Category: Khoa học quân sự và chiến tranh

ĐỘI QUÂN BÍ MẬT VẪN TIẾP TỤC CUỘC CHIẾN VIỆT NAM - CÁC NHÀ TRANH ĐẤU ĐANG BỊ ÉP VÀO ĐƯỜNG CÙNG? - HAI VỢ CHỒNG NGƯỜI TỴ NẠN VIỆT NAM TẠI THÁI LAN BỊ MẬT VỤ CSVN BẮT CÓC


Ảnh: independent

Đội quân bí mật vẫn tiếp tục cuộc chiến Việt Nam

Nguồn: William Lloyd George, The Independent

Lê Quốc Tuấn, X-Cafe chuyển ngữ

Được tuyển dụng và vũ trang bởi CIA vào những năm 1960, những người Hmông vẫn còn bị kẹt giữa rừng địch, bị Mỹ và cả thế giới bỏ quên.

Ngược lên một con đường đất quanh co qua những ngọn núi xanh tốt vọng ra âm thanh của những tiếng huýt sáo từ hai bên đường. Suýt hụt mất một chiếc xe máy chạy qua, hai chàng trai trẻ với súng máy nhảy ra khỏi khu rừng dày đặc.

Mình cần phải đi nhanh, nhưng khi một cậu bé kéo tôi ngược lên phía trên cùng của một con dốc lầy lội, bùn đất dốc theo cánh tay bắn cả vào mắt. Cậu ta cố ngăn dòng nước mắt ứa ra.

Trong một khoảng trống nhỏ xíu cắt dọn khỏi cánh rừng tre dày đặc, bốn cậu bé, có lẽ không quá 18 đang thì thầm với nhau. Vã mồ hôi vì phải leo trèo nhanh và cơn nóng hừng hực, họ phơi những bộ đồng phục màu xanh rách nát của mình trên các nhánh tre và dựng những khẩu súng AK-47 cũ móp méo sang một bên.

Đây là những dấu tích còn lại của Quân đội Hoàng gia Lào, đuợc tuyển dụng bởi người Mỹ để phá vỡ đường tiếp tế Hồ Chí Minh trong Chiến tranh Việt Nam. Mặc dù Lào đã từng tuyên bố trung lập, quân đội Việt Nam đã vẫn hoạt động ở đó và CIA đã nhìn Lào như một mặt trận khác để chống lại sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản.

Đối với cả phần còn lại của thế giới, việc chiếm được thành phố Sài Gòn – bây giờ thành phố Hồ Chí Minh – của quân đội Bắc Việt vào năm 1975 đã đánh dấu sự kết thúc chiến tranh Việt Nam, nhưng đối với người Hmong, đấy chỉ là sự khởi đầu. Khi chế độ cộng sản Pathet Lào lên nắm quyền, họ đã tuyên bố sẽ quét sạch tất cả người Hmong khỏi đất Lào. Kể từ đó, người Hmong đã lẩn trốn giấu mình trong rừng sâu và hoàn toàn cách ly khỏi thế giới bên ngoài.

Những binh lính trẻ đã dẫn đường cho người dân của mình vào sâu phía sau lằn ranh quân địch trong Saysomboun – “khu vực đặc biệt”. Họ bước đi nhẹ nhàng và thì thầm, bởi vì, họ cảnh báo, “kẻ thù ở khắp mọi nơi”.

Trèo núi suốt ngày đêm, một số lên thẳng các rặng núi cao để tránh quân thù đi tuần, cuối cùng chúng tôi được dẫn đến lối vào trại của họ. Cả một cộng đồng lăn ra trên mặt đất kêu khóc thảm thương và cầu xin được giúp đỡ. Những phụ nữ lớn tuổi run bật lên vì xúc động khi kể lại những nỗi kinh hoàng mà họ đã chứng kiến, trong khi những trẻ nhỏ khóc òa khi vừa nhìn thấy một người từ thế giới bên ngoài. Cho Her, người cựu nhân viên CIA nằm úp mặt xuống xuống bùn đất, cầu nguyện cho người dân của mình được giải cứu. “Mỹ và các nhà lãnh đạo trên thế giới hãy đến đây giải cứu chúng tôi và ngăn chặn chính phủ Lào khỏi sự ngược đãi chúng tôi vì đã từng là lính của CIA trong cuộc chiến bí mật”, ông nói.

Hơn 30 năm trước, khi chiến tranh Việt Nam đã kết thúc, CIA rút các điệp viên của mình ra thì Cher Fer còn là một thanh niên trẻ. Khi người Mỹ rời đi, họ đã mang đi một số chiến sĩ Hmong với họ, nhưng đã bỏ lại hơn 10.000 đồng minh của họ để tự bảo vệ lấy mình. Cay đắng vì bị bội phản, chính phủ Lào đã bách hại những người từng chiến đấu bên cạnh người Mỹ, buộc người Hmong phải rút lui vào rừng sâu.

“Chúng tôi không có lựa chọn gì ngoài việc bắt buộc phải dùng súng ống người Mỹ cung cấp và trốn lên rừng”, Chong Pa Thao, một cựu nhân viên CIA khác vừa nói vừa lau dòng nước mắt từ đôi má của ông. “Sau đó, người Việt Nam phối hợp lực lượng với những người cộng sản Lào săn bắn chúng tôi như những con vật trong rừng rậm, gìết hại và bỏ mặc xác chết của người chúng tôi thối rữa trong rừng”.

Các thành viên của lực lượng chiến đấu kinh hoàng từng một thời đầy tự hào bây giờ nằm trên mặt đất, buông bỏ tất cả phẩm giá để cầu xin được cứu giúp, thậm chí chỉ từ một nhà báo – hiện thân Tây Phương của họ – đến thăm. Tự xác nhận mình là lính CIA, họ năn nỉ và năn nỉ hơn nữa xin người Mỹ trở lại để đưa họ ra khỏi “địa ngục trần gian” của mình.

“Tôi là CIA. Năm 1970, ông Jerry đã cho tôi khẩu M79 này và bảo tôi bắn quân thù” Cher Fer nói trong một giọng Mỹ hoàn hảo, khi ông giơ cao một khẩu súng phóng lựu cũ mèm trong không khí.

“Chúng tôi đã mất đi hàng ngàn quân lính cho Mỹ – khi các binh sĩ Lào giết chúng tôi họ cảm thấy như họ đã giết chết được một người lính Mỹ. CIA phải đến cứu lấy chúng tôi”.

Nỗi hoang tưởng về một ngày nào đó người Mỹ sẽ đến giải thoát mình đã động viên các cựu chiến binh và gia đình họ đấu tranh mà chờ đợi được trong 30 năm qua. Nhưng bất chấp sự liên minh của CIA với phiến quân Hmong, chính phủ Mỹ đã có ít nỗ lực để mang họ ra khỏi rừng trú ẩn.

Bill Lair, người nhân viên CIA huyền thoại từng điều phối các hoạt động xây dựng một đội quân kháng chiến chống cộng sản từ những người dân bộ lạc rừng rú kém giáo dục, đã bảo vệ hành động của Cơ quan Tình báo. Phát biểu qua điện thoại từ nhà của ông ở Waco, Texas, ông nói rằng Hoa Kỳ ban đầu đã tuyển dụng người Hmong và đã xử dụng người Thái để huấn luyện họ bởi vì người Hmông “giỏi hơn so với bất cứ ai khác xung quanh, mỗi bước đi của họ là ở cùng khắp do đó họ có thể di chuyển nhanh hơn quân địch rất nhiều”.

Nhưng khi được hỏi bây giờ Mỹ có nên thực hiện các biện pháp để cứu họ, ông trả lời: “CIA không mang nợ họ điều gì cả. Chúng tôi đã cho họ sự lựa chọn để rời đi nhưng họ đã quyết định ở lại, nghĩ là mình có thể quay trở lại cách đã từng sống ở vùng núi non”.

Vào năm 2007, Vang Pao, vị lãnh đạo phiến quân Hmong được chỉ định bởi CIA, người sau đó di cư sang Mỹ và trở nên một nhà lãnh đạo cộng đồng người Hmong ở đó, đã bị bắt tại California và bị Mỹ kết tội âm mưu lật đổ chính phủ Lào. Sau đó những tội trạng này đã được hủy bỏ, nhưng bản thông điệp chỉ ra rõ ràng: Mỹ giờ đây đứng về phía Lào, kẻ thù cũ của họ, một kẻ thù mà họ đã huấn luyện Vang Pao để chiến đấu chống lại.

Sự việc đắc cử của Barack Obama vào Nhà Trắng đã được xem là một ngọn hải đăng của niềm hy vọng cho những người ủng hộ người Hmong. Tổng thống đã kêu gọi tất cả các phe phái phải tôn trọng luật pháp quốc tế và “đảm bảo rằng những người Hmong lạc loài đó không phải ở trong những phương cách nguy hiểm”. Tuy nhiên, bất chấp một cuộc tranh cãi quốc tế sôi nổi, hơn 4.500 người tị nạn Hmong đã bị Thái Lan, nơi họ đã tìm cách lánh nạn, buộc phải hồi hương về Lào. Chính phủ Mỹ đã ra tuyên bố nói rằng họ có quan tâm, nhưng đã không có hành động gì.

Tiếp theo đó chính phủ Lào đã mời ba dân biểu Hoa Kỳ sang thăm. Sau đó đã tuyên bố rằng những người trở về đã được cư xử tốt khiến thổi lên ngọn lửa giận dữ giữa những người ủng hộ Hmong cho rằng chuyến đi đã bị vận dụng bởi chính phủ Lào.

Vài tuần sau, Dân biểu tham quan Joseph Cao cho biết ông muốn tăng viện trợ cho Lào. Nhưng các nhà lãnh đạo Hmong tin rằng viện trợ của Mỹ đã được đổ vào các nỗ lực quân sự của chính phủ Lào để loại trừ người Hmong, như người Hmong vẫn tự gọi mình là “những đồng minh của CIA bị lãng quên”.

Bị cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài, đây là lần đầu tiên các nhà lãnh đạo trong rừng đã được nghe biết rằng những người tị nạn Hmong đã bị đưa trở lại Lào. Khi nhận được những tin tức này, sự tuyệt vọng của họ là hiển nhiên.

“Tối thiểu là trước đây chúng tôi nghĩ rằng mình có thể trốn thoát sang Thái Lan nhưng bây giờ chúng tôi không còn có nơi nào để chạy đi” ông Chao Fer vừa nói vừa nhìn trông qua rặng núi chỉ cách đó ba dặm. “Chúng tôi không thể cứ tiếp tục chạy, sớm muộn gì tất cả chúng tôi sẽ chết ở đây. Ngay trên núi đó là nơi của đối phương và khi chúng tôi đang nói chuyện, họ đang săn bắt chúng tôi xuống bằng chó – chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi chúng lại tấn công chúng tôi một lần nữa”.

Vài tuần trước đó quân đội Lào đã tràn ngập vào một doanh mà họ tin là của người Hmong trước đây trong một phần của chiến dịch chuẩn bị cho Các cuộc Thi đấu Thể thao lần thứ 25 của vùng Đông Nam Á. Trong cuộc đột kích một cậu bé 14 tuổi bị giết chết, những người chỉ huy cho biết là cậu bé không có vũ trang và đã chỉ đi lùng kiếm thức ăn để nuôi gia đình mình.

“Tháng trước, con trai tôi đã bị cộng sản bắn chết” mẹ của cậu bé vừa nói vừa chuẩn bị thức ăn cho những đứa con khác của bà. Nó không có súng ống gì, chỉ đi tìm ra thức ăn cho chúng tôi thôi, nhưng tôi không có khả năng để làm bất cứ điều gì – Tôi chỉ có thể chết trong rừng này”.

Những cuộc tấn công thường xuyên buộc các nhóm phải thay đổi trại mỗi hai tuần lễ và chia ra thành nhóm nhỏ để tránh các cuộc tấn công quy mô lớn của quân đội Lào. Điều này đưa đến việc cộng đồng không có cơ hội để nuôi trồng thực phẩm hoặc đạt đến được một cách sống thích hợp hơn. Khi không có sự lựa chọn khác, luộc chín lá cây đã trở thành chế độ ăn uống hàng ngày của họ và chỉ có những lúc may mắn nếu họ có thể bắt được một con khỉ hoặc loài chuột rừng. Việc thiếu ăn đã khiến họ trông suy dinh dưỡng rõ rệt – cả người già và trẻ con đều có những cái bụng sưng lên.

Ăn các loại cây lá khiến họ đói lả, cho nên như loài vật, các phụ nữ và trẻ em đến các ngọn đồi xung quanh, để đào bới bằng tay và đầu gối của mình. Bên ngoài trại, họ cho biết nhiều phụ nữ và trẻ em đã bị giết bởi quân đội Lào và những “người may mắn” thoát chết thì có những vết thương vì đạn bắn để khoe ra.

“Tôi cảm thấy đau khổ khi cho con mình những thức ăn cây lá này, nhưng chúng tôi không có lựa chọn nào khác”, một bà mẹ giải thích. “Đi săn thì hết sức nguy hiểm và chúng tôi không thể đến gần các làng mạc, vì cộng sản sẽ giết chúng tôi. Đôi khi vì quá sợ hãi không dám ra khỏi rừng, chúng tôi chỉ đành nhịn đói”.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lao Khenthong Nuanthasing đã chối bỏ sự tồn tại của nhóm người này, ông nêu rõ là nếu có bất cứ ai tồn tại như thế thì chẳng là ai khác hơn “những băng cướp”. Tuy nhiên, theo người Hmong cho biết, gần đây quân đội Lào đã gia tăng chiến dịch của họ với sự hỗ trợ của Việt Nam. Những người lãnh đạo Hmong thuật lại rằng cường độ của những cuộc tấn công chống lại họ đã tăng lên và các nhóm người của họ đang bị đẩy xa và sâu hơn vào trong rừng.

Một chuyến đi của Vang pao được thu xếp đến thăm Viêng Chăn, thủ đô Lào, để cố gắng và tạo nên một thỏa thuận hòa bình đã bị hủy bỏ, viện cớ vì những rủi ro về an ninh. Chính phủ Lào đã thông báo rằng nếu trở về ông ta “sẽ phải đối diện với bản án tử hình cho những tội ác chiến tranh của ông trong chiến tranh Việt Nam”.

Trong những căn trại giữa rừng này, nỗi sợ hãi hằn trên tất cả các khuôn mặt, ngay cả nơi trẻ em. Với Thái Lan như quay lưng lại với mình, và Mỹ dường như đang bỏ qua cảnh ngộ của mình, họ biết cơ hội sống sót thật là mỏng manh.

Khi cả nhóm tập hợp lại để nói lời chia tay, một phụ nữ lớn tuổi nắm lấy tay tôi và thì thầm vào tai :

“Tôi biết cộng sản sẽ giết tất cả chúng tôi … khi chúng hành động như thế, xin ông hãy chắc chắn nói với cả thế giới rằng chúng tôi đã ở đây và những gì công sản đã làm đối với chúng tôi”.

*****************Bản tiếng Anh nguyên thủy

The secret army still fighting Vietnam war

Hired and armed by the CIA in the 1960s, the Hmong remain trapped in enemy jungle, forgotten by America and the world

By William Lloyd George in Laos

Wednesday, 17 February 2010

Up a winding dirt path through lush mountains comes the sound of whistling from the side of the road. Narrowly missing a passing motorbike, two young boys with machine guns leap out of the dense jungle.

We need to move fast, but as one boy hauls me to the top of a steep, muddy slope his hand flicks to his eyes. He is fighting to hold back tears.

In a tiny clearing they've cut out of the thick bamboo forest four boys, seemingly no older than 18 whisper to each other. Sweating from the quick climb and dense heat, they hang up their torn blue uniforms on bamboo branches and prop up their battered old AK-47s.

These are the remnants of the Royal Laos Army, hired by the Americans to disrupt Ho Chi Minh supply lines during the Vietnam War. Although Laos had been declared neutral, Vietnamese troops were operating there and the CIA saw it as another front against the spread of communism.

For the rest of the world, the capture of Saigon – now Ho Chi Minh City – by North Vietnamese troops in 1975 marked the end of the Vietnam War, but for the Hmong, it was just the beginning. When the communist regime, the Pathet Lao took power it announced it would wipe out all Hmong from Laos. Since then the Hmong have been hiding in the depths of the jungle completely cut off from the outside world.

The young soldiers lead the way to their people deep behind enemy lines in the Saysomboun, "special zone". They tread lightly and whisper, because, they warn, the "enemy is everywhere".

Days and nights of trekking, some of it straight up mountains to avoid enemy patrols brings us eventually to the entrance of their camp. The whole community falls on the ground crying hysterically and begging for help. Old women shake with emotion as they speak of the horrors they have witnessed, while young children weep at their first sighting of an outsider. CIA veteran Cho Her lies face down in the dirt, praying for the rescue of his people. "US and world leaders please come and rescue us and stop the Laos government persecuting us for being the CIA's foot-soldiers during the secret war," he says.

More than 30 years ago, when the Vietnam War finished and the CIA pulled their agents out, Cher Fer was a young man. When the Americans left, they took a handful of Hmong fighters with them, leaving more than 10,000 of their allies behind to fend for themselves. Bitter at their betrayal, the Laos government persecuted those who had fought alongside the Americans, forcing the Hmong to retreat deep inside the jungle.

"We had no choice but to take the weapons the Americans gave us and flee to the jungle," said another CIA veteran Chong Pha Thao, wiping tears from his cheeks. "Then the Vietnamese joined forces with the Laos communists and hunted us like animals in the jungle, leaving our people's corpses to rot when they killed them."

Members of the once proud and formidable fighting force now lie on the ground, abandoning all dignity to beg for help, even from a visiting journalist, their personification of the West. Identifying themselves as CIA soldiers, they plead over and over again for the Americans to return, and take them out of their "living hell".

"I am CIA. In 1970 Mr Jerry gave me this M79 and told me to shoot enemy," Cher Fer says in a perfect American accent, as he waves a battered grenade-launcher in the air.

"We have lost thousands of troops for America – when the Laos soldiers kill us they feel like they have killed an America soldier. The CIA must come and save us."

The fantasty that America will one day come and liberate them has motivated the veterans and their families to struggle on through for the last 30 years. But despite the Hmong rebels' alliance with the CIA, the American government has made little effort to extract them from the jungle.

Bill Lair, the legendary CIA agent who co-ordinated the operation to build an anti-Communist resistance army out of poorly educated jungle tribespeople, defended the Agency's actions. Speaking by phone from his home in Waco, Texas, he said that the US originally hired the Hmong and used Thai recruits to train them because the Hmong "were better than anyone else around, every step they took was up or down so they could move a lot faster than the enemy".

But when asked if America should now take steps to save them, he replied: "The CIA owes them nothing. We gave them the choice to leave but they decided to stay, thinking they could go back to how they used to live in the mountains".

In 2007, Vang Pao, the leader of the Hmong rebels appointed by the CIA, who later emigrated to the US and was a Hmong community leader there, was arrested in California and charged by the US with conspiring to overthrow the Laos government. The charges were later dropped, but the message was clear: America was now on the side of Laos, its former enemy, an enemy it trained Vang Pao to fight.

Barack Obama's election to the White House was seen as a beacon of hope for Hmong advocates. He has called for all parties to respect international law and "ensure that displaced Hmong are not placed in harm's way". However, despite an international furore, more than 4,500 Hmong refugees were forcibly repatriated back to Laos by Thailand where they had sought refuge. The US government issued statements saying it was concerned, but took no action.

The Laos government subsequently invited three US congressmen to visit. They later claimed that the returnees were being treated well which ignited anger among Hmong advocates said the trip was orchestrated by the Laos government.

Weeks later, visiting Congressman Joseph Cao said he would like to increase aid to Laos. But Hmong leaders believe US aid has already been funnelled into the Laos government's military efforts to eliminate, as the Hmong call themselves, the "CIA's forgotten allies"

Cut off from the outside world, this is the first time the jungle leaders have heard that the Hmong refugees were being sent back to Laos. On receiving the news their despair is evident.

"At least before, we thought we could escape to Thailand but now we have no place to run to," says Chao Fer as he looks over to a mountain just three miles away. "We can't keep running, soon we will all die here. Just over that mountain is where the enemy is and as we speak they are hunting us down with dogs – it's just a matter of time before they attack us again."

Weeks earlier the Laos army had stormed the Hmong's previous temporary camp in what they believe was part of campaign to prepare for the 25th Southeast Asian Games. In the raid a 14-year-old boy was killed, the leaders say he was unarmed and foraging for food to feed his family.

"My son was shot by the communists last month," the boy's mother says as she prepares food for her other children. He didn't have any gun, just finding food for us but I don't have the ability to do anything – I can only die inside".

Frequent attacks force the groups to change camp every two weeks and break up into small numbers to avoid large-scale offensives by the Laos army. This leaves the community no chance to farm food or forge a proper way of life. With no other choice, boiled tree shrub has become their daily diet and at times they are lucky if they can catch a jungle rat or monkey. The lack of nutrients has left the group visibly malnourished – both young and old have swollen abdomens.

Eating the tree shrub leaves them starving, so like animals, women and children take to the surrounding hills to dig on their hands and knees. Outside the camp, they claim that many women and children have been killed by the Laos army and the "lucky ones" have bullet wounds to show.

"I feel so unhappy to give this food to my kids, but we have no other choice," one mother explains. "It's too dangerous to hunt and we can't reach the villages because the communists will kill us. Sometimes we are too scared to go out so we just starve."

The Lao foreign ministry spokesman Khenthong Nuanthasing has denied that the group exists, stating, if anything, they are nothing more than "bandits". However, according to the Hmong, the Laos army has recently increased their campaign with the assistance of the Vietnamese. Hmong leaders report that the intensity of attacks against them has increased and their groups are being driven further and further into the jungle.

A planned trip by Vang Pal to visit Vientiane, the Laos capital, to try and strike a peace deal has been cancelled citing security risks. The Laos government has announced that if he returns he will "face the death sentence for his war crimes during the Vietnam War".

In the jungle camp, fear is written on all the faces, even those of the children. With Thailand apparently turning its back on them, and the US seemingly ignoring their plight, they know their chances of survival are slim.

As the entire group gathers to say farewell, one old lady grabs my hand and whispers in my ear.

"I know the communists are going to kill us all... when they do, make sure you tell the world we were here and what they did to us."

**************************************************


Luật sư Lê Trần Luật

CÁC NHÀ TRANH ĐẤU ĐANG BỊ ÉP VÀO ĐƯỜNG CÙNG?

Khánh An, phóng viên RFA





Luật sư Lê Trần Luật, người từng biện hộ cho vụ giáo xứ Thái Hà và bảo vệ dân oan, lại bị ép vào con đường cùng khi bị tước mất công việc vừa có, nhiều nhà trọ cũng từ chối gia đình anh.

Truy đuổi đến cùng

Những hành động ép người vào đường cùng như trên liệu có ngăn chặn được những tiếng nói bất đồng?

Bạn bè, độc giả blog LS Lê Trần Luật chưa kịp vui khi đọc tựa đề bài viết “Việc làm mới” của anh vào ngày 20/4 đã phải nén một tiếng thở dài khi đọc đến đoạn cuối bài viết.

LS Lê Trần Luật tâm sự trên blog:

Vậy là tôi thất nghiệp đã hơn một năm ba tháng rồi. Suốt thời gian đó tôi cũng cố gắng xin việc nhiều nơi nhưng không thành. Đa số những nơi tôi xin việc đều từ chối khéo. Có nơi họ cũng thẳng thừng từ chối khi nghe đến tên tôi. Có nơi định nhận tôi vào làm việc thì ngay lập tức nơi đó nhận được “trát làm việc” của cơ quan an ninh. Sau đó tôi gọi điện nhiều lần nhưng họ không trả lời tôi nữa.

Sau nhiều lần thuyết phục, cuối cùng tôi cũng được một người nhân viên cũ nhận vào làm việc trên tinh thần hợp tác. Tất nhiên bây giờ anh ấy là Sếp của tôi… Sáng hôm qua mọi chuyện sắp đặt văn phòng xem như đã hòan tất. Tôi nghe Sếp bảo thứ năm này sẽ cúng khai trương…

Khoảng 3h chiều tôi nghe Sếp điện thoại và báo có ông Long nào bên an ninh gọi điện và yêu cầu Sếp sáng mai đúng 8h lên công an phường làm việc. Tôi hỏi lại làm việc gì? có giấy mời gì không? Sếp tôi trả lời với giọng yếu hẳn: “ Nó bảo làm việc về chuyện anh tới đây làm, có góp vốn không hay làm công ăn lương, em biết anh rồi mà nhận vô làm gì, hỏi nhiều lắm”. Tôi cố hỏi thêm: còn gì nữa không? Sếp bảo:“Nó nói anh là phần tử chống đối, hay viết bài trên mạng, và trả lời báo đài nuớc ngòai, nó sẽ kiểm tra và thu máy của văn phòng, có khi nó dẹp luôn cả văn phòng liệu hồn mà tính”…

Sáng nay, sau khi chở con đi học về, vợ tôi hỏi:“Anh không đi làm à?”. Tôi im lặng vì không biết nên trả lời như thế nào.


Luật sư Lê Trần Luật (giữa).

Trước đó chưa đầy một tuần, ngày 15/4, nhiều bạn bè đã chia sẻ với LS Lê Trần Luật về câu chuyện “Nhà mới” thuê sau khi liên tục gặp rắc rối với những căn nhà thuê trước đây. Qua blog, LS Lê Trần Luật cho biết:

Sau nhiều lần trì hoãn, cuối cùng tôi cũng phải trả nhà lại cho chủ và dọn về chỗ ở mới. Thật ra, chủ nhà cũng đã nhiều lần yêu cầu tôi trả lại nhà dù chưa hết thời hạn thuê. Tôi hoàn toàn hiểu và cảm thông với họ. Sau sự kiện Người Buôn Gió đến thăm, quan hệ giữa tôi và chủ nhà trở nên căng thẳng hơn…

Từ hơn một năm qua, những câu chuyện nhà của LS Lê Trần Luật đã không còn xa lạ đối với bạn bè và giới blogger. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, theo nhận xét của nhiều blogger, LS Lê Trần Luật đang bị đẩy dần đến bước đường cùng với tình trạng không nhà ở, không việc làm!

Các blogger nói gì?

Tin tức về tình trạng của LS Lê Trần Luật được khá nhiều blogger quan tâm chia sẻ. Có những nhận xét chân thành, chẳng hạn như “cái tâm của con người Việt Nam trong lúc này cần được giấu kỹ, phơi ra là bị gặm, bị day, bị dày vò, bị đánh cắp, bị ăn cướp ngay. Nên bây giờ, ai sống công khai với cái tâm như anh là dại, sẽ chỉ như những số phận tự nạp mạng, rồi bị diệt đơn lẻ. Từ 35 năm nay đã thế rồi. Chẳng phải mới đây đâu anh ạ”, lại có những câu hỏi đầy bức xúc như “Tại sao họ cứ xem dây như là kẻ thù của họ??? Người dân không tấc sắt trong tay, chỉ có bàn phím và cái miệng mà họ phải sợ như thế hay sao?”. Trong khi đó, blogger “giahien” cho rằng những sự việc xảy ra với LS Lê Trần Luật giống như “mật vụ SS phát xít rượt đuổi trù dập dân gốc Do Thái”.

Tương tự, blogger Bút Thép nhận xét:

Những gia đình người ta đã cho anh Lê Trần Luật thuê ở rồi mà lực lượng an ninh tác động đến để những gia đình đó không dám cho anh ấy ở thì những việc làm như vậy, nếu có, thì rất vô nhân đạo. Nó thể hiện sự man rợ, đẩy con người ta đến bước đường cùng, phải chống lại chính quyền.

Bên cạnh những nhận xét trên, còn có một số phát biểu khác tuy hài hước nhưng cay đắng, chẳng hạn như “Tui nghĩ cái ông anh Lê Trần Luật này hổng phải là người Việt Nam. Nếu anh Luật là người Việt Nam, chẳng lẽ anh lại trở thành nô lệ trên chính quê hương của mình???”. Tất cả những phản ứng của giới blogger cho thấy sự bất mãn và phẫn nộ ngày càng tăng khi họ phải liên tục chứng kiến những pha “rượt đuổi” hòan tòan không cân sức giữa chính quyền và người dân.

Vào cuối năm ngoái, Bộ Ngoại giao Việt Nam từng khẳng định: “Tại Việt Nam, không có ai bị bắt, giam giữ và xét xử vì bày tỏ chính kiến”. Tuy nhiên, những rắc rối, khó khăn tột cùng xảy ra trong cuộc sống của một người ngay sau khi họ bày tỏ chính kiến của mình, theo lời của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, là một mánh khóe của chính quyền. Ông nói:

Đó là những mánh khóe của nhà cầm quyền Hà Nội, luôn luôn làm cho người dám lên tiếng nói sợ hãi. Người tiếp xúc với chúng tôi cũng sợ hãi.

Tuy nhiên, ngay trong những nhận xét của các blogger đối với trường hợp của LS Lê Trần Luật, thì chính những hành động dồn ép, uy hiếp lại khiến cho nhiều người hiểu hơn về những chuyện phía sau hậu trường. Blogger “vietnamtudo7” cho rằng “những hành động đánh phá những người bênh vực cho lẽ phải, cho công lý như anh LS Luật làm cho quần chúng càng ngưỡng mộ anh, mà tôi là một trong số đó”. Tương tự, blogger “baobinh29nb” nhận xét: “càng có nhiều những vụ như thế này thì mọi người mới hiểu thực chất vấn đề là gì thì mới mong có sự thay đổi”. Như vậy, có thể hiểu “bước đường cùng” của một số trường hợp đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền lại là bước mở đầu cho một thay đổi tốt đẹp hơn trong tương lai chăng?! Riêng LS Lê Trần Luật dí dỏm gọi những sự việc xảy đến cho mình là “âm mưu diễn biến hòa bình”!

***********************************************


Bà Phạm Thị Phượng và chồng bị mật vụ CSVN bắt cóc tại Bangkok, Thái Lan. Hình do gia đình cung cấp.

HAI VỢ CHỒNG NGƯỜI TỴ NẠN VIỆT NAM TẠI THÁI LAN BỊ MẬT VỤ CSVN BẮT CÓC

Hai vợ chồng người tỵ nạn Việt Nam bị mất tích ở Thái Lan

Thanh Quang, phóng viên RFA

Cách đây khoảng một tuần, vợ chồng người Việt Nam tỵ nạn cộng sản, được Cao ủy Tỵ nạn LHQ (UNHCR) ở Thái Lan công nhận, bị bắt cóc ngay tại thủ đô Bangkok.





Câu hỏi được nêu lên là ai đã thực hiện hành động này. Và giới chức liên hệ cần có phản ứng ra sao để ngăn chận những hành động như vậy tái diễn ở xứ Chùa Vàng – cũng như đã từng diễn ra ở xứ Chùa Tháp. Mời quý vị theo dõi bài tường thuật từ Bangkok của Thanh Quang như sau:

Mật viên Việt Nam bắt cóc

Theo lời kể của người con trai tên Phạm Bá Tâm sau khi nhận được cú điện thoại thoáng qua của mẹ em, thì ba mẹ của em, là ông Phạm Bá Huy và bà Phạm Thị Phượng, bị một nhóm mật viên Việt Nam sang tận Thái Lan để thực hiện hành động bắt cóc này.

Em Phạm Bá Tâm cho biết:

Phạm Bá Tâm: “Vào khoảng 10 giờ sáng ngày 15 tháng Tư vừa rồi, ba mẹ nói là ra ngoài để mua đồ cho gia đình cũng như thường lệ. Đến chiều tối không thấy ba mẹ về, em nghĩ vấn đề có thể là do kẹt xe hay vấn đề gì đó của Thái Lan. Nhưng rồi đến khuya cũng không thấy ba mẹ về, em đã cố liên lạc với Cao Ủy Ty Nạn. Đến chiều tối ngày 16, lúc khoảng 7 giờ rưỡi tối, em nhận được cú điện thoại từ mẹ, cho biết rằng ba mẹ bị cảnh sát Việt Nam bắt. Cú điện thoại này của mẹ thình lình bị cắt. Em đã liên lạc nhiều nơi, với thiếu tá Mark, với phía Cao ủy Tỵ nạn nhằm giúp tìm kiếm ba mẹ.


Thủ đô Bangkok, Thái Lan.

Sau một thời gian, đến ngày hôm qua thứ Tư ngày 21/04, lúc 10 giờ rưỡi sáng, thì em nhận được cú điện thoại của chú ruột em từ Việt Nam, thông báo rằng ba mẹ bị cầm tù tại Sài Gòn, tại cơ quan công an điều tra. Bây giờ bên phía gia đình không thể gặp mặt ba mẹ được. Và những người thân đều bị bắt”.

Theo lệnh triệu tập khẩn của Cục An ninh Đảng bộ TPHCM mà chúng tôi nhận được, thì – nguyên văn: “Việt Nam yêu cầu tên Phạm Thị Phượng buộc phải trở về Việt Nam nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp chính phủ CHXHCN Việt Nam”. Vẫn theo nguyên văn của văn bản này, thì “bà không thể nào đủ sức để dựa vào cao ủy liên hợp quốc tại Thái Lan khi bà vẫn mang trọng án cao nhất của luật pháp nước CHXHCN Việt Nam”. Lệnh triệu tập này cảnh báo rằng nếu bà Phạm Thị Phượng không tự nguyện trở về Việt Nam thì – nguyên văn - “ Đội an ninh mật đóng tại Thái Lan sẽ thi hành công lệnh không phải thông qua cao ủy liên hợp quốc... kể cả chồng bà và 6 đứa con”.

Trước tình cảnh như vậy, 6 người con của hai người tỵ nạn Việt Nam vừa nói rất khủng hoảng, như em Phạm Bá Tâm cho biết:

Phạm Bá Tâm: “Cháu và các em tất cả 6 người vẫn đang chờ đợi vì chưa biết rằng sẽ đi về đâu. Phía chính quyền Mỹ hay Cao ủy Tỵ nạn sẽ giúp đỡ, bảo vệ cho anh em cháu thoát khỏi sự đe dọa, theo dõi, bắt bớ đưa anh em chúng cháu về Việt Nam. Anh em cháu hiện rất sợ. Đây là một sư đe dọa rất nặng nề, làm tụi cháu bị khủng hoảng”.

Chúng tôi đã tiếp xúc với con trai của ông bà Phạm Bá Huy và Phạm Thị Phượng là em Phạm Bá Tâm như vừa nói để tìm hiểu thêm về hoàn cảnh khó khăn, nếu không muốn nói là nguy hiểm, của gia đình họ, như quý vị nghe sau đây:

Thanh Quang: Ba mẹ và 6 anh em cháu qua Thái Lan hồi nào?

Phạm Bá Tâm: Tháng 10 năm 2002.

Thanh Quang: Gia đình cháu qua đây thì nói chung triển vọng được định cư ở Mỹ ra sao?

Phạm Bá Tâm: Khi gia đình cháu rời khỏi Việt Nam với mục tiêu là chạy trốn khỏi chế độ cộng sản, thì khi tới đây, mới đầu, chưa có mục tiêu là vào Liên Hiệp Quốc hay tới đâu, mà chỉ mong chạy khỏi đất nước thôi. Bởi vì ba mẹ đã bị tù đày, giam cầm tại đất nước cộng sản Việt Nam.


Giấy của Cao ủy Tỵ nạn LHQ (UNHCR) ở Thái Lan công nhận quy chế tỵ nạn cho bà Phạm Thị Phượng. Hình do gia đình Bà gởi cho RFA.

Thanh Quang: Tù đày như vậy thì riêng mẹ cháu đã bị Việt Nam nhốt bao lâu?

Phạm Bá Tâm: Mẹ cháu vì trước kia là mật viên của Mỹ và làm cho Việt Nam Cộng Hòa, nên sau 30 tháng Tư năm 1975, mẹ bị bắt giam hết 4 năm tại Mật khu 5 của chế độ cộng sản. Và mẹ được thả ra vào cuối năm 1979. Còn ba cháu là lính không quân Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi cộng sản vào chiếm Miền Nam thì họ bắt cả gia đình đi vùng kinh tế mới tại nông trường Thọ Vực.

Thanh Quang: Trước khi ba mẹ cháu bị bắt cách nay mấy hôm, triển vọng định cư của gia đình cháu đã tới đâu rồi?

Phạm Bá Tâm: Vấn đề định cư của gia đình cháu thật không may mắn, mất rất nhiều thời gian. Có rất nhiều điều đã xảy ra không tốt cho gia đình. Và gia đình cháu vẫn trong giai đoạn chờ đợi bên Cao ủy Tỵ nạn giúp đỡ, tìm một nước để đi định cư.

Thanh Quang: Ngay bây giờ, phản ứng của Cao ủy Tỵ nạn ra sao?

Phạm Bá Tâm: Ngay khi được tin ba mẹ bị bắt, thì Cao ủy nói là tìm mọi cách để giúp đỡ cho gia đình. Hiện chưa thấy họ giúp đỡ bằng cách nào, chỉ biết là họ đang làm việc để giúp cho gia đình cháu thôi.

Vi phạm luật pháp quốc tế

Một cựu quân nhân Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam, thiếu tá hồi hưu Mark A. Smith đang có mặt tại Bangkok, quen biết nhiều với bà Phạm Thị Phượng khi bà được huấn luyện làm nhân viên tình báo Mỹ hồi năm 1969 và rồi phục vụ cho chương trình đặc biệt do Thiếu tá Mark đánh giá. Thiếu tá Mark nhận xét trường hợp vợ chồng hai người tỵ nạn này như sau:

Major Mark: “Đây là vấn đề mang tính cách quốc tế. Nếu những người từ Việt Nam tới đây, tôi không cần biết họ lo lót cho cảnh sát Thái như thế nào, nhưng họ tự tiện bắt người đưa ra khỏi Thái Lan, trong khi xứ Thái là một nước dân chủ, pháp trị. Ngay tại Thái Lan, họ phải ra tòa, giải thích với tòa án Thái Lan lý do tại sao những người mà họ bắt cần đưa trở lại Việt Nam, vì đã là tội phạm, hay gì gì đó. Đằng này mật viên Việt Nam tự tiện bắt người và chớp nhoáng đưa trở lại Saigon. Điều này có nghĩa là họ vi phạm thỏa thuận ASEAN, thỏa ước quốc tế, vi phạm quy chế của LHQ bảo vệ người tỵ nạn như trường hợp hai vợ chồng ông Phạm Bá Huy và bà Phạm Thị Phượng, và cả luật lệ của Vương Quốc Thái.

Do đó, câu hỏi trong thời điểm này là tất cả những chính phủ liên hệ phải phản ứng như thế nào trước việc Việt Nam cho mật viên tự tiện đến Thái Lan để bắt cóc người theo ý họ. Nếu có sự nhúng tay nào đó của người Thái – như cảnh sát Thái - cũng rất có thể, nhưng hành động vừa rồi của Hà Nội là bất hợp pháp. Và chuyện 2 vợ chồng tỵ nạn Phạm Bá Huy và Phạm Thị Phượng đang ở Sài Gòn hiện giờ chỉ có mật vụ Việt Nam là câu trả lời cho sự việc liên quan hành động họ đến đây, tiếp xúc với ai để rồi bắt người và chuyển ra khỏi Vương Quốc Thái trong thời gian rất ngắn. Nên đây không phải chỉ là vấn đề vi phạm nhân quyền, mà đây còn là vấn đề vi phạm đến an ninh quốc gia của Vương Quốc Thái, và cũng có liên hệ đến an ninh quốc gia của cả Hoa Kỳ.”

Và Thiếu tá Mark Smith nhân tiện bày tỏ sự mong mỏi như sau:

Major Mark: “ Do đó, tôi tin tưởng, hy vọng và cầu mong Việt Nam thả hai vợ chồng anh Phạm Bá Tân để họ được đoàn tụ với 6 người con của họ, sau cùng rồi, tại Hoa Kỳ. Và chính phủ Hoa Kỳ phải can thiệp, chính sách Mỹ đòi hỏi Washington phải hành động để giúp đỡ gia đình này. Và đó là điều dĩ nhiên.”

Vụ bắt cóc người Việt Nam tỵ nạn vừa nói tại xứ Chùa Vàng khiến người ta liên tưởng đến những vụ mật viên Việt Nam bắt cóc người tỵ nạn ở xứ Chùa Tháp, mà cụ thể là trường hợp của Thầy Thích Trí Lực hiện định cư tại Âu Châu. Thầy Thích Trí Lực kể lại như sau:


Văn phòng UNHCR nằm trong khuôn viên trụ sở LHQ ở Thái Lan. Photo courtesy of UN Thailand.

Thầy Thích Trí Lực: “Dạ trong thời gian tôi qua và gởi đơn xin tỵ nạn tại Cao ủy Tỵ nạn ở Phnom Penh vào năm 2002, chúng tôi là người Kinh, không được ở trong trại tỵ nạn, cho nên phải thuê nhà ở ngoài. Điều cần phải biết là sau khi bộ đội Miền Bắc rút khỏi Campuchia, họ đã cài lại rất nhiều tình báo, núp dưới hình thức thương gia, kết hôn với người bản xứ hay hoạt động cho tình báo Việt Nam. Tôi là một nạn nhân của chế độ CS Việt Nam. Tôi còn nhớ vào ngày 25 tháng 7 năm 2002, lúc chạng vạng, tôi ra chợ Ô-Xây ở đường 185 để mua đồ dùng. Khi quay người lại thì một số người lạ mặt chận sau lưng tôi và vài ba người tấn công tôi, đẩy tôi lên một chiếc xe đậu sẵn bên lề đường. Họ đánh đập tôi trên xe, rút trong túi tôi thẻ tỵ nạn do LHQ cấp cho tôi ngày 28 tháng 6 năm 2002. Xe chạy một quãng, rồi vào một cơ quan mà dưới ánh đèn điện, tôi thấy rõ có chữ “cảnh sát quốc tế”.

Rồi họ chuyển tôi sang một chiếc ô-tô nhỏ đậu gần đó, mang biển số Khmer 2475. Họ ghé vào một đồn công an Campuchia gần bùng binh cầu Sài Gòn, nhốt tôi một đêm ở đó. Sáng hôm sau, ngày 26 tháng 7 năm 2002, họ chở tôi hướng về cửa khẩu Mộc Bài ở tỉnh Tây Ninh, rồi chuyển giao cho Bộ Công an Việt Nam đã chờ sẵn tại biên giới. Sau đó họ đưa tôi vào trại giam B34 tọa lạc ở số 237 đường Nguyễn văn Cừ, quận 1, Sài Gòn. Họ giam giữ tôi 15 tháng trời, rất nghiêm ngặt. Bên ngoài, người thân, bạn bè không biết tôi còn sống hay đã chết.

Thanh Quang: Như vậy Thầy nhận xét như thế nào về hành động bắt cóc của mật viên Việt Nam tại xứ nguời?

Thầy Thích Trí Lực: Nhà cầm quyền CS Việt Nam đã xem thường luật pháp quốc tế, đã ngang nhiên bắt cóc người tỵ nạn trên lãnh thổ láng giềng. Cơ quan tình báo mật vụ của Việt Nam đã tung hoành ngang dọc. Họ chẳng coi luật pháp quốc tế ra gì cả.

Vừa rồi là thầy Thích Trí Lực từ Âu Châu.

Thanh Quang tường thuật từ Bangkok, Thái Lan.

THÁNG TƯ, ĐỌC BÀI VIẾT CŨ: SAU BA MƯƠI NĂM QUỐC HẬN, TÌM HIỂU SỰ THẬT VỀ ÐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH TRONG CUỘC CHIẾN ÐÔNG DƯƠNG II (1955-1975)

Đường mòn Hồ chí Minh. Việt cộng từ đất Lào và Cao Miên liên tục xua quân xâm lăng miền Nam Việt Nam, với bản chất dối trá, gian manh và lừa đảo, chúng trắng trợn xé bỏ tất cả mọi hiệp ước mà chúng đã ký kết. Khi nào cộng sản còn thì dân tộc Việt Nam phải nhớ nằm lòng câu nói này của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: "Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những việc cộng sản làm!" - Ảnh: PSYOP

THÁNG TƯ, ĐỌC BÀI VIẾT CŨ: SAU BA MƯƠI NĂM QUỐC HẬN, TÌM HIỂU SỰ THẬT VỀ ÐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH TRONG CUỘC CHIẾN ÐÔNG DƯƠNG II (1955-1975)
Source: greenspun's archives

MƯỜNG GIANG
Tết 2005

Một năm sau ngày miền Nam bị cưỡng chiếm, phái đoàn Bắc Việt do Trường Chinh đại diện và Ðảng Bộ Việt Cộng miền nam tức Mặt Trận Giải Phóng MN, dưới quyền Phạm Hùng, đã chính thức họp tại Sài Gòn, để khai tử cái Mặt Trận “ MA “, được Hà Nội dàn dựng và khai sinh từ ngày 20-12-1960, nhằm lường gạt dư luận thế giới và dân chúng trong nước, qua âm mưu thôn tính VNCH. Cũng từ đó (1976), cái gọi là con đường huyền thoại Hồ Chí Minh, tức đường mòn Trường Sơn với bí danh 559A, hành lang để Hà Nội chuyển tiếp liệu, quân dụng và người vào Nam, từ năm 1959 tới ngày 30-4-1975, cũng bị đảng nhận chìm trong quên lãng.

Bắt đầu từ năm 1989 tới 1991, đã có nhiều biến cố chính trị quan trọng xảy ra tại Ðông Âu. Ðó là việc các nước chư hầu, lần lượt từ bỏ xã hội chủ nghĩa, kéo theo sự sụp đổ và tan rã của Liên Bang Xô Viết. Ðể cứu đảng khi đã mất cái dù che của Nga, Việt Cộng lại ngả về Tàu, đồng thời mở khẩu đổi mới, trải thảm đỏ, mời Hoa Kỳ, Nhật và Tây Phương vào làm ăn buôn bán. Nhờ vậy lớp son phấn che kín bản mặt thật của đảng, dần hồi bị xói mòn, bởi các tệ trạng tham nhũng, cướp bóc nơi cửa quyền và nhất là sự kiện đảng công khai bán nước cho ngoại bang, hèn nhục để cho dân mình bị Tàu Cộng bắn giết trên biển mới xảy ra vào tháng 1-2005, đã làm cho cả nước không còn hãi sợ và tin Việt Cộng, kể cả một số không ít trí thức khoa bảng NamVN trước đây, từng tin đảng là chính nghĩa, làm cách mạng chỉ để giải phóng đất nước bị Mỹ-Ngụy kềm kẹp bóc lột.

Ðể bảo vệ đảng cũng như quyền lợi của chóp bu đang hồi tiến nhanh tiến mạnh, Hà Nội lại lùi một bước, quay về với chiến lược cũ rích năm nào. Ðó là dùng lịch sử để lường gạt đồng bào và Việt kiều thêm lần nữa. Ðảng đem những huyền thoại trên trời dưới biển năm nao, ra hâm nóng lại tinh thần yêu nước là “ yêu nước xã hội chủ nghĩa “ của cán bộ đảng viên, đang bị phân hoá lung lay niềm tin tới tận gốc, vì giành ăn, tranh quyền và ganh tị lẫn nhau bởi “ trâu cột ghét trâu ăn “. Ngoài ra, đảng cho trùng tu lại các di tích chiến tranh, như Ðịa đạo Vĩnh Mốc ( Vĩnh Linh-Quảng Trị ), Củ Chi (Hậu Nghĩa), cũng như tái tạo lại con đường mòn Hồ Chí Minh. Công tác trên vừa có tính cách xoa dịu tự ái của những đảng viên bộ đội già bị vắt chanh bỏ vỏ, sau khi tàn chinh chiến. Ðồng thời lần nữa lừa bịp cũng như móc túi bọn du khách ngoại quốc, trong đó có không ít Việt Kiều trí thức Miền Nam ngày xưa trốn quân dịch, nên có bao giờ biết cũng như nếm được mùi chiến tranh bom đạn, và đám da trắng giàu có đa sự. Bọn này rất muốn biết và nhìn tận mắt con đường mà Hoa Kỳ, nói là đã oanh tạc một số bom đạn, nhiều hơn số lượng đã xử dụng trong thời đệ nhi thế chiến nhưng vẫn không ngăn nổi người và quân dụng Bắc Việt vào Nam. Việc đẻ ra kế hoạch “ mười năm du lịch “ 1995-2005 “ của Võ văn Kiệt tại nghị định số 307 ngày 24-5-1995, cũng là một trong những sự sao y bản chánh của Trung Cộng, vì thấy Ðặng tiểu Bình đã thành công, khi xây dựng các khu du lịch và công nghiệp tại Thẩm Quyến, Hải Nam, Thượng Hải... Từ đó Hà Nội đã bất chấp thực tế, vẫn hồng hơn chuyên, bỏ hằng tỷ bạc ngân sách quốc gia, để xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất và thành phố Vạn Tưởng, tại Quảng Tín-Quảng Ngãi, trước sự mai mỉa cười chê của thế giới. Khắp nước nơi nào cũng tổ chức các tour du lịch, để hốt bạc và tuyên truyền bộ mặt son phấn mới của VN xã nghĩa. Ngay chốn khỉ ho cò gáy như miền giới tuyến năm nào trong tỉnh Quảng Trị, cũng có một tour du lịch, từ Cửa Việt lên tới Khe Sanh, Tà Cơn, Cầu Treo DakRong, ngã ba QL9 và đường mòn HCM, gọi là The Demilitarized Zone tour, thường viết tắt là D.M.Z. Mục đích để đảng quảng cáo các chiến lợi phẩm thời chiến tranh và cái gọi là nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, mà theo thân nhân của người quá cố, trong hòm chỉ có cát-đất mà thôi. Có đọc trường thiên ký sự “ Ðường đi không tới “ của nhà văn VC hồi chánh là Xuân Vũ, hay đã làm lính VNCH, mới cảm nhận được cái ý vị khổ nhục cùng tận của cuộc chiến Ðông Dương lần 2 (1955-1975), do Ðệ tam quốc tế cọng sản chủ xướng, qua vai trò tên lính tiền phương đánh mướn là Việt Cộng. Trong cuộc chiến vô nghĩa phi lý này, mặt trận tại Trường Sơn, đã là mồ chôn hằng vạn tử sĩ của cả hai phía. Những địa danh như Dốc pháo cụt, Ðồi không tên, Sông A-Vương, Lũng Giằng, Khe Sanh, Dakto, A-Shau, Ia-Drang, Pleime, Ðức Cơ... ra tận miền Bắc, càng lúc càng trở nên khốc liệt, khi nó chính thức trở thành con đường chiến lược để Bắc Việt xâm lăng VNCH. Suốt thời gian chiến tranh, Võ Nguyên Giáp qua tư cách Ðại Tướng tổng tư lệnh quân đội VC, đã từng tuyên bố với báo chí quốc tế, là hắn sẽ đốt rụi Trường Sơn, dù phải đem giết hết thanh niên nam nữ miền bắc. Cho nên không lạ khi thấy Xuân Vũ nói “ mạng người lá rụng “, để viết về thảm kịch Ðường Ði Không Tới, của một số cán binh bộ đội hồi kết năm nào.

Tháng 11-1997, Võ nguyên Giáp khoe thành tích Bát Quái Ðồ, tức là đường Trường Sơn 559, do Ðinh Ðức Thiện và Ðồng Sĩ Nguyên lần lượt chỉ huy suốt cuộc chiến từ 1960-1975. Ngày xưa thế giới đui mù vì bị bọn trí thức khoa bảng, cha-sư miền nam tuyên truyền lật lọng, nên chẳng bao giờ thấy được hình ảnh bộ đội cọng sản “ sinh bắc tử nam “, khi ồ ạt vượt vĩ tuyến 17, vào đường mòn HCM, để tấn công cưỡng chiếm Miền Nam thanh bình no ấm, như họ đã thấy tại bán đảo Triều Tiên, vào tháng 6-1950, qua cuộc chiến Cao Ly. Nhưng biết sớm hay muộn cũng giống nhau, vì ngày nay trên khắp nẻo đường Trường Sơn năm cũ, từ Bắc Việt vào tới Phước-Bình Long, hằng ngày đã có hằng vạn nguời Việt, đói rách bị chĩa súng có gắn mã tấu sau lưng, để bắt họ làm nghĩa vụ lao động. Cũng qua cái hình ảnh đau thương này, đã làm cho mọi người trong cuộc của cả hai phía, chợt nhớ tới những cô gái Trường Sơn năm nào, luôn mỏi ngóng các chàng lính trận có lần đã đi vào con tim của họ. Ðể rồi từ đó tới nay, tuổi xuân tháp cánh lưng trời, mà bóng ai vẫn biền biệt, như cái huyền thoại Trường Sơn, thật sự đã chết trong tâm tư đồng bào sơn cước, khi họ bị VC cướp đất, lừa bịp... sau khi đất nước đã có hòa bình.

"mai về quê mẹ, lên biên giới

thăm lại Trường Sơn thuở kiếm cung

rừng núi vẫn xanh màu khát vọng

chỉ ta hờn tủi, kiếp tha hương ...”


1- Bối cảnh lịch sử có liên quan tới chiến cuộc Ðông Dương lần thứ 2 (1955-1975):

Ngày 7-5-1954 Ðiện Biên Phủ thất thủ, nước VN tạm thời bị chia cắt thành 2 miền riêng biệt, với 2 thể chế khác nhau, do cái gọi là tứ cường Liên Xô, Anh, Pháp và Trung Cộng tự ý quyết định số phận của đất nước và dân tộc VN, tại bàn hội nghị Genève ( Thụy Sĩ ). Hoa Kỳ lúc đó là đồng chủ tịch nhưng vì một lý do gì đó, nên không ký vào biên bản. Từ đó, Bắc Việt do Hồ Chí Minh lãnh đạo, công khai theo chế độ cọng sản và là chư hầu của Nga-Tàu. Miền Nam chọn chính thể Cọng Hòa. Hai miền VN lấy vĩ tuyến 17, cũng là con sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị, làm ranh giới tạm chia. Theo tinh thần hiệp ước đình chiến, quân viễn chinh Pháp phải rút hết về nước, còn VC trong mặt trận Việt Minh tại miền Nam, cũng phải tập kết ra bắc.

Từ khi chính thức làm trùm nửa nước, Hồ Chí Minh và đảng VC, theo chân Mao Trạch Ðông, phóng tay phát động phong trào cải cách ruộng đất năm 1956, làm cho hằng vạn người dân vô tội tại miền bắc bị đấu tố chết thảm thương, trong số này hầu hết đều có công với nước hay với đảng trong chín năm kháng chiến chống Pháp. Nội vụ được giấu kín hay được bọn trí thức khoa bảng da trắng thân cộng như G.Kolko, tác giả quyển “ VN Anatomy of wars 1940-1975 “ tuyên truyền hoàn toàn trái ngược với sự thật.

Trong khi đó, tình hình chính trị của miền Nam từ A tới Z, bị bọn trí thức thân cộng trong và ngoài nước, moi móc, bịa đặt đủ điều vớí mục đích làm mất chính nghĩa quốc gia của người miền Nam, trong lúc đang chiến đấu chống lại sự xâm lăng của đệ tam quốc tế. Tại VNCH, những năm đầu tiên, TT Ngô Ðình Diệm đã gặp rất nhiều khó khăn, trong việc đương đầu với với các Giáo phái và lực lượng Bình Xuyên. Lợi dụng giậu đổ bìm leo, VC nằm vùng tại miền Nam đã phát động các cuộc nổi loạn võ trang, gọi là đồng khởi tại Trà Bồng (Quảng Ngãi), Bắc Ruộng (Bình Thuận) và Mỏ Cầy (Bến Tre), song song với các vụ khủng bố, ám sát đồng bào và viên chức xã ấp khắp nơi nhưng cuối cùng mọi hành động phá rối của VC đều thất bại. Theo hầu hết các nguồn sử liệu còn lưu trữ, cho biết tình hình chính trị tại VNCH, vào những năm 1956, 1957, 1958 rất khả quan từ Sài Gòn cũng như các tỉnh, nơi thị tứ cho tới chốn quê làng, đâu cũng vui sống cảnh thanh bình no cơm áo ấm. Nhờ vậy TT Ngô Ðình Diệm cũng như Chính Phủ Miền Nam, lúc đó đã gây được uy tín rất lớn trên thế giới.

Trước tình hình nguy ngập đó, Hồ Chí Minh đã phải gọi Lê Duẩn, lúc đó đang làm xứ bộ trưởng, chỉ huy cán bộ nằm vùng tại miền Nam, trở ra Bắc, để duyệt xét lại kế hoạch cưỡng chiếm VNCH bằng vũ lực, thay vì kỳ vọng vào cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước như Hiệp định Genève 1954 đã qui định, mà VNCH không chịu thi hành, vì không hề ký vào biên bản hiệp ước trên. Trong phiên họp lần thứ 15 của Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng, khai diễn ở Hà Nội vào tháng 1-1959, quyết định thành lập Lực Lượng Vũ Trang tại Miền Nam. Kế tiếp ngày 5-10-1960, đảng lại họp Ðại Hội 3 cũng tại Hà Nội, để thành lập Ðảng Bộ Cọng Sản Miền Nam, qua danh xưng “ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam “, làm cánh tay nối dài, vừa là bình phong, vừa tạo công cụ xâm lăng cho Bắc Việt. Ðúng như Lê Duẩn đã tuyên bố “ Ðó là chiến lược bảo đảm thắng lợi hoàn toàn cho cuộc cưỡng chiếm miền Nam, dưới sự lãnh đạo của đảng Mác-Lê và giai cấp công nông “. Tóm lại theo chủ trương của Hà Nội, Ðảng Bộ CS miền Nam, tức MTGPMN, phải hành động theo ba mục tiêu chiến lược: 1- Ly gián đồng bào và chính quyền VNCH. 2- Ðánh lừa dư luận thế giới về cuộc xâm lăng của miền Bắc, trở thành cuộc nội chiến tại miền Nam. 3- Tuyệt đối phải tuân theo các chỉ thị của đảng, do miền Bắc lãnh đạo, Mặt trận miền Nam chỉ thừa hành, theo đúng chính sách đề cương trong khối xã hội chủ nghĩa quốc tế. Nên tới nay, dù được gọi bằng danh từ gì chăng nữa như Cục R, Ðảng bộ CS Miền Nam, Mặt Trận GPMN... thì cũng chỉ là “ Mặt trận mốc xì, đảng ta đó “ qua lời tuyên bố trơ trẽn của Lê Ðức Thọ tại Ba Lê, sau khi vừa ký xong với Kissinger trên tờ hiệp định ngưng bắn năm 1973.

MTGPMN được hợp thức hóa vào cuối tháng 12-1960 tại một căn cứ của VC, nằm cách biên giới Việt-Miên chừng 7km. Ðây là khu rừng già nằm kế cầu Cần Ðăng, trên con đường đá đỏ Trà Băng, Trại Bí, Xóm Mới, Sóc Ông Trang... thuộc tỉnh Tây Ninh. Buổi lễ được đặt dưới quyền chủ tọa của Sáu Vi, bí danh của đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ủy viên bộ chính trị, bí thư trung ương đảng, nguyên phụ trách vấn đề nông dân và thanh niên miền bắc. Mặt trận có mười nhân vật khoa bảng miền Nam, đang đối lập chính trị với VNCH, gồm Nguyễn Hữu Thọ (đang bị giam tại Củng Sơn-Phú Yên, vì tội hiếp dâm, được VC giải thoát ), Trương Như Tảng, Dương Quỳnh Hoa, Phùng văn Cung, Ưng văn Kỳ... Bọn này hầu hết thuộc thành phần địa chủ, phú gia thời Pháp thuộc, được VC nằm vùng là Huỳnh tấn Phát móc nối dụ dỗ. Tất cả được Hà Nội đem ra làm bung xung che mắt thiên hạ nhưng đầu não lãnh đạo, vẫn do Lê Duẫn, Lê Ðức Thọ, Phạm Hùng, Trần văn Trà, Nguyễn Chí Thanh... quyết định theo đúng chính sách của Hà Nội đã nghị quyết. Cũng từ đó, Nguyễn Hữu Thọ được phong hàm chủ tịch Mặt Trận, mở đầu cuộc chiến xâm lăng Miền Nam bằng vũ lực.

Tại Miền bắc, Hồ Chí Minh ban lệnh hồi kết, hàng chục ngàn cán binh bộ đội trở về Nam, để thành lập “ Quân Giải Phóng “ do Trần Văn Trà làm tư lệnh. Một số lớn Hoa kiều sống tại Hải Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Thanh Hóa... cũng được vào Nam, cùng một số Hoa Kiều thân cộng, đang do Tư Méo, tức Trương Gia Triều, bí danh Trần Bạch Ðằng chỉ huy, để trà trộn, tuyên truyền gây rối trong cộng đồng người Hoa miền Nam. Ðồng thời con đường mòn giao liên cũ, từ miền bắc vào Liên Khu 5, do đại tá Nguyễn Thông, bí danh của trung tá Nhật Ishitako, mở năm 1947, cũng được đảng giao cho Hai Xe Ngựa tức đại tá Võ Bẳm, nối lại, để trùng tu vào năm 1959. Ðây là con đường chiến lược Liên Việt, tức là đường mòn Trường Sơn hay Hồ Chí Minh, mang bí danh 559A. Sau khi Phạm văn Ðồng nhân danh thủ tướng nước VNDCCH, theo chỉ thị của đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, ký xác nhận quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa thuộc Trung Cộng vào năm 1958, thì Hà Nội được Tàu Cộng, giúp phương tiện mở thêm một đường dây trên biển Ðông với bí danh 559B hay 759, chuyển quân dụng và bộ đội từ bắc vào nam bằng đường thủy. Theo Ðồng văn Cống, từng phụ trách đường dây 559B từ 1959-1968, thì việc tổ chức hai con đường bí mật trên, chỉ có Hồ Chí Minh, Phạm văn Ðồng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Ðức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng và Trần văn Trà, biết mà thôi. Còn những người khác chỉ thừa hành theo lệnh, kể cả Nguyễn Chí Thanh, Trần Ðộ, Trường Chinh...


Đường mòn Hồ chí Minh, khu vực màu vàng lợt là hành lang xâm nhập từ Lào và Cambodia, đường màu vàng đậm là đường mòn Shihanouk kéo dài xuống cảng Shihanouk Ville. Bản đồ cho thấy Việt cộng dùng Miên và Lào làm bàn đạp xâm lăng miền Nam Việt Nam - Ảnh wikipedia

2- Ðường Mòn Hồ Chí Minh:

Sự thật, những chuyện đã xảy ra hằng ngày , trên đường mòn HCM, tức là hành lang xâm nhập người và quân dụng, từ Bắc vào Nam của cọng sản Hà Nội, đối với Hoa Kỳ và VNCH, không phải là huyền thoại hay bí mật ghê gớm, vì những gì xảy ra ở đó, qua phi cơ thám thính và các toán Biệt Kích hoạt động, họ gần như biết đủ. Có chăng là sự lạ lùng, vì ai cũng biết VC là kẻ chủ mưu gây nên cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2, chứ không phải là nội chiến. Ngoài ra cuộc xâm lược qui mô đều phát xuất từ đường mòn Trường Sơn, tiếp diễn liên tục đêm ngày không bao giờ gián đọạn. Thế nhưng quân lực Hoa Kỳ, Ðồng Minh và ngay cả VNCH, cũng bị chính phủ Mỹ tại Hoa Thịnh Ðốn, ra lệnh giới hạn trong lúc chiến đấu với VC, theo qui định tại nhiều điểm, được gọi là “Luật Chiến Ðấu - Rules of Engagement“. Ngoài ra cũng không được tấn cộng hậu phương miền bắc, để tránh sự đụng độ quân sự với Trung Cộng, như đã xảy ra năm 1950, tại chiến cuộc Cao Ly.

Năm 1985, sau mười năm chấm dứt cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2, Bộ Quốc Phòng Mỹ mới cho phép giảm độ mật, khi cho Congressssional Record phổ biến hạn chế, cái gọi là “Luật Chiến Ðấu tại VN“ qua 26 trang tóm tắt, trong đó có liên quan tới đường mòn Hồ Chí Minh. Cũng nhờ vậy, ta mới biết được nhiều điều thật vô lý, chỉ có siêu cường Mỹ mới có. Chẳng hạn như trong luật chiến đấu, có điều 3 cấm không quân Mỹ giội bom các quân xa VC, nếu chúng ở cách đường mòn HCM 200m. Ðiều này giúp cho quân xa Bắc Việt an toàn khi chúng lái xe trên đường mòn Trường Sơn, lúc nghe máy bay Mỹ oanh tạc, chỉ cần lái xe ra khỏi vị trí 200m, là hết chuyện. Còn điều 6 thì cấm quân Mỹ truy kích VC, nếu chúng rút qua biên giời Lào hay Kampuchia. Biết vậy, nên hầu hết các căn cứ của Bắc Việt, kể cả cục R đều được lập sát hay bên kia biên giới, nên rất an toàn. Do trên, các cuộc hành quân vượt biên mang tên Toàn Thắng, vào năm 1970 tại Miên hay hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào, vào thời TT Nixon, đã bị đảng Dân Chủ Mỹ thân cộng, căn cứ vào luật chiến đấu, la ó phản đối dữ dội. Cuối cùng tại Quốc Hội, cũng cái đám nghị sĩ-dân biểu đảng Dân Chủ Hoa Kỳ, ra luật cấm quân lực Hoa Kỳ hành quân vượt biên khỏi Nam VN. Những bí mật nhỏ nhoi trên, chỉ là một trong muôn ngàn điều bật mí sau này, cũng là lý do, khiến cho Mỹ cũng như VNCH, dù đã nỗ lực và hao tốn không biết bao nhiêu tiền bạc, xương máu nhưng cuối cùng vẫn không ngăn nổi cuộc tiến quân của Bắc Việt, trên đường mòn HCM. Theo Ðồng Sĩ Nguyên, phụ trách Binh Ðoàn 559A từ tháng 12/1966 tới tháng 4/1975, thì đơn vị này có gần 2000 xe vận tải và 4 binh trạm, với nhiệm vụ tải người và quân dụng từ miền Bắc vào Nam. Quân số của Binh đoàn 559A trên 120.000 người, gồm 10.000 thanh niên xung phong, 1 sư đoàn cao xạ phòng không của Bộ TTM/VC tăng phái và tám sư đoàn vận tải, chiến đấu trực thuộc. Sau ngày ký hiệp định ngưng bắn 1973, cọng sản Bắc Việt bãi bỏ giai đoạn gùi thồ đường đất và binh trạm, mà công khai chuyển quân từ bắc vào nam, mỗi lần cả sư đoàn tới binh đoàn, kể cả tăng-pháo, trước sự bất lực của VNCH khi Hoa Kỳ đã phủi tay về nước. Do trên cuộc hành trình chỉ mất 12 ngày, thay vì 4 tháng như trước, nên VC lúc nào cũng đủ quân số và quân dụng, vì có cả một núi người sẵn sàng “ sinh bắc tử nam “, cũng như các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhất là Trung Cộng, hết lòng chi viện. Trong lúc đó, VNCH chiến đấu với cả khối cọng sản đệ tam quốc tế trong cô đơn nơi chiến trường, đã vậy còn bị bọn cốt người mà óc khỉ tại hậu phương, công khai đâm hùa trí mạng. Chiến đấu trong hoàn cảnh thê thiết như vậy, không mất nước mới là chuyện lạ?

A - ÐƯỜNG MÒN TRƯỜNG SƠN:

Hầu hết con đường chiến lược HCM đều nằm trên rặng Trường Sơn, kể cả tuyến xuất phát tại Vinh (Nghệ An), cho tới đoạn cuối cùng rẽ vào Phước Long. Rặng trường Sơn là xương sống của Trung phần, khởi đầu từ sông Cả tới sông Bông (Quảng Nam), chạy dọc theo biên giới Việt Lào. Từ bắc vào nam, có nhiều rặng núi cao trên 2500m, như Pu-Sai- Lai-Leng ở Nghệ An cao 2711m, Vụ Quang tại Hà Tĩnh cao 2286m, A Tuất ở Thừa Thiên cao 2550m... Nhưng nhờ có nhiều đèo như Kéo Nưa trên núi Bà Mụ, đèo Mụ Giạ ở Hà Tỉnh, đèo Lao Bảo trên quốc lộ 9, nên sự thông thương giữa Lào-Việt rất thuận tiện. Từ năm 1960 về sau, Bắc Việt lợi dụng những đường đèo trên, để nối liền nhánh Trường Sơn Ðông ở VN sang Trường Sơn Tây, hoàn toàn nằm trên đất Lào.

Rặng Trường Sơn từ phía nam sông Bông tới Miền Ðông Nam Phần, được gọi là Cao Nguyên Nam Trung Phần, vì độ cao chỉ còn trung bình 1000m, trừ phía bắc tỉnh Kon Tum, cửa ngỏ của Bắc Việt xâm nhập vào Vùng 2 chiến thuật, lại có nhiều rặng núi cao, rất đồ sộ và hiểm trở như Ngọc Lĩnh (2598m), Movia (2338m), Ngok Krin (2215m). Tại tỉnh Pleiku, cao nguyên Nam Trung Phần, hơi cao ở mạn đông tại ranh giới các tỉnh Phú Bổn, Bình Ðịnh nhưng lại thấp dần ở Miền Ba Biên Giới. Lợi dụng địa thế thiên nhiên vùng này, Hà Nội đã làm một nhánh rẽ, từ Ðức Cơ-Pleime xuống miền duyên hải Trung phần.

Khởi đầu từ năm 1959, đường mòn HCM do Hai xe ngựa (Võ Bẳm) sáng tạo, thật sự chỉ là một tuyến đường gùi vô cùng bí mật, với “ đi không để dấu, nấu không để khói và nói không thành tiếng “. Sau đó theo thời gian và nhu cầu chiến cuộc, tuyến gùi phát triển dần thành tuyến đường thồ xe đạp, rồi đường xe ô tô với đường dây điện thoại cùng hệ thống ống dẫn dầu, chạy song song kế đường mòn. Có thể gọi đây là một Bát Quái Trận Ðồ cũng không ngoa chút nào vì con đường có tới hằng trăm, hằng ngàn nhánh nhỏ, chạy chằng chịt dọc ngang, từ đông sang tây, khắp nam tới bắc, chẳng biết đâu mà mò, kể cả VC, nếu không có giao liên hướng dẫn, vẫn bị lạc chết đói, như Dương Thu Hương đã kể trong tiểu thuyết “Vô Ðề “. Sau năm 1973 khi hiệp định ngưng bắn ra đời, Kissinger cho phép quân Bắc Việt ở lại VNCH hợp pháp như là một thực thể chính trị, giúp Hà Nội ngang nhiên xây dựng con đường chiến lược trên, thành một xa lộ đất, xe cộ xuôi ngược rộn rịp đêm ngày. Năm 1974, chủ tịch cọng sản Cuba là Fidel Castro đã tặng cho Hà Nội, một dàn thiết bị máy móc, làm cầu đường do Nhật chế và còn giúp một đơn vị công binh, tới tận Quảng Trị hướng dẫn công binh Bắc Việt, làm chiếc cầu dây treo Dakrong, nằm trên ngã tư Khe Sanh-Tchépone và đường mòn. Sau đó chính Fidel Castro tới tận chỗ để làm lễ khánh thành cầu, còn được hướng dẫn đi thăm Ðông Hà, mà Bắc Việt khoe là vùng giải phóng, từ sau trận Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972.

Theo các tài liệu hiện hành của cả mọi phía, có trong thư viện và báo chí VC sau này, thì hệ thống đường mòn HCM, chạy dài từ Trung Lào tới Cam Bốt, sự thật là hoàn toàn nằm trên lãnh thổ Lào-Miên. Con đường này được xâm nhập vào lãnh thổ VNCH bằng năm nhánh rẽ với 21 trục giao liên, có chiều dài tính theo đường đất tổng cộng hơn 12.000 dặm Anh. Con đường được mang nhiều tên, và chỉ có đoạn trên lãnh thổ Bắc Việt mới được gọi là đường Hồ Chí Minh. Riêng khúc đường chạy trong lãnh thổ Lào và Nam VN lại có nhiều tên như đường Thống Nhất, Dân Tộc Giải Phóng và Cách Mạng. Còn đoạn cuối trên đất Miên là đường mòn Sihanouk. Ðể bảo toàn bí mật, tất cả hàng hóa, quân dụng, vũ khí và bộ đội xuất phát từ ga Hàng Cỏ (Hà Nội) hay Vinh (Nghệ An), đều được đưa tới cửa ngõ Tân Kỳ (Nghệ An) hay Quán Trại (Ðức Thọ-Hà Tĩnh), để vào Quảng Bình và Quảng Trị, rồi từ đó mới xuất tuyến xâm nhập vào Nam. Nhưng đường đi, dù ở trong lãnh thổ Bắc Việt, vẫn vô cùng nguy hiểm, vì bị phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc hằng ngày, nhất là tại thung lũng tử thần Ðồng Lộc. Ở đây, đường chạy giữa hai rặng núi cao, bên này là Rú Mòi, còn phía kia mang tên Sọ Voi. Ðây chính là cửa ngỏ đầu tiên, của đường mòn HCM, nối liền bắc VN tới lãnh thổ Lào. Từ đó đường mòn mang tên Trường Sơn Tây, tiếp tục tới Khâm Muôn (Lào), thì gặp Ðường 20 Quyết Thắng, từ Phọng Nhạ (Quảng Bình) sang. Khúc đường này dài hơn 127 km, chạy len lỏi giữa khu rừng già Kẽ Bàng và miền hoang địa Bulapha của Lào.

Theo báo Aux Ecoutes du Monte, thì hải cảng Vinh (Nghệ An), là yết hầu của đường mòn HCM, vì gần như mọi thứ đều xuất phát ở đây, để xâm nhập vào Nam. Cũng từ đây, đường được phân làm ba nhánh qua Lào, để tránh thiệt hại vì sự oanh tạc của máy bay Mỹ. Riêng tổng hành dinh của Ðoàn 559A, thì đóng rải rác trong khu tam giác các thị trấn Napé, Kamkeut, Kanmon... nằm dọc theo con sông Nam Pao của Lào. Ðây là một quân chủng đặc biệt của cọng sản Bắc Việt, gồm công binh, vận tải, trách nhiệm bảo trì, sửa chữa con đường, đồng thời phân phối quản trị đoàn dân công, xe tải chuyển vận bộ đội, vũ khí, tiếp liệu từ bắc vào chiến trường miền Nam.

Tại ngã ba Khâm Muôn, giao điểm của hai nhánh Quyết Thắng 20 và Tân Kỳ, đường mòn HCM, đi vào khu rừng già Hạ Lào, cặp kè với con sông Nam Cà Dinh, chạy tới đỉnh dốc đứng 1001 trên núi Răng Cọp. Từ đây đường mòn đổi tên thành Trường Sơn, sau khi vượt qua vĩ tuyến 17, để tới thị trấn Tchepone (Muang Xepon) nằm trên quốc lộ 9. Ðây cũng là phân nhánh đầu tiên của đường mòn Trường Sơn, xâm nhập lãnh thổ VNCH, để tấn công các căn cứ quân sự Lao Bảo, Khe Sanh, Làng Vei, Cà Lu... trong tỉnh Quảng Trị. Sau đó, đường mòn vẫn tiếp tục chạy trên đất Lào tới núi Ấp Bia (937m), một địa danh nổi tiếng, trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1960 -1975), được một ký giả ngoại quốc, chứng kiến tận mắt cảnh hàng ngàn xác bộ đội Bắc Việt, bị banh thây bỏ lại tại chiến trường, vì bom đạn phi pháo, nên đã đặt là Hambuger Hill. Tại đây, đường lại được phân nhánh tới các thung lũng A Lưới, Tà Bạt và A Shau. Ðây là bàn đạp mà Hà Nội tập trung bộ đội, để tấn công Thừa Thiên và Ðà Nẳng. Sau khi vượt qua cao nguyên Boloven gần ngã ba biên giới Việt-Lào-Miên, đường mòn lại phân thành hai nhánh khác chạy vào lãnh thổ VNCH, một nhánh phát xuất từ Savarane tới Dakto, Tân Cảnh, Kontum... trước khi ngang qua các trại Lực Lượng Ðặc Biệt Benhet, Dakto... Nhánh khác từ Attopeu vào Pleiku, ngang qua Trại LLÐB Ðức Cơ, Pleime. Nằm giữa hai nhánh rẽ này vẫn trên đất Lào, là mật khu 609 của Bắc Việt. Kể từ đây, đường mòn Trường Sơn đổi thành đường mòn Sihanouk, với nhiều mật khu như 702, 701, 740, 203, 351, 350 và 400. Trên đất Miên, đường mòn có một nhánh rẽ vào Phước Long và phần cuối cùng chạy xuống tận hải cảng Kampong Som (Sihanouk Ville) của Miên. Chính tại đây, Bắc Việt nhận trực tiếp hàng hóa viện trợ của Nga, Tàu và Ðông Âu, tới năm 1970 mới chấm dứt, khi Sihanouk bị Lonnol lật đổ. Nhờ đó Hoa Kỳ và QLVNCH mới được phép hành quân sang đất Miên theo lời yêu câu của chính phủ mới, nên mới tiêu diệt gần như tất cả các mật khu của Bắc Việt tại đây, qua các cuộc hành quân Toàn Thắng và Cửu Long.

Tóm lại suốt cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai, ngoài số nạn nhân chết bởi bom đạn, giao tranh, phần lớn bộ đội, cán binh cọng sản miền bắc, được ghi nhận là ngã gục trên đường Trường Sơn, vì trăm ngàn nỗi gian lao cực nhọc và bệnh tật, đó là chưa kể tới chết khi đụng trận, bị bom đạn oanh tạc, mìn bẫy... Hàng vạn nấm mồ hoang lạnh, được vùi lấp vội vàng, trên con đường dài heo hút, chỉ một thời gian ngắn, đã biến thành phân mục, bón xanh thêm cây lá rừng hoang, như Trần Xuân Lợi, một bộ đội vượt tuyến đã viết:

"Những hồi mưa ngớt

Tựa nghĩ gốc cây

Nhìn rừng không nói

Nhìn mây chẳng thấy

Chỉ có núi đèo

Kế nhau nối tiếp

Oại là khủng khiếp

Cho cảnh Trường Sơn..."

Hay: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ, chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, áo bào thay chiếu anh về đất, sông núi gầm vang khúc độc hành - Quang Dũng“. Tất cả là sự thật, mà Ðại Tá Võ Ðại Tôn, tức nhà thơ Hoàng Phong Linh, trong cuộc Ðông Tiến bất thành, khi trở về VN để giải phóng quê hương sau năm 1975, đã ghi lại:

"Ðỉnh núi cao mây vờn,

đá nghìn năm quên tuổi

ta lạc loài như dã thú không tên

qua Tchépone, Boloven

về Hạ Lào thăm thẳm

Atopeu đường xa muôn dặm

Rừng tây nguyên heo hút trong tim..."

Con đường có rất nhiều đoạn dài, xuyên giữa rừng già bất tận, phi cơ quan sát hay không ảnh cũng bó tay, ngoại trừ sự xâm nhập của các Toán Biệt Kích, thuộc binh chủng LLDB/VNCH.

Ðể bảo vệ con đường chiến lược này, Bắc Việt thành lập Ðoàn 559A, gồm nhiều binh trạm, mỗi nơi có quân số tương đương một trung đoàn tác chiến. Giữa hai khu vực, có các toán giao liên và các kho dã chiến. Vùng nào lo vùng nấy, không ai biết gì tới các khu vực lân cận. Tóm lại, Ðoàn 559A chỉ có trách nhiệm từ vĩ tuyến 17 đổ vào nam mà thôi. Riêng phía bên này vĩ tuyển ra tới Bắc Việt, bổn phận tái tạo và giữ tốt, các tuyến đường giao thông, tiếp vận cho chiến trường, được giao cho hàng vạn thanh niên nam nữ, trong ba tổng đội Thanh Niên Xung Phong. Do trên đã có không biết bao nhiêu người tuổi trẻ, phải gục chết giữa bom đạn, khi bị bắt buộc bám trụ tại chỗ, để mỗi lần phi cơ Mỹ oanh tạc vừa dứt, thì họ với sức người và cuốc xẻng, ào ra chiến trường, để lấp hố bom trên mặt đường vừa bị cầy nát. Bởi thế giao thông không bao giờ bị gián đoạn.

B - CÁN BINH, BỘ ÐỘI BẮC VIỆT TRÊN ÐƯỜNG MÒN HCM:

Với mục đích lường gạt dư luận thế giới, đánh lận con đen, chối bỏ việc trắng trợn xâm lăng VNCH, nên cọng sản Bắc Việt lúc nào cũng tổ chức cuộc chuyển quân vào Nam, thật bí mật. Thêm vào đó là sự phụ họa rất ăn khớp nhịp nhàng của một số báo chí theo VC tại miền Nam, nên Hà Nội gần như đâm mù cả nhân loại, khiến ai cũng tin là cuộc chiến tại miền nam, là do chính người miền nam vì bất mãn chính phủ độc tài tàn bạo, nên nỗi loạn chống phá, chứ miền bắc không hề can dự. Thời gian đầu cuộc chiến, việc chuyển quân từ bắc vào nam, thật vô cùng khó khăn nguy hiểm. Vì thế chỉ có bộ binh vượt tuyến mà thôi. Còn vũ khí quân dụng, được chuyển vận bằng ghe thuyền tại tuyến đường 559B trên Ðông Hải, do Ðồng văn Cống phụ trách. Trước tết Mậu Thân 1968, bộ đội Bắc Việt vào Nam, được bồi dưỡng và huấn luyện trong thởi gian 8 tháng, với tiêu chuẩn 2 đồng 40 xu tiền Hồ/1 ngày. Trước khi lên đường “ sanh bắc tử nam”, các cán binh bộ đội được cấp 5 ngày phép về thăm gia đình. Vì chủ nghĩa xã hội miền bắc rất công bình, con trốn quân dịch, cha mẹ dù có già 100 tuổi vẫn phải đi thế, ngoài ra tất cả tem phiếu, sổ gia đình đều bị tịch thu. Nên trong một xứ mà tất cả nhu yếu phẩm đều phải bó buộc mua tại cửa hàng quốc doanh, chợ nhà nước, thì đâu có ai dám không đi lính, để vừa khổ thân lại làm liên lụy cho gia đình. Ở Bắc Việt, cũng không có chùa, nhà thờ và trường đại học, nên cũng không có chế độ hoãn dịch vì tu xuất hay học hành. Còn du học hay xuất ngoại, thì chỉ dành ưu tiên cho con cái và gia đình cán bự cỡ tổng bộ trưởng và hàng trung ưởng đảng, nên sau khi hết phép, ai nấy đều trở lại để lên đường vào Nam theo lệnh đảng.

Trên đường tiến quân còn trong lãnh thổ Bắc Việt, các đơn vị chính quy hành quân, vẫn xử dụng quân phục cố hữu bằng vải kaki Nam Ðịnh, với mũ bầu có bọc vải dầu, màu xanh lá cây... Quân xa sẽ chở bộ đội tới Lào, qua một trong ba tuyến đường chiến lược, nối liền hai nhánh Trường Sơn Ðông và Tây, tại Ðồng Lộc (Hà Tĩnh), Phong Nhạ (Quảng Bình) và Vĩnh Linh ( Quảng Trị ), để tới biên giới VNCH. Tại đây, bộ đội cọng sản Bắc Việt, sẽ lột xác hoàn toàn thành người “ Giải Phóng Quân “ trong MTGPMN của Anh Thọ, chị Bình, chị Ðịnh Bến Tre lập ra. Tóm lại tất cả những gì có liên hệ tới cọng sản miền Bắc, đều phải hoàn trả hết cho cán bộ chính trị đơn vị. Từ đây bộ đội chính quy miền bắc là giải phóng quân miền nam, dù cả hai đều là đảng ta đó, nên phải mặc đồ bà ba đen, khăn rằn quàng cổ, mang dép râu, đội mũ tai bèo, y chang như VC tại Nam phần đã sắm tuồng từ năm 1960. Cả tới cờ hiệu, cũng phải dùng cờ MTGPMN, nửa xanh nửa đỏ giữa có sao vàng. Còn bài hát thì đã có bản “ Giải phóng miền nam “ của Nguyễn Minh Siêng tức Lưu Hữu Phước.

Trước khi hiệp định Ba Lê 1973 ký kết, nhằm hợp thức hóa cũng như cho phép bộ đội chính quy Bắc Việt, được công khai đóng ngay trên lãnh thổ VNCH, thì sự di chuyển trên đường mòn HCM rất khó khăn nguy hiểm, kể cả các tuyến giao thông chiến lược, nối Bắc Việt với nhánh Trường Sơn Tây, nằm trong lãnh thổ Trung Lào, vì phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc ngày đêm liên tục. Nên chỉ riêng đoạn đường, từ điểm xuất phát đầu tiên tại Tân Kỳ (Nghệ An), tới thi trấn Tchepone (Hạ Lào), cũng phải mất từ 2 -3 tháng. Sau đó các đơn vị bộ đội chính quy miền bắc, được các toán giao liên hướng dẫn vượt tuyến và xâm nhập các trục vào lãnh thổ VNCH để hoạt động, tuỳ theo nhiệm vụ được đảng giao phó. Sau tháng 2-1973, không quân Hoa Kỳ chính thức rút khỏi cuộc chiến, còn VNCH thì không đủ phương tiện để ngăn chận, nên Bắc Việt gần như công khai hoạt động, không cần che đậy để lừa bịp dư luận như trước. Do trên, con đường mòn được tu bổ thành một xa lộ đất. Dọc đường, thiết lập nhiều khu dưỡng quân, bệnh xá, kho tiếp liệu. Song song là một hệ thống ống dẫn dầu, xăng, cùng một đường dây điện thoại cao thế, do Liên Xô và các nước Ðông Âu cung cấp viện trợ, bơm dầu từ các tàu nhiên liệu cập bến ở Nghệ An. Tại các mật khu cũng như địa điểm trọng yếu, Bắc Việt cho bố trí một mạng lưới phòng không dầy đặc, với đủ loại súng đại bác do Nga Xô, Ðông Ðức viện trợ như súng cao xạ, hỏa tiễn loại 35 và 57 ly. Từ năm 1965 tới 1967, ước chừng 7000 bộ đội chính quy xâm nhập miền Nam hằng tháng. Trong đợt tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, quân số cọng sản Bắc Việt, có mặt tại lãnh thổ VNCH hơn 100.000 người. Ðể chuyên chở người, quân dụng và vũ khí vào Nam trên đường mòn Trường Sơn, Hà Nội đã huy động một số quân xa, từ 1250 -1700 chiếc. Những quân xa này đều do Trung Cộng, Liên Xô viện trợ, gồm các hiệu Zills, Molotova... loại 130 bốn bánh và 157 sáu bánh, có trọng tải từ 4-6 tấn. Ngoài ra có một đoàn dân công khổng lồ, thi hành theo cái gọi là “nghĩa vụ lao động“, từ 16-55 tuổi không phân biệt nam nữ, để giữ hộ khẩu và được sống yên trong chế độ công an khu vực. Hàng hóa phần lớn được chuyển vận vào Nam bằng sức người, xe đạp và voi.

Sau tháng 5-1975 chiến tranh chấm dứt, có rất nhiều bí mật được bật mí, phần lớn nhằm làm sáng tỏ lý do thất bại của Quân Lực Ðồng Minh, Hoa Kỳ và VNCH trong cuộc chiến Ðông Dương, mà nỗ lực chính là ngăn chận và phá vỡ hệ thống đường mòn Trường Sơn, hành lang chính để cán binh bộ đội cọng sản Bắc Việt, xâm lăng Miền Nam. Ðồng thời phơi bày ra ánh sáng, thảm trạng “ Mạng người lá rụng “ vì đường đi không tới, của hằng trăm ngàn người “sinh bắc tử nam“. Tất cả nạn nhân chiến tranh trên, chẳng có ai vì nhiệt tình cách mang, ngu để phải chết thảm thê vì đụng độ, máy bay oanh tạc, hải pháo và bệnh tật không có thuốc men chữa trị. Và dù phía VNCH không đạt được chiến thắng cuối cùng nhưng rõ ràng họ đã tiêu diệt và phá vỡ gần hết những mật khu quan trọng của Bắc Việt, trên đuờng mòn Trường Sơn, như 604 tại yết hầu Tchépone-Hạ Lào và 611 trong thung lũng Ashau, gồm nhiều binh trạm, hậu cần, ống dẫn dầu cùng các tổng kho tiếp tế. Tác giả Lane Rogers cũng là Ðại Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, từng tham dự nhiều trận chiến trên đường mòn, đã viết :” Ðể bảo vệ và hoạt động được liên tục trên hành lang chuyển quân, Bắc Bộ Phủ đã thí quân một cách vô nhân đạo. Ðó là lý do nhiều lần con đường chính và năm nhánh rẽ vào Nam VN, tưởng như đã bị phá vỡ hoàn toàn. Nhưng rồi đoàn kiến người cũng tìm đủ mọi ngõ ngách khác để xâm lăng miền Nam. Riêng Thống Tướng Westmoreland, cựu Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ và Ðồng Minh, chiến đấu tại VN, thì giải thích lý do thất bại của Mỹ, trong nỗ lực hủy diệt con đường này, phần lớn do trở ngại thiên nhiên, là chốn ma thiêng nước độc, gây sự sợ hãi chết chóc nhiều nhất trên thế giới.

3- Máu Ðẫm Trường Sơn (1960-1975):

Hai mươi năm chiến cuộc VN, đã cướp mất đi hằng triệu thanh niên nam nữ hai miền đất nước, cũng như đồng bào vô tội. Sự tủi nhục và đau lòng nhất, riêng chỉ có kẻ trong cuộc và dân chúng xã nghĩa Bắc Việt mới hiểu thấu. Riêng người miền Nam sống tại các đô thị lớn như Sài Gòn, Huế, Cần Thơ... gần hết chỉ hiểu một cách đại khái, mù mờ, qua tài liệu, báo chí và sự tuyên truyền của cả hai phía. Họ đâu có bao giờ biết rằng, trong suốt cuộc chiến, Bắc Việt, Hoa Kỳ và QLVNCH, đã dành giựt từng thước đất trên đỉnh Trường Sơn, vì một bên thì quyết lòng dùng máu xương người để xây huyết lộ, còn phía bên kia cũng lấy mạng sống, bom để phá hủy cho tận tuyệt. Nói chung cả hai phía đều xử dụng tối đa mạng sống con người Việt, qua các khẩu hiệu hào nhoáng nhưng mặt thật, cũng chỉ để phục vụ cho quyền lợi riêng tư của họ mà thôi.

A- VỀ PHÍA CỌNG SẢN BẮC VIỆT:

Sau khi Thủ Tướng Liên Xô Nikita Khrushchev, phát pháo mở màn cuộc chiến giải phóng toàn cầu vào ngày 6-1-1961, cũng là thời gian khởi đầu cho tới ngày 30-4-1975, Bắc Việt xâm lăng cưỡng chiếm VNCH. Ngoại trừ các chóp bu ngồi tại Bắc Bộ Phủ, không ai có thể biết rõ, đã có bao nhiêu cán binh, dân công và thanh niên xung phong đã bị thương vong vì cuộc chiến. Phần thì cọng sản quen bưng bít sự thật, hơn nữa trong chủ nghĩa thiên đàng, không có chế độ thương binh ngoài mặt trận. Nên tất cả những điều Ðảng tuyên bố, gần như là tuyên truyền láo bịp, nên sự thật đâu biết sao mà mò? Nhưng chắc chắn có điều, gần hết các trận đánh khốc liệt , đều xảy ra trên hành lang chiến lược Trường Sơn, từ sự hủy diệt bằng bom mìn, hàng rào điện tử, chiến tranh khí tượng, thuốc khai quang, không quân cho tới những đụng độ trực tiếp giữa Bắc Việt với Hoa Kỳ và VNCH, mà cao điểm là cuộc hành quân Lam Sơn 719, tại Hạ Lào -1971.

Trên lãnh thổ Bắc Việt, trực diện với bom đạn hằng ngày, là những nam nữ thanh niên, trong các Tổng Ðội Thanh Niên Xung Phong. Nhiều người đã bị chết một cách oan khiên tức tưởi, tại ngã ba Ðồng Lộc (Hà Tĩnh), Ðường 20 Quyết Thắng (Quảng Bình), Hưng Hóa ( Quảng Trị ) khi bị bắt buộc thi hành các công tác hiểm nguy như giao liên đơn độc giữa rừng núi muôn trùng, làm mốc hướng dẫn đoàn xe đến các địa điểm tránh bom Mỹ... Trong muôn ngàn thảm kịch, được đưa lên phim quảng cáo, vẫn thảm nhất là cái chết của 10 cô gái TNXP, thuộc Tiểu Ðội 4/Tổng Ðội 53 - Hà Tĩnh, bị bom đánh sập, chôn sống tập thể tại Ngã Ba Ðồng Lộc, vào sáng ngày 24-7-1968. Hoặc chuyện bốn cặp TNXP và công binh, cũng bị chết ngạt trong một cái hang núi tại Kẽ Bàng (Quảng Bình)... Nhưng đây cũng chỉ là một trong hằng triệu cái chết vô danh của phận người xấu số trong chiến tranh, nếu đem so sánh với những cái chết khác tại các tuyến đường rẽ vào lãnh thổ VNCH.

Không kể đến sự đụng độ thường xuyên giữa các Toán Biệt Kích Quân cảm tử, thuộc Binh chủng LLĐB/VNCH và cán binh Bắc Việt, trên mọi ngõ ngách của đường mòn Trường Sơn, ngay cả trong lãnh thổ Bắc Việt. Kể từ năm 1965 tới khi có Hiệp định Ba Lê 1973, đã có không biết bao nhiêu trận đánh lớn giữa cọng sản miền bắc và quân lực Ðồng Minh, Hoa Kỳ cũng như QLVNCH. Ðiển hình như các trận PLEIME -1965, giữa Toán A217 Biệt Kích Mỹ-Việt, TÐ91BCD/LLĐB, TĐ1/TrĐ45/SĐ23BB, TĐ21+22/BĐQ, Chi Ðoàn 3 Thiết kỵ/VNCH với 3 Trung Ðoàn 32, 33, 66 cọng sản Bắc Việt. Ngày 27-10-1965, SĐ1 kỵ binh không vận Hoa Kỳ, hành quân tại thung lũng IA-DRANG, Pleiku, bẻ gãy âm mưu tập trung của 3 SĐ Bắc Việt, nhằm chia cắt VNCH thành hai mảnh. Tháng 12-1965, Bắc Việt lại tấn công 2 Trại LLĐB Tà Bạt, A Lưới (Thừa Thiên), một trận đụng độ đẫm máu giữa cọng và Mỹ+VNCH tại căn cứ Ashau, một tiền đồn ngăn chận cán binh Hà Nội, tràn xuống miền duyên hải.

Mùa thu năm 1967, Bắc Việt tấn công đồng loạt nhiều tiền đồn VNCH trên đường rẽ vào Chiến khu C (Phước-Bình Long) cũng như Kontum, vì 2 khu vực này là cửa ngõ chiến lược quan trọng nhất trên hành lang xâm lăng VNCH của cọng sản Bắc Việt. Ðể giải tỏa áp lực tại Tiền đồn Dakto, 16 tiểu đoàn thuộc SĐ4BB + SĐ Dù/Hoa Kỳ và Lực lượng Nhảy Dù VN, đã ác chiến với 1 SĐ Bắc Việt, thương vong hai phía rất nặng.

Trên QL9 từ Hạ Lào vào Quảng Trị, có Tiền Ðồn Khe Sanh là căn cứ của Biệt kích quân VNCH, thành lập từ tháng 7-1962. Ðây cũng là điểm xuất phát các Phi Vụ Tiger Hound rải quân xâm nhập đường mòn HCM. Như các căn cứ Cồn Tiên, Gio Linh, Caroll, Cam Lộ... Khe Sanh là các tiền đồn, đối diện với vùng biên giới phía bắc khu phi quân sự vỹ tuyến 17 lãnh thổ Bắc Việt. Bởi vậy cọng sản luôn tìm mọi cách tiêu diệt cái gai nhọn Khe Sanh, đâm vào yết hầu đường mòn Trường Sơn. Cuối năm1967, trưóc khi mở màn cuộc tấn công đẫm máu Tết Mậu Thân 1968, Võ Nguyên Giáp đã mở một mặt trận Ðiện Biên Phủ thứ 2 tại thung lũng Khe Sanh, với ý muốn dụ quân Mỹ vào rọ để tiêu diệt như đã từng xảy ra vào năm 1954 trên đất bắc. Nhưng Giáp đã tính toán sai, vì Hoa Kỳ mạnh hơn Pháp cả 100 lần, lại có một lực lượng hải pháo không quân hùng hậu, nên cuối cùng Bắc Việt phải chém vè về Hạ Lào, bỏ lại tại Khe Sanh hơn 20.000 xác bộ đội, tỷ lệ 90% quân số tham dự trận chiến. Cũng tại đây, ngoài quân Mỹ, còn có một đơn vị VNCH duy nhất được tăng phái, đó là TĐ37 Biệt Ðộng Quân. Ðơn vị này dù quân số ít ỏi, lại bị nằm tiền đồn nhưng suốt thời gian chiến cuộc, đã giữ vững được phòng tuyến phía nam của căn cứ Khe Sanh, qua nhiều đợt tấn công biển người của SĐ304 Bắc Việt.

Trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, cọng sản thất bại hoàn toàn trên chiến trường, nên hầu hết tàn binh đều rút về phía bên kia biên giới Việt-Miên-Lào, trên đường mòn Trường Sơn. Phía VNCH và Hoa Kỳ đã mở nhiều cuộc hành quân truy quét. Tại Vùng 1 chiến thuật, ngày 16-4-1968 SĐ1 Kỵ binh Mỹ + TrĐ3/SĐ1BB/VNCH hành quân Lam Sơn 216 - Delaware tảo thanh vùng A Lưới. Kế tiếp hành quân Sonerset Plain Lam Sơn 246 của SĐ101 Dù Mỹ + TrĐ1/SĐ1BB/VNCH tại vùng A Lưới, Tà Bạt và mật khu 609. Ðầu năm 1969, SĐ101 Dù + TrÐ9/TQLC/HK + TrĐ3/SĐ1BB/VNCH tảo thanh thung lũng A Shau. Vùng này có một ngọn núi cao trên 1000m, nằm ngay biên giới Lào-Việt, như một bình phong án ngữ các căn cứ A Lưới, Tà Bạt, A Sha. Một trận đụng độ kinh khiếp đã xảy ra tại đây giữa hai phía. Cùng tham chiến, không quân, pháo binh và các pháo đài bay B52, đã giội xuống chiến trường hơn một triệu cân Anh bom các loại, trong số này có 152.000 cân Anh bom lửa, khiến cho đồi núi, cỏ cây, rừng xanh và xác cán binh bộ đội cọng sản Bắc Việt bỏ lại khi chém vè, đều biến thành tro bụi. Cảm thương cho số phận con người vì tem phiếu, hộ khẩu, mà phải sinh bắc tử nam, nên một ký giả Mỹ có mặt tại trận địa, viết bài trên báo, đã ví von đặt tên núi Ấp Bia là Hamburger Hill. Sau này, báo chí VC hãnh diện tuyên truyền với thế giới, vì Mỹ chết nhiều quá, nên mới có cái tên ngộ nghĩnh trên.

Nhưng một biến cố cực kỳ quan trọng trên, gần như làm đảo lộn chiến lược xâm lăng miền nam của Bắc Việt, cũng như chiến thắng gần kề của VNCH, nếu như Nixon-Kissinger không bán đứng Miền Nam cho Bắc Việt, qua cái gọi là Hiệp định Ba Lê 1973. Ðó là cuộc chính biến trên đất Miên vào năm 1970. Ai cũng biết Kampuchia từ năm 1960, là hậu cứ an toàn của cọng sản Bắc Việt, để nhận trực tiếp hàng hóa quân dụng viện trợ của các nước XHCN, tại hải cảng Sihanouk Ville nằm trong vịnh Thái Lan. Ðây cũng là tổng hành dinh của Cục R, đầu não chỉ huy của đảng bộ cọng sản miền nam, qua ngụy danh MTGPMN. Ngày 18-3-1970, Lonnol lật đổ Sihanouk và theo Mỹ. Quân Miên cũng được lệnh tấn công các mật khu của Bắc Việt trên đất Miên. Chiến tranh đã nổ toàn diện trên đất chùa Tháp. Liên quân Khmer Ðỏ của Polpot và VC phản công và bao vây thủ đô Nam Vang, đồng thời người Miên qua sự xúi ngầm của tân chính phủ Lonnol, đã đồng loạt “CÁP DUỒNG“ Việt Kiều khắp nơi, gây thảm trạng thương đau cho hằng vạn người dân vô tội, bị vạ lây do Bắc Việt gây ra từ mấy năm trước.

Ðể cứu đồng bào về nước, đồng thời mượn dịp thanh toán các căn cứ địa và cục R tại biên giới Việt-Miên, theo yêu cầu của Lonnol. Do trên, QLVNCH đã tổ chức các cuộc hành quân rất qui mô, mang tên Toàn Thắng 41, 42, 43 do QĐ3 đảm trách. Song xong QĐ2 cũng hành quân Bình Tây và QĐ4 có hành quân Cửu Long. Trừ cuộc hành quân Toàn Thắng 43, do lực lượng hỗn hợp Việt-Mỹ, gồm SĐ1 Không vận Hoa Kỳ + Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù và Thiết Ðoàn 2 Kỵ binh/VNCH. Tất cả các cuộc hành quân khác, đều do QLVNCH đảm trách, đã giúp Lonnol chiếm lại thủ đô Nam Vang, hải cảng Sihanouk Ville, đồng thời phá vỡ gần như toàn diện các mật khu của VC, trong đó có Trung Ương Cục R. Trên biển Ðông, Hải quân Mỹ còn tổ chức cuộc Hành quân Market Timer, để truy đuổi các tàu thuyền của Bắc Việt, trong việc chuyển vận quân trang quân dụng vào Nam, bằng tuyến đường biển 559B.

Ðể cứu sống đoàn quân xâm lăng đông đảo, đang có mặt ở miền nam, trong lúc các căn cứ tiếp vận tại Miên vừa bị phá hủy, nên cọng sản Bắc Việt đã gia tăng quân lực, bằng mọi giá giữ vững cho được Huyết lộ HCM trên đất Lào, mà trọng điểm là Thị trấn hoang tàn Tchépone. Ðây cũng lý do mà QLVNCH đã mở cuộc Hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào năm 1971, một trận chiếm đẫm máu nhất trong Ðông Dương thế chiến 2 (1960-1975). Phía VNCH có 17.000 quân tham dự, gồm các SĐ Nhảy Dù, SĐ TQLC, SĐ 1BB, Liên Ðoàn 1BĐQ và Lữ Ðoàn 1 Thiết Giáp. Về phía cọng sản Bắc Việt có Quân Ðoàn 70B, các SĐ2, 304, 308, SĐ phòng không... Quân Mỹ chỉ đóng bên kia biên giới, yểm trợ không vận, hải pháo, pháo binh... Cuộc hành quân kết thúc ngày 25-4-1971 sau khi Trung Ðoàn 2/SĐ1BB/VNCH tiến vào thị trấn Tchépone. Dù bị thiệt hại rất nặng nhưng QLVNCH đã phần nào đạt được mục tiêu chiến lược, là phá hủy hoàn toàn nhiều căn cứ tiếp liệu của Bắc Việt, tại mật khu 609 và 611 trên đường mòn HCM.


Các mũi xâm nhập của Cộng quân Bắc Việt từ hướng đường mòn Hồ chí Minh - Ảnh PSYOP

B- VỀ PHÍA VNCH:

Trong suốt cuộc chiến, hầu như tất cả mọi binh chủng của QLVNCH đều có mặt tại đường mòn Trường Sơn, kể cả Cảnh Sát Dã Chiến, Xây Dựng Nông thôn, ĐPQ+NQ... Tuy nhiên đã có một Binh Chủng Ðặc Biệt, từ ngày thành lập vào năm 1957, tới khi rã ngũ tan hàng, đã đơn độc hoạt động âm thầm trong lòng địch, trên suốt đường mòn HCM từ đông sang tây, ngay cả trong lãnh thổ của Miên và Lào. Họ là những chiến sĩ “ BIỆT KÍCH-BIỆT CÁCH “, không có sự yểm trợ nào của đơn vị bạn và hoàn toàn tụ lực cánh sinh để mà sống trong núi rừng, nhiều nơi chưa hề có dấu chân người.

Binh chủng LLĐB có cấp số sư đoàn, bao gồm các đơn vị như Sở liên lạc, Sở công tác, Sở khai thác địa hình, các liên đoàn tác chiến 31, 77, 81 Biệt cách nhảy dù và Trung tâm Huấn luyện LLĐB Ðồng Ba Thìn tại Cam Lâm-Khánh Hòa.

Như Kinh Kha ngày xưa, các chiến sĩ Biệt Kích ra đi ít khi được trở về. Một số ít đã bị bắt tại Bắc Việt và chịu kiếp tội đồ, tới nay nhiều người vẫn còn chưa được thả. Vì họ chính là kẻ thù không đội trời chung và cũng là khắc tinh của cọng sản, trên suốt đường mòn. Tóm lại nơi nào có VC thì nơi đó có LLĐB. Hai bên đã trường kỳ đấu trí trong suốt cuộc chiến, qua đủ mọi hình thức. Nhưng vì lý do bảo mật, nên cả hai phía, đều không muốn nhắc tới.

C- VỀ PHÍA HOA KỲ:

Từ năm 1961, Lào trở thành một quốc gia trung lập, nên chính phủ Mỹ đã bị Quốc Hội, nhất là tên thượng nghị sĩ đảng dân chủ thân cộng William Fullbright và cái gọi là ủy ban ngoại giao, tìm đủ mọi cách ngăn chận cấm đoán quân Mỹ can thiệp vào đất Lào. Trong lúc đó, cọng sản Bắc Việt không hề đếm xỉa tới cái gọi là hiệp định Genève 1961(1), tự tác mở con đường Tây Trường Sơn ngay trên đất Lào, để làm hành lang chuyển quân và tiếp vận xâm lăng miền nam. Cũng do Quốc Hội trói buộc, nên từ đời TT Kennedy cho tới Johnson, cả hai đều dè dặt trong quyết định dùng vũ lực tiêu diệt, ngăn chận sự xâm nhập của cán binh bộ đội, trên đường mòn HCM.

Vì không thể xử dụng bộ binh, để tránh né khỏi bị công luận thế giới và quốc hội chỉ trích, người Mỹ đã dùng các phương tiện chiến tranh khác như oanh tạc, khai quang và dùng hàng rào điện tử. Ngay cả việc xử dụng không quân để oanh tạc cũng vô cùng bí mật, lúc đầu đều do các phi công thuê của Thái Lan, Ðài Loan đảm trách. Về sau vì Bắc Việt đã được Liên Xô giúp thiết trí một mạng lưới phòng không dày đặc, với đủ các loại đại bác, hỏa tiễn tối tân 35, 57 ly... làm nhiều thám thính cơ bị bắn hạ. Vì vậy để thích ứng với hoàn cảnh, Hoa Kỳ quyết định xử dụng những phi cơ oanh tạc Thunderchief từ Thái Lan, cùng các phi cơ F105(2), pháo đài bay B-52 từ căn cứ Guam, cũng như các Hàng Không Mẫu Hạm bỏ neo trên Thái Bình Dương, để oanh tạc liên tục con đường mòn HCM, trên đất Bắc, Lào-Miên và trong lãnh thổ VNCH. Riêng chủ trương của Tướng Westmoreland, tư lệnh các lực lượng Mỹ và Ðồng Minh tham chiến tại VN, thì luôn muốn dùng bộ binh, để cắt đứt đường mòn HCM ngay trên đất Lào. Nhưng ông đã bị Quốc Hội Mỹ chống đối kịch liệt vì sợ vi phạm hiệp định Geneve 1961(1). Ngoài ra Mỹ cũng luôn lo sợ va chạm quân sự với Trung Cộng, khi tung quân vào Lào để hủy diệt con đường chiến lược HCM. Ðây cũng là những bí ẩn trong cuộc chiến VN mới được bật mí. Năm 1968 kế hoạch vượt biên đánh sang Lào để hủy diệt đường mòn HCM, mang tên EL-PASO sắp được Quốc Hội Mỹ phê chuẩn, thì xảy ra trận Tết Mậu Thân 1968 nên chiến dịch trên đã bị hủy diệt.

12 giờ trưa ngày 30-4-1975, nhờ Tổng thống Dương văn Minh với quyền hạn của Vị Tổng Tư lệnh tối cao, ra lệnh cho QLVNCH lúc đó đang còn chiến đấu khắp các mặt trận, buông súng đầu hàng giặc. Nhờ vậy mà đoàn xe tăng của Liên Xô, chở quân cọng sản Bắc Việt, mới bon bon chạy được trên đoạn chót của đường mòn HCM, là đại lộ Thống Nhất-Sài Gòn, rồi ủi sập hai cổng sắt để vào dinh Ðộc Lập, trống trơn không có phòng thủ, lính gác.

Sài Gòn hai mươi năm dưới chế độ VNCH, gần như lúc nào cũng có biểu tình. Thế nhưng trong ngày “ vinh quang của đảng-bác “, một cơ hội vàng ròng để người miền nam tha hồ xuống đường hoan hô hòa bình, ăn mừng. Tuy nhiên mọi điều xảy ra lại hoàn toàn trái ngược, chứng tỏ người miền nam không phải ai cũng hồ hởi tin hay thân cộng, như một số báo chí thời đó đã xướng. Theo hằng trăm nhà báo ngoại quốc có mặt hôm đó, trong số này có nhiều người thân cộng, cho biết: “ trưa 30-4-1975, khi quân Bắc Việt vào Sài Gòn, đã không có cảnh người thủ đô hàng hàng lớp lớp, túa ra đường, miệng la cờ phất... như họ từng làm qua nhiều biến cố trong quá khứ. “ Nói chung chỉ có cán bộ đảng và SĐ304 khăn đỏ tân lập ra chào đón quân ta về, còn dân chúng Sài đô lớp thì chạy trối chết theo chân Mỹ đi ngoại quốc, số khác lo chôm đồ... nên có ai rảnh để mà biểu tình, xuống đường như đảng mong đợi.

Sau đó Hà Nội cho thu lượm hài cốt cán binh bộ đội đã chết trên đường mòn, tập trung làm nghĩa trang Trường Sơn, tại xã Gio An, quận Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Còn Tỉnh Uỷ Bình-Trị-Thiên thì tổ chức tour du lịch, để du khách trong và ngoài nước tới thăm mấy cái xác xe tăng Mỹ, cây cầu treo Dakrong do công binh Cu Ba làm tặng và đồi Hambuger Hill. Riêng đường Trường Sơn tây thì bỏ hoang hoàn toàn và mới đây Lào cho phép Trung Cộng trùng tu, nối liền xa lộ Vân-Nam-Bắc Trung Lào mà tương lai con đường này sẽ thông tới hải cảng Kompong Som của Kampuchia, như năm xưa Bắc Việt đã làm.

Nay ngồi ngẫm nghĩ, mới thấy nhà văn Xuân Vũ viết “ Ðường đi tới mà không tới “ là đúng sự thật.

"trăng chiến khu não nùng sầu vạn kỷ

núi nghìn năm quên tuổi đứng cô đơn

đoàn quân xưa hào khí ngút mây vờn

trời quái ác làm vỡ tan tận tuyệt

... đây còn có nhiều bạn bè Phan Thiết

đã vùi thây trong rừng lạnh tây nguyên

họ bây giờ là những cánh chim đơn

hót ảo não nơi lũng đèo khe núi..."

Tết 2005

Xóm Cồn Hạ Uy Di

Viết nhớ bạn hiền

Cố Ðại Uý Trần Văn Thân

Trưởng Toán LLDB

Mất xác trên nhánh rẽ đường mòn HCM - Tháng chạp 1974

HỒ ÐINH-MƯỜNG GIANG

TĐ1/TrĐ43/SĐ18BB

KBC 4424 3435 - 4508

**********************

CHÚ THÍCH

(1) Có lẽ tác giả muốn đề cập tới Hiệp định Genève về Lào (Geneva Agreement on Laos) còn được gọi là Hiệp định Genève 1962 do Anh và Xô-Viết chủ trì, với sự tham dự của 14 nước bao gồm Anh và Nga Xô. Hiệp định Genève về Lào được ký kết vào ngày 23 tháng 7/1962 với chữ ký của 14 nước là Trung cộng, Cambodia, Pháp, Lào, Liên Xô, Anh, Mỹ, Nam Việt Nam, Bắc Việt Nam, Ấn Độ, Gia Nã Đại, Ba Lan, Diến Điện và Thái Lan. Hiệp định Genève về Lào xác định vị trí hòa bình, trung lập, độc lập và dân chủ của Lào, và quy định rằng tất cả các lực lượng quân đội ngoại quốc phải di chuyển ra khỏi lãnh thổ của Lào.

Tuy nhiên, Việt cộng lừa đảo và bịp bợm, từ xưa đến nay chưa hề tuân thủ bất cứ một loại hiệp định nào cả; hơn nữa bọn Lào cộng, Miên cộng lúc đó đều là tay sai của Việt cộng cho nên đều phải thi hành theo kế hoạch xâm lăng miền Nam của Việt cộng, xử dụng đường mòn Hồ chí Minh mà một phần nằm trên đất Lào và đất Miên để xâm nhập và tấn công miền Nam Việt Nam.

Quý vị có thể tìm hiểu thêm về Hiệp định Genève về Lào qua link sau đây:
http://www.encyclopedia.com/doc/1O126-GenevaAgreementonLaos.html

(2) Thật ra máy bay Thunderchief tức là máy bay F-105, tên gọi đầy đủ của nó là Republic F-105 Thunderchief, là loại oanh tạc chiến đấu cơ siêu thanh, tốc độ March 2, của Không quân Hoa Kỳ, được đưa vào hoạt động từ năm 1958. Dân không quân thường gọi nó là "Thud", Việt cộng gọi nó là "Thần sấm". Máy bay này do công ty Republic Aviation Corporation còn gọi là Seversky Aircraft Company, có tổng hành dinh tại New York sản xuất, đây là tập đoàn sản xuất may bay do các kỹ sư và phi công Nga và Georgia lưu vong thời Stalin sống ở Mỹ thành lập năm 1931.

Máy bay Thunderchief F-105 có khả năng mang 1 trái bom nguyên tử trong thân. Có 3 loại Thunderchief được xử dụng nhiều nhất để ném bom miền Bắc Việt Nam là loại F-105 D một chỗ ngồi, và các loại F-105 F và F-105 G Wild Weasel có 2 chỗ ngồi ( cho phi công chính và phi công phụ ), có khả năng mang theo 14,000 lbs (6,350 kg) bom đạn, súng và hỏa tiễn. Trong chiến tranh Việt Nam, Hoa kỳ đã tổn thất mất 382 chiếc Thunderchief bao gồm 62 chiếc bị rớt vì lý do trục trặc kỹ thuật (trong số bị bắn rơi có 283 chiếc là loại F-105 D một chỗ ngồi, loại F-105F/F-105G chỉ có 37 chiếc bị bắn rơi). Sau đó, máy bay Thunderchief được thay thế bằng F-4 Phantom II mà Việt cộng gọi là "Con ma", và F-111 mà Việt cộng gọi là "Cánh cụp cánh xòe".

Quý vị có thể tìm hiểu thêm về phi cơ Thunderchief F-105 qua link sau đây:
http://en.wikipedia.org/wiki/F-105_Thunderchief

KDĐN

NGUYỄN TẤN DŨNG SẼ ĐẾN HOA THỊNH ĐỐN HỌP VỀ NGUYÊN TỬ VỚI TT BARACK OBAMA GIỮA THÁNG 4/2010


Thời cơ đã đến để Việt Nam từ bỏ chế độ cộng sản, cùng thế giới chống lại hiểm họa bành trướng của bọn bá quyền Trung cộng.

Nguyễn Tấn Dũng sẽ đến Hoa Thịnh Đốn họp về Nguyên Tử với TT Barack Obama giữa tháng 4/2010

Source: congdongnguoiviet.fr
Hạnh Dương - 28/03/2010

California (Tin đặc biệt của VietPress USA - Hạnh Dương ghi): Trong lúc cộng đồng người Mỹ gốc Việt biểu tình suốt ngày hôm thứ Năm 25-3-2010 để chống lại việc Cộng Sản Việt Nam (CSVN) khai trương Tổng Lãnh Sự tại thành phố Houston, Texas; thì chiều Thứ Sáu 26-3-2010, một nguồn tin thẩm quyền thân cận Tòa Bạch Ốc và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tiết lộ (miễn nêu tên) đã cho ký giả Hạnh Dương biết rằng, Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama sẽ tiếp Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đến thủ đô Hoa Thịnh Đốn vào tháng giữa tháng 4/2010 sắp tới đây.

Nguồn tin nầy nói rằng, mới đây hôm 05-3-2010, TT Barack Obama nhân đề cập đến ngày kỷ niệm 40 năm Thỏa Hiệp Ngưng Phát Triển Vũ Khí Nguyên Tử đã được ký kết dưới thời chiến tranh lạnh (Cold War), đã nhấn mạnh rằng “sự đe đọa của một cuộc chiến tranh toàn cầu về vũ khí nguyên tử đã qua, nhưng mối nguy hiểm của việc phát triển nguyên tử vẫn còn kéo dài, đang tạo ra các cuộc thương thuyết về hạn chế vũ khí nguyên tử thật quan trọng hơn bao giờ hết". Theo đó các quốc gia có vũ khí nguyên tử tiến dần đến giải giới, còn các quốc gia không có nguyên tử phải từ bỏ ý định đó, và mọi quốc gia có “quyền không chuyển nhượng” năng lượng nguyên tử phục vụ hòa bình. Mỗi lãnh vực trong 3 vấn đề trụ cột là - Giải giới, không phát triển và xử dụng nguyên tử trong mục tiêu hòa bình - là quan điểm chính yếu mà tôi đã chỉ rõ tại Hội nghị Prague về chấm dứt phát triển vũ khí nguyên tử và tạo dựng một thế giới không hạch nhân”.
(Xem Link: http://www.whitehouse.gov/the-press-office/statement-president-obama-40th-anniversary-nuclear-nonproliferation-treaty ).

Với chủ trương nầy, TT Barack Obama đã cùng với chính phủ Nga hoàn tất thảo luận việc sẽ ký kết một Thỏa Ước gọi tên là “Strategic Arms Reduction Treaty” để thay thế START Treaty đã hết hạn hồi tháng 12/2009. Hiệp ước mới sẽ được ký kết tại thủ đô Prague của Cộng Hòa Czech là một thành viên của khối NATO, nhằm giảm bớt kho vũ khí nguyên tử của hai nước từ 2,200 đầu đạn nguyên tử xuống còn 1,500 đầu đạn mà thôi; và tới đây sẽ xem xét lại các tình trạng nguyên tử để cắt giảm phối trí lại, kể cả hạn chế trong việc xử dụng nguyên tử bảo vệ nội an. Hiệp ước mới cũng sẽ cấm đoán các vụ thử nghiệm vũ khí nguyên tử và tiến đến một Hiệp Định cấm sản xuất các nguyên liệu để chế vũ khí nguyên tử.

TT Barack Obama quyết định triệu tập một Hội Nghị Quốc Tế về hạn chế vũ khí nguyên tử và đã gởi thư mời đến 40 quốc gia tham dự hội nghị nầy sẽ được tổ chức vào 12 đến 14 tháng 4/2010 sắp tới đây tại Hoa Thịnh Đốn. Theo tin tiết lộ miễn nêu tên từ Hoa Thịnh Đốn thì chỉ ít ngày sau khi Tòa Bạch Ốc gởi thư mời, Việt Nam là nước đầu tiên phúc đáp nhận lời mời và Hoa Kỳ đã hoan nghênh, CSVN sẽ cử Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tham dự hội nghị nầy.

Nguồn tin nói rằng, đảng CSVN dự kiến cử một nhân vật cao cấp khác đại diện Việt Nam đến Hoa Thịnh Đốn họp Hội Nghị Thượng Đỉnh nầy, nhưng đã không được Hoa Kỳ hoan nghênh nên cuối cùng Hà Nội đã đề cử Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Việt Nam không có vũ khí nguyên tử, ngoại trừ một viện nghiên cứu nguyên tử tại Đà-Lạt đã có từ thời VNCH. Tuy nhiên vào giữa năm 2008, Quốc Hội CSVN đã biểu quyết thông qua một đạo luật cho phép xây dựng 2 nhà máy phát điện dùng năng lượng nguyên tử sẽ bắt đầu hoạt động vào khoảng năm 2014 tại xã Thuận Nam ở tỉnh Ninh Thuận, và một nhà máy khác sẽ hoạt động vào năm 2020 tại tỉnh Lai Châu gần Trung Quốc. (Link: http://www.world-nuclear-news.org/NP-Vietnamese_congress_approves_nuclear_project-2511097.html )

Tuy nhiên những tiết lộ cho biết rằng, thực tế một phái đoàn cao cấp do Bộ Trưởng Quốc Phòng CSVN từ Hà Nội đã đến họp kín tại Hoa Kỳ để đề nghị mua vũ khí và tàu ngầm, phi cơ chiến đấu của Mỹ nhưng Hoa Kỳ đã chuyển giao cho Nga cung cấp vì lấy cớ Việt Nam vẫn còn bị lệnh cấm vận đối với các kỹ thuật công nghệ cao cấp. Do đó, lần nầy có thể sau khi Hoa Kỳ và Nga ký kết Hiệp Định “Strategic Arms Reduction Treaty” (SART) giảm bớt và tái bố trí vũ khí nguyên tử thì Việt Nam có thể sẽ là một nơi lựa chọn cho việc bố phòng nguyên tử, mà trước mắt là 6 chiếc tàu ngầm có khả năng mang đầu đạn hạt nhân vừa do Nga bán cho Việt Nam để phòng thủ Biển Đông.

Tin nầy nói rằng, vừa qua Thứ Trưởng Quốc Phòng Nga đến Hà Nội để xem xét các nhu cầu về vũ khí cần thiết cung cấp thêm cho Việt Nam, và xem xét việc xây dựng căn cứ cho các tàu ngầm nguyên tử mà Nga vừa bán cho Việt Nam và sắp chuyển giao. Tin tiết lộ nầy nói có 2 địa điểm sẽ được thiết lập cho căn cứ tàu ngầm của Việt Nam là tại Cam Ranh và Hải Phòng. Cam Ranh là căn cứ trước đây của Hải Quân Mỹ, nhưng sau khi Mỹ rút khỏi Việt Nam và VNCH rơi vào tay Bắc Việt thì Liên Bang Sô Viết (USSR) đã ký hợp đồng thuê hải cảng quân sự Cam Ranh 25 năm từ năm 1979 và biến Cam Ranh thành căn cứ Hải Quân Sô Viết lớn nhất ở ngoài lãnh thổ Liên Bang Sô Viết. Nhưng sau khi Liên Bang Sô-Viết tan rã dưới thời TT Ronald Wilson Reagan (1981-1989), nước Nga (Russia) tiếp nhận Cam Ranh nhưng đến sau đó Việt Nam đòi tiền thuê tăng lên 200 triệu Mỹ-Kim mỗi năm nên Nga đành rút lui từ ngày 02-5-2002. Hoa Kỳ đã có các thương thuyết xử dụng Cam Ranh, nhưng hiện nay sau khi Hoa Kỳ thu xếp với Nga bán tàu ngầm cho Việt Nam thì Nga sẽ lo việc lập căn cứ hải quân và tàu ngầm cho CSVN tại Cam Ranh.

Tin cho hay rằng, để đến Hoa Kỳ tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh 40 quốc gia nguyên tử, Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng và phái đoàn sẽ xử dụng chuyên cơ là chiếc máy bay Boeing mới nhất 787 mà Vietnam Airlines vừa mua của Hoa Kỳ. Chiếc chuyên cơ nầy sẽ đáp xuống phi trường của căn cứ Không Quân Andrew Airforce Base của Mỹ cách thủ đô Hoa Thịnh Đốn lối 35 dặm. Khi chuyến chuyên cơ của Nguyễn Tấn Dũng vào đến không phận của Hoa Kỳ từ Thái Bình Dương thì sẽ có một phi đội chiến đấu cơ siêu thanh của Không Lực Hoa Kỳ bay lên chào đón và hộ tống do NORAD (North American Aerospace Defense) đảm trách. Địa điểm cho chiếc chuyên cơ đậu và biện pháp bảo vệ, đoàn hộ tống và lực lượng an ninh Hoa Kỳ đều đã được sắp đặt.

Nhân vật cho tin nói rằng, các nhân viên của Bộ Ngoại Giao và an ninh của CSVN đã đến Hoa Thịnh Đốn làm việc với Bộ Ngoại Giao và an ninh của Hoa Kỳ về chương trình nầy và tỏ ra lo ngại vấn đề người Việt tỵ nạn Cộng Sản tại Hoa Kỳ sẽ biểu tình. Tuy nhiên phía giới hữu trách Hoa Kỳ nói rằng ngành an ninh và vì danh dự cũng như trách nhiệm của Hoa Kỳ là bảo đảm các quốc khách đều được bảo vệ an toàn tuyệt đối; còn việc biểu tình là một nét đặc trưng của nền tự do và dân chủ của Hoa Kỳ mà ngay cả Tổng Thống Barack Obama cũng bị biểu tình.

Có tất cả 40 nguyên thủ quốc gia về nguyên tử sẽ đến tham dự Hội Nghị Quốc Tế về Tài Giảm Nguyên Tử do TT Barack Obama triệu tập, trong đó có cả Tổng Thống Nga là ông Dmitry Anatolyevich Medvedev. Tin phía ngoại giao tại Hoa Thịnh Đốn cho hay rằng bên lề hội nghị nầy, có phần chắc rằng Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama và Tổng Thống Nga Medvedev sẽ có một cuộc họp chung với Nguyễn Tấn Dũng về tình hình Biển Đông và an ninh khu vực Á Châu Thái Bình Dương. Có vẻ như phe thân Trung Cộng trong nội bộ lãnh đạo đảng CSVN không thích việc Nguyễn Tấn Dũng đến dự Hội Nghị Thượng Đĩnh về nguyên tử tại Hoa Thịnh Đốn, nhưng vừa qua Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ đến Hà Nội đã có dịp giải thích trước rằng nếu Việt Nam thực tâm muốn Mỹ và Nga bảo vệ trước nạn bá quyền lấn chiếm Biển Đông của Trung Quốc xâm lược thì nên để Nguyễn Tấn Dũng đến Hoa Kỳ dự họp theo mong muốn của Mỹ và Nga cũng như các cường quốc nguyên tử Âu Châu.

Ngày 10-7-2004, ký giả Hạnh Dương có viết một bản tin đăng trên nhật báo Việt Báo ( Link: http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=4&nid=3287 ) tường thuật rằng Hoa Kỳ cho CSVN đặt Tổng Lãnh Sự tại Houston và Hoa Kỳ sẽ giúp Việt Nam đối đầu với Trung Cộng trên Biển Đông, cũng như sẽ lập căn cứ tàu ngầm tại Cam Ranh. Lúc đó nhiều nhân vật cộng đồng và nhiều báo chí, truyền thông gốc Việt tại Hoa Kỳ đã cho rằng ký giả Hạnh Dương bịa đặt tin tức và loan tin có lợi cho CSVN. Thế nhưng ngày 24-6-2008 thì lần đầu tiên Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng chính thức đến Hoa Kỳ theo lời mời của TT George W. Bush và ông đã đến Houston cùng với Đại sứ CSVN Lê Công Phụng để công bố CSVN mở Tổng Lãnh Sự tại Houston (Link: http://www.usexpo.org/index.html ). Đúng 5 năm 8 tháng 15 ngày sau khi bản tin của ký giả Hạnh Dương loan tải, thì thực tế là ngày Thứ Năm 25-3-2010 vừa qua, Tổng Lãnh Sự CSVN tại Houston đã chính thức mở cửa và đã bị Cộng Đồng người Mỹ gốc Việt mang Cờ Vàng 3 Sọc Đỏ đến biểu tình chống đối. Trong khi theo một tin khác cho hay cũng đã có trên 1,000 người Mỹ gốc Việt tại Texas và vùng phụ cận đến xin cấp Visa hay các thủ tục có liên quan với Việt Nam. Tin cho biết hiện có trên 250 công ty tại địa phương Texas đang có hoạt động thương mại hay đầu tư tại Việt Nam.

Lần nầy Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng lại đến Hoa Thịnh Đốn dự Hội Nghị Thượng Đỉnh về cắt giảm vũ khí nguyên tử do TT Barack Obama triệu tập. Như vậy Nguyễn Tấn Dũng là vị nguyên thủ nước ngoài đặc biệt đến Hoa Kỳ 2 lần liên tiếp do 2 vị Tổng Thống Mỹ khác nhau tiếp đón. Tuy nhiên lần nầy theo tin cho biết, Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng được Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama, Tổng Thống Nga Dmitry Anatolyevich Medvedev và một số thủ lãnh các quốc gia nguyên tử Âu Châu tín nhiệm trong việc hợp tác phòng thủ Biển Đông và ổn định khu vực Á Châu Thái Bình Dương. Không biết rằng liệu các hỗ trợ nầy có ảnh hưởng tích cực gì cho vai trò của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng trong kỳ Đại Hội Đảng CSVN sắp tới hay không?

(Hạnh Dương - VietPressUSA@ yahoo.com ).

HANH DUONG
VietPress USA
Cell. 408-591-6574
Cell. 714-602-1535
VietPressUSA@ yahoo.com

NGA GIÚP VIỆT NAM XÂY DỰNG CĂN CỨ TÀU NGẦM


Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov phát biểu trước giới truyền thông Nga cho hay Việt Nam cần căn cứ này cho 6 chiếc tàu ngầm mà họ đã đặt mua của Nga - Hình: Wikipedia Commons

Có lẽ chiến lược quốc phòng của Việt Nam đi theo hướng sau đây:

1) Mua vũ khí khí tài của Nga

2) Hợp đồng với Nga thành lập các cơ xưởng/nhà máy để chế tạo trang thiết bị và vũ khí dưới nhãn Nga-Việt

3) Nhờ Nga xây dựng các căn cứ hải lục không quân hiện đại, và hiện đại hóa quân đội.

4) Nhờ Nga xây dựng các công trình lớn mang tính chiến lược như nhà máy điện nguyên tử, luyện kim, nhà máy chế tạo máy, chế tạo vũ khí, khai thác quặng mỏ và hóa dầu.

5) Mua các thiết bị truyền thông, vệ tinh, các thiết bị điện tử và các loại trang thiết bị phụ của Âu Mỹ và các nước tự do khác như Nhật bản và Nam Hàn.

6) Ăn cắp các kỹ thuật công nghệ cao, bao gồm các bí mật quân sự của Âu Mỹ. Xử dụng lực lượng chất xám khổng lồ của các Việt kiều trí thức hải ngoại như một đạo quân gián điệp và tình báo kỹ thuật dưới chiêu bài "Việt kiều yêu nước hướng về quê hương".

7) Việt Nam cung cấp cho Nga các dữ liệu công nghệ cao cấp và các bí mật quốc phòng mà mình ăn cắp được của Âu Mỹ nhưng chưa có khả năng chế tạo hoặc phát triển, cùng Nga liên doanh nghiên cứu và chế tạo.

8) Hạm đội Nga sẽ lặng lẽ xử dụng hải cảng/căn cứ hải không quân Cam Ranh dưới dạng tạm trú để "bảo trì thường xuyên", kể cả việc "tạm trú để huấn luyện, bảo trì hoặc nhận tiếp tế" tại các hải đảo đang có tranh chấp với Trung cộng.

9) Nga sẽ quay trở lại làm chỗ dựa chiến lược cho Việt Nam trong tranh chấp với Trung cộng. Nga phải chấp nhận điều này, vì biển đông cũng chính là huyết mạch chiến lược sinh tử của Nga đang bị Trung cộng ngày càng lấn ép, và hơn ai hết, Nga hiểu rõ rằng Trung cộng càng phát triển thì không gian sinh tồn của Nga càng bị thu nhỏ lại, đây là điều mà đế quốc Nga của thế kỷ 21 không thể chấp nhận được. Điều này đánh bạt lý luận thông thường rằng "làm ăn với 1 tỷ dân Tàu thì có lợi hơn là làm ăn với một trăm triệu dân Việt".

10) Điểm then chốt: cộng sản Việt Nam và cộng sản Tàu đều do Liên Xô huấn luyện và nuôi dưỡng trong quá khứ. Thật ra thì ảnh hưởng của Nga tại Việt Nam luôn luôn mạnh hơn Tàu, và đại đa số các tay lãnh đạo then chốt của Việt Nam từ xưa đến nay đều thân Nga và tin Nga hơn là Tàu. Một khi mà cuộc móc nối Nga-Việt trở lại thông suốt thì Trung cộng lại bị đặt nằm trong thế gọng kìm chiến lược, và phải chấp nhận cách cư xử ôn hòa và lễ độ hơn với các nước cùng có chung lợi ích trên biển đông, trong đó có cả Hoa Kỳ. Vì vậy Hoa Kỳ sẽ không can thiệp vào công việc xây dựng gọng kềm chiến lược Nga-Việt, ngược lại Mỹ sẽ gián tiếp hỗ trợ việc này, vì khi Nga chia xẻ gánh nặng trên biển đông, quân bình lực lượng trên biển đông, và ngăn chận sức bành trướng hỗn hào của Trung cộng về hướng đông và hướng Nam, thì Mỹ sẽ là người hưởng lợi trước hết, hơn nữa xưa nay Mỹ vẫn tránh đụng đầu với Trung cộng, vì giữa Mỹ và Trung cộng có rất nhiều hệ lụy phức tạp, Mỹ cũng là con nợ lớn nhất của Trung cộng.

Nhưng, Việt Nam phải nhớ 3 điều này:

- Một là không cho người Hoa nhận đấu thầu xây dựng các căn cứ và công trình quân sự, quốc phòng do Nga thực hiện, dù là đấu thầu hay thi công dưới bất cứ dạng nào. Tuyệt đối không tuyển mộ, xử dụng Hoa Kiều vào các ví trí lãnh đạo chỉ huy từ trung ương đến địa phương (Hiện tại, không có một chức vụ hạm trưởng hoặc chỉ huy nào trong Hải và Không quân Hoa Kỳ giao cho người Mỹ gốc Hoa cả ).

- Hai là phải tránh để Việt Nam không biến thành tên lính xung kích của Nga ở Đông Nam Á.

- Ba là tiến trình tự do, dân chủ hóa đất nước và từ bỏ chế độ cộng sản là một tiến trình không thể đảo ngược. Nước Nga đã chọn lựa con đường đó, và đã vĩnh viễn từ bỏ lá cờ máu búa liềm do đảng cộng sản lập ra.

Dù sao thì sự chọn lựa Nga trong sách lược hợp tác dài hạn chứng tỏ Hà Nội đã học được bài học Mỹ cư xử với Việt Nam Cộng Hòa trước đây, và rất thấm thía bài học cay đắng với người đồng chí "núi liền núi, sông liền sông" Trung cộng, nếu không muốn nói thẳng ra rằng chúng là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam.

Kình Dương Đạo Nhân


Hàng không mẫu hạm Admiral Kuznetsov là hàng không mẫu hạm duy nhất còn hoạt động của Hải quân Nga - Hình: wikipedia

Nga giúp Việt Nam xây dựng căn cứ tàu ngầm
Source: VOA News

Các hãng thông tấn Nga trích lời Bộ trưởng Quốc phòng Anatoly Serdyukov, người đã viếng thăm Việt Nam tuần này, cho hay Moscow sẽ giúp Việt Nam xây dựng một căn cứ tàu ngầm.

Bản tin của hãng thông tấn AP trích lời ông Serdyukov phát biểu trước giới truyền thông Nga cho hay Việt Nam cần căn cứ này cho 6 chiếc tàu ngầm mà họ đã đặt mua của Nga hồi gần đây.

Theo ông Serdyukov, Việt Nam cũng muốn Nga giúp xây dựng một cơ sở bảo dưỡng tàu để có thể phục vụ cho các tàu hải quân của Nga khi những tàu này thăm Việt Nam.

Bộ trưởng Quốc phòng Nga cũng cam kết hỗ trợ Việt Nam trong việc tăng cường và hiện đại hóa Lực lượng Không quân.

Theo Đài tiếng nói Nga, tổng giá trị hợp đồng xuất khẩu vũ khí của Nga sang Việt Nam đã tăng hơn gấp ba lần trong hai năm qua, từ 1 tỷ đôla trong năm 2008 lên tới 3,5 tỷ đôla trong năm 2009.

Nguồn: AP, Voice of Russia

**********************************************************************************


Máy bay chiến đấu Su-27K (sau này được đặt tên là Su-33) trên sàn của hành không mẫu hạm Admiral Kuznetsov, mẫu hạm duy nhất của Nga còn hoạt động trên biển, chỉ là mẫu hạm hạng trung bình. Hình: wikipedia

Việt Nam ca ngợi sự hợp tác quân sự với Nga

Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov nói rằng Nga coi Việt Nam là một đối tác chiến lược

Nhân chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Nga, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã ca ngợi sự hợp tác giữa hai nước và bày tỏ mong muốn sẽ tăng cường hơn nữa mối quan hệ song phương trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là quốc phòng, an ninh, kinh tế, thương mại và đầu tư.

Tân Hoa Xã trích lời Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khẳng định mong muốn như vậy của Việt Nam trong buổi tiếp Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov. Ông Triết cũng khẳng định Việt Nam sẽ luôn là người bạn tốt của Nga và hai nước đã chứng kiến sự phát triển tốt đẹp trong những năm gần đây.

Theo hãng thông tấn Nga RIA Novosti, trong cuộc gặp với Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov, Tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, nhấn mạnh rằng ông chắc chắn rằng những cuộc gặp như vậy sẽ là một động lực mới thúc đẩy quan hệ song phương trong lĩnh vực quốc phòng.

Về phần mình, Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov nói rằng Nga coi Việt Nam là một đối tác chiến lược và vì vậy Nga sẽ tiếp tục tăng cường và làm sâu rộng hơn mối quan hệ toàn diện với Việt Nam.

Mặc dù Việt Nam và Nga đã bắt đầu hợp tác quân sự từ năm 1953, tuy nhiên quan hệ giữa hai nước có phần nguội lạnh trong những năm đầu của thập niên 1990 và chỉ có dấu hiệu nồng ấm trở lại từ năm 1998 khi Moscow và Hà Nội ký một thỏa thuận liên chính phủ về hợp tác quân sự và một ủy ban liên chính phủ Nga-Việt đã được thành lập vào năm 1999.

Kể từ đó, hai bên đã tăng cường đáng kể sự hợp tác quân sự, và vào năm 2008, hai nước đã thiết lập quan hệ chiến lược về quân sự và kỹ thuật tới năm 2020 với một biên bản ghi nhớ liên chính phủ.

Việt Nam cũng đã trở thành khách hàng mua vũ khí nhiều nhất của Nga vào năm 2009 với những hợp đồng mua chiến đấu cơ và tàu ngầm trị giá hàng tỷ đôla.

Nguồn: RIA Novosti, Bernama, Xinhua

********************************************************************

Bộ trưởng Quốc phòng Nga tới Việt Nam đàm phán quân sự

Ông Anatoly Serdyukov sẽ thảo luận về vấn đề hợp tác quân sự với giới hữu trách Việt Nam trong chuyến thăm tới nước này ngày hôm nay (23/3).

Hãng tin RIA Novosti của Nga dẫn lời nữ phát ngôn viên của giới chức này cho biết ông Serdyukov tới Việt Nam hôm 22/3, và trong thời gian ở Hà Nội, ông sẽ hội kiến với Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh.

Theo RIA Novosti, Nga và Việt nam đã hợp tác trong lĩnh vực quân sự kể từ năm 1953. Năm 1998, Moscow và Hà Nội đã ký một thỏa thuận liên chính phủ về hợp tác quân sự, và một ủy ban liên chính phủ tương tự đã được thành lập năm 1999.

Hồi tháng 10 năm 2008, trong chuyến thăm của chủ tịch Việt Nam sang Moscow, Nga và Việt Nam đồng ý thiết lập một sự hợp tác quân sự và kỹ thuật cho tới năm 2020 bằng việc ký một bản ghi nhớ liên chính phủ.

Theo nữ phát ngôn viên của Bộ trưởng Quốc phòng Anatoly Serdyukov, các hợp đồng mua bán vũ khí giữa hai nước cũng đã gia tăng thời gian qua. Năm 2008, hai bên đã ký các thỏa thuận trị giá hơn một tỷ đôla, và các hợp đồng đã tăng lên 3,5 tỷ đôla trong năm 2009, đưa Việt Nam trở thành nước mua nhiều vũ khí nhất của Nga trong năm đó. Kể từ đầu năm 2010, các hợp đồng quân sự giữa hai nước ước tính khoảng 1 tỷ đôla.

Trong một cuộc phỏng vấn với VOA Việt Ngữ gần đây, ông Stephen Blank, Giáo sư nghiên cứu về an ninh quốc gia, tại Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Đại học Chiến sự Quân đội Hoa Kỳ, cho rằng ‘Việt Nam muốn tăng cường quốc phòng và vị thế chính trị ở châu Á, nhằm bảo đảm an toàn cũng như tăng cường khả năng phòng thủ tốt hơn trước Trung Quốc’.

Trong khi đó, ông Blank cho rằng Nga cũng muốn tăng cường vị thế ở Đông Nam Á trước sự gia tăng ảnh hưởng của Bắc Kinh trong khu vực.

Nguồn: Ria Novosti, VOA's Interview

MỸ-CỘNG ĐÃ CHIẾN THẮNG TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO


Hình: U.S. federal government

Mỹ-cộng đã chiến thắng trong cuộc chiến VN như thế nào
Source: Trà Mi - VOA | Washington, DC

Nghe đọc bài này

Một quyển sách của tiến sĩ Roger Canfield vừa được ra mắt ở Mỹ đã đưa ra một cái nhìn khác, khá thú vị, về kết cục của chiến tranh Việt Nam.

Cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc 35 năm nay, nhưng cho tới giờ nó vẫn còn làm hao tốn biết bao giấy mực của giới cầm bút, những nhà văn, nhà nghiên cứu, cũng như các cơ quan báo chí truyền thông trong và ngoài nước. Sách vở tại Việt Nam miêu tả kết quả cuộc chiến rằng quân đội Mỹ đã bị quân Bắc Việt đánh bại hoàn toàn. Trong khi đó, một số sách báo bên ngoài lại viết rằng do tình hình thời cuộc, Mỹ đã quyết định triệt thoái ra khỏi chiến trường Việt Nam vào tháng 4 năm 1975.

Một quyển sách của tiến sĩ Roger Canfield vừa được ra mắt ở Mỹ hơn một tháng trước thời khắc kỷ niệm đúng 35 năm ngày kết thúc cuộc chiến đã đưa ra một cái nhìn khác, khá thú vị, về kết cục của chiến tranh Việt Nam. Tác phẩm có nhan đề “Comrades in arms: How the Ameri-cong won the Vietnam war against the common enemy-America”, tạm dịch ngắn gọn là “Mỹ-cộng đã chiến thắng trong cuộc chiến Việt Nam như thế nào”.

Tiến sĩ Canfield là một ký giả và là một nhà phân tích chiến lược chính trị dày dặn kinh nghiệm, chuyên nghiên cứu về chủ nghĩa cộng sản và các chính sách của Hoa Kỳ. Ông đã mất 22 năm nghiên cứu kể từ năm 1988 để hoàn thành tác phẩm này. Tác giả cho biết ba chương sách dày tổng cộng 1600 trang được ông đúc kết từ rất nhiều tư liệu sách báo-lịch sử, các cuộc phỏng vấn, hồi ký, các tài liệu của CIA, FBI, cũng như của chính quyền cộng sản Việt Nam.

Điều thú vị đầu tiên đập vào mắt người đọc có lẽ xuất phát từ tựa đề quyển sách, với từ “Ameri-cong”. Trước nay, người ta thường nhắc nhiều tới các từ như Việt cộng hay Trung cộng, nhưng dường như ít ai dùng, hoặc nghe tới hai từ “Mỹ-cộng”. Và đó cũng là điểm nhấn chính của tác phẩm này. Tác giả Canfield giải thích:

“Ameri-cong là vì một số những người hoạt động phản chiến và kêu gọi hòa bình họ tự xưng như thế. 'Mỹ-cộng'” có nghĩa là những người Mỹ đồng quan điểm với Việt cộng, với công cuộc đấu tranh của cộng sản. 'Mỹ-cộng' và Việt cộng đều xem chủ nghĩa đế quốc Mỹ là kẻ thù chung.”


Biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam tại Boston, 1970 - Creative Commons - Dboo

Theo tiến sĩ Canfield, chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến chính trị, chứ không phải là một cuộc chiến quân sự, và sở dĩ Mỹ can dự là vì đây là một phần của cuộc chiến tranh lạnh, mà Trung Quốc và Liên Xô lúc bấy giờ cũng can thiệp vào cuộc chiến Việt Nam. Tác giả cho rằng kết quả cuộc chiến là do người Mỹ thua mặt trận chính trị ngay tại Quốc hội Hoa Kỳ năm 1975 vì ảnh hưởng của truyền thông và các phong trào hòa bình-phản chiến, chứ quân Mỹ không thua trận do bị cộng sản Việt Nam đánh bại:

“Vào thời điểm cuối của cuộc chiến, phong trào phản chiến đã thuyết phục được Quốc hội ngưng viện trợ cho miền Nam. Đó là thực tế, nhưng trước đó, chúng tôi đã đánh bại Việt cộng nhiều lần trong các cuộc tấn công lớn của họ hồi những năm 1968 và 1972. Không đúng khi nói rằng Hoa Kỳ thua trận trên chiến trường mà phải nói là thua tại sân nhà, tại các làn sóng phản chiến trên các đường phố New York và Washington lúc bấy giờ. Đó là thông điệp chính của tôi.”

Và thông điệp ấy đã được tiến sĩ Canfield trình bày cặn kẽ trong cuốn sách vừa phát hành. Ông nói tiếp:

“Nội dung của quyển sách là tìm hiểu cách thức mà cộng sản Việt Nam đã thắng lợi trong cuộc chiến nhờ vào việc xử dụng các phong trào phản chiến và các phong trào kêu gọi hòa bình tại Mỹ. Đây là một cuộc chiến chính trị hơn là một cuộc chiến quân sự. Người cộng sản lúc bấy giờ hiểu rõ điều đó trong khi người dân Mỹ thì không. Thông điệp chính mà tôi muốn gửi gắm qua tác phẩm này là hầu hết những gì người Mỹ hiểu về cuộc chiến Việt Nam là sai lầm, bởi vì phần lớn những gì được ghi lại trong sách vở là sự tuyên truyền của cộng sản Việt Nam. Khác biệt giữa quyển sách này với hàng ngàn cuốn sách viết về chiến tranh Việt Nam là ở chỗ chưa có một cuốn sách nào nghiên cứu chi tiết các cuộc tiếp xúc và thăm viếng qua lại giữa chính quyền Hà Nội với phe phản chiến tại Mỹ lúc bấy giờ.

Chiến tranh là điều không nên vì chiến tranh thật khủng khiếp, đặc biệt là cuộc chiến Việt Nam. Tuy nhiên, nó là một cuộc chiến nhằm ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Đây là một chiến trường quan trọng trong chiến tranh lạnh. Các chiến sĩ cộng hòa ở miền Nam Việt Nam không đánh bại được lính cộng sản miền Bắc vì quân đội Mỹ đã phản bội họ. Theo tôi, phản bội đồng minh của mình là điều đáng xấu hổ.”

Anh Dũng Nguyễn, một độc giả trẻ tại miền Tây Hoa Kỳ đã tham gia buổi ra mắt sách hôm 3/3 vừa qua ở Viện Bảo tàng Quân sự của bang California đặt tại Sacramento, cho biết cảm tưởng sau khi đọc qua quyển sách của tiến sĩ Canfield:

“Đầu tiên mình thấy rất tội cho người Việt Nam của mình khi thấy tương lai của dân tộc bị ảnh hưởng bởi phong trào phản chiến. Từ đó dẫn tới phong trào thuyền nhân, với biết bao nhiêu người đã chết trên biển. Càng đọc càng thấy đau đớn nhiều hơn. Cộng sản Việt Nam, Trung Quốc, và Liên Xô dùng những chiến lược và chiến thuật về tuyên truyền. Họ đã dùng các phong trào phản chiến làm ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam.”

Một câu hỏi được đặt ra có nên không khi lên án phong trào phản chiến vì nếu không có nó e rằng cuộc chiến Việt Nam sẽ còn kéo dài hơn nữa. Vì vậy có người cho rằng nhờ nó mà chiến tranh sớm kết thúc, giảm bớt đau thương mất mát?

Độc giả trẻ tên Dũng lập luận:

“Chiến tranh càng dài càng hại cho dân tộc Việt Nam, nhưng nếu chỉ vì nước Mỹ họ vì quyền lợi của họ mà làm ảnh hưởng đến sinh tồn của một quốc gia Việt Nam thì điều đó thật là không công bằng.”

Một bạn đọc khác tên Ngọc Giao từ miền Đông Bắc nước Mỹ nói về quyển sách của tiến sĩ Canfield sau khi đã xem trọn tác phẩm này:


Biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam tại Memorial Bridge, Washington, D.C., 10/1967 - Creative Commons - Frank Wolfe

“Ngọc Giao cũng tìm hiểu về chiến tranh Việt Nam, thấy rằng có nhiều chi tiết trong tác phẩm này hoàn toàn trái ngược với các sách giáo khoa. Tác giả dẫn chứng rất rõ ràng những nỗ lực của các nhân vật như Tom Hayden hay Jane Fonda có những hội hỗ trợ tiếp tay cộng sản Việt Nam làm các chương trình phản chiến. Cho nên các chương trình phản chiến có sự hỗ trợ và tài trợ rất mạnh mẽ. Một câu kết của ông rất rõ ràng, nói rằng dù cho phong trào phản chiến có làm gì đi nữa thì trách nhiệm chính vẫn là tại Quốc hội Hoa Kỳ. Quốc hội Hoa Kỳ đã có quyết định sai lầm nhưng trong đó có ảnh hưởng của phong trào phản chiến tạo dư luận quần chúng.

Tác giả là một người Mỹ, ông ta đã nói lên sự phẫn uất của người Mỹ trước sự sai lạc của truyền thông Hoa Kỳ, nhưng ông ta quên không nhắc tới vai trò của chính quyền và quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông có nhắc tới một phần thôi, nhưng tôi nghĩ vai trò của chính quyền miền Nam Việt Nam cần phải được đặt mạnh hơn nữa và rõ ràng hơn nữa.”

Một chuyên gia giảng dạy lớp nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam trong nhiều năm và cũng từng có bài viết nói về vai trò của truyền thông trong cuộc chiến này phản đối quan điểm của tiến sĩ Canfield. Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia quân sự cao cấp thuộc Học viện Quốc phòng Hoàng gia Australia, không đồng ý với lập luận của tiến sĩ Canfield cho rằng phong trào phản chiến ở Mỹ đã cấu kết với phe cộng sản để lật đổ chủ nghĩa đế quốc Mỹ.

Giáo sư Thayer phát biểu:

“Cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến cách mạng kéo dài. Và hiểu theo cách cộng sản đó là cuộc chiến kết hợp giữa quân sự và chính trị. Đó là cuộc đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao. Tôi không đồng ý với ý kiến cho rằng Hoa Kỳ thua tại mặt trận ở nhà. Có rất nhiều cuộc nghiên cứu sâu rộng về vai trò của truyền thông trong cuộc chiến này nhưng không có kết quả nào ủng hộ ý kiến cho rằng phong trào phản chiến tại Mỹ đã thành công trong việc dẫn tới việc Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam.

Tôi cũng không đồng ý với quan điểm cho rằng Hoa Kỳ thua trận. Cuộc chiến mà Hoa Kỳ đương đầu là một cuộc chiến cách mạng kéo dài và vì thế nói thắng hay thua là không hợp lý vì theo thời gian, mục tiêu của nước Mỹ thay đổi. Mỹ đã không thành công duy trì độc lập cho phe cộng hòa ở Việt Nam. Đây không phải là cuộc chiến tranh hiểu theo nghĩa thông thường là 1 quốc gia xâm lược một nước khác, mà đây là một cuộc chiến cách mạng, một cuộc chiến cách tân Việt Nam khỏi chủ nghĩa cộng sản.”

Trà Mi vừa gửi đến quý vị một số ý kiến của tác giả, độc giả, và giới chuyên gia nghiên cứu về quyển sách của tiến sĩ Roger Canfield nhan đề: “Mỹ-cộng đã chiến thắng trong cuộc chiến Việt Nam như thế nào”. Đây là một cuốn sách điện tử, nghĩa là tác phẩm được phát hành dưới dạng đĩa CD để độc giả có thể đọc qua màn hình máy tính. Muốn tìm đọc tham khảo, quý vị và các bạn có thể email cho tác giả Canfield về địa chỉ rogercan@pacbell.net. Sau khi đọc qua tác phẩm này, các bạn có suy nghĩ như thế nào, hoặc quan điểm của các bạn về cuộc chiến Việt Nam có gì thay đổi, xin hãy chia sẻ với Trà Mi tại địa chỉ email vietnamese@voatiengviet.com, hoặc điền vào mục ý kiến trên trang web của đài VOA www.voatiengviet.com, các bạn nhé.

Đến đây Trà Mi xin chào tạm biệt quý vị. Mời quý vị và các bạn trở lại cùng Tạp chí Thanh Niên của đài VOA trong chương trình 10 giờ tối thứ ba tuần sau.

1 2 3 4 5 >>