Thật là xúc động biết bao khi nói về
một vùng đất đầy kỷ niệm, rất đẹp nhưng khô cằn và
nhiều gió bụi, và những con người mà quanh năm mưa nắng
hai mùa phải làm lụng vất vả, phải vật lộn với thiên
nhiên để tồn tại và phát triển; vùng đất ấy và
những con người ấy đã cưu mang và đùm bọc chúng ta để
chúng ta có được ngày hôm nay.
Ninh Thuận là xứ có lắm nhân tài, nhiều người đẹp nổi
tiếng, cũng là xứ mà sự giao lưu hài hòa giữa hai nền văn
hóa Kinh-Champa hiện rõ nét nhất. Nói đến người Chàm và tháp
Chàm thì không thể không nói đến Ninh Thuận. Thời tuổi
trẻ chúng tôi học chung với nhau, lớn lên chúng tôi sống
với nhau, làm việc chung với nhau, tình thân thiết như anh em
trong nhà không có gì là phân biệt cả. Ðời sống của người
dân đất tháp là sự phối hợp giữa cái cần cù của dân
miền trung với cái rộng rãi hào phóng của dân miền tây và
cái chất phác thật thà của người dân Chàm.
Hồi còn chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nếu quý bạn từ xứ
khác đến ghé vào ruộng rẫy của dân Ninh Thuận thì đương
nhiên là bạn được chủ cho phép thưởng thức hoa trái
thoải mái ở tại rẫy, miễn sao đừng bỏ túi đem về nhà
là được; xem thế đủ biết người dân Ninh Thuận rộng rãi,
tốt bụng và hiếu khách cỡ nào.
Mấy chục năm rồi cũng đã đi qua nhiều chỗ, tiếp xúc
với nhiều người khác nhau nhưng lòng thì lúc nào cũng thấy
nhớ đất và thương người Ninh Thuận. Thật là rất bùi ngùi
xúc động khi được đi ngược dòng thời gian để tìm lại
những ngày leo cây me sau trường Nam, lội sông qua Gò Ðình, câu
cá ốc mít ở bờ đê, bắt dế ruộng An Thạnh, xúc hến
cửa sông Dinh... rồi lớn lên, những đêm lửa trại, những
ngày dầm mưa lội nước lụt Tấn Tài với bạn bè, những
ngày hè trên biển Ninh Chữ, những chuyến theo ghe ra cửa Tân
Thành câu đêm... ôi những kỷ niệm đã ở trong tim óc ta và
lớn dần theo với thời gian để mỗi khi có người nhắc đến
là cảm thấy ngậm ngùi cay cay trong mắt! Ninh Thuận mảnh đất
thân thương nơi đây gìn giữ những nắm xương tàn của cha
mẹ, anh em, vợ con, bằng hữu, chiến hữu của chúng ta;
những người nằm xuống để cho những thế hệ sau vươn lên
và đất đai thêm phần màu mỡ.
Ta ước mong có một ngày khi ta nằm xuống tro cốt ta được
đem về rải trên sông Dinh, trên ruộng đồng Ninh Thuận và
trên biển Thái Bình để đêm đêm ta còn nghe được tiếng
đập lúa, tiếng cười, tiếng hát... và tiếng nước vỗ
mạn thuyền ra khơi.
Tọa
độ địadư của tỉnh Ninh Thuận: từ 11° 18' 14" đến 11°09'
45" vĩ độ Bắc
và từ 108° 39' 08" đến 109° 14' 25" kinh độ
Ðông Tọa độ địa dư của thị xã Phan Rang:
11.57° vĩ Bắc ,
109.00° kinh Ðông
PHẦN I
Vài hàng lịch sử
Trước thế kỷ 17, Ninh Thuận là vùng
đất thuộc Chiêm Thành. Chiêm Thành là tên gọi của vương quốc Chăm Pa (tiếng
Phạn là Campanagara) trong sử sách Trung Quốc từ 877 đến
1693. Trước 859 Trung Quốc gọi vương quốc này là Hoàn Vương
Quốc, kinh thành của vương quốc này đặt tại Virapura (theo tiếng Việt là thành phố Hùng Tráng), nay là thôn Palai Bachong, xã Hòa Trinh, huyện An Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Vương quốc này là giai đoạn tiếp theo của Lâm Ấp trong lịch sử Chăm Pa độc lập. Có tài liệu cho thấy Hoàn Vương Quốc là thuộc triều đại thứ năm (758-859) trong số năm triều đại; bốn triều đại trước đó thuộc về thời kỳ Lâm Ấp trong lịch sử Chăm Pa.
Đầu thế kỷ thứ 11, Chiêm Thành bao gồm 5 tiểu vương quốc là: Indrapura (vùng Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế ngày nay), Amaravati (vùng Quảng Nam ngày nay), Vijaya (vùng Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay), Kauthara (vùng Phú Yên, Khánh Hòa ngày nay) và Panduranga (vùng Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay). Từ năm 875, sử Trung Quốc gọi Chăm pa là Chiêm Thành Quốc. Riêng
vùng Phan Rang (Panduranga) ngày nay được sử sách Trung Quốc
gọi là Tân Đồng Long. Đời chúa Nguyễn Phúc Tần
(1653), sông
Phan Rang là ranh giới hai nước Chiêm - Việt. Năm 1692, vua Chiêm là Bà Tranh đem
quân tấn công các tỉnh phía nam, chúa Nguyễn Phúc Chu đem quân đi đánh và
bắt được Bà Tranh, bèn sát nhập đất Chiêm Thành vào nước
ta và đặt tên là trấn Thuận Thành (Dấu tích khốc liệt
của cuộc chiến tranh còn lưu lại tại các nghĩa địa Chàm
trong khu vực 2 quận Thanh Hải và An Phước xưa).
- Năm 1697, chúa Nguyễn cho thành lập phủ Bình Thuận và dinh
Bình Thuận có các đạo Phan Thiết, Phan Lang, Maly và Phố Hài.
- Đời Gia Long, dinh Bình Thuận đổi thành trấn.
- Đời Minh Mạng đạo Phan Lang đổi thành huyện An Phước.
- Năm 1832, trấn Thuận Thành đổi thành tỉnh Bình Thuận,
gồm hai phủ Ninh Thuận và Hàm Thuận.
- Năm 1888, phủ Ninh Thuận sát nhập vào Khánh Hòa.
- Năm 1913, được tách rời và trở thành tỉnh Ninh Thuận.
- Năm 1915, Ninh Thuận lại trở thành một phủ của tỉnh Khánh
Hòa.
- Năm 1922, phủ Ninh Thuận đổi thành đạo.
- Năm 1942 đổi lại thành tỉnh.
- Trước năm 1975, tỉnh Ninh Thuận có 5 quận Bửu Sơn, An Phước,
Du Long,Thanh Hải và Sông Pha; trong đó bao gồm Thị xã Phan
Rang - Tháp Chàm và 27 xã ngoại vi.
- Sau năm 1975, Ninh Thuận sáp nhập vào tỉnh Thuận Hải.
- Năm 1992 Thuận Hải bị hủy bỏ, Ninh Thuận đổi lại thành
tỉnh như cũ.
- Hiện nay tỉnh Ninh Thuận có 6 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm
thị xã Phan Rang-Tháp Chàm và 5 huyện: Bác Ái, Ninh Hải, Ninh
Phước, Ninh Sơn, Thuận Bắc với 44 xã, 4 thị trấn và 12 phường.
Di tích
Tháp Pôklông Garai
(Po Kluang Garai) còn gọi là Tháp Chàm:
Tháp Pôklông Garai nằm
trên ngọn đồi Trầu (Cơk Hala) thuộc phường Đô Vinh, cách
trung tâm thị xã Phan Rang 5 km (3 miles) về phía Tây Bắc, gần
ga xe lửa Tháp Chàm. Theo truyền thuyết, tháp được vua
Simhavarman III (Chế Mân) xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ
12 đầu thế kỷ 13 để thờ vua Pôklông Garai (1151-1205) một
vì vua có công trong việc chống giặc ngoại xâm, xây dựng đất
nước, tương truyền ông chịu nhiều đau khổ và chết vì
bệnh cùi, được người Chiêm Thành suy tôn thành thần thánh.
Đây là một trong những công trình lịch sử lớn của dân
tộc Chiêm Thành. Tháp Pôklông Garai là một quần thể kiến
trúc gồm nhiều công trình lớn nhỏ khác nhau, nhưng hiện nay
còn lại 3 ngôi tháp theo thứ tự:
- Tháp Cổng (Kalan Tahah Libang) cao khoảng 8,56m.
- Tháp Chính (Kalan Po) cao 21,59 m (64.77 ft) mỗi cạnh rộng hơn
10 m (30 ft). Tháp một tầng, hình đồ vuông với nội thất hình
chữ nhật theo hướng Đông Tây, cửa mở mặt Đông; bên
trong thờ một tượng vua Po Kluang Garai bằng đá dưới hình
thể Mukhalinga (Linga có gắn mặt vua) và một tượng bò thần
Nandin bằng đá đặt ở lối ra vào. Ngoài ra ở phía sau tháp
chính còn có một ngôi miếu nhỏ thờ một phiến đá. Xung
quanh tháp được bao bằng một vòng thành.
- Tháp Lửa (Sang Cuh Yang Apui) cao 9,31m.
Tháp Pôklông Garai là một cụm tháp hoàn mỹ, đã đạt đến
đỉnh cao rực rỡ trong nền nghệ thuật kiến trúc, điêu
khắc Champa.
Tháp được trùng tu vào các năm :
Năm 1981: tu sửa phục hồi phần di tích đổ vỡ.
Năm 1983: phục hồi, gia cố móng và chân tháp đã bị hỏng hơn
1/3.
Năm 1984: tu sửa phục hồi tháp chính.
Năm 1985: tu sửa 3 tháp.
Năm 1987: phục hồi bức tường đổ do các chuyên gia Ba Lan đảm
trách.Trong quá trình khai quật nghiên cứu và tu sửa tháp trước
kia của người Pháp đã tìm thấy một số bát bằng vàng,
bạc và đồ trang sức. Gần đây khi tu sửa tháp, ngành khảo
cổ Việt Nam cũng tìm thấy một số bát vàng. Hàng năm người
dân quanh vùng Phan Rang thường tiến hành các ngày lễ lớn dưới
chân tháp.
Tháp Pôrômê (Po Rame) còn gọi là tháp
Hậu Sanh:
Tháp Pôrômê nằm trên ngọn đồi “Bôn Acho” thuộc
thôn Hậu Sanh, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, cách thị xã
Phan Rang 15 km về phía tây nam. Tháp Pôrômê được xây dựng
vào cuối thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17 để thờ vị vua Pôrômê.
Tháp Pôrômê là tổng thể kiến trúc gồm có 3 ngôi tháp: Tháp
chính, tháp cổng và tháp lửa. Nhưng hiện tại chỉ còn lại
một ngôi tháp chính hình vuông, 4 tầng, cao 19 m, đáy rộng
gần 8 m, cửa mở hướng Đông với cấu trúc cổng dạng
tiền sảnh, bên trong có thờ một tượng vua Pôrômê bằng đá
dưới hình thể Mukhalinga và một tượng thờ hoàng hậu Bia
Than Chan bằng đá - người Êđê. Phía sau tháp chính còn có
một ngôi miếu nhỏ thờ tượng Hoàng hậu Bia Than Cih bằng
đá - người Chăm.
Còn hai ngôi tháp khác là tháp cổng và tháp lửa đã sụp đổ.
Tháp Pôrômê không cao to bề thế như tháp Pôklông Garai nhưng
tháp có một phong cách nghệ thuật kiến trúc riêng biệt –
phong cách Pôrômê. Tháp Pôrômê được xem là ngôi tháp cuối
cùng trong lịch sử nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc đền
tháp của người Chiêm Thành. Tháp Pôrômê là một trong ít tháp
còn nguyên vẹn cho đến nay, là nơi người Chiêm Thành thường
xuyên làm lễ cầu khấn vị vua đã được thần hóa Pôrômê
vào những ngày lễ Tết.
Tháp Hòa Lai còn gọi là Ba Tháp:
Cách thị xã Phan Rang khoảng 14 km (9 miles) về hướng
Bắc dọc quốc lộ 1, thuộc địa phận thôn Ba Tháp, nay
thuộc xã Tâm Hải, huyện Ninh Hải. Tháp được xây dựng vào
đầu thế kỷ 9, trước đây gồm có 3 tháp trên một diện tích
dài 200 m (600 ft), rộng 125 m (375 ft) có vòng thành bao quanh, nhưng
hiện nay tháp trung tâm và vòng thành đã bị sụp đổ hoàn
toàn chỉ còn 2 ngôi tháp ở phía bắc và phía nam nhưng vẫn
đang trong tình trạng hư hại trầm trọng. Tháp Hòa Lai là
quần thể kiến trúc đền tháp vào loại lớn của người
Chiêm Thành. Tháp có mái dạng hình khối nên tháp được
xếp vào loại nghệ thuật hình khối và mang phong cách Hòa
Lai. Tháp Hoà Lai, mặc dù có phong cách riêng nhưng nó cũng
mang một số đặc điểm chung như các tháp Chiêm Thành khác.
Bên trong lòng của tháp phía nam là bệ thờ Linga - Yoni. Ở trên
các mặt tường tháp có điêu khắc các tượng thờ như tượng
tu sĩ Bàlamôn, chim thần Garuda và các cột trụ đều có
chạm khắc, trang trí hình hoa lá. Tất cả đề tài trang trí
được tạc trực tiếp lên mặt tường của tháp. Hiện nay
tháp này người Chàm không thờ phượng cúng tế.
Mũi Dinh:
Thuộc xã Sơn Hải, Mũi Dinh cao hơn mặt biển gần 200
m (600 ft). Trước năm 1975 nơi này có đài khí tượng và
ngọn hải đăng hướng dẫn tàu bè qua lại được xây dựng
từ thời Pháp thuộc.
Thắng cảnh:
Làng Du Lịch Cà Ná:
Làng cách thị xã Phan
Rang 32 km (20 miles) về phía Nam, cách thị xã Phan Thiết
114 km (71 miles) về phía Bắc, rất thuận tiện cho du khách
đi đường bộ và đường sắt. Tại đây, du khách được
tắm biển, đi chơi rừng, leo núi, thăm các hang động
rất ngoạn mục: hang Ông Phật, ghềnh Ông Nồng, giếng
Đục, núi Ðá Bạc. Khu Nhà Bằng Thương Diêm về phía
đông bắc Cà Ná cũng rất đẹp.
Bãi Tắm Ninh Chữ:
Cách thị xã Phan Rang
khoảng 5km (3 miles) về hướng Đông nay thuộc địa
phận xã Khánh Hải, huyện Ninh Hải. Bãi biển Ninh Chữ
là bãi tắm đẹp, có chiều dài 10 km (6 miles), bờ biển
hình vòng cung bằng phẳng, xung quanh là rừng dương và các
núi Đá Chồng, núi Quýt, núi Ðình Tri Thủy, núi Cà Đú...
rất thích hợp cho các hoạt động du lịch như tắm
biển, lướt ván, câu cá, du thuyền, leo núi, săn bắn.
Khí hậu Ninh Chữ mát mẻ, nắng ấm quanh năm.
Núi Đá Trắng:
Một địa danh chứa nhiều di chỉ của người Chăm
xưa, thuộc xã Phước Thái, huyện Ninh Phước. Gọi núi Đá
Trắng bởi ở đây toàn đá trắng với những bụi nhỏ lúp
xúp. Tiếng Chăm "đá trắng" nghĩa là Ông Vua. Truyền
thuyết kể lại rằng khi người Chăm thất thủ phải chạy vào
phía Nam, vua thời ấy đã tìm cách giấu kho báu của mình
tại địa điểm này. Để bảo toàn kho báu, nhà vua đã yểm
một cặp rắn rất to làm thần giữ của. Từ đó hàng năm
nhà vua làm lễ tế thần rất lớn, uy nghiêm và trang trọng,
thường là một con trâu nướng nguyên con. Nhưng đến đây dân
trong vùng chỉ cúng tượng trưng bằng xôi vào đầu tháng giêng
(Chăm lịch). Trước đây quân Nhật cũng từng mon men khai thác
núi Đá Trắng, theo các cụ kể lại, các chuyên gia của họ
đều chết yểu do bị "thần rắn" giữ của làm
hại. Phong cảnh núi Đá Trắng hùng vĩ, phía trước núi là cánh
đồng lúa nhấp nhô lượn sóng, xa xa phía Bắc là đỉnh
Poklong kỳ vĩ vươn cao; phía Nam là tháp Pôrômê cổ kính đứng
trầm tư; phía tây là đồi núi trùng điệp mênh mông khắp
cả một vùng. Truyền thuyết núi Đá Trắng đã làm tăng thêm
sự huyền bí, hấp dẫn du khách đến với vùng đất này.
Vịnh Vĩnh Hy:
Cách thị xã Phan Rang
- Tháp Chàm chừng 42 km (26 miles) về hướng Đông Bắc,
thuộc xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải. Vĩnh Hy là vùng
vịnh thiên nhiên còn nhiều nét hoang sơ, một quần thể
hài hòa bao gồm những bãi cát trắng sạch, đẹp,
những dãy núi đá xếp chồng lên nhau, những hang động,
núi rừng. Đó là nơi du lịch lý tưởng cho tương lai
bởi môi trường và cảnh quan thiên nhiên còn nguyên
vẹn, hầu như chưa bị ô nhiễm.
Ðầm Nại:
Về phía tây bắc của Ninh Chữ
khoảng 1.5 km, khi nước thủy triều lớn là một phong
cảnh tuyệt đẹp, xung quanh có Hòn Thiêng, núi Ðình Phương
Cựu, Núi Cà Ðú và Núi Quýt; cũng là nơi có nhiều thú
như chèo thuyền, câu cá, bắt ốc rất tốt.
Đèo Ngoạn Mục:
Trên đường đi Đà Lạt sẽ
gặp đèo này, gần thị trấn Sông Pha. Khí hậu nơi này
luôn luôn mát dịu, hướng xuống thung lũng là màu xanh
của rừng bạt ngàn. Ninh Thuận còn có một thắng cảnh
rất độc đáo là những đồi cát rất lớn từ vùng Thành
Tín, Tuấn Tú kéo dài đến khu vực đầm Sơn Hải.
NINH THUẬN là một tỉnh thuộc
miền Nam Trung Phần Việt Nam. Bắc giáp Cam Ranh và Tỉnh
Khánh Hòa, Tây giáp Tỉnh Lâm Ðồng và Tuyên Ðức, Nam giáp
tỉnh Bình Thuận, Ðông giáp biển Ðông.
Ninh Thuận được bao bọc bởi ba mặt núi và một mặt biển.
Phía tây là vùng núi cao giáp Tuyên Ðức và Lâm Ðồng, phía
bắc và phía nam có hai dãy núi chạy ra biển. Vùng đồng
bằng khô cằn nằm ở giữa kéo dài tới ven biển chiếm
22,4% diện tích toàn tỉnh, vùng núi cao chiếm 63,2%, vùng gò
đồi chiếm 14,4%. Ninh Thuận có nhiều sông, suối; lớn
nhất là sông Cái, khi chảy qua vùng Phan Rang được gọi là sông
Dinh. Nếu tính cả các phụ lưu là sông Mê Lam, sông Sắt, sông
Ông, sông Chá, sông Lu và sông Quao thì hệ thống sông Cái có
chiều dài khoảng 250 km. Ngoài hệ thống này, Ninh Thuận còn
có một số sông khác như sông Tô Hạp, sông Trâu, sông Quán
Thẻ, sông Bà Râu... với tổng chiều dài khoảng 210 km.
Ninh Thuận có bờ biển dài khoảng 105 km, nổi tiếng với
những bãi biển cát trắng như biển Ninh Chữ, Sơn Hải, Cà Ná,
Thương Diêm, Mỹ Tường, Thái An, Vĩnh Hy; những đầm nước
tuyệt đẹp và đầy thủy sản như đầm Nại, đầm Sơn
Hải, đầm Vua, đầm Vĩnh Hy; những vườn nho nặng trĩu
trái đủ màu, những rẫy hành tỏi thẳng tắp, những vườn
tiêu và trầu xanh mướt.
Diện Tích: 3.360,06 km² (336.006 ha) trải dài trên 3 miền: đồng
bằng, duyên hải và miền núi. Dân cư: Ninh Thuận là
một trong những địa bàn sinh sống của người Việt cổ. Các
nhà khảo cổ đã phát hiện được ở vùng Nhơn Hải các
mộ cổ chôn theo các đồ đá, đồ sắt thuộc nền văn minh
Sa Huỳnh cách đây khoảng 2.500 năm. Ninh Thuận còn là nơi gìn
giữ được nhiều di sản quý báu của nền văn hoá Chămpa,
bao gồm chữ viết, dân ca và nghệ thuật múa, trang phục và
nghề dệt thổ cẩm, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc.
Dân số năm 2001 ước tính khoảng 531.700 người với mật độ
dân số 158,2 người /km2. Số người
trong độ tuổi lao động là 280.714 người.
Tỉnh Ninh Thuận có 28 sắc tộc, nhưng đông nhất là người
Kinh, người Chăm và người Rac Lay (Djarlai). Theo tài liệu điều tra dân số 1/4/1999, Ninh Thuận có
57.100 người Chăm, chiếm trên 11,3% dân số toàn tỉnh và
chiếm 43,0% tổng số người Chăm của cả nước (khoảng
120.000 người); 47.600 người Rac Lay (Djarlai), chiếm 9,4% dân
số toàn tỉnh và 49,1% tổng số người Rac Lay (Djarlai) của
cả nước.
Tỉnh có hơn 20 làng người Chăm, trong đó có những làng
vẫn duy trì các tập quán của chế độ mẫu hệ. Ninh Thuận
có gần như còn nguyên vẹn hệ thống tháp Chàm xây dựng
trong nhiều thế kỷ trước, tiêu biểu là cụm tháp Hoà Lai xây
dựng thế kỷ thứ 9, cụm tháp Poklong Garai xây dựng
thế kỷ 13 và cụm tháp Pôrômê xây dựng thế kỷ 17. Thị xã: Phan Rang - Tháp
Chàm, nằm trên giao điểm quốc lộ số 1, đường sắt
Bắc Nam với đường quốc lộ 27 đi thành phố Ðà Lạt,
cạnh phi trường Phan Rang nay gọi là sân bay Thành Sơn.
Thị xã Phan Rang- Tháp Chàm cách thành phố Nha Trang 105 Km, cách
thành phố Ðà Lạt 110Km, cách Thành phố Sài Gòn 350 Km và cách
Hà Nội 1388 km.. Các Quận: Trước 1975 có
5 quận là Thanh Hải, Bửu Sơn, An Phước, Du Long và Sông Pha,
bao gồm 27 xã.
Hiện nay, tỉnh có 6 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm
thị xã Phan Rang-Tháp Chàm và 5 huyện: Bác Ái, Ninh Hải, Ninh
Phước, Ninh Sơn, Thuận Bắc với 44 xã, 4 thị trấn và 12 phường. Khí hậu: Ninh Thuận là
miền khô cằn và nóng nhất của Việt Nam, là nơi có lượng
nước mưa thấp nhất. Khí hậu kết hợp giữa gió mùa
nhiệt đới với khí hậu gió khô với các đặc trưng là khô
nóng, gió nhiều bốc hơi mạnh và không có mùa đông.
Có 2 mùa là mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và
mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
- Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 27,20C và nhiệt độ
thấp nhất 14,20C.
- Ðộ ẩm trung bình trong năm là 76 %.
- Lượng mưa trung bình trong năm 705mm (28 inches) và tăng dần
theo độ cao lên đến 1.100mm (43 inches) ở vùng miền núi,
thấp nhất 53mm (2.08 inches).
- Số giờ nắng trung bình trong năm: 2.170,8 giờ.
- Tốc độ gió trung bình 1,7 - 2,9m/giây.
- Tốc độ gió cao nhất 4,5m/giây. Ðất canh tác: Tính đến
ngày 1/10/2001 có 59.286,3 ha tức khoảng 17% diện tích toàn
tỉnh và khoảng 34.5% của toàn bộ đất có thể dùng cho nông
nghiệp và chăn nuôi., trong đó diện tích đất có thể
trồng cây công nghiệp là 37.132 ha. Ðất lâm nghiệp: Tính đến
ngày 1/10/2001 là 157.687,1 ha. Mặt nước nuôi tôm:
1.008 ha (năm 2001).
Bản đồ tỉnh
Ninh Thuận chụp từ vệ tinh với ô tọa độ
Bản đồ Việt Nam
chính xác chụp từ vệ tinh
Bản đồ tỉnh Ninh Thuận chụp từ vệ
tinh
Bản đồ trung tâm
Ninh Thuận chụp từ vệ tinh
HẠ TẦNG KIẾN TRÚC
Kể từ thời chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đến
nay, tại Ninh Thuận chỉ có vài ba công trình xây dựng lớn
như đập Ða Nhim, hệ thống ống thủy áp (đã từng bị đặc
công Việt cộng phá hoại) và Nhà máy phát điện Sông Pha, nhà
máy xi măng, nhà máy đường Phan Rang-Tháp Chàm, và đập Tân
Giang
Riêng Ðập Đa Nhim dài 1.460m, cao 38m, đáy rộng 180m, đỉnh
cao 6m, chứa khoảng 165 triệu m3 nước từ hai sông Đa Nhim và
Kronglet đổ vào. Hồ Đa Nhim có diện tích 9,7km2, ở độ cao
xấp xỉ 1.042m so với mực nước biển, nước từ hồ theo
hai đường hầm bê tông xuyên núi dài 5km tới chóp núi thì
ùa vào hai ống thép thủy áp có đường kính 2m (càng xuống
càng nhỏ dần còn 1m), vận hành bốn turbines sản xuất
khoảng 7.880kW điện. Công trình này do Nhật xây dựng để
bồi thường chiến tranh.
Sau năm 1975, tỉnh Ninh Thuận bị sát nhập với tỉnh Bình
Thuận tạo thành cái quái thai gọi là tỉnh Thuận Hải mà dân
chúng miền Nam đặt cho nó cái hỗn danh là "tỉnh Sợ Hãi".
Những năm đầu dưới chế độ Cộng Sản được xem là
những năm phá hoại triệt để; tất cả mọi cấu trúc từ
nhà máy, đê điều, cầu đường đều xuống cấp hoặc tê
liệt. Tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội từ đông sang tây
được thể hiện bằng việc ăn cắp từ cái đinh, dây đèn
đường, đường rầy xe lửa cho đến tất cả mọi thứ
vật liệu xây dựng như xi măng, gỗ, sắt thép v.v...Cái chủ
nghĩa "cha chung không ai khóc" đã khiến tỉnh Ninh
Thuận đi thụt lùi về "thời đồ đá cũ". Vì
vậy cho nên sau giai đoạn "đổi mới" và nhất là
kể từ năm 1992 Ninh Thuận tách ra khỏi tỉnh "Sợ Hãi",
đã đổ ra biết bao nhiêu tiền của đầu tư để xây dựng
và sửa chữa kéo dài hàng 15 năm mà vẫn còn rất là yếu kém
về nhiều mặt. - Nguồn điện: Ninh Thuận có nhà máy Thuỷ Ðiện
Ða Nhim I và II với tổng công suất 167,5 MW, cung cấp điện
đến 58 xã, phường. - Nguồn nước: Hiện đang sử dụng các nguồn nước
sau đây cho sản xuất và sinh hoạt :
- Nguồn nước Sông Cái .
- Hệ thống Ðập Nha Trinh - Lâm Cấm tưới cho 12.500 ha
- Hệ thống đập dâng sông Lu tưới cho 1.200 ha
- Hệ thống thủy nông Sông Pha tưới cho 2.000 ha
- Các hồ chứa nhỏ tưới cho 3.000 ha
- Hồ mới Tân Giang tưới cho 3.000 ha
Nguồn nước uống vần còn thiếu, đặc biệt trong khu vực
thị tứ chỉ cung cấp được hơn 1/5 nhu cầu mà thôi. Vào
cuối năm 1999 dự án đầu tư 12 tỉ đồng để xây dựng nhà
máy nước với công suất 12.000 m3/ngày cũng chỉ đủ thỏa mãn
nhu cầu nước uống cho thị xã Phan Rang mà thôi. Phần
lớn các vùng đất vẫn còn nhờ vào nguồn nước mưa để
canh tác. Về mùa nắng các đàn gia súc đã tiêu thụ một lượng
nước rất lớn trên sông Cái và sông Dinh.
Việc vận tải và chuyên chở vẫn còn khó khăn, đặc biệt
là trên vùng núi. Ðiểm đáng lưu ý, tuy Ninh Thuận là
thành phố duyên hải nhưng lại không có một hải cảng nào
cả!
TÌNH TRẠNG KINH
TẾ XÃ HỘI
Sản phẩm công nghiệp
Khả năng sản xuất còn rất yếu,
tập trung vào các vật liệu xây dựng, ví dụ: xi măng 15.000
tấn/năm, đá xây cất 35.000m3/năm. Ðường ăn sản xuất
khoảng 10.000 tấn/năm, sản phẩm đông lạnh 8-10 tấn/năm.
Kỹ nghệ sản xuất muối là chính, Ninh Thuận là địa phương
sản xuất muối lớn nhất cả nước, sản lượng khoảng 130
nghìn tấn/năm. với các nhà máy sản xuất muối lớn ở Cà
Ná, Phương Cựu ...
Khoáng sản
Rất giàu khoáng sản gốc từ cát
với trữ lượng bồ tạt (P-Phốt phát) khoảng 3.7 triệu m3;
đá vôi và san hô với trữ lượng C1 và C2 khoảng 4.5 triệu
tấn; cát trắng (97.09 - 97.2% SiO2) với trữ lượng P khoảng
5.77 triệu tấn; đá cẩm thạch (marble) gốc từ đá hoa cương
(granite) có trữ lượng khoảng 851.5 triệu m3; và soda trong các
vỉa cát với trữ lượng khai thác hàng năm khoảng 1.000 tấn
vỉa cát và 600 tấn soda, có thể khai thác khoảng 3.000 tấn
thạch cao hàng năm. Ngoài ra cũng còn nhiều khoáng sản khác mà
trữ lượng chưa biết rõ, như vàng, kẽm, molybdenum, feldspar và
quặng sulfid (pyrites).
Nông- Lâm- Ngư
nghiệp
Nông nghiệp:
Ðất canh tác được có khoảng 59.286,3 ha tức khoảng 17%
diện tích toàn tỉnh và khoảng 34.5% của toàn bộ đất có
thể dùng cho nông nghiệp và chăn nuôi, trong số đó có 14.400
ha được tưới tiêu, bao gồm 12.000 ha lúa gạo, 1.500 ha nông
sản phụ và 1.100 ha nho. Khí hậu khô nóng của Ninh Thuận đã
tạo nên những vùng sản xuất tập trung đặc thù, đặc
biệt là các vùng trồng nông sản. Vùng trồng thuốc lá
khoảng 2.000 ha sản xuất được khoảng 5.000 tấn/năm cung
cấp 100% thuốc lá cho công ty Kỹ nghệ Thuốc lá Việt Nam
(Vietnam Tobacco Industry). Vùng trồng nho khoảng 1.100 ha, sản
xuất khoảng 23.000-25.000 tấn nho tươi/năm. Vùng trồng hành
tỏi khoảng 500-700 ha, thường xuất cảng phần lớn sang
Nhật và Liên Xô cũ. Ngoài ra tỉnh Ninh Thuận cũng trồng bông
vải và mía đường. Chăn nuôi:
Tổng số đàn gia súc khoảng 67.000 con. Truyền thống nhà nông
thường chăn đàn nhỏ khoảng 15-20 con, nhưng cũng có trường
hợp đặc biệt có đàn đến 1500 con bò. Các giống bò rất
tốt, giống lai Sind chiếm đến 50-70%. Khi hậu Phan Rang rất
thích hợp chăn nuôi những đàn dê và trừu lớn. Lâm nghiệp: Ðất rừng chiếm khoảng 20.000 ha, tức
khoảng 60% diện tích của tỉnh. Rừng có nhiều loại gỗ quý
với trữ lượng khoảng 6.7 triệu m3. Hàng năm khai thác
khoảng 10.000-15.000 m3 gỗ. Khoảng 80.000 ha đất trần trụi và
những đồi trọc, có khuynh hướng tăng thêm do việc phá
rừng bừa bãi. Ngư nghiệp:
Vùng duyên hải Ninh Thuận trải dài trên 105 km với vùng hải
phận khoảng 18.000 km2. Trữ lượng ngư nghiệp ước đoán
khoảng 120.000 tấn/năm. Mỗi năm khai thác được khoảng 2.000
tấn tôm và 20.000 tấn cá. Khoảng 2.500 ha dọc bờ biển có
thể dùng để làm muối, nuôi tôm, trồng rong tảo và phát
triển kỹ nghệ du lịch. Ninh Thuận có khoảng hơn 1.100 ghe
cỡ 1.000 mã lực; hàng năm tỉnh sản xuất hơn 15.000 tấn
hải sản, và kim ngạch xuất khẩu trị giá đến cả 10
triệu đô-la (USD).
Du lịch và dịch vụ
Ninh Thuận có rất nhiều cảnh đẹp
như đèo Ngoạn Mục, tháp Chàm xây khoảng thế kỷ XII-XIII mà
đến nay vẫn còn tốt, những bãi biển đẹp như Ninh Chữ, Cà
Ná, Sơn Hải, Vĩnh Hy, suối nước nóng Tân Mỹ... và những
lễ hội truyền thống của người Chàm. Nếu được đầu tư
đúng cách và đúng mức thì kỹ nghệ du lịch của Ninh
Thuận sẽ thành công rất lớn.
Các hình ảnh và tài
liệu trong trang này được sưu tập và tổng hợp từ nhiều
nguồn khác nhau, từ các websites, các báo chí trong nước và
ngoài nước, và các thư viện tại Hoa kỳ. Mức độ chính
xác của các số liệu và dữ kiện là tương đối và lệ
thuộc vào nhiều yếu tố như phương tiện, cấp độ và
thời gian sưu tập chẳng hạn. Ái Hữu Ninh Thuận chỉ làm công
việc "thuật nhi bất tác" mà thôi. Mọi sai sót xin quý
vị và các bạn hỉ xả cho và xin vui lòng email cho chúng tôi
tại aihuuninhthuan@yahoo.com.
Quý vị và các bạn có toàn quyền sao chép, in ấn, xử dụng
và phổ biến bất cứ tài liệu nào của Ái Hữu Ninh Thuận,
tuy nhiên xin ghi rõ nguồn từ aihuuninhthuan.net
và xin vui lòng link tới chúng tôi.
Xin chân thành cảm ơn.