồ Chí Minh ban lệnh hồi kết, hàng chục ngàn cán binh bộ đội trở về Nam, để thành lập “ Quân Giải Phóng “ do Trần Văn Trà làm tư lệnh. Một số lớn Hoa kiều sống tại Hải Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Thanh Hóa... cũng được vào Nam, cùng một số Hoa Kiều thân cộng, đang do Tư Méo, tức Trương Gia Triều, bí danh Trần Bạch Ðằng chỉ huy, để trà trộn, tuyên truyền gây rối trong cộng đồng người Hoa miền Nam. Ðồng thời con đường mòn giao liên cũ, từ miền bắc vào Liên Khu 5, do đại tá Nguyễn Thông, bí danh của trung tá Nhật Ishitako, mở năm 1947, cũng được đảng giao cho Hai Xe Ngựa tức đại tá Võ Bẳm, nối lại, để trùng tu vào năm 1959. Ðây là con đường chiến lược Liên Việt, tức là đường mòn Trường Sơn hay Hồ Chí Minh, mang bí danh 559A. Sau khi Phạm văn Ðồng nhân danh thủ tướng nước VNDCCH, theo chỉ thị của đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, ký xác nhận quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa thuộc Trung Cộng vào năm 1958, thì Hà Nội được Tàu Cộng, giúp phương tiện mở thêm một đường dây trên biển Ðông với bí danh 559B hay 759, chuyển quân dụng và bộ đội từ bắc vào nam bằng đường thủy. Theo Ðồng văn Cống, từng phụ trách đường dây 559B từ 1959-1968, thì việc tổ chức hai con đường bí mật trên, chỉ có Hồ Chí Minh, Phạm văn Ðồng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Ðức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng và Trần văn Trà, biết mà thôi. Còn những người khác chỉ thừa hành theo lệnh, kể cả Nguyễn Chí Thanh, Trần Ðộ, Trường Chinh...

Tựa nghĩ gốc cây
Nhìn rừng không nói
Nhìn mây chẳng thấy
Chỉ có núi đèo
Kế nhau nối tiếp
Oại là khủng khiếp
Cho cảnh Trường Sơn..."
đá nghìn năm quên tuổi
ta lạc loài như dã thú không tên
qua Tchépone, Boloven
về Hạ Lào thăm thẳm
Atopeu đường xa muôn dặm
Rừng tây nguyên heo hút trong tim..."
Các mũi xâm nhập của Cộng quân Bắc Việt từ hướng đường mòn Hồ chí Minh - Ảnh PSYOP
núi nghìn năm quên tuổi đứng cô đơn
đoàn quân xưa hào khí ngút mây vờn
trời quái ác làm vỡ tan tận tuyệt
... đây còn có nhiều bạn bè Phan Thiết
đã vùi thây trong rừng lạnh tây nguyên
họ bây giờ là những cánh chim đơn
hót ảo não nơi lũng đèo khe núi..."
Tết 2005
Xóm Cồn Hạ Uy Di
Viết nhớ bạn hiền
Cố Ðại Uý Trần Văn Thân
Trưởng Toán LLDB
Mất xác trên nhánh rẽ đường mòn HCM - Tháng chạp 1974
HỒ ÐINH-MƯỜNG GIANG
TĐ1/TrĐ43/SĐ18BB
KBC 4424 3435 - 4508
**********************
CHÚ THÍCH
(1) Có lẽ tác giả muốn đề cập tới Hiệp định Genève về Lào (Geneva Agreement on Laos) còn được gọi là Hiệp định Genève 1962 do Anh và Xô-Viết chủ trì, với sự tham dự của 14 nước bao gồm Anh và Nga Xô. Hiệp định Genève về Lào được ký kết vào ngày 23 tháng 7/1962 với chữ ký của 14 nước là Trung cộng, Cambodia, Pháp, Lào, Liên Xô, Anh, Mỹ, Nam Việt Nam, Bắc Việt Nam, Ấn Độ, Gia Nã Đại, Ba Lan, Diến Điện và Thái Lan. Hiệp định Genève về Lào xác định vị trí hòa bình, trung lập, độc lập và dân chủ của Lào, và quy định rằng tất cả các lực lượng quân đội ngoại quốc phải di chuyển ra khỏi lãnh thổ của Lào.
Tuy nhiên, Việt cộng lừa đảo và bịp bợm, từ xưa đến nay chưa hề tuân thủ bất cứ một loại hiệp định nào cả; hơn nữa bọn Lào cộng, Miên cộng lúc đó đều là tay sai của Việt cộng cho nên đều phải thi hành theo kế hoạch xâm lăng miền Nam của Việt cộng, xử dụng đường mòn Hồ chí Minh mà một phần nằm trên đất Lào và đất Miên để xâm nhập và tấn công miền Nam Việt Nam.
Quý vị có thể tìm hiểu thêm về Hiệp định Genève về Lào qua link sau đây:
http://www.encyclopedia.com/doc/1O126-GenevaAgreementonLaos.html
(2) Thật ra máy bay Thunderchief tức là máy bay F-105, tên gọi đầy đủ của nó là Republic F-105 Thunderchief, là loại oanh tạc chiến đấu cơ siêu thanh, tốc độ March 2, của Không quân Hoa Kỳ, được đưa vào hoạt động từ năm 1958. Dân không quân thường gọi nó là "Thud", Việt cộng gọi nó là "Thần sấm". Máy bay này do công ty Republic Aviation Corporation còn gọi là Seversky Aircraft Company, có tổng hành dinh tại New York sản xuất, đây là tập đoàn sản xuất may bay do các kỹ sư và phi công Nga và Georgia lưu vong thời Stalin sống ở Mỹ thành lập năm 1931.
Máy bay Thunderchief F-105 có khả năng mang 1 trái bom nguyên tử trong thân. Có 3 loại Thunderchief được xử dụng nhiều nhất để ném bom miền Bắc Việt Nam là loại F-105 D một chỗ ngồi, và các loại F-105 F và F-105 G Wild Weasel có 2 chỗ ngồi ( cho phi công chính và phi công phụ ), có khả năng mang theo 14,000 lbs (6,350 kg) bom đạn, súng và hỏa tiễn. Trong chiến tranh Việt Nam, Hoa kỳ đã tổn thất mất 382 chiếc Thunderchief bao gồm 62 chiếc bị rớt vì lý do trục trặc kỹ thuật (trong số bị bắn rơi có 283 chiếc là loại F-105 D một chỗ ngồi, loại F-105F/F-105G chỉ có 37 chiếc bị bắn rơi). Sau đó, máy bay Thunderchief được thay thế bằng F-4 Phantom II mà Việt cộng gọi là "Con ma", và F-111 mà Việt cộng gọi là "Cánh cụp cánh xòe".
Quý vị có thể tìm hiểu thêm về phi cơ Thunderchief F-105 qua link sau đây:
http://en.wikipedia.org/wiki/F-105_Thunderchief
KDĐN
CHUYỆN BẢO HIỂM Y TẾ TẠI HOA KỲ

Chuyện bảo hiểm y tế tại Hoa Kỳ
Source: VietCatholic News
Chuyện bảo hiểm y tế
Tổ Chức Y Tế Thế Giới đã xếp chương trình y tế của Mỹ vào hạng thứ 15 trên 19 quốc gia tiên tiến về khả năng chữa khỏi những bệnh hiểm nghèo. Canada được xếp hạng 7, còn Pháp đứng vào hạng đầu. Như vậy nền y tế của Mỹ còn có nhiều vấn đề phải cải tổ. Nhưng việc cải tổ rất căm go vì các thế lực tư bản đứng đàng sau muốn bảo vệ các quyền lợi của họ.
Hôm 23.3.2010, sau khi ký đạo luật cải tổ y tế, Tổng thống Obama đã tuyên bố:
“Ngày hôm nay, sau gần một thế kỷ thử nghiệm, sau một năm tranh cãi, chương trình cải cách bảo hiểm sức khỏe đã trở thành luật tại nước Mỹ”.
Chúng ta nhớ lại, trong một lá thư gởi cho một người bạn đề ngày 21.12.1933, Tổng Thống Franklin D. Roosevelt đã viết:
“Như bạn đã biết, thật sự vấn đề là một bộ phận tài chánh tại các trung tâm lớn đã làm chủ chính phủ Hoa Kỳ kể từ thời Tổng Thống Andrew Jackson."
Còn Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Liên Bang Felix Frankfurter tuyên bố:
“Những người thật sự cai trị ở Washington là vô hình, và thực thi quyền hành từ sau hậu trường.”
Những thế lực vô hình đứng đàng sau chính quyền Mỹ mà Tổng Thống Roosevelt và Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Frankfurter nói đến là những “siêu tổ chức” có quyền lực cao độ với những phương thức hoạt động hết sức tinh vi và táo bạo để bảo vệ và triển khai các quyền lợi của họ, có khi bất chấp quyền lợi quốc gia và an sinh của xã hội.
Không phải riêng tại nước Mỹ, ở Ấn Độ tình trạng còn tệ hơn. Hiến Pháp Ấn có hiệu lực kể từ ngày 26.1.1950 hủy bỏ chế độ đẳng cấp (castles) và hạng khốn cùng (untouchables) trong xã hội. Nhưng hiện nay vẫn còn có khoảng 360 triệu người thuộc giai cấp hạng thấp đang sống trong cảnh nghèo khó hay khốn cùng. Tài liệu kiểm tra cho biết số người có lợi tức dưới 2 USD một ngày chiếm 97,5% dân số Ấn, tức hơn 900 triệu người. Một tài liệu của Liên Hiệp Quốc cho biết tại Ấn Độ hiện có khoảng 40 triệu công nhân, đa số là người Dalit, đang phải làm việc trong tình trạng như nô lệ để trả những món nợ do các thế hệ trước đã mắc! Các thành phần cấp cao muốn tiếp tục duy trì tình trạng này để bóc lột, nhưng chính phủ Ấn và LHQ không làm gì được.
Tại Hoa Kỳ, tính từ ngày lập quốc đến nay, đã có những sự thay đổi đáng kể theo thời gian nhờ truyền thống tôn trọng nhân bản của những người Mỹ gốc Âu Châu và những cách nhìn sáng suốt trước sự biến chuyển của tình hình đất nước và tình hình thế giới, nhưng các thế lực tư bản đứng đàng sau hậu trường vẫn còn nắm quyền quyết định nhiều chính sách của quốc gia với mục tiêu lý tài.
Sự phát triển của nhân loại và sự xuất hiện của chủ nghĩa cộng sản là những yếu tố chính đòi hỏi nước Mỹ phải giải quyết những vấn đề của đất nước này, trước tiên là vấn đề của người da đỏ và người nô lệ da đen gốc Phi Châu. Tiếp đến là số phận của những người nghèo. Cũng như ở Ấn Độ, việc giải quyết những vấn đề của người nghèo tại nước Mỹ đã đụng chạm rất lớn đến quyền lợi của khối đại tư bản, do đó sự phản kháng lúc nào cũng quyết liệt.

CUỘC CÁCH MẠNG CĂM GO
Hoa Kỳ có một hệ thống bảo hiểm y tế tư rất khắc nghiệt, đó là những doanh nghiệp có mục đích vụ lợi (for-profit organization), không quan tâm gì đến sức khỏe của toàn dân, nhất là những người nghèo. Họ chỉ muốn kiếm được càng nhiều lời càng tốt.
Phải đến năm 1935, sau nhiều cuộc đấu tranh cam go, ngày 14.8.1935 chính phủ Hoa Kỳ mới đưa ra được Đạo Luật An Sinh Xã Hội (Social Security Act), thiết lập một hệ thống phúc lợi dành cho những người cao niên. Cũng phải qua nhiều cuộc tranh cãi cam go, đến ngày 30.7.1965 chính phủ mới ban hành được Các Tu Chính Án Luật An Sinh Xã Hội (Social Security Act Amendments) thiết lập hai chương trình Medicare và Medicaid về bảo hiểm y tế cho những người trên 65 tuổi và những người nghèo.
Trong cuộc tranh cử năm 1992, ông Clinton đã đặt nặng chương trình cải tổ y tế như là một đề tài chính để tranh cử. Sau khi đắc cử, năm 1993, Tổng Thống Chinton đã đưa ra một kế hoạch cải tổ y tế, đòi hỏi mọi công dân Mỹ và thường trú nhân phải ghi danh vào một kế hoạch y tế. Chi phí khởi sự dành cho kế hoạch này từ năm 1993 là $13,5 tỷ sẽ tăng đến $38,3 tỷ vào năm 2003. Kế hoạch này đã bị nhóm tư bản tài chính Mỹ đánh bại qua chính đảng Dân Chủ vào tháng 9 năm 1994.
Mặc đầu đạo luật cải tổ y tế mà Tổng Thống Obama mới ban hành chưa có gì khả quan lắm nếu so với các chương trình y tế hiện nay tại các quốc gia tiên tiến khác như Canada, Pháp, Đức, Anh, Nhật hay Thụy Sĩ, nhưng nó cũng sẽ giải quyết được nhiều khó khăn về y tế mà nhiều người đang gặp phải.
Trước khi nhìn lại các mô thức y tế hiện đang áp dụng tại một số quốc gia tiên tiến và những khuyết điểm của chương trình y tế Mỹ được áp dụng trong một thế kỷ qua, chúng tôi xin tổng hợp những điểm chính của đạo luật cải tổ y tế mới được ban hành:
ĐẠI CƯƠNG VỀ NHỮNG CẢI TỔ
Mục tiêu chính của đạo luật “Affordable Health Care for America Act” là nhằm mở rộng việc bảo hiểm y tế cho thêm 32 triệu người ở Hoa Kỳ và cải tổ một số điểm quan trọng trong chương trình y tế của Hoa Kỳ hiện nay. Thời gian có hiệu lực đầy đủ của đạo luật kéo dài từ 2014 đến 2019, nhưng một số điều khoản của đạo luật sẽ có hiệu lực ngay, đại khái như sau:
1.- Các hãng bảo hiểm không được phép giới hạn số tiền trả cho việc chữa trị của khách hàng. Quy định này rất quan trọng đối với những người bị những bệnh hiểm nghèo như ung thư.
2.- Những người đã bị các hãng bảo hiểm y tế từ chối bán bảo hiểm do tình trạng bệnh hoạn sẵn có, được mua bảo hiểm tạm thời từ nay cho đến năm 2014 khi luật mới được thi hành đầy đủ. Một ngân khoản 5 tỷ USD sẽ được cung ứng cho dịch vụ này.
3.- Các hãng bảo hiểm y tề phải cung cấp bảo hiểm cho các thanh niên không còn lệ thuộc gia đình cho tới năm 28 tuổi. Quy định này sẽ giúp cho các sinh viên mới ra trường và những người còn tìm việc có bảo hiểm y tế.
4.- Mỗi người già được thêm $250 trả tiền mua thuốc bù vào khoảng trống mà Medicare Part D không chi trả. Trong tương lai, khi đã xử dụng số tiền được mua thuốc trong Medicare Part D ($2850), sẽ không còn phải trả 100% tiền túi như hiện nay mà sẽ được giảm dần cho đến năm 2020 chỉ còn phải trả 25%.
Kể từ năm 2014, những biện pháp sau đây sẽ được áp dụng:
1.- Hầu hết mọi người dân Mỹ phải mua bảo hiểm, nếu không sẽ bị phạt. Tiền phạt khởi đầu là 1% thu nhập cá nhân, tối thiểu là $95, sau đó đến năm 2016 sẽ tăng lên tới 2.5% thu nhập hoặc tối thiểu $695. Mức tiền phạt giới hạn cho cả gia đình là $2.085.
2.- Nếu không thể trả tiền mua bảo hiểm vì quá nghèo, thì có thể được hưởng Medicaid, một chương trình bảo hiểm sức khỏe của liên bang cho người nghèo. Chương trình này sẽ được mở rộng đáng kể từ năm 2014. Những gia đình nghèo được miễn giảm thuế, hoặc nếu gồm 4 người có thu nhập dưới $88.000 một năm, sẽ được tài trợ để mua bảo hiểm.
3.- Các tiểu thương, các công ty nhỏ được hưởng điều kiện dễ dãi và nhận trợ giúp trong việc mua bảo hiểm sức khỏe. Cơ sở dưới 50 người không bị phạt nếu không mua bảo hiểm cho nhân viên. Cơ sở dưới 25 người với mức lương dưới $50.000 được giảm thuế 35% chi phí đóng bảo hiểm năm nay và 50% năm 2014. Cơ sở trên 50 người không mua bảo hiểm cho nhân viên có thể bị phạt tới $2.000 cho mỗi nhân viên làm toàn thời gian.
Chương trình cải tổ y tế sẽ tốn khoảng $940 tỷ trong 10 năm. Tuy nhiên, chính phủ quyết định sẽ tăng tiền thuế của công ty lớn và những người có thu nhập cao, đồng thời giảm chi phí trong chương trình Medicare Advantage (không phải Medicare cho người già). Theo ước lượng của Văn phòng Ngân sách Quốc Hội, kế hoạch này sẽ giúp ngân quỹ liên bang tiết kiệm được $138 tỷ.
Dưới đây, xin mời đọc giả đọc bài “Tìm Hiểu về Cải Cách Y Tế ở Mỹ” của ông Trương Đình Trung. Bài này nói về các mô hình bảo hiểm trên thế giới và so sánh chương trình y tế của Mỹ với các quốc gia tiên tiến khác trên thế giới như Pháp, Anh, Đức, Nhật Bản và Canada. Chúng tôi chỉ xin trích lại những phần chính, vì bài báo có giới hạn.
CÁC MÔ HÌNH BẢO HIỂM Y TẾ TRÊN THẾ GIỚI
A.- Mô hình Bismarck: Đức, Nhật, Pháp, Thụy sĩ, v.v.: Giới cung cấp dịch vụ và người chi trả cho các dịch vụ y tế hoàn toàn là tư nhân, trên căn bản từ thiện, không kiếm lời (not for profit); với luật lệ chặt chẽ về dịch vụ và lệ phí. Mô hình này do cố Thủ tướng Von Bismarck của Đức đưa ra vào năm 1883, nằm trong nỗ lực thống nhất quốc gia, xây dựng một dân tộc khỏe mạnh làm nền tảng cho một đội lục quân tinh nhuệ. Trong mô hình này, chủ và thợ cùng chia nhau trách nhiệm về bảo hiểm y tế. Chính phủ đảm trách việc giúp chi phí y tế cho người nghèo; còn những người giàu có nhất được miễn khỏi mua bảo hiểm y tế.
B.- Mô hình Beveridge: Là mô hình của Anh quốc, theo đó Chính phủ cung cấp toàn bộ dịch vụ y tế cho người dân qua National Health Services. Có bệnh viện và bác sĩ tư, nhưng đa số còn lại nằm trong tay của chính quyền. Ý, Tây Ban Nha, Na Uy, Đan Mạch, Thuỵ Điển, Hong Kong theo mẫu này. Mô hình này cung cấp bảo hiểm y tế phổ quát cho mọi người.
C.- Mô hình Bảo Hiểm Y tế Quốc gia: Dịch vụ y tế do khu vực tư nhân cung cấp, nhưng người trả phí tổn là chính phủ thông qua hãng bảo hiểm y tế do chính phủ kiểm soát. Chính phủ là người quyết định dịch vụ y tế nào nên được làm và thời gian chờ đợi. Canada, và ở mức độ nào đó, Đài Loan, Nam Hàn là những nước theo mô hình này.
D.- Mô hình trả tiền túi (out-of-pocket model): Đa số hơn 150 quốc gia trên thế giới không có hệ thống chi trả cho chi phí y tế. Bệnh nhân phải tự trang trãi cho các chi phí y tế bằng tiền túi của mình; không có những chương trình bảo hiểm do tư nhân hay chính phủ điều hành. Chẳng hạn, ở Campuchia, 91% chi phí y tế trong nước được trả bằng tiền túi; 85% ở Ấn Độ và 73% ở Ai Cập. Trong khi đó ở Anh, có chừng 3% và Mỹ có chừng 17% dịch vụ y tế được trả bằng tiền túi của bệnh nhân (từ hơn 47 triệu người không có bảo hiểm).
CƠ CẤU HỆ THỐNG BẢO HIỂM Y TẾ HIỆN NAY CỦA MỸ ( trước khi cải tổ )
1.- Hệ thống y tế hiện nay của Mỹ là một hổn hợp của cả 4 mô hình nêu ở phần đầu:
A.- Đối với những người trên 65 tuổi thì Mỹ lại theo mô hình của Canada. Hệ thống Medicare, do chính phủ Liên bang điều hành, là một hệ thống bảo hiểm y tế phổ quát áp dụng cho mọi công dân trên 65 tuổi. Mỹ hoàn toàn sao chép chương trình này từ Canada, kể cả tên gọi, từ năm 1965. Chính phủ chi trả cho tất cả mọi chi phí y tế cho các thành viên của chương trình Medicare. Số người trên 65 tuổi chiếm khoảng 13%, tức chừng 40 triệu (con số năm 2007).
B.- Người Da đỏ, Quân nhân và Cựu chiến binh thì được hưởng bảo hiểm y tế theo mô hình Beveridge của Anh. Chính phủ Liên bang đảm nhiệm cả việc cung cấp dịch vụ y tế lẫn việc chi trả cho các dịch vụ đó. Các trạm xá và bệnh viện đều là của chính phủ Liên bang; các bác sĩ là nhân viên của chính phủ.
C.- Những người trong độ tuổi lao động lại thuộc về mô hình Bismarck. Các chủ nhân và các công ty cùng với công nhân, viên chức chia nhau chi phí mua bảo hiểm. Và công nhân trả thêm co-payment cho một số dịch vụ y tế. Các hãng bảo hiểm y tế hoàn toàn là tư nhân, là những tổ chức có mục đích kiếm lời (for profit entity). Nhóm này chiếm đại đa số dân chúng, đến khoảng 160 triệu người.
D.- Cuối cùng là những người không có bảo hiểm y tế. Thành phần này rơi vào mô hình trả tiền túi (out-of-pocket model) nói ở trên. Nghĩa là họ phải dùng tiền riêng của mình để trả cho toàn bộ những chi phí y tế do họ phát sinh. Hiện nay có chừng hơn 47 triệu người Mỹ thuộc vào mô hình này!
2.- Những vấn đề hiện nay của hệ thống y tế Mỹ:
- Phẩm chất của nền y tế kém so với chi phí cao và gia tăng nhanh. Mỹ là nơi quy tụ các bác sĩ, chuyên gia y tế, y cụ và phương pháp điều trị tối tân vào bậc nhất trên thế giới. Tuy nhiên, một cách tổng quát thì phẩm chất của nền y tế, xét theo các tiêu chuẩn quốc tế, lại không cao so với các quốc gia khác và so với mức chi phí. Có đến gần 47 triệu người không có bảo hiểm, khoảng 25 triệu với bảo hiểm giới hạn và hàng năm có đến cả trăm ngàn người chết chỉ vì lý do đơn giản là không có bảo hiểm để được gặp bác sĩ, được chẩn đoán và điều trị.
- Chi phí săn sóc y tế hàng năm của Mỹ cao hơn các nước khác; chẳng hạn gấp đôi Canada, chiếm đến gần 17% tổng sản phẩm nội địa (GDP). Và mức chi phí y tế gia tăng quá nhanh; gần gấp đôi chỉ trong vòng chưa đầy một thập niên.
- Các hãng bảo hiểm khống chế thị trường, đẩy giá bảo hiểm lên cao khiến nhiều người không mua nổi. Có trường hợp hãng bảo hiểm từ chối bảo hiểm khi bệnh xảy ra cho những người đã có mầm bệnh, hoặc những chứng liên quan, trước khi mua bảo hiểm, nhưng không ghi trong hợp đồng bảo hiểm; tiếng Mỹ gọi là pre-existing conditions.
- Tất cả các hãng bảo hiểm ở Mỹ đều thuộc loại doanh nghiệp có mục đích kiếm lời, for-profit organization; lý do tồn tại của các hãng bảo hiểm là lợi nhuận, chứ không phải vì sức khoẻ của khách hàng. Quyền lợi kinh tế của hãng bảo hiểm và quyền lợi y tế của khách hàng luôn mâu thuẫn và tiêu trừ lẫn nhau. Một trong những thủ thuật thông thường của các hãng bảo hiểm là từ chối, hoặc trì hoãn, chi trả phí tổn dịch vụ y tế cho khách hàng (deny or delay customer’s claim payments). Họ mướn những chuyên viên để lo việc này (gọi là các claim adjusters), hoặc thiết lập các hệ thống computer tối tân để tự động hoá việc từ chối chi trả. Họ cũng tưởng thưởng cho những nhân viên nào thực hiện được tốt những sự từ chối hoặc trì hoãn như vậy. Theo National Association of Insurance Commissioner thì chỉ riêng trong năm 2008 có đến hơn 195,000 khiếu nại của khách hàng về việc bị các hãng bảo hiểm từ chối chi trả dịch vụ y tế. Có trường hợp khách hàng đã chết rồi mà sự khiếu nại vẫn chưa giải quyết
- Ngoài ra còn có trường hợp huỷ bỏ hồi tố hợp đồng bảo hiểm (retroactive cancellations/ after-the-fact policy cancellations) nếu hãng bảo hiễm khám phá ra là khách hàng trước đó, khi ký hợp đồng bảo hiểm, đã cố ý hay vô tình không khai một chi tiết bệnh lý nào đó trong hồ sơ cá nhân của mình. Ngay cả những người vì không biết mà không khai cũng chịu sự chế tài đó. Và sự huỷ bỏ này có thể áp dụng cho cả gia đình dù chỉ một thành viên trong gia đình sai phạm. Chẳng hạn một phụ nữ ở Texas bị phát hiện có bướu trong vú. Ngay lúc đó hãng bảo hiểm điều tra và tìm ra là trước đó người phụ nữ này đã mắc chứng rỗng xương (osteoporosis) mà không khai khi lập hợp đồng bảo hiểm. Tuy rằng chẳng có mối liên hệ gì giữa hai căn bệnh, hãng bảo hiểm vẫn lấy lý do đó để huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm!
- Sự an toàn của các dịch vụ y tế là một vấn đề khác. Hàng năm có đến gần 100.000 người chết trong các bệnh viện gây ra do các nhầm lẫn có thể tránh được trong dịch vụ y tế (preventable medical errors), nhiều hơn thương vong do tai nạn xe cộ hay do bệnh AIDS! Vấn đề này dẩn đến việc giới cung cấp dịch vụ y tế: bác sĩ, dược sĩ, bệnh viện, v.v., phải trả bảo hiểm nghề nghiệp cao hơn nhiều lần so với đồng nghiệp ở các quốc gia khác. Nó cũng làm gia tăng các vụ kiện tụng giữa bệnh nhân và các bác sĩ. Tất cả những vấn đề này góp phần không nhỏ vào việc đẩy chi phí y tế nói chung lên cao rất nhanh; hơn gấp đôi chỉ trong một thập niên.
- Một thiếu sót khác liên quan đến vấn đề phòng bệnh (preventive care). Khác với các quốc gia tiên tiến khác, như Anh Quốc chẳng hạn, hệ thống y tế của Mỹ không chú ý đúng mức đến công tác phòng bệnh. Những bệnh trạng đứng đầu trong danh sách gây tử vong hàng năm như các chứng tim mạch, tiểu đường, ung thư phổi, ung thư vú, v.v., là những chứng bệnh có thể ngăn ngừa được với hiệu quả cao nếu như sự phòng bệnh được thực hiện chu đáo và người dân có bảo hiểm y tế đầy đủ. Sự thiếu chú trọng đến vấn đề phòng bệnh phản ảnh trong hiện tượng thiếu thốn bác sĩ gia đình. Một số ước tính trong năm 2008 cho thấy nước Mỹ thiếu đến 14.000 bác sĩ gia đình. Hiện nay bác sĩ tổng quát chỉ chiếm 35% tổng số bác sĩ; so với Anh Quốc là 60%. Thu nhập trung bình của một bác sĩ tổng quát là chừng 200.000 dollars/năm; của một bác sĩ giải phẩu chừng 350.000 dollars/năm. Tỉ lệ sinh viên y khoa chọn đi chuyên ngành rất cao so với số chọn đi toàn khoa. Học phí tại các trường Y khoa rất đắt, trung bình một sinh viên y khoa tốt nghiệp nợ từ 60.000 cho đến 100.000 dollars!
- Sự hạn định dịch vụ y tế (healthcare rationing): Một vấn đề khác trong bảo hiểm y tế ở Mỹ, ít được đề cập đến, là sự hạn định các dịch vụ y tế đối với bệnh nhân. Trước hết là sự giới hạn việc đi khám bác sĩ. Thông thường hãng bảo hiểm buộc bệnh nhân chỉ được đến khám ở những bác sĩ có tên trong một mạng nhất định (in network); hãng bảo hiểm sẽ không chi trả nếu người bệnh tự ý đi khám ở những bác sĩ ngoài mạng (out-of network). Việc phải trả co-payment hoặc deductible cũng là những hình thức buộc người bệnh phải tự hạn định mình trong việc đi khám bác sĩ hoặc chữa trị. Kế đến là hãng bảo hiểm từ chối không chi trả cho những sự chữa trị hoặc các dược liệu nào đó đối với bệnh nhân (như CT scan, làm răng giả, niền răng, chiropractice, thuốc mới…). Các bác sĩ chỉ có quyền đề nghị sự chữa trị hay các xét nghiệm; còn người quyết định cuối cùng trong mọi trường hợp, ngoài bệnh nhân ra, là hãng bảo hiểm với quyền chi trả của mình.
Ngay cả bảo hiểm của chính phủ, như Medicare hay Medicaid, cũng có sự hạn định nêu trên. Sự khác biệt là những hạn định của bảo hiểm chính phủ không vì mục đích kiếm lời, như của bảo hiểm tư nhân, mà thường là để dành một số dịch vụ nào đó cho những trường hợp cần thiết hơn.
(Hết trích bài của ông Trương Đình Trung)
VƯỢT QUA NHỮNG THỬ THÁCH
Trong bài diễn văn nhận chức hôm 20.1.2009, Tổng Thống Obama đã nói:
“Chúng ta hiện đang trong giữa cuộc khủng hoảng mà ai ai cũng biết. Đất nước chúng ta đang trong thời chiến, chống lại một mạng lưới bạo lực và thù hận rộng khắp, một phần là hậu quả của thái độ tham lam, vô trách nhiệm của một số người, nhưng cũng là hậu quả của việc chúng ta đã thất bại, không có những lựa chọn khó khăn, chuẩn bị sẵn sàng cho đất nước trong kỷ nguyên mới.”
Mong ông can đảm vượt qua những thử thách đã thấy trước để đem nước Mỹ tới những ngày tươi sáng hơn.
Ngày 30.3.2010
Lữ Giang