Categories: Ðông Tây y dược, Ðông y và châm cứu, Thuốc mới
GIẢI ĐÁP MỘT VÀI THẮC MẮC VỀ CẢI TỔ Y TẾ

Tồng thống Obama ký ban hành luật cải tổ y tế, 23/3/2010 - Hình: AP
Bài viết gồm 2 phần, với phần âm thanh riêng biệt cho mỗi phần, để quý vị nào không muốn mỏi mắt thì dùng nó.
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC VỀ CẢI TỔ Y TẾ ( Phần 1/2 )
Luật cải tổ y tế vừa được Hạ viện Hoa Kỳ thông qua khuya chủ nhật 21/3 vừa qua. Theo các cuộc thăm dò cho biết, một số khá đông dân chúng Mỹ không hiểu rõ lắm về luật này. Chúng tôi đã tiếp xúc với nhà bình luận Ngô Nhân Dụng để nêu lên một số thắc mắc nhờ ông giải đáp. Mời quý vị theo dõi bài phỏng vấn sau đây do Lan Phương thực hiện cho Câu Chuyện Nước Mỹ hôm nay.
Lan Phương | Washington, DC Thứ Ba, 30 tháng 3 2010
CHUYỆN BẢO HIỂM Y TẾ TẠI HOA KỲ

Chuyện bảo hiểm y tế tại Hoa Kỳ
Source: VietCatholic News
Chuyện bảo hiểm y tế
Tổ Chức Y Tế Thế Giới đã xếp chương trình y tế của Mỹ vào hạng thứ 15 trên 19 quốc gia tiên tiến về khả năng chữa khỏi những bệnh hiểm nghèo. Canada được xếp hạng 7, còn Pháp đứng vào hạng đầu. Như vậy nền y tế của Mỹ còn có nhiều vấn đề phải cải tổ. Nhưng việc cải tổ rất căm go vì các thế lực tư bản đứng đàng sau muốn bảo vệ các quyền lợi của họ.
Hôm 23.3.2010, sau khi ký đạo luật cải tổ y tế, Tổng thống Obama đã tuyên bố:
“Ngày hôm nay, sau gần một thế kỷ thử nghiệm, sau một năm tranh cãi, chương trình cải cách bảo hiểm sức khỏe đã trở thành luật tại nước Mỹ”.
Chúng ta nhớ lại, trong một lá thư gởi cho một người bạn đề ngày 21.12.1933, Tổng Thống Franklin D. Roosevelt đã viết:
“Như bạn đã biết, thật sự vấn đề là một bộ phận tài chánh tại các trung tâm lớn đã làm chủ chính phủ Hoa Kỳ kể từ thời Tổng Thống Andrew Jackson."
Còn Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Liên Bang Felix Frankfurter tuyên bố:
“Những người thật sự cai trị ở Washington là vô hình, và thực thi quyền hành từ sau hậu trường.”
Những thế lực vô hình đứng đàng sau chính quyền Mỹ mà Tổng Thống Roosevelt và Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Frankfurter nói đến là những “siêu tổ chức” có quyền lực cao độ với những phương thức hoạt động hết sức tinh vi và táo bạo để bảo vệ và triển khai các quyền lợi của họ, có khi bất chấp quyền lợi quốc gia và an sinh của xã hội.
Không phải riêng tại nước Mỹ, ở Ấn Độ tình trạng còn tệ hơn. Hiến Pháp Ấn có hiệu lực kể từ ngày 26.1.1950 hủy bỏ chế độ đẳng cấp (castles) và hạng khốn cùng (untouchables) trong xã hội. Nhưng hiện nay vẫn còn có khoảng 360 triệu người thuộc giai cấp hạng thấp đang sống trong cảnh nghèo khó hay khốn cùng. Tài liệu kiểm tra cho biết số người có lợi tức dưới 2 USD một ngày chiếm 97,5% dân số Ấn, tức hơn 900 triệu người. Một tài liệu của Liên Hiệp Quốc cho biết tại Ấn Độ hiện có khoảng 40 triệu công nhân, đa số là người Dalit, đang phải làm việc trong tình trạng như nô lệ để trả những món nợ do các thế hệ trước đã mắc! Các thành phần cấp cao muốn tiếp tục duy trì tình trạng này để bóc lột, nhưng chính phủ Ấn và LHQ không làm gì được.
Tại Hoa Kỳ, tính từ ngày lập quốc đến nay, đã có những sự thay đổi đáng kể theo thời gian nhờ truyền thống tôn trọng nhân bản của những người Mỹ gốc Âu Châu và những cách nhìn sáng suốt trước sự biến chuyển của tình hình đất nước và tình hình thế giới, nhưng các thế lực tư bản đứng đàng sau hậu trường vẫn còn nắm quyền quyết định nhiều chính sách của quốc gia với mục tiêu lý tài.
Sự phát triển của nhân loại và sự xuất hiện của chủ nghĩa cộng sản là những yếu tố chính đòi hỏi nước Mỹ phải giải quyết những vấn đề của đất nước này, trước tiên là vấn đề của người da đỏ và người nô lệ da đen gốc Phi Châu. Tiếp đến là số phận của những người nghèo. Cũng như ở Ấn Độ, việc giải quyết những vấn đề của người nghèo tại nước Mỹ đã đụng chạm rất lớn đến quyền lợi của khối đại tư bản, do đó sự phản kháng lúc nào cũng quyết liệt.

CUỘC CÁCH MẠNG CĂM GO
Hoa Kỳ có một hệ thống bảo hiểm y tế tư rất khắc nghiệt, đó là những doanh nghiệp có mục đích vụ lợi (for-profit organization), không quan tâm gì đến sức khỏe của toàn dân, nhất là những người nghèo. Họ chỉ muốn kiếm được càng nhiều lời càng tốt.
Phải đến năm 1935, sau nhiều cuộc đấu tranh cam go, ngày 14.8.1935 chính phủ Hoa Kỳ mới đưa ra được Đạo Luật An Sinh Xã Hội (Social Security Act), thiết lập một hệ thống phúc lợi dành cho những người cao niên. Cũng phải qua nhiều cuộc tranh cãi cam go, đến ngày 30.7.1965 chính phủ mới ban hành được Các Tu Chính Án Luật An Sinh Xã Hội (Social Security Act Amendments) thiết lập hai chương trình Medicare và Medicaid về bảo hiểm y tế cho những người trên 65 tuổi và những người nghèo.
Trong cuộc tranh cử năm 1992, ông Clinton đã đặt nặng chương trình cải tổ y tế như là một đề tài chính để tranh cử. Sau khi đắc cử, năm 1993, Tổng Thống Chinton đã đưa ra một kế hoạch cải tổ y tế, đòi hỏi mọi công dân Mỹ và thường trú nhân phải ghi danh vào một kế hoạch y tế. Chi phí khởi sự dành cho kế hoạch này từ năm 1993 là $13,5 tỷ sẽ tăng đến $38,3 tỷ vào năm 2003. Kế hoạch này đã bị nhóm tư bản tài chính Mỹ đánh bại qua chính đảng Dân Chủ vào tháng 9 năm 1994.
Mặc đầu đạo luật cải tổ y tế mà Tổng Thống Obama mới ban hành chưa có gì khả quan lắm nếu so với các chương trình y tế hiện nay tại các quốc gia tiên tiến khác như Canada, Pháp, Đức, Anh, Nhật hay Thụy Sĩ, nhưng nó cũng sẽ giải quyết được nhiều khó khăn về y tế mà nhiều người đang gặp phải.
Trước khi nhìn lại các mô thức y tế hiện đang áp dụng tại một số quốc gia tiên tiến và những khuyết điểm của chương trình y tế Mỹ được áp dụng trong một thế kỷ qua, chúng tôi xin tổng hợp những điểm chính của đạo luật cải tổ y tế mới được ban hành:
ĐẠI CƯƠNG VỀ NHỮNG CẢI TỔ
Mục tiêu chính của đạo luật “Affordable Health Care for America Act” là nhằm mở rộng việc bảo hiểm y tế cho thêm 32 triệu người ở Hoa Kỳ và cải tổ một số điểm quan trọng trong chương trình y tế của Hoa Kỳ hiện nay. Thời gian có hiệu lực đầy đủ của đạo luật kéo dài từ 2014 đến 2019, nhưng một số điều khoản của đạo luật sẽ có hiệu lực ngay, đại khái như sau:
1.- Các hãng bảo hiểm không được phép giới hạn số tiền trả cho việc chữa trị của khách hàng. Quy định này rất quan trọng đối với những người bị những bệnh hiểm nghèo như ung thư.
2.- Những người đã bị các hãng bảo hiểm y tế từ chối bán bảo hiểm do tình trạng bệnh hoạn sẵn có, được mua bảo hiểm tạm thời từ nay cho đến năm 2014 khi luật mới được thi hành đầy đủ. Một ngân khoản 5 tỷ USD sẽ được cung ứng cho dịch vụ này.
3.- Các hãng bảo hiểm y tề phải cung cấp bảo hiểm cho các thanh niên không còn lệ thuộc gia đình cho tới năm 28 tuổi. Quy định này sẽ giúp cho các sinh viên mới ra trường và những người còn tìm việc có bảo hiểm y tế.
4.- Mỗi người già được thêm $250 trả tiền mua thuốc bù vào khoảng trống mà Medicare Part D không chi trả. Trong tương lai, khi đã xử dụng số tiền được mua thuốc trong Medicare Part D ($2850), sẽ không còn phải trả 100% tiền túi như hiện nay mà sẽ được giảm dần cho đến năm 2020 chỉ còn phải trả 25%.
Kể từ năm 2014, những biện pháp sau đây sẽ được áp dụng:
1.- Hầu hết mọi người dân Mỹ phải mua bảo hiểm, nếu không sẽ bị phạt. Tiền phạt khởi đầu là 1% thu nhập cá nhân, tối thiểu là $95, sau đó đến năm 2016 sẽ tăng lên tới 2.5% thu nhập hoặc tối thiểu $695. Mức tiền phạt giới hạn cho cả gia đình là $2.085.
2.- Nếu không thể trả tiền mua bảo hiểm vì quá nghèo, thì có thể được hưởng Medicaid, một chương trình bảo hiểm sức khỏe của liên bang cho người nghèo. Chương trình này sẽ được mở rộng đáng kể từ năm 2014. Những gia đình nghèo được miễn giảm thuế, hoặc nếu gồm 4 người có thu nhập dưới $88.000 một năm, sẽ được tài trợ để mua bảo hiểm.
3.- Các tiểu thương, các công ty nhỏ được hưởng điều kiện dễ dãi và nhận trợ giúp trong việc mua bảo hiểm sức khỏe. Cơ sở dưới 50 người không bị phạt nếu không mua bảo hiểm cho nhân viên. Cơ sở dưới 25 người với mức lương dưới $50.000 được giảm thuế 35% chi phí đóng bảo hiểm năm nay và 50% năm 2014. Cơ sở trên 50 người không mua bảo hiểm cho nhân viên có thể bị phạt tới $2.000 cho mỗi nhân viên làm toàn thời gian.
Chương trình cải tổ y tế sẽ tốn khoảng $940 tỷ trong 10 năm. Tuy nhiên, chính phủ quyết định sẽ tăng tiền thuế của công ty lớn và những người có thu nhập cao, đồng thời giảm chi phí trong chương trình Medicare Advantage (không phải Medicare cho người già). Theo ước lượng của Văn phòng Ngân sách Quốc Hội, kế hoạch này sẽ giúp ngân quỹ liên bang tiết kiệm được $138 tỷ.
Dưới đây, xin mời đọc giả đọc bài “Tìm Hiểu về Cải Cách Y Tế ở Mỹ” của ông Trương Đình Trung. Bài này nói về các mô hình bảo hiểm trên thế giới và so sánh chương trình y tế của Mỹ với các quốc gia tiên tiến khác trên thế giới như Pháp, Anh, Đức, Nhật Bản và Canada. Chúng tôi chỉ xin trích lại những phần chính, vì bài báo có giới hạn.
CÁC MÔ HÌNH BẢO HIỂM Y TẾ TRÊN THẾ GIỚI
A.- Mô hình Bismarck: Đức, Nhật, Pháp, Thụy sĩ, v.v.: Giới cung cấp dịch vụ và người chi trả cho các dịch vụ y tế hoàn toàn là tư nhân, trên căn bản từ thiện, không kiếm lời (not for profit); với luật lệ chặt chẽ về dịch vụ và lệ phí. Mô hình này do cố Thủ tướng Von Bismarck của Đức đưa ra vào năm 1883, nằm trong nỗ lực thống nhất quốc gia, xây dựng một dân tộc khỏe mạnh làm nền tảng cho một đội lục quân tinh nhuệ. Trong mô hình này, chủ và thợ cùng chia nhau trách nhiệm về bảo hiểm y tế. Chính phủ đảm trách việc giúp chi phí y tế cho người nghèo; còn những người giàu có nhất được miễn khỏi mua bảo hiểm y tế.
B.- Mô hình Beveridge: Là mô hình của Anh quốc, theo đó Chính phủ cung cấp toàn bộ dịch vụ y tế cho người dân qua National Health Services. Có bệnh viện và bác sĩ tư, nhưng đa số còn lại nằm trong tay của chính quyền. Ý, Tây Ban Nha, Na Uy, Đan Mạch, Thuỵ Điển, Hong Kong theo mẫu này. Mô hình này cung cấp bảo hiểm y tế phổ quát cho mọi người.
C.- Mô hình Bảo Hiểm Y tế Quốc gia: Dịch vụ y tế do khu vực tư nhân cung cấp, nhưng người trả phí tổn là chính phủ thông qua hãng bảo hiểm y tế do chính phủ kiểm soát. Chính phủ là người quyết định dịch vụ y tế nào nên được làm và thời gian chờ đợi. Canada, và ở mức độ nào đó, Đài Loan, Nam Hàn là những nước theo mô hình này.
D.- Mô hình trả tiền túi (out-of-pocket model): Đa số hơn 150 quốc gia trên thế giới không có hệ thống chi trả cho chi phí y tế. Bệnh nhân phải tự trang trãi cho các chi phí y tế bằng tiền túi của mình; không có những chương trình bảo hiểm do tư nhân hay chính phủ điều hành. Chẳng hạn, ở Campuchia, 91% chi phí y tế trong nước được trả bằng tiền túi; 85% ở Ấn Độ và 73% ở Ai Cập. Trong khi đó ở Anh, có chừng 3% và Mỹ có chừng 17% dịch vụ y tế được trả bằng tiền túi của bệnh nhân (từ hơn 47 triệu người không có bảo hiểm).
CƠ CẤU HỆ THỐNG BẢO HIỂM Y TẾ HIỆN NAY CỦA MỸ ( trước khi cải tổ )
1.- Hệ thống y tế hiện nay của Mỹ là một hổn hợp của cả 4 mô hình nêu ở phần đầu:
A.- Đối với những người trên 65 tuổi thì Mỹ lại theo mô hình của Canada. Hệ thống Medicare, do chính phủ Liên bang điều hành, là một hệ thống bảo hiểm y tế phổ quát áp dụng cho mọi công dân trên 65 tuổi. Mỹ hoàn toàn sao chép chương trình này từ Canada, kể cả tên gọi, từ năm 1965. Chính phủ chi trả cho tất cả mọi chi phí y tế cho các thành viên của chương trình Medicare. Số người trên 65 tuổi chiếm khoảng 13%, tức chừng 40 triệu (con số năm 2007).
B.- Người Da đỏ, Quân nhân và Cựu chiến binh thì được hưởng bảo hiểm y tế theo mô hình Beveridge của Anh. Chính phủ Liên bang đảm nhiệm cả việc cung cấp dịch vụ y tế lẫn việc chi trả cho các dịch vụ đó. Các trạm xá và bệnh viện đều là của chính phủ Liên bang; các bác sĩ là nhân viên của chính phủ.
C.- Những người trong độ tuổi lao động lại thuộc về mô hình Bismarck. Các chủ nhân và các công ty cùng với công nhân, viên chức chia nhau chi phí mua bảo hiểm. Và công nhân trả thêm co-payment cho một số dịch vụ y tế. Các hãng bảo hiểm y tế hoàn toàn là tư nhân, là những tổ chức có mục đích kiếm lời (for profit entity). Nhóm này chiếm đại đa số dân chúng, đến khoảng 160 triệu người.
D.- Cuối cùng là những người không có bảo hiểm y tế. Thành phần này rơi vào mô hình trả tiền túi (out-of-pocket model) nói ở trên. Nghĩa là họ phải dùng tiền riêng của mình để trả cho toàn bộ những chi phí y tế do họ phát sinh. Hiện nay có chừng hơn 47 triệu người Mỹ thuộc vào mô hình này!
2.- Những vấn đề hiện nay của hệ thống y tế Mỹ:
- Phẩm chất của nền y tế kém so với chi phí cao và gia tăng nhanh. Mỹ là nơi quy tụ các bác sĩ, chuyên gia y tế, y cụ và phương pháp điều trị tối tân vào bậc nhất trên thế giới. Tuy nhiên, một cách tổng quát thì phẩm chất của nền y tế, xét theo các tiêu chuẩn quốc tế, lại không cao so với các quốc gia khác và so với mức chi phí. Có đến gần 47 triệu người không có bảo hiểm, khoảng 25 triệu với bảo hiểm giới hạn và hàng năm có đến cả trăm ngàn người chết chỉ vì lý do đơn giản là không có bảo hiểm để được gặp bác sĩ, được chẩn đoán và điều trị.
- Chi phí săn sóc y tế hàng năm của Mỹ cao hơn các nước khác; chẳng hạn gấp đôi Canada, chiếm đến gần 17% tổng sản phẩm nội địa (GDP). Và mức chi phí y tế gia tăng quá nhanh; gần gấp đôi chỉ trong vòng chưa đầy một thập niên.
- Các hãng bảo hiểm khống chế thị trường, đẩy giá bảo hiểm lên cao khiến nhiều người không mua nổi. Có trường hợp hãng bảo hiểm từ chối bảo hiểm khi bệnh xảy ra cho những người đã có mầm bệnh, hoặc những chứng liên quan, trước khi mua bảo hiểm, nhưng không ghi trong hợp đồng bảo hiểm; tiếng Mỹ gọi là pre-existing conditions.
- Tất cả các hãng bảo hiểm ở Mỹ đều thuộc loại doanh nghiệp có mục đích kiếm lời, for-profit organization; lý do tồn tại của các hãng bảo hiểm là lợi nhuận, chứ không phải vì sức khoẻ của khách hàng. Quyền lợi kinh tế của hãng bảo hiểm và quyền lợi y tế của khách hàng luôn mâu thuẫn và tiêu trừ lẫn nhau. Một trong những thủ thuật thông thường của các hãng bảo hiểm là từ chối, hoặc trì hoãn, chi trả phí tổn dịch vụ y tế cho khách hàng (deny or delay customer’s claim payments). Họ mướn những chuyên viên để lo việc này (gọi là các claim adjusters), hoặc thiết lập các hệ thống computer tối tân để tự động hoá việc từ chối chi trả. Họ cũng tưởng thưởng cho những nhân viên nào thực hiện được tốt những sự từ chối hoặc trì hoãn như vậy. Theo National Association of Insurance Commissioner thì chỉ riêng trong năm 2008 có đến hơn 195,000 khiếu nại của khách hàng về việc bị các hãng bảo hiểm từ chối chi trả dịch vụ y tế. Có trường hợp khách hàng đã chết rồi mà sự khiếu nại vẫn chưa giải quyết
- Ngoài ra còn có trường hợp huỷ bỏ hồi tố hợp đồng bảo hiểm (retroactive cancellations/ after-the-fact policy cancellations) nếu hãng bảo hiễm khám phá ra là khách hàng trước đó, khi ký hợp đồng bảo hiểm, đã cố ý hay vô tình không khai một chi tiết bệnh lý nào đó trong hồ sơ cá nhân của mình. Ngay cả những người vì không biết mà không khai cũng chịu sự chế tài đó. Và sự huỷ bỏ này có thể áp dụng cho cả gia đình dù chỉ một thành viên trong gia đình sai phạm. Chẳng hạn một phụ nữ ở Texas bị phát hiện có bướu trong vú. Ngay lúc đó hãng bảo hiểm điều tra và tìm ra là trước đó người phụ nữ này đã mắc chứng rỗng xương (osteoporosis) mà không khai khi lập hợp đồng bảo hiểm. Tuy rằng chẳng có mối liên hệ gì giữa hai căn bệnh, hãng bảo hiểm vẫn lấy lý do đó để huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm!
- Sự an toàn của các dịch vụ y tế là một vấn đề khác. Hàng năm có đến gần 100.000 người chết trong các bệnh viện gây ra do các nhầm lẫn có thể tránh được trong dịch vụ y tế (preventable medical errors), nhiều hơn thương vong do tai nạn xe cộ hay do bệnh AIDS! Vấn đề này dẩn đến việc giới cung cấp dịch vụ y tế: bác sĩ, dược sĩ, bệnh viện, v.v., phải trả bảo hiểm nghề nghiệp cao hơn nhiều lần so với đồng nghiệp ở các quốc gia khác. Nó cũng làm gia tăng các vụ kiện tụng giữa bệnh nhân và các bác sĩ. Tất cả những vấn đề này góp phần không nhỏ vào việc đẩy chi phí y tế nói chung lên cao rất nhanh; hơn gấp đôi chỉ trong một thập niên.
- Một thiếu sót khác liên quan đến vấn đề phòng bệnh (preventive care). Khác với các quốc gia tiên tiến khác, như Anh Quốc chẳng hạn, hệ thống y tế của Mỹ không chú ý đúng mức đến công tác phòng bệnh. Những bệnh trạng đứng đầu trong danh sách gây tử vong hàng năm như các chứng tim mạch, tiểu đường, ung thư phổi, ung thư vú, v.v., là những chứng bệnh có thể ngăn ngừa được với hiệu quả cao nếu như sự phòng bệnh được thực hiện chu đáo và người dân có bảo hiểm y tế đầy đủ. Sự thiếu chú trọng đến vấn đề phòng bệnh phản ảnh trong hiện tượng thiếu thốn bác sĩ gia đình. Một số ước tính trong năm 2008 cho thấy nước Mỹ thiếu đến 14.000 bác sĩ gia đình. Hiện nay bác sĩ tổng quát chỉ chiếm 35% tổng số bác sĩ; so với Anh Quốc là 60%. Thu nhập trung bình của một bác sĩ tổng quát là chừng 200.000 dollars/năm; của một bác sĩ giải phẩu chừng 350.000 dollars/năm. Tỉ lệ sinh viên y khoa chọn đi chuyên ngành rất cao so với số chọn đi toàn khoa. Học phí tại các trường Y khoa rất đắt, trung bình một sinh viên y khoa tốt nghiệp nợ từ 60.000 cho đến 100.000 dollars!
- Sự hạn định dịch vụ y tế (healthcare rationing): Một vấn đề khác trong bảo hiểm y tế ở Mỹ, ít được đề cập đến, là sự hạn định các dịch vụ y tế đối với bệnh nhân. Trước hết là sự giới hạn việc đi khám bác sĩ. Thông thường hãng bảo hiểm buộc bệnh nhân chỉ được đến khám ở những bác sĩ có tên trong một mạng nhất định (in network); hãng bảo hiểm sẽ không chi trả nếu người bệnh tự ý đi khám ở những bác sĩ ngoài mạng (out-of network). Việc phải trả co-payment hoặc deductible cũng là những hình thức buộc người bệnh phải tự hạn định mình trong việc đi khám bác sĩ hoặc chữa trị. Kế đến là hãng bảo hiểm từ chối không chi trả cho những sự chữa trị hoặc các dược liệu nào đó đối với bệnh nhân (như CT scan, làm răng giả, niền răng, chiropractice, thuốc mới…). Các bác sĩ chỉ có quyền đề nghị sự chữa trị hay các xét nghiệm; còn người quyết định cuối cùng trong mọi trường hợp, ngoài bệnh nhân ra, là hãng bảo hiểm với quyền chi trả của mình.
Ngay cả bảo hiểm của chính phủ, như Medicare hay Medicaid, cũng có sự hạn định nêu trên. Sự khác biệt là những hạn định của bảo hiểm chính phủ không vì mục đích kiếm lời, như của bảo hiểm tư nhân, mà thường là để dành một số dịch vụ nào đó cho những trường hợp cần thiết hơn.
(Hết trích bài của ông Trương Đình Trung)
VƯỢT QUA NHỮNG THỬ THÁCH
Trong bài diễn văn nhận chức hôm 20.1.2009, Tổng Thống Obama đã nói:
“Chúng ta hiện đang trong giữa cuộc khủng hoảng mà ai ai cũng biết. Đất nước chúng ta đang trong thời chiến, chống lại một mạng lưới bạo lực và thù hận rộng khắp, một phần là hậu quả của thái độ tham lam, vô trách nhiệm của một số người, nhưng cũng là hậu quả của việc chúng ta đã thất bại, không có những lựa chọn khó khăn, chuẩn bị sẵn sàng cho đất nước trong kỷ nguyên mới.”
Mong ông can đảm vượt qua những thử thách đã thấy trước để đem nước Mỹ tới những ngày tươi sáng hơn.
Ngày 30.3.2010
Lữ Giang
SCIENTIST MAKE PARALISED RATS RUN AGAIN - CÁC NHÀ KHOA HỌC LÀM CHO CÁC CON CHUỘT BỊ BẠI LIỆT CHẠY ÐƯỢC TRỞ LẠI

A rat walks through a pipe. Paralysed rats whose spinal cords had been severed from their brains were made to run again using a technique that scientists say can work for people, according to a study released Sunday.
Scientists make paralysed rats run again
Source: AFP- Monday, September 21
PARIS (AFP) - – Paralysed rats whose spinal cords had been severed from their brains were made to run again using a technique that scientists say can work for people, according to a study released Sunday.
Consistent electrical stimulation and drugs enabled the rats to walk on their hind legs on a treadmill -- bearing the full weight of the body -- within a week of being paralysed.
With the addition of physical therapy, the rodents were able after several weeks to walk and run without stumbling for up to 30 minutes, reported the study, published in the journal Nature Neuroscience.
Remarkably, the animals could adjust their movements in response to stimuli despite the lack of signals to and from the brain: when the treadmill was reversed, for example, the rats walked backwards.
"This means that the spinal network is almost capable of cognitive processing," explained Gregoire Courtine, a professor at Zurich University.
"It can understand that the external world is changing, and interpret this information to modify the way it activates muscle," he told AFP by phone.
Earlier studies had shown that nerve networks in the spinal cord can produce limited motion in the muscles independent of the brain or sensory organs.
But this is the first time that researchers have been able to restore normal or nearly normal functions.
"We can optimise the use of the circuitry in the spinal cord to the point where the animals can sustain full weight-bearing locomotion," said Courtine.
"In some cases they actually walked with more consistent locomotive patterns than non-injured animals."
The next step is to develop devices that can be implanted inside the body.
"We are now designing neuro-prostheses, arrays of electrodes that fit like a second skin between the vertebrae and the spinal cord," Courtine explained.
A strip measuring three centimetres (1.2 inches) long and one hundredth of a centimetre thick, the device is described as "minimally invasive" because it does not penetrate into the spinal cord.
Courtine and colleagues are currently testing the neuro-prostheses on rats, and expect to have an interface for humans within four years.
The new technique is designed to help patients with incomplete but severe injuries, such as those who cannot walk independently.
"For these people, it is highly likely that this approach will improve their function," he said.
The mix of electrical stimulation and physical therapy may be enough to restore significant mobility in many patients, but the addition of drugs "would be extremely beneficial," he added.
In the rat experiments, the researchers injected so-called serotonergic agonists, a compound that mimics the effect of the neurotransmitter serotonin and activates receptors in the central and peripheral nervous system.
There are approximately a quarter of a million persons with serious spinal cord injuries in the United States, according to the Foundation for Spinal Cord Injury, Prevention, Care and Cure. Other sources estimate the total worldwide at 2.5 million.
Nearly half of all spinal cord injuries are caused by automobile accidents, and more than half occur among young people between 16 and 30 years old.
LÀM THẾ NÀO ĐỂ SỐNG SÓT QUA CƠN ĐAU TIM KHI BẠN ĐƠN ĐỘC?

Source: Tổng hợp
Photo: web-books.com, Lost2Angels, Google
Bây giờ là 6:15pm và bạn đang lái xe để về nhà ( lẽ tất nhiên là bạn lái xe một mình ) sau một ngày dài làm việc ở sở. Bạn rất mệt mỏi và chán nản……Bạn đang căng thẳng và bối rối... Thình lình bạn cảm giác Cơn Đau Rất Khốc Liệt trong lồng ngực, lan tỏa ra xuống cánh tay và lên đến miệng. Bạn chỉ còn có 5 miles để đi đến bệnh viện gần nhà nhất. Rất tiếc là bạn không biết có thể tiếp tục lái xe đến đó hay không? Bạn phải làm gì?! Mặc dù bạn biết làm hô hấp nhân tạo, nhưng bạn không thể làm hô hấp nhân tạo riêng cho chính bạn! Làm thế nào để sống sót qua cơn đau tim khi bạn đơn độc?
Thông thường, nhiều người đang đơn độc khi trải qua cơn đau tim, không người giúp. Người có tim đập bất thường và bắt đầu có cảm giác đau, họ chỉ có 10 giây tỉnh táo trước khi mất nhận thức, vậy phải làm gì đây?
Trả lời:
Đừng hốt hoảng, nhưng bắt đầu ho liên tục và ho thật mạnh.
- Hít thật sâu trước khi ho, mỗi lần ho phải mạnh và kéo dài, như bạn đã từng ho mà nước miếng, nước dãi từ sâu trong lồng ngực chảy ra.
- Hơi thở và cơn ho phải thật mạnh và liên tục, được lập lại với khoảng cách mỗi 2 giây cho đến lúc có người săn sóc, hay đến lúc có cảm giác tim đập lại bình thường.
Hơi thở sâu nhận oxygen vào trong lồng ngực và chuyển động của ho ép trái tim và làm máu lưu thông. Sự nén áp suất trên trái tim còn giúp tim lấy lại nhịp đập bình thường. Trong thời gian này, nạn nhân có cơn đau tim có thể đến bệnh viện kịp thời.
Chuyển thông tin này đến người quen của quý vị và các bạn càng nhiều càng tốt. Nó có thể cứu được mạng sống. Cơn đau tim là một tai họa có thể xẩy ra với bất cứ ai và trong bất cứ lứa tuổi nào, vì vậy phải tự cứu mình trước.
(Tài liệu tham khảo số 240 của General Hospital Rochester)
10 ĐIỀU NÊN BIẾT VỀ LÊN CƠN TIM VÀ ĐỘT QUỴ

Lên cơn tim hay còn gọi là nhồi máu cơ tim xẩy ra khi một trong các động mạch mang máu tiếp tế cho cơ tim bị tắc nghẽn.
Tắc nghẽn động mạch có thể do động mạch co thắt hay động mạch bị xơ cứng với máu đông cục nghẽn trong mạch. Khi mảng xơ vữa bị nứt, vỡ ra (thường xảy ra trên nền của động mạch vành bị hẹp do mỡ tụ trong thành mạch máu và xơ vữa từ trước). Ngoài ra, tình trạng co thắt động mạch vành cũng có thể làm ngừng trệ dòng máu dẫn đến nuôi cơ tim. Sự tắc nghẽn làm tổn hại các mô, và phần cơ tim với các mô hư hại sẽ không còn khả năng co thắt đàn hồi nữa.
1- Lên cơn tim hay còn gọi là nhồi máu cơ tim và đột quỵ là một trong những nguyên nhân chính đưa đến cái chết ở khắp mọi nơi trên thế giới. Tuy nhiên chúng ta có thể ngăn ngừa được.
2- Quý vị có thể bảo vệ mình tránh khỏi lên cơn tim và đột quỵ bằng cách bỏ ra một số thời giờ và cố gắng.
3- Hút thuốc lá, ăn uống không đúng cách và không chịu hoạt động thân thể sẽ gia tăng mối nguy hiểm bị lên cơn tim và đột quỵ.
4- Ngưng việc hút thuốc lá ngay lúc nào thì nguy cơ bị lên cơn tim và đột quỵ sẽ lập tức giảm ngay lúc đó.
5- Mỗi ngày dành ra 30 phút để hoạt động thân thể là cách hay nhất để tránh lên cơn tim và đột quy.
Nên ăn rau quả thường xuyên và năng vận động thân thể. Photo: diabetes.org.nz
6- Mỗi ngày ăn rau quả tối thiểu là 5 mớ (5 servings - mỗi serving là một mớ nằm gọn trong lòng bàn tay ) và giới hạn việc dùng muối xuống ít hơn một muỗng trà một ngày sẽ giúp ngăn ngừa lên cơn tim và đột quỵ.
7- Cao huyết áp không xuất hiện triệu chứng nhưng có thể tạo nên những cơn tim và đột quỵ bất ngờ. Phải thường xuyên theo dõi huyết áp của quý vị.
8- Bệnh tiểu đường làm gia tăng nguy cơ bị lên cơn tim và đột quỵ, vì vậy nếu quý vị bị bệnh tiểu đường thì quý vị phải kiểm soát được áp huyết và lượng đường máu của quý vị để giảm bớt nguy cơ.
9- Chứng mập phì làm gia tăng nguy cơ bị lên cơn tim và đột quỵ. Để duy trì thể trọng lý tưởng, phải vận động thân thể thường xuyên và ăn uống đúng cách.
10- Lên cơn tim và đột quỵ có thể xẩy ra bất thình lình và chết người nếu không được cấp cứu kịp thời.
NHỮNG TRIỆU CHỨNG ĐIỂN HÌNH

Triệu chứng điển hình và thường gặp nhất của nhồi máu cơ tim là:
Đau ngực: với cảm giác đau như bị đè ép, bóp chặt ở giữa ngực, diễn ra trong khoảng 5-15 phút ( khác về thời hạn và độ đau với cơn đau ngực thông thường ), thường không quá 1 giờ.
Cơn đau có thể lan lên vai, cổ, hàm hoặc lan dọc theo cánh tay, đặc biệt là tay trái.

Các triệu chứng phụ như: vã mồ hôi, buồn nôn, chóng mặt, bất tỉnh, mệt nhọc, khó thở, tái nhợt, tim đập mạnh.
Nhiều trường hợp nhồi máu cơ tim lại có biểu hiện không rõ ràng như tiêu chảy, đau bụng, hoặc chẳng hề có triệu chứng (nhồi máu cơ tim thầm lặng - thấy nhiều trong các bệnh nhân đái tháo đường), hoặc lại hết sức đột ngột, biểu hiện bằng biến chứng hôn mê, rối loạn nhịp tim, ngừng tim hay chết bất ngờ...
THUỐC CHẶN BỆNH LÚ LẪN ALZHEIMER

Hình chụp não của người bị bệnh Alzheimer
Thuốc chặn bệnh Alzheimer
Emma Wilkinson
Phóng viên y tế, BBC News
Source: BBC Vietnamese
Các nhà khoa học Anh đã bào chế một loại thuốc có thể chặn đứng sự phát triển của bệnh lẫn Alzheimer.
Kết quả các cuộc thử nghiệm thuốc có tên Rember với 321 bệnh nhân cho thấy 81% khác biệt trong sự suy thoái của thần kinh so với những người không uống thuốc.
Các nhà khoa học thuộc Aberdeen University cho biết thuốc này chặn sự tích lũy của một loại đạm trên não.
Các chuyên gia về bệnh Alzheimer lạc quan với kết quả nhưng nói cần phải thử nghiệm với nhiều bệnh nhân hơn nữa.
Trình bày tại hội nghị quốc tế về bệnh Alzheimer, Giáo sư Claude Wischik nói thuốc Rember có thể có mặt trên thị trường chậm lắm là cuối 2012.
Thử lâm sàng
Các bệnh nhân trong tình trạng nhẹ đến trung bình đã được uống thuôc với các hàm lượng khác nhau 30, 60 hoặc 100mg.
Người ta nhận thấy loại 60mg có kết quả tốt nhất sau 50 tuần lễ với 7 điểm khác biệt trên thang điểm dùng để đo mức độ lẫn.
Sau 19 tháng các nhà nghiên cứu thấy không có sự suy thoái đáng kể trong các chức năng thần kinh của bệnh nhân dùng thuốc.
Hình chụp não cũng cho thấy thuốc tác động mạnh nhất vào khu vực trí nhớ trên não.
'Rember'
Rember, hay methylthioninium chloride thường được dùng như một loại thuốc nhuộm xanh trong phòng thí nghiệm, nhắm vào đạm có tên Tau trong tế bào não.
Giáo sư Wischik tình cờ khám phá methylthioninium chloride cách đây 20 năm.
Các liệu pháp khác nhắm vào một loại đạm phế trong não gọi là beta-amyloid vốn tích lũy thành những miếng chai.
"Chúng tôi chứng minh được lần đầu tiên chúng ta có thể hãm sự tiến triển của bệnh bằng cách nhắm vào các đạm Tau vốn có liên quan mật thiết với bệnh này,'' Giáo sư Wischik nói.
Các cuộc thử nghiệm lâm sàng lớn hơn được dự trù trong năm 2009 và các nhà nghiên cứu cũng sẽ tìm hiểu xem thuốc có thể ngừa bệnh Alzheimer ngay từ đầu hay không.