Hôm nay là:


  Dự báo bão biển cho Việt Nam


Ðường đi của bão biển


  Ảnh vệ tinh biển đông


  Dự báo thời tiết Ninh Thuận 72 giờ


Bản đồ thế giới


Bản đồ hành chánh Việt Nam hiện tại


BẢN ÐỒ VIỆT NAM
trực tiếp nhìn từ vệ tinh ngay lúc này


CẨM NANG VÀ CHIẾN LƯỢC DÀNH CHO HỌC TẬP



ÐẶC BIỆT CHO HỌC SINH
SINH VIÊN TẠI VIỆT NAM

Hướng dẫn cách làm hồ sơ du học
Hướng dẫn phương cách tìm học bổng

Danh sách và xếp hạng các trường Ðại học tại Hoa Kỳ

TẬP LUYỆN ÓC


Những người Việt nổi tiếng tại Mỹ


wikiHow trang web chỉ bạn làm đủ mọi thứ


Nguyên bản tiếng Pháp của hội Thừa Sai Paris nói về cha Moussay và Trung Tâm Văn Hóa Chàm


  HẠNH THỤC CA của bà Nguyễn Nhược Thị
(PDF file, download size 201 KB)




Ðiều chỉnh hoặc tắt nhạc nền

Ðất và người Ninh Thuận

PHẦN II



Nho Phan Rang

 

Ðọc tài liệu: Tìm hiểu cộng đồng người Chăm tại Việt Nam 


Hành trình lịch sử

"... Có thể nói không một người Việt Nam nào sinh sống từ lâu đời tại miền Trung mà không mang ít nhiều dòng máu Champa trong người. Điều này cũng rất dễ khám phá, ít nhất là về hình dáng: da ngăm đen, vai ngang, mặt vuông, tóc dợn sóng, vòm mắt sâu, mắt bầu dục hai mí, mũi cao, môi dầy, miệng kín. Cũng không phải vô tình mà cách phát âm của người miền Trung khác hẳn phần còn lại của đất nước, với nhiều âm sắc thấp của người Champa. Đó là chưa kể những danh từ có nguồn gốc Champa. Cũng không phải tình cờ mà các điệu múa hát của người Chăm trở thành những điệu múa hát trong cung đình và ngoài dân gian thời Nguyễn. Nêu ra một vài trường hợp cụ thể trên chỉ để chứng minh một điều: dân cư vương quốc Champa cũ đã hội nhập hoàn toàn vào xã hội Việt Nam. Nhắc lại quá khứ của người Chăm cũng là nhắc lại quá khứ của cộng đồng người Việt tại miền Trung nói chung...." (theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy, giáo sư phụ trách khoa Các Dân Tộc Ðông Nam Á tại Ðại Học Paris 7 - xin xem tài liệu "Tìm hiểu cộng đồng người Chăm tại Việt Nam" ở trên.).

Ninh Thuận nguyên là đất của dân tộc Champa thuộc vương quốc Chiêm Thành.  Tên Chiêm Thành là do người Trung Hoa gọi theo tiếng Phạn là Champapura dịch là "Thành của người Chàm", người bản xứ gọi mình là Chăm, người Kinh đọc trại là Chàm. Phan Rang là cách đọc trại của người Kinh từ tên Chàm là Parang (Pandarunga). 

Người Chăm ở Ninh Thuận có số dân đông nhất (57.137), hiện nay chiếm gần 50% người Chăm ở Việt Nam.  Người Chăm thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo - Polinesia, chữ viết theo dạng  Pali-Sankrit.  Hiểu biết về văn chương văn hóa nằm trong tay giai cấp giáo sĩ, điều đáng buồn là phần lớn người Chăm lại không biết đọc và viết chữ của mình. Trước năm 1975 Trung tâm văn hóa Chàm do cha Moussay Gerard thuộc Hội Thừa Sai Paris thành lập tại Phan Rang là cốt để sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến và giáo dục văn hóa và cổ tự của chính người Chăm; tại đây có mở ra các lớp dạy viết và đọc chữ Chăm, học viên phần lớn là các thành phần sinh viên học sinh và trí thức Chăm.  Người Chăm  là một dân tộc thông minh, chất phác và hiền hòa; theo chế độ mẫu hệ; sống tập trung thành từng làng palei riêng biệt và bảo lưu đậm nét nhiều tập tục truyền thống như  nghi lễ, hội hè, tục cúng tế đền tháp, tục cưới gả, tang ma, tín ngưỡng, tôn giáo, luật tục, văn chương, làng nghề… mang bản sắc văn hoá riêng. 

Ngoài người Kinh và người Chăm, Ninh Thuận còn có nhiều người Thượng thuộc các sắc dân Raglai, Kơho, Chu Ru...  sống biệt lập ở miền núi hoặc sống ở đồng bằng chung với người Kinh và người Chăm.

Nói đến người Ninh Thuận là phải nói đến cuộc giao lưu và hội nhập của ba sắc dân Kinh-Chiêm-Thượng.  Ðể tìm hiểu về quá trình lịch sử phức tạp của cuộc hội nhập này, chúng tôi xin giới thiệu  mấy bài viết sau đây dưới các nhãn quan khác nhau về lịch sử để quý vị đánh giá hầu có được cái nhìn khách quan.

Bài 1: 

HOÀNG HẬU PARAMECVARI (HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA) CỦA CHAMPA 

Simhavarman XXI 

Source: Hội Bảo tồn Văn Hóa Champa USA 

Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước từ hơn cả ngàn năm trước cho đến những thế kỷ gần đây 15, 16; qua những sự kiện lịch sử ở Trung Hoa và Việt Nam đã có những bậc quân sư đầy mưu lược, trí dũng song toàn trong vấn đề điều binh khiển tướng; với biết bao quân hùng tướng mạnh hàng hàng lớp lớp. Với gươm đao sắt thép, với hàng vạn mũi tên vô tình thâm độc, với hàng vạn chiến mã, vó ngựa mịt mù cát bụi phủ đầu quân giặc, với những đoàn chiến tựợng hung hãn vượt núi băng sông điên cuồng dẫm nát thây giặc, phá tan thành quách, nhưng không dễ dàng khuất phục được các bậc quân vương Vua chúa trên ngôi cao trị vì bá tánh thiên hạ. Cũng không khống chế được những anh hùng nắm trong tay hàng vạn binh mã, trấn thủ tung hoành một góc trời ngang dọc như anh hùng Từ Hải vai năm tấc rộng thân mười thước cao đã làm cho triều đình Hồ Tôn Hiến bó tay điên đầu:

Anh hùng riêng một góc trời
Gồm hai văn võ xé đôi sơn hà.


Duy chỉ có loại vũ khí bằng xương bằng thịt, dịu dàng mảnh mai, đài trang khuê các đầy sức quyến rũ đó là loài hoa biết nói, những bông hoa đã làm nghiêng thành đổ nước, sụp đổ cả một triều đại huy hoàng, hay đã chế ngự được những anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất, dọc ngang vẫy vùng như anh hùng Từ Hải đã chết đứng giữa trời cũng vì hương sắc khuynh thành của bông hoa biết nói Thúy Kiều.
Đó là trong thi ca, còn trong thực tế qua sự kiện lịch sử, những Vua chúa nhà Hậu Lý đã từng sử dụng “Mỹ nhân kế” lôi kéo những viên Châu Mục tại các vùng Cao Bắc Lạng phía bắc Việt Nam, những lực lượng quân binh thiểu số này sẵn sàng theo Tàu để làm những ngọn lửa có thể bộc phát đốt cháy thiêu rụi cả khu núi rừng Việt Bắc lúc nào không hay: như Vua Lý Thái Tông gả Công Chúa Kim Thành cho đầu mục Châu Phong là Lê Tông Thuận, Vua Lý Thánh Tông gả Công Chúa Khâm Thánh cho Hà Di Khách – châu mục Tuyên Quang và Tuyên Hóa v.v. Đối với Trung Hoa: Chiêu Quân đã cầm chân được giặc Hung Nô. Công Chúa Lý Văn Thành con của Vua Lý Thế Dân đã làm cho Can Bố, một thủ lãnh mà dân Tây Tạng cho là “Thiên Thần xuất thế” trở nên ngoan ngoãn khi kết hôn với nàng Công Chúa họ Lý này ..v.v
Các Vua chúa ngày xưa đã hiểu được vũ khí sắc bén của phụ nữ tài sắc đoan trang thùy mị, có sức thu hút mãnh liệt các bậc quân vương, anh hùng trong chốn mê cung, nên đã dùng mỹ nhân để thực hiện sách lược chính trị: dùng hôn nhân để kết tình hữu nghị hoà bình giữa các quốc gia láng giềng; hoặc để chế ngự các lãnh chúa làm Vua một cõi quanh vùng để lôi kéo họ hầu mang lại an bình cho dân tộc; hoặc dùng hôn nhân để đoàn kết tạo một sức mạnh chống lại nước thứ ba, hoặc dùng mỹ nhân kế để thực hiện mưu đồ thôn tính đất nước khác ..v.v… Sách lược dùng công chúa mỹ nhân này được thể hiện bàng bạc điển hình qua các triều đại Trung Hoa và Việt Nam như sau:

- Trung Hoa:  Hán Vũ Đế gả Chiêu Quân cho Hồ Hàn Da, Tây Thi của Việt Vương Câu Tiễn gởi đi cho Ngô Phù Sai có mục đích làm cho nhà Ngô suy sụp và diệt vong; Ngô Phu Nhân gả cho Lưu Bị, Giải Ưu Công Chúa được Hán Vũ Đế gả cho Vua Sầm Tâu nước Ô Tôn, Lý Văn Thành Công Chúa được Vua Lý Thế Dân gả cho Vua Tây Tạng là Can Bố v.v… 
- Ở Việt Nam:  Lý Thái Tông gả Công Chúa Bình Dương cho Thân Thiệu Thái là Đầu Mục Châu Phong. Lý Thánh Tông gả Công Chúa Khâm Thánh cho Hà Di Khách là Châu Mục Tuyên Quang Tuyên Hoá. Lê Hiển Tông gả Ngọc Hân Công Chúa cho Nguyễn Huệ. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả Công Chúa Ngọc Vạn cho Vua Chey-Chetta II của Cao Miên và Vua Trần Nhân Tông gả Huyền Trân Công Chúa cho Vua Chế Mân của Chiêm Thành.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ nêu lên cuộc hôn nhân giữa Công Chúa Huyền Trân của Đại Việt và Vua Chế Mân của Chiêm Thành. Công Chúa Huyền Trân được Vua Chế Mân phong tước Hoàng Hậu với danh tước là Paramecvari Hoàng Hậu.
Trong vài trăm năm trở lại đây người ta chỉ hiểu câu chuyện tình sử Vua Chế Mân và Công Chúa Huyền Trân qua thi ca còn truyền tụng đến ngày nay của một vài tác giả ngày xưa viết theo cảm tính tự tôn và phiến diện. Cũng theo lối mòn đó, ngày nay những tập san văn nghệ, báo chí cũng thường hay dựa vào câu thơ do bia miệng truyền lại để viết về tình sử Chế Mân và Huyền Trân không được chính xác đầy đủ bởi vì thiếu sự kiện bối cảnh lịch sử.
Như sử gia Trần Trọng Kim đã nói: Việt Nam đến thế kỷ thứ 13 mới có lịch sử; mà các sử gia là những người làm việc dưới quyền chỉ đạo của Vua chúa, cho nên sự kiện lịch sử chưa hẳn đã được ghi lại trung thực, mà thường hay bị chính trị bóp méo ngòi bút của sử gia. Cho nên theo thiển kiến của tác giả viết bài này, chúng ta cần phải suy luận và dùng quan điểm cá nhân để soi sáng lại phần sự kiện lịch sử nào đôi lúc xét thấy còn mập mờ.
Năm 1479, sử thần Ngô Sĩ Liên là người đầu tiên tuân lệnh Vua Lê Thánh Tông sử dụng truyền thuyết dân gian để biên soạn lịch sử: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Mà đã là truyền thuyết thì không thể hoàn toàn là sự thật vì truyền thuyết được nhân gian tưởng tượng thêu dệt bằng những chi tiết ly kỳ nên có phần mang tính hư cấu của nó. Do đó để tránh sự hiểu biết lệch lạc về cuộc hôn nhân giữa Huyền Trân Công Chúa và Vua Chế Mân, ít ra cũng nên hiểu biết sơ qua về bối cảnh lịch sử của thời Vua Trần Nhân Tông Đại Việt và Vua Chế Mân Chiêm Thành, vì từ bối cảnh lịch sử đó mới đưa đến cuộc tình lịch sử đầy vương giả nàỵ
Bối cảnh lịch sử thời Vua Trần Nhân Tông và Vua Chế Mân
Năm 1253, đế quốc Mông Cổ Hốt Tất Liệt xua quân xâm lăng Trung Hoa đời nhà Tống, dựng nên nhà Nguyên gọi là thời kỳ Nguyên Mông hay gọi tắt là nhà Nguyên bên Tàu.
Theo Việt Nam Sử Lược, sau khi tiêu diệt nhà Tống Trung Hoa, nhà Nguyên bắt đầu xâm lăng Đông Nam Á. Trong phạm vi bài này, chỉ xin nói đến giai đọan lịch sử đời Trần Nhân Tông và Chế Mân ở Đông Dương theo tiến trình lịch sử như sau:
1258-1288: Nhà Nguyên xâm lăng Đại Việt Trong giai đọan 30 năm lịch sử này, nhà Nguyên 3 lần tiến quân sang xâm lăng Đại Việt nhưng đều thảm bại vì sự chống trả quyết liệt của Đại Việt.
Tuy ngăn chận được ý đồ xâm lăng của quân Nguyên, nhưng Đại Việt vẫn thần phục nhà Nguyên dưới hình thức dâng cống phẩm hàng năm để tạo sự hiếu hoà giữa hai dân tộc và đây cũng là sách lược ngoại giao của Vua Trần Nhân Tông có tánh cách nhún nhường cả nể một chút để bảo tồn sự độc lập của một nước nhỏ bé bên cạnh nước phương bắc khổng lồ luôn có ý đồ thôn tính các nước liên bang. Do đó lúc nào Đại Việt cũng lo âu phập phồng đối với mộng xâm lăng bành trướng của đế quốc phưong bắc có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Nằm trong giai đoạn 30 năm lịch sử này của Đại Việt, vào năm 1284-1285 Vua Chế Mân Champa đã đem quân cứu viện cho Vua Trần Nhân Tông để đánh bại cuộc xâm lăng của quân Nguyên ở Nghệ An.
1282-1284: Dưới sự thống lãnh của Toa Đô, nhà Nguyên ào ạt xâm lăng Champa nhưng bị Vua Chế Mân giáng trả oanh liệt đánh bại quân Nguyên lui về cố quốc.
1292:Trên đường rút quân khỏi đảo Sumatra của nước Java (Nam Dương), quân Nguyên đổ bộ lên bờ biển Champa lại bị Vua Chế Mân đánh bạt ra biển Nam Hải để lại cả trăm chiến thuyền tan nát và hàng vạn xác chết nằm ngổn ngang bên bờ cát trắng của miền biển Champa.
Kể từ 1253 khi Hốt Tất Liệt tiêu diệt được nhà Tống và lập nên nhà Nguyên cho đến khi Hốt Tất Liệt qua đời vào năm 1294, đây là giai đoạn lịch sử làm cho Đại Việt thời Trần Nhân Tông và Champa thời Vua Chế Mân vô cùng khốn khổ với mộng xâm lăng của quân Nguyên, và hai nhà Vua của hai quốc gia Việt – Chiêm dựa lưng vào nhau để chống quân Nguyên, đó cũng là lý do Trần Nhân Tông và Chế Mân rất có hảo cảm với nhau.

Vài đặc điểm của Vua Trần Nhân Tông và Vua Chế Mân

Vua Trần Nhân Tông
Một vị Vua anh hùng ái quốc (đánh đuổi quân Nguyên) và nhân hậu (Toa Đô nhà Nguyên tử trận lúc tấn công Đại Việt tại mặt trận Tây Kết, Vua Trần Nhân Tông đã cởi áo long bào đắp cho Toa Đô và cho mai táng theo đúng nghi lễ trang trọng).
Là một vị Vua đạo đức không tham quyền cố vị (nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông để làm Thái Thượng Hoàng, khoác áo cà sa nghiên cứu kinh Phật, tu hành trên núi Yên Tử).
Trần Nhân Tông làm Vua 13 năm, Thái Thượng Hoàng 14 năm, tất cả là 27 năm và băng hà lúc 51 tuổi.

Vua Chế Mân
Một vị Vua anh hùng ái quốc (đánh đuổi quân Nguyên) và đạo nghĩa (tha tội chết cho một viên chỉ huy quân binh Champa toan toa rập với địch quân (quân Nguyên) nhưng tước hết binh quyền đuổi về quê làm ruộng (1a); và còn là một vị Vua nhân hậu (xem xét giấy tờ tùy thân những binh sĩ quân Nguyên đã tử trận trên bờ biển Champa rồi cho hỏa táng riêng biệt từng người, bỏ tro cốt vào hủ sành riêng mỗi người và dán tên họ lên, đồng thời cấp cho một chiếc thuyền, tha tội chết cho 10 tên giặc Nguyên bị bắt sống mang theo tro cốt đuổi về Tàu (1b).
Vua Chế Mân làm Vua được 26 năm và băng hà lúc 50 tuổi.

Đại Việt dưới thời Trần Nhân Tông
Guồng máy chính trị quân sự được kiện toàn vững chắc nhờ Vua Trần Nhân Tông và các quan trong triều có nhiều tài đức. Tinh thần dân tộc đoàn kết, kinh tế phồn thịnh, dân sinh ấm no hạnh phúc, có một nền văn hóa dân tộc nhân bản. Nhờ sức mạnh này Vua quan nhà Trần đã nhiều lần đập tan được mộng xâm lăng của Bắc phương.

Champa dưới thời Chế Mân

Hùng cường về quân sự, văn hóa nghệ thuật phát triển sáng ngời. Nền hành chánh chánh trị tổ chức vững vàng, nền kinh tế phồn thịnh và có một nền ngoại thương ngành hàng hải phát triển mạnh từ khi Vua Chế Mân kết hôn với Công Chúa Tapasi của Java (Nam Dương ngày nay).

(1a)+(1b): Theo lời kể của cụ Bố Thuận, một học giả Champa và là một chuyên viên nghiên cứu về Champa của trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội trong thời kỳ Pháp thuộc

Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông và cuộc viễn du Chiêm Thành:
Vua Chế Mân là một anh hùng hào kiệt, quyết liệt với địch quân xâm lược nhưng lại là một vị Vua hiếu hòa. Tháng 3 năm 1301, Vua Chế Mân đã cử sứ thần hướng dẫn ngoại giao đoàn sang Đại Việt cùng với nhiều tặng phẩm quí giá: ngọc ngà châu báu, sừng voi, tê giác, lụa là vàng bạc với ước muốn đặt nền tảng bang giao với Đại Việt trong tình hữu nghị lâu dài để cùng tồn tại trước móng vuốt xâm lược của đế quốc Trung Hoa.
Khi đoàn sứ thần ngoại giao của Champa đến Đại Việt, lúc ấy Vua Trần Nhân Tông đã là Thái Thượng Hoàng mặc áo cà sa tu hành tại một ngôi chùa trên núi Yên Tử, nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông. Đây là giai đoạn cực thịnh của Phật giáo trên đất Việt. Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông là người nhân từ sùng kính đạo Phật, say sưa nghiên cứu kinh kệ Phật pháp và yêu thích cảnh gió núi mây ngàn, thích ngao du sơn thủy đó đây và vẫn cố vấn cho Vua Trần Anh Tông trong vấn đề điều hành việc dân việc nước.
Nhân phái đoàn ngoại giao Champa được Vua Chế Mân cử đến thăm viếng ngoại giao với Đại Việt và mong muốn kết tình hữu nghị; Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông nhớ lại người xưa tức Vua Chế Mân của Chiêm Thành cách đây bảy năm đã cùng dựa lưng nhau chống trả quân Nguyên tại Nghệ An; nên để đáp lại tấm thịnh tình của Vua Chế Mân, Ngài quyết định theo chân ngoại giao đoàn Chiêm Thành về thăm Chiêm quốc và Vua Chế Mân, cùng ngao du sơn thủy nghiên cứu Phật pháp bên Chiêm Thành.
Trong bộ áo cà sa, Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông và đoàn tùy tùng cùng với sứ đoàn Champa sau thời gian cả tháng trường nay đã đến kinh thành Champa. Được tin quân báo, Vua Chế Mân hân hoan ra đón tận cổng thành Đồ Bàn để mừng đón Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông Đại Việt. Một cuộc tiếp đón vô cùng long trọng dành cho một vị quốc khách. Hai nhà Vua Việt – Chiêm có nhiều điểm tương đồng hợp ý như đã nêu ở phần bối cảnh lịch sử : cùng có một quá khứ oai hùng đầy máu xương khi chống phá quân Nguyên cũng với một tâm nguyện kết tình hữu nghị để cùng tồn tại trước tham vọng điên cuồng tàn bạo của quân Nguyên; cùng đạo đức nhân hậu, anh hùng và ái quốc giống nhau, tâm đầu ý hợp đã kéo dài cuộc thăm viếng của Thái Thượng Hoàng đến chín tháng trời, được Vua Chế Mân hướng dẫn đi thăm viếng nhiều nơi danh lam thắng cảnh cũng như những địa điểm đặc biệt liên quan đến văn hóa, tôn giáo của nước Chiêm Thành như Ngũ Hành Sơn, Thánh địa Mỹ Sơn, trung tâm Phật giáo vĩ đại ở Đồng Dương ..v..v.. hều hết đều nằm trong lãnh địa Amaravati cũ tức từ Quảng Trị Thừa Thiên đến Quảng Nam Đà Nẵng ngày nay. Mỗi nơi đi qua Ngài đều lưu lại một thời gian. Lần lượt, Thái Thượng Hoàng được Vua Chế Mân hướng dẫn đi thăm viếng hầu hết các đền tháp thuộc lãnh địa Vijaya, Kâuthara và Panduranga, tới đâu cũng được các lãnh chúa mỗi vùng tiếp đón long trọng.
Đặc biệt là Tu Viện Đồng Dương là một kinh đô có một nền kiến trúc vĩ đại, một thành phố tráng lệ bậc nhất vào thời đại này tại Đông Dương, thời Vua Indravarman đệ nhị. Ngài là một vị Vua sùng bái đạo Phật; vào năm 875 Công Nguyên đã xây một Phật Viện vĩ đại lấy tên là Laksmindra-Lokesvara. Đây là một trung tâm Phật giáo Champa lớn nhất, có vô số kinh điển Phật học trong lịch sử đất nước và có một nhà sư Aán Độ nổi tiếng uyên thâm về Phật học trụ trì tại trung tâm Phật giáo này. Thái Thượng Hoàng trong bộ áo cà sa của Đại Việt đã dành hai phần ba thời gian thăm viếng Chiêm Thành để nghiên cứu Phật Pháp tại tu viện Đồng Dương.
Trong thời gian lưu lại 9 tháng ở Champa, Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông cùng Vua Chế Mân tham dự những lễ hội lớn của dân tộc Champa. Ngài đã mục kích tận mắt và rất thiện cảm với dân tộc Champa trông có vẻ bình dị và hiền lương này. Ngài cũng được thưởng ngoạn những điệu múa hát theo điệu Tây Thiên Trúc (của Aán Độ) qua nghệ thuật trình diễn của các cô Chiêm nữ trong xiêm y lụa là vừa nhẹ nhàng vừa thanh thoát và những điệu múa trong cung đình Champa ảnh hưởng vũ điệu của nữ thần nghệ thuật Sravastri và thiên thần vũ nữ Apsara v.v.. Ngài cũng tìm hiểu những phong tục tập quán của dân tộc Champa thật thích thú.
Bao nhiêu dáng vẻ thâm nghiêm kỳ vĩ của nền kiến trúc đền tháp, tu viện, bảo tháp, Phật đường, với vô số kinh điển .v.v… với những đường nét điêu khắc chạm trổ thật tinh vi sắc sảo đã nói lên một nền hoa phong tuyệt mỹ của các điêu khắc gia Champa. Nền kiến trúc này đã tô điểm cho giang sơn gấm vóc Champa thêm phần xinh đẹp và đã nói lên sự lớn mạnh và văn minh của một dân tộc. Một đất nước xinh đẹp, mưa thuận gió hòa, đất đai phì nhiêu được xây dựng và gìn giữ bởi một dân tộc lương thiện an hoà, bởi một quân đội gồm kỵ binh, tượng binh, bộ binh và hải quân; nền kinh tế nông nghiệp phồn thịnh, một nền văn hóa nhân bản đầy bản sắc dân tộc Champa và được cai trị bởi một vị Vua Chế Mân anh hùng ái quốc, nhân hậu lịch duyệt …; chừng ấy dữ kiện đã mang đến cho Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông một cảm xúc đặc biệt, một tình cảm nồng nàn mà Ngài tưởng chừng như bị cuốn hút bởi Vua quan, lương dân và đất nước Champa đã dành cho Ngài trong cuộc viễn du kỳ thú này.

Một sáng cuối thu năm 1301, tại thành Vijaya (Đồ Bàn) mây giăng bàng bạc, không gian và thời gian như chùng lại, muốn níu gót viễn du của Thái Thượng Hoàng trong bộ áo cà sa chuẩn bị quay về Đại Việt sau 9 tháng viễn du thăm viếng Champa.
Trước mặt bá quan văn võ trong triều đình Champa, Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông với khuôn mặt khôi ngô phúc hậu và cũng đầy nét uy vũ, Ngài đã long trọng tuyên bố ước gả Huyền Trân Công Chúa cho Vua Chế Mân. Đây là lời minh thị của một Thái Thượng Hoàng đầy quyền uy với triều thần Trần Anh Tông và là nhà sư uyên bác, đức hạnh và trung tín của Trúc Lâm Thiền Sư Yên Tử sơn.
Sự ước gả này để thực hiện một sách lược hoà thân của hai vị lãnh đạo quốc gia hiếu hoà Việt – Chiêm để rồi Công Chúa Huyền Trân sẽ là Hoàng Hậu Champa, Vua Chế Mân sẽ là Phò Mã Đại Việt. Hai nước láng giềng sẽ có mối liên hệ tình thân gia đình (con của Huyền Trân sẽ là cháu ngoại của Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông) và còn đoàn kết liên minh với nhau cùng tồn tại và cùng đối phó với mộng xâm lược có thể xảy ra bất cứ lúc nào của đế quốc bắc phương tràn xuống các nước phía nam, đó là ý nghĩa của sách lược hòa thân của Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông và Vua Chế Mân.
Sách lược hòa thân (từ ngữ Hòa Thân theo giáo sư Huỳnh Văn Lang) này đã bị triều thần Trần Anh Tông biến thành một sự đổi chát đưa đến tráo trở và thất tín sẽ đề cập chi tiết ở phần sau.

VUA CHẾ MÂN CẦU HÔN

Tháng 02/1302 Vua Chế Mân cử sứ thần Chế Bồ Đài hướng dẫn một phái đoàn hơn một trăm người đem vàng bạc châu báu, trầm hương, ngọc ngà v.v… sang Đại Việt để xin cầu hôn với Công Chúa Huyền Trân theo lời ước gả của Vua cha Trần Nhân Tông; nhưng triều thần Trần Anh Tông có người thuận có người không. Họ muốn biến đổi cuộc hôn nhân như một sách lược Hoà Thân của Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông thành một chủ trương mậu dịch, ngoài lễ vật nêu trên, triều thần Trần Anh Tông còn buộc Vua Chế Mân phải nạp thêm đất đai gọi là “lễ Nạp Trưng” theo phong tục Việt Nam và Trung Hoa.
Trần Nhân Tông với uy quyền của một Thái Thượng Hoàng, Ngài không bao giờ đặt ra vấn đề đổi chát hay mậu dịch, mà vai trò Huyền Trân là một sứ giả hoà bình, dùng hôn nhân để thực hiện sách lược Hoà Thân giữa hai gia đình và hai nước láng giềng vẫn thường hay lục đục trước đây, để cùng nhau liên minh trong tình gia đình, trong tình thân giữa hai nước thực sự đoàn kết với nhau để chống lại hiểm họa xâm lăng từ đế quốc bắc phương tràn xuống lúc nào không hay; hơn nữa Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông, Ngài còn là một nhà sư Trúc Lâm của Yên Tử Sơn, ảnh hưởng sâu sắc triết lý nhà Phật, nên việc đòi đất đai của dân tộc khác là sai với tôn chỉ từ bi vô lượng vô biên, công bằng bác ái, phóng khoáng của đạo Phật và sẽ có nhân quả không tốt đẹp về sau.
Trước sức ép của triều thần Trần Anh Tông, Vua Chế Mân đành phải lấy hai châu ở biên thùy để làm “lễ nạp trưng” thoả mãn một số quần thần Trần Anh Tông đòi hỏi hầu xúc tiến cuộc hôn nhân thực hiện sách lược Hoà Thân Việt – Chiêm.
Việc hiến cống hai châu Ô Lý để làm quà sánh lễ cưới Công Chúa Huyền Trân đã bị triều thần Champa phản kháng dữ dội và thần dân Champa ở hai châu Ô và Lý cũng như cả nước Champa đều phẩn nộ trước quyết định sai trái của Vua Chế Mân; nhưng thời đó Vua là Thiên Tử nắm hết giang sơn và thiên hạ, nên dân tộc Champa đành chịu vậy trong ngấn lệ xót xa.
Ngày nay hậu duệ của Champa cho rằng việc dâng đất để làm sính lễ cưới Huyền Trân là một sự sai lầm của Vua Chế Mân vì đó là vùng chiến lược quân sự địa đầu rất quan trọng. Từ châu Ô châu Lý nhìn xuống thấy cả đồng bằng hẹp nhưng phì nhiêu và cả chiều dài của bờ biển (miền Trung ngày nay) với bãi cát trắng phau trông giống người phụ nữ nằm để lộ cặp đùi nõn nà khiến cho anh dâm đãng Hốt Tất Liệt thèm thuồng nhỏ nước miếng muốn chiếm đoạt.
Sau khi Vua Chế Mân đồng ý nạp hai châu Ô và Lý, Vua Trần Anh Tông và quần thần xem như một món lợi to lớn nên đã hân hoan gả Huyền Trân cho Vua Chế Mân vào tháng 06/1306 năm Bính Ngọ.

CÔNG CHÚA HUYỀN TRÂN TRÊN ĐƯỜNG VỀ CHIÊM QUỐC

Tháng 06 năm Bính Ngọ (1306), Vua Trần Anh Tông cử Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi, Ngự Sử Đoàn Nhữ Hải và Thượng Tướng Trần Khắc Chung cầm đầu phái đoàn Đại Việt gồm nhiều quan quân hộ tống để đưa tiễn cô dâu Huyền Trân về Chiêm Thành.
Từ thủ đô Thăng Long của Đại Việt ra đến bến sông Hồng Hà, quần chúng đứng đầy dọc hai bên thành lộ với cờ xí và biểu ngữ chúc mừng chúc tụng lên đường bình an dành cho công chúa thân yêu của Đại Việt xuôi về Nam để kết duyên cùng Vua Chiêm Thành để thực hiện lời giao ước của Vua cha là Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông (quân vô hý ngôn).
Một công chúa tuổi vừa độ đôi mươi xinh đẹp, con nhà Vua chúa, học thức và đạo hạnh lại phải xa lìa tổ ấm gia đình tại cung đình, xa lìa quê hương yêu dấu, ngàn dặm ra đi, lênh đênh nghìn trùng sóng vỗ để làm dâu xứ lạ, lòng dạ nào lại không bịn rịn lúc ra đi.
Ngày xưa bên Trung Hoa, thời Hán Nguyên Đế có Vương Chiêu Quân có vẻ đẹp phi phàm trầm ngư (chìm đáy nước cá lờ đờ lặn) vương giả sang trọng. Trong ngày từ biệt Vua Hán Nguyên Đế ra đi làm Hoàng Hậu một xứ xa lạ ở nước Hung Nô, có thi nhân thời đó ở Trung Hoa làm thơ cảm thán:

Cô ơi cô đẹp nhất đời
Mà sao mệnh bạc thọ trời cũng thua
Một đi từ biệt cung Vua
Có về đâu nữa đất Hồ ngàn năm!


(Huyện Nẻ Nguyễn Thiện Kế)

Đối với Huyền Trân cũng vậy, tâm trạng nàng vô cùng ngổn ngang, vừa gạt lệ giã từ Phụ Hoàng và Mẫu Hậu, người thân, giã từ quê hương mẫu quốc đồng bào ruột thịt, vừa nao nao bồn chồn hướng về một khung trời hạnh phúc xa xôi mờ mịt chưa biết ra sao ? Những thế hệ về sau, có vài thi nhân đã cảm thông với nỗi niềm của kiếp hoa trôi dạt nên có những câu tự sự Nam Bình được dân Thuận Hóa hát theo điệu Chiêm Thành:

Nước non ngàn dặm ra đi
Mối tình chi
Mượn màu son phấn
Đền nợ Ô Ly
Đắng cay vì đương độ xuân thì...


(Tác giả vô danh)

Sau hồi trống giục, nàng phải bước chân xuống thuyền hoa với đoàn tùy tùng hộ tống của Đại Việt và sự hướng dẫn thủy lộ của đoàn Sứ Bộ Chiêm Thành; trong cờ xí phất phới tiễn đưa cũng có sự sụt sùi giữa kẻ đi người ở … Đoàn thuyền hoa rời bến sông Hồng để ra cửa biển xuôi về Nam.
Gió đông nam thổi nhẹ nhưng hoa sóng đại dương vẫn nở rì rào như tâm sự người đi xa, mặt biển trong xanh dưới bầu trời sáng chói của muà xuân ban ngày, và khi hoàng hôn bao trùm, cả mặt biển trở thành đen nghịt, chỉ có hàng vạn vì sao trên bầu trời lấp lánh như những hạt kim cương tô lên một bức họa ánh sáng thâm trầm. Lòng cô gái xuân thì trên đường vu qui rộn rã không biết bao nhiêu tâm sự...
Lời Phụ Hoàng, người cha già kính yêu đã căn dặn trước khi về Chiêm Quốc:
những tháng ngày trước đây Phụ Hoàng đã viễn du xứ Chiêm Thành, đất nước họ đẹp đẽ, một dân tộc hiền lương có nền văn hóa riêng biệt rực rỡ . Chế Mân là một vị Vua biết yêu thương nòi giống, một anh hùng hào kiệt, lịch duyệt và nhân hậu, không phải là một hôn quân bạo chúa . Con hãy làm tròn bổn phận một sứ giả hoà bình, đem lại tình thân thiện giữa hai dân tộc Việt – Chiêm. Đối với Chế Mân sau này sẽ là phu quân của con, con phải biết đạo tam tòng tứ đức, phu xướng phụ tùy của người phụ nữ Á đông và phải xứng đáng là một “mẫu nghi thiên hạ”. Nghĩ đến lời Phụ Hoàng còn văng vẳng bên tai, lòng nàng se lại và ấm áp hơn rồi chìm dần trong giấc ngủ mơ hoa, bồng bềnh trên sóng nước đại dương trôi dần về Chiêm Quốc.
Trong khi đó ở Chiêm Quốc, Vua Chế Mân cử quan Ngự Sử Chế Bồ Đài cầm đầu một số quần thần, binh lính và toán Ngự Lâm Quân theo hộ giá nhà Vua để đón rước cô dâu Huyền Trân cùng phái đoàn Đại Việt tại hải cảng Pat-Thinưng (Thị Nại Bình Định ngày nay)
Sau những ngày lênh đênh trên biển cả mênh mông, đoàn thuyền hoa đưa tiễn Công Chúa Huyền Trân của Đại Việt đã vào đến lãnh hải Vijaya (Bình Định) và hướng dần vào cặp bến cảng Pat-Thinưng do sự hướng dẫn của đoàn Sứ Bộ Chiêm Thành.
Công Chúa Huyền Trân lòng dạ bồn chồn muốn sớm trông thấy mặt Vua Chế Mân, nhưng hơi lo âu vì nếu phu quân Chế Mân quá dị dạng như anh chàng Trương Chi thì làm sao đây hỡi Phụ Hoàng của con! Liệu con có làm nổi những lời khuyên của Phụ Hoàng kính yêu hay không?
Đoàn thuyền hoa Đại Việt vừa cặp sát vào cầu bến cảng Pat-Thinưng thì đoàn quân binh, quần thần, toán ngự lâm quân, các nữ tỳ v.v… cùng Vua Chế Mân đã có mặt ở bến cảng trước rồi.
Khi một Hòa Thượng trong phái đoàn Đại Việt cùng các vị quần thần như Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi, Thượng Tướng Trần Khắc Chung, Ngự Sử Đoàn Nhữ Hải bước lên bờ cảng thì quần thần và Ngự Sử Chế Bồ Đài Chiêm Thành đã đón chào thân mật, trong khi đó Vua Chế Mân từ trên kiệu vàng rực rỡ bước ra, con người cao lớn, nước da sáng, mũi cao, tóc hơi gợn sóng phía trước, đôi mắt sáng ngời thoáng nét đa tình và dáng vẻ hào hoa phong nhã nhưng không kém phần uy dũng của một quân vương, ngang hông mang một thanh kiếm báu với vỏ kiếm bằng vàng, chuôi kiếm bằng ngà voi khảm ngọc . Đầu đội chiếc mũ bằng vàng cao hình trụ, trên đỉnh nhọn của mũ có gắn một viên ngọc tỏa ra ánh sáng với nhiều màu sắc khác nhau trông vừa đẹp mắt vừa uy nghi. Mình mặc áo lụa thượng hạng màu trắng, đường viền cổ áo, hai tay áo và song song với hai hàng nút đều bằng kim tuyến bằng vàng lấp lánh, và một đai vàng dát mỏng thắt ngang lưng, khoác ngoài một chiếc áo lông bào. Chân mang hia màu đen có thêu hình con chim Garuda màu đỏ...
Huyền Trân Công Chúa từ trong kiệu hoa, sau khi cô tỳ nữ nhẹ vén màng che trước kiệu hoa, nàng nhìn ra ngoài thấy Quốc Vương Chế Mân, đôi má nàng ửng hồng lên, ý nghĩ về Chiêm Quốc bây giờ không những để làm sứ giả hòa bình mà còn đến Chiêm Thành với lòng dạ băng trinh của một cô thanh nữ xuân thì vu qui về nhà chồng; nàng thầm cảm ơn Phụ Hoàng đã khéo chọn cho nàng một đấng phu quân xứng đáng để sửa túi nâng khăn. Huyền Trân nhẹ nhàng bước ra khỏi kiệu hoa, e ấp thẹn thùng, khép nép; nàng chắp hai tay trước ngực cuối mình quì phục xuống chào, Vua Chế Mân lật đật đến sát bên nàng đưa hai tay nhẹ nhàng đỡ nàng đứng dậy. Như hai luồng điện âm dương giao cảm; đôi bàn tay nhỏ bé thon thả xinh đẹp của nàng nhẹ nhàng như cánh bướm đậu trên nụ hoa thật ấm áp trong đôi lòng bàn tay của Quân Vương. Bằng một giọng êm đềm dịu vợi, Công Chúa Huyền Trân tâu: Xin đa tạ Thánh Thượng đã nhọc công đón tiếp bằng tiếng Champa (Triều đình Trần Anh Tông mời một người Chăm sống ở Đại Việt dạy tiếng Chăm cũng như phong tục và văn hóa Champa trước khi nàng lên đường về Chiêm Quốc). Vua Chế Mân đăm đăm nhìn nàng trong sự ngạc nhiên, không ngờ nàng ăn mặc y phục trang sức theo mỹ thuật Champa, lại nói được cả ngôn ngữ Champa. Rồi nhà Vua nở nụ cười và ân cần hỏi nàng có khỏe không, ta rất lo âu sóng nước trùng dương làm nàng mệt mỏi, ta xin lỗi nàng. Công Chúa Huyền Trân duyên dáng chắp tay cuối đầu khẽ tâu: nhờ hồng ân của Thánh Thượng, thần thiếp và tất cả mọi người trong đoàn thuyền hoa đều khỏe mạnh, chỉ có chút say sóng.
Vua Chế Mân nhẹ nhàng dìu Huyền Trân lên kiệu vàng rực rỡ, những chiếc kiệu nhỏ hơn để dọc một hàng sau dành cho các đại diện triều thần Trần Anh Tông và các quần thần Champa; những thành phần nhỏ hơn đi ngựa lững thững theo sau, cùng với toán ngự lâm quân, binh lính hướng về thành Vijaya (thành Đồ Bàn). Con đường từ hải cảng Pat-Thinưng đến cửa thành Đồ Bàn dài khoảng 8 km. Hai bên đường là hai hàng dương liễu óng ả mượt mà xanh thẩm như đón chào cô dâu từ Đại Việt đến.
Đoàn rước dâu rời khỏi bến cảng Pat-Thinưng chẳng bao lâu, chỉ còn một dặm nữa đến thành Đồ Bàn. Hai bên đường tới đây không còn cây dương, chỉ có trồng hoa Vong, hoa Phượng, hoa Quỳ dọc hai bên đường trông rất được mắt. Quần chúng Champa đứng đón hai bên đường với áo quần đẹp đẽ, cờ xí phất phới, biểu ngữ giăng đầy, chiêng trống hòa lẫn với lời hô chào vang dậy chào đón cô dâu Đại Việt.
Thành Đồ Bàn rộng mênh mông, thành quách tráng lệ vây quanh. Bên ngoài thành Đồ Bàn, phía Tây cửa thành:

- Nơi ngựa hí chuông rền vang trong gió

(Chế Lan Viên)

Phía Nam thành:

Đây chiến thuyền nằm mơ trên sông lặng
Bầy voi thiêng trầm mặc dạo quanh thành


(Chế Lan Viên)

Khi Quốc Vương Chế Mân và hai phái đoàn đưa rước Công Chúa Huyền Trân vào trong khuôn viên cung đình, trước mắt Huyền Trân:

Đây điện các huy hoàng trong ánh nắng
Những đền đài tuyệt mỹ dưới trời xanh


(Chế Lan Viên)

Huyền Trân như lạc vào cõi mộng, khi đăm chiêu suy nghĩ, khi ngẩn ngơ nhìn những lâu đài điện các, gác tía cung son, tháp nước, miếu đường, đại sảnh nguy nga v.v... không biết bao nhiêu khu được xây dựng theo hàng lối ngay thẳng nếp na, với những công trình kiến trúc vĩ đại tráng lệ, thâm nghiêm hòa hợp bởi hai nền văn minh kiến trúc của Chiêm Thành và Ấn Độ, tất cả đều xây dựng bằng gạch, được sơn phết đẹp mắt . Cả khu triều đình rộng lớn đồ sộ ấy đều được lát gạch Bát Tràng, trông nổi bật rực rỡ. Cũng trong khuôn viên triều đình, ngoài lầu son gác tía, còn có những hương liệu kỳ nam, trầm hương, những loài hoa quí như hoa lan, hoa Champa; chim ưng, chim yến, bạch tượng v.v... cung tần, mỹ nữ, hoa gấm lụa là v.v... đã nói lên một sức sống đầy thi vị trong một thế giới cung đình riêng biệt, thế thì tại sao có người dị nghị cho Chiêm Thành là man di? Thật không trung thực chút nào, chỉ do đố kỵ tự tôn mà ra. Thảo nào Phụ Hoàng không ngớt lời khen ngợi đất nước Chiêm Thành. Đang khi với ý nghĩ miên man, Quốc Vương Chế Mân khẽ bảo với Huyền Trân: nàng và các nữ tỳ sẽ được các cung nữ Chiêm Thành đưa vào hậu cung nghỉ ngơi chờ ngày mai thiết triều để chính thức sắc phong Hoàng Hậu cho Công Chúa theo lời ta đã hứa với Thái Thượng Hoàng của Đại Việt tức thân phụ của nàng trước đây.

LỄ PHONG TƯỚC HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA THÀNH HOÀNG HẬU PARMECVARI CỦA CHIÊM THÀNH

Lễ phong tước Hoàng Hậu cho Công Chúa Huyền Trân được tổ chức trọng thể. Tất cả các vị lãnh chúa từ các lãnh địa Amaravati, Vijaya, Kâuthara, và Panduranga đều có mặt từ hôm trước như đã dự định. Các bậc tăng lữ, các quần thần văn võ đều tề tựu đông đủ. Các quan Phủ quan Huyện và các đoàn thể quần chúng quanh vùng thành Đồ Bàn đều có mặt trong triều đình để làm cho lễ phong tước được long trọng.
Công Chúa Huyền Trân được các tỳ nữ Chiêm Thành và viên quan đặc trách lễ tấn phong hướng dẫn Công Chúa vào đại sảnh sau khi phái đoàn Đại Việt đã đến trước và ngồi vào vị trí ấn định sẵn.
Vua Chế Mân từ trong nội cung bước ra với dáng vẻ uy nghi, đường bệ pha lẫn với phong cách hào hoa phong nhã của một Quốc Vương văn võ song toàn. Tất cả mọi người trong đại sảnh thiết triều đều quì phục xuống nghênh chào bệ hạ. Vua Chế Mân vội vã bước đến hai tay nhẹ nhàng đỡ lấy Công Chúa Huyền Trân đứng dậy và dìu nàng ngồi vào chiếc bành kỷ dát vàng bọc quanh viền bên cạnh chiếc ngai vàng khảm ngọc dành cho Hoàng đế. Ngài truyền cho mọi người bình thân. Sau đó Quốc Vương Chế Mân long trọng tuyên bố : "Trong không gian đại sảnh của cung đình Champa, hôm nay, tại thời khắc vàng son của lịch sử này, Công Chúa Huyền Trân chính thức là phu nhân của Trẫm, ta phong tước Hoàng Hậu cho nàng với tước hiệu là Hoàng Hậu Paramecvari của Champa. Hoàng Hậu Paramecvari là mẫu nghi thiên hạ và cũng là nàng dâu của dân tộc và đất nước Champa."  Những tràng pháo tay tung hô vang dội cả cung đình. Quốc Vương Chế Mân chỉ thị cho viện Hàn Lâm phụng chỉ viết tờ Chiếu để nhà Vua ban hành bố cáo cho thần dân toàn quốc Champa để tri tường.
Sau đó đại diện triều đình Đại Việt lên chúc mừng Hoàng đế Chế Mân và Hoàng Hậu Paramecvari được an khang trường thọ để chăn giữ muôn dân Champa và đem lại sự hòa thân đoàn kết giữa hai dân tộc Việt – Chiêm, cùng kiến tạo hòa bình, cùng tồn tại trước mọi mưu đồ xâm lăng từ nước khổng lồ phương bắc.
Đến khi hoàng hôn vừa bao phủ vạn vật, không gian và vũ trụ chìm trong ánh sáng của trăng sao huyền hoặc; nơi cung đình Champa hoa đăng nở rộ sáng trưng khắp nội thành Vijaya. Vua Chế Mân và Hoàng Hậu Paramecvari đôi trai tài gái sắc hàng đầu của dân tộc Champa đã mở dạ tiệc linh đình để mừng Tân lang và Tân giai nhân và mừng tước vị Tân Hoàng Hậu Paramecvari của Champa.
Với Công Chúa Huyền Trân, trước khi từ giã quê hương Đại Việt lên đường về Chiêm Quốc đã được triều đình Đại Việt chuẩn bị hành trang chu đáo cho nàng về việc hội nhập văn hóa Champa; từ ngôn ngữ, ăn mặc phục sức, văn hóa nghệ thuật. Do đó nàng phục sức theo cung cách Chiêm Thành, sử dụng ngôn ngữ Chiêm Thành và đã biết rành rẽ những vũ khúc cung đình nơi điện ngọc cung vàng của triều đình Champa.
Để mở đầu dạ tiệc, Vua Chế Mân cũng nổi tiếng là hào hoa đã khẽ nghiêng vai nhẹ nhàng đưa tay mời Hoàng Hậu Paramecvari, Tân lang và Tân giai nhân mở đầu dạ tiệc qua vũ khúc “Mia – Harung” (vũ khúc này cách đây một ngàn năm mà ngày nay nhạc sĩ Champa Quảng Đại Tửu người Ninh Thuận đã sáng tác theo nội dung và điệu mới mà dân tộc Chăm hiện đang múa hát vào dịp có lễ hội của dân tộc Chăm). Vũ khúc Mia-Harung cũng là loại vũ khúc cung đình hoan ca. Hoàng Hậu Paramecvari trong bộ nhung y rực rỡ, với chiếc khăn quàng bằng kim tuyến đỏ với tua vàng lấp lánh, quàng từ trên vai trái xuyên hông phải. Chiếc thắt lưng dát mỏng bằng vàng khảm ngọc lấp lánh ôm nhẹ tấm lưng ong với dáng người thon thả cao ráo, làn da trắng mịn màng làm nổi bật Hoàng Hậu Paramecvari như tiên nữ giáng trần bên cạnh một Quân Vương hào hoa đa tình và phong độ, với nước da sáng, mái tóc một chút gợn sóng phía trước, đôi mắt sáng ngời trong một thân thể cao ráo cân đối.
Nhạc trống, kèn nổi lên khi khoan khi nhặt, khi náo động như trời đổ mưa, khi khoan như gió thoảng ngoài .Jaya Simhavarman III (tức Vua Chế Mân) và Paramecvari (Huyền Trân Công Chúa) tay trong tay, mắt trong mắt, chìm đắm trong những nhịp múa khi nhanh lúc đuổi nhau, kẻ tiến người lui, khi nương tựa vào nhau, khi nàng mềm mại như một cành hoa lan, lúc ẻo lả như một ngọn trúc mềm trước gió, chàng phải nhạy bước nhanh tay đỡ lấy tấm thân ngọc ngà, họ đã thực sự không phải say nồng trong men rượu mà trong men nồng hạnh phúc qua những động tác múa mà lịch sử hai quốc gia cũng như định mệnh của Thượng Đế đã an bài cho họ.
Trong khung cảnh lộng lẫy nơi cung đình với hoa đăng sáng rực như trân châu, qua vũ khúc Mia-Harung của cung đình mà Vua Jaya Simhavarman Đệ Tam cùng Hoàng Hậu Paramecvari đã mở đầu buổi dạ tiệc, đoàn sứ thần Đại Việt nghĩ rằng thảo nào Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đã không chọn một mỹ nhân nào trong nước Đại Việt để gả cho Vua Chế Mân hầu thực hiện sách lược hòa thân mà lại chọn ngay con gái ruột xinh đẹp của mình. Sau màn vũ Quân Vương và Hoàng Hậu chấm dứt, cả cung đình vang lên nhiều tràng pháo tay khen ngợi. Nhà Vua dìu Hoàng Hậu trở về vị trí cũ, đêm dạ tiệc được tiếp tục với những điệu múa Tây Thiên Trúc qua nghệ thuật trình diễn của các cô Chiêm Nữ trong cung đình với xiêm y lụa là vừa nhẹ nhành vừa thanh thoát . Những điệu múa cung đình Champa ảnh hưởng vũ điệu của nữ thần nghệ thuật Sravastri và vũ điệu Thiên Thần Vũ Nữ Apsara cũng được đoàn vũ nữ cung đình biểu diễn thật tuyệt vời cùng với dàn trống đệm gồm ba mươi nhạc công, ngoài ra các nhạc cụ dân tộc cổ điển dân gian Champa như kèn Saranai, trống đôi Ginăng, trống chiếc một người sử dụng như Paranưng v.v... cũng được dùng hòa âm khi trình bày những khúc nhạc dân ca.
Dạ yến tiệc có đủ sơn hào hải vị, các loại rượu đặc biệt của Champa và của những quốc gia lân cận. Mọi người vừa thưởng thức nghệ thuật ca vũ, rượu ngon trà ấm, những thức ăn tuyệt hảo sang trọng trong đời sống cung đình:

Đây ánh ngọc lưu ly mờ ảo.
Vua quan Chiêm say đắm thịt da ngà,
Những Chiêm nữ mơ màng trong tiếng sáo,
Cùng nhịp nhàng uyển chuyển uốn mình hoa.


(Chế Lan Viên)

Khi dạ tiệc chấm dứt, mọi người nghiêm chỉnh tiễn đưa Quốc Vương và Hoàng Hậu về cung son gác tía, thế giới riêng tư của Quân Vương và Hoàng Hậu. Trong chốn mê cung này, Tân lang và Tân giai nhân cùng cạn hai chung rượu nồng ấm sắt son và trong Hoa Tiên có câu:

Bấy lâu chút mảnh riêng tây
Ái ân này đến đêm này là xong.


Sau năm năm cầu hôn và chờ đợi, Quân Vương Chế Mân bây giờ mới thực sự trùng phùng với giai nhân ngày tháng đợi chờ. Hai người nhoài đi trong giấc điệp … Những con Oanh vàng và mấy con chim Vành Khuyên phía sau vườn thượng uyển hót vang lên, Quốc Vương và Hoàng Hậu vừa thức giấc thì vừng thái dương đã chiếu rọi nơi khung cửa ngọc … và lại bắt đầu một ngày mới.

Sau những tuần trăng mật, Vua Chế Mân trở lại lo việc triều chính. Hoàng Hậu Paramecvari, bà ta không những là một nhịp cầu nối liền tình đoàn kết thâm sâu của hai dân tộc Việt-Chiêm mà còn là một người đàn bà luôn bên cạnh Vua Chế Mân (bên Tây Cung). Hoàng Hậu Tapasi ở bên Đông Cung, bà này đời sống đóng kín hơn. Hoàng Hậu Paramecvari còn lo việc an nguy của dân tộc và đất nước Champa để xứng đáng là “Mẫu nghi thiên hạ”. Quốc Vương và Hoàng Hậu Paramecvari cùng đi thăm viếng lương dân, quan sát đời sống của dân để có kế hoạch lo cho nhơn quần xã hội Champa được ấm no hạnh phúc, đồng thời chiêm ngưỡng cảnh trí thiên nhiên đẹp đẽ của giang sơn chồng. Quốc Vương và Hoàng Hậu lần lượt thăm viếng những địa danh đặc biệt nổi tiếng trên đất nước Champa như:
Ngũ Hành Sơn: để ra mắt Thần Linh Champa, vì nơi đây có những khóm mây ngủ quên trên lưng chừng đồi; cảnh trí như sương khói mùa thu bao phủ cả rừng cây, cả những hang động thiên nhiên rộng và sâu nhưng đầy mùi hương trầm và đèn sáp sáng trưng, vốn là nơi thờ phượng thần linh hiển linh của dân tộc Champa.
Thánh Địa Mỹ Sơn do Vua Bhadravarman xây dựng hồi cuối thế kỷ thứ IV công nguyên. Quốc Vương và Hoàng Hậu cầu nguyện trước Thần Bhadresvara là đấng toàn năng của đất nước và dân tộc Champa và quì lạy trước Thần Shiva là đấng toàn năng chỉ đạo đời sống vương quyền Champa và còn là một biểu tượng tâm linh cội nguồn của dân tộc Champa . Đây là một trung tâm hành hương lớn nhất của Champa với nền kiến trúc rực rỡ nguy nga.
Tu Viên Đồng Dương: ở Quảng Nam (Indrapuna) Quốc Vương và Hoàng Hậu đến lạy Phật. Đây là một trung tâm Phật giáo Đại Thừa nguy nga đồ sộ lớn nhất ở Đông Nam Á trong thời điểm lịch sử này, do Vua Indravarman Đệ Nhị xây dựng hồi thế kỷ thứ 9. Nơi đây, Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông là phụ hoàng của Hoàng Hậu Paramecvari đã trải qua nhiều tháng để nghiên cứu Phật Pháp.

Dạo chơi vườn Mai Uyển tại miền đất thuộc châu Panduranga, giữa Cà Ná và Vĩnh Hảo tức ranh giới giữa tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay. Vườn Mai Uyển này gồm có Bạch mai, Hoàng mai, và Hồng mai tọa lạc tại một địa thế hùng vĩ của núi rừng và sự mênh mông của biển cả (một bên là biển Thái Bình Dương, một bên là chi nhánh của dãy Trường Sơn Việt Nam, vườn Mai Uyển ở giữa). Nghĩa là một bên là màu xanh của biển cả, một bên là màu xanh của núi rừng, ở giữa là vườn Mai Uyển với hoa trắng hoa vàng hoa Mai hồng hoà lẫn với màu xanh cỏ cây và hoa rừng đủ loại tạo thành một bức tranh màu sắc tuyệt đẹp. Người ta đồn rằng khi Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông ước gả Huyền Trân Công Chúa cho Vua Chế Mân, Ngài (Vua Chế Mân) đã lập sẵn vườn Mai Uyển này để tặng cho Huyền Trân Công Chúa. Nhưng thực sự đây chỉ là lời đồn do sự tưởng tượng của thi ca, vì vườn Mai này do thiên nhiên hiến tặng cho dân tộc và đất nước Champa, cũng như mạch suối “Khoáng Tuyền” cũng có ở vùng này gọi là suối Vĩnh Hảo cũng nằm hóc núi khu vườn Mai Uyển này. Có lẽ Quốc Vương Chế Mân và Huyền Trân Công Chúa cũng đến thăm viếng ở đây. Trong thời Pháp thuộc, người Pháp có lập nhà máy khai thác mạch suối khoáng chất này để vô chai gọi là “nước suối Vĩnh Hảo” đem bán khắp nơi trong nội địa, không rõ có xuất cảng hay không. Kẻ viết bài này lúc còn là học sinh trung học thường đến đây tắm và uống nước suối với chanh đường thật là tuyệt vời giống như soda chanh đường vậy.
Vườn Mai Uyển, như trên đã nói là đã có sẵn trong thiên nhiên của vùng đất Panduranga, Vua Chế Mân chỉ tô điểm sửa sang lại cho đẹp đẽ không có vẻ hoang dã nữa. Mỗi độ xuân về vườn Mai này nở rất đẹp. Khi Huyền Trân Công Chúa chính thức thành Hoàng Hậu Paramecvari của Champa trong mùa xuân đầu tiên trên đất nước Champa, Hoàng Hậu Paramecvari và Vua Chế Mân cùng sánh bước với nhau nhiều lần trong vườn Mai Uyển của muà xuân năm 1307 trong tình nghĩa phu thê để rồi sau mùa xuân năm đó, vào tháng 05/1307 Vua Chế Mân băng hà. Sau đó vườn Mai Uyển không ai chăm sóc nữa, dần dà trở nên hoang dã như xưa. Bảy trăm năm qua, ngày nay trở lại khu vườn Mai đó nay chỉ còn là dấu tích, lác đác đó đây những bụi Mai vàng nhắc nhở nhân gian về một quá khứ đẹp đẽ của một cuộc tình vương giả giữa Vua Chế Mân và Huyền Trân Công Chúa Đại Việt ngày xưa.
Trở lại Quốc Vương Chế Mân và Hoàng Hậu Paramecvari trong đời sống Hoàng cung; Vua Chế Mân là một phu quân phong độ và lịch duyệt. Ngài thật sự yêu thương Hoàng Hậu xinh xắn yêu kiều, mang đến cho Hoàng Hậu những hương vị ngọt ngào của đời sống phu thê và Hoàng Hậu tỏ ra là một phụ nữ Á Đông thấm nhuần Nho giáo với câu tam tòng tứ đức. Một người vợ ngây thơ (20 tuổi) hiền thục, một Hoàng Hậu đức hạnh xứng đáng là một mẫu nghi thiên hạ. Đời sống trong Hoàng cung thật êm đềm cũng có vẻ kiêu sa và cũng rực rỡ huy hoàng của một mệnh phụ triều đình.
Hoàng Hậu thường thăm viếng ủy lạo chuà chiền trong kinh thành, cầu xin cho hai quốc gia Chiêm-Việt được quốc thái dân an. Lập nhiều khu tế bần để giúp đỡ lê dân bá tánh, chăm sóc nuôi nấng người già cả tật nguyền đơn chiếc cút côi. Đôi lúc Quốc Vương và Hoàng Hậu cùng ngồi trên một cái bành nệm êm có lọng che sặc sỡ được gắn chặt trên lưng một thớt voi với sự điều khiển của một quản tượng chuyên môn rành nghề, băng suối lên ngàn ngao du sơn thủy cùng với toán Ngự Lâm quân theo hầu, một quan thái gia lo về ẩm thực cùng quân lính theo hậu vệ. Cuộc sống phu thê giữa Quốc Vương và Hoàng Hậu đang trải qua những ngày tháng êm đềm hạnh phúc trong một giai đoạn yên bình của lịch sử, trong sự hòa thân tốt đẹp của hai quốc gia Việt – Chiêm, thì bất hạnh lại đến với Hoàng Hậu Paramecvari, với triều đình và dân tộc Champa là Quốc Vương Chế Mân băng hà vào tháng 05/1307 năm Hưng Long thứ 15. Cả triều đình Champa đau buồn vì sự ra đi vĩnh viễn của một Quốc Vương anh hùng đạo đức này.
Hoàng Hậu Paramecvari đang mang trong mình giọt máu của Quốc Vương và Hoàng Hậu, nàng đau nhói tâm cang, nỗi lòng quặn thắt, nước mắt nhạt nhòa vĩnh biệt phu quân. Cuộc hôn nhân vương giả do sự an bài của lịch sử hai quốc gia nhưng những tháng ngày bên nhau ấy đã tạo nên một tấm chân tình sắt son giữa Quốc Vương và Hoàng Hậu vừa tròn một năm thì rơi vào mệnh bạc!

VUA CHẾ MÂN BĂNG HÀ, CÔNG CHÚA HUYỀN TRÂN VỀ CỐ QUỐC

Sau khi Vua Chế Mân băng hà, triều thần Trần Anh Tông lấy cớ sợ Huyền Trân phải lên dàn hỏa với Vua Chế Mân theo tục lệ của người Chiêm Thành, nên đã cử Thượng Thư Tả Bộc Xạ Trần Khắc Chung và An Phủ Sứ Đặng Vân (Đặng Thiệu) sang Chiêm Thành phúng điếu tang lễ rồi tìm cách cướp Huyền Trân về Đại Việt. Phái đoàn Đại Việt đề nghị với triều đình Champa cho Huyền Trân Công Chúa ra bờ biển làm lễ chiêu hồn cho nhà Vua, xong rồi trở về lại Hoàng cung. Triều đình Champa tin tưởng rồi chấp thuận.
Nhưng, khi Hoàng Hậu Paramecvari đến bờ biển thì Trần Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy Huyền Trân đưa về Đại Việt. Cuộc hải hành đưa Huyền Trân về Đại Việt đáng lý ra không quá hai tháng vì lúc này gió chướng Đông Bắc chưa mạnh, nhưng đã kéo dài đến mười tháng mới về đến Thăng Long thành. Sự kiện cướp Hoàng Hậu này gây phẩn nộ cho triều thần Champa. Còn việc đưa Công Chúa Huyền Trân về lại Thăng Long quá chậm trễ đưa đến hai quan điểm khác nhau sau đây:

Quan điểm thứ nhất:

Sở dĩ kéo dài đến 10 tháng lênh đênh trên biển cả vì Trần Khắc Chung tìm cách tư thông với Huyền Trân, vì thời gian trước kia Trần Khắc Chung cũng thương thầm Huyền Trân?
Giáo sư Huỳnh Văn Lang, tác giả cuốn "Những Công Chúa Sứ Giả", tập II, trang 117 có ghi rằng: "Về lại, Thái Thượng Hoàng không phạt Trần Khắc Chung mà lại phạt Huyền Trân Công Chúa như là người đàn bà mất nết, bắt cạo đầu vào chùa tu cho đến chết"

Nếu quả thật là tư thông với Trần Khắc Chung sau khi chồng chết chưa mãn tang (?) thì:

Thương thay cô gái quạt mồ
Hại thay cô gái xách vồ đập xăng!


Dù sao đi nữa thì cũng:

Nhất dạ phu thê bá vạn ân!

Hay là:

Đã trót tương phùng trong một quán
Dẫu trà ôi rượu nhạt cũng là duyên


(Không rõ tác giả)

Phương chi một Công Chúa hiểu câu Tam tòng Tứ đức, một mệnh phụ của triều đình, một mẫu nghi thiên hạ, làm như vậy thật là tàn nhẫn đối với Chế Mân, đau lòng xót dạ cho những người trong cuộc; ôi thôi “Hai châu Ô, Lý vuông ngàn dặm”!
Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư tập II, trang 92, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, nhà xuất bản Khoa học – Xã Hội có ghi chép như sau: “Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy Công Chúa đem về rồi tư thông với Công Chúa đi đường biển loanh quanh, chậm chạp lâu ngày mới về đến kinh đô.
Hưng Nhượng Đại Vương ghét lắm, mỗi khi thấy Khắc Chung thì mắng phủ đầu: (Thằng này là điềm chẳng lành đối với nước nhà. Họ tên nó là Trần Khắc Chung thì nhà Trần rồi mất vì nó chăng?). Khắc Chung thường sợ hãi né tránh.
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Thói gian tà của Trần Khắc Chung thực quá quắt lắm! Không những hắn giở trò chó lợn ở đây mà sau này còn vào hùa với Văn Hiến vu hãm Quốc Phụ Thượng Tể tức Huệ Vũ Đại Vương Trần Quốc Chẩn vào tội phản nghịch làm chết oan đến hơn trăm người. Thế mà hắn được trọn đời phú quí.
Khổng Tử nói: “Kẻ gian tà được sống sót là may mà thoát tội chăng?” Song, sau khi hắn chết gia nô của Thiệu Vũ Vương (con của Quốc Chẩn) đào xúc hắn lên mà vằm nhỏ ra thì lời thánh nhân càng đáng tin.
Về Huyền Trân, kẻ viết bài này mạo muội nghĩ rằng: nàng là người đoan chính vì là huyết thông nhân từ đạo hạnh của Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông. Tuổi 20 cũng còn ngây thơ, chỉ sợ mưu mô và cạm bẫy quỉ khốc thần sầu của Trần Khắc Chung làm ảnh hưởng đến nhân phẩm ngọc ngà của nàng. Dù sao nàng cũng chỉ là một nạn nhân của một tấn tuồng chánh trị của triều thần Trần Anh Tông.

Quan điểm thứ hai:

Theo tác giả Mường Giang trong tập sách “Qua Những Nẻo Đường Bình Thuận”, nơi trang 204 và 205, tác giả ghi rằng: “Về việc bia miệng căn cứ chuyện Khắc Chung cứu Huyền Trân, sau đó gần một năm mới đưa về nước, mà cho rằng hai người đã tư thông. Chuyện này đến nay vẫn là huyền thoại vì chính sử không hề nhắc tới vì là lời đồn. Theo sử liệu, trong phái đoàn sang Chiêm Thành giải cứu Công Chúa Huyền Trân lúc đó rất đông đảo, ngoài chủ tướng họ Trần còn có An Phủ Sứ Đặng Vân, phương chi Thượng Tướng Trần Khắc Chung là người rất có danh vọng đời Trần, ông còn là một thiền sư, đã từng đề bạt cho tập “Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục” do nhà sư Pháp Loa biên tập, Vua Nhân Tông hiệu đính. Bao nhiêu đó đủ thấy đạo đức của ông, vì vậy sau khi về triều Trần Khắc Chung vẫn được từ Vua tới dân chúng kính nể ngưỡng mộ, qua các triều Anh Tông, Minh Tông. Sau rốt theo sử cho biết Vua Anh Tông rất nghiêm khắc, nếu quả thật Trần Khắc Chung tư thông với Huyền Trân, làm nhục quốc thể Đại Việt, liệu ông thoát được sự trừng phạt của triều đình lúc đó như Thượng Phẩm Nguyễn Hưng chỉ tội đánh bạc mà đã bị Anh Tông ra lệnh đánh đến chết vào tháng 03 năm Bính Thân 1296.
Theo Thiền Sư Nhất Hạnh, trong “Am Mây Ngủ”: phái đoàn Đại Việt đi chia buồn với Chiêm Thành còn có An Phủ Sứ Đặng Vân, các quan, binh lính và bao nhiêu thủy thủ lành nghề để chuẩn bị thủy chiến khi cướp Công Chúa chứ đâu phải chỉ Trần Khắc Chung mà nói có chuyện tư thông? Do đó câu ca dao trên chỉ do sự tưởng tượng của những người đa nghi về cuộc hành trình dài quá mức thôi.

Thứ 1:
Tục lệ Champa không hề bắt buộc các hoàng hậu, thứ phi phải lên dàn hỏa với nhà Vua khi băng hà. Trong dân gian Champa cũng không có tình trạng vợ lên dàn hỏa với chồng, bởi vì trong lễ hỏa táng, trên giàn hỏa chỉ có một thi hài đặt trong một cái “Cung” rồi phủ quần áo đẹp lên thi hài . Một cái nhà bằng giấy đủ màu sắc rất đẹp gọi là: “Thang Thuơr” đặt trên cái cung đó, thi hài nằm trong lòng cái cung và dưới vòm “Thang Thuơr ”. Trên đỉnh cái nhà giấy này có một con bò ngũ sắc tức là bò Thần, người Chăm gọi là Limow-Kapil, tiếng Phạn gọi là Kapila. Con bò Thần Limow-Kapil chỉ đưa một linh hồn duy nhất cho một lễ hỏa táng. Linh hồn này được con bò Thần Limow-Kapil đưa qua sông Khawphar (giòng sông ngăn cách trần gian và thế giới vĩnh hằng) để qua một thế giới “KHÔNG CÙNG”

Thứ 2:
Các vị tăng lữ, tu sĩ là các vị sư cả Bà La Môn là những người trực tiếp thi hành những thủ tục hỏa táng cũng không thấy có ghi trong kinh điển Champa theo đạo Bà La Môn nói về việc lên giàn hỏa của Hoàng Hậu khi nhà Vua băng hà; có nghĩa là không có tục lệ đó.

Thứ 3:
Như đời Vua Pô Rômê Champa theo đạo Bà La Môn, có ba người vợ: một người Chăm tên là Bia Sutki, người Việt là Công Chúa Ngọc Khoa tên Chăm là Nai Bia Lith, một người thứ ba gốc Tây Nguyên Rhadé tên Bia Tanchank. Khi Vua Pô Rômê qua đời cũng không có bà nào lên dàn hỏa cả.

Thứ 4:
Theo tục lễ hỏa táng, khi một người qua đời dù Vua, quan, hay thứ dân, thì lễ hỏa táng sẽ được thực hiện từ ba đến bảy ngày.
Ngày xưa vào thời Chế Mân và Huyền Trân chưa có điện thoại, chưa có máy bay, chưa có tàu thủy tàu hỏa … mọi sự liên lạc thông tin đều bằng ngựa, bằng thuyền buồm.
Khi Vua Chế Mân băng hà, quân báo sẽ dùng ngựa về Thăng Long báo tin, rồi Thăng Long cử phái đoàn đến phúng điếu có nhanh lắm cũng mất gần hai tháng. Chừng ấy nếu quả thật có tục lệ hoàng hậu, thứ phi v.v… phải lên giàn hỏa với Vua, thì bảy ngày sau khi Vua Chế Mân băng hà Hoàng Hậu Paramecvari tức Công Chúa Huyền Trân đã thành tro cùng với Chế Mân. Lúc ấy phái đoàn Đại Việt đến thì còn Huyền Trân đâu nữa mà cứu hay cướp.

Thứ 5:
Hơn ai hết, Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông khi thăm viếng Chiêm Thành đã ở lại 9 tháng với Vua Chế Mân; trong thời gian này đủ cho Ngài biết về văn hóa và tôn giáo cùng phong tục tập quán Champa rồi. Có người cha nào dại dột đem con gái ruột của mình gả cho một người mà sau này sẽ bị lên giàn hỏa để thiêu sống cùng chồng (Vua Chế Mân)? Cùng lắm nếu muốn dùng mỹ nhân kế để thực hiện sách lược Hoà Thân hay thôn tính gì đó thì kiếm một cô gái nhan sắc nào trong từng lớp dân chúng hay con quan huyện quan phủ nào đó v.v.. như trường hợp Chiêu Quân bên Trung Hoa chỉ là con của một Tri Phủ Châu Việt tỉnh Hồ Bắc người ma Hán Nguyên Đế đã phong làm Công Chúa để gả cho Hồ Hàn Da của Hung Nô. Tội gì phải gả Huyền Trân để bị lên giàn hỏa?!
Qua năm điểm trình bày nêu trên Champa không có tục lệ bắt hoàng hậu, thứ phi, phi tần v.v.. phải lên giàn hỏa với nhà Vua khi băng hà.
Do đó, việc triều thần Trần Anh Tông đi cướp Hoàng HậuParamecvari của Champa (tức Huyền Trân) vì sợ lên giàn hỏa với Vua Chế Mân chỉ là một cái cớ không trung thực. Đây chỉ là một sự bội tín. Huyền Trân bây giờ đã là Hoàng Hậu Paramecvari của Champa, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Bây giờ nàng đã có Hoàng Tử Chế Đa Gia, giọt máu của Vua Chế Mân và Hoàng Hậu Paramecvari (tức Huyền Trân) vẫn còn có trọng trách duy trì sách lược Hoà Thân của Thái Thượng Hoàng đối với hai dân tộc Việt-Chiêm.
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: “Nhân Tông đem con gái gả cho Vua Chiêm Thành là nghĩa làm sao? Nói rằng khi đi chơi đã trót hứa gả, sợ thất tín thì sao không đổi lại lệnh đó có được không? Vua giữ ngôi trời mà Thượng Hoàng đã xuất gia rồi, Vua đổi lệnh thì có khó gì, mà lại đem gả cho người xa không phải giống nòi để thực hiện lời hứa trước , rồi sau lại dùng mưu gian trá cướp về, thế thì TÍN ở đâu ?” (Tham chiếu Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập II trang 90).
Giáo Sư Huỳnh Văn Lang, tác giả cuốn sách “Những Công Chúa Sứ Giả Trung Hoa và Việt Nam” đã phát biểu rằng: “Chế Mân chết tháng 05 năm 1307. Đại Việt sai Trần Khắc Chung qua Chiêm Thành gọi là đi phúng điếu Vua Chiêm, nhưng thực ra để lập kế cướp Huyền Trân Công Chúa đem về nước, đúng ra là tiền đã trao, cháo đã múc, nhưng múc rồi lại lấy lại , đúng là thủ đoạn của một chị bán hàng chơi cái trò gian lận . Nhân dân và quần thần nhà Trần có hãnh diện thế nào thì hãnh diện, nhưng nhân dân Chiêm Thành từ quí tộc tới thường dân đều nhìn nhận đó là một quốc nhục cần phải trả bằng mọi giá .” (Trích Những Công Chúa Sứ Giả Trung Hoa và Việt Nam, tập II trang108).
Từ những nguyên nhân nêu trên đã được vài tác giả nêu lên, sau này đã mở đường cho Chế Chi con của Chế Mân, Chế Năng cháu của Chế Mân và cho tới Chế Bồng Nga và dân tộc Chiêm Thành đã bất chấp tương quan lực lượng đôi bên đã đem hết tinh thần tự ái dân tộc trả thù cho Chế Mân cho đất nước và dân tộc Champa đòi lại sính lễ Châu Ơ, Châu Lý mặc dù hành động tự ái dân tộc chỉ đem lại sự tan nát đớn đau triền miên cho dân tộc Chiêm Thành chứ làm sao thắng nổi sức mạnh của Đại Việt gấp hơn mười lần đối với Chiêm Thành.

Nhà Sử học Phạm Văn Sơn đã nói:

"Duy việc Trần Khắc Chung lập mưu đưa Huyền Trân trở về nước sau khi Chiêm Vương qua đời, muốn sao ta cũng phải nhận là một việc bất tín đối với Chiêm Thành. Thì phản ứng của nước Chiêm là lẽ dĩ nhiên và chính đáng." (Việt Sử Toàn Thư – Phạm Văn Sơn, trang 203).
"Còn người Việt đã thắng một canh bạc không lương thiện lắm lại còn ra bộ não nùng xót xa " (Việt Sử Toàn Thư – Phạm Văn Sơn, trang 203).

THI CA VÀ BIA MIỆNG LIÊN QUAN ĐẾN CUỘC HÔN NHÂN HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA VÀ VUA CHẾ MÂN

Tiếc thay cây quế giữa rừng Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo.

hay:

Tiếc thay cây quế Châu Thường
Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo.


Cụ Nguyễn Văn Mại đậu Phó Bảng hai khóa (1885 và 1889) tự là Tiểu Cao (tự ý xem mình là đồ đệ xa xưa của danh sĩ Cao Tiên bên Tàu) đã giải thích rằng hai câu thơ trên phát xuất từ đời Vua Lý Thái Tông (1028-1054) dùng mỹ nhân để gả cho những lãnh chúa các vùng thượng du Bắc Việt giáp với Trung Hoa để họ khỏi quấy phá những làng mạc thượng du bắc phần Việt Nam và biến họ thành những phên dậu để ngăn quân Tàu. Người Mán người Mường ngày xưa ở các vùng cao miền bắc Việt Nam giáp với ranh giới Trung Hoa chứ không ở miền trung Việt Nam.
Năm 1301, gần ba trăm năm sau, Vua Trần Nhân Tông gả Công Chúa Huyền Trân cho Vua Chế Mân Chiêm Thành, một vài tác giả thi ca và bia miệng cũng dùng những câu thơ trên hoặc ngộ nhận hoặc hễ nói đến những câu thơ trên người thời nay nghĩ đến cuộc hôn nhân giữa Huyền Trân Công Chúa và Vua Chế Mân. Thực sự cuộc hôn nhân giữa Huyền Trân và Vua Chế Mân là giữa hai quốc gia có tiến trình lịch sử, có chủ quyền độc lập trên chính trường quốc tế, có một nền văn học nghệ thuật riêng biệt nhằm thực hiện sách lược Hòa Thân giữa hai quốc gia Việt – Chiêm.
Những câu thơ trên cũng có thể do vài anh thi sĩ thất chí hay vài anh hủ nho bất tài viết ra để rót vào miệng dân gian thời đó còn lưu truyền đến ngày nay.
Cây quế đó do Vua Trần Nhân Tông trồng và chăm sóc chu đáo đẹp đẽ mượt mà thơm tho bóng lưỡng . Thằng Mán thằng Mường nào có thiên hạ trong tay, có cả giang sơn gấm vóc giàu đẹp; còn là anh hùng, phong thái lịch duyệt đôn hậu, đầy đủ phẩm chất của một người đàn ông hay là một đấng tu mi nam tử thì Ngài gả cho . Còn kẻ vô tài thất đức, bản chất ma mảnh, tỵ hiềm kỳ thị, dù là thằng Tây thằng Tàu nào đi nữa Thái Thượng Hoàng không thèm gã. Đừng ngồi đó mà mặc cảm tự tôn hảo, mang nặng thiên kiến u tối lỗi thời:

Trâu ta ăn cỏ đồng ta
Đừng cho trâu lạ ăn qua đồng mình


Bài tự sự sau đây được viết và hát theo điệu Nam Ai của Chiêm Thành về Huyền Trân Công Chúa và Vua Chế Mân:

Nước non ngàn dặm ra đi, mối tình chi
Mượn màu son phấn đền nợ Ô Ly.
Đắng cay vì đương độ xuân thì
Số lao đao hay nợ duyên gì
Má hồng da tuyết, quyết liều như hoa tàn trăng khuyết
Vàng lộn với chì
Khúc ly ca cớ sao mà mường tượng Nghê Thường
Thấy chim hồng nhạn bay đi, tình tha thiết
Bóng dương hoa Quỳ
Nhắn một lời Mân Quân, nay chuyện mà như nguyện
Đặng vài phân vì lợi cho dân
Tình đem lại mà cân
Đắng cay muôn phần


(Tác giả vô danh)

Qua bài thơ Tự Sự nêu trên, không hiểu đây là tâm tư nỗi lòng của Công Chúa Huyền Trân hay của thi nhân nào đó có chút lòng kỳ thị và tự tôn (vàng lộn với chì), hay của quần thần nào đó trong triều đình cũng có để ý đến Huyền Trân nhưng tay vói không tới, tiếc rẻ cho một hồng nhan ôm cầm thuyền viễn xứ, sửa túi nâng khăn cho một người khác giống rồi trút tâm sự não nề như vậy.
Sau đây là bài thơ của Thái Xuyên Hoàng Cao Khải viết trong thời kỳ Pháp thuộc (1850-1933) liên quan đến Huyền Trân Công Chúa và Vua Chế Mân:

Đổi chác xưa nay khéo nực cười,
Vốn đà chẳng mất lại thêm lời.
Hai châu Ô Lý vuông ngàn dặm,
Một gái thuyền quyên đáng mấy mươi.
Lòng đỏ khen ai lo việc nước,
Môi son phải giống mãi trên đời.
Châu đi rồi lại châu về đó
Ngơ ngẩn nhìn nhau một lũ Hời!


Qua bài thơ trên Thái Xuyên Hoàng Cao Khải đã diễn tả nỗi vui mừng sung sướng của gã thương buôn đổi chác dối lừa, còn xuýt xoa hảnh diện tưởng thế là vinh dự là văn minh.
Ý thơ và ngữ pháp dùng trong bài thơ thật không phải là một cử nhân trí thức, có đọc sách thánh hiền, có tâm cang đạo đức. Đã thắng một canh bạc không lương thiện, còn mỉa mai tự thị bằng những ngôn từ hỗn xượt (ngơ ngẩn nhìn nhau một lũ Hời) xúc phạm đến dân tộc khác.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, biết bao nhà cách mạng Việt Nam yêu nước đấu tranh đòi độc lập, để thoát khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp, nhưng Hoàng Cao Khải lại ôm chân thực dân Pháp để dày xéo dân tộc Việt Nam và còn mỉa mai cười nhạo cho người Chăm, một dân tộc thiểu số đã tan nhà nát cửa mà đáng lý ra ông ta cũng phải góp tay với mọi người Việt khác để bù đắp cưu mang và đùm bọc họ.

Champa là một dân tộc đã lập quốc từ cuối thế kỷ thứ hai sau công nguyên, nhưng qua khoa khảo cổ học đã khai quật được nền văn hóa Sa Huỳnh đã nói lên sự hiện hữu của dân tộc này tại giải đất miền Trung Việt Nam ngày nay từ mấy ngàn năm trước công nguyên và là một dân tộc bản địa.
Một dân tộc đã lập quốc trước Đại Việt 700 năm, có một nền văn hóa riêng biệt rực rỡ, một nền kinh tế nông nghiệp phồn thịnh, một binh lực không đến nỗi hèn yếu ít ra từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ XIV.
Nhưng lịch sử có sinh tồn có biến đổi và có tái diễn, đó là một qui luật tất yếu của lịch sử. Do đó sự sụp đổ hoàn toàn của quốc gia Champa cho dù bất cứ nguyên nhân nào cũng đều nằm trong qui luật tất yếu đó.
Ngày nay Vương Quốc Champa cổ này không còn nữa, chỉ còn lưu lại dấu tích nền văn minh kiến trúc và điêu khắc kỳ vĩ thâm nghiêm, như Thánh Địa Mỹ Sơn được tạo dựng từ thế kỷ thứ IV và tiếp theo đó là những công trình kiến trúc đền tháp còn lưu lại dọc miền Trung Việt Nam ngày nay và đã nằm vào vị trí của nền văn hoá đa dạng của Việt Nam.
Trong cuộc hôn nhân giữa Huyên Trân Công Chúa và Vua Chế Mân, qua thi ca và bia miệng nêu trên quả thật phát xuất từ định kiến mặc cảm tự tôn của một số thi nhân người Việt . Thi ca có vai trò ghi lại những sinh hoạt của con người, của nhân loại theo trình tự của thời gian; nhưng trong thi ca cũng có những ngòi bút bất công, bồi bút, khinh thế ngạo vật, ngông cuồng ngạo mạn theo cảm tính và nội tâm bất ổn, nên thi ca đôi khi đã để cho hậu thế không ít xót xa phiền muộn.
Ngày xưa người Trung Hoa mắc bệnh tự cao tự đại, ỷ vào dân số đông nhất hoàn cầu nên lấy thịt đè người chứ chẳng có thực chất văn minh gì, coi ai cũng là man di mọi rợ, không có văn hóa, không có kỷ cương, chỉ có mình là trung tâm của vũ trụ nên tự xưng mình là Trung Hoa, rồi xua quân đánh chiếm Đại Việt, Chiêm Thành, gọi các nước phía nam, kể cả Đại Việt đều là bọn Nam Man.
Nước nào cũng có văn hóa, có lịch sử, có kỷ cương. Mặc dù phong tục tập quán khác nhau, ngôn ngữ khác nhau, vóc dáng màu da khác nhau, trình độ văn minh tiến hóa khác nhau tùy theo điều kiện và hoàn cảnh riêng của mỗi dân tộc. Nhưng, giữa cái tốt đẹp và xấu xa, giữa cái độc ác và lương thiện, giữa đạo đức và tàn bạo họ đều có cái nhìn giống nhau và những điểm này mới là mẫu mực là thước đo để đánh giá một dân tộc văn minh hay man rợ.
Victor Hugo (1802-1885) một văn hào nổi tiếng người Pháp đã phân tích: "Sự cao cả của một dân tộc không được đo lường bằng những con số, cũng như sự cao cả của một con người không được đánh giá theo tầm vóc lớn bé. Đơn vị duy nhất để đánh giá một dân tộc chính là nếp sống đạo đức và truyền thống cao đẹp của dân tộc ấy."
Nói theo quan điểm của nhà viết sử Trần Gia Phụng: “Nếu Chế Mân không cưới Huyền Trân thì Huyền Trân sẽ như các công chúa khác của nhà Trần, không nổi tiếng trong lịch sử . Nếu không có Huyền Trân thì cuộc phát triển về phương nam của người Việt sẽ chậm lại, và biết đâu lịch sử sẽ chuyển dòng theo một hướng khác?” (Những Câu Chuyện Lịch Sử của Trần Gia Phụng, tập III, trang 138).
Như vậy, nếu Chế Mân không chịu cưới Huyền Trân để kết tình hữu nghị giữa hai nước. Và biết đâu nếu quân Nguyên không dừng lại để trải qua giai đoạn thụ hưởng trước khi suy tàn, mà cứ tiếp tục xâm lăng Đại Việt với sự hỗ trợ tích cực của Chế Mân thì chiều hướng lịch sử Đại Việt sẽ đi về đâu? Và đó mới là viễn kiến của Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đã ước gả Huyền Trân Công Chúa cho Vua Chế Mân một cách vô điều kiện để thực hiện sách lược Hòa Thân (nói theo từ ngữ của Giáo Sư Huỳnh Văn Lang) giữa hai nước lân bang Việt – Chiêm. Chế Mân đã tặng hai châu Ô và Lý để làm sính lễ, người Phò Mã Đại Việt hào hoa này thay vì được sự cảm ơn hay ít ra cảm tình từ phiá Đại Việt nhưng thi ca và bia miệng vẫn tự tôn tự đại lại cho là thằng Mán thằng Mường, nước đen nước đục … khiến về phía người Champa mất hai châu Ô và Lý nghĩ đến sự “qua cầu rút ván” hay “được cá quăng nơm”. Và đó là cách sống văn minh hay sao ?! Ở các nước văn minh phương Tây chỉ cần nhường một bước cho một người đi qua, họ đã cảm ơn rồi.
Nhưng, triều thần Trần Anh Tông không có nhãn quan chính trị trông xa nhìn rộng như Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông, đã biến cuộc hôn nhân Hoà Thân giữa Huyền Trân và Chế Mân thành một cuộc đổi chác lừa lọc và bất tín là nguyên nhân đưa đến những cuộc trả thù đẫm máu của những Vua Chiêm sau này như Chế Chi trả thù cho cha, Chế Năng trả thù cho ông nội đánh qua đánh lại kéo dài đến giai đoạn Chế Bồng Nga xuất hiện, một nhân vật phi thường cũng vì tự ái dân tộc và trả thù cho Chế Mân (vì cướp Huyền Trân) đã tạo những chiến thắng oanh liệt làm suy yếu nhà Trần, bao phen làm cho Vua tôi nhà Trần phải bỏ thành Thăng Long mà chạy, khiến cho nhà Trần suy yếu phải để cho thiên hạ và giang sơn lọt vào tay nhà Hồ; đó là hậu quả bất tín của triều đình Trần Anh Tông đối với Chế Mân và dân tộc Chiêm Thành.
Như đã nói ở phần trên: "Trần Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy Công Chúa Huyền Trân đem về rồi tư thông với Công Chúa?!"
Hưng Nhượng Đại Vương ghét lắm, mỗi khi thấy Khắc Chung thì mắng phủ đầu: (Thằng này là điềm chẳng lành đối với nước nhà. Họ tên nó là Trần Khắc Chung thì nhà Trần rồi mất vì nó chăng?) (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập II, trang 92). Lời tiền nhân càng đáng tin thật; vì bây giờ nhà Trần đã suy sụp, để thiên hạ và giang sơn lọt vào tay nhà Hồ.
Phần Chế Mân tặng hai châu Ô và Châu Lý để làm quà sính lễ không phải vì Chế Mân đa tình nên si tình Huyền Trân, vì trước đó Chế Mân chưa bao giờ thấy mặt Huyền Trân. Hơn nữa bên cạnh Chế Mân còn có Hoàng Hậu Tapasi tức nàng Công Chúa xinh đẹp sắc xảo của nước Java (Nam Dương ngày nay). Đây là một sách lược Hoà Thân giữa Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông và Vua Chế Mân sau thời gian dài hội kiến với nhau ở cung đình Champa. Việc ước gả Huyền Trân cho Chế Mân là ý kiến riêng tư của Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông. Mục đích của Chế Mân là phải kết thân bằng mọi giá với Đại Việt để có sự ổn định an ninh chính trị phía bắc Champa hầu củng cố ngai vàng của ông ta. Trong khi đó Chế Mân đã kết hôn với Công Chúa nước Java là Hoàng Hậu Tapasi để phát triển ngành ngoại thương bằng đường hàng hải, liên minh quân sự với Java trên tư thế một Phò Mã của xứ này và gây uy thế ở Đông Nam Á đồng thời mở rộng đất đai về phương nam sau khi tặng hai châu Ô châu Rí cho Đại Việt do sức ép của triều thần Trần Anh Tông trong sính lễ cưới Huyền Trân.
Nhưng than ôi! Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên. Chế Mân đã băng hà lúc 50 tuổi trong khi đang chung sống với Huyền Trân. Trần Nhân Tông băng hà lúc 51 tuổi.

HOÀNG HẬU PARAMECVARI VÀ NHỮNG XÓT XA MIÊN VIỄN CỦA VẠN LỚP DÂN CHIÊM

Trong sự tìm về đối với Hoàng Hậu Paramecvari của dân tộc Champa, thiết nghĩ cũng xin nêu ra đây một vài công chúa mỹ nhân đã được các triều đại Trung Hoa đem gả cho các vua chúa, thủ lãnh của vài nước nhỏ khác để đem lại sự hiếu hòa, hữu nghị, tránh cảnh binh đao, đem lại sự an bình giữa các dân tộc lân bang với nhau; cùng vài phu nhân trinh liệt khác để từ những tấm gương phản chiếu đó, ta có thể nhìn lại thiên chức của Hoàng Hậu Chiêm Thành Paramecvari từ thời quá khứ vàng son của triều đại Vua Jaya Simhavarman Đệ Tam, tức Vua Chế Mân:
Công Chúa Vương Chiêu Quân (2), nàng có một sắc đẹp phi phàm, trầm ngư (chìm đáy nước cá lờ đờ lặn), là một trong bốn mỹ nhân đẹp nhất Trung Hoa: Tây Thi, Điêu Thuyền, Dương Quí Phi, và Vương Chiêu Quân.
Hán Nguyên Đế phong tước Công Chúa cho Chiêu Quân và gả cho thủ lãnh Hô Tàn Tà của nước Hung Nô . Công Chúa Chiêu Quân được thủ lãnh Hô Tàn Tà phong tước Ninh Hồ Hoàng Hậu.
Khi Hô Tàn Tà qua đời, Ninh Hồ Hoàng Hậu tiếp tục sống trên đất nước Hung Nô với hoàng tử, cùng góp sức xây dựng đất nước Hung Nô ngày thêm tươi đẹp và tình đoàn kết hai nước Hán Hung ngày càng bền chặt.
Ninh Hồ Hồ Hoàng Hậu sau này già đi và qua đời trên quê hương của chồng và được vua quan, thần dân Hung Nô vô cùng thương tiếc kính yêu.

- Công Chúa Lý Văn Thành (3)

Vua Đường Thái Tông (Lý Thế Dân) một nhân vật vĩ đại của Trung Hoa, gả Công Chúa Lý Văn Thành cho Vua Tây Tạng là Can Bố để kết tình hữu nghị của hai nước lân bang và lôi kéo họ về với Đại Đường Trung Hoa. Nàng được Can Bố phong làm Hoàng Hậu và thường cầu xin Phụ Hoàng Lý Thế Dân giúp đỡ nước Tây Tạng phát triển nền kinh tế định canh thay vì du canh và đem lại phồn thịnh cho Tây Tạng.
Khi Vua Can Bố băng hà, nàng cầu siêu cho chồng, rồi dong ruổi yên ngựa trên đất nước Tây Tạng để hoàn tất công trình xây dựng của Vua Can Bố, phu quân của Hoàng Hậu. Sau này khi nàng qua đời, được triều đình và nhân dân Tây Tạng làm lễ quốc táng trọng thể; dân Tây Tạng quì phục với bao nước mắt sụt sùi tiễn biệt, và dân cả nước Tây Tạng lập miếu thờ Hoàng Hậu Lý Văn Thành. (Công Chúa Sứ Giả – Huỳnh Văn Lang, tập I trang 238)

- Ngô Phu Nhân

Ngô Phu Nhân là em gái của Ngô Tôn Quyền là vua nước Đông Ngô . Quân sư Chu Du (Tức Chu Công Cẩn) và Vua Ngô Tôn Quyền gả Công Chúa Ngô Phu Nhân cho Chúa Lưu Bị nước Thục (Hán), với kế sách bắt giữ Chúa Lưu Bị khi Ngài về nước Đông Ngô làm đám cước với Công Chúa Ngô Phu Nhân, mục đích để đổi lấy đất Kinh Châu. Khi đám cưới xong, Lưu Bị phát giác được âm mưu này nên tìm cách trốn khỏi nước Đông Ngô về lại Hán để bảo vệ đất Kinh Châu. Công Chúa Ngô Phu Nhân là lá ngọc cành vàng, nằm lòng câu tam tòng tứ đức của người con gái Giang Đông do đó nhất quyết rời nước Ngô cùng trốn theo chồng về đất Hán. Tâm trạng và sự thủy chung của Công Chúa Ngô Phu Nhân được nhà thơ Tôn Thọ Tường cảm thán:

(2)+(3): Theo Huỳnh văn Lang: ” Những công chúa sứ gỉa” tập I trang 111 và 211

Cật ngựa (a) thanh gươm vẹn chữ tòng
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông
Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc,
Về Hán trau tria mảnh má hồng.
Son phấn thà cam dầy gió bụi
Đá vàng chi để thẹn non sông.
Ai về nhắn với Chu Công Cẩn,
Thà mất lòng anh đặng bụng chồng

(a) Cật ngựa là yên ngựa.

Trong lịch sử nhân loại cũng có nhiều giai nhân mệnh phụ trung trinh tiết liệt với phu quân để trở thành lưu danh muôn thuở:
Trong lịch sử Việt Nam, bà Nguyễn Thị Kim vợ Vua Lê Chiêu Thống là một giai nhân, là phận hồng nhan tiết hạnh, khi nhà Vua băng hà, bà uống độc dược quyên sinh để theo chồng về nơi chín suối:

...

Thôi thôi nước cũ đây là hết
Năm lạy linh tiền chứng thiếp trung.

(Nhà thơ Dương Bá Trạc)

Trong lịch sử Trung Hoa, khi Hạng Vũ bị quân Lưu Bang vây trong mặt trận Cai Hạ, nàng Ngu Cơ xinh đẹp của Hạng Vũ tự đập đầu vào tảng đá để chồng rảnh tay đối phĩ với Lưu Bang

Quốc phá gia vong bất kế sinh
Ngu Cơ thiết thạch thủ trung trinh.

- Trong lịch sử Chiêm Thành có Vương Phi Mỵ Ê (tức Bia Mih-Ai) là phu nhân của vua Jaya-Parame Svaravarman Đệ I.
Năm Giáp Thân 1044, Lý Thái Tông đem binh đánh Chiêm Thành. Tướng Quách Gia Dĩ, cấp chỉ huy binh lực Champa phản bội giết Vua Chiêm rồi đầu hàng giặc. Lý Thái Tông bắt Vương Phi Mỵ Ê, cung tần, nhạc nữ xuống thuyền về Đại Việt . Khi đoàn chiến thuyền Đại Việt đến địa phận Phủ Lý, Vua Lý Thái Tông thấy Vương Phi Mỵ Ê có nhan sắc nên sai quan Trung Sứ mời nàng sang chầu Ngự Thuyền của Vua. Vương Phi Mỵ Ê quấn chăn quanh mình rồi gieo mình xuống giòng nước sâu tuẩn tiết để giữ tiết hạnh với phu quân.
Cảm thương cho giai nhân trung trinh tiết liệt, nhiều nhà thơ trong đó có thi hào Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp, đã sáng tác những lời thơ trác tuyệt để ca tụng mảnh hồng nhan Vương Phi Mỵ Ê. Gần đây nhất, trong đầu thế kỷ thứ 21 này, một nhà thơ đương thời cảm phục tấm lòng trinh liệt của một Vương Phi Chiêm Thành nêu trên đã sáng tác lời thơ thất ngôn tứ tuyệt để ca ngợi một hồng nhan trinh liệt như sau:

Đêm khuya tiếng khóc hồn vong nữ
Thành cũ cung son lớp bụi mờ
Trinh tiết mượn dòng sông gởi xác
Nghìn năm còn tạc mộ bia xưa

(Thảo Ca Nguyễn Xuân Phần)

Cry, beloves country
(Khóc lên đi ôi quê hương yêu dấu)

Alan – Paton

Đối với Hoàng Hậu Paramecvari của Chiêm Thành, khi Vua Chế Mân băng hà, triều thần Trần Anh Tông cử Trần Khắc Chung lập mưu cướp Hoàng Hậu Paramecvari (Huyền Trân) về lại Đại Việt . Sự kiện này chẳng những làm cho triều đình và nhân dân Champa dưới thời đó phẫn nộ mà cho đến ngày hôm nay đã bảy trăm năm (700 năm) trôi qua với biết bao đổi thay của thời cuộc, biết bao cảnh thương hải biến vi tang điền mà lòng dân Chiêm vẫn còn bàng bạc những nỗi sầu vạn đại . Lịch sử đã xoay vần bảy trăm năm mà tưởng như mới ngày hôm qua của mùa xuân năm Bính Ngọ 1306, Hoàng Hậu Paramecvari (lúc đó là Công Chúa Huyền Trân) sang Chiêm Quốc theo lệnh nghiêm đường Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông và sánh lễ hai châu Ô và Châu Rí để làm mẫu nghi thiên hạ của sứ sở này. Lúc đó Hoàng Hậu mới 19 tuổi xuân thì, một Công Chúa xinh đẹp ngây thơ phúc hậu bước vào lòng muôn dân Chiêm Quốc với cờ xí rợp trời của toàn dân Champa nghênh đón, với muôn đóa hoa hàm tiếu trong những tiếng hót líu lo của các loài chim, với những đoàn chiến tượng vang rền tiếng hú, với tiếng chuông rền báo động, hoà lẫn trong tiếng hí của những đoàn chiến mã quanh thành, cùng quan quân v..v… của triều đình Champa … Tất cả con người và tạo vật thiên nhiên của đất nước thân yêu của Chiêm Thành như hòa nhập lại để cung thỉnh gót ngọc của Hoàng Hậu bước vào cung đình Vijaya (Đồ Bàn) để cùng với Chiêm Vương Chế Mân trên ngôi cao trị vì thiên hạ, của một dân tộc an hoà lương thiện, của một đất nước được thiên nhiên ưu đãi với đất đai mầu mỡ phì nhiêu, với nguồn hải sản vô tận, với muôn loại gỗ quí, với kỳ hoa dị thảo v.v...
Nhưng rồi chỉ một năm sau, định mệnh đã xuống tay một cách phũ phàng khắc nghiệt đối với Chiêm Vương Chế Mân, với nhân dân và đất nước Champa: Chiêm Vương Chế Mân băng hà; một vì sao đã vụt tắt, cả không gian Chiêm Quốc như chìm đắm trong bóng tối. Mặc dù triều đình Champa vẫn nối gót Chiêm Vương Chế Mân tiếp tục công việc triều chính cai quản đất nước săn sóc muôn dân; nhưng toàn dân Champa vẫn kỳ vọng vào “Nhịp Cầu Vàng” của Hoàng Hậu nối liền tình thân thiện hai quốc gia Việt – Chiêm, còn tin tưởng tuyệt đối vào Hoàng Hậu Paramecvari, mẫu nghi thiên hạ của dân Chiêm vì lúc đó Hoàng Hậu đã có hoàng tử Chế Đa Gia; cho dù Chế Chi (con Hoàng Hậu gốc người Chiêm đã qua đời) lên thay Phụ Vương, nhưng Hoàng Hậu Paramecvari vẫn còn là Hoàng Thái Hậu nơi Tây cung với Hoàng Tử Chế Đa Gia; và với uy tín của Hoàng Hậu đối với Đại Việt (Hoàng huynh Trần Anh Tông là Vua Đại Việt vẫn còn đó), Hoàng Hậu sẽ có uy quyền để ảnh hưởng các triều thần Champa trong vấn đề cai quản đất nước Chiêm Thành chờ Hoàng Tử Chế Đa Gia khôn lớn rồi sẽ nối nghiệp Hoàng Huynh Chế Chi, chừng ấy Hoàng Hậu sẽ là mẫu hậu Vua Champa!
Một Chiêu Quân, một Lý Văn Thành Hoàng Hậu, một Ngô Phu Nhân, một Somdach Hoàng Hậu Cao Miên (tức Công Chúa Ngọc Vạn của Đại Việt), một Hoàng Phi Nguyễn Thị Kim vợ Vua Lê Chiêu Thống, một Ngu Cơ vợ Sở Bá Vương, một Vương Phi Mỵ Ê (Bia-Mih-Ai) của Chiêm Thành v.v… họ đều là những hồng nhan hoa ghen nguyệt thẹn, đều là con vua cháu chúa tài sắc vẹn toàn, và họ đã làm tròn thiên chức của một Hoàng Hậu, một hồng nhan trinh liệt, một mệnh phụ triều đình, một mẫu nghi thiên hạ, cho dù hoàn cảnh đổi thay, thế sự có xoay chiều nhưng tư chất thanh cao trong sáng, khuông vàng thước ngọc của những mẫu nghi thiên hạ đó không hề thay đổi!
Nhưng, đối với Hoàng Hậu Paramecvari đã nhẫn tâm bỏ rơi bầy tôi đã kính yêu Hoàng Hậu, tôn vinh Hoàng Hậu, để rồi Hoàng Hậu dứt áo ra đi trở về cố quốc! Cho tới ngày hôm nay, thế kỷ 21 này, thời đại của lương tâm nhân loại biết ân hận và hối tiếc, thời đại của văn minh trí tuệ, của ánh sáng; thế mà một số thi nhân, văn nhân hoặc vài cây bút lá cải lá me người Việt vẫn còn tự hào về một chiến thắng mà theo Sử Gia Phạm Văn Sơn đã phát biểu: “…đã thắng một canh bạc không lương thiện” mà qua các báo chí đặc san, âm nhạc nghệ thuật v.v… ngày nay vẫn còn dùng những câu thơ của Hoàng Cao Khải để mỉa mai, cười nhạo, chế diễu tiền nhân Champa:

Đổi chác xưa nay khéo nực cười,
...

Châu đi rồi lại châu về đó
Ngơ ngẩn nhìn nhau một lũ Hời!


Họ thật sự không quan tâm đến cảm xúc đau buồn tủi hổ khi bị sỉ nhục của dân tộc thiểu số Champa đã tan nhà nát cửa vì tiền nhân họ, mà ngày nay dân tộc bất hạnh này vẫn phải sống hoà hợp với cộng đồng dân Việt, cùng trải qua những thăng trầm lịch sử suốt hai thế kỷ qua, cùng hy sinh chịu đựng những vui buồn gian khổ theo dòng lịch sử Việt Nam.
Muôn tâu Hoàng Hậu Paramecvari của Champa! Kể từ năm Bính Ngọ 1306 (lúc này Hoàng Hậu 19 tuổi) cho đến nay năm 2006 rồi, Hoàng Hậu có tuổi thọ 719 tuổi . Sau khi rời bỏ Chiêm Thành về Đại Việt, theo sử liệu, Hoàng Hậu có đi tu ở chùa Nộn Sơn huyện Vụ Bản (Hà Nam Ninh ngày nay) (4); bây giờ Hoàng Hậu đang sống nơi khung trời tiên giới đó, nếu có linh thiêng xin nhìn xuống trần gian, đám dân Champa bất hạnh của Hoàng Hậu đã trở thành loài “Dế Mèn” khóc suốt canh thâu.

(4) Những Công Chúa Sứ Giả tập II của Hùynh văn Lang 

Tài liệu Tham Khảo 

1- Đại Việt Sử Ký Tồn Thư, Tập II- Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam
2- Việt Sử Tồn Thư - Phạm văn Sơn
3- Việt Nam Sử Lược - Trần trọng Kim
4- Việt Sử Xứ Đàng Trong – Phan Khoang
5- Những Câu Chuyện Lịch Sử, Tập III - Trần gia Phụng
6- Những Công Chúa Sứ Giả Trung Hoa và Việt Nam, Tập I, II- Huỳnh văn Lang
7- Chế Lan Viên, Thi Sĩ Tiền Chiến, - Hồng Diệp
8- Những Nẻo Đường Bình-Thuận - Mường Giang


Bài 2: 
CÔNG CHÚA HUYỀN TRÂN TRONG HÀNH TRÌNH ĐẠI VIỆT 
Tác giả Song Nhị 

Chiêm quốc hay Chiêm Thành, theo sử liệu, có lãnh thổ từ Quảng Bình vào tới Phan Rang, Ninh Thuận. Năm 875, xuất hiện lần dầu tiên trong biên niên sử Trung Hoa dưới cái tên Chiêm Thành, viết theo tiếng Phạn là Champapura (có nghĩa là “Thành của người Chàm”).  Chiêm quốc đã bị xóa tên trên bản đồ thế giới sau cuộc Nam tiến ồ ạt của lân quốc phía Bắc, kéo dài trong sáu thế kỷ.  Khởi đầu, vào năm 1069 người Việt tràn qua đèo Ngang tiến vào tiếp nhận Quảng Bình do vua Chế Củ dâng để chuộc tội. Chế Củ (Rudra Varman III) bị bắt sau khi vua Lý Thánh Tông tiến quân tiêu hủy hoàn toàn Phật Thệ (Chà Bàn). Đến năm 1306 người Việt tới Huế. Hơn ba trăm năm sau, năm 1697, cuộc Nam tiến đã kéo dài tới Ninh Thuận, Phan Thiết. Cũng kể từ năm đó đất nước Chiêm Thành đã hoàn toàn thuộc về Đại Việt. 

Lịch sử vong quốc của người Chiêm Thành được đánh dấu bằng hành động của vua Chế Củ dâng Đại Việt ba châu Bố Chinh, Địa Lý và Ma Linh để cầu xin hữu nghị. Tiếp đến là một sự kiện trọng đại khác xảy ra dưới thời vua Chiêm khi Chế Mân, vào năm 1306 dâng  Đại Việt hai Châu Ô Lý làm sính lễ để cưới một giai nhân nước Việt, đó là công chúa Huyền Trân. Nàng công chúa yêu kiều ấy là sứ giả trọng yếu, mở đầu thời kỳ bang giao hữu nghị lâu dài nhất giữa hai quốc gia Đại Việt - Chiêm Thành. 
Chế Mân tên chữ Phạn là Sinhavarman, vị vua Chiêm quốc vào đầu thế kỷ thứ mười bốn, đã có vợ là Hoàng Hậu Tapasi, người xứ Lava, trước khi cầu hôn công chúa nước Đại Việt. 
Vào đầu năm 1301, Thượng Hoàng của Đại Việt là Trần Nhân Tôn sau khi đã thoái vị, truyền ngôi cho con là Trần Anh Tôn, nhân dịp có một phái bộ Chiêm thành sang thăm nước Việt để kết tình giao hảo, Thượng Hoàng đã đi theo phái bộ đến thăm Chiêm Quốc. Ở lại chín tháng trong cung điện của vua Chiêm, ngài được Chế Mân trong vọng, kính nể và hậu đãi. Khi cáo biệt ra về, Thượng Hoàng cảm động đã hứa gã công chúa cho Chế Mân. 
Sau đó, Chế Mân cử một phái đoàn gồm một trăm người mang theo vàng bạc, châu báu, hương liệu quý báu, vật lạ sang dâng biểu và xin làm lễ cầu hôn. 
Cuộc hôn nhân không xuôi chèo mát mái vì triều thần Đại Việt kẻ đồng tình, người phản đối. Quan niệm và thành kiến của người Đại Việt thời bấy giờ vẫn coi thường xứ Hời Chiêm Tộc. Trong thởi gian năm năm liền, cả hai triều đình Chiêm Việt liên tiếp phái các sứ giả qua lại ý kiến nhà vua của mỗi nước để thương thuyết về cuộc hôn nhân. Đoàn Nhữ Hài, vị đặc sứ Đại Việt lúc bấy giờ do bất phục vua Chàm, khi yết kiến Chế Mân đã đặt quốc thư trước mặt mà lạy, tỏ ý cho vua Chàm biết là chỉ lạy vua nước Việt chứ không phải lạy vua Chàm. 
Những gì đã có khởi đầu phải có kết thúc. Cuộc hôn nhân mở đầu thời vận huy hoàng của Chế Mân đã báo hiệu một kết cuộc bi thảm của Chiêm Thành hơn ba trăm năm sau đó. 
Tháng sáu năm Bính Ngọ 1306, Chế Mân đem dâng châu Ô và châu Lý làm sính lễ và vua Trần Anh Tôn ban chiếu chỉ quyết định gả em gái là Công Chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Từ đó hai châu Ô-Lý không những mãi mãi thuộc về đất Việt mà còn đi vào tình tự Việt Nam qua ca dao và văn học. 

“Hai châu Ô Lý vuông nghìn dặm 
Một gái Huyền Trân của mấy mươi?” 


Châu Ô và châu Lý là phần đất từ Cửa Việt kéo dài tới quận Hòa Vang thuộc tỉnh Quảng Nam. Theo sử liệu, châu Ô tức là châu Thuận và châu Lý tức là châu Hóa. Châu Thuận thuộc phần đất của tỉnh Quảng Trị kéo dài tới quận Hương Trà thuộc tỉnh Thừa Thiên. Châu Hóa là phần đất thuộc tỉnh Thừa Thiên bao gồm quận Hòa Vang thuộc Quảng Nam. 
Lịch sử Trung Hoa có ghi lại, Tây Thi, gái nước Việt, sắc nước hương trời, chim sa cá lặn, đã được đem dâng vua Phù Sai của nước Ngô để vua nước Việt (bên Tàu) là Câu Tiễn mưu đồ quốc sự. Nhan sắc của Tây Thi đã làm cho triều đại nhà Ngô cáo chung, vong quốc. Sử Đại Việt không nói nhiều đến nhan sắc của Huyền Trân, nhưng sử sách có ghi lại người anh của Huyền Trân là vua Anh Tôn nổi tiếng là đẹp như tiên. Các sứ thần Trung Quốc thời đó cứ muốn được yết kiến để chiêm ngưỡng sắc đẹp thần tiên của vua Anh Tôn. Các nhà viết sử đã góp nhặt các sự kiện mà cho rằng hẳn nhiên Huyền Trân là một công chúa diễm kiều tuyệt mỹ, nhan sắc lẫy lừng, tiếng tăm đồn đại vang dội bốn phương khiến trong dân dã đã ví nàng: 

“Tiếc thay cây quế Châu Thường”... Khiến Chế Mân đã biến cuộc hôn nhân ấy thành quốc sự, đã dày công theo đuổi trong năm năm trời, đã dâng một phần lãnh thổ của Chiêm quốc để cưới bằng được một gái “Tây Thi” Đại Việt. 
Sau hôn lễ, khi về đến Chiêm Thành, nàng công chúa Đại Việt đã được phong làm Hoàng Hậu Paramecvari của Chiêm quốc. 
Phận gái mười hai bến nước mà thuyền tình của Công Chúa Huyền Trân đã cặp bến vinh hoa. Thói thường, các cô dâu khi về nhà chồng dù tâm trạng thế nào đôi mắt cũng rưng rưng nhỏ lệ. Nàng Huyền Trân dù trước mắt là cuộc đăng quang tuyệt đỉnh huy hoàng, nhưng làm sao người công chúa thoát ra khỏi cái tình cảm thường tình; nhớ thương, bịn rịn, lo lắng, bâng khuâng. Do đó người đời đã truyền tụng hai câu ca dao nói lên tâm sự Huyền Trân khi qua đèo Hải Vân: 

“Chiều chiều gió thổi Hải Vân 
Chim kêu ghềnh đá gẫm thân em buồn.” 


Thế là nàng công chúa nhà Trần đã về làm dâu Chiêm quốc, đã trở thành Hoàng Hậu. Thì lúc đó, trong nước Đại Việt, giới văn nhân thi sĩ xầm xì, chế giều. Nhà sử học Ngô Sĩ Liên đã ví cuộc hôn nhân này tương tự như việc nhà Tiền Hán Trung Hoa 33 năm trước Tây lịch đã đem Chiêu Quân cống Hồ Hoàng là vua Hung Nô để mưu cầu hòa bình cho trăm họ. Ông cho rằng vua Anh Tôn vì để giữ lời hứa của Thượng Hoàng mà gả Huyền Trân, chứ cuộc hôn nhân không tương xứng.

Trong dân gian người ta truyền tụng những câu hát ví von để mỉa mai như: 

"Tiếc thây cây quế Châu Thường 
Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo.” 


Hoặc:

“Con vua lấy thằng bán than 
Nó đưa lên ngàn cũng phải đi theo.” 


Nhưng thương thay, cuộc hương lửa vừa nồng thì chỉ một năm sau, vào mùa Hạ, thàng 5 năm 1307 vua Chế Mân băng hà. Huyền Trân giờ là một góa phụ lẻ loi trong cung điện thành Đồ Bàn nhìn về cố quốc mà thấy lẻ sắc sắc không không mầu nhiệm. 
Dư âm của cuộc tình vương giả ấy đã phảng phất đến muôn đời tưởng như là huyền thoại. 
Ngày Chế Mân băng hà, theo tục lệ Chiêm Thành, Hoàng Hậu phải lên giàn hỏa táng để chết theo chồng. Vua Trần Anh Tôn đã cử vị quan Nhập Nội Hành Khiển Thượng Thư Tả Bộc Sạ là Trần Khắc Chung sang Chiêm quốc để điếu tang với mưu sự cứu ông chúa thoát nạn. Các cung nữ của Huyền Trân trong cung điện Đồ Bàn khi thấy Trần Khắc Chung đã hát lên:

“Đàn kêu tích tịch tình tang 
Ai đem công chúa lên thang mà ngồi.” 


Trần Khắc Chung bày kế giải cứu được công chúa khỏi phải lên giàn hỏa táng, đem công chúa về nước bằng đường biển. Cuộc hải hành đó đã kéo dài đến một năm. Trong một năm ấy, Khắc Chung đã tư thông với công chúa. Dư luận trong dân gian xầm xì:

"Tiếc thay hột gạo trắng ngần 
Đã vò nước đục lại vần lửa rơm” 


Cuối cùng Huyền Trân đã được trả về cho nước Việt và hai châu Ô-Lý cũng vĩnh viễn là lãnh thổ Việt Nam. Từ đó lại có hai câu cao dao:

“Của trời, trời lại lấy đi 
Giương hai con mắt làm chi được trời.” 


Đến nay xấp xỉ bảy trăm năm, một trang sử bang giao quốc tế đã mờ dần theo bóng thời gian. Đất nước Chiêm Thành và dân tộc Chàm ngày nay chỉ còn là một số di tích mờ nhạt, mong manh. Những ngọn tháp Chàm rải rác đâu đó từ Quảng Nam vào tới Phan Rang, Phan Thiết, trong nhiều thế kỷ đã là nơi để những lớp thế hệ người Chàm thưa thớt tìm về hội tụ, bái vọng tổ tiên của họ. Nền văn minh cổ kính ấy đã nói lên một trình độ vật chất và tinh thần tiên tiến của một dân tộc mà định mệnh không cho họ được trường tồn. 
Về phía nước Đại Việt, vua Anh Tôn của đời nhà Trần đã bất chấp mọi lời dè bỉu dèm pha trong thiên hạ, dùng người em gái của mình như một mỹ nhân kế vào một nghị trình quốc sự, thu về cho tổ quốc một lãnh thổ trải hàng nghìn dặm, khời đầu bằng sự tự giác, thuận tình của Chế Mân dâng vua Đại Việt hai châu Ô-Lý. 
Có ai biết được tâm sự của người công nữ đài các ấy. Nàng đã ra đi và nàng đã trở về tưởng chừng như trong im lặng, để lại hàng trăm năm sau những tình cảm bịn rịn, tưởng nhớ, biết ơn của hàng bao thế hệ con người Việt Nam.

Ngoài số lượng văn chương bình dân, nhiều văn thân thi sĩ đã chạnh lòng xúc cảm về cuộc tình lâm ly bất hủ ấy để dệt thành những khúc nhạc, bài thơ, để lại với thời gian. 
Cách đây trong ba chục năm có bài “Vịnh Huyền Trân Công Chúa” của thi sĩ Thái Xuyên: 

Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười 
Vốn đà không mất lại thêm lời 
Hai châu Ô Lý vuông nghìn dặm 
Một gái Huyền Trân của mấy mươi? 
Lòng đỏ khen ai lo việc nước 
Môi son phải giống mãi trên đời 
Châu đi rồi lại Châu về đó 
Ngơ ngẩn trông nhau mấy chú Hời


(Trích trong “Đất Việt Trời Nam” của Học giả Thái Văn Kiểm)

Gần đây, thi sĩ Hà Thượng Nhân khi đi qua đèo Ngang đã không khỏi chạnh lòng nhớ người, nhớ nước. Nỗi nhớ ấy da diết vô hạn. Bởi tâm cảm đó, nhà thơ không khác gì Bà Huyện Thanh Quan, một Huyền Trân Công Chúa cũng một lần đi qua đèo Ngang, đi qua một chặng đường lịch sử của dân tộc Việt mà ngó lại lòng mình để thấy một nỗi sầu man mác, đó là nỗi sầu chung của thế sự và nổi niềm riêng của con người. Từ đó tác giả đã viết bài thơ
“Qua Đèo Ngang Nhớ Bà Huyện Thanh Quan” sau đây: 

Qua đỉnh Đèo Ngang chạnh nhớ người 
Cỏ hoa này vẫn cỏ hoa tươi 
Trên trăm năm trước đòi cơn mộng 
Mấy áng thơ xưa mấy trận cười 
Đất nước nếu như thương lấy một 
Tâm tư thôi đã khổ bằng mười 
Tài hoa dù khác, tình không khác 
Tóc bạc soi vào luống hổ ngươi 

Luống hổ ngươi mà luống mỉa mai 
Nghiệp thơ ai chắc cũng như ai 
Biển xanh lớp lớp chim bay mỏi 
Mây bạc giăng giăng gió thở dài 
Bóng xế, đèo cao hồn Thục Đế 
Rừng xa, bãi vắng mộng Thiên Thai 
Người ơi! Tôi nhớ người vô hạn 
Tuy chẳng chung nhau một chữ tài 

Chữ tài đã trót lụy vào thân 
Non nước đã mang mãi nợ nần 
Tiếng cuốc vẫn đau tình cố quận 
Ruột tằm thêm rối nghĩa phù vân 
Bắc Nam dù cách chưa hề lạ 
Kim cổ tuy xa cũng vẫn gần 
Lồng lộng trời cao muôn dấu hỏi 
Hai châu Ô, Lý một Huyền Trân 

Một gái Huyền Trân đổi mấy châu 
Người xưa cảnh cũ biết tìm đâu 
Ngôi vàng chỉ cốt ngôi vua vững 
Phận bạc ai lo mảnh má đào 
Son phấn thương nhau càng khắc khoải 
Núi sông nghoảnh lại hẳn bền lâu 
Giờ đây qua đỉnh đèo Ngang ấy 
Bỗng nhớ người xưa bát ngát sầu 


(Trích Tuyển Tập “Gửi Người Dưới Trăng”, Cội Nguồn xuất bản tháng 12.1995) 

Người viết trong khi đọc tài liệu và biên soạn bài khảo luận “bỏ túi” này, cả một quá khứ xa xăm hiện về, tâm hồn như chìm vào dĩ vãng xôn xao của tổ tiên thời kỳ dựng nước. Nghĩ về non nước Chiêm Thành, nghĩ về cuộc tình vương giả ấy, lòng không khỏi trắc ẩn, ngậm ngùi mà xuất ý viết bài thơ sau đây. Xin được mượn bài thơ để kết thúc trang biên khảo. 

LỜI CẦU HÔN CỦA CHẾ 

Nàng hỡi Huyền Trân Đại Việt ơi 
Nước non Chiêm quốc đợi mong người 
Mỹ nhân dẫu phải là khuynh quốc 
Trẫm của Chiêm và trẫm của ngươi 

Chiêm Việt đôi bờ nghìn dặm ấy 
Tiền duyên hò hẹn mấy nghìn sau 
Đồ Bàn cung điện ngôi Vương Hậu 
Để có khanh và để có nhau 

Ô Lý hai châu về xứ ngoại 
Bao đời xử sở một quân vương 
Là đây tình sử trong thiên hạ 
Rồi có nghìn sau hậu thế lường 

Rồi có nghìn sau đời kể lại 
Cơ đồ Chiêm Quốc một Công Nương 
Một trang sử viết thời Chiêm Việt 
Một cõi sơn hà cũng khói sương 

Tiếng trống Đồ Bàn khai yến tiệc 
Cung nghinh gái Việt mở Hoàng thành 
Xin mời Công Chúa về cung điện 
Chế của Chiêm và Chế của khanh... 



Tác giả: Song Nhị 

 

Bài 3:
Nhìn lại phong trào BAJARAKA
Tác giả Nguyễn văn Huy

Nhằm bổ sung thêm thông tin lịch sử cho tiêu đề đang gây chú ý trên trang Diễn đàn của Ban Việt Ngữ đài BBC, chuyên gia dân tộc học Nguyễn Văn Huy từ Paris đã gửi bài ghi lại các nghiên cứu của bản thân quanh vấn đề này, bắt đầu từ giai đoạn mâu thuẫn sắc tộc giữa người Thượng và người Kinh sau trận Điện Biên Phủ:

Hiệp định Genève 1954 mở đầu một giai đoạn hợp tác mới giữa người Thượng và người Kinh trên cao nguyên, nhưng sự hợp tác này đã diễn ra không tốt đẹp như mong muốn, người Kinh chưa quen sinh hoạt bình đẳng với người Thượng và ngược lại.
Bất hạnh lớn của người Thượng trong giai đoạn 1954-1975 là nơi sinh trú của họ có một tầm quan trọng chiến lược trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai, bất cứ phe tranh chấp nào cũng đều muốn làm chủ địa bàn chiến lược này và lôi kéo cộng đồng người Thượng theo họ chống lại phe kia.
Tùy theo những lượng định thời cuộc khác nhau, cộng đồng người Thượng đã có những phản ứng khác nhau để rồi dẫn đến cùng một hậu quả: người Thượng không có tiếng nói trên chính quê hương của họ.

Tây Nguyên những ngày đầu dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa

Cuối tháng 7-1954, thủ tướng Ngô Đình Diệm đề nghị quốc trưởng Bảo Đại hủy bỏ qui chế Hoàng Triều Cương Thổ và được chấp thuận ngày 10-8-1954.
Năm sau, ngày 11-3-1955, Bảo Đại phê chuẩn Dụ số 21 sát nhập Hoàng Triều Cương Thổ vào lãnh thổ Việt Nam và đặt khu vực này dưới quyền quản trị của Việt Nam Cộng Hòa (trong thực tế chỉ Xứ Thượng miền Nam mà thôi, Xứ Thượng miền Bắc thuộc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa).
Cùng ngày, Ngô Đình Diệm ban hành Sắc Lệnh số 61 thành lập Tòa Đại Biểu Chính Phủ thay thế Tòa Khâm Sứ, bổ nhiệm ông Vĩnh Dự làm đại biểu chính phủ (tỉnh trưởng) tại Buôn Ma Thuột và ông Tôn Thất Hối làm đại biểu tại Đà Lạt.
Trong cùng thời gian, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu Pháp giao lại những cơ sở hành chánh và quân sự do họ nắm giữ, đồng thời chuẩn bị kế hoạch đưa những người di cư từ miền Bắc lên cao nguyên lập nghiệp.
Ngày 10-8-1955 Pháp rút quân khỏi cao nguyên, chấm dứt chính thức chế độ Hoàng Triều Cương Thổ.
Thành phần trí thức và sĩ quan Thượng tin rằng sau khi tiếp thu cao nguyên họ sẽ được chính phủ Ngô Đình Diệm trọng dụng.
Nhưng thực tế đã không xảy ra như vậy, tất cả những chức vụ chỉ huy đều do những viên chức gốc Kinh từ đồng bằng lên nắm giữ.
Những đơn vị quân đội Thượng (Sư đoàn 4 bộ binh, 7 tiểu đoàn cơ động cùng những đơn vị tác chiến khác, khoảng 10.000 người) đặt dưới quyền chỉ huy của các sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa.
Những cơ quan hành chánh, giáo dục và y tế đặt dưới quyền quản trị của Tòa Đại Biểu Chính Phủ.

Người Thượng chưa được chuẩn bị để sống chung với người Kinh.

Cao nguyên miền Nam vào năm 1955 có khoảng 700.000 dân Thượng, đông hơn dân số Kinh vào thời điểm đó nhưng người Thượng chỉ đảm nhiệm những vai trò thứ yếu hay không có vai trò nào cả.

Tại Darlac và Pleiku, các tỉnh trưởng còn buộc người Thượng phải ăn mặc chỉnh tề (đa số dân Thượng trong giai đoạn này vẫn còn đóng khố) khi vào những cơ quan công quyền trong thành phố.
Thêm vào đó, thành phần di cư người Kinh tỏ ra khinh miệt người Thượng tại những vùng cộng cư.
Giọt nước đã làm tràn ly là chính sách đồng hóa (diễn văn ngày 12-6-1955) và cải cách điền địa (Dụ số 57 ngày 22-10-1956) của thủ tướng Ngô Đình Diệm : phân biệt đối xử, bãi bỏ các tòa án phong tục, cấm dạy tiếng thổ ngữ và phủ nhận quyền sở hữu đất đai (polan) của người Thượng.
Một phong trào chống đối ngấm ngầm hình thành, một số trí thức, cán bộ và binh sĩ Thượng bất mãn bỏ về làng, một số khác vẫn ở lại cơ quan nhưng không làm việc.
Cán bộ cộng sản nhân cơ hội trà trộn vào một số buôn làng tuyên truyền và kích động dân Thượng chống lại chính quyền miền Nam.
Tây Nguyên có tầm quan trọng đặc biệt đối với các chiến lược gia Hoa Kỳ, đó là cửa khẩu ngăn chặn sự xâm nhập của quân đội cộng sản miền Bắc vào miền Nam.
Sự hiện diện của du kích quân cộng sản do đó gây nhiều lo âu cho các cố vấn Mỹ lúc đó đang huấn luyện quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Năm 1956, nhiều phái đoàn MAAG (The US Military Assistance Advisory Group) được gởi lên cao nguyên quan sát tình hình và xây dựng cơ sở huấn luyện binh lính Thượng chống du kích.
Tổng thống Ngô Đình Diệm (đắc cử ngày 24-10-1956) cũng cho thành lập Văn Phòng Cố Vấn Thượng Vụ để góp ý về những vấn đề liên quan đến cao nguyên miền Thượng.

Phong trào BAJARAKA

Năm 1957 một số trí thức Thượng kết hợp lại thành một nhóm phản đối chính sách phân biệt đối xử người Thượng trên cao nguyên với các chính quyền địa phương.
Không được trả lời thỏa đáng, năm 1958 họ thành lập tổ chức BAJARAKA (chữ viết tắt tên bốn sắc tộc lớn trên Tây Nguyên : BAhnar, dJArai, RhAdé và KAho) và vận động dân chúng Thượng chống lại chính quyền miền Nam.
Những người lãnh đạo phong trào gồm có các ông Y Bham Ênuôl (người Rhadé, sáng lập viên), Siu Síp (nhân sĩ Djarai), Y Dhơn Adrong (hiệu trưởng trường tiểu học Lạc Thiện), Y Nuin Hmok (giáo viên trung học buôn Kram kiêm chính trị viên), Y Nam Êban (sĩ quan), Y Bhan Kpor, Y Chôn Mlô Duôn Du, Nay Luett, Paul Nưr (trí thức Bahnar) và nhiều nhân sĩ gốc Chăm, Mạ, Stiêng, Kor...
Cuộc chống đối đầu tiên xảy ra vào giữa tháng 9-1957, trong một buổi học chữ Việt dành cho người Thượng : ông Y Bham Ênuôl công khai nói lên những bất đồng của người Thượng và đòi quyền "biệt lập" về hành chánh và chính trị.
Trước sự chống đối này, Văn Phòng Cố Vấn Thượng Vụ được nâng lên thành Nha Công Tác Xã Hội Miền Thượng (nghị định số 302/NV ngày 3-7-1957) trực thuộc Phủ Tổng Thống, trụ sở đặt tại Huế, nhằm kêu gọi người Thượng hợp tác với chính phủ xây dựng đất nước và chống cộng trong tinh thần Kinh Thượng bình đẳng và đoàn kết.
Trong thực tế văn phòng này đã không đưa ra một chính sách nào cụ thể.
Tháng 5-1958, phong trào gởi hai kháng thư, do ông Y Bham Ênuôl cùng 16 đại diện sắc tộc khác ký tên, tố cáo những hành vi phân biệt đối xử của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với các sắc tộc thiểu số; kể lại những đóng góp của các dân tộc miền núi trong việc chống lại quân phiệt Nhật, Việt Minh và Việt Cộng; yêu cầu các cường quốc can thiệp để người Thượng có một "lãnh thổ biệt lập" ("un territoire à part", nguyên văn).
Thư viết bằng tiếng Pháp được gởi đến tòa Đại Sứ Pháp và Liên Hiệp Quốc, và thư viết bằng tiếng Anh gởi đến tòa đại sứ Hoa Kỳ và các tòa đại sứ khác tại Sài Gòn.
Kháng thư viết bằng tiếng Anh, do giáo sư David Nuttle (người Mỹ) chuyển tới tòa đại sứ Hoa Kỳ, tỏ ý không muốn đặt Tây Nguyên trực thuộc vào chính quyền Việt Nam Cộng Hòa mà muốn được độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp hoặc dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Hoa Kỳ.
Trong kháng thư gởi Liên Hiệp Quốc, phong trào xin được sát nhập vào vương quốc Lào như người Pháp đã làm năm 1893.
Ngày 30-7-1958, phong trào gởi một phái đoàn gồm bốn người về Sài Gòn gặp đại sứ Hoa Kỳ qua trung gian David Nuttle. Cùng thời gian, Y Bham Ênuôl thành lập Ủy Ban Tự Trị Trung Ương, trụ sở đặt tại Pleiku, chỉ huy tất cả các cơ quan tỉnh lỵ, quận huyện trên Tây Nguyên.

Ủy ban tự trị đặt trụ sở ở Pleiku

Nhiều ủy ban địa phương được thành lập tại Buôn Ma Thuột, Kontum và Di Linh. Ủy Ban tuyển mộ sĩ quan và binh lính Thượng đang phục vụ trong chính quyền miền Nam, chọn một lá cờ tượng trưng cho sự "biệt lập" (xanh dương, trắng và đỏ như cờ Pháp nhưng phía trên góc trái có 4 ngôi sao màu vàng tượng trưng cho bốn sắc tộc chính) và phổ biến một thư ngỏ mang tên "Nguyện vọng đấu tranh của đồng bào Thượng".
Thư ngỏ này thực ra là một cáo trạng đối với chính quyền Ngô Đình Diệm, liệt kê những hành vi phân biệt đối xử của người Kinh đối với người Thượng trong mọi lãnh vực, từ chính trị, hành chánh, an ninh quân sự, tư pháp, kinh tế đến văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội.
Trong hai tháng 8 và 9-1958, phong trào Bajaraka tổ chức nhiều cuộc xuống đường tại Kontum, Pleiku, Buôn Ma Thuột nhưng đều bị trấn áp, tất cả những lãnh tụ của phong trào đều bị bắt (Y Bham Ênuôl, Y Dhơn Adrong, Y Dhê Adrong, Y Nuin Hmok, Y Wick Buôn Ya, Y Het Kpor, Y Tluốp Kpor, Y Sênh Niê, Y Bun Sor, Y Yu Êban, Y Thih Êban, Touneh Yoh, Siu Sip, Paul Nưr, Nay Luett...), những thành phần có uy tín như sĩ quan và công chức Thượng đang công tác trên cao nguyên đều bị thuyên chuyển về đồng bằng.
Cộng đồng người Thượng như rắn mất đầu đã bị cán bộ cộng sản nằm vùng tuyên truyền và lôi kéo theo họ chống lại chính quyền miền Nam; không những thế, một số thanh niên Thượng ưu tú còn được tuyển mộ ra Bắc học tập rồi đưa vào Nam hoạt động cho phe cộng sản.

Biến chuyển

Trước đe dọa mới này, tháng 10-1958, chính quyền Ngô Đình Diệm kêu gọi Kinh Thượng hợp tác chống cộng và hứa sẽ cải tổ sâu rộng hơn về kinh tế, xã hội miền Thượng.
Văn Phòng Xã Hội được thành lập tại Tây Nguyên, nhiều học sinh Thượng được đưa về Huế và các thành phố Qui Nhơn, Nha Trang, Đà Lạt học trong những trường trung học kỹ thuật.
Một số cán bộ Thượng được đưa về Sài Gòn tu nghiệp tại Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.
Nhưng kết quả đã không như mong muốn, Văn Phòng Xã Hội không hoạt động gì cả, các học sinh Thượng ra trường (khoảng 150 người mỗi năm) không tìm được việc làm vì thiếu trình độ (bằng cấp của học sinh Thượng thường do nâng đỡ).
Đời sống của người Thượng không sáng sủa gì hơn.
Những lãnh tụ Thượng còn lại đều tỏ ra bất mãn nhưng bất lực.
Trong các cuộc bầu cử Quốc Hội pháp nhiệm I (1956), ứng cử viên Touprong Hrou đơn vị Tuyên Đức-Lâm Đồng bị bỏ tù vì những tội vu vơ, pháp nhiệm II (1958) ông Y Prong Kbor đơn vị Đắc Lắc bị xóa tên, pháp nhiệm III (1960) ông Y Klong đơn vị Đắc Lắc bị buộc phải rút tên.

Bàn tay của CIA

Trong thời gian từ 1956 đến 1962, chuyên viên và cố vấn Hoa Kỳ đã có mặt khắp Tây Nguyên.
Việc tranh thủ người Thượng gây nhiều tranh chấp giữa cơ quan CIA và Tòa Đại Sứ Mỹ trong chiến lược chống cộng của Hoa Kỳ :
- Cơ quan CIA chủ trương võ trang trực tiếp người Thượng vì họ rất thiện chiến trong các rừng rậm.
Cố vấn quân sự Mỹ vào khắp buôn làng, tổ chức phòng thủ, trang bị súng cá nhân, thành lập các đội Dân Sự Chiến Đấu Thượng (CIDG-Civilian Indigenous Defense Group) và Lực Lượng Đặc Biệt (Special Force) gồm 18.000 người (1967) thuộc đủ mọi sắc tộc Thượng (Rhadé, Bahnar, Sédang, Kaho, Bru...).
- Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ chủ trương kêu gọi sự hợp tác về lâu về dài của người Thượng, đặc biệt là phát triển văn hóa, xã hội, y tế và tín ngưỡng nhằm nâng cao mức sống.
Các mục sư tin lành được nhìn như sự tiếp nối của các giáo sĩ công giáo Pháp thời trước nên rất được mến mộ.
Nhiều phái đoàn đặc vụ dân sự USOM, USAID, các tổ chức thiện nguyện đến chữa bệnh, hướng dẫn cách thức canh tác nông nghiệp, xây cất nhà cửa, giúp đỡ vật chất và sáng tạo chữ viết la tinh hóa của từng thổ ngữ để giảng dạy.
Nhiều trường phổ thông vừa dạy tiếng địa phương, vừa dạy tiếng Việt và tiếng Mỹ được thành lập tại Buôn Ma Thuột, Pleiku, Kontum, Đà Lạt.
Nhiều sinh viên Chăm và Thượng được ghi danh vào Viện Đại Học Đà Lạt.

Mặt Trận Giải Phóng Cao Nguyên (FLHP)

Năm 1963, người Mỹ quyết định can thiệp mạnh tại Việt Nam.
Chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ tháng 11-1963, tất cả các biện pháp ban hành dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa đều bị hủy bỏ.
Nhờ sự can thiệp của Mỹ, tất cả những lãnh tụ phong trào Barajaka đều được phóng thích.
Tin tưởng được Mỹ ủng hộ, tháng 3-1964 những người lãnh đạo phong trào Bajaraka thành lập Mặt Trận Giải Phóng Cao Nguyên hay Front de Libération des Hauts Plateaux, gọi tắt là FLHP (tên chính thức được mặt trận sử dụng) hay Mặt Trận Cao Nguyên.
Lần này mặt trận có sự tham gia của nhiều sắc tộc Thượng khác và người Chăm tại miền Trung.
Mặt trận cho phổ biến một bản hiệu triệu bằng ba thứ tiếng (Pháp, Chăm và Rhadé) đòi quyền tự trị và chủ trương tranh đấu vừa ôn hòa vừa bạo động.
Phe chủ trương ôn hòa, do Y Bham Ênuôl đại diện, tham gia mọi sinh hoạt chính trị trên khắp cao nguyên để giúp chính quyền miền Nam xây dựng một chính sách Thượng vụ thích hợp.
Phe chủ trương bạo động, do Y Dhơn Adrong cầm đầu, kêu gọi cán bộ dân vệ và biệt kích Thượng gia nhập FLHP chống lại chính quyền.

Đối phó

Sự kiện này làm giới chỉ huy quân sự miền Nam lo ngại, những cuộc hành quân trên Tây Nguyên từ tháng 3 đến tháng 5-1964, do tướng Vĩnh Lộc chỉ huy, phần lớn để phá vỡ những căn cứ của quân Thượng hơn là các mật khu cộng sản.
Phe bạo động bị lùng quét gắt gao phải chạy qua Kampuchea lánh nạn.
Tại đây họ lập căn cứ quanh đồn Bốt Chá (Camp Le Rolland cũ), tỉnh Mondolkiri phía đông bắc Kampuchea cách biên giới Việt Nam 15 cây số, rồi cử người xâm nhập vào các buôn làng ven biên giới kêu gọi thanh niên Thượng gia nhập FLHP.
Hoa Kỳ khuyến cáo Việt Nam Cộng Hòa thương thuyết với người Thượng để tìm một giải pháp sống chung.
Ngày 5-5-1964, chính phủ miền Nam mời 64 nhân sĩ Thượng ôn hòa, đại diện các sắc tộc, về Sài Gòn họp để tổ chức một đại hội gồm 55 đại diện sắc tộc tại Pleiku ngày 26-8-1964 do Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II chủ trì.
Lo sợ bị loại khỏi các cuộc thương thuyết, phe bạo động chuẩn bị một cuộc nổi dậy võ trang do đại úy Y Nam Êban chỉ huy.

Nổi loạn

Đêm 19-9-1964, các toán biệt kích thuộc Lực Lượng Đặc Biệt và các đội Dân Sự Chiến Đấu Thượng đánh chiếm một số đồn bót lớn quanh Quảng Đức và Đắc Lắc: trung sĩ Klé chiếm thị trấn Bù Đăng, thiếu úy Y Bách Êban tấn công đồn Sarpa, Y Djao Niê tiến vào buôn Miga (Đức Lập), Y Bhan Kpor vây đồn Bù Đốp và Bu Briêng. Quân phiến loạn làm chủ quốc lộ 14, đánh đồn Srépok rồi tiến vào Buôn Ma Thuột chiếm đài phát thanh kêu gọi dân Thượng nổi lên chống lại người Kinh để xây dựng một quốc gia độc lập.
Trong cuộc nổi dậy này, 35 sĩ quan và binh sĩ Kinh bị thiệt mạng, quận trưởng quận Đức Lập (Quảng Đức) bị bắt sống.
Kinh ngạc và giận dữ, chuẩn tướng Vĩnh Lộc, chỉ huy trưởng Vùng II Chiến Thuật, đã phản ứng dữ dội.
Lệnh thiết quân luật được ban hành ngay sáng 20-9-1964, mọi ngả ra vào Buôn Ma Thuột đều bị chận xét gắt gao, Sư Đoàn 23 cùng một số tiểu đoàn biệt động quân và thiết giáp được huy động đến vây quanh đài phát thanh, một số tiến về những những đồn bị chiếm đóng.
Phiến quân Thượng chống trả dữ dội. Các đồn Bù Đăng, Miga, Bu Briêng, Srépok và nhiều cầu trên quốc lộ 14 đều bị chiếm lại, trừ đồn Sarpa vẫn còn nằm trong tay phiến quân.
Trước biến cố này, đệ tam tham vụ Tòa Đại Sứ Mỹ trên cao nguyên, Beachner, khuyên Vĩnh Lộc nên thương thuyết.
Ông Y Bham Ênuôl, đại diện phe ôn hòa, phó tỉnh trưởng Buôn Ma Thuột, được mời đến Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 23 tham khảo ý kiến rồi được cử vào đài phát thanh thương thuyết với phiến quân.
Sau khi dàn xếp xong với phe nổi loạn im tiếng súng, Y Bham được Beachner đưa về nhà riêng thảo luận.
Buổi chiều cùng ngày, đại úy Darnell đích thân đưa những lãnh tụ Thượng khác (Y Bhim, Y Dhou) vào nhà Beachner họp.
Cuộc thương lượng với đại diện Tòa Đại Sứ Mỹ và chỉ huy trưởng Vùng II Chiến Thuật đi đến những thỏa thuận sau: Y Bham Ênuôl được cử làm chủ tịch chính thức phong trào FLHP, những chỉ huy phiến quân (Y Dhơn Adrong, Y Sênh Niê, Y Nuin Hmok, Y Nam Êban) không bị truy tố và không bị truy đuổi khi rút quân qua Kampuchea.

Tạm ngưng

Thỏa thuận xong, ngay chiều 20-9, Y Bham Ênuôl trốn sang Kampuchea, sau khi để lại một kháng thư gởi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đòi quyền tự trị trên cao nguyên.
Tại biên giới, Y Bham Ênuôl được tướng nhảy dù Les Kosem (một người Khmer gốc Chăm) cùng Y Bun Sor ra đón và đưa về Camp le Rolland nghỉ ngơi rồi tức tốc được chở về Phnom Penh họp.
Ngày 23-9-1964, ông Beachner và tướng Vĩnh Lộc cùng một số nhân sĩ Thượng thành lập Ban Đại Diện Lâm Thời Người Thượng tại Buôn Ma Thuột do ông Y Char Hdok (hiệu trưởng trường Nguyễn Du) làm chủ tịch, ông Y Chôn Mlô Duôn Du (nhân viên Nha Đặc Trách Thượng Vụ) làm cố vấn.
Beachner cử Y Chôn Mlô Duôn Du làm trung gian thương nghị giữa Việt Nam Cộng Hòa và FLHP. Sau bốn ngày thương nghị, Y Chôn Mlô Duôn Du loan báo phe FLHP chấp nhận buông súng và thương nghị.
Ngày 28-9-1964, tướng Nguyễn Khánh cùng tướng Vĩnh Lộc đến đồn Sarpa nhận sự đầu hàng của 233 binh sĩ FLHP.
Lễ gắn huy chương cho những người Thượng có công hòa giải được diễn ra tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh (Buôn Ma Thuột).
Lợi dụng sự khoan hồng, một số phiến quân FLHP và các đội Dân Sự Chiến Đấu Thượng còn kẹt lại chạy sang Kampuchea gia nhập vào lực lượng của ông Y Bham Ênuôl đồn trú tại Camp Le Rolland.

Mặt Trận Thống Nhất Đấu Tranh Của Các Sắc Tộc Bị Áp Bức (FULRO)

Tại Kampuchea, những lãnh tụ FLHP họp ngày đêm chuẩn bị thành lập một phong trào đấu tranh mới. Chính quyền Kampuchea, qua trung gian Les Kossem, cật lực giúp đỡ sự ra đời một tổ chức mới qui mô hơn gồm đủ mọi sắc tộc. Lãnh tụ các nhóm Khmer Krom, Chăm và Thượng FLHP được quân đội hoàng gia Kampuchea đưa về Phnom Penh họp.
Tối ngày 20-9-1964, dưới sự chủ tọa của Sihanouk, Les Kosem cho ra đời một tổ chức mang tên Mặt Trận Thống Nhất Các Sắc Tộc Thiểu Số (Front Uni des Races Minoritaires-FURM) gồm ba mặt trận : Mặt Trận Giải Phóng Champa (Front de Libération du Champa-FLC) do Les Kosem lãnh đạo (bí danh Po Nagar), Mặt Trận Giải Phóng xứ Kampuchea Krom miền Tây Nam Việt Nam (Front de Libération du Kampuchea Krom-FLKK) do Chau Dera làm đại diện và Mặt Trận Giải Phóng Cao Nguyên (Front de Libération des Hauts Plateaux-FLHP) do Y Bham Ênuôl cầm đầu.
Nhưng danh xưng FURM không được Y Bham chấp thuận và sau nhiều bàn cãi sôi nổi các phe chọn một tên chung là Mặt Trận Thống Nhất Đấu Tranh Của Các Sắc Tộc Bị Áp Bức, tiếng Pháp là Front Uni de Lutte des Races Opprimées (Lutte chứ không phải Libération như nhiều người thường lầm tưởng), gọi tắt là FULRO để xưng danh trong các hoạt động tại Việt Nam và trên chính trường quốc tế.
FULRO chọn cờ hiệu hình chữ nhật, ba màu : bên phải màu xanh lục có ngôi sao trắng nằm trong hình lưỡi liềm, ở giữa có 3 sọc trắng xen kẻ với 4 sọc xanh dương, bên trái là màu đỏ.
Ngôi sao trắng trong lưỡi liềm trắng tượng trưng cho người Chăm theo đạo Hồi tại Kampuchea và Việt Nam.
Bảy sọc trắng xanh dương tượng trưng cho bảy sắc tộc lớn người Thượng : Bahnar, Djarai, Radhé, Kaho, Sedang, Mnông, Mạ. Màu đỏ tượng trưng cho tinh thần đấu tranh.
FULRO có ba cơ quan lãnh đạo : Hội Đồng Tối Cao do Chau Dera làm chủ tịch, Hội Đồng Bảo Trợ do Po Nagar (Les Kossem) làm chủ tịch và Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương do Y Bham làm chủ tịch.
Trong thực tế, Y Bham sống nhờ vào Les Kosem nên không có thực quyền cụ thể nào ngoài uy tín cá nhân. Les Kosem có phương tiện nên nắm hết mọi quyền hành.
Les Kosem còn kéo theo một số người Thượng và người Chăm vào FLC để gây thêm vây cánh và cho người về Việt Nam lôi kéo một số thanh niên Chăm qua ngõ Châu Đốc vào Kampuchia.
Mặc dù trên danh nghĩa là một tổ chức thống nhất nhưng FULRO có ba lực lượng khác nhau:

FULRO Khmer

1. FULRO Khmer do Chau Dera làm chủ tịch, nhưng vì bận tổ chức đội phòng vệ cho Sihanouk tại Phnom Penh nên không thể sinh hoạt, mọi quyền hành đều nằm trong tay Les Kossem.
Hội Đồng Tối Cao của Chau Dera đổi thành Ủy Ban Chấp Hành Tối Cao do Les Kosem lãnh đạo.

FULRO Chăm

2. FULRO Chăm, do Les Kosem chỉ huy, là tổ chức có tầm vóc nhất. (Kampuchea có 250.000 người Khmer gốc Chăm, đa số sinh sống tại Kompong Cham).
Về đối nội, FULRO Chăm có ba ban.
Ban tình báo chuyên thu thập tin tức, tung người về Việt Nam móc nối cơ sở, phá hoại do Huỳnh Ngọc Sắng, một người Chăm sinh sống tại Bình Thuận, làm đại diện.
Ban kinh tài thu thập tiền đóng góp của dân chúng, tiếp tế cho hậu cứ của Y Bham Ênuôl tại Camp Le Rolland, do Tôn Ái Liên, một người Chăm tại Châu Đốc, làm trưởng ban và vợ Les Kossem, người nhận thầu cung cấp lương thực cho các căn cứ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam để kiếm thêm tiền, làm phó.
Ban phát triển giáo dục cử người đi du học ngoại quốc nghiên cứu về dân tộc Chăm.
Về đối ngoại, Les Kosem vận động các quốc gia ngoại quốc và thành lập nhiều tổ chức Chăm tại hải ngoại ủng hộ nhóm FULRO Chăm.
Năm 1970, Les Kosem sang Bangkok gặp hai vị tướng lục quân và không quân Thái gốc Chăm trong quân đội hoàng gia và những lãnh tụ Thái gốc Chăm thành lập Tổ Chức Người Chăm Chính Thống Tiến Bộ ủng hộ FULRO Chăm (Thái Lan có 400.000 người Thái gốc Chăm đến lập nghiệp từ thế kỷ 15).
Sau đó Les Kosem đến Djakarta gặp tổng thống Sukarno và được hứa sẽ có 8.000 binh sĩ trong hai lữ đoàn nhảy dù (paracommando) Nam Dương sang yểm trợ FULRO Chăm phục hồi vương quốc Champa khi hữu sự.
Les Kosem nhận viện trợ của Indonesia thông qua Suseno, tùy viên quân sự tòa đại sứ Indonesia tại Phnom Penh (Indonesia có khoảng hai triệu người Indonesia gốc Chăm, tổ tiên những người này đã sang Indonesia và Mã Lai lập nghiệp từ thế kỷ 14 đến 16).
Quốc gia kế tiếp là Mã Lai và các nước Ả Rập (Algérie), Nhật Bản nhận giúp FULRO Chăm tu sửa lại các đền đài (Mã Lai có 200.000 người Mã Lai gốc Chăm lập nghiệp từ thế kỷ 14).
Sau cùng Les Kosem sang Pháp và Châu Âu vận động nhân sĩ chính trị và tôn giáo Pháp tổ chức những cuộc hội thảo về văn minh Champa và cấp học bổng cho một số sinh viên Chăm vào học những trường đại học lớn tại Paris (Sorbonne), Aix en Provence...
Trong các buổi hội thảo này, những trí thức Chăm và Pháp cho in những tài liệu nhắc nhở sự kiện Champa bị Việt Nam xâm thực và mong muốn được các chính quyền phương Tây giúp phục hồi hay nhìn nhận vương quốc cũ.

FULRO Thượng

3. FULRO Thượng do Y Bham Ênuôl làm chủ tịch, tiếp tục bị phân hóa.
Nhóm Dân Sự ôn hòa do Y Bham Ênuôl lãnh đạo, gồm các ông Y Dhê Adrong, Y Prêh, Y Bling, Y Thih Êban, Y Ngo Buôn Ya, Y Sênh Niê, Y Nhiam Niê..., chủ trương vận động Hoa Kỳ làm áp lực với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa để FULRO Thượng được về Việt Nam hoạt động một cách chính thức.
Nhóm Quân Sự quá khích do Y Dhơn Adrong lãnh đạo, gồm các ông Y Bhan Kpor, Y Nam Êban, Y Nuin Hmok..., chủ trương sử dụng bạo lực để thành lập quốc gia độc lập bằng cách uy hiếp những đồn bót quân sự, tấn công các chuyến xe đò dân sự trên các quốc lộ 14 và 22 cùng những liên tỉnh lộ khác của Việt Nam Cộng Hòa dọc vùng Tam Biên.
Để gây thanh thế, từ 29-7 đến 2-8-1965, nhóm Quân Sự cử 200 FULRO Thượng vượt biên giới tấn công và chiếm giữ đồn Buôn Briêng và khi rút lui còn dẫn theo 181 Dân Sự Chiến Đấu Thượng (dân vệ).
Sau đó trung tá Y Djao Niê dẫn một trung đoàn FULRO Thượng về đóng tại Buôn Buor (Đắc Lắc), gần một cây cầu trên quốc lộ 14, kềm chế nhóm Dân Sự của Y Bham Ênuôl do Y Dhê Adrong làm đại diện tại Buôn Ma Thuột, lúc đó đang kêu gọi binh sĩ FULRO Thượng mang vũ khí về nộp chính quyền miền Nam.
Trong thời gian này phe cộng sản gia tăng áp lực tại miền Nam Việt Nam, Mặt Trận Tây Nguyên Tự Trị, do Y Bih Aleo lãnh đạo, cùng với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tổ chức nhiều cuộc đánh phá khắp Tây Nguyên.

Thương thuyết

Hoa Kỳ muốn được rảnh tay trong nổ lực tiến công tiêu diệt các mật khu cộng sản trên Tây Nguyên yêu cầu chính quyền Sài Gòn thương thuyết với FULRO Thượng tìm một phương thức sống chung và hợp tác chống sự xâm nhập của quân cộng sản.
Một đại hội các sắc tộc Thượng được triệu tập tại Pleiku từ ngày 15 đến 17-10-1964, gồm 73 thân hào nhân sĩ Thượng và đại diện chính quyền Sài Gòn để hình thành một chính sách Thượng vụ hợp tình hợp lý: tái lập quyền sở hữu đất đai và các tòa án phong tục, dạy tiếng Thượng ở cấp tiểu học, chấp nhận sự tham chính của người Thượng, giúp đỡ thiết thực hơn người Thượng và nâng Nha Đặc Trách Thượng Vụ thành Phủ Đặc Ủy Thượng Vụ (trước đó, ngày 5-5-1964 Nha Công Tác Xã Hội miền Thượng đổi thành Nha Đặc Trách Thượng Vụ trực thuộc Bộ Quốc Phòng, ngày 7-10-1964 trực thuộc Phủ Thủ Tướng).
Nhóm Dân Sự ôn hòa, do ông Y Nhiam và bà Hzáp (vợ Y Dhê Adrong) đại diện, được phó đại sứ Hoa Kỳ Alexis Johnson và đại tướng Morton bảo trợ từ Kampuchea về Buôn Ma Thuột thành lập Ban Đại Diện Chính Phủ Lâm Thời Cao Nguyên.
Ngày 2-8-1965, Y Dhê Adrong cầm đầu một phái đoàn từ biên giới Kampuchea về Sài Gòn thương thuyết.
Một tuyên cáo chung kêu gọi FULRO Thượng hợp tác trong nổ lực tìm kiếm một giải pháp sống chung và chống cộng được ký kết.
Vài hôm sau, ngày 16-8-1965, từ Camp Le Rolland Y Bham Ênuôl gởi đến chính phủ Việt Nam Cộng Hòa một văn thư đòi : xác nhận lãnh thổ Thượng từ vĩ tuyến 17 đến Đồng Xoài gồm cao nguyên Kontum, Pleiku, Đắc Lắc, Phú Bổn, Đồng Nai thượng, Quảng Đức, Lâm Đồng, Tuyên Đức và một phần các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận, gọi chung là Liên Bang Cao Nguyên trong Cộng Hòa Liên Bang Việt Nam; có quốc kỳ riêng; có quân đội riêng, giảm số người Việt Nam di cư lên cao nguyên bằng con số trước năm 1954.
Y Bham đề nghị tổ chức các cuộc thương thuyết tại Buôn Ma Thuột hoặc tại Manille (Philippines) nhưng yêu sách này không được Sài Gòn chấp thuận.
Ba tuần sau, ngày 23-8-1965, Y Dhê Adrong dẫn một phái đoàn khác từ Camp Le Rolland đến Buôn Ma Thuột họp.
Phái đoàn Việt Nam, do hai tướng Nguyễn Hữu Có và Vĩnh Lộc đại dện, yêu cầu quân FULRO phải buông súng xuống mới chịu thảo luận.
Buổi lễ nạp vũ khí của 500 FULRO Thượng tại Buôn Buor được cử hành ngày 15-9-1965, tướng Vĩnh Lộc đưa phái đoàn Y Dhê Adrong, Y Ngo Buôn Ya, Y Bun Sor, Y Nhiam Niê, Y Sênh Niê về Sài Gòn gặp đại diện của Hoa Kỳ (các ông Peterson và Anderson) và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa để thảo luận về qui chế đặc biệt dành cho người Thượng, một lực lượng quân sự 150.000 người dưới sự chỉ huy của FULRO, một quốc kỳ tương đương với quốc kỳ của Việt Nam Cộng Hòa, một phái đoàn độc lập có quyền đi dự những hội nghị quốc tế, quyền tiếp đón trực tiếp các đại diện của Hoa Kỳ và các nước khác, quyền triệu tập một Đại Hội Đồng Dân Tộc Thiểu Số, thành lập một phái đoàn Đại Diện Dân Tộc Thiểu Số...

Tiếp tục bạo loạn

Trong khi đó, từ 29-7 đến 2-8-1965, nhóm quá khích, sau khi tố cáo Y Bham Ênuôl bị mua chuộc, bí mật tổ chức bạo loạn, họ rải truyền đơn hô hào "Cao Nguyên của người Cao Nguyên !", "Thực dân Kinh cút đi !".
Vài tháng sau, từ ngày 12-đến 18-12-1965, Y Dhơn Adrong cùng Y Nuin Hmok và thiếu úy Y Nam Êban dẫn một nhóm FULRO gồm đại đội 296 Địa Phương Quân, trung đội 1/503 Nghĩa Quân Thượng do thượng sĩ Nay Rí chỉ huy tấn công đồn Phú Thiện (tỉnh Phú Bổn) sát hại 32 người và làm bị thương 26 người.
Sau đó Y Nam Êban cùng Y Tam Uông, đội trưởng và đội phó đại đội 281, chỉ huy lính Thượng chiếm đồn Krong Pách, giết hết binh sĩ Kinh.
Tiểu đoàn 64 FULRO do đại úy Y Klam chỉ huy đột nhập Tòa Hành Chánh và Tiểu Khu Quảng Đức, giết hết người Kinh, treo cờ FULRO.
Tướng Vĩnh Lộc chỉ huy trưởng Vùng II Chiến Thuật huy động Sư Đoàn 23 Bộ Binh và một đơn vị Thủy Quân Lục Chiến tấn công vào những nơi bị chiếm, bắt được một số tù binh và truy đuổi tàn quân FULRO gay gắt.
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, được sự khuyến cáo của đại sứ Hoa Kỳ, ra lệnh cho Vĩnh Lộc nương tay và để những nhân vật quan trọng và sĩ quan cao cấp Thượng chạy sang Kampuchea.
Tin nổi loạn tại Việt Nam đến Camp le Rolland, Y Bham Ênuôl sai con rể là trung tá Y Em chận bắt những phần tử quá khích tại vùng biên giới.
Y Dhơn Adrong và Y Nuin Hmok bị Y Em bắt và đem về Camp le Rolland xử tử, Y Bun Sor chạy thoát về Phnom Penh báo cáo.
Tướng Les Kossem, không dám phản đối quyền lãnh đạo FULRO Thượng của Y Bham Ênuôl, lên Camp le Rolland thương lượng và cử hai người Chăm vào những chức vị cao bên cạnh Y Bham Ênuôl là Đằng Năng Giáo (bí danh Yang Neh) làm đệ nhất bí thư Phủ chủ tịch đặc trách chính trị và nội vụ, và Thiên Sanh Thi giữ chức tư lệnh Quân Khu 3 (Ninh Thuận và Bình Thuận) kiêm sư đoàn trưởng Sư Đoàn Po Romé.
Hai người Chăm này có nhiệm vụ kềm chế những quyết định thân thiện Việt Nam của Y Bham Ênuôl.
Y Bun Sor được Les Kosem phong làm phụ tá quân sự đặc trách FULRO Thượng tại Phnom Penh.
Tuy không bằng lòng về sự canh chừng này, Y Bham Ênuôl vẫn ra lệnh cho Y Dhê Adrong về Việt Nam thương thuyết với Paul Nưr, đại diện chính quyền miền Nam.

Thượng nhường cho Chăm

Các cuộc thương lượng kéo dài gần một năm.
Tin tưởng vào sự ủng hộ của Hoa Kỳ, phong trào FULRO đòi hỏi rất quyết liệt và tỏ ra không nhân nhượng về yêu cầu thành lập Liên Bang Cao Nguyên Việt Nam, quyền có quốc kỳ, quyền có quân đội riêng và quyền đại diện chính thức.
Lo sợ Y Bham Ênuôl phản bội lý tưởng ban đầu là tranh đấu giành độc lập cho Tây Nguyên, ngày 20-9-1966 Les Kosem và Chau Dera xua quân bao vây Camp Le Rolland rồi ép Y Bham Ênuôl ký giấy nhường lãnh thổ của người Thượng từ sông Srê Pok (Nam Lào và đông bắc Kampuchea) đến Pleiku cho Mặt Trận Giải Phóng Chiêm Thành (FLC).
Nhưng âm mưu này không thành, trung tá Y Em mang quân đến giải vây và bắt sống một số binh sĩ Khmer và Chăm đang vây Camp le Rolland.
Y Bham được giải thoát, giấy nhượng đất bị xé.
Để xoa dịu sự bất mãn của người Thượng, chính sách Thượng vụ phát họa ngày 17-10-1964 được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cho thi hành.
Đầu năm 1966, Y Chôn Mlô Duôn Du và Nay Luett đặt Văn Phòng Liên Lạc thuộc Nha Đặc Trách Thượng Vụ ở Buôn Ma Thuột để thương nghị với Y Dhê Adrong.
Ngày 12-2-1966, một đại hội Kinh Thượng được tổ chức tại Kontum lên án gắt gao nhóm quá khích và Tòa Án Quân Sự Vùng II Chiến Thuật, họp tại hội trường Diên Hồng Pleiku, xử những quân nhân Thượng phản loạn cấp thấp (4 tử hình, 1 chung thân, 3 khổ sai 20 năm và nhiều án khổ sai 10 năm).
Ngày 22-6-1966 Nha Đặc Trách Thượng Vụ được nâng lên thành Phủ Đặc Ủy Thượng Vụ, Paul Nưr làm đặc ủy trưởng, để chuẩn bị cuộc hội nghị thượng đỉnh giữa Paul Nưr và Y Bham Ênuôl.
Ngày 2-6-1967, Y Bham Ênuôl đích thân cầm đầu một phái đoàn đến Buôn Ma Thuột thương nghị và yêu cầu chính quyền miền Nam sớm ban hành qui chế riêng cho người Thượng.
Một đại hội các sắc tộc thiểu số trên toàn quốc được triệu tập trong hai ngày 25 và 26-6-1967 để đúc kết các thỉnh nguyện chung của người thiểu số.
Ba văn kiện được đệ trình lên chính phủ là bản thỉnh nguyện, bản kiến nghị và bản tuyên ngôn, tất cả đều được thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, long trọng chấp thuận và cam kết sẽ cho thực hiện.
Ngày 29-8-1967, đại hội các sắc tộc được tổ chức tại Buôn Ma Thuột dưới sự chủ tọa của trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc gia, và thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương.
Chính phủ ký sắc luật số 033/67 cùng ngày ban hành Qui Chế Đặc Biệt nâng đỡ người thiểu số theo kịp đà tiến bộ của dân tộc.
Tháng 11-1967 Quốc Hội Lập Hiến Việt Nam Cộng Hòa ủy nhiệm Bộ Phát Triển Sắc Tộc nghiên cứu một dự thảo luật về Hội Đồng Sắc Tộc.
Năm sau, tháng 8-1968, Y Bham Ênuôl dẫn đầu một phái đoàn cao cấp gồm 28 người (Y Dhê Adrong, Y Prêh, Ksor Dút, Kpa Doh, Y Tôn, Thiên Sanh Thi, Huỳnh Ngọc Sắng, Zu Zol, Thạch Thân Apol, Chay Rithi, Sa Phol, Chau Chen, Chau Phước...) từ Camp le Rolland về Buôn Ma Thuột họp với Paul Nưr, Ya Ba, Châu Văn Mổ, Nay Luett, Nguyễn Hữu Oanh v.v... đòi hỏi những quyền lợi khác cho người Thượng nhưng không kết quả.
Cuộc thương lượng cuối cùng ở cấp bậc cao nhất giữa Y Bham Ênuôl (với tư cách chủ tịch phong trào FULRO) và đổng lý Văn Phòng Phủ Thủ Tướng được tổ chức ngày 11-12-1968 đi đến một thỏa thuận như sau: phong trào FULRO được quyền có một hiệu kỳ nhưng không phải là quốc kỳ, Bộ Sắc Tộc được thành lập ngay trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa do một người Thượng lãnh đạo, phái Đoàn Sắc Tộc sẽ được thiết đặt tại Buôn Ma Thuột, một tỉnh trưởng hay phó tỉnh trưởng người sắc tộc sẽ được đề cử tại những tỉnh có đông người sắc tộc cư ngụ, những lực lượng địa phương quân sắc tộc (Thượng) sẽ đặt dưới quyền chỉ huy của những sĩ quan sắc tộc (Thượng), một sĩ quan hay hạ sĩ quan sắc tộc (Thượng) sẽ được đề cử ngay trong những đơn vị quân đội chính qui có đông người sắc tộc...
Lễ ký kết sẽ được cử hành tại Buôn Ma Thuột đầu năm 1969. Phái đoàn Y Bham Ênuôl về Camp le Rolland thu xếp đồ đạc chuẩn bị sang Việt Nam ở luôn.

Chưa yên

Sáng 30-12-1968, phi đội trực thăng Việt Nam Cộng Hòa vượt biên giới sang Camp Le Rolland đón Y Bham Ênuôl cùng gia đình và lực lượng FULRO Thượng về Buôn Ma Thuột.
Nhưng trước đó vài giờ, Les Kosem ra lệnh cho Y Bun Sor điều động hai trung đoàn quân đội hoàng gia Khmer đến bao vây Camp le Rolland.
Đằng Năng Giáo, Y Bhan Kpor, Y Nam Êban, Ksor Dút, Kpa Doh, Kpa Blan chỉ huy đội cảm tử ập đến bắt cóc Y Bham Ênuôl và gia đình đưa về Phnom Penh.
Y Em cùng một số thân tín bỏ chạy vào rừng.
Phi đội trực thăng Việt Nam Cộng Hòa phải quay trở về Buôn Ma Thuột.
Cùng ngày Les Kosem lên Mondolkiri trấn an và thuyết phục binh sĩ FULRO Thượng còn lại phải tuân lệnh bộ chỉ huy FULRO mới đặt tại Phnom Penh.
Từ đó Y Bham Ênuôl bị giam lỏng tại Phnom Penh dưới sự quản chế của Les Kosem.
Một số thân tín Chăm và Thượng được Les Kosem thăng thưởng và cất nhắc lên những chức vụ chỉ huy.
Ngày 31-12-1968 Les Kosem thành lập Hội Đồng Nội Các Lâm Thời FULRO, chủ tịch là Yang Neh (Đằng Năng Giáo), Souleiman (Thiên Sanh Thi) làm phó, đại tá Y Bhan Kpor tham mưu trưởng, trung tá Y Nam Êban tham mưu phó.
Nội các này bị Les Kosem giải tán 10 ngày sau đó vì bất lực trong việc tổ chức điều hành.
Để thay thế, Les Kosem thành lập một Ủy Ban Chỉ Đạo Tối Cao FULRO gồm toàn người Chăm do chính ông làm chủ tịch, Souleiman làm phụ tá đặc trách quân sự, El Ibrahim phụ tá đặc trách hành chánh, Mohamet phụ tá đặc trách tiếp vận.
Y Bun Sor được cử đi du học tại trường Sorbonne Paris, Pháp.
Đầu năm 1969, Les Kosem giải tán Mặt Trận Cao Nguyên (FLHP) và cho ra đời Mặt Trận Giải Phóng Cao Nguyên và Bình Nguyên Champa (Front de Libération des Hauts Plateaux et du Champa, gọi tắt là FLHPC) do Y Bhan Kpor làm chủ tịch.
Y Bhan Kpor kêu gọi người Mỹ hãy ở lại Cao Nguyên với dân tộc Thượng.
Tháng 6-1969, Les Kosem tạm ngưng khóa huấn luyện FULRO tại Phnom Penh, đưa các khóa sinh lên Mondolkiri và Rattanakiri thay thế lực lượng của Y Bham Ênuôl.
FULRO Chăm được giao vai trò lãnh đạo tại Mondolkiri (Đặng Nô, Đồng Tập, Kinh Hoài Diệp...) và tại Rattanakiri (Đằng Năng Giáo, Kpa Toh, Tạ Văn Lành), nhưng nhóm FULRO Thượng tại đây không chấp nhận sự chỉ huy của Y Bhan Kpor, họ chỉ tuân phục Y Bham Ênuôl mà thôi.
Ngày 29-7-1969 Les Kosem họp với Huỳnh Ngọc Sắng, Quảng Đại Đủ (Po Dharma), Thiên Sanh Thi, Hoàng Minh Mộ, Đặng Văn Thủy, Y Bhan Kpor, Y Nam Êban, Kpa Doh tại Phnom Penh tìm người làm chủ tịch FULRO nhưng không thành, Ủy Ban Chỉ Đạo Tối Cao FULRO Chăm đảm nhận luôn việc điều hành nhóm FULRO Thượng.
Giữa tháng 4-1975, Phnom Penh bị thất thủ, Y Bham Ênuôl cùng vợ con chạy vào tòa đại sứ Pháp tị nạn.
Quân Khmer đỏ tràn vào tòa đại sứ bắt tất cả những ai không phải là người Pháp hay có quốc tịch ngoại quốc, toàn thể gia đình ông Y Bham Ênuôl bị quân Khmer đỏ hành quyết trong sân tòa đại sứ.
Trở lại Việt Nam, hiệp ước chung cuộc cuối cùng được ký kết giữa ông Paul Nưr, đại diện Việt Nam Cộng Hòa, và Y Dhê Adrong, đại diện phe FULRO chứ không với Y Bham Ênuôl như đã dự trù.
Lễ ký kết được diễn ra trọng thể tại Buôn Ma Thuột ngày 1-2-1969 dưới sự chủ tọa của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và thủ tướng Trần Văn Hương.
Cờ Việt Nam Cộng Hòa treo cạnh cờ FULRO với những biểu ngữ "Tình đoàn kết Kinh Thượng muôn năm", "Hoan hô các anh em FULRO trổ về phục vụ quốc gia"...
Theo tin tình báo của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa năm 1969, có 5.471 người qui thuận gồm 2.257 binh sĩ và nhân viên dân sự, 3.214 thân nhân gia đình và 895 súng ống đủ loại.
Như vậy tổng cộng có gần 6.000 người qui thuận (ngày 15-9-1965 có hơn 500 người đã ra đầu thú).

Trong lời bế mạc buổi lễ, Y Dhê Adrong tuyên bố : "Kể từ ngày hôm nay, phong trào FULRO không còn nữa trên Cao Nguyên, bất cứ ai sử dụng danh nghĩa FULRO sau này để phá hoại sự đoàn kết Kinh-Thượng sẽ bị trừng trị theo luật pháp hiện hành của chính quyền".
Hồ sơ FULRO đối với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa coi như kết thúc, một giai đoạn hợp tác mới được mở ra.
Nhưng thực tế đã không giản dị như vậy, người Chăm và Thượng vẫn chưa có một chỗ đứng danh dự như mong muốn, phong trào FULRO tiếp tục đấu tranh trong bóng tối.


Trích từ  BBC VIETNAMESE.COM 

 

Bài 4:

ÐƯỜNG VỀ NGUỒN CỘI CHAMPA

Bài 5:

THỬ ÐIỂM LẠI QUAN ÐIỂM LỊCH SỬ VÀ VĂN HOÁ TRONG TÁC PHẨM CỦA LƯƠNG NINH, MƯỜNG GIANG VÀ NGUYỄN GIA KIỂN

 

PHẦN HAI tiếp theo >>>

<<<PHẦN I

 



Cẩn cáo:

Các hình ảnh và tài liệu trong trang này được sưu tập và tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau, từ các websites, các báo chí trong nước và ngoài nước, và các thư viện tại Hoa kỳ. Mức độ chính xác của các số liệu và dữ kiện là tương đối và lệ thuộc vào nhiều yếu tố  như phương tiện, cấp độ và thời gian sưu tập chẳng hạn. Ái Hữu Ninh Thuận chỉ làm công việc "thuật nhi bất tác" mà thôi. Mọi sai sót xin quý vị và các bạn hỉ xả cho và xin vui lòng email cho chúng tôi tại aihuuninhthuan@yahoo.com. Quý vị và các bạn có toàn quyền sao chép, in ấn, xử dụng và phổ biến bất cứ tài liệu nào của Ái Hữu Ninh Thuận, tuy nhiên xin ghi rõ nguồn từ aihuuninhthuan.net và xin vui lòng link tới chúng tôi.  Xin chân thành cảm ơn.


 



Vị trí hiện tại của bạn bây giờ đã được đánh dấu đỏ trên bản đồ!
Click vào bản đồ để xem danh sách khách viếng thăm

Visitor Map

Click vào GEO VISITORS dưới đây để xem bản đồ vệ tinh chi tiết:

Geo Visitors Map


<=== || Quay lại ||


 

 

 

 

VIETNETLINKS danh bạ trực tuyến duy nhất, chỉ dẫn đến các websites có giá trị đáng xem mà thôi!

© 2005 VIETNETLINKS.  ALL RIGHTS RESERVED