NHỮNG CUỘC HÀNH TRÌNH LỚN TRONG LỊCH SỬ TỈNH NINH THUẬN
Cuộc hành trình thứ nhất: Chặng
đường Nam tiến
Cuộc hành trình
thứ nhất có lẽ bắt đầu theo bước chân Nam tiến dưới thời Chúa Nguyễn và kết thúc vào
thời Gia Long Nguyễn Ánh thống nhất sơn hà (1653-1802). Hầu hết di dân thời này là gia đình
binh lính và dân từ vùng Thuận Hóa (tức là vùng Bình-Trị-Thiên ngày nay) trở vào đến
Nam-Ngãi-Bình-Phú (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên). Lịnh sử không lưu lại số
liệu cụ thể nào, nhưng gia phả của những họ tộc lớn tại Ninh Thuận như các họ Trần,
Lê, Ngô, Nguyễn, Hồ, Hà, Phạm v.v...đã cho thấy lai lịch và gốc gác của những di dân
thuộc thế hệ thứ nhất đến Ninh Thuận.
Theo sử chép lại, năm 1653 vua Chiêm là Bà Tấm đem quân đánh Phú Yên, bị quân chúa Nguyễn
Phúc Tần đánh đuổi đến sông Phan Rang. Đất Chiêm Thành giới hạn từ phía Tây sông Phan
Rang trở vào. Cuộc hành quân Nam tiến của Chúa Nguyễn đã dựa vào lực lượng thủy quân
làm nòng cốt tấn công từ vùng biển vào, sau đó cho dân định cư trước nhất tại những
khu vực dọc bờ biển của tỉnh Ninh Thuận. Lực lượng thủy quân của Chiêm Thành sau khi đã
mất vùng đất từ Thuận Hóa trở vào đến Tuy Hòa thì xem như đã hoàn toàn kiệt quệ, không
còn là đối thủ của thủy quân thời Nguyễn nữa. Ngược lại thủy quân thời Nguyễn ngày
càng kinh nghiệm và lớn mạnh hơn khi phát triển về phương nam và tiếp nhận những kiến
thức về hàng hải từ người Chiêm Thành, Thủy Chân Lạp, Phù Nam và Xiêm La.
Trong thời gian từ năm 1653 đến năm 1692, các thôn ấp được thành lập trước nhất đều
nằm cạnh bờ biển đông, đi dọc từ Vĩnh Hy, Thái An, Mỹ Tường, Mỹ Hòa, Khánh Nhơn, Khánh
Hội, Khánh Tường, Tri Thủy, Phương Cựu, Dư Khánh đến Tây Giang, Ðông Giang, Phú Thọ.
Phần lớn cư dân ở đây là những gia đình thủy binh hoặc dân làm nghề biển.
Năm 1692 vua Chiêm là Bà Tranh đem quân tấn công; đến năm 1693, bị quân chúa Nguyễn Phúc
Chu đánh bại. Bà Tranh bị bắt, giam tại Hòn Chén đến năm 1694 thì mất. Năm 1694 chúa
Nguyễn Phúc Chu phong Kế Bá Tử làm Trấn Vương Thuận Thành, cai trị Thuận Thành Dân (gồm có
người Chiêm Thành và các dân tộc thiểu số từ vùng Ninh Thuận, Bình Thuận, vùng nam Tây
Nguyên đến vùng Ðông Nam Phần)
Trong khoảng thời gian từ năm 1692 đến năm 1695 các thôn ấp mới được thành lập gồm có
An Thạnh, Từ Tâm, Hòa Thủy, Sơn Hải, Thương Diêm, Lạc Nghiệp.
Vùng biển Cam Ranh - Ninh Thuận - Bình Thuận xưa kia là một trong những khu vực có nguồn hải
sản phong phú nhất; theo lời thuật lại của các bô lão thì ngày xưa tôm cá vào rất sát
bờ và nhiều vô số kể, người ta còn kể lại câu chuyện ở vùng biển từ An Thạnh đến
Sơn Hải cọp thường xuống bắt cá để ăn khi nước thủy triều rút, ở đây có những
loại ốc tai tượng rất lớn ngậm kẹp chân cọp mạnh đến độ cọp không thể nào rút chân
ra được đành phải chịu chết đuối khi nước thủy triều dâng lên lại. Ở tại vùng Vĩnh
Hy và Thái An có rất nhiều cá thu và cua biển nhiều con lớn hơn cỡ trái bóng chuyền, vùng Sơn
Hải và Cà Ná có rất nhiều tôm hùm dài hơn cả thước tây!
Riêng các ấp có chữ "Chữ" như Khánh Chữ, Ninh Chữ, Hải Chữ, La Chữ thì được thành
lập trong thời Nguyễn Ánh tẩu quốc trốn chạy nhà Tây Sơn, giữa những năm 1777-1779 (Theo chính
sử thì vào năm 1773 Tây Sơn khởi nghĩa, Nguyễn Phúc Ánh lúc đó 12 tuổi theo chúa Nguyễn Phúc
Thuần vào Quảng Nam. Mùa thu năm Ðinh Dậu -1777- Nguyễn Phúc Thuần thua trận bị bắt giết,
Nguyễn Phúc Ánh một mình chạy thoát ra đảo Thổ Chu, sau lại phải chạy tiếp sang Xiêm La
tức là Thái Lan ẩn náu. Ðến tháng 7/1792 vua Quang Trung băng hà đột ngột, Quang Toản còn
nhỏ tuổi lên nối ngôi, nhà Tây Sơn phân rẽ và suy sụp; Nguyễn Ánh thừa cơ phản công, năm
1801 chiếm lại Phú Xuân, tấn công ra Bắc, tháng 7/1802 thì hoàn toàn diệt xong nhà Tây Sơn, lên
ngôi hoàng đế, niên hiệu Gia Long, đóng đô tại Phú Xuân - Huế - và đặt tên nước là
Việt Nam). Theo gia phả của nhà họ Trần tại La Chữ và theo lời thuật lại của các bô lão
tại đây thì lực lượng theo Nguyễn Ánh trốn chạy xuống phương nam theo đường biển do
một vị Ðô thống thủy vệ quân (là tổ tiên của họ Trần) lãnh đạo đổ bộ vào vùng
biển Ninh Thuận tá túc ở đây, trường kỳ mai phục chờ ngày Nguyễn Ánh trở về thì nhập
đoàn quân Bắc tiến; họ lập thành các ấp có chữ "Chữ" nói trên. Có một điểm
rất đặc biệt là riêng ấp La Chữ lại nằm sâu trong đất liền, ở cạnh 2 ấp Mông Ðức
và Nhuận Ðức, không nằm sát bờ biển như các ấp kia; dân cư ở đây lại sống bằng
nghề làm ruộng rẫy, không sống bằng nghề biển. Về cấu trúc thì La Chữ là một trong vài
ấp còn sót lại tại Ninh thuận có cây đa đầu đình, có lũy tre làng bao bọc và có đồng
ruộng mênh mông, rất giống kiểu mẫu làng xã thuần túy ở miền Bắc. La Chữ là một làng
đẹp, rất đáng buồn là những năm chiến tranh đã làm cho La Chữ hoang tàn khiến cho những
ai ghé lại đây khi nghe kể chuyện xưa và nhìn cảnh hiện tại trong lòng không khỏi dấy lên
niềm hoài cảm sâu xa!
Trong khoảng từ
giữa thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 18, khi người Kinh chiếm đất của người Chiêm Thành thì
người Chiêm Thành dời sâu vào đất liền hoặc dồn dần lên miền núi, một số không chịu
hàng phục người Kinh bỏ trốn lên núi sống với người Thượng và họ đồng hóa người Thượng
hoặc bị người Thượng đồng hóa như ở các ấp Cát Gia, Ma Nới, Trà Vân, Nô Giá, Tà Lú,
Ma Ty v.v... Ðó là lý do tại sao áo mão của vua Chiêm Thành được trao lại cho người Djarlai
ở Phước Hà cất giữ từ hơn hai thế kỷ nay và hàng năm vào dịp lễ Katê (Tức là lễ tưởng
niệm Ðấng Cha) vào ngày đầu tháng 7 Chăm lịch (tức vào khoảng tháng 8, tháng 9 âm lịch) người
Chăm và người Djarlai làm lễ rước vương phục của vua Chiêm Thành từ trên núi về. Người
Thượng ở Trà Vân và Nô Giá (nguyên ấp cũ trên núi dọc theo suối Giá) dưới thời Việt
Nam Cộng Hòa định cư trong làng Vụ Bổn sống chung với người Chăm rất hòa thuận, trong khi
người Thượng ở Cát Gia thì sống ở vùng đồng bằng dưới chân núi gần với làng Bĩnh
Nghĩa của người Chăm, họ cũng có những phong tục rất giống người Chăm (Làng Bĩnh Nghĩa là
nơi có đền thờ vua Chế Bồng Nga, có nghi thức chính thống tế tự các vua, vương phi và hoàng
thân quốc thích Chiêm Thành hàng năm rất lớn). Người Thượng ở Ma Nới và vùng Tà Lú, Ma
Ty thì kế thừa cách làm lúa nước của người Chiêm Thành và có tập quán rất giống người
Chăm. Ở tại Ninh Thuận có 24 dân tộc thiểu số khác nhau, họ thần phục người Chăm và
sống hàng ngàn năm hòa thuận với người Chăm, một số vua Chăm có vợ là người Thượng.
Trong các sắc dân Thượng thì người Djarlai (một chi nhánh lớn của sắc tộc Djorlai) là đông
nhất, thổ ngữ rất giống tiếng Chăm; kế đến là người Chưru và nhóm sắc tộc K'Ho với
các sắc dân Mạ, Sré, Cil, Lat, Tring, Nop, Talai... Người thượng ở Tỉnh Ninh Thuận có truyền
thống rất hiếu hòa, trong suốt dòng lịch sử họ không có đụng chạm nào với người Kinh
cả. Chỉ có một lần duy nhất trong lịch sử, sau năm 1945 người Djarlai trong các vùng xung
quanh mật khu 7 và mật khu 25 nhen nhúm nổi dậy đòi tự trị và chống lại Việt Minh thì bị
tàn sát dã man, các làng Djarlai bị tiêu diệt và dân Djarlai phải chạy tứ tán khắp nơi!
Cuộc nổi dậy của những người Djarlai này được gọi là "Giặc Mọi"!
Dưới thời Tây Sơn và nhà Nguyễn đều có những đợt di dân đến từ các tỉnh miền bắc
và miền trung trung phần, họ ở tại các ấp Trường Sanh, Trường Thọ, Mông Ðức, Nhuận Ðức,
Thuận Hòa, Phước Khánh... Vào cuối đời nhà Nguyễn và trong thời Pháp thuộc thì các di dân
đến từ vùng Nam-Ngãi-Bình-Phú lập thành các ấp Ðài Sơn, Tân Hội, Hộ Diêm, Bà Láp, Cà
Ðú, Hòn Thiêng, Gò Ðền, Gò Sạn, Phước Thiện, Phước An, Tấn Lợi, Tấn Tài, Tấn Lộc...
phần lớn là các xóm đạo Công giáo. Vùng đồng ruộng Ông Cố Tấn Tài - Tấn Lộc - Mỹ An
vào những năm cuối thế kỷ 19 vẫn còn là vùng đất ngập mặn và nước biển vào đến
tận gần bờ đê thị xã Phan Rang. Bờ đê hiện tại của thị xã Phan Rang không phải là bờ
đê nguyên thủy đầu tiên. Theo lời kể của các bô lão ở Tấn Tài thì cái bờ đê hiện
tại ít ra phải là cái bờ đê được xây dựng lại lần thứ tư và con sông Dinh ngày xưa thì
lại nằm sâu trong đất liền.
Nhìn lại thì thấy công trình trị thủy và khẩn hoang lập ấp của người xưa thật là quy mô
to lớn đến ngần nào, và cái cảnh "Thương hải biến vi tang điền" - Biển xanh
biến thành ruộng dâu - mà Trần Tế Xương đã mô tả trong mấy câu thơ sau đây đã diễn ra
ở khắp các vùng đất nước trong những năm nhiều thay đổi từ cuối thế kỷ 19 đến đầu
thế kỷ 20:
"Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai
Ðêm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò!"
Riêng về Sông Dinh và sông Cái đều là những con sông do người Chiêm Thành đào
và sông Dinh là hạ nguồn của sông Cái (Trong dân gian Chăm còn truyền lại câu chuyện thi đua
đào 2 con sông: sông Cái của phái nữ - vì vậy cho nên gọi là Sông Cái - và sông Dinh của phái
nam mà kết quả là vì mê các người đẹp "chỉ lo hát hò dê gái bỏ bê công vụ" nên
bên nam phải thua! Con sông Dinh vì vậy cho nên vừa cụt lại vừa cạn!).
Các vị Cha Cố Công Giáo đã có công rất nhiều trong việc khẩn hoang lập ấp và dẫn
thủy nhập điền từ vùng Phước Thiện - Phước An đến vùng Tân Hội - Hộ Diêm - Cà Ðú -
Hòn Thiêng - Gò Ðền kéo dài xuống đến vùng Tấn Tài - Tấn Lộc - Tấn Lợi - Mỹ An. Ðập
Nha Trinh và hệ thống Kênh Bắc được xây dựng trong giai đoạn này. Riêng đập Lâm Cấm,
hệ thống Kênh Nam và Mương Nhật thì được xây dựng và trùng tu dưới thời đệ nhất và
đệ nhị cộng hòa.
Vựa lúa của tỉnh Ninh Thuận tập trung ở 4 khu vực phì nhiêu nhất: đồng Nhiễu, đồng Ông
Cố, đồng Cà Rài, và đồng Hộ Diêm. Trước năm 1975, lúa của tỉnh Ninh Thuận trồng vừa
đủ nuôi dân Ninh Thuận và nuôi thêm ít nhất dân của một tỉnh có tầm cỡ lớn như tỉnh
Bình Thuận.
Cuộc hành trình thứ hai: Hành
trình tìm tự do
a) Ánh sáng
miền Nam:
Tôi dùng chữ "Ánh sáng miền Nam" không phải để thiên vị đề cao chế độ Việt
Nam Cộng Hòa, mà chính là vì tôi muốn nói đến một sự thật lịch sử về miền nam Việt
Nam, nơi dân tình hiền hòa, thật thà chất phác, thời tiết mưa thuận gió hòa, đất đai màu
mỡ, tài nguyên phong phú, tôm cá đầy sông đầy biển; như đã được mô tả qua mấy câu hò
sau đây:
"Hò ơi!
Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá về đồng ăn cua
Miền Nam mưa nắng hai mùa
Thương em từ thuở mình chưa hẹn hò..."
Sau khi Việt Minh và Pháp ký Hiệp định Genève (Geneva) chia đôi đất nước vào ngày 20 tháng 7
năm 1954 thì làn sóng dân chúng vượt vĩ tuyến 17 chạy lánh nạn Cộng sản từ miền Bắc vào
miền Nam đã trở thành cuộc di cư lớn nhất trong lịch sử Việt Nam trên chính quê hương mình.
Người Cộng sản thường vỗ ngực tự hào về những chiến thắng tạo được bằng máu xương
chồng chất qua bao thế hệ, họ không dám nhìn nhận một sự thật cay đắng đó là dân chúng
vô cùng sợ Cộng sản, sợ như một loại phung cùi; cho nên Cộng sản đi đến đâu thì dân
chúng bỏ chạy đến đó; chiến thắng của Cộng sản là chiến thắng của đàn áp và bạo
lực, cái bạo lực được tô vẽ dưới ngụy danh cách mạng! Trớ trêu thay, từ đông sang tây
xưa nay bạo lực chiến tranh đã xóa tên nhiều dân tộc hiếu hòa khỏi bản đồ thế giới,
kẻ có bạo lực và trí trá là người thắng trận, đã tạo nên những thời đại và chế độ
tàn bạo, điển hình như nhà Tần, nhà Nguyên...Liên Bang Sô Viết, Bắc Hàn, Trung Cộng.v.v...
Chủ nghĩa cộng sản tam vô là một chủ nghĩa ngoại lai hoàn toàn
đi ngược với văn hóa
và truyền thống tôn sư trọng đạo của người Việt Nam, cho nên bất cứ ai mà thấy được
bộ mặt thật của người cộng sản đều sợ hãi họ vô cùng. Dân tộc Việt Nam là một dân
tộc hiếu lễ và trọng đạo, không bao giờ muốn rời bỏ quê cha đất tổ, xa cha mẹ anh
chị em và chòm xóm láng giềng; thế mà vì sợ Cộng sản, hơn 1 triệu người đã chạy lánh
nạn vào miền Nam tìm tự do năm 1954. Dĩ nhiên là người Cộng sản không bao giờ tự thú
tội và nhận những sai lầm của mình; họ luôn luôn đổ tội cho những ai sợ họ nào là
"bọn phản động và gia đình", "bọn giáo gian", "bọn cường hào ác bá",
"bọn địa chủ và tư sản mại bản ác ôn", "bọn ôm chân thực dân đế quốc
chống phá cách mạng" v.v... Nghệ thuật lãnh đạo và cai trị của Cộng sản là tuyên
truyền đi đôi với lừa bịp chính trị và bạo lực vô giới hạn.
Trong cuộc di cư vào Nam năm 1954, đại đa số là những người dân bình thường, họ không
tham gia quân đội hoặc bất cứ đảng phái, tổ chức chính trị nào cả; họ cũng chẳng
phải là địa chủ hoặc tư sản ác ôn gì cả, thậm chí nhiều người trong số họ là
những "mẹ hoặc chị chiến sĩ" đã từng đóng góp biết bao "hũ gạo nuôi quân",
đã từng che giấu biết bao "đồng chí cách mạng" trong nhà họ v.v... thế mà họ
phải lẳng lặng tìm đường chạy trốn các "đồng chí" để vào Nam "tìm tự
do". Cái sự thật hiển nhiên cắt nghĩa cho cuộc ra đi của họ là câu nói "Có ở
trong chăn mới biết chăn lắm rận" - Có sống với Cộng sản mới biết sợ Cộng sản -
(Ðó cũng chính là lý do tại sao sau này khi Cộng sản chiếm miền Nam, trong hai năm đầu 1975 và
1976 số người vượt biên tị nạn rất ít, trong hai năm đó dân miền Nam còn đang "học
sống chung với Cộng sản", và chỉ sau hai năm đó thôi thì đại đa số dân miền Nam
bắt đầu mở mắt "giác ngộ cách mạng" và sợ hãi Cộng sản quá độ, cho nên họ
bắt đầu rủ nhau "đâm thủng chăn đầy rận mà chạy", đến độ một bà cụ vượt
biên đã từng báo cho thế giới biết rằng "nếu ở Việt Nam mà cây trụ đèn biết đi
thì nó đã rủ nhau đi hết từ lâu rồi". Những người đi vượt biên tị nạn Cộng
sản vào những năm đó đều bị gọi là phản động, nếu trốn thất bại đều bị bỏ tù
và xếp loại là tù chính trị... Về sau cũng chính những người này khi về lại Việt Nam thì
lại được nhận bằng khen, được xưng tụng là "Việt kiều yêu nước", là "khúc
ruột của quê hương"... Những kẻ đã từng nằm trốn trong bụi rậm chịu muỗi đốt sưng
mình, đã từng trốn trong hầm cá, nằm bẹp trong những khoang xuồng tam bản với cái tên mỹ
miều là "taxi", những kẻ đã từng chết khát chết đói đến độ nước tiểu của
mình cũng không có đủ mà uống, và cũng có kẻ đã phải xẻ thịt người chết đói để ăn
chống đói, cũng có những người đã từng bị Mã tặc, Miên tặc, Thái tặc v.v... thay nhau cưỡng
hiếp đau xót vô cùng!... Những người ấy sau khi đã có "đô la che mỏ ác", có thể
giờ đây theo gương Nguyễn Cao Kỳ và Trần Trường đang mặc quần xà lỏn, đeo kính râm đi
giữa thành phố "mang tên bác" để ra vẻ ta đây là "Việt kiều yêu nước"
hồi hương... mang bệnh chóng quên cũng giống như các "đồng chí" vậy! Chỉ có điều
khác nhau là các "đồng chí" cố ý quên để chạy tội và đổi mới sách lược với
phương hướng "nhồi nhét đô-la vào ý chí cách mạng", còn "Việt kiều yêu nước"
thì mắc bệnh háo danh, khoe của và bị bệnh "mỡ bao trí tuệ" làm mất trí nhớ!)
Ðợt di dân năm 1954 đến Ninh Thuận không đông lắm, họ ở rải rác khắp nơi, chỉ có hai nơi
người bắc di cư gom tụ lại là tại làng Tân An (Bình Chính) và làng Tân Xuân, cả hai làm nghề
biển và gốc phần lớn là dân Quảng Bình. Dân làng Tân An sau này làm ăn phát đạt, tuy nhiên
dân làng Tân Xuân thì lại tản mác đi dần chỉ còn là một xóm chài nhỏ với ngôi nhà
nguyện đổ nát không tu bổ. Cuộc di cư này cũng mang chủng viện Thái Bình từ ngoài Bắc đến
với làng Tấn Tài A (tức là làng Công giáo, làng Tấn Tài B đa số không phải là Công giáo),
chủng viện nằm trong khuôn viên nhà thờ Tấn Tài, là tiền thân của trường trung học Trương
Vĩnh Ký (các linh mục tu tại chủng viện Thái Bình sau này là Ban Giám Ðốc và là thành phần
giáo sư nòng cốt của trường Trương Vĩnh Ký).
b) Chiến nạn:
Sau năm 1960 chiến tranh bùng nổ ở khắp các vùng quê miền nam Việt Nam và có
rất nhiều nơi cuộc sống an lành của người dân đã bị thay thế bằng những đổ vỡ tang
tóc gây ra do bỡi cái gọi là cuộc "Chiến tranh giải phóng miền Nam". Sau năm 1963, đa
số những vùng gần với miền núi ở tỉnh Ninh Thuận hầu như đều bị rơi vào vòng chiến
họa vì các lý do sau đây:
1- Các cán bộ cộng sản từ nam tập kết ra bắc, khi hồi kết thì theo đường Trường Sơn xâm
nhập vào miền nam và lập các chiến khu trong các vùng núi, dựa vào sự hậu thuẫn của các
sắc dân thiểu số sống trên núi. Từ các mật khu này (Mật khu 25, 35, 19, 22, và 7) họ xâm
nhập xuống các làng xã cận miền núi để tổ chức hệ thống cơ sở tiếp tế nhân-tài-vật
lực, làm bàn đạp phát động chiến tranh, lấy nông thôn bao vây thành thị.
2- Có một số dân chúng vùng cận sơn nghe theo lời kêu gọi thoát ly vào núi theo cái gọi là
cách mạng. Những thân nhân còn ở lại của họ đương nhiên trở thành cảm tình viên và cơ
sở hạ tầng yểm trợ về mọi mặt cho "cách mạng". Làng quê đang sống hòa thuận
bỗng chốc chia rẽ làm 3 thành phần: một phần theo quốc gia chống cộng, một phần theo
"cách mạng cộng sản", và một phần ở giữa chẳng theo phe nào cả. Cái cảnh gọi là
"xôi đậu" xẩy ra khắp nơi: ban đêm Việt cộng đột nhập vào làng tìm quốc gia và
những thành phần gọi là "Việt gian" bắt bớ, chặt đầu; tụ họp dân chúng bắt
loa tuyên truyền kêu gọi "chiến tranh giải phóng", rồi thì quyên góp tiếp tế, gần
mờ sáng thì cuốn gói lên rừng. Khi đêm đến thì lực lượng quốc gia và chính quyền xã
ấp co rút tìm chỗ trốn ngủ, đến ban ngày thì lại lên "nắm chính quyền" tìm
cộng sản bắt bớ bỏ tù, nhốt vài tháng thì lại thả ra tiếp tục "làm cộng
sản" dày kinh nghiệm hơn. Cái cảnh này diễn ra hàng ngày, hai bên bắn giết qua lại
khiến dân tình sợ hãi, ra rẫy ruộng làm ăn cũng không yên mà ở nhà sống cũng không ổn. Dân
chúng hoàn toàn mất tự do khi phải sống trong cảnh trên đe dưới búa như vậy!
3- Các trục lộ di chuyển đến các làng xã cận sơn trở thành bất an ninh. Chính quyền miền
Nam Việt Nam dần dần không kiểm soát được các vùng này. Các trận đánh diễn ra thường
xuyên khiến các vùng này trở thành mục tiêu cho bom đạn của cả hai bên; đặc biệt Cộng
sản luôn dùng thường dân vô tội làm bia đỡ đạn, họ bám chặt vào dân như loài tầm
gởi ký sinh dưới cái chiêu bài "chiến tranh nhân dân" mỹ miều; điều này gây rất
nhiều khó khăn cho các lực lượng quốc gia khi giải tỏa các làng bị cộng sản xâm nhập và
chiếm đóng, vì rất ngại "đánh chuột vỡ đồ" và bị chụp cho cái mũ là tàn sát
nhân dân!
Hậu quả là dân các vùng cận sơn phải bỏ làng đi lánh nạn. Dân chúng vùng Mỹ Hòa-Thái
An-Vĩnh Hy phải bỏ làng di cư lên vùng gần Gò Sạn, lập thành ấp mới Ba Tháp nằm dọc theo
quốc lộ số 1. Dân vùng Sơn Hải chạy lánh nạn lên vùng Mỹ An lập thành Khu Ðịnh Cư Sơn
Hải. Dân vùng Hòa Thủy, Từ Tâm và dân Bình Ðịnh, Quảng Ngãi chạy loạn lập thành Khu Ðịnh
Cư Mỹ Nghĩa. Dân Trà Vân, Nô Giá thì nhập cư chung vào làng Vụ Bổn...
Với biến cố Tết Mậu Thân 1968 mà Cộng sản gọi là Tổng Công Kích Mậu Thân, người
Cộng sản đã làm nên việc kinh hoàng nhất trong lịch sử Việt Nam được toàn thế giới
biết đến với cái tên gọi là "Thảm sát Mậu Thân", và đây là vụ thảm sát thứ
ba trong lịch sử Việt Nam sau vụ Trần Thủ Ðộ chôn sống tôn thất nhà Lý vào năm 1232
bằng thủ đoạn cho giựt sập nhà trai đàn tại phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; và vụ Hồ Quý
Ly chém 370 người trong nhóm Trần Khát Chân, Phạm Ngưu Tất tại thệ đàn núi Ðốn Sơn
thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá trong một ngày. Quy mô của cuộc Thảm Sát Mậu Thân
lớn hơn rất nhiều, chỉ nhỏ hơn vụ Khmer đỏ thảm sát dân Campuchia mà thôi. Số người
bị Cộng sản thảm sát tập thể chỉ riêng ở Huế thôi cũng đã lên đến hơn 7.600 người!
Sau biến cố Tết Mậu Thân sự sợ hãi Cộng sản đã lên đến cùng cực!
Năm 1972 chiến tranh chuyển sang giai đoạn mới với những trận địa chiến cấp sư đoàn có
sự tham dự của chiến xa và pháo binh hạng nặng của Cộng sản miền Bắc. 4 mặt trận lớn
ở các vùng cao nguyên, vùng giới tuyến, vùng Tam biên và mặt trận Hạ Lào đã đưa đến
nhiều triệu dân chiến nạn, dân chúng sợ cộng sản đến độ cộng sản chưa đến thì dân
đã chạy lánh nạn trước, Cộng sản thì không ngần ngại xả súng đạn vào dân chạy nạn,
đoạn đường chạy nạn Cộng sản đã trở thành "Ðại lộ kinh hoàng" thảm khốc!
Khoảng 80.000 dân chiến nạn từ vùng Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh đã di cư
đến Ninh Thuận, lập thành 2 khu đinh cư:
- Khu định cư Quảng Thuận cho dân Quảng Trị.
- Khu định cư Sông Mỹ cho dân các vùng khác còn lại.
Cũng có điều rất may mắn cho dân chạy loạn, Ninh Thuận là vùng đất ưu đãi họ, cho nên
chỉ trong vòng hơn 2 năm mọi người đã có cuộc sống ổn định, nhà nào cũng có đất đai
canh tác tương đối phì nhiêu, nếu ai có sức đều có thể khẩn hoang tự do. Các khu định cư
Sông Mỹ và Quảng Thuận đã đóng góp một phần lớn cho việc phát triển quận Sông Pha.
Cũng có những khu mới được thành lập do nhu cầu hoặc hệ quả phát triển về quân sự, chính
trị và kinh tế trong thời kỳ chiến tranh. Ví dụ như khu Tam giác là khu nhà ở của gia đình
binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa, khu Trung tâm Yểm trợ Tiếp vận Tháp Chàm, khu làng công chức ở
Phước Ðức và Mỹ Ðức, khu Lương Tri là nơi giải trí cho quân đội đồng minh mà phần
lớn là Mỹ, khu vực quận lỵ Sông Pha trong đó có nhà máy thủy điện và khu cư xá Ða Nhim,
khu phi trường Bửu Sơn được mở rộng để oanh tạc cơ khổng lồ B.52 có thể hạ cánh khi
cần thiết, phi trường cũng là nơi trú đóng của không quân Hoa kỳ, Úc và Tân Tây Lan, bộ tư
lệnh/hậu cứ của sư đoàn 101 kỵ binh không vận (Nhảy dù - Airborne) Hoa kỳ, và các đơn
vị thuộc sư đoàn Bạch Mã Nam Hàn. Khu phi trường Bửu Sơn vào những năm từ 1966-1972 phát
triển như một thành phố biệt lập mà về mức độ to lớn thì trung tâm thị xã Phan Rang không
thể so sánh bằng. Từ tháng 8 đến tháng 11/1972 quân đội Hoa Kỳ rút lui khỏi Ninh Thuận và
bàn giao lại căn cứ / phi trường Bửu Sơn-Phan Rang cho không quân Việt Nam Cộng Hòa.
Cuộc hành trình thứ ba: Viễn
xứ lưu vong
"Anh gởi về em những vần thơ máu lệ
Bao mùa xuân nối tiếp với mùa đông
Ở bên kia bờ đại dương thăm thẳm
Ôi quê hương nỗi nhớ muôn trùng!..."
Thơ Lê Tự Do
Ngày 23 tháng 01,
1973 tổng thống Hoa Kỳ Nixon loan báo việc đã đạt được thỏa thuận "chấm dứt chiến
tranh và lập lại hòa bình trong danh dự".
Ngày 27 tháng 01, 1973 Hiệp định Hòa bình Paris (Paris Peace Accords) được ký kết giữa bốn bên:
Bắc Việt (Việt Cộng miền Bắc) và Mỹ, Việt Nam Cộng Hòa và Mặt trận Giải phóng Miền
Nam (Việt Cộng Miền Nam).
Quy định:
- Hoa Kỳ đình chỉ tất cả mọi hoạt động quân sự và rút lui mọi nhân viên quân sự còn
sót lại trong vòng 60 ngày.
- Bắc Việt ngưng bắn tức khắc và trao trả tất cả tù binh Mỹ trong vòng 60 ngày.
- Cho phép khoảng 150.000 quân chính quy cộng sản Bắc Việt tiếp tục có mặt tại miền Nam
Việt Nam.
- Việt Nam vẫn còn bị chia cắt.
- Miền Nam Việt Nam được xem như một quốc gia với hai chính phủ, chính phủ Việt Nam Cộng
Hòa lãnh đạo bỡi tổng thống Nguyễn văn Thiệu và một chính phủ do Việt cộng
(Mặt Trận Giải phóng Miền Nam) lãnh đạo, chờ đợi tương lai hòa giải.
Tệ hại hơn hết là điều 4 của Bản hiệp ước, bắt xóa bỏ chế độ hiện hữu hợp pháp
của VNCH, lập một chính quyền mới, trong đó có ba thành phần Quốc gia, Mặt trận giải phóng
miền Nam và Lực lượng thứ ba Hòa hợp hòa giải dân tộc.
Khi đề cập đến Hiệp định Paris, Đô đốc US G. Sharp, nguyên tư lệnh lực lượng Mỹ tại
Thái Bình Dương đã nói như sau: ’Hiệp định Ba Lê mà Hoa Kỳ đã ký kết với CSBV, không
phải là công thức hòa bình, vì kẻ xâm lược là VC, vẫn ở lại Miền Nam Việt Nam để
tiếp tục gây chiến tranh một cách công khai mà không còn sợ Mỹ can thiệp như trước’.
Hiệp định Paris là cái nhục, là thất bại cho cả hai phía Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa, và là
hạt giống cho sự sụp đổ toàn diện của Miền Nam Việt Nam và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa
sau này. Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, một quân lực tài ba, anh dũng và thiện chiến
nhất thế giới đã bị hiệp định Paris trói tay lại; QLVNCH đang trong tư thế của kẻ
chiến thắng thì bị Mỹ dùng quân viện bó tay, trở thành kẻ thua bại, vì các điều kiện
áp đặt, chỉ nhằm có lợi cho người Mỹ được rút quân về nước an toàn. Có như thế
Nixon mới hy vọng tái đắc cử và Kissinger được tiếp tục nắm quyền, trực tiếp lo cho nước
mẹ của mình là Do Thái. Viết về sự kiện trên, Sir R.Thompson nhận xét rằng ’Khi
ký hiệp định Ba Lê năm 1973, Nixon và Kissinger, đã bỏ lỡ cuộc chiến thắng gần kề của
QLVNCH, bằng sự tự ý ngưng oanh tạc miền Bắc, cũng như ngăn cản Miền Nam tái chiếm lại các
vùng đất đã bị VC cưỡng chiếm trong trận mùa hè 1972’.
Ngày 19 tháng 6, 1973 quốc hội Hoa Kỳ thông qua tu chính Case-Church Amendment ngăn cấm quân đội
Hoa Kỳ tham gia vào bất cứ hoạt động quân sự tương lai nào trong vùng Ðông Nam Á, có hiệu
lực kể từ ngày 15 tháng 8, 1973; mở đường cho Cộng sản Bắc Việt ồ ạt xâm lăng Miền
Nam Việt Nam mà không sợ bị Mỹ can thiệp bỏ bom.
Ngày 03 tháng 12, 1973 Việt Cộng đốt phá 18 triệu gallons xăng chứa gần Sài Gòn.
Tháng 10/1974 bộ chính trị Cộng Sản Bắc Việt họp quyết định mở cuộc xâm lăng Miền Nam
Việt Nam năm 1975.
Ngày 13 tháng 12, 1974 quân đội Bắc Việt vi phạm hiệp định Paris và thăm dò phản ứng của
tổng thống Ford (một trong những tổng thống bất tài nhất của Hoa Kỳ) bằng việc tấn công
ồ ạt tỉnh Phước Long. Tổng thống Ford phản kháng lấy lệ bằng ngoại giao.
Ngày 18 tháng 12, 1974 lãnh đạo cộng sản họp tại Hà Nội lên kế hoạch chiến thắng Miền
Nam.
Ngày 08 tháng 01, 1975 bộ chính trị trung ương đảng chấp thuận kế hoạch xử dụng 20 sư đoàn
quân chính quy xâm lăng Miền Nam. Vào lúc này Bắc Việt nhận được quân viện dồi dào từ
Nga Sô, nguồn viện trợ lớn vào hàng thứ năm trên thế giới, dự trù đủ để kéo dài
chiến tranh trong 2 năm để đi đến toàn thắng (nhưng thực ra thì Miền Nam Việt Nam chỉ cầm
cự được có 55 ngày là sụp đổ!!!)
Ngày 10 tháng 3, 1975 cuộc tổng tấn công mở màn với hơn 25.000 quân Cộng sản Bắc Việt
tấn công thị xã Ban Mê Thuột.
Ngày 11 tháng 3, 1975 Ban Mê Thuột thất thủ, khoảng một nửa số 4.000 quân phòng thủ đầu hàng
hoặc tan rã.
Ngày 13 tháng 3, 1975 tổng thống Thiệu quyết định bỏ rơi Cao nguyên và hai tỉnh phía bắc,
ra lệnh "di tản chiến thuật", tạo nên một cuộc tháo chạy đầy hỗ loạn và kinh
hoàng. Hàng trăm ngàn người gồm cả lính tráng và thường dân tràn ngập tất cả mọi
con đường chạy xuống vùng biển hoặc về phía Nam, các lối chạy tắt nghẽn dưới làn đạn
và mưa pháo của Cộng quân, những đoàn xe di tản hỗn loạn được báo chí phương Tây gọi
là "the convoy of tears" (đoàn xe đầy nước mắt).
Ngày 19 tháng 3, 1975 Quảng Trị thất thủ; ngày 24 tháng 3 Bắc quân chiếm Tam Kỳ.
Ngày 25 tháng 3 Huế thất thủ sau ba ngày bị tấn công và pháo kích, binh lính từ các nẻo tháo
chạy cùng với nhiều triệu đồng bào tìm đường về hướng Nam tị nạn.
Ngày 26 tháng 3 di tản khỏi Chu Lai, ngày 28 tháng 3 hơn 35.000 quân Bắc Việt pháo kích và tấn
công Ðà Nẵng, ngày 30 tháng 3 Ðà Nẵng thất thủ khi hơn 100.000 quân Việt Nam Cộng Hòa bị các
cấp chỉ huy bỏ rơi phải đầu hàng cộng quân.
Các hình ảnh và tài liệu trong trang này được sưu tập
và tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau, từ các websites, các báo chí trong nước và ngoài nước, và
các thư viện tại Hoa kỳ. Mức độ chính xác của các số liệu và dữ kiện là tương đối và
lệ thuộc vào nhiều yếu tố như phương tiện, cấp độ và thời gian sưu tập chẳng
hạn. Ái Hữu Ninh Thuận chỉ làm công việc "thuật nhi bất tác" mà thôi. Mọi sai sót
xin quý vị và các bạn hỉ xả cho và xin vui lòng email cho chúng tôi tại aihuuninhthuan@yahoo.com. Quý vị và các bạn có toàn quyền sao
chép, in ấn, xử dụng và phổ biến bất cứ tài liệu nào của Ái Hữu Ninh
Thuận, tuy nhiên xin ghi rõ nguồn từ aihuuninhthuan.net và xin vui lòng link tới chúng tôi.
Xin chân thành cảm ơn.