Hôm nay là:

  Dự báo bão biển cho Việt Nam

 

Ðường đi của bão biển

 

  Ảnh vệ tinh biển đông

 

  Dự báo thời tiết Ninh Thuận 72 giờ

 

Bản đồ thế giới

 

Bản đồ hành chánh Việt Nam hiện tại

 

BẢN ÐỒ VIỆT NAM
trực tiếp nhìn từ vệ tinh ngay lúc này


CẨM NANG VÀ CHIẾN LƯỢC DÀNH CHO HỌC TẬP



ÐẶC BIỆT CHO HỌC SINH
SINH VIÊN TẠI VIỆT NAM

Hướng dẫn cách làm hồ sơ du học
Hướng dẫn phương cách tìm học bổng


Danh sách và xếp hạng các trường Ðại học tại Hoa Kỳ


TẬP LUYỆN ÓC


Những người Việt nổi tiếng tại Mỹ

 

wikiHow trang web chỉ bạn làm đủ mọi thứ

 

Nguyên bản tiếng Pháp của hội Thừa Sai Paris nói về cha Moussay và Trung Tâm Văn Hóa Chàm

 

  HẠNH THỤC CA của bà Nguyễn Nhược Thị
(PDF file, download size 201 KB)




Số người hiện đang xem

Ðiều chỉnh hoặc tắt nhạc nền

Ðất và người Ninh Thuận

Thay lời tựa

Thật là xúc động biết bao khi nói về một vùng đất đầy kỷ niệm, rất đẹp nhưng khô cằn và nhiều gió bụi, và những con người mà quanh năm mưa nắng hai mùa phải làm lụng vất vả, phải vật lộn với thiên nhiên để tồn tại và phát triển;  vùng đất ấy và những con người ấy đã cưu mang và đùm bọc chúng ta để chúng ta có được ngày hôm nay.

Ninh Thuận là xứ có lắm nhân tài, nhiều người đẹp nổi tiếng, cũng là xứ mà sự giao lưu hài hòa giữa hai nền văn hóa Kinh-Champa hiện rõ nét nhất. Nói đến người Chàm và tháp Chàm thì không thể không nói đến Ninh Thuận. Thời tuổi trẻ chúng tôi học chung với nhau, lớn lên chúng tôi sống với nhau, làm việc chung với nhau, tình thân thiết như anh em trong nhà không có gì là phân biệt cả. Ðời sống của người dân đất tháp là sự phối hợp giữa cái cần cù của dân miền trung với cái rộng rãi hào phóng của dân miền tây và cái chất phác thật thà của người dân Chàm.

Hồi còn chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nếu quý bạn từ xứ khác đến ghé vào ruộng rẫy của dân Ninh Thuận thì đương nhiên là bạn được chủ cho phép thưởng thức hoa trái thoải mái ở tại rẫy, miễn sao đừng bỏ túi đem về nhà là được; xem thế đủ biết người dân Ninh Thuận rộng rãi, tốt bụng và hiếu khách cỡ nào.

Mấy chục năm rồi cũng đã đi qua nhiều chỗ, tiếp xúc với nhiều người khác nhau nhưng lòng thì lúc nào cũng thấy nhớ đất và thương người Ninh Thuận. Thật là rất bùi ngùi xúc động khi được đi ngược dòng thời gian để tìm lại những ngày leo cây me sau trường Nam, lội sông qua Gò Ðình, câu cá ốc mít ở bờ đê, bắt dế ruộng An Thạnh, xúc hến cửa sông Dinh... rồi lớn lên, những đêm lửa trại, những ngày dầm mưa lội nước lụt Tấn Tài với bạn bè, những ngày hè trên biển Ninh Chữ, những chuyến theo ghe ra cửa Tân Thành câu đêm... ôi những kỷ niệm đã ở trong tim óc ta và lớn dần theo với thời gian để mỗi khi có người nhắc đến là cảm thấy ngậm ngùi cay cay trong mắt! Ninh Thuận mảnh đất thân thương nơi đây gìn giữ những nắm xương tàn của cha mẹ, anh em, vợ con, bằng hữu, chiến hữu của chúng ta; những người nằm xuống để cho những thế hệ sau vươn lên và đất đai thêm phần màu mỡ.

Ta ước mong có một ngày khi ta nằm xuống tro cốt ta được đem về rải trên sông Dinh, trên ruộng đồng Ninh Thuận và trên biển Thái Bình để đêm đêm ta còn nghe được tiếng đập lúa, tiếng cười, tiếng hát... và tiếng nước vỗ mạn thuyền ra khơi.

Hoa-Kỳ mùa hè 2006
Lê Tự Do

Nho Phan Rang

Ðọc tài liệu: Tìm hiểu cộng đồng người Chăm tại Việt Nam - TS Nguyễn Văn Huy

  Tọa độ địadư của tỉnh Ninh Thuận:  từ 11° 18' 14" đến 11° 09' 45" vĩ độ Bắc
   và từ 108° 39' 08" đến 109° 14' 25" kinh độ Ðông

  Tọa độ địa dư của thị xã Phan Rang:  11.57° vĩ Bắc , 109.00° kinh Ðông            

 

PHẦN I

Vài hàng lịch sử

Trước thế kỷ 17, Ninh Thuận là vùng đất thuộc Chiêm Thành. Chiêm Thành là tên gọi của vương quốc Chăm Pa (tiếng Phạn là Campanagara) trong sử sách Trung Quốc từ  877 đến 1693.  Trước 859 Trung Quốc gọi vương quốc này là Hoàn Vương Quốc, kinh thành của vương quốc này đặt tại Virapura (theo tiếng Việt là thành phố Hùng Tráng), nay là thôn Palai Bachong, xã Hòa Trinh, huyện An Phước, tỉnh Ninh Thuận.  Vương quốc này là giai đoạn tiếp theo của Lâm Ấp trong lịch sử Chăm Pa độc lập. Có tài liệu cho thấy Hoàn Vương Quốc là thuộc triều đại thứ năm (758-859) trong số năm triều đại; bốn triều đại trước đó thuộc về thời kỳ Lâm Ấp trong lịch sử Chăm Pa.  Đầu thế kỷ thứ 11, Chiêm Thành bao gồm 5 tiểu vương quốc là: Indrapura (vùng Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế ngày nay), Amaravati (vùng Quảng Nam ngày nay), Vijaya (vùng Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay), Kauthara (vùng Phú Yên, Khánh Hòa ngày nay) và Panduranga (vùng Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay). Từ năm 875, sử Trung Quốc gọi Chăm pa là Chiêm Thành Quốc. Riêng vùng Phan Rang (Panduranga) ngày nay được sử sách Trung Quốc gọi là Tân Đồng Long.
Đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1653), sông Phan Rang là ranh giới hai nước Chiêm - Việt.  Năm 1692, vua Chiêm là Bà Tranh đem quân tấn công các tỉnh phía nam, chúa Nguyễn Phúc Chu đem quân đi đánh và bắt được Bà Tranh, bèn sát nhập đất Chiêm Thành vào nước ta và đặt tên là trấn Thuận Thành (Dấu tích khốc liệt của cuộc chiến tranh còn lưu lại tại các nghĩa địa Chàm trong khu vực 2 quận Thanh Hải và An Phước xưa).
- Năm 1697, chúa Nguyễn cho thành lập phủ Bình Thuận và dinh Bình Thuận có các đạo Phan Thiết, Phan Lang, Maly và Phố Hài. 
- Đời Gia Long, dinh Bình Thuận đổi thành trấn. 
- Đời Minh Mạng đạo Phan Lang đổi thành huyện An Phước. 
- Năm 1832, trấn Thuận Thành đổi thành tỉnh Bình Thuận, gồm hai phủ Ninh Thuận và Hàm Thuận. 
- Năm 1888, phủ Ninh Thuận sát nhập vào Khánh Hòa. 
- Năm 1913, được tách rời và trở thành tỉnh Ninh Thuận. 
- Năm 1915, Ninh Thuận lại trở thành một phủ của tỉnh Khánh Hòa. 
- Năm 1922, phủ Ninh Thuận đổi thành đạo.
- Năm 1942 đổi lại thành tỉnh. 
- Trước năm 1975, tỉnh Ninh Thuận có 5 quận Bửu Sơn, An Phước, Du Long,Thanh Hải và Sông Pha; trong đó bao gồm Thị xã Phan Rang - Tháp Chàm và 27 xã ngoại vi.
- Sau năm 1975, Ninh Thuận sáp nhập vào tỉnh Thuận Hải.
- Năm 1992 Thuận Hải bị hủy bỏ, Ninh Thuận đổi lại thành tỉnh như cũ.
- Hiện nay tỉnh Ninh Thuận có 6 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm thị xã Phan Rang-Tháp Chàm và 5 huyện: Bác Ái, Ninh Hải, Ninh Phước, Ninh Sơn, Thuận Bắc với 44 xã, 4 thị trấn và 12 phường.

 

Di tích

Tháp Pôklông Garai (Po Kluang Garai) còn gọi là Tháp Chàm:

 Tháp Pôklông Garai nằm trên ngọn đồi Trầu (Cơk Hala) thuộc phường Đô Vinh, cách trung tâm thị xã Phan Rang 5 km (3 miles) về phía Tây Bắc, gần ga xe lửa Tháp Chàm. Theo truyền thuyết, tháp được vua Simhavarman III (Chế Mân) xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ 12 đầu thế kỷ 13 để thờ vua Pôklông Garai (1151-1205) một vì vua có công trong việc chống giặc ngoại xâm, xây dựng đất nước, tương truyền ông chịu nhiều đau khổ và chết vì bệnh cùi, được người Chiêm Thành suy tôn thành thần thánh. Đây là một trong những công trình lịch sử lớn của dân tộc Chiêm Thành. Tháp Pôklông Garai là một quần thể kiến trúc gồm nhiều công trình lớn nhỏ khác nhau, nhưng hiện nay còn lại 3 ngôi tháp theo thứ tự: 
- Tháp Cổng (Kalan Tahah Libang) cao khoảng 8,56m. 
- Tháp Chính (Kalan Po) cao 21,59 m (64.77 ft) mỗi cạnh rộng hơn 10 m (30 ft). Tháp một tầng, hình đồ vuông với nội thất hình chữ nhật theo hướng Đông Tây, cửa mở mặt Đông; bên trong thờ một tượng vua Po Kluang Garai bằng đá dưới hình thể Mukhalinga (Linga có gắn mặt vua) và một tượng bò thần Nandin bằng đá đặt ở lối ra vào. Ngoài ra ở phía sau tháp chính còn có một ngôi miếu nhỏ thờ một phiến đá. Xung quanh tháp được bao bằng một vòng thành. 
- Tháp Lửa (Sang Cuh Yang Apui) cao 9,31m. 
Tháp Pôklông Garai là một cụm tháp hoàn mỹ, đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ trong nền nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Champa.
Tháp được trùng tu vào các năm : 
Năm 1981: tu sửa phục hồi phần di tích đổ vỡ. 
Năm 1983: phục hồi, gia cố móng và chân tháp đã bị hỏng hơn 1/3. 
Năm 1984: tu sửa phục hồi tháp chính. 
Năm 1985: tu sửa 3 tháp. 
Năm 1987: phục hồi bức tường đổ do các chuyên gia Ba Lan đảm trách.Trong quá trình khai quật nghiên cứu và tu sửa tháp trước kia của người Pháp đã tìm thấy một số bát bằng vàng, bạc và đồ trang sức. Gần đây khi tu sửa tháp, ngành khảo cổ Việt Nam cũng tìm thấy một số bát vàng. Hàng năm người dân quanh vùng Phan Rang thường tiến hành các ngày lễ lớn dưới chân tháp.

Tháp Pôrômê (Po Rame) còn gọi là tháp Hậu Sanh:

  Tháp Pôrômê nằm trên ngọn đồi “Bôn Acho” thuộc thôn Hậu Sanh, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, cách thị xã Phan Rang 15 km về phía tây nam. Tháp Pôrômê được xây dựng vào cuối thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17 để thờ vị vua Pôrômê. Tháp Pôrômê là tổng thể kiến trúc gồm có 3 ngôi tháp: Tháp chính, tháp cổng và tháp lửa. Nhưng hiện tại chỉ còn lại một ngôi tháp chính hình vuông, 4 tầng, cao 19 m, đáy rộng gần 8 m, cửa mở hướng Đông với cấu trúc cổng dạng tiền sảnh, bên trong có thờ một tượng vua Pôrômê bằng đá dưới hình thể Mukhalinga và một tượng thờ hoàng hậu Bia Than Chan bằng đá - người Êđê. Phía sau tháp chính còn có một ngôi miếu nhỏ thờ tượng Hoàng hậu Bia Than Cih bằng đá - người Chăm. 
Còn hai ngôi tháp khác là tháp cổng và tháp lửa đã sụp đổ. 
Tháp Pôrômê không cao to bề thế như tháp Pôklông Garai nhưng tháp có một phong cách nghệ thuật kiến trúc riêng biệt – phong cách Pôrômê. Tháp Pôrômê được xem là ngôi tháp cuối cùng trong lịch sử nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc đền tháp của người Chiêm Thành. Tháp Pôrômê là một trong ít tháp còn nguyên vẹn cho đến nay, là nơi người Chiêm Thành thường xuyên làm lễ cầu khấn vị vua đã được thần hóa Pôrômê vào những ngày lễ Tết.

Tháp Hòa Lai còn gọi là Ba Tháp:

  Cách thị xã Phan Rang khoảng 14 km (9 miles) về hướng Bắc dọc quốc lộ 1, thuộc địa phận thôn Ba Tháp, nay thuộc xã Tâm Hải, huyện Ninh Hải. Tháp được xây dựng vào đầu thế kỷ 9, trước đây gồm có 3 tháp trên một diện tích dài 200 m (600 ft), rộng 125 m (375 ft) có vòng thành bao quanh, nhưng hiện nay tháp trung tâm và vòng thành đã bị sụp đổ hoàn toàn chỉ còn 2 ngôi tháp ở phía bắc và phía nam nhưng vẫn đang trong tình trạng hư hại trầm trọng. Tháp Hòa Lai là quần thể kiến trúc đền tháp vào loại lớn của người Chiêm Thành. Tháp có mái dạng hình khối nên tháp được xếp vào loại nghệ thuật hình khối và mang phong cách Hòa Lai. Tháp Hoà Lai, mặc dù có phong cách riêng nhưng nó cũng mang một số đặc điểm chung như các tháp Chiêm Thành khác. Bên trong lòng của tháp phía nam là bệ thờ Linga - Yoni. Ở trên các mặt tường tháp có điêu khắc các tượng thờ như tượng tu sĩ Bàlamôn, chim thần Garuda và các cột trụ đều có chạm khắc, trang trí hình hoa lá. Tất cả đề tài trang trí được tạc trực tiếp lên mặt tường của tháp. Hiện nay tháp này người Chàm không thờ phượng cúng tế.

Mũi Dinh:

  Thuộc xã Sơn Hải, Mũi Dinh cao hơn mặt biển gần 200 m (600 ft). Trước năm 1975 nơi này có đài khí tượng và ngọn hải đăng hướng dẫn tàu bè qua lại được xây dựng từ thời Pháp thuộc.

 

Thắng cảnh:

Làng Du Lịch Cà Ná:

Làng cách thị xã Phan Rang 32 km (20 miles) về phía Nam, cách thị xã Phan Thiết 114 km (71 miles) về phía Bắc, rất thuận tiện cho du khách đi đường bộ và đường sắt. Tại đây, du khách được tắm biển, đi chơi rừng, leo núi, thăm các hang động rất ngoạn mục: hang Ông Phật, ghềnh Ông Nồng, giếng Đục, núi Ðá Bạc. Khu Nhà Bằng Thương Diêm về phía đông bắc Cà Ná cũng rất đẹp.

Bãi Tắm Ninh Chữ:

Cách thị xã Phan Rang khoảng 5km (3 miles) về hướng Đông nay thuộc địa phận xã Khánh Hải, huyện Ninh Hải. Bãi biển Ninh Chữ là bãi tắm đẹp, có chiều dài 10 km (6 miles), bờ biển hình vòng cung bằng phẳng, xung quanh là rừng dương và các núi Đá Chồng, núi Quýt, núi Ðình Tri Thủy, núi Cà Đú... rất thích hợp cho các hoạt động du lịch như tắm biển, lướt ván, câu cá, du thuyền, leo núi, săn bắn. Khí hậu Ninh Chữ mát mẻ, nắng ấm quanh năm.

Núi Đá Trắng: 

Một địa danh chứa nhiều di chỉ của người Chăm xưa, thuộc xã Phước Thái, huyện Ninh Phước. Gọi núi Đá Trắng bởi ở đây toàn đá trắng với những bụi nhỏ lúp xúp. Tiếng Chăm "đá trắng" nghĩa là Ông Vua. Truyền thuyết kể lại rằng khi người Chăm thất thủ phải chạy vào phía Nam, vua thời ấy đã tìm cách giấu kho báu của mình tại địa điểm này. Để bảo toàn kho báu, nhà vua đã yểm một cặp rắn rất to làm thần giữ của. Từ đó hàng năm nhà vua làm lễ tế thần rất lớn, uy nghiêm và trang trọng, thường là một con trâu nướng nguyên con. Nhưng đến đây dân trong vùng chỉ cúng tượng trưng bằng xôi vào đầu tháng giêng (Chăm lịch). Trước đây quân Nhật cũng từng mon men khai thác núi Đá Trắng, theo các cụ kể lại, các chuyên gia của họ đều chết yểu do bị "thần rắn" giữ của làm hại. Phong cảnh núi Đá Trắng hùng vĩ, phía trước núi là cánh đồng lúa nhấp nhô lượn sóng, xa xa phía Bắc là đỉnh Poklong kỳ vĩ vươn cao; phía Nam là tháp Pôrômê cổ kính đứng trầm tư; phía tây là đồi núi trùng điệp mênh mông khắp cả một vùng. Truyền thuyết núi Đá Trắng đã làm tăng thêm sự huyền bí, hấp dẫn du khách đến với vùng đất này.

Vịnh Vĩnh Hy:

Cách thị xã Phan Rang - Tháp Chàm chừng 42 km (26 miles) về hướng Đông Bắc, thuộc xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải. Vĩnh Hy là vùng vịnh thiên nhiên còn nhiều nét hoang sơ, một quần thể hài hòa bao gồm những bãi cát trắng sạch, đẹp, những dãy núi đá xếp chồng lên nhau, những hang động, núi rừng. Đó là nơi du lịch lý tưởng cho tương lai bởi môi trường và cảnh quan thiên nhiên còn nguyên vẹn, hầu như chưa bị ô nhiễm.

Ðầm Nại:

Về phía tây bắc của Ninh Chữ khoảng 1.5 km, khi nước thủy triều lớn là một phong cảnh tuyệt đẹp, xung quanh có Hòn Thiêng, núi Ðình Phương Cựu, Núi Cà Ðú và Núi Quýt; cũng là nơi có nhiều thú như chèo thuyền, câu cá, bắt ốc rất tốt.

Đèo Ngoạn Mục:

Trên đường đi Đà Lạt sẽ gặp đèo này, gần thị trấn Sông Pha. Khí hậu nơi này luôn luôn mát dịu, hướng xuống thung lũng là màu xanh của rừng bạt ngàn. Ninh Thuận còn có một thắng cảnh rất độc đáo là những đồi cát rất lớn từ vùng Thành Tín, Tuấn Tú kéo dài đến khu vực đầm Sơn Hải.

 

Xem tiếp THẮNG CẢNH NINH THUẬN



SỐ LIỆU ÐỊA DƯ

NINH THUẬN là một tỉnh thuộc miền Nam Trung Phần Việt Nam.  Bắc giáp Cam Ranh và Tỉnh Khánh Hòa, Tây giáp Tỉnh Lâm Ðồng và Tuyên Ðức, Nam giáp tỉnh Bình Thuận, Ðông giáp biển Ðông.
Ninh Thuận được bao bọc bởi ba mặt núi và một mặt biển. Phía tây là vùng núi cao giáp Tuyên Ðức và Lâm Ðồng, phía bắc và phía nam có hai dãy núi chạy ra biển. Vùng đồng bằng khô cằn nằm ở giữa kéo dài tới ven biển chiếm 22,4% diện tích toàn tỉnh, vùng núi cao chiếm 63,2%, vùng gò đồi chiếm 14,4%.  Ninh Thuận có nhiều sông, suối; lớn nhất là sông Cái, khi chảy qua vùng Phan Rang được gọi là sông Dinh. Nếu tính cả các phụ lưu là sông Mê Lam, sông Sắt, sông Ông, sông Chá, sông Lu và sông Quao thì hệ thống sông Cái có chiều dài khoảng 250 km. Ngoài hệ thống này, Ninh Thuận còn có một số sông khác như sông Tô Hạp, sông Trâu, sông Quán Thẻ, sông Bà Râu... với tổng chiều dài khoảng 210 km.
Ninh Thuận có bờ biển dài khoảng 105 km, nổi tiếng với những bãi biển cát trắng như biển Ninh Chữ, Sơn Hải, Cà Ná, Thương Diêm, Mỹ Tường, Thái An, Vĩnh Hy; những đầm nước tuyệt đẹp và đầy thủy sản như đầm Nại, đầm Sơn Hải, đầm Vua, đầm Vĩnh Hy;  những vườn nho nặng trĩu trái đủ màu, những rẫy hành tỏi thẳng tắp, những vườn tiêu và trầu xanh mướt.

Diện Tích: 3.360,06 km² (336.006 ha) trải dài trên 3 miền: đồng bằng, duyên hải và miền núi.
Dân cư:  Ninh Thuận là một trong những địa bàn sinh sống của người Việt cổ. Các nhà khảo cổ đã phát hiện được ở vùng Nhơn Hải các mộ cổ chôn theo các đồ đá, đồ sắt thuộc nền văn minh Sa Huỳnh cách đây khoảng 2.500 năm. Ninh Thuận còn là nơi gìn giữ được nhiều di sản quý báu của nền văn hoá Chămpa, bao gồm chữ viết, dân ca và nghệ thuật múa, trang phục và nghề dệt thổ cẩm, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc.
Dân số năm 2001 ước tính khoảng 531.700 người với mật độ dân số 158,2 người /km2.  Số người trong độ tuổi lao động là 280.714 người.
Tỉnh Ninh Thuận có 28 sắc tộc, nhưng đông nhất là người Kinh, người Chăm và người Rac Lay (Djarlai). Theo tài liệu điều tra dân số 1/4/1999, Ninh Thuận có 57.100 người Chăm, chiếm trên 11,3% dân số toàn tỉnh và chiếm 43,0% tổng số người Chăm của cả nước (khoảng 120.000 người); 47.600 người Rac Lay (Djarlai), chiếm 9,4% dân số toàn tỉnh và 49,1% tổng số người Rac Lay (Djarlai) của cả nước.
Tỉnh có hơn 20 làng người Chăm, trong đó có những làng vẫn duy trì các tập quán của chế độ mẫu hệ. Ninh Thuận có gần như còn nguyên vẹn hệ thống tháp Chàm xây dựng trong nhiều thế kỷ trước, tiêu biểu là cụm tháp Hoà Lai xây dựng thế kỷ thứ  9, cụm tháp Poklong Garai xây dựng thế kỷ 13 và cụm tháp Pôrômê xây dựng thế kỷ 17.
 Thị xã: Phan Rang - Tháp Chàm,  nằm trên giao điểm quốc lộ số 1, đường sắt Bắc Nam với đường quốc lộ 27 đi thành phố Ðà Lạt, cạnh phi trường Phan Rang nay gọi là sân bay Thành Sơn.  Thị xã Phan Rang- Tháp Chàm cách thành phố Nha Trang 105 Km, cách thành phố Ðà Lạt 110Km, cách Thành phố Sài Gòn 350 Km và cách Hà Nội 1388 km..
 Các Quận: Trước 1975 có 5 quận là Thanh Hải, Bửu Sơn, An Phước, Du Long và Sông Pha, bao gồm 27 xã.
Hiện nay, tỉnh có 6 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm thị xã Phan Rang-Tháp Chàm và 5 huyện: Bác Ái, Ninh Hải, Ninh Phước, Ninh Sơn, Thuận Bắc với 44 xã, 4 thị trấn và 12 phường.
 Khí hậu: Ninh Thuận là miền khô cằn và nóng nhất của Việt Nam, là nơi có lượng nước mưa thấp nhất.  Khí hậu kết hợp giữa gió mùa nhiệt đới với khí hậu gió khô với các đặc trưng là khô nóng, gió nhiều bốc hơi mạnh và không có mùa đông.  Có 2 mùa là mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
- Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 27,20C và nhiệt độ thấp nhất 14,20C. 
- Ðộ ẩm trung bình trong năm là 76 %. 
- Lượng mưa trung bình trong năm 705mm (28 inches) và tăng dần theo độ cao lên đến 1.100mm (43 inches) ở vùng miền núi, thấp nhất 53mm (2.08 inches). 
- Số giờ nắng trung bình trong năm:  2.170,8 giờ. 
- Tốc độ gió trung bình 1,7 - 2,9m/giây. 
- Tốc độ gió cao nhất 4,5m/giây.
 Ðất canh tác: Tính đến ngày 1/10/2001 có 59.286,3 ha tức khoảng 17% diện tích toàn tỉnh và khoảng 34.5% của toàn bộ đất có thể dùng cho nông nghiệp và chăn nuôi., trong đó diện tích đất có thể trồng cây công nghiệp là 37.132 ha.
 Ðất lâm nghiệp: Tính đến ngày 1/10/2001 là 157.687,1 ha.
 Mặt nước nuôi tôm:  1.008 ha (năm 2001).

Bản đồ tỉnh Ninh Thuận chụp từ vệ tinh với ô tọa độ

Bản đồ Việt Nam chính xác chụp từ vệ tinh

 Bản đồ tỉnh Ninh Thuận chụp từ vệ tinh

Bản đồ trung tâm Ninh Thuận chụp từ vệ tinh


HẠ TẦNG KIẾN TRÚC

Kể từ thời chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đến nay, tại Ninh Thuận chỉ có vài ba công trình xây dựng lớn như đập Ða Nhim, hệ thống ống thủy áp (đã từng bị đặc công Việt cộng phá hoại) và Nhà máy phát điện Sông Pha, nhà máy xi măng, nhà máy đường Phan Rang-Tháp Chàm, và đập Tân Giang
Riêng Ðập Đa Nhim dài 1.460m, cao 38m, đáy rộng 180m, đỉnh cao 6m, chứa khoảng 165 triệu m3 nước từ hai sông Đa Nhim và Kronglet đổ vào. Hồ Đa Nhim có diện tích 9,7km2, ở độ cao xấp xỉ 1.042m so với mực nước biển, nước từ hồ theo hai đường hầm bê tông xuyên núi dài 5km tới chóp núi thì ùa vào hai ống thép thủy áp có đường kính 2m (càng xuống càng nhỏ dần còn 1m), vận hành bốn turbines sản xuất khoảng 7.880kW điện.  Công trình này do Nhật xây dựng để bồi thường chiến tranh.
Sau năm 1975, tỉnh Ninh Thuận bị sát nhập với tỉnh Bình Thuận tạo thành cái quái thai gọi là tỉnh Thuận Hải mà dân chúng miền Nam đặt cho nó cái hỗn danh là "tỉnh Sợ Hãi".  Những năm đầu dưới chế độ Cộng Sản được xem là những năm phá hoại triệt để; tất cả mọi cấu trúc từ nhà máy, đê điều, cầu đường đều xuống cấp hoặc tê liệt. Tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội từ đông sang tây được thể hiện bằng việc ăn cắp từ cái đinh, dây đèn đường, đường rầy xe lửa cho đến tất cả mọi thứ vật liệu xây dựng như xi măng, gỗ, sắt thép v.v...Cái chủ nghĩa "cha chung không ai khóc" đã khiến tỉnh Ninh Thuận đi thụt lùi về "thời đồ đá cũ".  Vì vậy cho nên sau giai đoạn "đổi mới" và nhất là kể từ năm 1992 Ninh Thuận tách ra khỏi tỉnh "Sợ Hãi", đã đổ ra biết bao nhiêu tiền của đầu tư để xây dựng và sửa chữa kéo dài hàng 15 năm mà vẫn còn rất là yếu kém về nhiều mặt.
- Nguồn điện:   Ninh Thuận có nhà máy Thuỷ Ðiện Ða Nhim I và II với tổng công suất 167,5 MW, cung cấp điện đến 58 xã, phường.
- Nguồn nước: Hiện đang sử dụng các nguồn nước sau đây cho sản xuất và sinh hoạt :
- Nguồn nước Sông Cái . 
- Hệ thống Ðập Nha Trinh - Lâm Cấm tưới cho 12.500 ha 
- Hệ thống đập dâng sông Lu tưới cho 1.200 ha 
- Hệ thống thủy nông Sông Pha tưới cho 2.000 ha 
- Các hồ chứa nhỏ tưới cho 3.000 ha 
- Hồ mới Tân Giang tưới cho 3.000 ha
Nguồn nước uống vần còn thiếu, đặc biệt trong khu vực thị tứ chỉ cung cấp được hơn 1/5 nhu cầu mà thôi. Vào cuối năm 1999 dự án đầu tư 12 tỉ đồng để xây dựng nhà máy nước với công suất 12.000 m3/ngày cũng chỉ đủ thỏa mãn nhu cầu nước uống cho thị xã Phan Rang mà thôi.  Phần lớn các vùng đất vẫn còn nhờ vào nguồn nước mưa để canh tác. Về mùa nắng các đàn gia súc đã tiêu thụ một lượng nước rất lớn trên sông Cái và sông Dinh.
Việc vận tải và chuyên chở vẫn còn khó khăn, đặc biệt là trên vùng núi.  Ðiểm đáng lưu ý, tuy Ninh Thuận là thành phố duyên hải nhưng lại không có một hải cảng nào cả!

TÌNH TRẠNG KINH TẾ XÃ HỘI

Sản phẩm công nghiệp

Khả năng sản xuất còn rất yếu, tập trung vào các vật liệu xây dựng, ví dụ: xi măng 15.000 tấn/năm, đá xây cất 35.000m3/năm. Ðường ăn sản xuất khoảng 10.000 tấn/năm, sản phẩm đông lạnh 8-10 tấn/năm. Kỹ nghệ sản xuất muối là chính, Ninh Thuận là địa phương sản xuất muối lớn nhất cả nước, sản lượng khoảng 130 nghìn tấn/năm. với các nhà máy sản xuất muối lớn ở Cà Ná, Phương Cựu ...

Khoáng sản

Rất giàu khoáng sản gốc từ cát với trữ lượng bồ tạt (P-Phốt phát) khoảng 3.7 triệu m3; đá vôi và san hô với trữ lượng C1 và C2 khoảng 4.5 triệu tấn; cát trắng (97.09 - 97.2% SiO2) với trữ lượng P khoảng 5.77 triệu tấn; đá cẩm thạch (marble) gốc từ đá hoa cương (granite) có trữ lượng khoảng 851.5 triệu m3; và soda trong các vỉa cát với trữ lượng khai thác hàng năm khoảng 1.000 tấn vỉa cát và 600 tấn soda, có thể khai thác khoảng 3.000 tấn thạch cao hàng năm. Ngoài ra cũng còn nhiều khoáng sản khác mà trữ lượng chưa biết rõ, như vàng, kẽm, molybdenum, feldspar và quặng sulfid (pyrites).

Nông- Lâm- Ngư nghiệp

Nông nghiệp: 
Ðất canh tác được có khoảng 59.286,3 ha tức khoảng 17% diện tích toàn tỉnh và khoảng 34.5% của toàn bộ đất có thể dùng cho nông nghiệp và chăn nuôi, trong số đó có 14.400 ha được tưới tiêu, bao gồm 12.000 ha lúa gạo, 1.500 ha nông sản phụ và 1.100 ha nho. Khí hậu khô nóng của Ninh Thuận đã tạo nên những vùng sản xuất tập trung đặc thù, đặc biệt là các vùng trồng nông sản. Vùng trồng thuốc lá khoảng 2.000 ha sản xuất được khoảng 5.000 tấn/năm cung cấp 100% thuốc lá cho công ty Kỹ nghệ Thuốc lá Việt Nam (Vietnam Tobacco Industry). Vùng trồng nho khoảng 1.100 ha, sản xuất khoảng 23.000-25.000 tấn nho tươi/năm. Vùng trồng hành tỏi khoảng 500-700 ha, thường xuất cảng phần lớn sang Nhật và Liên Xô cũ. Ngoài ra tỉnh Ninh Thuận cũng trồng bông vải và mía đường.
Chăn nuôi:
Tổng số đàn gia súc khoảng 67.000 con. Truyền thống nhà nông thường chăn đàn nhỏ khoảng 15-20 con, nhưng cũng có trường hợp đặc biệt có đàn đến 1500 con bò. Các giống bò rất tốt, giống lai Sind chiếm đến 50-70%. Khi hậu Phan Rang rất thích hợp chăn nuôi những đàn dê và trừu lớn.
Lâm nghiệp:
Ðất rừng chiếm khoảng 20.000 ha, tức khoảng 60% diện tích của tỉnh. Rừng có nhiều loại gỗ quý với trữ lượng khoảng 6.7 triệu m3. Hàng năm khai thác khoảng 10.000-15.000 m3 gỗ. Khoảng 80.000 ha đất trần trụi và những đồi trọc, có khuynh hướng tăng thêm do việc phá rừng bừa bãi.
Ngư nghiệp:
Vùng duyên hải Ninh Thuận trải dài trên 105 km với vùng hải phận khoảng 18.000 km2. Trữ lượng ngư nghiệp ước đoán khoảng 120.000 tấn/năm. Mỗi năm khai thác được khoảng 2.000 tấn tôm và 20.000 tấn cá. Khoảng 2.500 ha dọc bờ biển có thể dùng để làm muối, nuôi tôm, trồng rong tảo và phát triển kỹ nghệ du lịch. Ninh Thuận có khoảng hơn 1.100 ghe cỡ 1.000 mã lực; hàng năm tỉnh sản xuất hơn 15.000 tấn hải sản, và kim ngạch xuất khẩu trị giá đến cả 10 triệu đô-la (USD).

Du lịch và dịch vụ

Ninh Thuận có rất nhiều cảnh đẹp như đèo Ngoạn Mục, tháp Chàm xây khoảng thế kỷ XII-XIII mà đến nay vẫn còn tốt, những bãi biển đẹp như Ninh Chữ, Cà Ná, Sơn Hải, Vĩnh Hy, suối nước nóng Tân Mỹ... và những lễ hội truyền thống của người Chàm. Nếu được đầu tư đúng cách và đúng mức thì kỹ nghệ du lịch của Ninh Thuận sẽ thành công rất lớn.

Xin bấm vào đây để xem tiếp >>> PHẦN II

Cẩn cáo:

Các hình ảnh và tài liệu trong trang này được sưu tập và tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau, từ các websites, các báo chí trong nước và ngoài nước, và các thư viện tại Hoa kỳ. Mức độ chính xác của các số liệu và dữ kiện là tương đối và lệ thuộc vào nhiều yếu tố như phương tiện, cấp độ và thời gian sưu tập chẳng hạn. Ái Hữu Ninh Thuận chỉ làm công việc "thuật nhi bất tác" mà thôi. Mọi sai sót xin quý vị và các bạn hỉ xả cho và xin vui lòng email cho chúng tôi tại aihuuninhthuan@yahoo.com. Quý vị và các bạn có toàn quyền sao chép, in ấn, xử dụng và phổ biến bất cứ tài liệu nào của Ái Hữu Ninh Thuận, tuy nhiên xin ghi rõ nguồn từ aihuuninhthuan.net và xin vui lòng link tới chúng tôi.  Xin chân thành cảm ơn.


Vị trí hiện tại của bạn bây giờ đã được đánh dấu đỏ trên bản đồ!
Click vào bản đồ để xem danh sách khách viếng thăm

Visitor Map

Click vào GEO VISITORS dưới đây để xem bản đồ vệ tinh chi tiết:

Geo Visitors Map

<=== || Quay lại ||

Âm Dương lịch

Dictionary - Tự điển:
Enter word:

Hà Nội
Thời tiết một số vùng ở nước ta
Huế
Thời tiết Huế
Nha Trang
Thời tiết Nha Trang
Saigon
Thời tiết Tp Hồ Chí Minh
Cà Mau
Thời tiết Cà Mau


 
 
 

VIETNETLINKS danh bạ trực tuyến duy nhất, chỉ dẫn đến các websites có giá trị đáng xem mà thôi!

© 2005 VIETNETLINKS.  ALL RIGHTS RESERVED